Điều này đòi hỏi HS phải tìm ra mối liên hệ giữa chúng để xâu chuỗi vấn đề một cách logic và khoa học từ đó hiểu sâu về kiến thức lịch sử, về bản chất của các sự kiện, hiện tượng rút ra
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN
Trang 2MỤC LỤC Trang
Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc phát triển năng
lực vận dụng kiến thức cho học sinh trong dạy - học lịch sử
5
1.1 Tổn quan c c côn trình n h ên cứu l ên quan đến đề tài 5
Chương II- Phát triển năng lực vận dụng kiến thức trong dạy học
lịch sử Việt Nam (1919-1945) lớp 12 cơ bản 23
2.1 Vị trí, mục tiêu, nộ dun cơ bản của phần lịch sử Vi t Nam
2.2 Một số yêu cầu khi lựa chọn các bi n pháp phát triển n n lực vận
dụng kiến thức cho học sinh trong dạy học lịch sử Vi t Nam lớp 12
Trang 33.3 hận t của o v ên v học s nh 43
2 Ý n hĩa của đề t đối với hoạt động giáo dục 47
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Trang 5Phần I Mở đầu
1 Lí do chọn đề tài
Phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh là mục tiêu quan trọng của đổi mới chương trình GDPT trong giai đoạn hiện nay.Chương trình giáo dục tổng
thể(2018) đã xác định mục tiêu:“Chương trình giáo dục phổ thông cụ thể hóa mục
tiêu giáo dục phổ thông giúp học sinh làm chủ kiến thức phổ thông,biết vận dụng hiệu quả kiến thức vào đời sống và tự học suốt đời”.Để đáp ứng yêu cầu của đổi
mới căn bản toàn diện giáo dục trong xu thế hiện nay,việc dạy học cần chú trọng hình thành, phát triển cho học sinh không chỉkiến thức mà phải vận dụng được kiến thức đã học vào thực tiễn Vận dụng kiến thức vào thực tiễn là quá trình đem tri thức áp dụng vào những hoạt động của con người nhằm tạo ra những điều kiện cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của xã hội Thông qua việc vận dụng kiến thức
đã học vào thực tiễn học sinh có khả năng nhớ kiến thức lâu hơn, hiểu kiến thức sâu hơn và việc học tập trở nên có ý nghĩa hơn Trên cơ sở những kiến thức đã học
sẽ trở thành những bài học có giá trị thiết thực cho cuộc sống của mỗi con người đặc biệt là thế hệ trẻ đang rất cần học tập vận dụng những bài học từ quá khứ của những người đi trước cho mỗi bước đi của mình hôm nay và mai sau
Việc định hướng phát triển năng lực của học sinh từ kiến thức được học để vận dụng vào thực tiễn của cuộc sống là một mục tiêu mà giáo viên luôn hướng tới trong từng bài học Đó là khả năng của cá nhân có thể thực hiện thuần thục một hay một chuỗi hành động dựa trên kiến thức,kinh nghiệm đã có của bản thân hoặc tìm tòi, khám phá kiến thức mới để giải quyết được vấn đề thực tiễn một cách có hiệu quả Những quan điểm, định hướng nêu trên tạo tiền đề, cơ sở thuận lợi cho việc đổi mới PPDH nói chung và PPDH bộ môn Lịch sử nói riêng Việc đổi mới này nên chuyển từ cách dạy học tiếp cận nội dung sang cách dạy học tiếp cận năng lực người học Đây cũng là xu hướng giáo dục chung của các nước trên thế giới hiện nay mà giáo dục Việt Nam cũng đã và đang hướng tới
Trong dạy học hiện đại, việc hình thành và phát triển năng lực VDKT của
HS đóng một vai trò hết sức quan trọng, đặc biệt là việc VDKT lịch sử đã học để giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra HS biết VDKT sẽ đào sâu thêm khâu lĩnh
hội kiến thức, làm cho những kiến thức “chết” thu nhận từ sách vở sẽ trở thành những kiến thức “sống” Đồng thời, nó sẽ chuyển hóa kiến thức lý thuyết từ ngoài
thành tiềm năng tri thức của bản thân VDKT sẽ rèn luyện nhiều thao tác tư duy và khả năng làm bài tập cho HS Đồng thời, việc phát triển năng lực VDKT cho HS sẽ góp phần đáp ứng yêu cầu của đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế và khu vực, đòi hỏi người lao động không chỉ đơn thuần là có kiến thức trên sách vở mà cần phải biết vận dụng linh hoạt những điều đã học vào thực tiễn cuộcsống
Hiện nay,trong dạy- học nói chung và dạy- học môn lịch sử ở trường phổ thông nói riêng việc hình thành cho học sinh năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn đã và đang được đội ngũ giáo viên quan tâm Tuy nhiên, đa số vẫn còn lúng
Trang 6túng trong việc hình thành, phát triển năng lực vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đềthực tiễn cho học sinh Đơn vị chúng tôi công tác là một huyện nằm ở trung tâm tỉnh Nghệ An, trên toàn huyện có năm trường THPT và một Trung tâm giáo dục thường xuyên Vốn được coi là vùng đất giàu truyền thống cách mạng và tinh thần hiếu học,tiếp cận với xu thế trong những năm gần đây các trường trên địa bàn
đã tích cực đổi mới PPDH nhằm nâng cao chất lượng dạy học bộ môn nhưng việc đổi mới này vẫn còn nhiều hạn chế, hiệu quả chưa cao Truyền thụ tri thức một chiều vẫn là cách dạy học phổ biến của nhiều GV Phần lớn các GV vẫn chưa chú trọng đến việc hình thành vàp hát triển các năng lực chuyên biệt của bộ môn, đặc biệt là năng lực VDKT để giải quyết vấn đề thực tiễn trong DHLS
Trong chương trìnhLịch sử lớp 12- cơ bản,lịch sử Việt Nam giai đoạn
1919-1945 có vị trí quan trọng trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc Nổi bật trong giai đoạn này là sự phát triển của phong trào dân tộc dân chủ trong những năm sau Chiến tranh thế giới thứ nhất và cuộc vận động giải phóng dân tộc đưa đến thành quả cách mạng tháng Tám 1945 Để có được thắng lợi vĩ đại đó trong quá trình vận động dưới sự dẫn dắt của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Đảng Cộng sản nhân dân ta đã trải qua những chặng đường đấu tranh đầy gian khổ với các cuộc tập dượt, đánh đổi bằng sự đổ máu và hi sinh Các sự kiện lịch sử diễn ra trong giai đoạn 1919-1945 có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, có sự kế tiếp, ảnh hưởng, tác động lẫn nhau Điều này đòi hỏi HS phải tìm ra mối liên hệ giữa chúng để xâu chuỗi vấn đề một cách logic và khoa học từ đó hiểu sâu về kiến thức lịch sử, về bản chất của các sự kiện, hiện tượng rút ra những bài học để VDKT đó giải quyết vấn đề thực tiễn của cuộc sống thực tại cho bản thân.Nhằm giúp thế hệ trẻ hình thành cho bản thân năng lực vận dụng từ kiến thức lịch sử vào thực tiễn để vững vàng bước vào cuộc sống tương lai trước ngưỡng cửa mới của cuộc đời, đồng thời
đó cũng là một phần đáp ứng mục tiêu của đổi mới căn bản toàn diện giáo dục-đào tạo, góp phần cải thiện và nâng cao chất lượng bộ môn lịch sử, chúng tôi mạnh dạn
đề xuất sáng kiến “Phát triển năng lực vận dụng kiến thức lịch sử để giải quyết
vấn đề thực tiễn cho học sinh THPT trong dạy – học lịch sử Việt Namgiaiđoạn1919-1945” Lịch sử lớp 12 cơ bản
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn về dạy- học PTNL vận dụng kiến thức lịch sử để giải quyết vấn đề thực tiễn của cuộc sống
3 Đối tượng nghiên cứu
Dạy học lịch sửViệt Namvà việc vận dụng kiến thức lịch sử Việt Nam giai đoạn (1919-1945) để giải quyết vấn đề thực tiễn trong cuộc sống cho học sinh lớp
12 THPT
4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
4.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu
Trang 7Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn dạy- học PTNL vận dụng kiến thức lịch sử để giải quyết vấn đề thực tiễn cho học sinh THPT trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn (1919-1945) lịch sử lớp 12 cơ bản
4.2 Giới hạn địa bàn nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu ở một số trường THPT trên địa bànhuyện Đô Lương tỉnh Nghệ An
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Sáng kiến này nghiên cứu các nội dung sau đây:
- Lý thuyết về dạy - học PTNL vận dụng kiến thức lịch sử để giải quyết vấn
đề thực tiễn cho học sinh
- Phân tích đặc điểm, mục tiêu dạy - học vận dụng kiến thức lịch sử để giải quyết vấn đề thực tiễn cho học sinh
- Thực trạng của dạy- học lịch sửvà việc vận dụng kiến thức lịch sử để giải quyết các vấn đề thực tiễn cho học sinh ở các trường THPT hiện nay
- Giải pháp thực hiện
- Thiết kế tiến trình dạy- học lịch sử ở các nội dung nhằm PTNL vận dụng kiến thức lịch sử lịch sử Việt Nam giai đoạn (1919-1945) để giải quyết vấn đề thực tiễn cho học sinh lớp 12 THPT
6 Phương pháp nghiên cứu
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:
+ Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống nguồn thông tin, các văn kiện,tài liệu, tư liệu của Đảng,Nhà nước và địa phương,tài liệu liên quan đến đề tài để thiết lập cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu
+ Nghiên cứu lí luận về tự học, bồi dưỡng năng lực tự học
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Phương pháp điều tra theo bảng hỏi để tìm hiểu thực trạng dạy-học lịch sử
+ Nghiên cứu các sản phẩm của học sinh, giáo án hướng dẫn của GV
+ Phương pháp thống kê toán học sử dụng để tính toán các tham số, so sánh kết quả đối chứng
7 Đóng góp của sáng kiến
Trang 8Sáng kiến góp phần khẳng định vị trí, tầm quan trọng của việc phát triển năng lực nói chung và năng lực vận dụng kiến thức nói riêng cho học sinh trong dạy- học lịch sử
Sáng kiến đãđánh giá một phần về thực trạng dạy học lịch sửở trường THPT hiện nay đặc biệt là việc phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh trong dạy học lịch sử nói riêng Sáng kiến còn bước đầu xác định nội dung và tiêu chí của năng lực vận dụng kiến thức trong dạy học lịch sử.Trên cơ sở đó, sáng kiến đề xuất một số biện pháp sư phạm phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919-1945(Lịch sử lớp 12- cơ bản)
Thông qua đề tài chúng tôi muốn đóng góp thêm cùng các bạn đồng nghiệp
bộ môn về phương pháp phát triển năng lực vận dụng kiến thức lịch sử để giải quyết vấn đề thực tiễn cho học sinh THPT hiện nay, khắc phục những khó khăn hạn chế của thực trạng
Giúp học sinh mở rộng, nâng cao được kiến thức hiểu biết một cách cụ thể chính xác và phong phú về lịch sử để từ đó vận dụng vào thực tiễn cuộc sống một cách thiết thực và ý nghĩa
Rèn luyện và phát triển cho các em các năng lực tự học, tự khám phá tìm hiểu, biết ứng dụng CNTT, biết quay Video clip, vào vai của nhân vật lịch sử, nhà hùng biện, làm bài luận…
Bồi dưỡng cho HS những phẩm chất cao quý như lòng yêu nước, nhân ái, trung thực và sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình, xã hội
Trên cơ sở định hướng và chuyển giao nhiệm vụ của giáo viên, các em học sinh còn có nhiều ý tưởng sáng tạo trong cách học đem lại những sản phẩm học tập với hiệu quả bất ngờ
Trang 9Phần II Nội dung
Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh trong dạy-học lịch sử
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề phát triển năng lực VDKT nói chung và phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn trong DHLS nói riêng đã được nhiều nhà nghiên cứu giáo dục, lí luận dạy học quan tâm Có rất nhiều công trình đề cập tới vấn đề này trên nhiều phương diện khác nhau
Các công trình nghiên cứu đã nêu lên một cách khá đầy đủ về khái niệm, vai trò, tầm quan trọng, ý nghĩa của việc phát triển năng lực VDKT vào thực tiễn cho
HS trong dạy học ở trường THPT Các công trình đã đi vào phân tích và nêu lên được các biện pháp cụ thể cũng như các tiêu chí đánh giá năng lực để tổ chức các hoạt động học tập nhằm phát triển năng lực VDKT vào thực tiễn cho HS Đây là những cơ sở lý luận rất quan trọng mà chúng tôi đã tiếp thu, kế thừa để trên cơ sở
đó phát triển trong đề tài nghiên cứu của mình
Đối với môn lịch sử thì đang còn rất ít công trình thuộc nhóm PTNL này Như công trình nghiên cứu khoa học “Phát triển năng lực VDKT trong dạy học Lịch sử Việt Nam (1954 - 1975) lớp 12 trường THPT huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh” của tác giả Bạch Thị Thanh Mai, LVTS 2020 đã nêu lên được khái niệm cũng như các biện pháp nhằm phát triển năng lực VDKT cho HS trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975
Hay như tác giả Vũ Thị Kim Lan GV trường THPT Nguyễn Đức Thuận, ở
Vũ Bản, Nam Đinh, trong đề tài nghiên cứu “Một số biện pháp hướng dẫn HS phát triển năng lực vận dụng kiến thức trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 10” đã nêu lên được các biện pháp cụ thể nhằm phát triển năng lực VDKT cho HS
Trong đề tài nghiên cứu khoa học “Phát triển năng lực VDKT của HS trong dạy học Lịch sử ở trường THPT vận dụng qua phần Lịch sử Việt Nam lớp 11” của tác giả Nguyễn Thành Nhân và Trần Thị Hải Lê khoa Lịch sử, trường ĐHSP Huế, cũng đã đề cập và làm rõ các biện pháp để nhằm phát triển năng lực VDKT cho
HS ở trường THPT
Điều này cho thấy việc phát triển năng lực VDKT cho HS trong dạy học Lịch sử ở trường THPT đã nhận được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà giáo dục, nhà nghiên cứu, tuy nhiên các công trình nghiên cứu này chủ yếu nói về phát triển năng lực VDKT nói chung,chưa có công trình nào đi sâu, phân tích về việc phát triển năng lực VDKT lịch sử để GQVĐ thực tiễn cho HS THPT Chính vì
vậy, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài “Phát triển năng lực vận dụng kiến thức lịch
sử để giải quyết vấn đề thực tiễn cho học sinh THPT trong dạy – học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919-1945” Lịch sử lớp 12 - cơ bản” để nghiên cứu, góp phần
Trang 10nâng cao chất lượng bộ môn, phát triển năng lực cho HS đáp ứng yêu cầu xã hội hiện đại
1.2 Cơ sở lí luận
1.2.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài
1.2.1.1 Khái niệm về năng lực:
Có nhiều quan niệm khác nhau về năng lực
Theo “Từ điển tiếng Việt” của Hoàng Phê, NXB Đà Nẵng năm 1997
“Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên để thực hiện một hoạt động nào đó”
“Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”
Theo tác giả Nguyễn Công Khanh, Đào Thị Oanh cho rằng “Năng lực của
HS là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ phù hợp với lứa tuổi và vận hành chúng một cách hợp lí vào thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả các vấn đề đặt ra cho chính các em trong cuộc sống”.Theo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể “năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể”
Năng lực là khả năng làm việc của cá nhân, khả năng vận dụng những kinh nghiệm, tri thức, kĩ năng cá nhân vào trong công việc cụ thể.Trong đề tài này,
chúng tôi sử dụng khái niệm: “Năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả và có
trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trong những tình huống khác nhau trên cơ sở hiểu biết
kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động”
1.2.1.2 Khái niệm về năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn
“Vận dụng” theo Từ điển Tiếng Việt thì“vận dụng” là đem tri thứcvận dụng vào thực tiễn
Năng lực vận dụng kiến thức của học sinh là khả năng của bản thân người học huy động, sử dụng những kiến thức, kĩ năng đã học trên lớp hoặc qua trải nghiệm thực tế của cuộc sống để giải quyết những vấn đề đặt ra trong những tình huống đa dạng và phức tạp của đời sống một cách hiệu quả và có khả năng biến đổi nó Năng lực vận dụng kiến thức thể hiện phẩm chất, nhân cách của con người trong quá trình hoạt động để thỏa mãn nhu cầu chiếm lĩnh tri thức
Theo tác giả Nguyễn Công Khanh, Đào Thị Oanh: “NLVDKT là khả năng của bản thân người học tự giải quyết những vấn đề đặt ra một cách nhanh chóng và
Trang 11hiệu quả bằng cách áp dụng kiến thức đã lĩnh hội vào những tình huống, những hoạt động thực tiễn để tìm hiểu thế giới xung quanh và có khả năng biến đổi nó NLVDKT thể hiện phẩm chất, nhân cách của con người trong quá trình hoạt động
để thoả mãn nhu cầu chiếm lĩnh tri thức”
Như vậy ta thấy có nhiều quan điểm khác nhau về năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễnnhưng đa số các tác giả đều khẳng định năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn là mức độ nhận thức cao nhất của con người, quá trình này vừa giúp học sinh củng cố và nâng cao kiến thức vừa góp phần rèn luyện kĩ năng học tập và kĩ năng sống Thông qua vận dụng kiến thức vào thực tiễn thúc đẩy gắn kết kiến thức trong nhà trường với thực tiễn đời sống Năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn là một trong những năng lực cốt lõi, quan trọng cần rèn luyện và phát triển cho HS ở trường THPT Năng lực đó vừa thể hiện tư chất nội tại của con người, vừa là kết quả của quá trình học tập, tích lũy kiến thức, hình thành và phát triển kỹ năng, kỹ xảo, bồi dưỡng thái độ, hoàn chỉnh thế giới quan, lĩnh hội tri thức khoa học.và sáng tạo nhằm tìm ra lời giải hoặc giải pháp cho vấn đề
Trên cơ sở các quan niệm trên, chúng tôi nghĩ: NLVDKT vào thực tiễn là khả năng chủ thể phát hiện được vấn đề thực tiễn, huy động được các kiến thức liên quan hoặc tìm tòi, khám phá các kiến thức nhằm thực hiện giải quyết các vấn
đề thực tiễn đạt hiệu quả
Phát triển năng lực vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề thực tiễn cho học sinh THPT trong dạy học lịch sử
Phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn là quá trình tích lũy kiến thức, kỹ năng, thái độ và kinh nghiệm, làm cho khả năng phát hiện vấn đề, vận dụng kiến thức vào thực tế cuộc sống ngày càng thành thạo và hoàn thiện, đạt được mục đích đặt ra trước đó Trên cơ sở đó, bản thân sẽ vận dụng kiến thức đã được học trong những hoàn cảnh khác nhau qua sự tìm tòi, khám phá, xử lý thông tin trong thực tế cuộc sống
Theo dự thảo chương trình giáo dục phổ thông môn Lịch sử (ngày 19/1/2018) năng lực vận dụng kiến thức môn lịch sử thể hiện qua khả năng kết nối quá khứ lịch sử với hiện tại, vận dụng kiến thức lịch sử để lí giải những vấn đề của thực tiễn cuộc sống
Phát triển năng lực VDKT để GQVĐ thực tiễn cho HS trong DHLS đòi hỏi phải có một quá trình lâu dài trong học tập, lao động, trải nghiệm, bản thân các em phải luôn tích cực khám phá, muốn phát hiện cái mới, giải quyết mâu thuẫn xung đột trong nhận thức, học tập và thực tiễn liên quan tới cuộc sống của HS Điều đó diễn
ra dưới sự hướng dẫn điều khiển thường xuyên của GV Vì vậy, việc phát triển năng lực VDKT để GQVĐ thực tiễn cho HS trong dạy học bộ môn Lịch sử ở trường THPT có vai trò đặc biệt quan trọng
1.2.2 Xuất phát điểm của vấn đề nghiên cứu
Trang 121.2.2.1 Mục tiêu dạy học của bộ môn Lịch sử
Bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và quốc tế đã đặt ra những yêu cầu mới cho giáo dục Việt Nam đang ở trong giai đoạn công nghiệp hóa – hiện đại hóa nền kinh tế xã hội, xu thế hội nhập hiện nay còn đặt ra những đòi hỏi mới đối với người lao động, giáo dục cần đào tạo con người mới của thế kỉ XXI
Luật giáo dục (2005), Điều 2 nêu rõ mục tiêu giáo dục nước ta là “đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, trí thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập của dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của người công dân, đáp ứng yêu cầu của
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” Và mục tiêu của bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông đã được xây dựng trên cơ sở mục tiêu đào tạo, mục tiêu cấp học, quan điểm, đường lối của Đảng về sử học và giáo dục nhằm giúp cho HS có những kiến thức cơ bản, cần thiết về lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới, góp phần hình thành ở HS thế giới quan khoa học, giáo dục lòng yêu quê hương đất nước, truyền thống dân tộc, cách mạng, bồi dưỡng các kĩ năng tư duy, hành động, thái độ ứng xử đúng đắn trong đời sống xã hội
Như vậy, mục tiêu của bộ môn Lịch sử ở trường THPT phải thực hiện được những nhiệm vụ cơ bản về: chuẩn kiến thức, năng lực, phẩm chất.GV giúp HS phát triển các năng lực chủ yếu: năng lực hành động, năng lực VDKT, năng lực giao tiếp…Đây cũng là những năng lực phù hợp với yêu cầu của sự phát triển kinh tế -
xã hội của khu vực và toàn cầu khi bước vào thế kỉ XXI mà UNESCO đã nêu ra:
“Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để khẳng định mình” Để đạt được ba mục tiêu đó, cần phải đổi mới PPDH theo hướng phát triển năng lực
1.1.2.2.Đặc điểm nhận thức Lịch sử
Đối với bộ môn Lịch sử, xuất phát từ lí luận chung, từ mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ của bộ môn, các nhà giáo dục Lịch sử đã khẳng định bản chất của quá trình DHLS: Quá trình DHLS cũng là một quá trình nhận thức đặc thù Bởi vì, đây
là sự nhận thức của cá thể HS, sự nhận thức trong lĩnh vực giáo dục và HS là người được giáo dục, chuẩn bị để sau này đảm nhiệm công việc xã hội Cho nên quá trình nhận thức của HS trong học tập có ba đặc điểm là tính gián tiếp, được hướng dẫn
và tính giáo dục
Kiến thức Lịch sử mà các em được lĩnh hội mang tính quá khứ rõ rệt Các
em không thể “trực tiếp quan sát” được các sự kiện, hiện tượng, mà các em chỉ có thể nhận thức được một cách “gián tiếp” thông qua các tài liệu được lưu giữ lại, hoặc nhận thức thông qua bài giảng, hướng dẫn của GV Cùng với tính quá khứ, tri
thức lịch sử mà các em được lĩnh hội ở trường THPT còn mang tính không lặp lại
về cả không gian và thời gian Mỗi sự kiện, hiện tượng lịch sử chỉ xảy ra trong một thời gian và không gian nhất định, trong những thời gian và không gian khác nhau Bởi vậy, trong giảng dạy lịch sử, khi trình bày một sự kiện, hiện tượng nào đó GV
Trang 13phải xem xét tính cụ thể cả về thời gian và không gian làm nảy sinh sự kiện, hiện
tượng ấy Trên cơ sở đó, kiến thức lịch sử đã mang tính cụ thể
Đồng thời, nội dung lịch sử rất phong phú, đề cập đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Điều này đòi hỏi người GV, phải chú ý tới mối quan hệ ngang-dọc,
trước-sau của các vấn đề lịch sử để cung cấp tri thức lịch sử cho HS có tính hệ
thống Nó biểu hiện mối liên hệ giữa các sự kiện hiện tượng một cách chặt chẽ, tạo
nên tính logic tất yếu của lịch sử Ngoài những điểm trên, kiến thức lịch sử còn mang tính thống nhất giữa “sử” và “luận” HS nhận thức sự kiện, không chỉ dừng lại ở việc “biết”, mà cần phải giải thích sự kiện, so sánh, đánh giá, rút ra quy luật
và bài học kinh nghiệm Mọi giải thích, bình luận đều phải xuất phát từ sự kiện cụ thể, chính xác, đáng tin cậy
Chính từ những đặc điểm trên, chúng ta thấy rằng quá trình nhận thức của
HS là một quá trình phức tạp, mang tính đặc thù từ giai đoạn nhận thức cảm tính đến giai đoạn nhận thức lý tính và vận dụng kiến thức để VDKT thực tiễn là cấp độ cao nhất của quá trình nhận thức
Tóm lại, học tập lịch sử là quá trình nhận thức theo quy luật với những đặc trưng riêng biệt của bộ môn Vì vậy, trong DHLS đòi hỏi GV cần có những PPDH phù hợp giúp HS khôi phục lại bức tranh quá khứ đúng như nó tồn tại Quan trọng phải phát huy được tính tích cực, độc lập, sáng tạo của HS để từ những kiến thức lịch sử trong quá khứ các em biết vận dụng vào cuộc sống hiện tại, biết trân trọng
và phát triển những giá trị của lịch sử
1.2.3 Các năng lực cần hình thành và phát triển trong dạy- học lịch sử ở
trường phổ thông
Theo CTGDPT- 2018 các năng lực cần hình thành cho HS trong dạy họcbao gồm năng lực chung và năng lực đặc thù bộ môn (năng lực chuyên biệt) Trong dạy học lịch sử cần đảm bảo phát triển các năng lực chung và năng lực đặc thù môn lịch sử gồm:
*Năng lực chung
Năng lực tựchủ và tự học
Năng lực giao tiếp và hợp tác
Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
Trang 14Năng lực nhận thức và tư duy lịch sử
Năng lực vận dụng kiến thức và kĩ năng vào thực tiễn
Trong đó, việc phát triển năng lực VDKT và kĩ năng vào thực tiễn cho HS trong DHLS có một vị trí và ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục đề ra
1.2.4.Vai trò, ý nghĩa của việc phát triển năng lực vận dụng kiến thức để GQVĐ thực tiễn cho học sinh trong dạy học Lịch sử Việt Nam giai đoạn (1919-1945), Lịch sử lớp 12 THPT
Trong dạy học nói chung, dạy học Lịch sử ở trường THPT nói riêng, việc phát triển NLVDKTđể GQVĐ thực tiễn có vai trò đặc biệt quan trọng đối với HS
Vận dụng kiến thức đòi hỏi sự huy động tổng hợp nhiều năng lực của người học: Người học muốn hoàn thiện quá trình nhận thức, học tập của mình thì phải
biết vận dụng kiến thức, khi đó người học phải huy động tổng hợp các NL như: NL GQVĐ và sáng tạo, NL độc lập trong suy nghĩ và làm việc, NL hệ thống hóa kiến thức, NL định hướng kiếnthức…
Vận dụng kiến thức là sự thể hiện tư duy sáng tạo của học sinh: Khi vận
dụng kiến thức HS thể hiện được tư duy sáng tạo của mình vì: nguồn tri thức được cung cấp cũng như nguồn tri thức HS lĩnh hội được thông qua quá trình tự học luôn khác xa với thực tế, nhất là khi áp dụng vào thực tiễn Nguồn kiến thức đó luôn đòi hỏi con người phải sử dụng sángtạo
Năng lực vận dụng kiến thức là một phẩm chất, một tiêu chí của mục tiêu đào tạo con người năng động, sáng tạo trong nhà trường: GD ở thời đại ngày nay quan tâm
đến sự phát triển cân bằng của ba yêu cầu đối với người học: tri thức - năng lực- phẩm chất Trong thực tế, còn không ít các trường hợp HS trình bày lại bài học khá đầy đủ, trọn vẹn những điều ghi nhận được từ GV hoặc đã đọc được từ các tài liệu nhưng lại rất lúng túng khi vận dụng kiến thức vào giải quyết một tình huống cụ thể Để khắc phục tình trạng này, cần tăng cường vận dụng các phương tiện, PPDH Trong đó, việc phát triển năng lực VDKT cho HS trong DHLS có một vị trí và ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục đề ra
Trang 15Trước hết, phát triển năng lực VDKT cho HS trong dạy học môn Lịch sử sẽ tạo ra hứng thú học tập cho HS, giờ học Lịch sử không còn đơn điệu với với hoạt động thầy đọc- trò chép, mà có sự hướng dẫn, điều khiển của GV Với sự kết hợp các phương pháp dạy học hiện đại để phát triển năng lực các em được tự lực, chủ động tìm hiểu, chiếm lĩnh kiến thức, hình thành kỹ năng và định hướng thái độ Phát triển năng lực VDKT để GQVĐ thực tiễn còn kích thích sự sáng tạo, phát triển năng lực nhận thức, năng lực GQVĐ cho HS Cụ thể, các em được phát huy tính tự nguyện, được làm chủ các tình huống khác nhau, các em được bộc lộ, rèn luyện những khả năng vốn có, sự tự tin vào bản thân Đặc biệt, khi gắn với những tình huống của cuộc sống đặt ra để các em giải quyết theo những phương án tối ưu nhất các em sẽ thấy lịch sử luôn cho chúng ta bài học quý báu, gắn với thực tại, hiểu quá khứ để giải thích hiện tại và dự đoán tương lai
Phát triển năng lực VDKT góp phần tích cực vào việc đào tạo người lao động năng động, sáng tạo, có kiến thức và kỹ năng mang tính chuyên nghiệp, sẵn sàng gánh vác trách nhiệm và dám chịu trách nhiệm, đây là một trong những yếu tố quan trọng của người lao động Yêu cầu đối với người lao động không chỉ đơn thuần là kiến thức mà còn là năng lực GQVĐ, năng lực VDKT vào thực tiễn cuộc sống Cách VDKT linh hoạt, sáng tạo trước các tình huống khó khăn phức tạp của cuộc sống và sự dám chịu trách nhiệm không phải là những phẩm chất vốn có của mỗi con người mà nó được hình thành và phát triển trong quá trình giáo dục Vậy nên, ngành giáo dục phải không ngừng đổi mới đặc biệt phải đổi mới PPDH để đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội
Việc phát triển năng lực VDKT vào thực tiễn cho HS trong DHLS có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với HS trên cả ba mặt kiến thức, năng lực, phẩm chất
Về kiến thức, phát triển năng lực VDKT giúp HS mở rộng, đào sâu, củng cố, khắc sâu kiến thức cơ bản về các sự kiện, hiện tượng, nhân vật ở mức độ cao hơn
Về năng lực, phát triển năng lực VDKT vào thực tiễn cho HS trong DHLS giúp các em hình thành các năng lực: năng lực tự học, năng lực hợp tác, năng lực giao tiếp, năng lực diễn đạt, sử dụng ngôn ngữ…
Về phẩm chất, lịch sử là bộ môn có vị trí và ý nghĩa rất quan trọng trong việc giáo dục thế hệ trẻ Phát triển năng lực VDKT vào thực tiễn cho HS trong DHLS góp phần hình thành và phát triển những phẩm chất tốt đẹp cho các em như: truyền thống dân tộc, bồi dưỡng tình yêu quê hương, đất nước, tự hào dân tộc, sống trung thực, tinh thần nhân ái; có trách nhiệm đối với bản thân, gia đình và xã hội; có ý chí vượt khó vươn lên, khắc phục và GQVĐ trong học tập và trong cuộc sống; hành động đúng đắn với sự phát triển của tương lai
Tóm lại, phát triển năng lực HS nói chung và phát triển năng lực VDKT vào thực tiễn cho HS trong DHLS nói riêng có vai trò và ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu bộ môn Lịch sử và góp phần nâng cao hiệu quả dạy học bộ môn
Trang 16Lịch sử ở trường THPT Đặc biệt, phát triển năng lực VDKT vào thực tiễn cho HS trong DHLS còn thực hiện việc đổi mới PPDH theo xu hướng phát triển năng lực người học hiện nay
1.2.5 Một số nguyên tắc phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho học sinh trong dạy học Lịch sử
Phát triểnnăng lực VDKT cho HS cần đảm bảo các nguyên tắc sau:
Thứ nhất: Phải đảm bảo rèn luyện năng lực VDKT vào việc giải quyết
những vấn đề học tập và thực tiễn của cuộc sống có liên quan đến bộ môn lịch sử một cách thường xuyên, kết hợp với việc rèn luyện một số năng lực cần thiết khác
Thứ hai:Phải đảm bảo được mục tiêu GD PT môn lịch sử, mục tiêu của
chương trình theo chuẩn kiến thức, kỹnăng
Thứ ba: Đảm bảo tính khoa học, chính xác của các kiến thức, kỹ năng
Thứ tư: Đảm bảo tính sư phạm dựa trên các yếu tố cơ sở tâm lý, cơ sở lí luận
giáo dục, cơ sở lí luận dạy học theo định hướng đổi mới PPDH theo hướng dạy học tích cực
Thứ năm: Chú ý khai thác đặc thù bộ môn lịch sử
1.2.6 Phương pháp kiểm tra - đánh giá năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho học sinh trong dạy học Lịch sử
Để đánh giá NLVDKTvào thực tiễn của HS, GV cần thực hiện:
- Sử dụng phối hợp và thường xuyên các phương pháp kiểm tra đánh giá khác nhau như viết, vấn đáp, trắc nghiệm, thựchành…
- Sử dụng các câu hỏi đòi hỏi sự suy luận, bài tập có yêu cầu tổng hợp cao, khái quát hóa, vận dụng lí thuyết vào thựctiễn
- Kiểm tra việc thực hiện những bài tập vận dụng và vận dụng sáng tạo, tìm
ra cách giải quyết đúng nhất, khoa học nhất và gần gũinhất
- Đánh giá cao những biểu hiện của NLVDKT, nhất là vận dụng kiến thức vào thực tiễn dù lànhỏ
- Đánh giá các biểu hiện của NLVDKT của HS thông qua hồ sơ, quá trình quan sát (sử dụng bảng kiểm quan sát), quá trình tự đánh giá, đánh giá đồng đẳng thông qua phiếu hỏi và đánh giá thông qua một số kĩ thuật thu nhận thông tin phản hồi khác (ví dụ: thông qua các sản phẩm hoạt động như yêu cầu HS thiết kế sơ đồ
tư duy hoặc bản đồ khái niệm về nội dung bàihọc…)
Mỗi cá nhân để thành công trong học tập, thành đạt trong cuộc sống cần phải sởhữunhiềuloại hình công cụ khác nhau nhằm kiểm tra, đánhgiáđượccác loại
NL khácnhaucủangườihọc,đểkịpthờiphảnhồi,điềuchỉnhhoạt độngDHvàGD
Trang 17Để có cơ sở đánh giá mức độ rèn luyện và phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho HS trong quá trình DHLS ở trường THPT, chúng tôi xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hệ thống năng lực VDKT cho HS như sau:
Tiêu chí đánh giá năng lực VDKT cho học sinh
Nội dung năng
lực
Mức độ 1: (HS chưa
có năng lực)
Mức độ 2: (HS đang hình thành NL)
Mức độ 3: (HS có năng lực)
-HS ghi nhớ, tái hiện thiếu chính xác
- HS ghi nhớ, nhớ lại được nội dung cơ bản của bài học
-Biết ghi nhớ, lập được dàn ý của bài học
- Ghi nhớ, tái hiện đầy đủ chính xác
- HS ghi nhớ tái, hiện được nội dung cơ bản của bài học
- HS tích cực nhớ lại tái hiện lập dàn ý của bài học -Tích cực ghi nhớ tái hiện chính xác bài học
Vấn đề lịch sử -HS chưa hiểu rõ vấn
đề cần giải quyết
-HS chưa tìm được đầy đủ chính xác các
ý để giải quyết vấn
đề
-HS hiểu rõ được vấn đề cần giải quyết
-HS tìm được đầy
đủ chính xác các ý
để giải quyết vấn đề lịch sử
-HS hiểu rõ và hăng hái tìm cách giải quyết vấn đề -HS tích cực tập hợp tìm đầy đủ các ý để giải quyết vấn để đạt kết quả cao
2 Năng lực tự đặt câu hỏi và trả lời câu hỏi
Cách thức trả
lời cho các
câu hỏi
-HS chưa nhận thức được vấn đề câu hỏi
-HS chưa lựa chọn được cách thức trả lời đúng cho câu hỏi
-HS chưa trả lời đầy
đủ chính xác -HS chưa biết cách diễn đạt
-HS đã nhận thức được vấn đề của câu hỏi
-HS đã lựa chọn đúng cách thức trả lời câu hỏi
-HS trả lời đúng chính xác
-Diễn đạt dài dòng
-HS tích cực độc lập, suy nghĩ để nhận thức rõ vấn
đề của câu hỏi -HS tích cực lựa chọn được cách thức trả lời hiệu quả cho câu hỏi -HS trả lời đầy đủ nhấn mạnh ý cơ bản
Trang 18-Diễn đạt khoa học, lô gic
Tự đặt câu hỏi -HS chưa tự đặt được
-Nội dung câu hỏi
có ý nghĩa
-Đã có ý tưởng giải quyết câu hỏi
-Biết cách diễn đạt
-HS tích cực đặt câu hỏi
-Nội dung câu hỏi rất cơ bản chứa đựng vấn đề nổi bật bản chất
-Tích cực đưa ra
ý tưởng giải quyết câu hỏi
-Diễn đạt ngắn gọn súc tích
3 Năng lực trình bày một vấn đề lịch sử
-HS chưa hiểu rõ yêu cầu của vấn đề cần trình bày
-Nội dung cần trình bày chưa chính xác chưa đầy đủ
-Học sinh diễn đạt chưa rõ ràng
-HS hiểu rõ vấn đề cần trình bày
-Nội dung trình bày chính xác đầy đủ
-Nội dung diễn đạt còn lộn xộn
-HS nắm được bản chất của vấn
đề cần trình bày -Nội dung trình bày làm nổi bật được bản chất của vấn đề
-HS diễn đạt khoa học logic
4 Năng lực xác định và giải quyết mối liên hệ, ảnh hưởng, tác động giữa các sự kiện hiện tượng lịch sử với nhau
Xác định -HS chưa xác định
được mối liên hệ, ảnh hưởng, tác động giữa các hiện tượng lịch sử
-HS chưa xác định đầy đủ chính xác mối liên hệ giữa các sự kiện hiện tượng
-HS xác định được mối liên hệ ảnh hưởng tác động giữa các sự kiện, hiện tượng lịch sử
-HS xác định đầy đủ các mối quan hệ giữa các sự kiện, hiện tượng
-HS chủ động tích cực phát hiện được mối liên hệ giữa các sự kiện, hiện tượng
-HS tích cực xác định đầy đủ, chính xác có hiệu quả mối liên hệ giữa các sự kiện hiện tượng
-HS chưa giải quyết -HS đã giải quyết -HS hăng hái chủ
Trang 19Giải quyết
mối liên hệ
được mối liên hệ giữa các sự kiện, hiện tượng
-Giải quyết mối liên
hệ chưa đầy đủ chính xác
được mối liên hệ giữa các sự kiện, hiện tượng
-Giải quyết mối liên
hệ khá đầy đủ, chính xác
động tìm mối liên
hệ giữa các sự kiện hiện tượng -Giải quyết mối liên hệ đầy đủ, chính xác, lô gic, triệt để
5 Năng lực vận dụng kiến thức lịch sử để giải quyết vấn đề thực tiễn cuộc sống
-HS chưa biết vận dụng kiến thức lịch sử
để giải quyết vấn đề liên quan đến thực tiễn
-HS chưa lựa chọn được kiến thức lịch sử
để vận dụng giải quyết vấn đề trong cuộc sống
-HS biết vận dụng kiến thức lịch sử cần giải quyết liên quan đến thực tiễn
-HS biết lựa nội dung kiến thức để vận dụng giải quyết những vấn đề thực tiễn
-HS tích cực, sáng tạo vận dụng kiến thức lịch sử giải quyết những vấn đề thực tiễn -HS chủ động, sáng tạo chọn lọc vận dụng thành thạo kiến thức lịch sử cần thiết
để giải quyết vấn
đề thực tiễn
6 Năng lực tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập
-HS chưa biết cách tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập lịch sử sau một bài, một chương
-HS đã biết cách tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập sau một bài, một chương
-HS chủ động, tích cực, sáng tạo trong kiểm đánh giá kết quả học tập sau một bài, một chương
-HS chưa biết cách bổ xung kiến thức thiếu sót sau khi học xong một bài, một chương
-HS biết bổ sung kiến thức sau khi học xong một bài, một chương
-HS chủ động, tích cực bổ sung đầy đủ kiến thức sau khi học xong một bài, một chương
Những tiêu chí trên là cơ sở để chúng tôi đánh giá mức độ hình thành và rèn luyện để phát triển năng lực VDKT để GQVĐ thực tiễn cho HS trong DHLS ở trường THPT
1.3 Cơ sở thực tiễn
Trang 20Để có cơ sở thực tiễn cho đề tài chúng tôi đã tiến hành điều tra thực trạng dạy học nhằm phát triển năng lực VDKT để GQVĐ thực tiễncho HS trong DHLS ở trường THPT huyện Đô Lương.Chúng tôi tiến hành khảo sát 20 GV và 447 HS tại 05 trường THPT (Đô Lương 1, Đô Lương 2, Đô Lương 3, Đô Lương 4 và Duy Tân) từ tháng 11/2021 bằng nhiều phương pháp nghiên cứu như: nghiên cứu lí luận, điều tra bằng bảng hỏi, thống kê toán học để xử lí số liệu
Mục đích của việc khảo sát thực tế là nhằm đánh giá tình hình giảng dạy và học tập bộ môn lịch sử nói chung và việc phát triển năng lực VDKT cho HS trong DHLS nói riêng Chúng tôi đã phát phiếu điều tra nhằm thu thập ý kiến của GV và
HS về các vấn đề cần nghiên cứu.Ngoài ra, chúng tôi còn phỏng vấn GV lịch sử,
HS ở các trường THPT về các vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu Kết quả điều tra là cơ sở thực tiễn quan trọng để chúng tôi đề xuất các biện pháp nhằm phát triển năng lực VDKT để GQVĐ thực tiễn cho HS trong DHLS
Chúng tôi tập trung khảo sát điều tra về các nội dung như nhận thức của GV
về bản chất, vai trò, ý nghĩa của năng lực VDKT để GQVĐ thực tiễn trong DHLS, biểu hiện và các biện pháp sư phạm để rèn luyện và phát triển năng lực VDKT vào thực tiễn cho HS trong DHLS, thái độ của HS đối với bộ môn lịch sử, quan niệm của HS về năng lực VDKT vào thực tiễn và mong muốn của các em khi học bộ môn lịch sử
1.3.2 Đánh giá thực trạng của việc phát triển năng lực vận dụng kiến thức lịch sử vào giải quyết các vấn đề thực tiễn cho học sinh THPT trong dạy học Lịch sử Việt Nam ở một số trường THPT trên địa bàn huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An
Để có sự đánh giá khách quan, chúng tôi đã khảo sát 447 HS thuộc 5 trường THPT (Đô Lương 1, Đô Lương 2, Đô Lương 3, Đô Lương 4 và Dân lập Duy Tân)
và 27 GV bằng hình thức khảo sát trực tuyến kết hợp với phỏng vấn trực tiếp
Link khảo sát HS: https://forms.gle/tj2PktNTqhwLM7L57
Link khảo sát GV: https://forms.gle/zVv67dfBpCTnQMHa7
Căn cứ vào kết quả xử lý số liệu điều tratừ GV và kết quả điều tra từ HS giúp chúng tôi thấy được thực trạng của việc phát triển năng lực VDKT để giải quyết vấn đề thực tiễn cho HS trong DHLS để từ đó xác định nguyên nhân và biện pháp giải quyết Chúng tôi có một số đánh giá như sau:
Về phía GV:
Về nhận thức chung về bản chất của năng lực VDKTđể giải quyết vấn đề thực tiễn: có tới 92,6% GV tham gia cuộc điều tra cho rằng: năng lực VDKT gồm năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, làm rõ, phân tích các tình huống trong học tập và trong cuộc sống, đưa ra phương án và lựa chọn phương án tối ưu nhất để giải quyết các vấn đề trong thực tiễn;3,7% GV cho rằng năng lực VDKT là thu thập thông tin và phân tích đưa ra phương án giải quyết;3,7% cho rằng năng lực
Trang 21VDKT là chuyển vấn đề thành câu hỏi, bài tập nhận thức khoa học.Như vậy, đa phần GV nhận thức đúng về bản chất của năng lực VDKT nhưng cũng có không ít
GV chưa thực sự hiểu đúng về năng lực này
Về vấn đề phát triển năng lực VDKT để giải quyết vấn đề thực tiễn cho HS trong DHLS: Có số đông 92,6% GV tham gia cuộc điều tra cho rằng: năng lực VDKT trong DHLS là nhận thức và VDKT lịch sử một cách tối ưu, vận dụng kiến thức lịch sử để giải quyết vấn đề thực tiễn cuộc sống, còn lại 7,4% GV cho rằng: năng lực VDKT vào thực tiễn trong DHLS là năng lực so sánh, phân tích, phản biện, khái quát hóa được các vấn đề lịch sử
Biểu đồ 1.1 Kết quả điều tra ý kiến của GV về phát triển năng lực VDKT để giải quyết vấn đề thực tiễn cho HS trong DHLS
Về sự cần thiết của việc phát triển năng lực VDKT để giải quyết vấn đề thực tiễn cho HS: hơn 90% GV tham gia cuộc điều tra đều khẳng định sự cần thiết phải rèn luyện và phát triển năng lực VDKTđể giải quyết vấn đề thực tiễn cho HS Và 100% GV cho rằng phát triển năng lực VDKT cho HS giúp các em phát triển được năng lực VDKT trong học tập bộ môn và biết vận dụng kiến thức lịch sử đã học để giải quyết vấn đề trong thực tiễn
Về ý nghĩa của việc phát triển năng lực VDKT để giải quyết vấn đề thực tiễn cho HS trong DHLS: 92,6% GV cho rằng: phát triển năng lực VDKTđể giải quyết vấn đề thực tiễn cho HS trong DHLS giúp HS nắm chắc kiến thức, phát triển các kĩ năng cần thiết và bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm cho các em; 3,7% GV cho rằnggiúp
HS phát triển các kĩ năng cần thiết và 3,7% GV cho rằnggiúp bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm cho các em
Trang 22Trong DHLS, năng lực VDKTđể giải quyết vấn đề thực tiễn có những biểu hiện cần phải được rèn luyện và phát triển cho HS, vì vậy, chúng tôi đề xuất các biểu hiện năng lực VDKT trong phiếu điều tra Kết quả thu được như sau: 81,5%
GV đồng ý với năng lực lựa chọn được cách thức VDKT lịch sử, tình huống thực tiễn một cách tối ưu; 55,5% chọn năng lực vận dụng kiến thức lịch sử để làm bài tập lịch sử; 40,7% GV chọn năng lực nhận thức và giải quyết một vấn đề lịch sử; 14,8% GV chọn năng lực ghi nhớ tái hiện Điều này cho thấy đa số các GV đã nhận thức được sự phong phú về những biểu hiện của năng lực VDKT cho HS trong DHLS cần thiết để phát triển cho HS
Biểu đồ 1.2 Kết quả điều tra ý kiến của GV về biểu hiện năng lực VDKTđể giải quyết vấn đề thực tiễncần phải được rèn luyện và phát triển cho HS
Về mức độ sử dụng những PPDH để phát triển năng lực VDKT giải quyết vấn đề thực tiễn cho HS trong DHLS đã có những chuyển biến tích cực: các phương pháp dạy học truyền thống GV ít sử dụng hơn nhưthuyết trình (22,2%), đàm thoại (29,6);các phương pháp dạy học mới được vận dụng nhiều hơnnhư dạy học nêu vấn đề (62,9%), dạy học nhóm (66,7%), phương pháp đóng vai (59,2%) Tuy nhiên cũng có một số GV chưa bao giờ tổ chức dạy học theo dự án, phương pháp tranh luận hay dạy học đóng vai Điều đó cho thấy việc tích cực vận dụng các PPDH nhằm phát triển năng lực VDKT để giải quyết vấn đề thực tiễn cho HS trong DHLS ở trường phổ thông hiện nay là vô cùng cần thiết
Như vậy có thể nói, GV đã có những nhận thức đúng đắn về vấn đề phát triển năng lực VDKTđể giải quyết vấn đề thực tiễncho HS trong DHLS, nhưng khi
Trang 23được hỏi về các biện pháp nhằm phát triển năng lực VDKT để giải quyết vấn đề thực tiễn cho HS trong DHLS và để phát triển năng lực VDKT đối với một sự kiện lịch sử cụ thể, chúng tôi thấy nhiều GV vẫn chủ yếu lựa chọn các PPDH truyền thống còn những PPDH tích cực khác thì ít được chú ý và sử dụng
có vai trò quan trọng Như vậy, đa số các em đã nhận thức được đúng đắn vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của bộ môn lịch sử
Về nhận thức của HS đối với năng lực VDKT để giải quyết vấn đề thực tiễn trong DHLS: có 70,5% HS trong cuộc điều tra nhất trí năng lực VDKT trong DHLS là biết liên hệ kiến thức với thực tiễn, giải quyết vấn đề trong cuộc sống, 14,1% HS cho rằng năng lực VDKT trong DHLS là tìm ra cách để giải quyết vấn
đề, 4,3% HS cho rằng năng lực VDKT trong DHLS là tự trình bày vấn đề, 4,9%HS trả lời là tự nêu được vấn đề và 6.3% HS trả lời là tự phát hiện được vấn đề.Như vậy, các em đã hiểu được mức độ nhất định các hình thức khác nhau của năng lực VDKT, nhưng về bản chất của năng lực VDKTđể giải quyết vấn đề thực tiễntrong DHLSnhiều HS còn chưa biết đầy đủ
Trang 24Biểu đồ 1.4 Kết quả điều tra ý kiến của HS về năng lực VDKT lịch sử để giải quyết vấn đề thực tiễn
Về ý nghĩa của năng lực VDKTđể giải quyết vấn đề thực tiễn trong DHLS: 77,6% HS đồng ý phát triển năng lực VDKT trong DHLS có tác dụng đối với việc các em nắm chắc kiến thức, phát triển các kĩ năng, thái độ và vận dụng các kiến thức lịch sử để giải quyết các vấn đề trong thực tiễn; 12,3% HS chọn nắm chắc kiến thức; 10,1% HS chọn phát triển các kỹ năng
Biểu đồ 1.7 Kết quả điều tra ý kiến của HS về tầm quan trọng của năng lực VDKT lịch sử để giải quyết vấn đề thực tiễn
Trang 25Khi được hỏi về cách thầy cô hướng dẫn các em VDKT lịch sử để giải quyết vấn đề thực tiễn, (6,9%) các em cho rằng GV đề xuất GQVĐ, 10,1% GV lập kế hoạch GQVĐ cho HS và 83% HS lựa chọn cả hai phương án trên Vì vậy, khiđượchỏi: “Mong muốn của các em để học môn lịch sử hấp dẫn hơn ?” thì có tới92,4% HS cho rằng GV cần kết hợp các PPDH phù hợp với nội dung bài học; có 4,7% HS chỉ cần nghe GV thuyết giảng và chỉ có 2,9% HS cho rằng chỉ cần đọc chép Những nhận xét và mong muốn của các em phản ánh đúng thực trạng của DHLS hiện nay, các PPDH mà các thầy cô vận dụng chủ yếu là các phương pháp truyền thống chưa đáp ứng được mong muốn của HS
Biểu đồ 1.5 Kết quả điều tra ý kiến của HS về cách thầy cô hướng dẫn các
em VDKT lịch sử để giải quyết vấn đề thực tiễn
Qua quá trình khảo sát, phỏng vấn, điều tra việc vận dụng kiến thức lịch sử để giải quyết vấn đề thực tiễn cho HS THPT trên địa bàn huyện Đô Lương cho thấy: Đa
số GV và HS đều nhận thức đúng và đánh giá cao việc phát triển năng lực VDKT để giải quyết vấn đề thực tiễn cho HS trong DHLS, nhưng chủ yếu chỉ ở mức liênhệ kiến thức đã học với một số vấn đề thực tiễn địaphương, họ chưa thực sự coi trọng việc rèn luyện kĩ năngvận dụng kiến thức, kĩ năng đã học.Và cũng có không ít GV và
HS nhận thức còn hạn chế về năng lực VDKTđể giải quyết vấn đề thực tiễn.Vì vậy, việc đề xuất các PPDH phát triển năng lực VDKT để giải quyết vấn đề thực tiễn cho
HS trong DHLS là một yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục những hạn chế trong xu hướng đổi mới PPDH để góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng đất nước trong thời
kì hội nhập
1.3.3 Nguyên nhân của thực trạng
Về nhận thức: Đa số GV đều nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển năng lực VDKT vào thực tiễn cho HS trong dạy học, tuy nhiên đang rất lúng túng trong việc sử dụng các PPDH để tổ chức phát triển năng lực VDKT cho
Trang 26HS.Giáo viên chưa mạnh dạn trong việc đổi mới, sử dụng PPDH tích cực để khơi gợi niềm hứng thú, niềm đam mê phát huy tính tích cực của HS
Về nội dung chương trình giáo dục lịch sử hiện hành quá nặng về mặt kiến thức, một bài học có quá nhiều sự kiện, nên GV phần lớn chú trọng dạy hết nội dung bài học chứ chưa chú trọng tổ chức các hoạt động nhằm phát triển các năng lực, nhất là năng lực VDKT để giải quyết vấn đề thực tiễn cho HS
Về điều kiện không gian, thời gian, cơ sở vật chất thiết bị dạy học chưa được đầu tư đảm bảo đồng bộ, điều kiện học sinh ở vùng miền gặp khó khăn cho nên việc tổ chức cho nên việc tổ chức hoạt động để PTNL của HS có phần hạn chế
Về phía HS do tâm lý coi lịch sử là môn phụ, mang tính đối phó nên trong quá trình học tập cũng không thực sự giành thời gian, sự quan tâm tìm tòi khám phá các bài học lịch sử Đa số HS chưa thẩm thấu hết ý nghĩa,giá trị của những bài học lịch sử đối với cuộc sống,vì vậy việc tổ chức các hoạt động nhằm phát triển năng lực VDKT vào thực tiễn cho HS gặp nhiều khó khăn
Trang 27Chương II- Các biện pháp phát triển năng lực vận dụng kiến thức trong dạy học lịch sử Việt Nam (1919-1945) lớp 12 cơ bản
2.1 Vị trí, mục tiêu, nội dung cơ bản của phần lịch sử 1945) lớp 12 THPT
ViệtNam(1919-2.1.1 Vị trí
Thực hiện chủ trương đổi mới chương trình và SGK của Bộ GD&ĐT từ năm học 2007 – 2008, chương trình và SGK bộ môn Lịch sử lớp 12 cũng đã được biên soạn theo tinh thần đổi mới với hai bộ SGK được viết theo Chương trình chuẩn và Chương trình nâng cao Chương trình Lịch sử lớp 12 (Chương trình chuẩn) là một phần của chương trình Lịch sử THPT, làm rõ hơn những nội dung Lịch sử đã được học ở cấp THCS Chương trình SGK được xây dựng theo nguyên tắc đồng tâm kết hợp với đường thẳng Trong giới hạn của sáng kiến, chúng tôi dừng lại khai thác nội dung Lịch sử Việt Nam từ năm 1919 đến 1945phát triển năng lực VDKT để GQVĐ thực tiễn cho học sinh trong dạy học lịch sử Đây là một giai đoạn có vị trí quan trọng trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam thời hiện đại từ 1919-2000 Nội dung chính của giai đoạn này phản ánh bước phát triển của phong trào dân tộc dân chủ Việt Nam sau Chiến tranh thế giới thứ nhất cho đến khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời (1919-1930) và 15 năm của cuộc vận động giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng (1930-1945) Đây là một giai đoạn lịch sử của dân tộc diễn ra với nội dung phong phú, có nhiều sự kiện phản ánh quá trình vận động và phát triển của phong trào cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam Đa số GV Và HS đều nhận xét đây là nội dung của một giai đoạn có vị trí quan trọng trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc ở thời hiện đại Đồng thời đây cũng là một phần kiến thức khó trong chương trình lịch sử lớp
12 cơ bản
Nhận thức được vấn đề từ thực trạng cũng như đánh giá của đồng nghiệp và
HS về nội dung dạy- học ở giai đoạn này, chúng tôi luôn trăn trở, nung nấu ý tưởng
và quyết định mạnh dạn đề xuất đề tài này nhằm gây hứng thú học tập môn lịch sử cho HS, góp phần đổi mới và nâng cao chất lượng bộ môn lịch sử
Chương trình Lịch sử lớp 12 THPT (Chương trình chuẩn) gồm hai phần:
- Phần một: Lịch sử thế giới hiện đại từ năm 1945 đến năm 2000
- Phần hai: Lịch sử Việt Nam từ năm 1919 đến năm 2000
Học xong phần Lịch sử Việt Nam từ năm 1919 đến năm 1945các em sẽ có nhận thức khái quát về vị trí của lịch sử dân tộc là một bộ phận của Lịch sử thế giới Trên cơ sở đó các em sẽ hiểu sâu sắc hơn lịch sử dân tộc phát triển trong sự phát triểnchung của lịch sử nhân loại
Lịch sử Việt Nam từ năm 1919 đến năm 1945Sách giáo khoa lịch sử lớp 12- Cơ bảngồmhai chương (thời lượng 15 tiết thực hiện từ tiết 23 đến tiết 38, theo KHGD
tự chủ)
Trang 28- Chương I: Việt Nam từ năm 1919 đến năm 1930
- Chương II:Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1945
Hai chương này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, phát triển nối tiếp của lịch sử dân tộc, giúp HS nhận thức được nội dung xuyên suốt của toàn bộ khóa trình Lịch sử Việt Nam từ năm 1919 đến năm 1945.Nội dung phản ánh sự phát triển của phong trào dân tộc dân chủ Việt Nam từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất đến thắng lợi của Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945- nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời Lịch sử của dân tộc đã trải qua các giai đoạn, các thời kì phức tạp đầy
hi sinh gian khổ, vận động theo một quy luật chung Qua đó, học sinh có cơ sở để hiểu sâu sắc hơn truyền thống dựng nước, giữ nước của nhân dân ta luôn được củng cố và phát triển Từ đó, các em rút ra bài học kinh nghiệm, giáo dục lòng yêu nước, yêu lao động, tinh thần trách nhiệm, lý tưởng sống của các em đối với đất nước và bản thân mình sau này
Nội dung Lịch sử Việt Nam từ năm 1919 đến năm 1945 có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển khả năng tư duy độc lập, sáng tạo và các phẩm chất đạo đức, bồi dưỡng nhân cách, đặc biệt là phát triển những năng lực cần thiết cho học sinh THPT,trong đó có năng lực vận dụng kiến thức lịch sử để giải quyết các vấn
*Năng lực chung:
- Năng lực tự học, tự chủ: biết chủ động tích cực lập kế hoạch tìm hiểu, lựa
chọn kiến thức để thực hiện nhiệm vụ học tập được giao
- Năng lực giao tiếp và hợp tác: biết chủ động trao đổi, thảo luận kiến thức
với giáo viên và giữa các học sinh với nhau HS biết đưa ra các giải pháp, các kiến thức để hoàn thành các bài tập nhóm, biết báo cáo sản phẩm học tập của mình hoặc của nhóm trước tập thể
-Năng lực số, thực hành bộ môn:Năng lực sử dụng công nghệ thông tin: Kĩ
năng tìm kiếm thông tin trên mạngđể trình bày diễn biến, vẽ lược đồ, sơ đồ hóa
Trang 29kiến thức, kĩ năng chụp ảnh và quay video, kĩ năng tạo lập bài thuyết trình bằng Power Point , kĩ năng vẽ bản đồ tư duy bằng phần mềm MindMap
- Năng lực sử dụng ngôn ngữ: Sử dụng ngôn ngữ để trình bày sản phẩm
hoạt động của nhóm, năng lực giao tiếp, hùng biện, tranh biện… bày tỏ quan điểm
cá nhân về vấn đề lịch sử, vận dụng các kiến thức lịch sử vào giải quyết các vấn đề thực tiễn
*Năng lực chuyên biệt môn lịch sử:
Sau khi học xong phần lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919-1945, HS sẽ hình
thành được các năng lực chuyên biệt:
- Năng lực tìm hiểu lịch sử:Năng lực tái hiện sự kiện, hiện tượng, nhân vật
lịch sử
+ Trình bày, hiểu được hoạt động cứu nước của Nguyễn Ái Quốc; sự ra đời
và hoạt động của các tổ chức cách mạng; sự xuất hiện của các tổ chức cộng sản năm
1929 ở Việt Nam; nội dung, ý nghĩa Hội nghị thành lập Đảng cộng sản Việt Nam đầu năm 1930; diễn biến của phong trào cách mạng 1930-1931 với đỉnh cao Xô viết Nghệ- Tĩnh; phong trào dân chủ 1936-1939; các Hội nghị BCHTW Đảng 11/1939;Hội nghị BCHTW Đảng cộng sản Đông Dương 5/1941sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu; quá trình chuẩn bị tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền; công tác xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, căn cứ địa cách mạng: vai trò của mặt trận Việt Minh;Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945 đó là đường lối cách mạng đúng đắn thể hiện sự lãnh đạo tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh
+ Nêu được bối cảnh Việt Nam trong những năm 1919- 1930, 1935,1936-1939,1939-1945; những điểm chính trong chủ trương của Đảng và những phong trào tiêu biểu, một số kết quả và kinh nghiệm đấu tranh công khai, hợp pháp của phong trào dân chủ 1936-1939 HS lí giải được nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử, bài học kinh nghiệm của Cách mạng tháng Tám năm 1945
1930 Năng lực nhận thức và tư duy lịch sử: Năng lực xác định và giải quyết
mối liên hệ, ảnh hưởng, tác động giữa các sự kiện hiện tượng lịch sử với nhau
+ Nguyên nhân làm bùng nổ phong trào cách mạng 1930-1931với đỉnh cao
là Xô viết Nghệ - Tĩnh?
+ Sự kiện Nguyễn Ái Quốc đọc bản sơ thảo luận cương của Lênin tác động như thế nào đến cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ?
+ Hoạt động cứu nước và vai trò của Nguyễn Ái Quốc trong việc chuẩn bị
về tư tưởng, chính trị và tổ chức cho việc thành lập một chính Đảng vô sản ở Việt Nam Ý nghĩa, vai trò của những hoạt động đó đối với cách mạng Việt Nam
+ Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sự chuẩn bị tất yếu đầu tiên
có tính quyết định cho những bước phát triển nhảy vọt mới trong lịch sử phát triển
Trang 30của dân tộc Việt Nam mà trước hết là thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm
1945
+ Sự kiện: Nhật đầu hàng Đồng minh không điều kiện đã tạo ra thời cơ "ngàn năm có một" cho cách mạng Việt Nam tiến hành Tổng khởi nghĩa giành chính quyền đưa tới sự thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2/9/1945
Ngoài ra năng lực nhận thức lịch sử còn là sựbày tỏ quan điểm cá nhân về vấn
đề lịch sử, biết phân tích so sánh các sự kiện, các phong trào cách mạng để hiểu rõ bản chất của sự kiện, những nét khác nhau thể hiện bước tiến của phong trào cách mạng, quy luật phát triển của lịch sử…
- Năng lực vận dụng kiến thức, kĩ nănglịch sử đã học: Năng lực vận dụng kiến thức
lịch sử để giải quyết vấn đề thực tiễn đặt ra
+ Từ thực tiễn quá trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc, HS được bồi dưỡng về lòng yêu nước, bản lĩnh ý chí, nghị lực của thanh niên trước mọi khó khăn thử thách của cuộc sống; quyết định lựa chọn con đường đúng đắn phù hợp cho bản thân
+ Tư tưởng cốt lõi của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng là “độc lập-
tự do”, giúp HS hiểu được giá trị của “độc lập - tự do” từ đó hình thành tư tưởng, ý chí độc lập - tự do cho cuộc đời mình và trách nhiệm, nghĩa vụ bảo vệ độc lập - tự
do của Tổ quốc
+ Từ thực tiễn cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc giai đoạn 1919 – 1945 sẽ cho HS thấy rõ vai trò của quần chúng nhân dân đối với thắng lợi của sự nghiệp cách mạng,giúp HS hiểu và ý thức được việc phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc thể hiện qua vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hiện nay
+ Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám là một quá trình chuẩn bị lâu dài trải qua các cuộc tập dượt 1930-1931, 1936-1939, 1939-1945 và sự chuẩn bị về lực lượng mọi mặt để tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền Vì vậy, cuộc đời và tương lai của HS cũng là quá trình chuẩn bị, tích lũy hành trang kiến thức, kinh nghiệm, các kĩ năng cần thiết để sẵn sàng tạo dựng cuộc sống sự nghiệp sau này…
+ Việc vận dụng bài học kinh nghiệm xác định và nắm bắt thời cơ trong Tổng khởi nghĩa tháng Tám (Nhật đầu hàng Đồng minh không điều kiện 15-8-1945) giúp HS biết xử lí nhạy bén, linh hoạt,kịp thời các vấn đề trước những thay đổi của cuộc sống, của xu thế thời đại, biết nắm bắt thời cơ để giành được sự thành công, có được những kết quả mang tính dấu ấn, đột phá trong sự nghiệp, trong cuộc đời…
Sau khi học xong nội dung lịch sử Việt Nam giai đoạn từ năm 1919 đến năm 1945 ngoài những năng lực chung HS còn PTNL chuyên biệt của bộ môn đó là: Năng lực tìm hiểu lịch sử là khả năng tái hiện sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử;Năng lực nhận thức và tư duy lịch sử,đó là năng lực xác định và giải quyết mối
liên hệ, ảnh hưởng, tác động giữa các sự kiện hiện tượng lịch sử với nhau; Năng
Trang 31lực vận dụngkiến thức và kĩ năng lịch sử: Năng lực VDKT lịch sử để GQVĐ thực tiễn đặt ra trong cuộc sống
Về phẩm chất:
+ Yêu nước:Giáo dục cho học sinh tinh thần yêu nước, yêu dân tộc, yêu
nhân dân, phát huy lòng tự hào, tự tôn dân tộc, gìn giữ phát triển truyền thống dân tộc và thấy được vai trò của các giai cấp trong xã hội Việt Nam Giáo dục cho HS niềm tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, đường lối cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thế hệ cha ông đi trước đã để lại
+ Trách nhiệm : ý thức vươn lên, đổi mới trong học tập, sáng tạo trong lao
động, tinh thần trách nhiệm với nhân dân với đất nước, quan tâm đến đời sống cộng đồng;bảo vệ độc lập dân tộc, vệ chủ quyền quốc gia; lên án chiến tranh Bồi dưỡng lòng yêu mến hòa bình và ý thức xây dựng một thế giới hòa bình;biết học hỏi, vận dụng các bài học kinh nghiệm từ lịch sử vào thực tiễn đời sống và sự nghiệp của mình sau này
+ Trung thực: thật thà, ngay thẳng trong học tập; đánh giá mọi vấn đề, thẳng
thắn, khách quan; Tôn trọng sự thật lịch sử
+ Chăm chỉ: chăm chỉ học tập, tinh thần tự học, tự chủ trong việc lĩnh hội
kiến thức; tham gia tích cực các hoạt động học tập cá nhân, tập thể, nhóm mà GV yêu cầu
+ Nhân ái: yêu thương con người, yêu cái đẹp, sẵn sàng cảm thông chia sẽ,
lên án việc xâm chiếm thuộc địa, bóc lột con người, lên án chiến tranh
Như vậy,sau khi học xong nội dung lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919 - 1945
HS sẽ hình thành và phát triểnhệ thống các năng lực chung cũng như năng lực chuyên biệt của bộ môn lịch sử Đặc biệt là năng lực VDKT lịch sử để GQVĐ thực tiễn cho HS Bên cạnh đó là việc bồi dưỡng cho HS, phát triển những phẩm chất của một thanh niên thời đại đó là lòng yêu nước,tinh thần đoàn kết, sự nhân ái, ý chí và nghị lực vươn lên vượt qua mọi khó khăn thử thách để thực hiện lí tưởng của tuổi trẻ, sống trung thực và trách nhiệm với bản thân, gia đình, xã hội Đây cung là những năng lực, phẩm chất quan trọng để giúp thế hệ trẻ Việt Nam đối phó với tình hình đại dịch Covid diễn biến phức tạp cũng như âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trong giai đoạn hiện nay
2.1.3 Nội dung cơ bản
Nội dung cơ bản của Lịch sử Việt Nam (1919-1945) SGK Lịch sử lớp 12, chương trình chuẩn, bao gồm các nội dung cơ bản sau:
2.1.3.1 Chương một: Việt Nam từ năm 1919 đến năm 1930
-Thứ nhất, chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp và tác động của nó đến sự chuyển biến về kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam sau chiến tranh Những thay đổi của tình hình thế giới và tác động của cuộc khai thác
Trang 32thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp đã tạo ra những chuyển biến mới về kinh
tế, xã hội, văn hoá, giáo dục ở Việt Nam sau Chiến tranh thế giới thứ nhất
-Thứ hai, bước phát triển của phong trào dân tộc dân chủ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất với sự tham gia của những lực lượng mới, mục tiêu mới và hình thức mới; hoạt động cứu nước của Nguyễn Ái Quốc từ (1919-1925) đãtác động mạnh
mẽ đến sự chuyển biến của phong trào dân tộc dân chủ(1919-1925) với sự xuất hiện của khuynh hướng mới- khuynh hướng cách mạng vô sản
-Thứ ba, sự ra đời và hoạt động của các tổ chức cách mạng (Hội Việt Nam
cách mạng thanh niên (1925); Việt Nam Quốc dân đảng (1927) Hai tổ chức đại diện cho hai khuynh hướng cách mạng ở nước ta trong phong trào dân tộc dân chủ 1925-1930 cuối cùng khuynh hướng cách mạng vô sản đã chiến thắng được khẳng định bằng sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam (2.1930)
Thứ tư, Đảng CộngSản Việt Nam ra đời (1930) đánh dấu sự thắng thế của khuynh hướng vô sản, chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối và vai trò lãnh đạo của cách mạng Việt Nam
2.1.3.2 Chương hai: Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1945 Trong phần này
đề cập đến những vấn đề chính sau:
Thứ nhất, phong trào cách mạng 1930-1931 với đỉnh cao Xô viết Nghệ-
Tĩnh- cuộc tập dượt đầu tiên của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng chuẩn bị
cho tổng khởi nghĩa Tháng Tám sau này
Thứ hai, phong trào dân chủ1936-1939, trước những biến chuyển của tình hình thế giới và trong nước, Đảng Cộng sản Đông Dương thay đổi chủ trương, chuyển sang hình thức đấu tranh công khai, hợp pháp và nửa hợp pháp với mục tiêu đòi tự do, dân sinh, dân chủ, cơm áo và hoà bình.Cuộc vận động dân chủ1936-
1939 đã buộc chính quyền thực dân phải nhượng bộ một số yêu sách cụ thể trước mắt về dân sinh, dân chủ; quần chúng được giác ngộ về về chính trị và trở thành lực lượng chính trị hùng hậu của cách mạng; đội ngũ cán bộ đảng viên được rèn luyện và ngày càng trưởng thành.Phong trào dân chủ 1936 - 1939 như là cuộc tập dượt thứ hai cho Tổng khởi nghĩa tháng Tám sau này
Thứ ba, phong trào giải phóng dân tộc và Tổng khởi nghĩa tháng Tám (1939 –
1945)- Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời Chiến tranh thế giới thứ hai bùng
nổ, tác động tới mọi mặt đời sống chính trị, kinh tế của nhiều nước Trước những biến đổi mau lẹ của tình hình thế giới và trong nước, Đảng Cộng sản Đông Dương
đã có sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu thông qua nội dung của Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VI (11 - 1939), Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VIII (5-1941), đó là đường lối cách mạng đúng đắn thể hiện sự lãnh đạo tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh Với nhãn quan chính trị sắc bén, lựa chọn và nắm bắt đúng thời cơ Nhật Bản đầu hàng Đồng minh, với tinh thần và quyết tâm “dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành
Trang 33được độc lập”, Tổng khởi nghĩa cách mạng Tháng Tám nổ ra và giành thắng lợi nhanh chóng trên cả nước trong vòng 15 ngày (từ 14- 28-8) Sáng ngày 2-9-1945, tại quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
Như vậy, nội dung cơ bản lịch sử Việt Nam từ năm 1919 đến năm 1945 rất phong phú gồm các mặt chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội…có mối quan
hệ logic với nhau, phản ánh sự phát triển của phong trào cách mạng Việt Namtừ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất đến Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945- nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời Đây là một ưu thế lớn nhằm giúp HS rèn luyện và phát triển năng lực vận dụng kiến thức lịch sử vào giải quyết vấn đề thực tiễn khi các em lý giải, phân tích, đánh giá được bản chất các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử một cách khách quan và từ những kiến thức đó để vận dụng vào thực tiễncho cuộc sống hiện tại cũng như tương lai
2.2 Một số yêu cầu khi lựa chọn các biện pháp phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam lớp 12 THPT
Trong dạy học Lịch sử, để tổ chức dạy học phát triển NLVDKT một cách hiệu quả, cần thực hiện việc dạy học theo các yêu cầu sau:
2.2.1 Phải đảm bảo được mục tiêu dạy- học:
Để tổ chức dạy học phát triển NLVDKT một cách hiệu quả, điều đầu tiên phải xác định đúng mục tiêu bài dạy học GV phải nắm vững kiến thức trọng tâm bài học, phải nghiên cứu kĩ nội dung sách giáo khoa, sách giáo viên, các tài liệu tham khảo; đồng thời phải phù hợp với từng đối tượng HS, phù hợp với phương tiện dạy học thì bài học sẽ có chất lượng tốt, tính khả thi cao Để sau mỗi tiết học,
HS hiểu rõ được, nắm vững được, biết vận dụng được kiến thức mới vào thực tế cuộc sống
2.2.2 Phải lựa chọn kiến thức cơ bản, trọng tâm, có tính logic hệ thống:
Trong mỗi bài dạy, từ việc xác định được mục tiêu bài dạy, GV phải xác định các kiến thức cơ bản, trọng tâm Những kiến thức cơ bản của bài học phải đảm bảo tính hệ thống, tính giáo dục, kiến thức cơ bản phải được lựa chọn phải phù hợp với từng đối tượng, phù hợp với phương tiện dạy học, phù hợp với chương trình giáo dục Những kiến này phải được sắp xếp theo một logic thích hợp
để xâu chuỗi kiến thức lại với nhau nhằm làm rõ hơn kiến thức trọng tâm của bài
và nâng cao hiệu quả bài học
2.2.3.Phải xác định được phương pháp và phương tiện dạy học thích hợp,đảm bảo tính vừa sức
GV phải căn cứ vào mục tiêu, nội dung kiến thức của bài, điều kiện cơ sở vật chất và năng lực của HS mà GV lựa chọn phương pháp và phương tiện dạy học thích hợp Việc xác định phương pháp và phương tiện dạy học có một vị trí quan trọng trong thiếtkế bài dạy học, vì nó quyết định đến việc thực hiện mục tiêu dạy
Trang 34học và chất lượng dạy học, đồng thời góp phần phát huy được tính tích cực trong học tập của HS
2.2.4 Phải xác định các hoạt động chủ yếu trong tiến trình dạy học:
Để phù hợp với trình độ và nhận thức của HS, kiến thức trong bài học, GV phải được chia nhỏ thành các hoạt động cụ thể Trong các hoạt động này, GV phải chỉ ra mục tiêu cần đạt được và cách thức thực hiện giúp HS tiếp thu kiến thức mới tốt nhất hoặc GV định hướng để HS tự tìm tòi, khám phá lĩnh hội kiến thức mới Trong giai đoạn này, GV phải sử dụng các biện pháp và quy trình dạy học theo định hướng bồi dưỡng NLVDKT vào thực tiễn phải phù hợp, linh hoạt trong từng hoạt động
2.2.5.Phải Xác định hình thức và nội dung củng cố, vận dụng:
Trong giai đoạn này, HS phải vận dụng những hiểu biết vào việc giải quyết những vấn đề thực tiễn của cuộc sống liên quan tới nội dung bài học Các bài tập vận dụng phải gắn liền với thực tiễn GV cần giao nhiệm vụ về nhà cho HS, ôn lại kiến thức đã học Hướng dẫn chi tiết, cụ thể cho HS hay nhóm HS về nhà tự tìm hiểu kiến thức mới, đặt ra các câu hỏi, tình huống phát sinh trong quá trình tự nghiên cứu, đề ra những phương án giải quyết trong khả năng hiểu biết của bản thân
2.3 Phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam(1919-1945) ở trường THPT
2.3.1 Các đơn vị kiến thức lịch sử và biện phápđể phát triển năng lực VDKT vào thực tiễn cho HS trong dạy học Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919 –
1945
Trong phạm vi của đề tài, chúng tôi lựa chọn các đơn vị kiến thức phần lịch
sử Việt Nam giai đoạn 1919-1945 để tổ chức phát triển năng lực VDKT để GQVĐ thực tiễn cho HS cụ thể trong các bài như sau:
Bài Đơn vị kiến thức Nội dung vận dụng Hình thức tổ chức
Ái Quốc
+Hoạt động trong thời kì ở Pháp, Liên Xô, Quảng Châu từ 1919-
1925
+Tham gia sáng lập
+Lòng yêu nước, bản lĩnh ý chí, nghị lực của thanh niên trước mọi khó khăn thử thách của cuộc sống
+Sự khảo nghiệm để quyết định lựa chọn con đường đúng đắn phù hợp cho bản thân
+Xâydựng tinh thần
+PPDH: phương pháp
quan(Lược đồ hành trình cứu nước của NAQ có đầy đủ thông tin) HS tìm hiểu nội dung thông qua đồ dùng trực quan
+PPDH: phương pháp
hợp tác(Nhóm)+ đồ
Trang 35+Tầm nhìn và việc mở rộng quan hệ ngoại
cùngpháttriểntrong xu thế hội nhập
dùng trực quan+ dạy học dự án
+ Kĩ thuật dạy học:tranh biện + thực
hành bộ môn(HS làm video hoặc vẽ Lược đồ)
+Nội dung, ý nghĩa,tư tưởng cốt lõi của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng (2.1930)
(SGK lịch
sử 12 trang 85,86)
+ Nhận thức để từ đó đưa ra hành động, việc làm trong cuộc sống, công việc…kết hợp lợi ích chung và riêng trong đó lợi ích chung luôn đặt lên hàng đầu
+Hiểu giá trị của “độc lập - tự do” từ đó hình thành tư tưởng, ý chí độc lập tự do cho cuộc đời mình
+Trách nhiệm bảo vệ độc lập tự do
+PPDH:phương
pháphợp tác(Nhóm)+Giải quyết vấn đề
+Kĩ thuật: Đóng vai (chohọc sinh đóng kịch về hội nghị thành lập Đảng)
cộng sản Đông
Quá trình chuẩn bị, tích lũy hành trang cho cuộc đời để sẵn sàng tạo dựng cuộc sống sự nghiệp…
+ Nhạy bén, linh hoạt,kịp thời trước những thay đổi của cuộc sống, của xu thế thời đại, biết nắm bắt thời cơ để giành được
sự thành công, có được những kết quả
+ PPDH: Kết hợp
Dạy học khám phá+
sử dụng tài liệu + hợp tác và giải quyết vấn đề(Cho các nhóm tìm hiểu về bối cảnh nội dung, ý nghĩa của hội nghị 11/1939 và tháng 5/1941 Chia lớp làm 8 nhóm nhỏ.4 nhóm một nhiệm vụ) HScác nhóm ghi lên giấy Ao + Phương pháp tích
Trang 36Dương (5.1941) + Mục II 4 Xây dựng lực lượng tiến tới cuộc khởi nghĩa vũ trang (5/1941-8/1945)
Mục III.2 Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945
(SGK lịch sử Trang
12-104,108,115)
mang tính dấu ấn, đột phá trong sự nghiệp, trong cuộc đời…
hợp liên môn( sử, địa
lí, âm nhạc, mĩ thuật) + phát vấn đàm thoại tìm hiểu về sự kiện NAQ về nước , chọn Cao Bằng làm căn cứ địa CM
+Kĩ thuậtDH: Chia
nhóm, phòng tranh hoặc khăn trải bàn
+Hình thức dạy học:
Dạy học trên lớp
PPDH: Dạy học hợp tác
+ Sử dụng tài liệu +Kĩ thuậtDH: Chia
nhóm, phòng tranh
+Hình thức dạy học:
Dạy học trên lớp
2.3.2 Tổ chức dạy học nhằm phát triển năng lực VDKT vào thực tiễn cho
HS trong dạy học Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919 – 1945- Lịch sử lớp 12 cơ bản
2.3.2.1 Tổ chức dạy học nhằm phát triển năng lực VDKT vào thực tiễn cho
HS trong dạy học Bài 12 Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam 1919-1925
Trong giai đoạn Lịch sử Việt Nam 1919-1945, trên cơ sở lựa chọn những đơn vị kiến thức ở Bài 12 Phong trào dân tộc dân chủ 1919-1925
Mục I.Những chuyển biến mới về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội ở Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ nhất, chúng tôi tổ chức dạy học nhằm phát triển năng lực VDKT vào thực tiễn cho HS ở hoạt động vận dụng Cụ thể như sau:
Trang 37Nhiệm vụ 1: (Thực hiện trên lớp, thời gian5 phút)
- Bước 1:Chuyển giao nhiệm vụ cho HS:GVchia sẻ màn hình giao nhiệm vụ cho
HS:vận dụng các kiến thức đã học để trả lời câu hỏi sau:
1 Nêu những công trình từ thời Pháp thuộc hiện nay ở nước ta,ở Nghệ An còn tồn tại
mà em biết?
2 Mối quan hệ Việt - Pháp đầu thế kỉ XX và hiện nay có sự thay đổi như thế nào?
Bước 2:Học sinh thực hiện nhiệm vụ: HS làm việc trên lớp theo thời gian quy
định.Học sinh hoạt động cá nhân Trong quá trình học sinh làm việc, giáo viên chú ý
đến các học sinh để có gợi ý hoặc trợ giúp học sinh khi các em gặp khó khăn
Sản phẩm
1.Nêu những công trình từ thời Pháp thuộc hiện nay còn tồn tại:
- Cầu Long Biên ( Hà Nội ), Tràng Tiền ( Huế ), cầu Bình Lợi ( Sài Gòn ), Nhà Hát lớn (Hà Nội),Nhà thờ Đức Bà
- Ga Hà Nội
- Điểm du lịch: Sapa, Tam Đảo, Bà Nà Hill ở Đà Nẵng
*Ở Nghệ An: Cầu Bara, đập thuỷ lợi Ba ra và hệ thống sông đào
2.Mối quan hệ Việt - Pháp đầu thế kỉ XX và hiện nay có sự thay đổi:
- Đầu thế kỉ XX là mối quan hệ thuộc địa và chính quốc
- Hiện nay là mối quan hệ đối tác, bình đẳng
Bước 3.Báo cáo, thảo luận: Cá nhân/ Đại diện nhóm HS báo cáo, bổ sung
Giáo viên yêu cầu 2 - 3 học sinh bày sản phẩm của mình, các học sinh khác lắng nghe, sau đó bổ sung, chỉnh sửa cho hoàn chỉnh
Bước 4.Kết luận và nhận địnhSau khi HS trình bày nội dung, GV cho các HS
khác nhận xét, bổ sung GV nhận xét, đánh giá,chuẩn hóa kiến thức
Trang 38Sau khi hoàn thành nhiệm vụ trên, cả 2 nhóm vận dụng kiến thức đã học để giải quyết vấn đề thực tiễn thông qua trả lời bài tập nhận thức sau:
Câu hỏi: Từ hoạt động cứu nước của Nguyễn Ái Quốc ( 1911 – 1925 ) Hãy viết
một bài luận khoảng 30 câu thể hiện nhận thức của bản thân về: Tình cảm, ý chí nghị lực và lòng quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước của anh thanh niên Nguyễn Tất Thành Rút ra bài học và liên hệ bản thân ( cho thế hệ trẻ Việt Nam hôm nay ) -HS thực hiện ở nhà nghiên cứu, trả lời câu hỏi và nộp bài trên trang Padlet mà
GV chia sẻ đường link trong nhóm lớp trước tiết học sau
Bước 2:Học sinh thực hiện nhiệm vụ:HS thực hiện nhiệm vụ ở nhà, trả lời câu
hỏi và nộp bài trên trang Padlet mà GV chia sẻ đường link trong nhóm lớp trước tiết học sauGV theo dõi tiến độ thực hiện nhiệm vụ và hướng dẫn cách thực hiện đối với những HS gặp khó khăn thông qua hệ thống quản lí học tập
Link: https://padlet.com/haiangv/gu5l1kciptft4jyx
Bước 3: Báo cáo, thảo luận:GV yêu cầu HS nộp sản phẩm qua hệ thống quản lí
học tập đúng thời gian
Bước 4:Kết luận và nhận định: GV vào trang padlet đã cung cấp cho HS để xem
sản phẩm của học sinh và nhận xét bài làm.GV chọn bài làm tốt của HS để tổ chức trình bày trước lớp vào tiết học tiếp theo
Tiết 2: PHONG TRÀO DÂN TỘC DÂN CHỦ TỪ 1919 - 1925
Sau khi giao nhiệm vụ cho HS làm việc ở nhà và nộp kết quả hoạt động của nhóm trên trang Padlet trọng tập của lớp, tiết 2 GV tổ chức HS trình bày sản phẩm của mình ở phần hoạt động Hình thành kiến thức, mục III Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc 1918 – 1925 Cụ thể như sau:
Nhiệm vụ 2: Hai nhóm cử đại diện trình bày quan điểm của nhóm về bài học liên hệ
bản thân sau khi tìm hiểu những hoạt động cứu nước của Nguyễn Ái Quốc giai đoạn
1919 – 1925
Trang 39GV giao nhiệm vụ cho HS thực hiện nhiệm
vụ 1
GV giao nhiệm vụ cho HS thực hiện
nhiệm vụ 2
Bước 2: Học sinh thực hiện nhiệm vụ:HS cử đại diện trình bày sản phẩm của
mình (NV1),(NV2)theo thời gian quy định
Sản phẩm nhiệm vụ 1:
Trang 40Nhóm 2: Trình bày sản phẩm: Tìm
hiểu hoạt động cứu nước củaNguyễn
Ái Quốc từ 1911 – 1925,sản phẩm thể hiện
bằng video
Nhóm 1: Trình bày sản phẩm: Tìm hiểu hoạt động cứu nước củaNguyễn Ái Quốc từ 1911 – 1925,sản phẩm thể hiện bằng powpoint
Sản phẩm nhiệm vụ 2:
Hai nhóm cử đại diện trình bày quan điểm của nhóm về bài học liên hệ
bản thân sau khi tìm hiểu những hoạt động cứu nước của Nguyễn Ái Quốc
giai đoạn 1919 – 1925