1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) the learning in hoi phu village( dong hoi, dong anh, hanoi) in the renovation period from 1986 to present

174 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Việc Học Ở Làng Hội Phụ (Đông Hội, Đông Anh, Hà Nội) Trong Thời Kỳ Đổi Mới Từ Năm 1986 Đến Nay
Tác giả Đỗ Xuân Đức
Người hướng dẫn PGS.TSKH Nguyễn Hải Kế
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Việt Nam học
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 174
Dung lượng 8,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để giúp em có được nguồn tư liệu trong quá trình thực hiện đề tài, đó là sự giúp đỡ của UBND xã Đông Hội, thôn Hội Phụ, trường mầm non Đông Hội, trường tiểu học Đông Hội, trường THCS Đôn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN VIỆT NAM HỌC & KHOA HỌC PHÁT TRIỂN

-

ĐỖ XUÂN ĐỨC

VIỆC HỌC Ở LÀNG HỘI PHỤ (ĐÔNG HỘI, ĐÔNG ANH, HÀ NỘI) TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Việt Nam học

Hà Nội – 2011

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN VIỆT NAM HỌC & KHOA HỌC PHÁT TRIỂN

………

ĐỖ XUÂN ĐỨC

VIỆC HỌC Ở LÀNG HỘI PHỤ (ĐÔNG HỘI, ĐÔNG ANH, HÀ NỘI) TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Việt Nam học

Mã số: 60 31 60

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TSKH Nguyễn Hải Kế

Nội - 2011

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lựa chọn đề tài: Việc học ở làng Hội Phụ (Đông Hội, Đông Anh, Hà Nội) trong thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến nay làm luận văn tốt nghiệp cao học của mình Đây là một đề tài mà em rất tâm huyết thực hiện, thật vui mừng biết bao đến hôm nay luận văn được hoàn thành

Đây là một công trình nghiên cứu nghiêm túc, khoa học, đó là kết quả của một quá trình học tập tại cơ sở đào tạo viện Việt Nam học & Khoa học phát triển, ĐHQG Hà Nội dưới sự hướng của các thầy cô, sự giúp đỡ của các thầy cô trong ban lãnh đạo và các phòng ban chức năng của viện Việt Nam học & Khoa học phát triển, sự quan tâm giúp đỡ tạo điều kiện của trường Cao đẳng Sơn La nơi em đang công tác Em xin gửi lời biết ơn đến những sự giúp đỡ quý báu đó !

Em xin được gửi lời cảm ơn tới thầy PGS.TSKH Nguyễn Hải Kế - thầy đã gợi mở và có những ý kiến nhận xét quý báu giúp cho em có những định hướng trong quá trình thực hiện đề tài Để giúp em có được nguồn tư liệu trong quá trình thực hiện đề tài, đó là sự giúp đỡ của UBND xã Đông Hội, thôn Hội Phụ, trường mầm non Đông Hội, trường tiểu học Đông Hội, trường THCS Đông Hội, trường THPT Cổ Loa, đặc biệt là người dân và các em học sinh, sinh viên làng Hội Phụ đã nhiệt tình giúp đỡ trong quá trình điều tra khảo sát, điền dã thực tế thực hiện đề tài

Em xin gửi lời tri ân và biết ơn tới tất cả những sự giúp đỡ trân thành và đáng quý !

Em xin trân trọng cảm ơn !

Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 2011

Học viên cao học K5 (2009 -2011)

Đỗ Xuân Đức

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Đề tài luận văn: Việc học ở làng Hội Phụ (Đông Hội, Đông Anh, Hà Nội) trong thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến nay, là một nghiên cứu về việc học ở làng Hội Phụ trong những năm đổi mới ở một làng ngoại thành cụ thể Nguồn tư liệu sử dụng trong luận văn bao gồm tư liệu thứ cấp và tư liệu sơ cấp Với nguồn tư liệu thứ cấp, được trích dẫn có chú thích rõ ràng đảm bảo tính khách quan của tư liệu và bản quyền tác giả Luận văn về đề tài này không trùng lặp với bất cứ công trình nào nghiên cứu về làng Hội Phụ trước đó Những luận điểm, kết luận khoa học đã nêu

ra và nguồn tư liệu sưu tầm được trong luận văn đảm bảo tính khách quan trung thực đều do những cố gắng của bản thân tác giả luận văn với mong muốn phản ánh khách quan trung thực về đối tượng nghiên cứu

Học viên

Đỗ Xuân Đức

Trang 5

NỘI DUNG

1.1 Khái quát vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên làng Hội Phụ hiện nay 7

1.3.5 Tín ngưỡng, lễ hội, phong tục tập quán quán 22

Chương 2: VIỆC HỌC Ở LÀNG HỘI PHỤ TRONG NHỮNG NĂM

ĐỔI MỚI ĐẾN NAY 35

Trang 6

2.2.1.1 Tâm lý đi học để thay đổi 39 2.2.1.2 Dự định lựa chọn nghề nghiệp 42 2.2.1.3 Việc lập kế hoạch trong học tập 45

2.2.2.1 Thái độ học trên lớp 49 2.2.2.2 Thời gian cho việc tự học 50

2.2.2.4 Ý thức tôn kính thầy cô giáo 53

2.3.1 Đặc điểm cấu trúc hộ gia đình được nghiên cứu 55 2.3.2 Sự tham gia của cha mẹ với việc học của con cái 56 2.3.3 Cha mẹ với định hướng nghề nghiệp cho con cái 61

2.4 Chính quyền đoàn thể, dòng họ với công tác khuyến khích hỗi trợ việc

Chương 3: VIỆC HỌC VỚI QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA LÀNG HỘI PHỤ

TRONG NHỮNG NĂM ĐỔI MỚI 75

3.1.2 Ảnh hưởng đến việc đổi đời và thay đổi địa vị cá nhân người đi học 79

3.1.4 Những ảnh hưởng của việc học đến xã hội, văn hóa, giáo dục 87

TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

PHỤ LỤC

Trang 7

CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Trang 8

DANH MỤC BẢNG MINH HỌA TRONG LUẬN VĂN

6 Bảng 2.4: Danh sách học sinh lớp 12 Hội Phụ đỗ Đại học năm 2011 44

7 Bảng 2.5: Tỷ lệ học sinh, sinh viên lập kế hoạch học tập 45

8 Bảng 2.6: Học sinh THCS lập kế hoạch và đạt kết quả cao trong học

tập

46

9 Bảng 2.7: Mục đích đi học thêm của học sinh, sinh viên Hội Phụ 48

10 Bảng 2.8: Thái độ nghe giảng trên lớp của học sinh, sinh viên Hội

12 Bảng 2.10: Phương pháp học tập của học sinh , sinh viên Hội Phụ 52

13 Bảng 2.11 Thái độ tôn kính thầy cô giáo ở học sinh, sinh viên Hội

15 Bảng 2.13: Thống kê những người có trình độ học vấn trên đại học,

đại học, đang học đại học ở dòng họ Phạm Hội Phụ

69

16 Bảng 2.14: Thống kê những người có trình độ học vấn trên đại học,

đại học, đang học đại học dòng họ Chử ở Hội Phụ

72

17 Bảng 3.1: Học sinh THCS, THPT, sinh viên ở Hội Phụ lựa chọn tiêu

chí cuộc sống

75

18 Bảng 3.2: Mức độ hiểu biết của học sinh, sinh viên ở Hội Phụ về

truyền thống khoa cử của làng

77

Trang 9

19 Bảng 3.3: Tổng hợp trình độ học vấn ở thôn Hội Phụ năm 2010 88

BẢN ĐỒ, SƠ ĐỒ MINH HỌA

Bản đồ 1: Toàn cảnh làng Hội Phụ nhìn từ không ảnh

(Google map)

Trang 10

Sơ đồ 1: Không ảnh vùng Hội Phụ - Đông Hội (lấy Hà Nội làm điểm quy chiếu)

(Nguồn: Google map)

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giáo dục là một đề tài rộng được quan tâm nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau cho đến nay có nhiều sách viết về giáo dục Tuy vậy, phần viết về giáo dục của làng xã, nhìn chung chỉ mới phản ánh chung, khái quát Trước đây trong nền giáo dục khoa cử truyền thống thì việc học ở các làng xã có những đóng góp to lớn trong việc đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước qua các thời kỳ Việc học đã huy động được nguồn lực của cả cộng đồng gia đình, dòng họ, làng xã vào việc học hành, làm hình thành những quan hệ tốt đẹp giữa thầy và trò, tôn vinh người có tài năng đức độ có công đóng góp xây dựng làng xã và đất nước Trong những năm đổi mới, giáo dục nói chung và việc học tập ở làng xã, trong đó có những làng vốn là làng khoa bảng có nhiều thay đổi đang đặt ra nhiều vấn đề từ việc học của người đi học đến sự quan tâm chăm lo của gia đình và sự cổ vũ quan tâm chung của cả cộng đồng làng xã vào việc học, đây là vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu

Làng Hội Phụ nay thuộc xã Đông Hội, huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội vốn trước đây nổi tiếng với tên gọi làng khoa bảng Cự Trình Trong làng có nhiều người học hành đỗ đạt, nhiều dòng họ với nhiều đời khoa bảng góp phần hình thành nên truyền thống hiếu học và khoa cử qua nhiều thế hệ Hội Phụ là một làng nông nghiệp như nhiều làng xã khác nhưng trong những năm qua, việc học của làng có những bước phát triển mạnh mẽ, hàng năm số học sinh, con em của làng Hội Phụ thi đỗ vào đại học chiếm tỷ lệ ngày càng cao, làng Hội Phụ còn trở thành điểm sáng tiêu biểu của xã Đông Hội trong công tác khuyến học, khuyến tài

Do vậy, trong khuôn khổ của một đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Việt Nam học, tôi chọn đề tài: Việc học ở làng Hội Phụ (Đông Hội, Đông Anh, Hà Nội) trong thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến nay, nhằm hướng đến giải quyết mối quan

hệ giữa việc học vốn là việc riêng của cá nhân người đi học và việc học trở thành mối quan tâm, động viên khuyến khích hỗ trợ, cổ vũ của cả cộng đồng từ gia đình, dòng họ đến các ban ngành, đoàn thể ở địa phương Từ đó góp phần nhìn nhận quá trình phát triển toàn diện việc học ở làng Hội Phụ trong những năm đổi mới

Trang 12

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Giáo dục là một lĩnh vực rộng lớn được các nhà khoa học ở nhiều lĩnh vực khác nhau quan tâm nghiên cứu, giáo dục ở các làng khoa bảng được nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau

Cuốn “Các làng khoa bảng Thăng Long - Hà Nội” của tác giả Bùi Xuân

Đính - Nguyễn Viết Chức (Đồng chủ biên), Nxb Chính Trị Quốc gia, HN, 2004 Bên cạnh giới thiệu về truyền thống các làng khoa bảng Thăng Long - Hà Nội, tác giả còn đi vào khảo tả về các làng khoa bảng tiêu biểu và cụ thể Làng Cự Trình – Hội Phụ được khảo tả, giới thiệu từ (trang 319 đến trang 329) của cuốn sách, trong phần viết về làng Cự Trình – Hội Phụ, tác giả giới thiệu về tên làng Cự Trình trước đây, về cơ cấu gia đình, dòng họ, tổ chức giáp, giới thiệu về tên, tuổi của các tiến sĩ,

cử nhân nho học ở làng Cự Trình xưa

Cuốn: Đông Hội truyền thống lịch sử và cách mạng của Ban chấp hành Đảng

bộ xã Đông Hội, Nxb Khoa học xã hội, HN, 2010 Cuốn sách trình bày khá rõ ràng trình tự theo thời gian lịch sử xã Đông Hội, qua các thời kỳ, trong đó có những chi tiết lịch sử, tư liệu địa danh, một số tư liệu đề cập việc học ở làng Hội Phụ qua các giai đoạn phát triển chung của xã Đông Hội

Bài: Làng Hội Phụ - Làng khoa bảng ngoại thành Hà Nội của tác giả Bùi

Minh Đạo, báo Hà Nội Ngày Nay, số 78 tháng 10/2000, web//hoiphuquetoi.com, giới thiệu vài nét về truyền thống hiếu học và khoa cử ở Hội Phụ, giới thiệu tên, tuổi, sự nghiệp của các tiến sĩ, cử nhân người làng Hội Phụ trong thời kỳ khoa cử nho học phong kiến

Tuy nhiên, những công trình, bài viết nói trên chủ yếu giới thiệu về làng khoa bảng Cự Trình – Hội Phụ trong thời kỳ khoa cử nho học phong kiến, chưa có công trình nào nghiên cứu việc học ở Hội Phụ trong thời kỳ đổi mới như một chuyên khảo, hệ thống Từ thực tế đó, luận văn đi vào nghiên cứu: Việc học ở làng Hội Phụ (Đông Hội, Đông Anh, Hà Nội) trong thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến nay

Trang 13

3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: Việc học ở làng Hội Phụ (Đông Hội, Đông Anh, Hà Nội) trong thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến nay Trong đó có giáo dục nói chung và việc học ở Hội Phụ nói riêng Bởi vì việc học ở làng Hội Phụ vừa

có nét chung như nhiều làng xã khác nhưng cũng có những nét riêng của một làng

có truyền thống khoa bảng Luận văn chủ yếu nghiên cứu việc học ở người học như mục tiêu của việc học, thái độ phương pháp và ý thức học tập, sự quan tâm của gia đình vào việc học của con cái, sự tham gia cộng đồng địa phương (dòng họ, chính quyền, đoàn thể với công tác khuyến khích hỗ trợ việc học), trên cơ sở phân tích, nhận xét, đánh giá và rút ra một số những ảnh hưởng giữa việc học với quá trình phát triển của làng Hội Phụ

4 Phạm vi nghiên cứu

- Trước tiên, về mặt thuật ngữ cách gọi và thời gian

Giáo dục là thuật ngữ chỉ phạm vi rộng bao gồm: giáo dục trong nhà trường (dạy và học), giáo dục trong gia đình (cha mẹ và con cái), giáo dục ngoài xã hội Tên đề tài luận văn lấy mốc thời gian từ 1986, đây là mốc thời gian chỉ quá trình bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới Trong luận văn, số liệu, tư liệu thu thập để nghiên cứu chủ yếu từ những năm 1994 cho đến nay (2011)

Luận văn tập trung nghiên cứu việc học từ phía người đi học, mối quan hệ giữa cha mẹ với việc học tập của con cái, công tác khuyến khích việc học của cộng đồng địa phương, mối quan hệ tương tác giữa việc học với quá trình phát triển ở làng Hội Phụ

- Giới hạn nguồn tư liệu nghiên cứu: từ 1994 đến nay (2011)

- Giới hạn không gian: làng Hội Phụ, xã Đông Hội, huyện Đông Anh, Hà Nội

5 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài việc học trong phạm vi một không gian một làng cụ thể, luận văn

sử dụng phương pháp liên ngành, trong đó

- Phương pháp nghiên cứu định lượng của khoa học xã hội học (sử dụng bảng hỏi, cho đối tượng được nghiên cứu gồm học sinh, sinh viên ở Hội Phụ, phụ huynh học sinh)

Trang 14

- Phương pháp điền dã, phỏng vấn sâu, quan sát của khoa học nhân học (phỏng vấn sâu học sinh, sinh viên, phụ huynh học sinh, cá nhân liên quan: cán bộ địa phương (xã, thôn, thầy, cô giáo ở trường, Mầm non, Tiểu học, THCS, THPT)

- Phương pháp lịch sử: các sự kiện được trình bày trong bối cảnh cụ thể, qua

đó, tìm ra mối liên hệ các sự kiện với nhau nhằm khôi phục lại bức tranh chân thực, khách quan về việc học ở làng Hội Phụ

- Phương pháp tổng hợp tư liệu, thống kê tư liệu thứ cấp, tư liệu sơ cấp thu thập tại địa phương, kết hợp phân tích, so sánh

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, phần nội dung của luận văn gồm ba chương

Chương 1: Việc học ở làng Hội Phụ trước đổi mới

Chương 2: Việc học ở làng Hội Phụ trong những năm đổi mới đến nay

Chương 3: Việc học với quá trình phát triển của làng Hội Phụ trong những năm đổi mới

Trang 15

NỘI DUNG

Chương 1: VIỆC HỌC Ở LÀNG HỘI PHỤ TRƯỚC ĐỔI MỚI

1.1.Khái quát vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên làng Hội Phụ hiện nay

1.1.1 Vị trí địa lý

Trên bản đồ hành chính huyện Đông Anh, Đông Hội là một xã lớn, nằm ở

cực nam của huyện “xã Đông Hội có tọa độ ở trung tâm xã là 21,04 độ vĩ Bắc,

105, 52 độ kinh đông” [2, tr.24] Làng Hội Phụ nằm ở vị trí trung tâm của xã Đông

Hội “có diện tích 80,5 ha, dân số 1257 người (2010), bao gồm 5 xóm là Xóm Đình,

Xóm Cả, Xóm Giếng, Xóm Nghè, Xóm Cổng, Làng Hội Phụ giáp với thôn Trung Thôn ở phía Bắc, phía Nam giáp thôn Đông Trù, phía Tây giáp thôn Lại Đà, phía Đông giáp thôn Lê Xá của xã Mai Lâm” [Tư liệu điền dã] So sánh với 5 thôn còn

lại như Lại Đà, Đông Trù, Đông Ngàn, Tiên Hội và Trung Thôn, thì Hội Phụ có diện tích và dân dân số nhỏ hơn Tuy nhiên, với vị trí nằm ở trung tâm của xã Đông Hội có nhiều cơ sở hạ tầng của xã đóng trên địa bàn thôn như trụ sở UBND xã, trường Mầm non, trường Tiểu học, THCS, trạm Y tế Hội Phụ nằm trên trục đường chính dẫn vào UBND xã Đông Hội và nối với xã Mai Lâm, Hội Phụ nằm gần vị trí quy hoạch đường 5 kéo dài, gần công trình Cầu Nhật Tân đang xây dựng nối hai bờ sông Hồng, là cầu nối giữa trung tâm thủ đô với khu đô thị đang được quy hoạch ở

xã Mai Lâm Đây là vị trí thuận lợi trong quá trình phát triển của xã Đông Hội nói chung và làng Hội Phụ nói riêng Mặt khác Hội Phụ nằm ở vị trí trung tâm của xã Đông Hội cách trung tâm thủ đô Hà Nội gần 30Km, hơn nữa thủ đô Hà Nội là nơi tập trung rất nhiều trường đại học, giữ vai trò là trung tâm lớn về chính trị, kinh tế, văn hóa giáo dục của đất nước nên việc học hành, thi cử, đi lại của học sinh làng Hội Phụ có những thuận lợi nhất định

1.1.2 Điều kiện tự nhiên

1.1.2.1 Địa hình

Địa hình chung của xã Đông Hội “nhìn chung có cấu tạo nghiêng dần từ Bắc

xuống Nam Chia làm hai phần khác nhau, phần phía bắc chiếm khoảng một phần

ba diện tích toàn xã gồm hai thôn Tiên Hội và Trung Thôn, do thuộc thềm bậc một của sông Hồng (Theo cách phân chia của các nhà địa chất, thềm bậc 1 là thềm thấp nhất giáp ranh với đồng bằng) nên có địa thế cao, phần còn lại bao gồm bốn thôn Hội Phụ, Lại Đà, Đông Trù và Đông Ngàn, do vốn thuộc một đoạn sót của sông cũ nay đã đổi dòng nên có địa thế trũng” [2, tr.27]

Trang 16

Địa hình của làng Hội Phụ nằm ở vùng trung tâm của xã Đông Hội, làng có địa hình khá bằng phẳng, nằm trong vùng địa thế tương đối trũng, ở giữa là khu xóm làng dân cư sinh sống, địa hình cao, khô ráo hơn, bao quanh là đồng ruộng, trũng thấp, quanh năm ngập nước, nhất là vào mùa mưa

1.1.2.2 Khí hậu

Làng Hội Phụ, xã Đông Hội, huyện Đông Anh có cùng chung chế độ khí hậu

của thành phố Hà Nội, đó là khí hậu nhiệt đới, ẩm, gió mùa “Từ tháng 5 đến tháng

10 là mùa hạ, khí hậu ẩm ướt, mưa nhiều Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau là mùa đông, thời kỳ đầu khô - lạnh, nhưng cuối mùa lại mưa phùn, ẩm ướt Giữa hai mùa

là thời kỳ chuyển tiếp tạo cho khí hậu Đông Anh có bốn mùa phong phú: xuân, hạ, thu, đông [3]

Nền nhiệt độ của làng Hội Phụ nằm trong nền nhiệt độ trung bình hàng năm

của huyện Đông Anh “là 25 0 C, hai tháng nóng nhất là tháng 6 và tháng 7, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất thường xảy ra vào tháng 7 là 37,5 0 C Hai tháng lạnh nhất là tháng 1 và 2, nhiệt độ trung bình của tháng 1 là 13 0 C Độ ẩm trung bình của Đông Anh là 84%, độ ẩm này cũng rất ít thay đổi theo các tháng trong năm, thường dao động trong khoảng 80 - 87% [ 3 ]

Số ngày mưa trong năm của làng Hội Phụ nằm trong chế độ mưa chung của

xã Đông Hội và huyện Đông Anh “khoảng 144 ngày với lượng mưa trung bình

hàng năm 1600 - 1800 mm Trong mùa mưa (tháng 5 đến tháng 10) tập trung tới 85% lượng mưa toàn năm Mưa lớn nhất vào tháng 8, với lượng mưa trung bình

300 -350 mm Những tháng đầu đông ít mưa, nhưng nửa cuối mùa đông lại có mưa phùn, ẩm ướt Vào mùa đông, huyện còn phải chịu các đợt gió mùa đông bắc ” [ 3]

Nhìn chung, thời tiết Đông Anh nói chung và Hội Phụ nói riêng thuận lợi cho hoạt

động sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là các loại cây trồng: lương thực, hoa, rau màu, cây ăn quả Nhưng các đợt dông, bão của mùa hè và gió mùa đông bắc của mùa đông cũng gây những trở ngại nhất định cho hoạt động sản xuất và đời sống nhân dân

1.1.2.3 Tài nguyên thiên nhiên

Tổng diện tích đất tự nhiên ở Hội Phụ là “80,5 ha, bình quân đất nông

nghiệp cho mỗi lao động là 442m 2 /, (0.0442 ha/lao động nông nghiệp)” [Tư liệu

Trang 17

điền dã] Đây là mức diện tích đất canh tác thấp hơn nhiều so với bình quân chung của đồng bằng sông Hồng Đất làng xóm, bao gồm đất ở, đất vườn và các công trình dịch vụ trong các xóm ở làng Hội Phụ mức bình quân đất sinh hoạt trong khoảng

“364 m 2 /hộ” [ Tư liệu điền dã]

Đất đai: Loại đất chiếm diện tích nhiều nhất ở Hội Phụ là đất phù sa cổ, đây

là loại đất được sông ngòi bồi tụ vào những thế kỷ trước đây, khi con người còn chưa biết đắp đê, loại đất này thích hợp cho việc trồng lúa Với những điều kiện phát triển kinh tế mới, trong những năm qua xu hướng sử dụng đất của xã Đông Hội

và làng Hội Phụ là giảm tỷ trọng đất nông nghiệp, tăng quỹ đất cho giao thông Hiện nay theo quy hoạch làng Hội Phụ sẽ phải dành 60.000m2 cho Bộ Công An xây dựng trung tâm kiểm soát sóng ra đa Do đó, đặt ra yêu cầu cần nghiên cứu kỹ tình trạng đất đai để có quy hoạch sử dụng hợp lý cho việc phát triển nông nghiệp của làng Hội Phụ trong thời gian tới

Thủy văn, nguồn nước: Mưa là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho hoạt

động sản xuất và đời sống trên địa bàn Đông Anh nói chung, xã Đông Hội và làng

Hội Phụ nói riêng “Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.600 - 1.800 mm Lượng

mưa phân bố không đều trong năm Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, tập trung tới 85% tổng lượng mưa trong năm [3] Vào mùa này thường gây hiện tượng

ngập úng diện tích canh tác của làng Hội Phụ

Mưa phùn cũng là nét đặc trưng ở vùng này, mặc dù không có ý nghĩa về mặt cung cấp nước nhưng lại làm tăng độ ẩm của đất và không khí Mưa phùn thường xuất hiện vào mùa xuân, nhất là tháng 2 và 3 Đối với nông nghiệp, mưa phùn thích hợp cho sự phát triển của cây nhưng cũng là điều kiện cho sâu bọ, nấm mốc phát triển

Mạng lưới sông, hồ, đầm trong làng: làng Hội Phụ không có sông lớn chảy

qua, duy nhất con sông chẩy qua làng Hội Phụ là sông đào Hà Bắc “sông được khởi

đào năm 1961, hoàn thành vào năm 1963 và được nạo vét mở rộng vào năm 1982, bắt nguồn từ sông Đuống ở cống Long Tửu nhằm tưới và tiêu nước cho đồng ruộng năm xã của huyện Đông Anh, trong đó có Đông Hội và 3 huyện của tỉnh Bắc Ninh”

[2, tr.30] Sông đào Hà Bắc chảy qua làng Hội Phụ là danh giới tự nhiên chia làng thành hai phần: phần đất cư trú của xóm làng và cánh đồng của làng được bao bọc

Trang 18

ven phần sông đào Hà Bắc chẩy qua Ngoài sông đào Hà Bắc chảy qua làng, Hội Phụ còn có đầm và ao hồ nhỏ với diện tích khoảng 10 mẫu tương đương 36000m2

có vai trò quan trọng trong việc phát triển nghề nuôi cá

Hội Phụ là một làng nằm ở vị trí trung tâm của xã Đông Hội, huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội, cho nên làng chịu những ảnh hưởng, tác động chung của điều kiện tự nhiên của khu vực đồng bằng châu thổ sông Hồng và Hà Nội Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên mang đến những thuận lợi nhất định cho sự phát triển của làng Tuy nhiên, những hạn chế về diện tích đất sản xuất canh tác của một làng quê ven đô đang trong quá trình chuyển đổi múc đích sử dụng đất nông nghiệp là những vấn đề lớn đặt ra trong quá trình phát triển của làng Hội Phụ hôm nay

1.2 Cảnh quan và không gian

Làng Hội Phụ nằm ở vị trí trung tâm của xã Đông Hội, trên con đường chính dẫn vào trụ sở UBND xã, hai bên đường là cánh đồng lúa xanh bát ngát, một bên là cánh đồng lúa của làng Lại Đà và một bên là cánh đồng lúa của làng Hội Phụ Thấp

thoáng qua cánh đồng làng trên một khu đất cao bằng phẳng là làng Hội Phụ “Làng

Hội Phụ được quy hoạch theo lối chữ Điền Nhà cửa đường xá phong quang trù mật” [2, tr.38] Con sông đào Hà Bắc chẩy qua làng, đã hình thành một gianh giới

tự nhiên phân chia làng với cánh đồng làng Tiếp giáp với con đường chính dẫn vào trụ sở xã Đông Hội là hai cổng dẫn vào làng, phía tây là cụm di tích đình – đền Hội Phụ cách trụ sở UBND xã Đông Hội 100m nằm trên khu đất cao hơn, trước cửa đình - đền là khu khuôn viên rộng bao gồm ao làng, cây đa và giếng nước, một lối kiến trúc quen thuộc của các làng quê vùng Kinh Bắc

Không gian cư trú truyền thống của làng Cự Trình trước đây nay là Hội Phụ được gói gọn trong 5 xóm đến nay vẫn giữ được nguyên vẹn, tuy nhiên cùng với thời gian, dân số tăng lên, các dãy nhà cửa mọc lên san sát nhau, nhà cao tầng ngày càng nhiều hơn và hướng ra mặt đường Sự đối mặt với tăng dân số, tách hộ khi con cái lập gia đình làm cho nhiều gia đình xé nhỏ không gian cư trú của hộ gia đình, một trong các giải pháp được các hộ gia đình ở Hội Phụ hiện nay sử dụng là xây dựng nhà cao tầng Theo thống kê của tác giả hiện làng Hội Phụ số lượng nhà cao tầng từ 3- 4 tầng có đến gần 100 nhà, hầu hết các ngôi nhà kiên cố cao tầng được xây dựng trong khoảng 10 năm trở lại đây Trước đây, quan niệm xây dựng nhà cửa

Trang 19

theo hướng Nam để tận dụng yếu tố thời tiết ấm áp về mùa đông và mát về mùa hạ đến nay đã thay đổi các nhà xây mới luôn hướng ra mặt đường tạo thuận lợi cho kinh doanh, buôn bán, nhiều hộ gia đình mở cửa hàng, buôn bán dịch vụ ở các tuyến đường, ngõ trong làng

Bên trong làng, các ngõ xóm đan xen với nhau, hai bên là nhà cửa, tường rào san sát, tất cả các ngõ xóm, đường làng đều được bê tông hóa, bên trên là đường dây điện, đường dây điện thoại, nhiều hộ gia đình mở cửa hàng, buôn bán dịch vụ ở các tuyến đường, ngõ trong làng Trường mầm non Hội Phụ khang trang 2 tầng nằm sát cạnh chợ quê Hội Phụ, chợ được xây dựng theo kiến trúc mới, kiên cố, khang trang phục vụ nhu sinh hoạt hàng ngày của người dân, cạnh chợ quê là sân bóng đá của làng So với trước đây không gian cư trú và kiến trúc công cộng trong làng có những biến đổi, không gian cư trú ở Hội Phụ biến đổi hơn so với trước đây song vẫn có sự tiếp nối trong quá trình phát triển, đó là sự giữ gìn không gian cảnh quan, kiến trúc cũ có giá trị lịch sử, nghệ thuật, bên cạnh việc xây dựng kiến trúc mới hiện đại, những ngôi nhà bê tông kiên cố đang thay thế dần những ngôi nhà gỗ truyền thống thì xen lẫn vào trong đó lại là sự duy trì những không gian nhừ cũ Những ngôi nhà cũ có giá trị cao về kiến trúc và nghệ thuật đến nay nhiều gia đình vẫn

dùng để ở “chẳng hạn như gia đình ông Phạm Mạnh Tấn (72 tuổi) ở xóm Nghè vẫn

ở ngôi nhà có lịch sử gần 300 năm của dòng họ để lại Gia đình ông Phạm Cảnh Thuần (92 tuổi) ở xóm Cả còn giữ gìn hai ngôi nhà cổ từ thời cụ cử Phạm Quyên để lại với diện tích trên 300m 2 có lịch sử hơn 200 năm nay vẫn giữ nguyên vẹn làm nơi thờ họ Phạm Nhà ông Ngô Thế Lợi ở xóm Giếng, trưởng họ Ngô vẫn giữ gìn ngôi nhà cổ từ thời cụ quan Nghè Ngô Thế Trị để lại với lịch sử gần 400 năm [Tư liệu

điền dã]

Cùng với đó, là không gian tôn giáo tín ngưỡng của làng với cụm di tích đình – đền – chùa Hội Phụ được bảo vệ và giữ gìn ở mức tối đa Người dân làng Hội Phụ tự hào vì những di tích lịch sử văn hóa của làng được công nhận là di tích cấp Quốc gia nên họ người dân có ý thức giữ gìn và bảo vệ các di tích lịch sử văn hóa này

Không gian canh tác của làng Hội Phụ đang có sự biến đổi nhanh chóng từ những năm 1990 cho đến nay, trước đây đất canh tác ở Hội Phụ chủ yếu là ruộng

Trang 20

công đến nay không còn tồn tại nữa, ruộng công chuyển thành ruộng chia theo nhân khẩu, cùng với sự gia tăng dân số, bình quân đất canh tác trên đầu người ở mức rất thấp 442m2/khẩu, tương đương (0.0442 ha/lao động nông nghiệp) Ngoài ra

“theo quy hoạch làng Hội Phụ phải dành quỹ đất nông nghiệp cho xây dựng các

công trình công cộng, trước mắt sẽ phải dành 60.000m 2 đất canh tác cho Bộ Công

An xây dựng trung tâm kiểm soát sóng ra đa” [Tư liệu điền dã ] Sự chuyển đổi mục

đích sử dụng đất như vậy ảnh hưởng đến đời sống của người dân trong làng và nhiều hệ quả khác

Có thể nói sự biến đổi không gian và cảnh quan làng Hội Phụ phản ánh thực tiễn quá trình phát triển kinh tế và chuyển đổi văn hóa xã hội ở Hội Phụ trong quá trình đổi mới hiện nay

1.3 Vài nét khái quát lịch sử, kinh tế xã hội và văn hóa

1.3.1 Lịch sử

Hiện nay, làng Hội Phụ là một trong 6 thôn của xã Đông Hội, huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội Tuy nhiên, trong lịch sử làng Hội Phụ trải qua nhiều giai đoạn phát triển với quá trình lịch sử lập làng trải qua lịch sử hàng nghìn năm và nhiều lần thay đổi tên gọi và địa giới hành chính

Trong lịch sử, làng Hội Phụ hiện nay nằm ở trung tâm của vùng Tổng Cói xưa, theo thần phả, làng đã có từ hơn hai ngàn năm trước Thưở xa xưa, tương truyền Hội Phụ vốn là một dải đất nằm trong vùng đầm lầy nước trũng, có nhiều cây cói mọc tự nhiên, vùng đầm lầy bao la toàn là cói nên được gọi là Tổng Cói Hội Phụ nằm ở thế đất cao, có một gò đất lớn ở giữa, xung quanh có nhiều gò đất nhỏ Gò đất lớn này có nhiều người đến làm ăn sinh sống, đoàn tụ thành một trang trại, lúc này chưa

gọi là một làng mà gọi là“Cối Gia Trang” Căn cứ vào địa chí hành chính và lịch

sử dân cư của xã Đông Hội có thể thấy trong suốt thời kỳ dựng nước đến hết thời

Bắc thuộc, làng Cói (Hội Phụ) nằm vùng Tám Cói, vùng Tám Cói này được nhiều lần đổi tên“bước sang thời kỳ độc lập tự chủ dưới triều nhà Đinh, vùng Tám Cói

nằm trong châu Cổ Lãm, sau đó đổi thành châu Cổ Pháp dưới thời Lê Đại Hành Cuối thời nhà Lý châu Cổ Pháp đổi thành phủ Thiên Đức Nhà Trần chuyển phủ Thiên Đức thành huyện Đông Ngàn, lộ Bắc Giang Trong thời kỳ nhà Hậu Lê (1428 -1778), thuộc huyện Đông Ngàn, xứ Kinh Bắc, thời kỳ nhà Nguyễn (1802 -1945) thuộc tổng Hội Phụ, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, từ năm 1831,

Trang 21

thuộc tổng Hội Phụ huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Sau cách mạng đến năm 1949 đến nay Hội Phụ thuộc xã Đông Hội, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, sau đó thuộc xã Đông Hội, huyện Đông Anh, TP Hà Nội từ năm 1961 đến nay”[2, tr 34]

Trong lịch sử, Hội Phụ là một phần của vùng đất Đông Ngàn, lộ Bắc Giang, sau này là xứ Kinh Bắc, một vùng đất nổi tiếng với truyền thống văn hiến và khoa

bảng Cũng chính vì thế đến thời Lê – Nguyễn “do có nhiều người đỗ đạt làng Cói

mang tên chữ là Cự Trình, mãi đến sau cách mạng tháng tám khi đơn vị hành chính cấp Tổng bị bãi bỏ, làng Cự Trình mang tên Hội Phụ, trùng tên với tên Tổng Hội Phụ cũ Điều này phản ánh vai trò quan trọng của làng đối với các làng xung quanh” [2, tr.38]

Theo tìm hiểu của tác giả dựa trên các tư liệu lịch sử và tư liệu điền dã và ý kiến của những người cao tuổi trong làng thì không phải ngay từ đầu làng đã mang tên Hội Phụ mà tên làng trải qua nhiều cách gọi khác nhau Tóm lược lịch sử tên

làng gắn liền với lịch sử thay đổi địa giới hành chính như sau: từ “Làng Cói” trong

giai đoạn từ dựng nước đến trước thế kỷ XVI, khoảng từ giữa thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XX, vì có nhiều người đỗ đạt làng mang tên chữ là Cự Trình (“Cự” là cự phách, Trình là “Trình Y Xuyên- một danh nho hàng đầu bên nhà Tống của Trung Quốc, gọi Hội Phụ là Cự Trình có ý là ngôi làng có nhiều người học hành và đỗ đạt) Năm 1949, khi thành lập xã Đông Hội, làng Cự Trình đổi tên thành làng hội Phụ (Hội Phụ theo nghĩa Hán là nơi dân cư hội tụ trên gò đất cao, xung quanh thấp trũng), tên làng được giữ nguyên khi trở thành đơn vị hành chính cấp thôn của xã Đông Hôi, huyện Đông Anh, TP Hà Nội, từ năm 1961 đến nay

Theo thuyết phong thủy, làng nằm trên mình chim Phượng Hoàng, cống mỏ

Phượng nay vẫn còn, người Hội Phụ coi đất làng mình là nơi “địa linh nhân kiệt “,

“đời đời phát tích nhân tài”

Theo truyền thuyết và thần tích còn lưu giữ tại Đình làng kể lại Hội Phụ là quê hương vợ chồng tướng quân Đào Kỳ Phương Dung dưới thời hai bà Trưng, làng còn gắn liền với tên tuổi của Triệu Quang Phục, sau này là Triệu Việt Vương một tướng giỏi của Lý Bí trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Lương

và lập nước Vạn Xuân năm 542 Hiện nay, trong đình làng Hội Phụ thờ hai người

Trang 22

con anh hùng của quê hương làm thành Hoàng làng là tướng quân Đào Kỳ thời Hai

Bà Trưng và vua Triệu Việt Vương - Triệu Quang Phục

Từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX mặc dù phải sống lầm than dưới ách

đô hộ của thực dân pháp, người dân Đông Hội nói chung và người dân làng Hội Phụ nói riêng vẫn tham gia vào các phong trào yêu nước diễn ra rộng khắp lúc đó Theo lời kể của ông Phạm Cảnh Thuần (92 tuổi), chi thứ 3 của dòng họ Phạm ở Hội

Phụ, tác giả ghi lại được “cụ Phạm Quyên người làng Hội Phụ, đỗ cử nhân khoa

Mậu Dần , niên hiệu Tự Đức năm 1876, thi đỗ nhưng cụ không gia làm quan mà mở lớp dạy học ở nhà, nhiều lần Hoàng Cao Khải mời cụ ra làm quan cho chính quyền Pháp nhưng cụ đều một mực từ Chối Cụ Phạm Quyên là bạn thân với Cao Bá Quát , Cao Bá Quát từng đến nhà đàm đạo với cụ và dạy học tại nhà nay vẫn còn câu đố

mà Cao Bá Quát viết tặng Cụ Phạm Tảo là em trai của cụ Phạm Quyên mặc dù đỗ

cử nhân và nhận chức tri huyện Lương Tài, Bắc Ninh nhưng đã ngầm bất hợp tác với giặc và bí mật cung cấp vũ khí cho nghĩa quan Đề Thám bị Hoàng Cao Khải bắt về thành Hà Nội truy xét”[Tư liệu điền dã] Theo lời kể của ông Phạm Cảnh

Thuần trong những năm 1930 -1940 của thế kỷ XX, nhiều lần quân Pháp càn quét qua làng, trong làng có nhiều thanh niên tham gia cách mạng, tham gia phong trào của Việt Minh hồi đó như Ngô Thế Liêm, Phạm Cảnh Kính, Bùi Tâm, Ngô Ngọc Toàn, người thanh niên của làng Tạ Quốc Bảo, sau này bị bắt và giam ở nhà tù Hỏa

Lò Hà Nội và trở thành chủ tịch cách mạng của các chiến sĩ trong tù, Phạm Ngọc Diệp chiến sĩ tham gia cách mạng của làng Hội Phụ ngày ấy sau này trở thành vụ trưởng vụ báo chí, Bộ Ngoại Giao

Trong Những năm 1943 – 1944, phong trào cách mạng diễn ra sôi sục trong khắp sáu thôn trong xã Đông Hội Trong ngày 19-8-1945 các thôn Hội Phụ, Trung Thôn,Tiên Hội, Đông Ngàn cũng lần lượt giành được chính quyền và tổ chức biểu dương lực lượng chào mừng cách mạng tháng tám thành công

Trong cuốn sách: Đông Hội truyền thống lịch sử và cách mạng, của Ban

chấp hành Đảng bộ xa Đông Hội, Nxb Khoa học xã hội, HN, 2010, có ghi lại những

tư liệu lịch sử nói về trong những năm tháng nhân dân Hội Phụ với tinh thần kiên cường bất khuất lập làng chiến đấu, tổ chức chống càn, cầm chân giặc Pháp, bảo vệ

vùng tự do sau lưng địch “ngày 31-3-31949 quân pháp tổ chức càn quét làng chiến

Trang 23

đấu Hội Phụ, khi giặc vào đến đường làng phía nam đã gặp phải sự chống trả của

tổ du kích từ địa điểm nhà ông Bách, ngày 16-4-1949, quân Pháp lại vào tàn phá làng Hội Phụ, bắn chết 5 người và đốt hầu hết nhà lợp rạ cùng ngôi đình nổi tiếng của làng [ 2, tr.121] Trong kháng chiến chống mỹ trên chiến trường miền Nam,

những người con Hội Phụ tiếp bước nhau lên đường chiến đấu và hi sinh vì sự nghiệp giải phóng miền nam, thống nhất đất nước Trong những cuộc kháng chiến giải phóng, bảo vệ quê hương đất nước, có nhiều những người con của quê hương Hội Phụ anh dũng hy sinh vì độc lập tự, thống nhất,toàn vẹn lãnh thổ đất nước,

trong đó “Liệt sĩ chống pháp 15 người, liệt sĩ chống Mỹ là 10 người, liệt sỹ trong

chiến đấu bảo vệ biên giới là 4 người” [2, tr.320]

Hội Phụ là một làng Việt cổ được hình thành sớm trên vùng đất xứ Kinh Bắc xưa với hàng nghìn năm lịch sử, làng Hội Phụ trải qua nhiều thời kỳ phát triển và thay đổi tên gọi khác nhau Phải khảng định rằng với truyền thống, văn hiến và đấu tranh cách mạng trong lịch sử của làng đã góp phần quan trọng vào lịch sử và truyền thống cách mạng của xã Đông Hội

1.3.2 Kinh tế

Hội Phụ là một làng nông nghiệp, diện tích canh tác trên đất nông nghiệp bình quân đầu người thấp, chủ yếu là đất phù sa cổ với địa hình trũng, ruộng đồng chiêm trũng cho nên trồng lúa là hoạt động sản xuất chính của cư dân làng Hội Phụ

từ xưa đến nay Lúa là cây trồng chủ đạo, người dân làng Hội Phụ trồng hai vụ chính trong năm Hiện nay với việc đầu tư hệ thống thủy lợi tưới tiêu tốt, kỹ thuật canh tác và giống mới đưa vào sản xuất cho nên năng xuất lúa tăng lên, trung bình 250-300kg/1 sào Ngoài ra sau vụ thu hoạch lúa mùa vào tháng 10 đến tháng 11 hàng năm người dân canh tác thêm một số loại cây mầu vụ đông như ngô, một số loại rau, củ Tuy vậy, do đất trũng khó thoát nước vào những ngày mưa kéo dài nên hiệu quả canh tác không cao

Khoảng 10 năm trở về trước người làng Hội Phụ phát triển chăn nuôi trâu,

bò, lợn, gà, vịt Đồng thời phát triển mạnh nghề đan lát phổ biến có thương hiệu Hội

Phụ trên thị trường như đan chiếu cói, thảm cói “Về sau, nghề này mai một dần và

dân làng chuyển sang đan lát đồ gia dụng bằng nguyên liệu tre, đay, nứa, giang

Trang 24

Sản phẩm đan lát xưa ở Hội Phụ rất nổi tiếng được trao đổi rộng rãi trong vùng bao gồm: dây thừng, dây chão, quạt nan, rổ, rá, thúng dần, sàng” [2, tr.50]

Trong quá trình phát triển và hội nhập, nghề đan lát của làng Hội Phụ không cạnh tranh được với thị trường, sản phẩm không có nơi tiêu thụ, con em của người dân đến tuổi lao động không còn mặn mà với nghề truyền thống vì mức thu nhập thấp nên chuyển đi làm nhiều ngành nghề khác, nghề đan lát bị mai một dần và đến nay không còn được tiếp tục sản xuất nữa

Hiện nay hầu hết người dân làng không còn chăn nuôi, không còn làm nghề

đan lát nữa mà chuyển sang làm nghề chổi tre Toàn thôn Hội Phụ “có 364 hộ gia

đình có tới 120 hộ làm thêm nghề phụ làm chổi tre” [Tư liệu điền dã] Tre được

mua ở nơi khác chủ yếu ở Bắc Giang, Thái Nguyên chuyên trở về làng, hiện nay nhu cầu thị trường tiêu thụ sản phẩm chổi tre rất lớn, người dân làm chổi ở nhà và

có người đến thu gom tận nơi Theo như tìm hiểu của tác giả thì mức thu nhập bình quân mỗi lao động làm chổi tre ở Hội Phụ bình quân hàng tháng từ 2,7 – 3 triệu đồng Lao động làm chổi tre ở làng Hội Phụ chủ yếu là phụ nữ, người già và trẻ em đang học cấp 2, 3 , thanh niên nam nữ ở Hội Phụ khi học xong lớp 12 nếu không đi học chuyên nghiệp thì chuyển sang học nghề thường thì không làm nông nghiệp hay nghề phụ ở nhà mà đi làm các nghề khác, chủ yếu sang thành phố Hà Nội và các khu công nghiệp Bắc Thăng Long làm công nhân

Một số hộ gia đình ở Hội Phụ với mô hình tham gia đấu thầu diện tích ao hồ trong làng phát triển nghề nuôi trồng thủy sản chủ yếu là cá, tuy nhiên diện tích đầm

và ao hồ nhỏ chỉ khoảng 10 mẫu tương đương 36000m2

.Nghề làm vườn cũng được kết hợp vào các mô hình ao cá, trang trại nhưng số lượng rất hạn chế, không đáng

kể

Hiện nay trong làng hình thành một tổ hợp xưởng sản xuất kinh doanh bột gỗ

và các sản phẩm chế biến từ gỗ nằm bên cạnh con con sông đào chẩy qua làng góp phần thu hút được một số lượng lao động vào sản xuất

Do vị trí nằm ở trung tâm xã Đông Hội, một phần diện tích của làng Hội Phụ dành cho xây dựng các cơ quan hành chính của xã, trụ sở UBND xã, trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở Nhiều hộ dân tận dụng lợi thế này phát triển các loại

Trang 25

hình kinh doanh dịch vụ như hàng tạp hóa, quán ăn, nhà hàng, dịch vụ báo chí, bưu điện, internet, dịch vụ bất động sản tư vấn nhà đất

Chợ quê Hội Phụ là nơi người dân trong làng và những làng xunh quanh đến trao đổi mua bán, chợ thường họp vào khoảng 3 tiếng vào buổi sáng hàng ngày Những mặt hàng được đem đến từ các làng xã trong vùng như gạo, đồ gia dụng, thực phẩm hàng ngày, quần áo phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của người dân Hội Phụ

Hội Phụ là một làng nông nghiệp trong quá trình đổi mới, phát triển, hiện nay cơ cấu sản xuất trồng trọt, nghề thủ công, các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ từng bước làm cho cơ cấu kinh tế của làng có bước chuyển dịch đáng kể, đời sống người nông dân được nâng lên, nghề thủ công được phát triển, số hộ giầu tăng, hộ nghèo giảm, bộ mặt nông thôn, không gian kiến trúc làng xóm ngày càng khang trang sạch đẹp Theo kết quả điều tra khảo sát xã hội học ở Hội Phụ thì hiện nay khó khăn lớn nhất trong việc phát triển kinh tế của người dân Hội Phụ là thiếu vốn trong sản xuất, người dân có chung mong muốn đề xuất vay vốn ngân hàng đầu

tư cho hoạt động sản xuất Bên canh đó, là một làng nông nghiệp, đất canh tác bình quân đầu người thấp chủ yếu là đất đồng chiêm trũng chỉ cấy 2 vụ lúa/năm nên cần

đa dạng hóa cơ cấu mùa vụ, cây trồng nhằm tăng thời gian sử dụng đất nông nghiệp Nghề làm chổi tre đang mang lại nguồn thu nhập ổn định cho người dân Hội Phụ nhưng còn bấp bênh về đầu ra cho sản phẩm Người dân Hội Phụ mong muốn phát triển mạnh nghề truyền thống này lên trở thành hợp tác xã sản xuất quy

mô lớn Đây là những vấn đề đang đặt ra trong quá trình phát triển kinh tế ở Hội Phụ hiện nay

1.3.3 Gia đình dòng họ

Theo thống kê năm 2010, “tổng số hộ gia đình (hộ cá nhân) ở làng Hội Phụ

là 362 hộ, tổng số nhân khẩu thực tế thường trú là 1207, trong đó thường trú có mặt là 1180, thường trú vắng mặt là 27 người, số nam giới là 680 người, phụ nữ :

527 người, số phụ nữ từ 15 – 49 tuổi là 280, số phụ nữ 15- 49 tuổi có chồng 215, số trẻ em dưới 16 tuổi 240, số người trên 60 tuổi 180” [33, tr.379]

Theo số liệu thống kê và khảo sát cho thấy hiện nay các hộ gia đình ở Hội Phụ chủ yếu là hộ gia đình hai thế hệ gồm có bố mẹ và con, rất ít trường hợp hộ gia

Trang 26

đình gồm ba thế hệ như ông bà, cha mẹ, anh em, con cháu cùng sinh sống chung dưới một mái nhà Qua khảo sát cho thấy có những hộ gia đình chỉ có hai ông bà tuổi đã cao sinh sống, trong khi đó con cháu đã lập gia đình và tách thành các hộ riêng không sống chung nhà, những hộ gia đình cá nhân chủ yếu có 1 đến 2 con

Làng Hội Phụ có 12 họ, theo ông Phạm Cảnh Thuần làng có 4 họ gốc là: Đào, Vương, Trương, Tạ các họ đến sau là họ Phạm, Chử, Trần, Ngô, Đỗ,

Nguyễn, Bùi, Cao Trong đó “họ Đào và họ Vương hiện nay không còn sinh sống ở

Hội Phụ”, trong văn tế ngày hội làng có lời mời tổ của 12 dòng họ về dự Hiện nay

ở Hội Phụ họ Chử là dòng họ có nhiều người nhất, theo ông Chử Văn Luận họ Chử

là họ lớn nhất ở Hội Phụ hiện nay với 5 chi họ, 151 hộ gia đình, 604 nhân khẩu, xưa kia họ Chử có đến 4 người đỗ đại khoa (tiến sĩ thời phong kiến)

Trong suốt quá trình phát triển của làng Hội Phụ, những người học hành đỗ đạt cao làm ăn buôn bán phát tài và có nhiều người học cao, làm cán bộ công chức bên ngoài thường tập trung vào họ Phạm, họ Chử, họ Ngô, đây cũng là những họ có

số lượng nhân khẩu chiếm nhiều nhất trong làng và có địa vị kinh tế cao hơn những

họ còn lại Trong nội bộ của dòng họ có sự phân hóa giữa các chi họ, có những gia đình kinh tế khá giả, con cái học hành thành đạt, cũng có những gia đình sa sút, nghèo khó, con cái không học hành đến nơi đến chốn

Theo như những lời nhận xét của những người cao tuổi trong làng như các ông Phạm Cảnh Thuần, ông Phạm Duy Liêm, ông Ngô Thế Lợi, ông Phạm Mạnh Tấn, ông Chử Xuân Nghi thì sự cố kết và mối quan hệ huyết thống trong nội bộ mỗi dòng họ nhìn chung vẫn chặt chẽ, đứng đầu dòng họ là trưởng họ, sau trưởng họ là trưởng các chi họ, ở Hội Phụ dòng họ nào cũng có nhà thờ họ riêng của dòng họ mình Trưởng họ có nhiệm vụ trông coi, tổ chức thờ cúng tổ tiên và các việc hiếu hỷ trong dòng họ Tiêu biểu như dòng họ Phạm, họ Ngô, họ Chử còn gìn giữ được ngôi nhà thờ họ hàng mấy trăm năm đến nay vẫn hương khói tổ tông và trở thành nơi xum họp của con cháu ở khắp nơi trở về trong ngày giỗ tổ

Hiện nay vai trò của các dòng họ vẫn rất quan trọng đối với các gia đình, cá nhân trong họ, các gia đình trong dòng họ thường giúp đỡ, bao bọc lẫn nhau trong làm ăn phát triển kinh tế gia đình cũng như công tác xã hội trong xóm, trong làng

Trang 27

Các dòng họ ở Hội Phụ Hiện nay có sự thâm nhập vào nhau thông qua các mối quan hệ như hôn nhân, thông gia, liên gia… cho nên trong làng các dòng họ thường đoàn kết, không có việc mâu thuẫn, hiềm khích giữa các dòng họ với nhau Tuy nhiên, có một thực tế tâm lý mạnh từng dòng họ vẫn còn Các dòng họ giữ vai trò quan trong trong các công việc chung của làng: tổ chức lễ hội làng, tổ chức phong trào xây dựng đời sống văn hóa mới, xây dựng quỹ khuyến học chung của làn góp phần củng cố tình làng nghĩa xóm và giúp gắn kết các gia đình với dòng họ

và giữa các dòng họ với nhau được gần gũi và gắn bó hơn

1.3.4 Cơ cấu tổ chức xóm làng

Trước đây tổ chức xóm làng của làng Cự Trình cũ được tổ chức theo 4 giáp là:

“Giáp Đông Bắc tập hợp người của các họ: Phạm, Chử, Bùi , Ngô, Nguyễn, giáp này trước cách mạng tháng tám có trên 70 xuất đinh Giáp Đông Nam gồm người của các họ Bùi, Vương, Chử với số đinh gần bằng giáp Đông Bắc Giáp Tây Bắc gồm người của các họ Trần Ngô Nguyễn, giáp này ít người nhất chỉ có 23 xuất đinh Giáp Tây Nam gồm người của các họ Phạm, Chử, Bùi, giáp này đông người nhất gồm 180 xuất đinh Theo lệ làng trước đây con trai sinh ra là phải vào giáp ngay, lệ vào giáp rất nặng nề liên quan việc sở hữu ruộng đất của các giáp rất lớn, người vào giáp được hưởng những quyền lợi cũng như được tham gia vào các công việc lễ, tiệc của làng”[ 8, tr.321] Vì thế, nhiều gia đình nghèo không có tiền để vào

giáp cho con

Từ sau cách mạng tháng tám nhất là sau công cuộc đổi mới đất nước những năm 90 của thế kỷ XX đến nay, trên phạm vi cả nước, cơ cấu tổ xóm làng trở nên gọn nhẹ, đơn giản nhưng cũng không kém phần chặt chẽ trong hoạt động theo quy định chung của nhà nước về tổ chức các cấp chính quyền và các đoàn thể chính trị, kinh tế, xã hội ở nông thôn Hiện nay thôn Hội Phụ được tổ chức thành 5 xóm: Xóm Đình, Xóm Cả, Xóm Giếng, Xóm Nghè, Xóm Cổng Làng Hội Phụ với cơ cấu tổ chức như sau: bí thư chi bộ thôn, trưởng thôn, trưởng các xóm, các ban ngành đoàn thể bao gồm chi hội nông dân, chi hội phụ nữ, chi hội người cao tuổi, chi hội cựu chiến binh, chi đoàn thanh niên, câu lạc bộ cựu quân nhân

Trong thôn Hội Phụ các chi hội có vai trò quan trọng trong những hoạt động

xã hội chung của xóm làng và địa phương Chi hội người cao tuổi thôn Hội Phụ

Trang 28

hiện nay có “460 người, 180 nam và 280 nữ, quy định độ tuổi vào chi hội người cáo

tuổi là nam 55, nữ 50” [Tư liệu PVS ông Chử Xuân Nghi, 63 tuổi, chi hội trưởng

chi hội người cao tuổi, ngày 10/7/2011] Hội người cao tuổi trong thôn giữ vai trò nòng cốt trong công tác tổ chức lễ hội làng hàng năm Ngoài ra hội người cao tuổi trong làng đã thành lập được câu lạc bộ dưỡng sinh, một đội bóng chuyền nam, một đội văn nghệ, những hoạt động của chi hội người cao tuổi góp phần rèn luyện sức khỏe giúp người cao tuổi Hội Phụ sống vui, sống khỏe, sống có ích, mỗi người cao tuổi Hội Phụ là những tấm gương để con cháu noi theo Chi hội cựu chiến binh thôn

Hội Phụ “có 52 người bao gồm cựu chiến binh chống pháp 3, chống mỹ 18, còn lại

là cực chiến binh sau 1975, chiến tranh biên giới và chiến trường Lào Capuchia, trong 52 cựu chiến binh của thôn có 5 cựu chiến binh là nữ” [Tư liệu PVS ông

Phạm Xuân Hoan, 67 tuổi, chi hội trưởng chi hội cựu chiến binh] Chi hội cựu chiến binh luôn tham gia tích cực trong tất cả các hoạt động xã hội của thôn xóm và địa phương, giúp nhau làm kinh tế phát triển sản xuất, quyên góp gây quỹ giúp đỡ các cựu chiến binh nghèo Theo ông Phạm Văn Long, bí thư chi đoàn thanh niên thì trong những năm qua chi đoàn thanh niên thôn Hội Phụ hoạt động rất sôi nổi, tích cực trong các phong trào đoàn thể tại địa phương, chi đoàn tổ chức nhiều hoạt động sinh hoạt hè cho sinh viên, học sinh trong dịp nghỉ hè tại địa phương, tổ chức duy trì lớp học hè miễn phí cho học sinh trong thôn từ lớp 2 đến lớp 9, phối hợp với các ban ngành đoàn thể trong thôn tổ chức tuyên dương học sinh, sinh viên khá giỏi hàng năm vào dịp 2 tháng 9, tổ chức cho học sinh cấp 1, 2 đi thăm quan, dã ngoại, các di tích lịch sử văn hóa tại Hà Nội Ngoài ra, chi đoàn còn phối hợp với đoàn thành niên xã Đông Hội tổ chức các hoạt động đoàn thể, phong trào tình nguyện hiến máu nhân đạo tại địa phương

Hiện nay cơ cấu tổ chức ở làng Hội Phụ với những con người tâm huyết với làng xóm, địa phương đã góp phần cùng với nhân dân Hội Phụ đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong việc phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân địa phương

1.3.5 Tín ngƣỡng, lễ hội, phong tục tập quán

Hội Phụ hay làng Cự Trình xưa là một làng khoa bảng nổi tiếng ở vùng Kinh Bắc, nhưng không vì thế mà các tín ngưỡng khác không có điều kiện phát triển

Trang 29

Chùa Hội Phụ

Chùa hay còn gọi là (A Phái Tự), ngôi chùa được xây dựng phía Tây của làng

Trong thời gian kháng chiến chống Pháp (1946 -1954), người dân làng Hội Phụ lập làng chiến đấu với tinh thần đấu tranh kiên cường bất khuất, thực dân Pháp nhiều lần càn quét qua làng chiến đấu Hội Phụ và vấp phải sự chống trả quyết liệt của các

tổ du kích trong làng Ngày 31-3-1949, để trả thù quân Pháp mang quân tàn phá làng, đốt phá nhà dân bắn giết đồng bào, và đốt chùa Hội Phụ, nay chỉ còn xót lại cửa Tam Quan và 8 ngôi Bảo Tháp Sau giải phóng miền Bắc 1954 nhân dân làng Hội Phụ đã quyên góp xây lại ngôi chùa Hội Phụ mới quy mô nhỏ hơn đặt ở giữa làng Hiện nay, chùa Hội Phụ có một sư thầy trụ trì thờ phật, vào những ngày lễ, rằm, ngày lễ theo phật giáo hàng năm người dân làng Hội Phụ đến chùa và cầu phúc lộc, cầu may mắn cho gia đình và con cháu Trước mỗi kỳ thi, học sinh Hội Phụ thường đến chùa để thắp hương và cầu mong thi cử, học hành đỗ đạt Chùa Hội Phụ

đã được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc Gia năm 1996, theo quyết định 310 QĐ/BT 1996

Đình, đền và lễ hội làng

Làng Hội Phụ có đền và đình ở phía đầu làng trên một khoảng đất giữa xã Đông Hội thờ Đào Kỳ và Phương Dung Đền (hay còn gọi là Nghè) Hội Phụ theo lời truyền lại thì xưa kia là một ngôi miếu nhỏ có từ rất lâu đời, sau cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng được dựng ngay sau khi ông bà Đào Kỳ - Phương Dung hóa và

đã được trùng tu nhiều lần với kiến trúc chữ “Nhị” Nhà tiền tế ba gian, mái lợp ngói vẩy hến và xen nhiều ngói mũi hài Hai trụ ở hai đầu được xây cao lưng mái, trên đỉnh trụ là hai con Nghê trầu, mặt trước cửa tiền xây bịt, chỉ có gian giữa ra vào

mở làm bằng cánh bức bàn hai bên trổ cửa lỗ hoa, nền nhà được lát gạch Bát Tràng Trong hậu cung có một bệ thờ cao, trên đặt 2 ngai thờ được trạm trổ rồng mây hoa

lá Hai bên bàn thờ treo hai câu đối, một bộ giá gươm, một bộ bát bửu Hai bên bàn

thờ cùng có hai bệ thờ thờ bộ hạ của ông bà Đào Kỳ, Phương Dung “Chính giữa

ban thờ là Đào tướng quân từ Câu đối ghi rõ: Bách chiến quan hà Trưng xã tắc/

Ức niên mao thổ Cối nhân dân”

Đình Hội Phụ, theo sách vở ghi chép lại, được xây dựng khoảng cuối thời

Lê, được trùng tu nhiều lần thờ thành hoàng làng Triệu Quang Phục “Ngày 19/3/

Trang 30

1948, đại đình bị giặc Pháp đốt Ngày 20/3/1952 nhân dân xây dựng lại hậu cung lần thứ nhất Ngày 2/12/1991, hậu cung được xây lại lần 2 Và đến ngày 1/10/2004, ngôi đại đình được chính thức xây dựng lại hoàn thành vào cuối năm 2005, chính thức cắt băng khánh thành vào dịp lễ hội làng 13/3 âm lịch năm 2006” [Tư liệu

điền dã]

Đình Hội Phụ nằm trên khuôn viên rộng lớn cảnh quan đẹp với những kiến trúc bề thế Phía trước là hồ đình, phía phải là ao sen, trái là ao lão Đình làng là một khối kiến trúc gồm hai nhà chữ Nhị Nếp ngoài là nhà tiền tế, 3 gian được để trống Nếp phía trong là hậu cung song song với nhà tiền tế

Ngoài đình có 4 cột trụ biểu, trên đỉnh đắp hình Nghê, dọc thân trụ có gắn câu đối và các mảng đắp hình tứ linh Sau đó là một sân rộng, hai bên có hai dãy tả hữu mỗi bên 7 gian dẫn đến phương đình và đình chính

Đình và đền cùng thờ Đào Kỳ, Phương Dung nên trong cả hai di tích cùng lưu giữ một cuốn thần phả, 4 đạo sắc phong cho Đào Kỳ, Phương Dung, sắc phong cho Triệu Quang Phục có tới 10 đạo Trong đình còn có nhiều đồ thờ mang giá trị nghệ thuật cao: 1 bộ bát bửu, giá gươm, 4 hoành phi, 10 câu đối, 3 ngai thờ với bài

vị, 2 bộ kiệu sơn son thiếp vàng mang nét nghệ thuật thế kỷ XVIII- XIX

Cụm đình – đền Hội Phụ đã được công nhận là di tích lịch sử văn hóa năm

1996 Để tỏ lòng biết ơn công đức của ông bà Đào Kỳ, Phương Dung, Triệu Quang

Phục, cứ 5 năm một lần lại tổ chức lễ hội lớn, “hàng năm cứ đến ngày 15 tháng 3

âm lịch Hội Phụ lại tổ chức lễ hội, ngày 13 thực hiện lễ rước nước, ngày 14 nghênh lăng, ngày 15 tế lễ, hội chính” [Tư liệu điền dã]

Ngoài những phần nghi lễ thiêng liêng biểu hiện lòng tôn kính của người dân với các vị anh hùng tiền nhân thì phần Hội với những trò chơi dân gian thu hút sự tham gia của đông đảo bà con người làng Hội Phụ Lễ hội hàng năm của làng người dân tham gia đông đảo, hội làng trở thành một dịp sinh hoạt văn hóa lớn nhất trong năm của người làng Hội Phụ Lễ hội còn là nơi tìm về của những người con Hội Phụ xa quê, họ trở về làng vui hội và cùng chung tay, góp sức, góp công xây dựng xóm xóm làng bằng những việc làm cụ thể, thiết thực như công đức tu bổ đình chùa xây dựng đường làng ngõ xóm khang trang sạch đẹp, ủng hộ quỹ khuyến học của làng Trong đợt điều tra xã hội học tại làng Hội Phụ, chúng tôi thấy rằng trong 150

Trang 31

hộ gia đình (100% các ý kiến trả lời phiếu điều tra trưng cầu ý kiến) có chung ý kiến về lễ hội làng là biểu hiện của tình cảm gia đình dòng họ và cộng đồng, góp phần củng cố tinh thần đoàn kết và biểu hiện của văn hóa truyền thống địa phương 100% các ý kiến đánh giá tốt sự chỉ đạo của chính quyền địa phương trong các hoạt động của lễ hội Để tổ chức lễ hội làng được tốt hơn các ý kiến được khảo sát đều trả lời các dòng họ phải tham gia lễ hội nhiều hơn 100% các ý kiến đều cho biết người dân làng Hội Phụ rất nhiệt tình tham gia lễ hội, đóng góp chung vào thành công của lễ hội, người dân rất nhiệt tình tham gia bảo vệ các di tích của làng Các ý kiến được hỏi đều cho rằng Hội làng không gây tốn kém và mất thời gian bởi vì theo họ đến với lễ hội được vui chơi thỏa mãn nhu cầu tâm linh hòa mình vào các trò chơi của hội làng là những mong ước thiết thực của người làng Hội Phụ vào mỗi dịp hội làng hàng năm

Các phong tục tập quán

Thờ cúng tổ tiên, các phần mộ tổ tiên ở Hội Phụ được các dòng họ gia đình quan tâm chu đáo Trong các dòng họ hiện nay đều có nhà thờ họ Do vậy, người làng Hội Phụ dù sống, làm ăn ở đâu vẫn không quên ngày giỗ tổ, những dịp lễ tết, thanh minh họ không quên trở về chăm lo phần mộ tổ tiên

Trước đây, Hội Phụ cũng như các làng quê khác ở đồng bằng Bắc Bộ, các tục lệ ma chay cưới xin, khao vọng vốn rất nặng nề Theo lời ông Chử Văn Luận bí thư chi bộ thôn cho biết, trước năm 1990 đời sống người làng Hội Phụ gặp nhiều khó khăn nhưng thường tổ chức mừng thọ, khao thọ với hàng 80 – 90 chục mâm cỗ gây tốn kém cho gia đình Đám Cưới hỏi cũng làm linh đình ăn uống 3 –4 ngày, đám ma cũng tổ chức ăn uống 2-3 ngày

Bước sang thời kỳ đổi mới từ những năm 90 trở lại đây với phong trào xây

dựng đời sống văn hóa mới, hưởng ứng cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây

dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”,“phong trào xây dựng gia đình văn hóa, làng văn hóa”, các tục lệ nặng nề trên được thay bằng những nếp sống mới trong sinh

hoạt của người làng Hội Phụ Hiện nay ở Hội Phụ khi làm mừng thọ cho người cao tuổi, gia đình chỉ làm vài mâm cơm con cháu trong gia đình chứ không mời làng như trước đây Trong đám cưới không được hút thuốc lá, không ăn to và kéo dài Với đám ma quy định dân làng đến phúng viếng, đưa tiễn người quá cố sau đó về

Trang 32

nhà, gia đình không được làm cỗ mời, giảm việc ăn uống trong tuần 49 ngày, 100 ngày và khi cải táng

Tác động của kinh tế thị trường, hội nhập văn hóa và tác động của lối sống bên ngoài là một trong nhưng nguyên nhân nguy cơ dẫn đến lây lan một số tệ nạn trong thôn như nạn nghiện hút, cờ bạc, lô đề, sự trỗi dậy một số hủ tục cưới xin, tang ma Để đấu tranh bài trừ các tệ nạn trên ra khỏi đời sống nhân dân, trong những năm qua hưởng ứng các phòng trào của xã Đông Hội phát động, nhân dân Hội Phụ tích cực hưởng ứng các phòng trào phòng chống tệ nạn xã hội Các đoàn thể như chi hội phụ nữ, chi hội nông dân, cựu chiến binh, chi đoàn thanh niên là những lực lượng tổ chức, vận động người dân Hội Phụ tham gia tích cực các phong trào ở địa phương tham gia các cuộc thi nhằm nâng cao hiểu biết văn hóa và pháp

luật của xã Đông Hội như “Thanh niên giỏi nghề nông, thôn nữ giỏi gian, tìm hiểu

luật phòng chống ma túy, trưởng thôn giỏi, thi hòa giải viên giỏi, kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” [2, tr.280] Bên cạnh đó, người dân Hội Phụ còn tích

cực tham gia chương trình vệ sinh môi trường làm cho đường làng ngõ xóm sạch đẹp, hạn chế dịch bệnh, góp phần tăng cường sức khỏe cho nhân dân trong làng trong xã

Phòng trào văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao theo nếp sống mới được dần hình thành và đi vào nề nếp của người dân làng Hội Phụ hôm nay Trong đó có sự tham gia tích cực của các tổ chức đoàn thể trong làng như câu lạc bộ dưỡng sinh, đội bóng chuyền nam, nữ, cầu lông, câu lạc bộ thơ của chi hội người cao tuổi thôn Hàng năm làng Hội Phụ tổ chức ít nhất 2 đêm liên hoan quần chúng vào dịp lễ hội làng và kỷ niệm các ngày lễ lớn Làng Hội Phụ có sân bóng đá, bóng chuyền, cầu lông tạo điều kiện cho các lứa tuổi rèn luyện sức khỏe và tham gia vào các đại hội Thể dục thể thao hàng năm của xã Đông Hội tổ chức

Hiện nay, đường làng ngõ xóm, nhà cửa khuôn viên các gia đình Hội Phụ được xây dựng cải tạo khang trang hơn trước, trường học các di tích lịch sử văn hóa, nhà thờ họ, khu nghĩa địa của làn được đầu tư nâng cấp làm nên một diện mạo mới của làng quê khoa bảng ở ngoại thành Hà Nội bên bờ sông Hồng

Trang 33

1.4 Việc học ở làng Hội Phụ trước đổi mới

Năm 1075 dưới triều nhà Lý, vua Lý Nhân Tông cho mở khoa thi Tam trường đầu tiên (nghĩa là thi ba kỳ để tuyển chọn nhân tài), sự kiện này mở đầu cho nền giáo dục khoa cử nho học của các nhà nước phong kiến Việt Nam Trải qua các thế kỷ tiếp sau đến thời nhà Trần, nhà Lê, nhà Nguyễn về sau, chế độ khoa cử nho học ngày càng được củng cố, coi trọng và trở thành con đường chính yếu để các triều đình phong kiến tuyển lựa đội ngũ quan lại phục vụ nhà nước

Trong thời kỳ phong kiến, việc học hành, thi cử được phát triển và mở rộng đến các làng xã ngoài kinh đô Thăng Long Từ triều Lê đến cuối triều Nguyễn làng Hội Phụ khi đó được mang tên chữ là Cự Trình bởi vì làng có nhiều người đỗ đạt trong các kỳ thi Nho học Tên làng Cự Trình vừa là thể hiện truyền thống khoa cử của làng và phần nào nói lên mong ước của người dân

Trọng thầy là biểu hiện của truyền thống hiếu học trong thời kỳ phong kiến

ở làng Cự Trình xưa Làng tổ chức ra hội đồng môn bao gồm những trò cùng học chung một thầy được lập ra nhằm động viên khuyến khích thi đua nhau học hành và

thực hiện đối với thầy dạy học một trong các nghĩa vụ đó là “Sống tết, chết giỗ”,

thầy sống, ngày tết rủ nhăm đến thăm thầy, thầy mất, ngày giỗ cùng rủ nhau ra mộ

thầy thắp hương”[ 2, tr.62]

Trong hương ước của làng Cự Trình cũ nay là là làng Hội Phụ còn ghi lại

như sau “để khuyến khích học chữ Nho, làng dựng Văn Chỉ thờ Khổng Tử và 72 vị

tiên hiền của nho giáo, trong hương ước có điều khoản mang nội dung khuyến học Làng lập ra Phe Tư Văn, là tổ chức của những người có trình độ từ biết chữ trở lên đến những người đỗ đạt Phe Tư Văn được làng cấp ruộng gọi là ruộng Tư Văn hay

ruộng học điền, (2,2 mẫu)” [2, tr.61]

Truyền thống khoa bảng của làng Cự Trình xưa với nhiều đặc điểm tiêu biểu như: Người đỗ đại khoa đầu đầu tiên của làng là (Nguyễn Đình Liêu), đỗ Đệ nhị giáp xuất thân (Hoàng giáp), đời vua Lê Thánh Tông (1463), làm quan đến Thượng Thư Có gia đình 4 đời đều đỗ Tiến sĩ, (Chử Phong (1472), Chử Thiên Khải (1502), Chử Sư Đổng (1514), Chử Sư Văn (1544) Hai cha con (Phạm Quyên, Phạm Hồn)

đỗ cử nhân thời nhà Nguyễn (1878, 1884), một số người đỗ đạt cao không ra làm quan, ở quê dạy học hoặc có ra làm quan một thời gian rồi lại cáo quan về quê làm

Trang 34

nghề dạy học, (Phạm Quyên, Phạm Hồn), hay có các vị sứ thần lỗi lạc như tiến sĩ Ngô Thế Trị được vua ban Quốc tính là Lê Hữu Dụng và cắm dinh cơ giữa làng nay vẫn còn nhà thờ

Bảng 1.1: Số tiến sĩ của các làng khoa bảng Thăng Long – Hà Nội

Các thời kỳ

Lý, trần

Mạc

và Lê Trung hƣng

Lê Trịnh

Trang 35

19 Giáp Nhị (Hoàng Mai) 4 - 1 1 2 -

(Nguồn: Bùi Xuân Đính (2004), Các làng khoa bảng Thăng Long - Hà Nội, Nxb Chính trị

Quốc gia, Hà Nội, [8, tr.36]

Theo số liệu làng khoa bảng Thăng Long Hà Nội, thì làng Cự Trình đứng ở

vị trí thứ 12 với 6 tiến sĩ Làng Cự Trình xưa rất trọng người có bằng cấp,“Hệ

thống ngôi thứ ở làng Cự Trình cũng giống như nhiều làng khoa bảng khác, coi trọng người có bằng cấp, phẩm hàm, chức tước Theo hương ước lập năm 1942 thì trong đình trải 3 chiếu ở gian giữa dành cho các ngôi thứ sau: chiếu thứ nhất dành cho người có bằng sắc, ấm giai từ Tam Phẩm trở lên: chiếu nhì dành cho người có hàm ngũ, lục phẩm, người có học vị tiến sĩ (kể cả Bác sĩ thời Pháp): chiếu ba dành cho những người có hàm từ thất phẩm trở xuống, người học vị cử nhân” [8, tr.323]

Bảng 1.2: Các Tiến sĩ làng Cự Trình – Hội Phụ

1 51 Nguyễn Đình Liêu Hoàng giáp,20, Quang Thuận 4 (1463)

3 175 Chử Thiên Khải Tiến sĩ, Cảnh thống 5 (1502)

(Nguồn: Bùi Xuân Đính (2010), Giáo dục và khoa cử nho học Thăng Long – Hà Nội, Nxb

Hà Nội [10, tr.802]

Trang 36

Trong hơn 312 năm từ năm Hồng Đức thứ 4 triều vua Lê Thánh Tông 1463 đến năm Cảnh Hưng 36 triều Lê Hiển Tông 1775, làng Cự Trình có 6 người đỗ tiến

sĩ bao gồm cả: Thám Hoa, Hoàng Giáp và Đồng tiến sĩ xuất thân, đến thời nhà Nguyễn (1802 -1945), làng Cự Trình có nhiều người đỗ cử nhân

Ngoài số đỗ Đại Khoa, ở làng Hội Phụ còn có các vị cử nhân, tú tài dưới triều nhà Nguyễn Theo thống kê trong cuốn Giáo dục và khoa cử nho học Thăng Long – Hà Nội của tác giả Bùi Xuân Đính, Nxb Hà Nội, 2010, làng Cự Trình - Hội

Phụ có các cử nhân: Phạm Quyên, đỗ năm Tự Đức thứ 31(1878), Phạm Tảo, đỗ năm Kiến Phúc thứ 1 (1884), Phạm Hồn đỗ năm Đồng Khánh thứ 1 (1886), Phạm Duy Tiên, đỗ năm Duy Tân thứ 3 (1910), Phạm Đẩu

Theo như nhận xét của nhà sử học Pham Huy Chú, trong sách Lịch triều hiến

chương loại chí “Về khoa mục thì phủ này đứng đầu cả nước Năm huyện đều có

nhiều người đỗ nhưng huyện Đông Ngàn là nhiều hơn cả Trong xóm làng đều có văn học, nhưng tựu trung bảy tổng: Phù Lưu, Tam Sơn, Nghĩa Lập, Mẫn Xá, Dục

Tú, Hạ Dương và Hội Phụ là nhiều” [4, tr.21]

Hiện nay, ở đầu làng Hội Phụ trên con đường sang làng Lê Xá (Mai Lâm) có một

gò đất mang tên gò Mã Nghè“tương truyền là nơi các quan nghè buộc ngựa mỗi khi

về làng, từ làng Hội Phụ qua đường Lê Xá lên đê có con đường lớn gọi là đường Quan, là đường do dân đắp để đón các ông nghè về làng vinh quy bái tổ”[2, tr.62]

Nổi lên như những ngôi sao sáng tiêu biểu cho truyền thống khoa cử làng Hội Phụ là hai dòng họ Chử và họ Phạm Trong 6 người đỗ đại khoa của làng thì có tới 4 người thuộc dòng họ Chử kế truyền lần lượt đăng khoa Hai cha con Phạm Tảo và Phạm Hồn cũng thay nhau lều chõng và cũng lần lược thành danh Làng cự Trình – Hôi Phụ tự hào có các nhà khoa bảng có tài có đức cống hiến, phục vụ cho đất nước, nhiều người trong số đó đã giữ các chức vụ quan trọng trong bộ máy nhà nước như Tham chính, Thượng thư, Ngử sử được giao trọng trách quốc gia đại diện

sứ bộ sang Trung Quốc hay được cử làm tổng đốc cai quản các vùng biên cương Hiện nay ở Hội Phụ vẫn còn nhiều câu đối, địa danh phản ánh truyền thống khoa bảng của làng Tại nhà thờ họ Chử có đôi câu đối (đã bị mất nữa vế) nói về 4 người

trong họ lần lược đăng đại khoa “Tứ đại khoa danh, hậu bồi thiên đức, Bách nhiên

Trang 37

đường thản ”câu đối ở nhà thờ họ Phạm nói về việc hai cha con lần lượt khoa

bảng đề danh: “Tổ tích đức, tôn tích đức, Phụ đăng khoa, tử đăng khoa”

Trong lịch sử khoa cử nho học thời phong kiến, làng Cự Trình nay là làng Hội Phụ vốn nổi tiếng về sự học và đỗ đạt trong tổng Hội Phụ, huyện Đông Ngàn,

xứ Kinh Bắc xưa Truyền thống hiếu học ở làng Cự Trình - Hội Phụ đã tồn tại từ lâu

và không ngừng được vun đắp qua các thời kỳ lịch sử cho đến tận hôm nay

Làng Hội Phụ trong thời gian (1858 - 1945), nằm trong tổng Hội Phụ, huyện Đông Ngàn, tỉnh Bắc Ninh Ở làng Hội Phụ có một số thầy dạy học vẫn cố gắng duy trì mở lớp học chữ Hán dạy cho con em trong làng đến học Tuy nhiên, số

lượng người học ngày càng giảm sút và phải ngừng dạy, “tổng Hội Phụ cho đến

năm 1940 mới có một trường tiểu học Pháp - Việt đặt tại làng Lê Xá”[2, tr.85]

Thời gian này, cả làng Hội Phụ rất ít người được theo học lớp này, phần vì rất ít nhà

có điều kiện khá giả để cho con theo học Theo lời kể của ông Phạm Cảnh Thuần 92 tuổi ở Hội Phụ cho biết: làng có truyền thống nho học nên một số những gia đình Hội Phụ vẫn duy trì việc dạy chữ nho cho con em, duy nhất trong làng khi đó chỉ có

3 người đi học và có trình sơ yếu lược, trong đó có ông Thuần và hai người nữa, theo ông Thuần đến trước năm 1945 đa phần người dân Hội Phụ không biết chữ

Việc học của làng Hội Phụ trong giai đoạn Pháp thuộc (1858-1945), giống như nhiều làng quê khác trên đất nước Việt Nam cùng chung cảnh nạn dốt và nạn đói Tuy vậy, người dân Hội Phụ ý thức được thân phận đói nghèo, u tối của người dân nô lệ mất nước, ý chí căm thù giặc, và ngọn lửa cách mạng luôn nung nấu trong mỗi một người dân nơi đây để sãn sàng vùng dạy khi cách mạnh tháng tám nổ ra Cách mạng tháng tám thành công người dân Hội Phụ bắt tay ngay vào công cuộc

diệt giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm do bác Hồ phát động Với tinh thần “nhường

cơm sẻ áo”, “hũ gạo cứu đói” cùng với “phong trào tăng gia sản xuất”, người dân

làng Hội Phụ tích cực trồng cấy trên cánh đồng chiêm trũng của làng, nạn đói dần được đẩy lùi từng bước Việc học ở Hội Phụ gắn liền với phòng trào diệt giặc dốt do

Bác Hồ phát động sau cách mạng tháng tám 1945 Với việc thành lập “Nhà Bình

dân học vụ của chính phủ” Theo lời kể của ông Phạm Cảnh Thuần 92 tuổi ở Hội

Phụ thì Ban bình dân học vụ được thành lập ở xã Đông Hội, phong trào học chữ được mở rộng ra kháp mọi làng

Trang 38

Vốn có truyền thống khoa bảng và hiếu học, người làng Hội Phụ tích cực

hưởng ứng phong trào“diệt giặc dốt” Tại làng Hội Phụ các lớp học được mở khắp

nơi, nhà riêng từng người đến điếm thờ của làng, đình làng, nhà thờ họ Với tinh thần người biết chữ nhiều dạy người biết chữ ít, anh dạy em, cha dạy con, từ người

già đến trẻ nhỏ đều hăng hái đi học với khẩu hiệu“Đi học là yêu nước”,“Những

thầy giáo đều là người làng tuy chữ chưa nhiều nhưng giầu tâm huyết, các lớp học được tiến hành hai buổi: buổi trưa dạy cho trẻ nhỏ và người gia, buổi tối dành cho thanh niên, nam nữ , những người ban ngày phải ra đồng lao động sản xuất Buổi tối là xóm làng lại nhộn nhịp, mọi người tay đèn, tay sách đến lớp Hình thức học linh hoạt phù hợp với người học, kết quả sau một năm ước chừng hơn một ngàn người trong sáu thôn biết đọc biết viết” [2, tr.106]

Phong trào đang sôi nổi, đất nước bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp lần 2, trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, người dân làng Hội Phụ tích cực chiến đấu giữ làng, đóng góp cho kháng chiến, phong trào học chữ vẫn được người dân duy trì với tinh thần vừa chiến đấu vừa học tập để xóa nạn mù chữ trong đạn bom, khói lửa

Sau giải phóng miền Bắc, phong trào “Bình dân học vụ” nhằm xóa bỏ nạn

mù chữ cho người lớn sôi nổi ở khắp các làng quê miền Bắc Năm 1955 trường Phổ

thông cơ sở Đông Hội được thành lập có lớp học từ lớp 1 đến lớp 3, “Ở làng Hội

Phụ đã hình thành các lớp học tư nhân do các thầy giáo người làng là ông Phạm Hữu Hoài và Phạm Vũ đứng lên mở lớp dạy chữ cho người dân làng Hội Phụ, lớp học được đặt ở đình làng Đến năm 1959 làng đã tổ chức được một lớp mẫu giáo

do các cô Tiếu, Phương đảm nhận dạy cho các trẻ em ở lứa tổi mần non được học tập sau khi học song mẫu giáo các em bước vào học tại trường cấp I của xã Đông Hội” [2, tr.157]

Ngày 12-5-1961, theo quyết định của Hội Đồng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, xã Đông Hội được chuyển về huyện Đông Anh, ngoại thành Hà

Nội “Những năm 1960 -1965, Hà Nội tập trung thanh toán nạn mù chữ cho 4 vạn

người ở vùng ngoại thành mới mở rộng [16, tr.211] Ở các vùng nông thôn ngoại

thành, phong trào bổ túc văn hóa phát triển mạnh Tại làng Hội Phụ phòng trào

lớp“Bình dân học vụ” vẫn được tiếp tục phát triển, số người biết đọc, biết chữ tăng

Trang 39

lên đáng kể, bên cạnh đó làng lập được một lớp vỡ lòng Để đáp ứng nhu cầu phổ cập giáo dục cho tất cả con em trong xã, năm học 1961 -1962, trường cấp I Đông Hội được tổ chức đến lớp 5, đến năm học 1962 -1963, trường Phổ thông cấp II được thành lập, hệ thống giáo dục của xã được củng cố và phát triển, con em người làng Hội Phụ và các làng khác tích cực đến trường học chữ

Trong những năm (1964 -1972), chiến tranh chống Mỹ lan rộng ra miền Bắc,

Hà Nội và các vùng ngoại thành là trọng tâm đánh phá của máy bay Mỹ Với tinh

thần “dù khó khăn gian khổ đến đâu cũng tiếp tục dạy tốt, học tôt” Nhân dân trong

làng cùng với nhân dân các thôn khác trong xã đào đắp và xây dựng hàng chục nhà

hầm để làm lớp học “Tất cả học sinh khi đi học đều phải đội mũ rơm chống mảnh

bom, mang túi bông băng cá nhân và đều được tập luyện báo động khi có máy bay đến Phải giảng dạy và học tập trong điều kiện hết sức khó khăn gian khổ, có tiết học báo động tới sáu lần, nhưng với quyết tâm của cả thầy và trò chất lượng giáo dục của xã vẫn không ngừng tăng lên Rất nhiều thầy cô giáo nhà tận nội thành Hà Nội nhưng luôn đảm bảo không bỏ giờ, bỏ tiết”[2, tr.183] Trong khó khăn gian

khổ, thì tình thầy trò, quan hệ nhà trường, xã hội đã gắn bó sâu sắc, ngành giáo dục Đông Hội, trong đó có những thầy, cô giáo người làng Hội Phụ dũng cảm kiên cường, bản lĩnh vừa dạy vừa tổ chức trú ẩn an toàn cho học sinh

Năm 1975 miền Nam hoàn toàn giải phóng, trong điều kiện khó khăn thiếu thốn về nhiều mặt nhất là cơ sở trường lớp, thiếu giáo viên, đời sống giáo viên khó khăn Tuy vậy, ở các cấp học trong xã cả thầy và trò đều khắc phục khó khăn để hoàn thành tốt công tác dạy và học Người Hội Phụ vốn có truyền thống hiếu học, đứng trước những khó khăn chung về mọi mặt nhất là đời sống kinh tế, nhưng người dân nơi đây đã có nhiều việc làm cùng với nhà trường các cấp ở Đông Hội củng cố việc học tập của con em Ngườt dân Hội Phụ ở mọi lứa tuổi tích cực tham gia học tập bổ túc văn hóa, số người biết chữ tăng lên, nạn tái mù chữ được đẩy lùi Mặc dù điều kiện kinh tế khó khăn, việc học vẫn được các gia đình ở Hội Phụ quan tâm chăm lo cho con cái học tập, tạo điều kiện cho con em đi học Tuy nhiên, theo ông Phạm Cảnh Thuần (92 tuổi) cho biết trong thời kỳ này do điều kiện kinh tế khó khăn, số học sinh Hội Phụ bỏ học giữa chừng còn nhiều, nhiều học sinh ở làng Hội

Trang 40

Phụ sau khi xong cấp 2 (lớp 7 trước đây trong hệ giáo dục phổ thông 10 năm) không có điều kiện đi học lên cấp III

Ngày đăng: 02/07/2022, 22:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

19 Bảng 3.3: Tổng hợp trình độ học vấn ở thôn Hội Phụ năm 2010 88 - (LUẬN văn THẠC sĩ) the learning in hoi phu village( dong hoi, dong anh, hanoi) in the renovation period from 1986 to present
19 Bảng 3.3: Tổng hợp trình độ học vấn ở thôn Hội Phụ năm 2010 88 (Trang 9)
Bảng 1.1: Số tiến sĩ của các làng khoa bảng Thăng Long –Hà Nội qua các thời kỳ - (LUẬN văn THẠC sĩ) the learning in hoi phu village( dong hoi, dong anh, hanoi) in the renovation period from 1986 to present
Bảng 1.1 Số tiến sĩ của các làng khoa bảng Thăng Long –Hà Nội qua các thời kỳ (Trang 34)
Theo số liệu làng khoa bảng Thăng Long Hà Nội, thì làng Cự Trình đứng ở vị  trí  thứ  12  với  6  tiến  sĩ - (LUẬN văn THẠC sĩ) the learning in hoi phu village( dong hoi, dong anh, hanoi) in the renovation period from 1986 to present
heo số liệu làng khoa bảng Thăng Long Hà Nội, thì làng Cự Trình đứng ở vị trí thứ 12 với 6 tiến sĩ (Trang 35)
Bảng 2.1: Học sinh THCS, THPT, sinh viên ở Hội Phụ lựa chọn mục tiêu học tập - (LUẬN văn THẠC sĩ) the learning in hoi phu village( dong hoi, dong anh, hanoi) in the renovation period from 1986 to present
Bảng 2.1 Học sinh THCS, THPT, sinh viên ở Hội Phụ lựa chọn mục tiêu học tập (Trang 48)
Bảng 2.2: Những dự định sau khi tốt nghiệp THPT của học sinh Hội Phụ Dự định của học sinh - (LUẬN văn THẠC sĩ) the learning in hoi phu village( dong hoi, dong anh, hanoi) in the renovation period from 1986 to present
Bảng 2.2 Những dự định sau khi tốt nghiệp THPT của học sinh Hội Phụ Dự định của học sinh (Trang 49)
Kết quả từ bảng số liệu cho thấy, trong số 9 học sinh lớp 10 được khảo sát, có 66.6% học sinh lựa chọn sẽ thi ĐH, CĐ sau khi tốt nghiệp THPT, trong số 16  học sinh lớp 11 được hỏi có tới 13 học sinh chiếm tỷ  lệ 81.2% lựa chọn thi  đại  học, cao đẳng, tro - (LUẬN văn THẠC sĩ) the learning in hoi phu village( dong hoi, dong anh, hanoi) in the renovation period from 1986 to present
t quả từ bảng số liệu cho thấy, trong số 9 học sinh lớp 10 được khảo sát, có 66.6% học sinh lựa chọn sẽ thi ĐH, CĐ sau khi tốt nghiệp THPT, trong số 16 học sinh lớp 11 được hỏi có tới 13 học sinh chiếm tỷ lệ 81.2% lựa chọn thi đại học, cao đẳng, tro (Trang 49)
Bảng 2.5: Tỷ lệ học sinh, sinh viên lập kế hoạch học tập Lập kế hoạch học - (LUẬN văn THẠC sĩ) the learning in hoi phu village( dong hoi, dong anh, hanoi) in the renovation period from 1986 to present
Bảng 2.5 Tỷ lệ học sinh, sinh viên lập kế hoạch học tập Lập kế hoạch học (Trang 52)
Bảng 2.6: Học sinh THCS lập kế hoạch và đạt kết quả cao trong học tập - (LUẬN văn THẠC sĩ) the learning in hoi phu village( dong hoi, dong anh, hanoi) in the renovation period from 1986 to present
Bảng 2.6 Học sinh THCS lập kế hoạch và đạt kết quả cao trong học tập (Trang 52)
Hiện nay, tình hình học thêm của học sinh THCS, THPT, không chỉ diễn ra ở những ở các thành phố, đô thị lớn mà tại các trường ở nông thôn, ngoại thành học  thêm cũng rất phổ biến - (LUẬN văn THẠC sĩ) the learning in hoi phu village( dong hoi, dong anh, hanoi) in the renovation period from 1986 to present
i ện nay, tình hình học thêm của học sinh THCS, THPT, không chỉ diễn ra ở những ở các thành phố, đô thị lớn mà tại các trường ở nông thôn, ngoại thành học thêm cũng rất phổ biến (Trang 54)
Bảng 2.8: Thái độ nghe giảng trên lớp của học sinh, sinh viên Hội Phụ - (LUẬN văn THẠC sĩ) the learning in hoi phu village( dong hoi, dong anh, hanoi) in the renovation period from 1986 to present
Bảng 2.8 Thái độ nghe giảng trên lớp của học sinh, sinh viên Hội Phụ (Trang 55)
Bảng 2.9: Thời gian dành cho việc học tập ở nhà của học sinh, sinh viên Hội Phụ - (LUẬN văn THẠC sĩ) the learning in hoi phu village( dong hoi, dong anh, hanoi) in the renovation period from 1986 to present
Bảng 2.9 Thời gian dành cho việc học tập ở nhà của học sinh, sinh viên Hội Phụ (Trang 56)
Bảng 2.11: Thái độ tôn kính thầy cô giáo ở học sinh, sinh viên Hội Phụ Thái độ tôn kính thầy cô giáo Học sinh - (LUẬN văn THẠC sĩ) the learning in hoi phu village( dong hoi, dong anh, hanoi) in the renovation period from 1986 to present
Bảng 2.11 Thái độ tôn kính thầy cô giáo ở học sinh, sinh viên Hội Phụ Thái độ tôn kính thầy cô giáo Học sinh (Trang 60)
Bảng số liệu cho thấy những mong muốn của các bậc phụ huyn hở Hội Phụ với nghề nghiệp của con khi trưởng thành - (LUẬN văn THẠC sĩ) the learning in hoi phu village( dong hoi, dong anh, hanoi) in the renovation period from 1986 to present
Bảng s ố liệu cho thấy những mong muốn của các bậc phụ huyn hở Hội Phụ với nghề nghiệp của con khi trưởng thành (Trang 67)
Bảng 2.13: Thống kê những ngƣời có trình độ học vấn trên đại học, đại học, đang học đại học ở dòng họ Phạm Hội Phụ - (LUẬN văn THẠC sĩ) the learning in hoi phu village( dong hoi, dong anh, hanoi) in the renovation period from 1986 to present
Bảng 2.13 Thống kê những ngƣời có trình độ học vấn trên đại học, đại học, đang học đại học ở dòng họ Phạm Hội Phụ (Trang 73)
Bảng 2.14: Thống kê những ngƣời có trình độ học vấn trên đại học, đại học, đang học đại học dòng họ Chử ở Hội Phụ - (LUẬN văn THẠC sĩ) the learning in hoi phu village( dong hoi, dong anh, hanoi) in the renovation period from 1986 to present
Bảng 2.14 Thống kê những ngƣời có trình độ học vấn trên đại học, đại học, đang học đại học dòng họ Chử ở Hội Phụ (Trang 76)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm