1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC NHÓM THÔNG QUA VIỆC TỔ CHỨC CÁC TRÒ CHƠI TRONG DẠY HỌC CHỦ đề “TÁC HẠI CỦA MA TÚY VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA HỌC SINH TRONG PHÒNG, CHỐNG MA TÚY” GDQP AN LỚP 10 THPT

84 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát Triển Năng Lực Hợp Tác Nhóm Thông Qua Việc Tổ Chức Các Trò Chơi Trong Dạy Học Chủ Đề “Tác Hại Của Ma Túy Và Trách Nhiệm Của Học Sinh Trong Phòng, Chống Ma Túy”
Tác giả Bùi Đức Hiệp, Chu Thị Hồng
Trường học Trường THPT Đô Lương 2
Chuyên ngành GDQP-AN
Thể loại sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2021-2022
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 3,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN TRƯỜNG THPT ĐÔ LƯƠNG 2 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI: PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC NHÓM THÔNG QUA VIỆC TỔ CHỨC CÁC TRÒ CHƠI TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ “TÁC HẠI

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN

TRƯỜNG THPT ĐÔ LƯƠNG 2

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC NHÓM THÔNG QUA VIỆC TỔ CHỨC CÁC TRÒ CHƠI TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ “TÁC HẠI CỦA MA TÚY VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA HỌC SINH TRONG

Trang 2

MỤC LỤC Trang

1.1 Năng lực và sự phát triển năng lực HS 5

1.5.4 Tác dụng của việc tổ chức trò chơi dạy học để phát triển năng lực

hợp tác nhóm của HS trong dạy học môn GDQP-AN 9

Trang 3

1.5.5 Ứng dụng CNTT vào việc tổ chức các trò chơi trong dạy học 9

3.1.1 Đặc điểm cấu trúc, vị trí chủ đề “Tác hại của ma túy và trách nhiệm

của học sinh trong phòng, chống ma túy” 14 3.1.2 Mục tiêu dạy học của chủ đề “Tác hại của ma túy và trách nhiệm

của học sinh trong phòng, chống ma túy” 15 3.2 Vận dụng trò chơi trong dạy học chủ đề chủ đề “Tác hại của ma túy

và trách nhiệm của học sinh trong phòng, chống ma túy” 15 3.2.1 Nguyên tắc lựa chọn trò chơi để dạy học chủ đề 15 3.2.2 Quy trình tổ chức thực hiện các trò chơi trong chủ đề “Tác hại của

ma túy và trách nhiệm của học sinh trong phòng, chống ma túy” 16 3.2.3 Ứng dụng phần mềm ClassPoint trong tổ chức một số trò chơi trong

3.2.4 Sử dụng trò chơi trong các hoạt động học ở chủ đề “Tác hại của ma

túy và trách nhiệm của học sinh trong phòng, chống ma túy” 27

Trang 4

4.4.2 Phương pháp thực nghiệm 38

4.5.1 Kết quả bài kiểm tra thực nghiệm và đối chứng 39 4.5.2 Kết quả các phiếu khảo sát 40 4.6 Đánh giá chung về thực nghiệm 42

Trang 5

6 GDQP-AN Giáo dục quốc phòng- An ninh

7 GD&ĐT Giáo dục và đào tạo

12 PTNL Phát triển năng lực

Trang 6

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong những năm gần đây việc đổi mới giáo dục đang diễn ra mạnh mẽ ở Việt Nam để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội Một trong những vấn đề quan trọng nhất trong đổi mới giáo dục là “Dạy học phải kết hợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp, góp phần chuyển nền giáo dục nặng nề về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hòa đức, trí, thể, mỹ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh”

Để làm tốt điều đó đòi hỏi người giáo viên phải không ngừng sáng tạo trong việc truyền thụ tri thức cho học sinh Vì vậy dù ở bất kỳ môn học nào, đổi mới phương pháp dạy học luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu của nghành giáo dục hiện nay nhằm nâng cao chất lượng dạy học và môn GDQP-AN cũng không phải là ngoại lệ Đây là môn học đã chính thức được đưa vào hệ thống giáo dục Quốc dân cách đây không lâu so với các môn học khác Tuy nhiên, GDQP-AN là một trong năm môn học bắt buộc trong chương trình giáo dục phổ thông mới, giữ vai trò chủ chốt trong việc giáo dục ý thức, trách nhiệm của công dân đối việc thực hiện nhiệm

vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, góp phần giáo dục cho học sinh lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, bồi dưỡng niềm tự hào, tự tôn dân tộc Cùng với các môn học và hoạt động giáo dục khác góp phần hình thành ở học sinh các phẩm chất năng lực chung được quy định trong chương trình tổng thể, thông qua môn học hình thành năng lực nhận thức các vấn đề về quốc phòng, an ninh và vận dụng các kiến thức đã học vào cuộc sống

Với vai trò quan trọng như vậy, nhưng trong những năm qua chất lượng dạy và học môn GDQP-AN vẫn còn bất cập Hiệu quả phát triển các phẩm chất, năng lực cho học sinh từ môn học là không cao Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân Trong đó có cả nguyên nhân từ người dạy lẫn người học

Một thực trạng đáng buồn đó là có một bộ phận học sinh không nhận thức đầy

đủ tầm quan trọng của môn học, cho rằng đây là môn phụ, nhiều em tỏ ra thờ ơ, thiếu quan tâm đầu tư thời gian thích đáng Việc học sinh không mặn mà với môn học GDQP-AN, đặc biệt là các tiết lý thuyết đã tạo nên sức ì về mặt tâm lí mà không dễ dàng gì để khắc phục được

Bên cạnh đó, nhiều giáo viên vẫn còn lên lớp bằng phương pháp cũ: Thầy đọc, trò chép tạo cảm giác mệt mỏi, thụ động trong tiếp nhận kiến thức cho học sinh Một

số giáo viên chưa thực sự đầu tư công sức cho bài dạy trước khi lên lớp Việc dạy học thiếu chuẩn bị, thiếu dẫn chứng sinh động trong thực tế, thiếu dụng cụ trực quan,

ít ứng dụng CNTT vào dạy học, chậm đổi mới phương pháp dạy học sẽ làm cho tiết học trở nên nhàm chán, khô khan, không phát huy được các phẩm chất, năng lực chung cũng như năng lực đặc thù cho người học Tất yếu là tỉ lệ học sinh hứng thú, yêu thích môn học GQDP-AN không cao

Trang 7

Vậy làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy và học môn GDQP-AN trong nhà trường hiện nay? Trước hết cần nhận thức đầy đủ vị trí, vai trò của môn GDQP-AN trong hệ thống giáo dục quốc dân cũng như trong nhà trường, từ đó tìm ra các giải pháp thích hợp, có tính khả thi cho môn học

Với tầm quan trọng của môn GDQP-AN trong chương trình giáo dục phổ thông mới, cũng như với mong muốn tìm ra những phương pháp học dạy học phù hợp, tạo được hứng thú cho học sinh nhất là các nội dung lý thuyết góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đảm bảo được mục tiêu phát triển phẩm chất năng lực cho học sinh của bộ môn luôn là nỗi trăn trở của bản thân tôi và nhiều đồng nghiêp

Vì vậy, trong qua nhiều năm đứng lớp, chúng tôi đã kết hợp vận dụng nhiều phương pháp giảng dạy Tuy nhiên phương pháp tổ chức trò chơi theo nhóm được chúng tôi đầu tư nhiều Thực tế cho thấy khi tổ chức các trò chơi học tập theo nhóm

đã nâng cao tính tương tác giữa các thành viên trong nhóm, kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực; tăng cường sự hợp tác, giao tiếp, khích lệ mọi thành viên tham gia học hỏi kinh nghiệm, bổ sung, hoàn thiện cho nhau, phát triển mối quan hệ gắn

bó, quan tâm đến nhau Góp phần đắc lực cho việc hình thành và phát triển năng lực hợp tác của học sinh, một trong những năng lực quan trọng trong mục tiêu của

chương trình giáo dục phổ thông mới Do đó, chúng tôi chọn đề tài: Phát triển năng

lực hợp tác nhóm thông qua việc tổ chức các trò chơi trong dạy học chủ đề “Tác hại của ma túy và trách nhiệm của học sinh trong phòng, chống ma túy” GDQP-

AN lớp 10 THPT, xin giới thiệu tới quý đồng nghiệp, với mong muốn giúp việc dạy

và học môn GDQP – AN đạt được mục tiêu môn học đề ra

2 Mục đích nghiên cứu

- Góp phần nâng cao chất lượng học tập môn GDQP-AN nói chung và trong

dạy học chủ đề “Tác hại của ma túy và trách nhiệm của học sinh trong phòng

chống ma túy” nói riêng

- Nhằm đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh

- Giúp cho GV có kĩ năng tốt nhất trong việc tổ chức các hoạt động trò chơi học tập để dạy HS trong môn GDQP-AN ở trường THPT cho phù hợp với nội dung

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài: Nghiên cứu định hướng phát triển năng lực cho học sinh trong chương trình GDPT mới và nghiên cứu các tài liệu về tổ chức trò chơi dạy học phát triển năng lực

- Nghiên cứu thực trạng sử dụng trò chơi trong dạy học ở trường THPT và thực trạng phát triển năng lực hợp tác nhóm cho HS trường THPT

- Nghiên cứu nội dung chủ đề “Tác hại của ma túy và trách nhiệm của học sinh trong phòng chống ma túy” trong chương trình GDQP-AN 10 THPT

Trang 8

- Lựa chọn và sử dụng các trò chơi trong dạy học chủ đề “Tác hại của ma túy

và trách nhiệm của học sinh trong phòng chống ma túy”

- Nghiên cứu phần mềm “ClassPoint” để thiết kế các trò chơi ứng dụng CNTT phù hợp

- Xây dựng hệ thống, tiến trình, cách thức tổ chức các trò chơi dạy học theo nhóm trong chủ đề

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm để kiểm tra, đánh giá tính khả thi và tính hiệu quả của việc vận dụng các trò chơi vào dạy học để phát triển năng lực hợp tác nhóm của học sinh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu:

+ Năng lực của học sinh: Tập trung nghiên cứu năng lực hợp tác (Theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018)

+ Trò chơi trong dạy học

+ Vận dụng trò chơi trong dạy học chủ đề “Tác hại của ma túy và trách nhiệm của học sinh trong phòng chống ma túy”

+ Vận dụng CNTT vào tổ chức trò chơi trong dạy học

- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu áp dụng đối với học sinh khối 10 tại

trường THPT Đô Lương 2 trong năm học: 2021 - 2022

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lí luận

Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu lí luận về năng lực và sự phát triển năng lực HS, về năng lực hợp tác nhóm, về dạy học chủ đề, về trò chơi trong dạy học và dạy học phát triển năng lực hợp tác nhóm bằng tổ chức các trò chơi

- Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

+ Phương pháp điều tra: Dùng phiếu điều tra bằng bảng hỏi và trắc nghiệm

tâm lý để khảo sát thu thập thông tin và đánh giá năng lực hợp tác của học sinh THPT

+ Phỏng vấn sâu: Phỏng vấn sâu học sinh

+ Phương pháp quan sát: Quan sát học sinh trong các tiết học để nắm bắt các biểu hiện cụ thể về học sinh

6 Đóng góp của đề tài

- Về mặt lí luận:

+ Góp phần hoàn thiện cơ sở lí luận dạy học theo nhóm và dạy học phát triển

năng lực cho học sinh

Trang 9

+ Đề xuất được quy trình tổ chức các trò chơi trong dạy học nhằm phát triển năng lực cho học sinh

+ Xây dựng các rubic đánh giá năng lực hợp tác nhóm của học sinh khi tổ chức trò chơi trong hoạt động dạy học

+ Kết quả nghiên cứu đề tài vừa cung cấp cơ sở khoa học thực tiễn, vừa trở thành tài liệu tham khảo trong việc đổi mới PPDH theo định hướng PTNL hiện nay đối với môn GDQP-AN nói riêng và các môn học nói chung

Trang 10

PHẦN II: NỘI DUNG

1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Năng lực và sự phát triển năng lực HS

1.1.1 Khái niệm năng lực

Theo từ điển tiếng việt NL là: “Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”

Trong tài liệu tập huấn việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo theo định hướng phát triển NL của HS do Bộ giáo dục và Đào tạo phát hành năm 2015 thì “Năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân, nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định NL thể hiện sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố (phẩm chất của người lao động, kiến thức và kỹ năng) được thể hiện thông qua các hoạt động của cá nhân nhằm thực hiện một loại công việc nào đó NL bao gồm các yếu tố cơ bản mà mọi người lao động, mọi công dân đều cần phải có, đó là các NL chung, cốt lõi”

Theo Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể năm 2018, “Năng lực” được định nghĩa “Là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức,

kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.”[ tr 37]

Như vậy có thể hiểu một cách ngắn gọn năng lực là khả năng vận dụng tất cả những yếu tố chủ quan (mà bản thân có sẵn hoặc được hình thành qua học tập) để giải quyết các vấn đề trong học tập, công tác và cuộc sống

1.1.2 Sự phát triển năng lực học sinh

Theo quan điểm Triết học: Phát triển là một phạm trù dùng để khái quát hoá quá trình vận động từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn

Theo quan điểm Xã hội học: Phát triển là sự biến đổi hợp quy luật theo phương hướng không thể đảo ngược, được đặc trưng bởi sự chuyển biến chất lượng, bởi sự chuyển biến sang một trình độ mới Phát triển là đặc điểm cơ bản của vật chất, là nguyên tắc giải thích về sự tồn tại và hoạt động của các hệ thống bất cân bằng, lưu động, biến đổi

Kế thừa các quan điểm trên, chúng tôi cho rằng: Phát triển NL là quá trình biến đổi, tăng tiến các NL của HS từ mức độ thấp đến mức độ cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện làm cho việc học tập trở nên có hiệu quả Phát triển NL biểu hiện sự tiến bộ trong nhận thức, thái độ, hành động và kỹ thuật học tập của HS trong nhóm,

Trang 11

làm cho việc học tập ngày càng hoàn thiện có kết quả tốt hơn Phát triển NL là kết quả quá trình HS thường xuyên học tập với nhau, có ý thức về nhiệm vụ của mình, của nhóm để hỗ trợ nhau, cộng tác với nhau, tương tác lẫn nhau, tạo ra tính tích cực, hứng thú học tập đưa đến kết quả ngày càng cao Quá trình dạy học có mục tiêu hình thành năng lực hoạt động cho HS, trong đó phát triển NL là một hướng đi tích cực, hoàn toàn phù hợp với xu thế dạy học hiện đại

1.2 Năng lực hợp tác nhóm

Theo tác giả Lương Việt Thái ( 2012 ) NL hợp tác là “Khả năng cá nhân biết chia sẻ trách nhiệm, biết cam kết và biết cách cùng làm việc, lắng nghe và quan tâm tới các quan điểm khác nhau; hiểu biết và quan tâm tới nhau; giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau, phát huy thế mạnh của mỗi thành viên trong một công việc, một lĩnh vực nào đó vì mục đích chung có hiệu quả với những thành viên khác trong nhóm

Trong dạy học, năng lực hợp tác được biểu hiện ở chỗ HS chủ động hoạt động nhóm để giải quyết các vấn đề học tập, lựa chọn hình thức làm việc nhóm với quy

mô phù hợp yêu cầu, nhiệm vụ học tập, phân tích các công việc cần thực hiện để hoàn thành nhiệm vụ, đánh giá khả năng của mình có thể đóng góp vào hoạt động của nhóm; theo dõi tiến độ hoàn thành công việc của từng thành viên và cả nhóm để điều chỉnh các hoạt động phối hợp; chủ động và gương mẫu và hoàn thành nhiệm

vụ được giao, góp ý điều chỉnh thúc đẩy hoạt động chung; chia sẻ, học hỏi các thành viên khác; căn cứ vào mục đích hoạt động của nhóm để tổng kết quả đạt được; đánh giá mức độ đạt mục đích cá nhân và nhóm; rút kinh nghiệm cho bản thân và góp ý cho từng thành viên trong nhóm

1.3 Dạy học chủ đề

Theo Nguyễn Kỳ Loan (2016, tr 37), “Chủ đề là một đơn vị nội dung kiến thức

mà khi tổ chức HS tìm hiểu, khám phá sẽ giải quyết được một vấn đề lí luận hay thực tiễn, do đó vừa lĩnh hội được kiến thức khoa học, vừa rèn luyện, hình thành được các năng lực cơ bản như giải quyết vấn đề, sử dụng ngôn ngữ, tính toán, sáng tạo, tư duy phê phán, tự học” Theo Lê Đình Trung và Nguyễn Thị Minh Nguyệt (2017, tr 48), “Chủ đề là vấn đề mang tính cốt lõi, là phương diện chính mang tính định hướng vận động của đối tượng và mối liên hệ đa chiều của nó với các đối tượng khác trong tự nhiên Có thể nói, dạy học theo chủ đề có bản chất dạy học tích hợp, đưa nhận thức con người gắn với hiện thực khách quan Trong dạy học, chủ đề là một đơn vị kiến thức tương đối trọn vẹn và khi kết thúc một chủ đề, HS có được kiến thức và kĩ năng giải quyết được các vấn đề thực tiễn liên quan hoặc giải quyết được các vấn đề trong bối cảnh mới” Như vậy, mặc dù có các quan niệm khác nhau

về “chủ đề”, nhưng những quan niệm này đều có điểm chung thống nhất là: Bản thân chủ đề chứa đựng những tri thức lí luận và thực tiễn mang tính hệ thống, tích hợp, tức là mỗi chủ đề đều tồn tại như một hệ thống logic các đơn vị nội dung Mỗi đơn vị nội dung đó có thể lại là một chủ đề nhỏ (tiểu chủ đề) Trong mỗi hệ thống (chủ đề), có một vài chủ đề có ý nghĩa trung tâm (chủ đề lớn) và những chủ đề có ý

Trang 12

nghĩa bộ phận góp phần bổ sung, làm nổi bật chủ đề chính (Chủ đề nhỏ) và mỗi chủ

đề có ý nghĩa và giá trị khác nhau

Từ những khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu: Dạy học theo chủ đề là quá trình

tổ chức cho HS khám phá vấn đề học tập để lĩnh hội và vận dụng kĩ năng, kiến thức vào giải quyết tình huống nhận thức hay thực tiễn Dạy học theo chủ đề là sự kết hợp giữa mô hình dạy học truyền thống và hiện đại, ở đó GV không dạy học chỉ bằng tổ chức HS tiếp thu những kiến thức rời rạc mà chủ yếu là hướng dẫn họ tự lực tìm kiếm thông tin, sử dụng kiến thức, kĩ năng ở phạm vi rộng vào giải quyết các nhiệm

1.4.2 Ý nghĩa của trò chơi trong dạy học

Học trong quá trình vui chơi, là quá trình lĩnh hội tri thức một cách nhẹ nhàng,

tự nhiên không gò bó phù hợp với đặc điểm tâm lí sinh học ở HS Học tập bằng trò chơi sẽ khơi dậy hứng thú tự nguyện, làm giảm thiểu sự căng thẳng thần kinh ở các

em Trong lúc chơi tinh thần của HS thường rất thoải mái nên khả năng tiếp thu kiến thức trong lúc chơi sẽ tốt hơn, hoặc sau khi chơi cũng sẽ tốt hơn Trò chơi dạy học giúp xua đi nỗi lo âu nặng nề của việc học cho HS, giúp gắn kết tình cảm giữa HS với HS và giữa HS với GV

1.4.3 Cấu trúc chung của trò chơi dạy học

Trò chơi dạy học có mọi đặc điểm của trò chơi thông thường, nhưng về cấu trúc nó kết hợp các yếu tố chơi và các yếu tố sư phạm trong một tổ hợp hoạt động

và quan hệ hiện thực Đó là cấu trúc phức tạp, gồm những thành tố sau:

- Mục đích hay chủ định chơi

- Các hành động hay hành động chơi

- Luật chơi hay quy tắc chơi

- Đối tượng hoạt động và giao tiếp

- Các quá trình, tình huống và quan hệ

1.5 Dạy học phát triển năng lực hợp tác nhóm bằng tổ chức các trò chơi

1.5.1 Nội dung dạy học phát triển năng lực hợp tác nhóm bằng tổ chức các trò chơi

Tổ chức hoạt động nhóm theo mô hình trò chơi: Tổ chức nhóm theo mô hình trò chơi sẽ tạo điều kiện cho HS được làm việc nhiều hơn, khơi dậy tính tích cực, chủ động của HS trong quá trình học tập Giờ học biến thành cuộc so tài giữa các đội chơi, vì thế các em sẽ hăng hái tham gia, nỗ lực tư duy để tìm ra câu trả lời đúng,

Trang 13

ghi điểm cho đội mình Có như thế, giờ học sẽ đạt kết quả cao hơn nhiều so với các giờ học thông thường

1.5.2 Lựa chọn nhóm trò chơi cho dạy học phát triển năng lực hợp tác nhóm

Trong dạy học chủ đề “Tác hại của ma túy và trách nhiệm của học sinh trong

phòng chống ma túy”, dựa vào mục đích của trò chơi dạy học theo nhóm, chúng tôi

chia ra làm 2 nhóm trò chơi, cụ thể:

- Nhóm 1: Nhóm trò chơi tìm hiểu kiến thức mới

Mục đích để HS tích cực tìm tòi, phát hiện kiến thức của bài, HS chủ động tham gia vào bài học, phát triển các kĩ năng xử lí tình huống, mạnh dạn, tự tin trước đám đông, các năng lực hợp tác, giải quyết vấn đề, xử lí tình huống… (Mảnh ghép, đối đáp nhanh, nhóm chuyên gia…)

- Nhóm 2: Nhóm trò chơi luyện tập và củng cố kiến thức

Tạo sân chơi học tập, giúp HS củng cố lại kiến thức bài học nhưng không căng thẳng và mệt mỏi sau khi học xong bài học, rèn trí nhớ và khả năng tư duy giúp các em khắc sâu kiến thức (trò chơi đối đầu, sơ đồ tư duy, )

1.5.3 Các bước dạy học phát triển năng lực hợp tác nhóm bằng tổ chức các trò chơi

Từ nghiên cứu cơ sở lí luận của dạy học hợp tác, trò chơi dạy học, chương trình dạy học môn GDQP-AN, chúng tôi xây dựng các bước dạy học phát triển năng lực

hợp tác nhóm bằng tổ chức các trò chơi theo các bước sau:

Bước 1: Chia nhóm

- Tùy theo mục đích và thời gian của trò chơi mà GV chia lớp thành nhóm nhỏ hay nhóm lớn Mỗi nhóm là một đội chơi, được đặt tên và đánh số thứ tự cho các thành viên

- GV bố trí chỗ ngồi hợp lí cho các đội chơi sao cho đảm bảo đủ vị trí, trao đổi trực diện, đồng thời việc di chuyển phải thuận tiện, không làm mất thời gian hoạt động của nhóm hay mất trật tự lớp học

Bước 2: GV phổ biến luật chơi và hướng dẫn HS cách thức hoạt động nhóm

- Mỗi trò chơi có cách thức tổ chức khác nhau, có luật chơi khác nhau Việc tổ chức và điều khiển hoạt động của các nhóm như thế nào tùy thuộc vào sự sáng tạo của GV

- GV cần cử thư kí cho mỗi nhóm để ghi và tổng kết điểm

Bước 3: HS tham gia vào trò chơi học tập

- Nội dung học tập là các câu hỏi, bài tập liên quan đến các vấn đề cần ôn tập

- Các nhóm HS cùng nhau thảo luận để hoàn thành nhiệm vụ theo luật chơi đã

đề ra

Trang 14

Bước 4: Nhận xét, đánh giá kết quả hoạt động nhóm

- Kết quả hoạt động của nhóm được đánh giá bằng kết quả thi đua giữa các đội chơi, cuộc so tài nhỏ giữa các thành viên cùng số ở các nhóm

- Sau khi kết thúc trò chơi, GV cần nhận xét, rút kinh nghiệm và có thể chọn 1 hoặc một số đội có số điểm cao nhất để khen thưởng trước lớp nhằm khuyến khích

HS học tập tốt hơn

1.5.4 Tác dụng của việc tổ chức trò chơi dạy học để phát triển năng lực hợp tác nhóm của HS trong dạy học môn GDQP-AN

Trong quá trình dạy học môn GDQP-AN, các trò chơi nếu được sử dụng hợp

lý sẽ thúc đẩy một cách tự nhiên tính năng động và tính tích cực tham gia học tập

của HS

Sử dụng trò chơi trong dạy học môn GDQP-AN sẽ tạo được môi trường, không khí học tập vui vẻ và cho chúng ta thấy học tập không khô khan, tẻ nhạt mà cũng khá lý thú Học tập của HS không chỉ là quá trình tiếp thu kiến thức, nó liên quan

đến thực hành, hợp tác, làm việc tập thể theo tổ nhóm hơn là ganh đua cá nhân

Trò chơi được sử dụng hợp lý sẽ giúp cho HS lĩnh hội tri thức trong tất cả các khâu của quá trình dạy học, gây hứng thú học tập đối với môn GDQP-AN, làm cho những kiến thức HS tự chiếm lĩnh ngày càng sâu sắc hơn Đăc biệt thông qua trò chơi HS có thể tự tìm tòi, nghiên cứu, rèn luyện tri thức trong quá trình học tập ngoài giờ lên lớp Nếu nhóm học sinh nào đó quen với không khí trầm, các em có thể ít hào hứng, hoặc tỏ ra miễn cưỡng lúc đầu Nhưng trò chơi bao giờ cũng mang bản chất lôi cuốn hấp dẫn với mọi đối tượng, nó khuyến khích mức độ tập trung công việc thực sự cũng như kích thích niềm ham mê đối với bài học

Trò chơi có tác dụng hoà đồng sâu rộng và thu hút mức độ tập trung của HS Hơn thế nữa, mối quan tâm và hoạt động của HS thể hiện qua các tiết học có trò chơi làm nảy sinh tình cảm của các em đối với môn học Do vậy chúng ta hãy mạnh dạn

và cố gắng áp dụng trò chơi trong quá trình dạy học môn GDQP-AN

1.5.5 Ứng dụng CNTT vào việc tổ chức các trò chơi trong dạy học

Sự phát triển của CNTT đã làm thay đổi mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có giáo dục CNTT hỗ trợ giáo viên trong học tập, nghiên cứu, trong quản lí dạy học, đặc biệt trong thiết kế, tổ chức hoạt động học tập của học sinh Công nghệ thông tin đang trở thành một phuơng tiện không thể thiếu trong quá trình dạy học bởi tính năng ưu việt và những tiện ích vuợt trội của nó so với các phuơng tiện, thiết bị dạy học khác Một trong những ưu điểm nổi bật của CNTT đó là các phần mềm hỗ trợ dạy học như: Kahoot, Azota, Quizzi, Blooket hay ClassPoint Các phần mềm này có những chức năng hỗ trợ rất hữu ích cho giáo viên khi thiết kế các hoạt động dạy học, kể cả học trực tuyến hay trực tiếp Điều đó có ý nghĩa rất lớn trong dạy học thích ứng với tình hình dịch covid-19 diễn biến phức tạp như hiện nay Đặc biệt là ClassPoint, một phần mềm được tích hợp ngay trên bài giảng PowerPoint

Trang 15

Thông qua phần mềm này GV có thể sử dụng bảng trắng, chuyển câu hỏi trên bài giảng thành câu hỏi trắc nghiệm, tự luận, câu hỏi đám mây để học sinh tương tác trực tiếp trên bài giảng hoặc HS cũng có thể Upload hình ảnh (Thảo luận trên giấy) lên slide của bài giảng Với những tính năng đó cũng sẽ giúp GV viên thiết kế những trò chơi học tập đa dạng hơn và cực kỳ thú vị cho bài dạy của mình

2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

2.1 Thực trạng sử dụng trò chơi trong dạy học môn GDQP-AN ở trường THPT

Kết quả thăm dò 21 GV dạy môn GDQP-AN của 7 trường THPT trên địa bàn

huyện Đô Lương và huyện Tân Kỳ (Theo phiếu khảo sát phụ lục 2C) tôi thấy:

- Về mức độ sử dụng trò chơi, đa số GV đều “Thỉnh thoảng” hoặc “Rất ít khi”

sử dụng trò chơi trong dạy học ở trường THPT

- Về việc lựa chọn hoạt động để tổ chức trò chơi, đa số GV lựa chọn sử dụng trò chơi trong hoạt động khởi động, ít GV lựa chọn sử dụng trò chơi trong hoạt động hình thành kiến thức và luyện tập hay tìm tòi mở rộng

- Về việc ứng dụng CNTT vào dạy học, không có nhiều GV thường xuyên ứng dụng các phần mềm hỗ trợ cho bài dạy của mình Đa số là chỉ thỉnh thoảng sử dụng

và một số thì còn chưa bao giờ sử dụng các phần mềm hỗ trợ dạy học

Tìm tòi mở rộng

Lựa chọn hoạt động để tổ chức trò chơi

Trang 16

Song song với kết quả thăm dò GV, chúng tôi đã tiến hành thăm dò về sự hứng thú của HS với các tiết học lý thuyết môn GDQP-AN mà lâu nay các em đang học đối với 170 HS lớp 10A3, 10A4, 10C2, 10C3 trường THPT Đô Lương 2 nơi chúng

tôi công tác (Theo phiếu khảo sát phụ lục 2B) Khi được hỏi về sự hứng thú của các

em khi trong tiết học lý thuyết GV không sử dụng trò chơi trong dạy học thì hầu hết

HS lựa chọn “Không mấy hứng thú”, cũng có một số HS lựa chọn “Rất hứng thú” hoặc “Khá hứng thú”

Như vậy, việc tổ chức hoạt động dạy học theo phương pháp sử dụng trò chơi trong dạy học cho học sinh còn rất hạn chế, nếu có thì cũng chủ yếu là các trò chơi đơn giản, khoảng thời gian ngắn trong hoạt động khởi động Nên hầu hết các tiết học lý thuyết trên lớp của GV không thực sự mang lại nhiều hứng thú cho học sinh

Trang 17

2.2 Thực trạng phát triển năng lực hợp tác nhóm cho HS trường THPT

- Kết quả thăm dò 21 GV dạy môn GDQP-AN của 7 trường THPT trên địa bàn

huyện Đô Lương và huyện Tân Kỳ (Theo phiếu khảo sát phụ lục 2C) tôi thấy:

+ Về mức độ quan trọng của các năng lực cần phát triển cho HS THPT, đa số

GV đều cho rằng các NL đều rất cần phát triển cho HS, trong đó có năng lực hợp tác nhóm

+ Về hạn chế của dạy học phát triển NL hợp tác nhóm: Đa số GV đều cho rằng dạy học phát triển NL hợp tác nhóm tốn nhiều thời gian

Như vậy, GV luôn ý thức được tầm quan trọng của việc phát triển năng lực hợp tác cho HS Tuy nhiên các GV cho rằng dạy học theo nhóm tốn nhiều thời gian, gây

ồn ào, phương tiện vật chất, CSVC lớp học chưa đáp ứng nhu cầu học nhóm…

- Khi tiến hành điều tra 170 HS lớp 10A3, 10A4, 10C2, 10C3 trường THPT Đô Lương 2, trong đó có 49% nam, 51% nữ và các lớp có lực học đều nhau

+ Nội dung khảo sát của bảng hỏi đều được thiết kế theo 4 phương án lựa chọn

65%

12%

7%6%

10%

Hạn chế của dạy học phát triển NL hợp tác nhóm

Tốn nhiều thời gian Lớp ồn ào, khó quản lý

Cơ sở vật chất khó đáp ứng yêu cầu bài dạy

Một số học sinh không hoạt động Khó thực hiện

Trang 18

Biểu hiện ở mức độ thấp: X <3,0

Biểu hiện ở mức độ trung bình: 3 X 3,499

Biểu hiện ở mức độ khá: 3,5  X 3,749

Biểu hiện ở mức độ tốt: 3,75  X 4

+ Kết quả khảo sát như sau:

Phần lớn HS được khảo sát học sinh tự nhận thấy năng lực hợp tác nhóm của bản thân ở mức trung bình, hoặc thấp Số ít còn lại nhận thấy mình ở mức khá, tốt

Tóm lại, Qua kết quả khảo sát của GV và HS có thể thấy, NL học tập hợp tác của HS ở vẫn còn ít được GV phát triển trong quá trình dạy học

2.3 Thuận lợi và khó khăn trong việc áp dụng đề tài

2.3.1 Thuận lợi

Mục tiêu giáo dục phổ thông hiện nay trong chiến lược đổi mới căn bản và toàn diện đã có sự thay đổi, chú trọng đến việc phát triển toàn diện năng lực cho HS trong đó nhấn mạnh đến năng lực hợp tác Sự thay đổi này đã có tác động to lớn thúc đẩy các tổ chức giáo dục, nhà trường và GV chú trọng hơn đến những hoạt động nhằm phát triển năng lực hợp tác cho HS

Các GV luôn quan tâm đến vấn đề tích cực hóa trong dạy học, cũng như nghiên cứu các biện pháp, kỹ thuật dạy học để nâng cao hiệu quả dạy học Các GV đều nhận thức đúng đắn về sự cần thiết của việc xây dựng và sử dụng trò chơi trong dạy học môn GDQP-AN

Cơ sở vật chất phục vụ đổi mới phương pháp dạy học những năm qua đã được đặc biệt chú trọng Nhiều dự án của Bộ GD&ĐT đã và đang được triển khai thực hiện trên phạm vi cả nước đã từng bước cải thiện điều kiện dạy học và áp dụng công nghệ thông tin - truyền thông ở các trường trung học, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đổi mới phương pháp dạy học Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học của nhà trường phổ thông ngày được trang bị ngày càng đầy đủ hơn, đáp ứng được yêu cầu giảng dạy cho GV Trường THPT Đô Lương 2, tuy là trường đóng ở địa bàn khó

Trang 19

khăn của huyện Đô Lương nhưng cũng cơ bản đảm bảo cơ sở vật chất để thực hiện phương pháp Phương pháp dạy học có sử dụng trò chơi học tập đòi hỏi sự tham gia nhiều của công nghệ thông tin, hiện nay trường đã có 24 ti vi và máy chiếu trang bị cho 24 lớp để phục vụ dạy và học

2.3.2 Khó khăn

Hoạt động đổi mới phương pháp dạy học chưa mang lại hiệu quả cao Đa số GV hiện nay khi dạy học vẫn còn áp dụng theo hình thức cũ chưa phát huy được năng lực hợp tác của HS Số GV thường xuyên chủ động, sáng tạo trong việc phối hợp các phương pháp dạy học cũng như sử dụng các phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của HS còn chưa nhiều Dạy học vẫn nặng về truyền thụ kiến thức lí thuyết Việc rèn luyện kỹ năng sống, kỹ năng giải quyết các tình huống thực tiễn cho HS thông qua khả năng vận dụng tri thức tổng hợp chưa thực sự được quan tâm Việc ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông, sử dụng các phương tiện dạy học chưa được thực hiện rộng rãi

Số lượng HS thụ động trong học tập còn rất nhiều, không khí học tập chưa tốt, bên cạnh đó vẫn còn hiện tượng HS học “Đối phó”, xem môn GDQP-AN là môn phụ nên cũng không quan tâm và đầu tư nhiều thời gian cho môn học

Hiện nay, sĩ số học sinh trong lớp khá đông, không gian hoạt động chật hẹp dẫn đến việc tổ chức các trò chơi học tập cũng như trong quá trình chơi của HS bị hạn chế, dễ dẫn tới lớp ồn ào ảnh hưởng đến các lớp khác, việc bao quát lớp của GV là rất khó nên số lượng trò chơi được tổ chức còn rất ít

GV vẫn chưa đầu tư nhiều vào việc thiết kế các loại trò chơi dạy học cho HS THPT Vì tài liệu thiết kế các loại trò chơi dạy học chủ yếu là dành cho độ tuổi mầm non, tiểu học rất nhiều còn đối tượng là HS THPT thì rất ít đầu sách tham khảo Các loại trò chơi được thiết kế còn đơn điệu, hình thức tổ chức trò chơi chưa hấp dẫn nên đôi khi chưa thu hút được tất cả HS cùng chơi

Ngoài ra, việc tổ chức trò chơi dạy học có thu hút được HS hay không? Có tạo nên hứng thú cho HS không? Điều này còn phụ thuộc vào trình độ, năng lực tổ chức các trò chơi của GV

“Tác hại của ma túy và trách nhiệm của học sinh trong phòng, chống ma túy”

là một chủ đề quan trọng trong chương trình GDQP-AN 10 Đây là một nội dung không mới đối với HS THPT vì thông qua các tổ chức đoàn thể như Đoàn thanh niên trong trường hay là các tổ chức Chính trị xã hội khác các em cũng đã được tuyên truyền khá nhiều về ma túy cũng như tác hại của nó

Trang 20

Chủ đề này được chia làm 4 tiết

Tiết PPCT Nội dung

Tiết 31 I Hiểu biết cơ bản về ma túy

Tiết 32 II Tác hại của ma túy

Tiết 33 III Nguyên nhân dẫn đến nghiện ma túy và dấu hiệu nhận biết học

sinh nghiện ma túy Tiết 34 IV Trách nhiệm của học sinh trong phòng, chống ma túy

3.1.2 Mục tiêu dạy học của chủ đề “Tác hại của ma túy và trách nhiệm của học sinh trong phòng, chống ma túy”

3.1.2.1 Về kiến thức:

- Nắm được khái niệm về ma túy cũng như các loại ma túy thường gặp

- Hiểu được tác hại của ma tuý và những hình thức, con đường gây nghiện

- Biết cách phòng, chống ma tuý đối với bản thân và cộng đồng

3.1.2.2 Về năng lực:

- Năng lực đặc thù: Năng lực nhận thức các vấn đề về quốc phòng, an ninh cụ thể như: Phân tích được tác hại của ma túy đến bản thân người sử dụng, đến nền kinh tế quốc dân và đến trật tự an toàn xã hội, để có biện pháp tích cực phòng, chống hiệu quả nguy đó cho đất nước

- Năng lực chung: Năng lực tự học; năng lực hợp tác; năng lực giải quyết vấn

đề

3.1.2.3 Về phẩm chất:

- Phát huy trách nhiệm của bản thân để cùng chung tay với cộng đồng, xã hội đẩy lùi tệ nạn ma túy Trên có sở đó nhằm bồi đắp tình yêu quê hương, đất nước hướng tới xây dựng đất nước, an toàn, phát triển và giàu mạnh

3.2 Vận dụng trò chơi trong dạy học chủ đề chủ đề “Tác hại của ma túy và

trách nhiệm của học sinh trong phòng, chống ma túy”

3.2.1 Nguyên tắc lựa chọn trò chơi để dạy học chủ đề

Việc lựa chọn trò chơi phải đáp ứng mục đích, yêu cầu, nội dung của bài học, giúp

HS lĩnh hội nội dung kiến thức bài học, tạo hứng thú giúp các em tích cực tham gia xây dựng bài và khắc sâu kiến thức; lựa chọn trò chơi cũng phải phù hợp với dung lượng kiến thức bài học, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi, vừa sức với HS

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn đã nêu ở trên Tôi lựa chọn các trò chơi để dạy học chủ đề dựa trên một số nguyên tắc sau:

- Đảm bảo tính giáo dục

Trang 21

- Đảm bảo tính mục tiêu

- Đảm bảo tính vừa sức

- Đảm bảo tính khả thi

- Đảm bảo tính hiệu quả

- Đảm bảo tính khoa học và sư phạm

3.2.2 Quy trình tổ chức thực hiện các trò chơi trong chủ đề “Tác hại của ma túy và trách nhiệm của học sinh trong phòng, chống ma túy”

Việc tổ chức trò chơi học tập cho học sinh để hình thành kiến thức, kỹ năng mới, để củng cố kiến thức, kỹ năng là rất cần để tạo hứng thú học tập cho học sinh

Quy trình tổ chức thực hiện các trò chơi gồm:

- Bước 1: Giáo viên giới thiệu tên, mục đích của trò chơi

- Bước 2: Hướng dẫn chơi Bước này bao gồm những việc làm sau:

Tổ chức HS tham gia trò chơi: Số HS tham gia, số đội tham gia, trọng tài Các dụng cụ dùng để chơi

Cách chơi: Từng việc làm cụ thể đội chơi, thời gian chơi, …

Cách xác nhận kết quả và cách tính điểm chơi, giải thưởng của cuộc chơi

- Bước 3: Thực hiện trò chơi

- Bước 4: Nhận xét sau cuộc chơi Bước này bao gồm những việc làm sau:

GV nhận xét về thái độ tham gia trò chơi của từng đội, những việc làm tốt và chưa tốt của các đội để rút kinh nghiệm

GV công bố kết quả chơi của từng đội và trao phần thưởng cho đội đoạt giải Một số học sinh nêu kiến thức, kỹ năng trong bài học mà trò chơi đã thể hiện

3.2.3 Ứng dụng phần mềm ClassPoint để tổ chức một số trò chơi trong dạy học

3.2.3.1 Giới thiệu tính năng mới của phần mềm ClassPoint trong dạy học

- ClassPoint là một phần mềm bổ trợ được tích hợp và sử dụng trực tiếp trên Microsoft PowerPoint nhằm tạo ra các câu hỏi trực tiếp và có tính tương tác mạnh mẽ ngay trên slide bài giảng, giúp giáo viên xây dựng sự tương tác trực tiếp mạnh mẽ với học sinh nhằm cải thiện chất lượng dạy và học Đây là một trong những công cụ phù hợp để giáo viên tăng cường việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

- Phần mềm này không chỉ chạy các slide PowerPoint vào các phiên câu

đố tương tác mà còn giúp GV tìm ra điểm của các câu đố này Hơn nữa, nó cho phép thu thập các câu trả lời trực tiếp và lưu dữ liệu như điểm số của học

sinh theo thứ tự thời gian trong các tệp riêng biệt

Trang 22

- Chúng ta chỉ cần tìm một add- ClassPoint có thể thay thế cho các dụng

cụ tương tác như: Kahoot, Quizz, mentimeter, Padlet, White board…Nó đáp ứng yêu cầu dạy học môn GDQP-AN: Ghi bảng trắng, bài tập trắc nghiệm, tự luận, upload hình ảnh… Bài dạy GDQP-AN trở thành bài giảng tương tác tuyệt vời

Ảnh minh họa chức năng của ClassPoint

3.2.3.2 Các chức năng của ClassPoint

* Chức năng tạo phòng học online

- Bình thường giáo viên chỉ trình chiếu bài giảng PowerPoint trực tiếp trên lớp học cho học sinh quan sát, hoặc khi dạy online thì giáo viên có thể chia sẻ cho học sinh quan sát nội dung bài học bằng cách chia sẻ màn hình trên các phần mềm nhúng Zoom, Class room… nhưng khi cài ClassPoint thì bây giờ giáo viên có thể tạo một lớp học trên PowerPoint mà không cần nhúng trong bất kì phần mềm nào nữa cụ thể:

Bước 1: Chuẩn bị toàn bộ dữ liệu, slide cần trình chiếu (Ở bước này giáo viên

không phải soạn bài giảng mới trên ClassPoint mà ClassPoint đã tích hợp trên PowerPoint nên giáo viên chỉ cần mở một bài giảng PowerPoint sẵn có của mình)

Bước 2: Nhấn vào phần Slide Show bên góc phải dưới cùng của bài để tạo 1

lớp học

Bước 3: Giao diện trình chiếu hiện ra và bên góc phải màn hình trình chiếu có

mã Code của lớp học

Trang 23

Sau khi đăng nhập ClassPoint để học sinh vào lớp học của ClassPoint giáo viên có thể làm một trong 2 cách sau:

Cách 1: Cung cấp mã QR để học sinh quét nhanh bằng cách ấn và phần View Detail trong phần trình chiếu như hình sau

Mã QR của lớp học

Trang 24

Cách 2: Học sinh truy cập vào link ClassPoint.app/join sau đó dùng mã lớp

(Class code) ở góc trên bên phải do giáo viên cung cấp nhập vào phần Class Code > Nhập tên của bạn vào phần Your Name > Nhấn Join

Truy cập vào giao diện ClassPoint trên web

Nhập mã lớp và tên của bạn > Nhấn Join để vào lớp

Như vậy sau khi đăng nhập và tạo lớp học thành công, giáo viên đã biến bài giảng trình chiếu PowerPoint bình thường thành một lớp học Trên màn hình điện thoại của học sinh hiển thị bài giảng PowerPoint của giáo viên

* Công cụ tạo các bài thi trắc nghiệm, trò chơi tương tác với người tham gia phòng học

Đây là chức năng đặc biệt và tối ưu nhất của ClassPoint Chức năng này giúp giáo viên khi trình chiếu bài dạy trên PowerPoint có thể tương tác với HS trong mà không cần mở thêm trang web hay dùng thêm bất cứ phần mềm nào Thông thường khi giảng dạy, nhất là trong giảng dạy trực tuyến, để tương tác với học sinh thì giáo viên cần phải dùng tới các phần mềm khác như Kahoot, Azota, Quizzi, Blooket… Như vậy giáo viên ngoài soạn bài giảng cần phải soạn thêm bộ câu hỏi trên Word sau đó khi sử dụng phần mềm tương tác lại phải soạn thêm (coppy )từng câu hỏi trên bản Word lên trên phần mềm tương tác đó Việc làm như vậy vô cùng tốn thời gian

Trang 25

và công sức, hơn nữa khi học trực tuyến học sinh thường dùng điên thoại, các em phải mở một lúc nhiều cửa sổ mới có thể vừa học vừa tương tác ảnh hưởng tới hiệu quả học tập Đôi lúc chỉ cần sơ ý thì các em sẽ thoát ra khỏi lớp học hoặc phần mềm tương tác Đến với ClassPoint, giáo viên và học sinh không phải làm nhiều thao tác phức tạp như vậy Khi soạn bài thì trên bài PowerPoint của giáo viên cơ bản đã có các câu hỏi Lúc này chỉ cần 1 click chuột chọn chế độ tương tác thì giáo viên đã biến một câu hỏi thông thường thành câu hỏi tương tác Không chỉ một dạng câu hỏi

mà có nhiều dạng câu hỏi giáo viên có thể lựa chọn sao cho phù hợp với mục đích giảng dạy Như vậy, học sinh cũng không cần phải mở thêm phần mềm nào mà lúc này trên màn hình điện thoại cũng đã hiện lên chế độ tương tác Cụ thể giáo viên có thể lựa chọn các dạng tương tác trên ClassPoint như sau:

Dạng 1 Tạo câu hỏi trắc nghiệm có hoặc 1 đáp án đúng hoặc nhiều đáp án

đúng

Bước 1: Ở giao diện slide trình chiếu > Chọn tab Inknoe ClassPoint > Bạn

Click vào Multiple Choice

Bước 2: Hộp thoại hiện ra bên trái > Bạn chọn các lựa chọn sau:

Trang 26

- Allow selecting multiple choices: Có cho phép học sinh chọn nhiều câu trả

lời hay không? Nếu có thì chọn các đáp án đúng tại ô bên cạnh

- Has correct answer: Câu hỏi này có câu trả lời nào đúng hay không? Nếu có

hãy chọn đáp áp đúng ở ô bên cạnh

- Competition mode: Chế độ thi đấu chọn các lựa chọn trả lời trắc nghiệm Bước 3: Tiếp đến bạn chọn các thiết lập cho câu hỏi trắc nghiệm trong đó: trong

phần “ Play Options” ở hộp thoại

+ Start question with slide: Bắt đầu câu hỏi khi mở slide

+ Minimize result window after question starts: Thu nhỏ bảng kết quả khi

bắt đầu câu hỏi

+ Close submission after : Kết thúc câu hỏi sau bao nhiêu phút

Bước 4: Bạn thực hiện trình chiếu > Và click vào hộp thoại đã tạo để hiển thị

câu hỏi trắc nghiệm

Thực hiện trình chiếu và click vào hộp thoại trắc nghiệm đã tạo

Trang 27

Bước 5: Lúc này màn hình điện thoại của học sinh sẽ có giao diện như sau

Giao diện trả lời câu hỏi trên mà hình của học sinh

- Học trả lời câu hỏi tương tác trên điện thoại

- Kết quả đúng sẽ hiển thị ở bảng kết quả như hình

- Giáo viên có thể tùy chọn xem đáp án của bất kì HS nào

- Nếu giáo viên chọn chế độ đối kháng thì lúc này trên màn hình sẽ hiển thị bảng kết quả của thành tích xếp theo thứ tự của HS

- Giáo viên có thể chọn tải kết quả về trang trình chiếu lưu lại nếu muốn lấy đó làm căn cứ đánh giá

Phần kết quả các đáp án được hiển thị trong bảng Result

Dạng 2 Câu hỏi và trả lời đám mây

Trang 28

- Ở giao diện slide trình chiếu > Chọn tab Inknoe ClassPoint > Bạn Click vào Word Cloud.

- Học sinh sẽ nhập các câu trả lời ngắn: Câu trả lời dạng này thường là những câu hỏi khảo sát, đáp án ngắn gọn thông thường có hoặc không, hoặc là các công thức ngắn gọn

- Các câu trả lời sẽ được hiện lên dưới dạng đám mây, Các đáp án giống nhau

và nhiều nhất sẽ được trình bày chữ to hơn.Thông thường GV nên chọn câu hỏinhư một dạng câu hỏi mang tính chất khảo sát hoặc xuất phát từ sự sai lầm khi ứng dụng kiến thức cũ, gây sự tranh cãi để kích thích học sinh tiếp nhận vấn đề bài mới Cũng như các dạng câu hỏi khác, GV có thể xem đáp án của HS bất kì cũng như lưu lại phần kết quả câu

Dạng 3 Dạng câu hỏi Short Answer: Hoàn toàn giống với 2 dạng câu hỏi

trên GV chỉ cần kích biểu tượng Inknoe ClassPoint và chọn Short answer thì câu

hỏi bình thường của giáo viên đã chuyển thành câu hỏi tương tác

Trang 29

Dạng câu hỏi này cho phép học sinh nhập các câu trả bằng văn bản Lúc này màn hình giáo viên và HS hiển thị:

Màn hình của giáo viên khi học sinh trả lời Màn hình Hình HS Dạng 4 Slide Drawing: Dạng câu hỏi này cho phép người học dùng công cụ

bút vẽ để vẽ trực tiếp trên bảng trắng:

Dạng câu hỏi này có thể áp dụng cho các câu hỏi liên quan tới vẽ minh họa tranh tuyên truyền, đồ thị…

Trang 30

Dạng 5: Image Upload: Cho phép người học tải và upload ảnh lên màn hình

chiếu

Màn hình chiếu của GV khi HS nạp ảnh Màn hình chiếu của HS khi nạp ảnh

Dạng câu hỏi này, học sinh có thể chụp ảnh và upload ảnh giải một bài tập hay nội dung thảo luận nhóm,…

Như vậy phần mềm Class Pont tích hợp trong PowerPoint có nhiều chức năng tương tác, có nhiều dạng tương tác, HS có thể tương tác với giáo viên trực tiếp trên bài học PowerPoint Ứng dụng dễ sử dụng, màn hình giao diện đẹp, bắt mắt và chức năng thi đấu trong các câu hỏi giúp học sinh hứng thú và hào hứng hơn trong học tập Các chức năng tương tác của ClassPoint giúp cho GV không những thuận lợi trong dạy học hàng ngày mà còn cực kì thuận lợi trong giai đoạn học Online Giáo viên không cần phải sử dụng các phần mềm nào khác, không phải kì công biên soạn các cộ câu hỏi trên các phần mềm mà chỉ cần mở bài giảng PowerPoint có sẵn và lựa chọn chế độ tương tác phù hợp theo ý muốn là đã có một tiết học sôi nổi thú vị

3.2.3.3 Cách đăng kí tài khoản ClassPoint:

- Tiến hành tải và cài phần mềm ClassPoint về máy tính

- Sau khi cài đặt phần mềm ClassPoint thì phần mềm sẽ tự động tích hợp trên PowerPoint và có biểu tượng nằm trên thanh công cụ của PowerPoint

Trang 31

- Lúc này giáo viên vào biểu tượng trên thanh công cụ, khi đó bên góc trái màn hình có “Sing in” và tiến hành đăng kí tài khoản

- Sau khi tiến hành đăng kí tài khoản và đăng nhập thành công thì lúc này khi giáo viên mở PowerPoint như bình thường thì giáo viên còn có thể đặt các chế độ tương tác trong lớp học với học sinh

3.2.3.4 Quy trình sử dụng

- Bước 1: Cài đặt ClassPoint, đăng ký tài khoản

- Bước 2: Tạo bài giảng

+ Soạn như bài giảng trên PowerPoint

+ Soạn câu hỏi tương tác ở nhóm công cụ tương tác ở số 3 ở trên hình sau:

+ Quy trình thiết kế câu hỏi:

Thiết kế slide chứa câu hỏi tương tác (Định dạng tùy ý) Trước đây nếu chưa dùng ClassPoint, để HS tương tác được thì phải dùng hiệu ứng Triger hay Hyperlink Còn giờ nếu sử dụng phần mềm ClassPoint chỉ thêm nút câu hỏi tương ứng và thiết lập các thuộc tính cho câu hỏi Có 5 loại câu hỏi: Câu hỏi nhiều lựa chọn (Multiple), câu hỏi đám mây (Word Cloud), câu hỏi trả lời ngắn (Short Answer), vẽ lên slide (Slide Drawing), tải ảnh lên (Image Upload)

Các dạng câu hỏi trong ClassPoint

- Bước 3: Trình chiếu bài giảng

+ GV kích vào inknore ClassPoint, chọn nút trình chiếu PowerPoint

+ HS đăng nhập vào ClassPoint và điền mã code hoặc quét mã QR

Trang 32

+ Trong quá trình chiếu, nhấp chuột vào nút câu hỏi và HS sẽ đưa ra các câu trả lời

+ Xem phản hồi của HS được ghi nhận trực tiếp hoặc xem sau khi kết thúc

Như vậy ClassPoint không những đáp ứng chức năng trình chiếu PowerPoint mà còn tích hợp tất cả các phần mềm tương tác khác để giáo viên

và học sinh không cần dùng nhiều phần mềm trong một tiết học mà vẫn đáp ứng nhu cầu trình chiếu và tương tác để tổ chức trò chơi

3.2.4 Sử dụng trò chơi trong các hoạt động học ở chủ đề “Tác hại của ma túy và trách nhiệm của học sinh trong phòng, chống ma túy”

3.2.4.1 Hoạt động hình thành kiến thức mới

3.2.4.1.1 TRÒ CHƠI “ MẢNH GHÉP 1”

Sử dụng trò chơi khi dạy Tiết PPCT 31 Mục I Hiểu biết cơ bản về ma túy,

trong chủ đề “Tác hại của ma túy và trách nhiệm của học sinh trong phòng, chống

ma túy”

* Thiết kế trò chơi:

- Mục đích: Để HS tích cực tìm tòi; phát hiện kiến thức cần thiết như các chất ma tuý thường gặp; HS chủ động tham gia vào bài học; phát triển các kĩ năng xử lí tình huống, mạnh dạn, tự tin trước đám đông, các năng lực hợp tác, giải quyết vấn đề, xử lí tình huống…

- Nội dung: Thuộc mục I.2 Phân loại chất ma túy của chủ đề “Tác hại của ma

túy và trách nhiệm của học sinh trong phòng, chống ma túy” tiết 1

- Chuẩn bị:

+ GV thiết kế bộ các miếng ghép trên phần mềm PowerPoint, hình mẫu Sau đó in trên giấy A4 để phát cho 6 đội chơi (6 bộ giống nhau)

Trang 33

1 Số lượng thành viên tham gia trò chơi đầy

đủ

0,5

2

Tổ chức làm việc nhóm: Phân công nhóm

trưởng, thư kí, phân công công việc, kế hoạch

Nhóm không báo cáo:

+ Lắng nghe và chú ý các nhóm báo cáo

+ Đưa ra được câu hỏi cho nhóm báo cáo,

Trang 34

* Cách tiến hành tổ chức trò chơi:

- GV ứng dụng phần mềm ClassPoint dạng câu hỏi Image Upload (Cho phép

người học tải và upload ảnh nào lên màn hình chiếu)

- Chia lớp thành 6 đội chơi ( đội 1, đội 2, đội 3, đội 4, đội 5, đội 6 ), mỗi đội 6

- 8 HS ( 2 bàn lập thành 1 đội)

- GV giới thiệu tên trò chơi là “MẢNH GHÉP 1”

GV phổ biến luật chơi: Mỗi đội được phát một bộ các miếng ghép và một hình mẫu, nhiệm vụ của các đội chơi là ghép các mảnh ghép sao cho câu hỏi trên mảnh ghép này xếp sát với câu trả lời tương ứng trên mảnh ghép khác để tạo thành hình giống với hình mẫu, thời gian chơi là 5 - 8 phút

- Tiến hành trò chơi

- Nhận xét và tổng kết trò chơi

+ Sau 5 - 8 phút các nhóm trưởng chụp ảnh sản phẩm mình vào điện thoại có kết nối mạng internet Học sinh truy cập vào link ClassPoint.app/join sau đó dùng

mã lớp (Class code) ở góc trên bên phải do giáo viên cung cấp nhập vào phần Class

Code > Nhập tên của nhóm vào phần Your Name > Nhấn Join

+ Học sinh upload ảnh vừa chụp sản phẩm của mình lên bài giảng PowerPoint

+ GV trình chiếu ảnh sản phẩm của từng nhóm lên màn hình, sau đó từng trưởng

nhóm đứng lên trình bày sản phẩm của nhóm mình Các nhóm khác có thể đánh giá sản phẩm của nhau

+ GV trình chiếu đáp án và yêu cầu các nhóm theo dõi rút ra kiến thức bài học

Trang 35

Trò chơi này đòi hỏi sự nhanh tay nhanh mắt, các nhóm HS phải biết cách tự đọc SGK rút ra kiến thức bài học theo mạch logic Do đó khi thấy các nhóm HS gặp khó khăn có thể gợi ý hãy tìm hiểu SGK theo tuần tự mục SGK để sắp xếp hình Thời gian chơi là ngắn đòi hỏi sự hợp tác của cả nhóm mới hoàn thành kịp thời gian Do đó GV phải quan sát tất cả HS ở các nhóm để kịp thời nhắc nhở

3.2.4.1.2 TRÒ CHƠI “ĐỐI ĐÁP NHANH”

Sử dụng trò chơi khi dạy Tiết PPCT 32 ở mục II Tác hại của ma túy trong chủ

đề “Tác hại của ma túy và trách nhiệm của học sinh trong phòng, chống ma túy”

* Thiết kế trò chơi:

- Mục đích: Để HS tích cực tìm tòi; phát hiện kiến thức cần thiết về tác hại ma túy đối với bản thân người sử dụng, đối với kinh tế và đối với trật tự an toàn xã hội; HS chủ động tham gia vào bài học; phát triển các kĩ năng xử lí tình huống, mạnh dạn, tự tin trước đám đông, các năng lực hợp tác, giải quyết vấn đề, xử lí tình huống…

- Nội dung: Thuộc mục Mục II Tác hại của tệ nạn ma túy của chủ đề “Tác hại

của ma túy và trách nhiệm của học sinh trong phòng, chống ma túy” tiết 2

5 Ma túy gây ra những bệnh nào về da?

6 Ma túy gây tổn hại như tế nào cho gan, thận

(Cơ quan thải độc)?

7 Ma túy gây tổn hại như tế nào cho hệ thần

kinh?

Trang 36

8 Khi nghiện ma túy toàn thân người nghiện sẽ

1 Số lượng thành viên tham gia trò chơi

đầy đủ

0,5

2

Tổ chức làm việc nhóm: phân công nhóm

trưởng, thư kí, phân công công việc, kế

Nhóm không báo cáo:

+ Lắng nghe và chú ý các nhóm báo cáo

+ Đưa ra được câu hỏi cho nhóm báo cáo,

1,0

Trang 37

GV

6 Mức độ hoàn thành trò chơi 6,0

* Cách tiến hành tổ chức trò chơi:

- Chia lớp học làm 02 nhóm (Mỗi nhóm nửa lớp) Các nhóm bầu nhóm trưởng, thư ký của nhóm mình

- GV giới thiệu tên trò chơi là “ĐỐI ĐÁP NHANH”

- GV hướng dẫn cách chơi:

GV phát cho mỗi nhóm 6 phiếu học tập, yêu cầu các nhóm thảo luận trong 6 phút

Sau 6 phút, GV chọn ra ở mỗi dãy bàn học 1 HS để lập 2 đội chơi, đội A và đội B

Yêu cầu 2 đội xếp thành hàng ngang theo đường lên xuống giữa lớp và quay mặt vào nhau

Sau đó hai hàng cùng đếm số:

Đội A: 1, 2, 3, 4, 5, 6

Đội B: 1, 2, 3, 4, 5, 6

Luật chơi: Mỗi em học sinh ở đội A sẽ nói câu hỏi, thì các em học sinh đội B

sẽ trả lời với nội dung ngắn gọn, súc tích, cơ bản Sau khi thực hiện xong 1 câu, GV đổi lại cho học sinh ở đội B hỏi, đội A trả lời Và cứ tiếp tục cho đến hết bộ câu hỏi

GV chuẩn bị Trong quá trình các đội đối đáp nhau, thì mỗi đội sẽ cử thư ký của mình lên viết đáp án của đội mình lên tờ giấy Ao được giáo viên dán sẵn trên bảng

- Tiến hành trò chơi

- Nhận xét, rút kinh nghiệm và tổng kết trò chơi

+ Hết thời gian GV cho các đội chơi tự đánh giá lẫn nhau, sau đó GV trình chiếu đáp án lên màn hình để đánh giá, kết luận nội dung bài học và cho điểm các đội chơi theo phiếu chấm điểm đội chơi

+ Mỗi câu trả lời đúng ghi được 0,5 điểm

Trong quá trình học sinh chơi, GV là người giám sát, theo dõi, ghi điểm Đáp án trò chơi:

Trang 38

3 Ma túy gây tổn hại như tế nào cho

hệ hô hấp?

Viêm đường hô hấp trên và dưới

4 Ma túy gây tổn hại như tế nào cho

hệ tuần hoàn?

Rối loạn nhịp tim, huyết áp; xơ cứng mạch máu, nhiễm trùng máu, viêm tắc tĩnh mạch

5 Ma túy gây ra những bệnh nào về

da?

Rối loạn cảm giác trên da sinh ra các bệnh ghể lở hắc lào, viêm da do sợ tắm rửa

6 Ma túy gây tổn hại như tế nào cho

gan, thận (Cơ quan thải độc)?

Làm cho gan, thận suy yếu dẫn đến áp

xe gan, suy gan, viêm gan, suy thận

7 Ma túy gây tổn hại như tế nào cho

hệ thần kinh?

Gây kích thích hoặc ức chế từng phần

ở bán cầu đại não

8 Khi nghiện ma túy toàn thân người

nghiện sẽ sẽ xẩy ra tình trạng gì?

Suy nhược cơ thể, gầy gò, xanh xao, mắt trắng, môi thâm, da tái xạm, đi xiêu vẹo, rối loạn nhịp sinh học, suy giảm sức lao động

9 Bệnh tâm thần đặc biệt do nghiện ma

túy gây ra có hội chứng gì?

Hội chứng loạn thần kinh sớm (Ảo giác, hoang tưởng, kích động) và hội chứng loạn thần kinh muộn (Rối loạn nhận thức, cảm xúc, tâm tính)

10 Ma túy gây tổn hại như tế nào cho

kinh tế, tình cảm, hạnh phúc gia đình?

Tiêu tốn tài sản, sứt mẻ tình cảm, đổ vỡ hạnh phúc gia đình

11 Ma túy gây tổn hại như tế nào cho

nền kinh tế quốc dân?

Tiêu tốn nguồn lực trong dân, tiêu tốn ngân sách nhà nước; suy giảm lực lượng lao động; đầu tư từ nước ngoài suy giảm

12 Ma túy gây tổn hại như tế nào cho

trật tự, an toàn xã hội?

Làm gia tăng tội phạm, gây bất ổn an ninh trật tự, gây tâm lý hoang mang, bất bình trong nhân dân

Trang 39

- GV hoàn thành việc cho điểm các đội chơi theo phiếu chấm điểm đội chơi

và công bố đội chơi thắng cuộc, trao thưởng

* Kinh nghiệm của bản thân sau khi tổ chức trò chơi này cho HS:

Chọn HS tham gia đội chơi ở từng dãy lớp một cách ngẫu nhiên để tránh sự ỷ

lại, phát huy năng lực hợp tác nhóm

Để sử dụng trò chơi này, GV phải linh hoạt trong quá trình tổ chức vì mỗi em có sự nhận thức khác nhau

Sau khi trình chiếu đáp án trò chơi thì GV chỉ định HS bất kì rút ra nội dung kiến thức bài học và lấy điểm để tránh sự ỷ lại, trông chờ bạn khác

3.2.4.1.3 TRÒ CHƠI “NHÓM CHUYÊN GIA”

Sử dụng trò chơi khi dạy Tiết PPCT 33 mục III: “Nguyên nhân dẫn đến nghiện

ma túy và dấu hiệu nhận biết học sinh nghiện ma túy” trong chủ đề “Tác hại của ma

túy và trách nhiệm của học sinh trong phòng, chống ma túy”

* Thiết kế trò chơi:

- Mục đích: Để HS tích cực tìm tòi; phát hiện kiến thức cần thiết về nguyên nhân dẫn đến nghiện ma túy và dấu hiệu nhận biết học sinh nghiện ma túy; HS chủ động tham gia vào bài học; phát triển các kĩ năng xử lí tình huống, mạnh dạn, tự tin trước đám đông, các năng lực hợp tác, giải quyết vấn đề, xử lí tình huống…

- Nội dung: Thuộc mục III Nguyên nhân dẫn đến nghiện ma túy và dấu hiệu

nhận biết học sinh nghiện ma túy, của chủ đề “Tác hại của ma túy và trách nhiệm của học sinh trong phòng, chống ma túy” tiết 3

- Chuẩn bị:

+ GV chuẩn bị phiếu học tập là 4 tờ A3 cho các nhóm HS

+ GV chuẩn bị đáp án trò chơi trên phần mềm PowerPoint

+ HS chuẩn bị bút, sách, vở, điện thoại thông minh

Phiếu chấm điểm đội chơi:

Đội chơi:………… Lớp:

ĐA

ĐIỂM ĐẠT ĐƯỢC

1 Số lượng thành viên tham gia trò chơi

đầy đủ

0,5

2

Tổ chức làm việc nhóm: phân công nhóm

trưởng, thư kí, phân công công việc, kế

Trang 40

3 Các thành viên tham gia tích cực vào

Nhóm không báo cáo:

+ Lắng nghe và chú ý các nhóm báo cáo

+ Đưa ra được câu hỏi cho nhóm báo cáo,

GV

1,0

6 Mức độ hoàn thành trò chơi 6,0

* Cách tiến hành tổ chức trò chơi:

- GV ứng dụng phần mềm ClassPoint dạng câu hỏi Image Upload (Cho phép

người học tải và upload ảnh nào lên màn hình chiếu)

- Chia lớp học làm 4 nhóm Các nhóm bầu nhóm trưởng, thư ký của nhóm mình

- GV giới thiệu tên trò chơi là “NHÓM CHUYÊN GIA”

- GV hướng dẫn cách chơi:

GV phát cho mỗi nhóm 1 tờ giấy A3, yêu cầu các nhóm thảo luận hoàn thành nhiệm vụ của mình trong 8 phút

Nhóm 1: Trình bày quá trình nghiện ma túy ?

Nhóm 2: Trình bày những nguyên nhân khách quan dẫn đến nghiện ma túy ? Nhóm 3: Trình bày những nguyên nhân chủ quan dẫn đến nghiện ma túy ? Nhóm 4: Dấu hiệu nào có thể nhận biết HS nghiện ma túy?

- Tiến hành trò chơi: Các nhóm sau khi nhận nhiệm vụ thì tổ chức thảo luận nhóm và hoàn thành nhiệm vụ của mình

- Nhận xét và tổng kết trò chơi

+ Sau 8 phút các nhóm trưởng chụp ảnh sản phẩm mình vào điện thoại có kết nối mạng internet Học sinh truy cập vào link ClassPoint.app/join sau đó dùng mã

Ngày đăng: 02/07/2022, 23:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thành kiến thức. Luyện tập. - PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC NHÓM THÔNG QUA VIỆC TỔ CHỨC CÁC TRÒ CHƠI TRONG DẠY HỌC CHỦ đề “TÁC HẠI CỦA MA TÚY VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA HỌC SINH TRONG PHÒNG, CHỐNG MA TÚY” GDQP AN LỚP 10 THPT
Hình th ành kiến thức. Luyện tập (Trang 15)
Hình thức nào? - PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC NHÓM THÔNG QUA VIỆC TỔ CHỨC CÁC TRÒ CHƠI TRONG DẠY HỌC CHỦ đề “TÁC HẠI CỦA MA TÚY VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA HỌC SINH TRONG PHÒNG, CHỐNG MA TÚY” GDQP AN LỚP 10 THPT
Hình th ức nào? (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w