Để việc tự học của học sinh đem lại hiệu quả thì vai trò của giáo viên trongquá trình này rất quan trọng: “Người thầy dạy giỏi là người thầy biết giải thích; Người thầy xuất sắc là người
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài.
Khi đánh giá quá trình DẠY - HỌC, chúng ta đánh giá vào sản phẩm Họcsinh chính là sản phẩm và cũng là chủ thể của quá trình Để quá trình DẠY - HỌCđược thành công thì học sinh phải biết tự học Nghĩa là học sinh phải tự nỗ lực đểchiếm lĩnh tri thức Biết tự học thì tri thức xã hội mới biến thành sản phẩm củachính mình Sản phẩm chỉ được đánh giá một cách chính xác khi học sinh biết tựhọc Nếu sản phẩm không phải là do tự học mang lại thì thành tích chỉ để trang trí
Nguồn tri thức thì vô tận và đang bùng nổ nhanh chóng, bản thân giáo viêncũng không thể nào biết hết được và cũng không thể nào đi theo suốt cuộc đời các
em học sinh mặc dù mình rất thương yêu chúng Hôm nay, ta dạy học sinh biết tựhọc; ngày mai, học sinh mới biết lao động và sáng tạo
Giáo dục cho học sinh tính tự học là vấn đề rất thiết thực và mang tính thời
sự trong giáo dục hiện nay Thực tế cho thấy các em đạt kết quả cao trong các kìthi học sinh giỏi là những em dành rất nhiều thời gian cho việc tự học của mình
Để việc tự học của học sinh đem lại hiệu quả thì vai trò của giáo viên trongquá trình này rất quan trọng:
“Người thầy dạy giỏi là người thầy biết giải thích;
Người thầy xuất sắc là người thầy biết minh họa;
Người thầy xuất chúng là người thầy biết truyền cảm hứng.”
Thầy cô là người tạo môi trường và tình huống để học sinh có thể rèn luyệnkhả năng tự giải quyết vấn đề thông qua việc tổ chức hoạt động học và dạy cáchhọc Để làm được điều đó, giáo viên phải nắm vững quá trình hình thành nhậnthức, thường xuyên cập nhật, thay đổi phương pháp, liên hệ chặt chẽ với phụhuynh, hướng dẫn học sinh biết sử dụng và áp dụng công nghệ thông tin, năng lực
số vào trong quá trình tự học, liên hệ kiến thức với cuộc sống để hấp dẫn tạo hứngthú tìm tòi của học sinh
Như vậy việc giáo viên định hướng, tạo điều kiện học sinh biết tự học mộtcách hiệu quả là một xu thế tất yếu, bởi vì quá trình giáo dục thực chất là quá trìnhbiến người học từ khách thể giáo dục thành chủ thể giáo dục (tự giáo dục) Tự họcgiúp nâng cao kết quả học tập của học sinh và chất lượng giáo dục của nhà trường,
là biểu hiện cụ thể của việc đổi mới phương pháp dạy học ở các trường phổ thông
Cùng với việc "Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tậpsuốt đời" cần "tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở
người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực…" (Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013) Để đạt được mục tiêu và thực hiện tốt giải pháp trên thì việc phát huy tính tích cực, nâng cao năng lực tự học của học sinh là
điều vô cùng cần thiết, cần thực hiện thường xuyên trong quá trình dạy học
Trang 2Nhằm góp phần đổi mới phương pháp và hình thức dạy học để phù hợp vớinhững yêu cầu của công cuộc đổi mới giáo dục trong thời đại 4.0, phù hợp sự diễnbiến phức tạp của dịch bệnh trong những năm trở lại đây, nhằm đưa ra các giảipháp nâng cao nhận thức về dạy học theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực,
nâng cao năng lực tự học của học sinh, tôi đã mạnh dạn xây dựng đề tài “Một số giải pháp nhằm phát huy tính tích cực, nâng cao năng lực tự học của học sinh trong chương trình Địa lí cấp trung học phổ thông”
2 Mục đích nghiên cứu
Trước hết đề tài nhằm cung cấp một số cơ sở lí luận về đổi mới phươngpháp, kĩ thuật dạy học liên quan đến nội dung tự học trong môn Địa lí, đồng thờiđánh giá được thực trạng tổ chức hoạt động dạy học nói chung và rèn luyện nănglực tự học nói riêng trong chương trình Địa lí cấp THPT, từ đó đưa ra các giải phápnhằm phát huy tính tích cực, nâng cao năng lực tự học góp phần hình thành, pháthuy các phẩm chất, năng lực của HS, giúp các em thích nghi được với những thayđổi của hoàn cảnh sống, có kĩ năng để học tập suốt đời
3 Điểm mới của đề tài.
Cụm từ “tự học” không còn xa lạ đối với chúng ta, mặc dù đã có những tácgiả khai thác về nội dung này, nhưng tôi xin khẳng định những giải pháp mà tôinêu ra trong SKKN này hoàn toàn là những kinh nghiệm, những tâm huyết mà bảnthân tôi đã đúc kết lại trong quá trình giảng dạy của mình và đã được kiểm địnhqua thực tế Đề tài đã góp phần nâng cao tính hứng thú, hấp dẫn và hiệu quả chocác giờ học Đồng thời phát huy tối đa khả năng chủ động, sáng tạo tiếp thu kiếnthức của học sinh Đặc biệt các giải pháp mà tác giả nêu ra có tính hệ thống, kếthợp các giải pháp truyền thống và hiện đại, phù hợp tâm sinh lý và lứa tuổi của
HS, có tính thực tiễn cao, dễ áp dụng, có tính khả thi
Đề tài không chỉ áp dụng cho môn địa lí mà còn có thể áp dụng vào các mônhọc khác trong chương trình giáo dục phổ thông Thích ứng với yêu cầu mới củanền giáo dục hiện đại, cũng như những thay đổi thất thường của Thế giới hiện nay(thiên tai, dịch bệnh )
PHẦN NỘI DUNG
1 Cơ sở lí luận
1.1 Một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học.
Đổi mới chương trình giáo dục và cùng với nó là đổi mới PPDH và đổi mớiđánh giá là những phương diện thể hiện sự quyết tâm cách tân, đem lạinhững thay đổi về chất lượng và hiệu quả giáo dục Về phương pháp dạy học, tiếptục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tínhtích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc
Trang 3phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học,cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới trithức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chứchình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động tự học, ngoại khóa, nghiên cứukhoa học Bởi vậy một giờ học tốt là một giờ học phát huy được tính tích cực, tựgiác, chủ động, sáng tạo của cả người dạy và người học nhằm nâng cao tri thức,bồi dưỡng năng lực hợp tác, năng lực vận dụng tri thức vào thực tiễn, bồi dưỡngphương pháp tự học, tác động tích cực đến tư tưởng, tình cảm, đem lại hứng thúhọc tập cho người học Về bản chất, đó là giờ học có sự kết hợp giữa học tập cáthể (hình thức học cá nhân) với học tập hợp tác (hình thức học theo nhóm, theolớp); Chú trọng kết hợp học với hành, nâng cao tri thức với rèn luyện các kỹnăng, gắn với thực tiễn cuộc sống; Phát huy thế mạnh của các phương pháp dạyhọc tiên tiến, hiện đại; Các phương tiện, thiết bị dạy học và những ứng dụng củacông nghệ thông tin…; Chú trọng cả hoạt động đánh giá của giáo viên và tự đánhgiá của học sinh Mặt khác đổi mới phương pháp dạy học còn được cụ thể hóatrong các văn bản chỉ đạo về việc thực hiện nhiệm vụ năm học hàng năm của BộGiáo dục và Đào tạo; Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học của Sở Giáo dục vàĐào tạo; Kế hoạch năm học của nhà trường, kế hoạch tổ, nhóm chuyên môn và kếhoạch giáo dục của mỗi giáo viên
Chính vì lẽ đó trong những năm gần đây, nhiều giáo viên đã có sáng kiếntrong việc áp dụng kỹ thuật dạy học, đổi mới phương pháp dạy học đã góp phầntăng hiệu quả giờ dạy
1.2 Quan niệm, vị trí, vai trò về tự học và sự cần thiết phải nâng cao năng lực tự học của học sinh.
1.2.1 Quan niệm về tự học và sự cần thiết phải nâng cao năng lực tự học của học sinh.
Đến nay, còn có nhiều quan niệm về tự học, chẳng hạn như:
Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, là tự mìnhđộng não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổnghợp,…) cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức thuộc mộtlĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử, xã hội của nhân loại,biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học
Tự học là quá trình tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện
kĩ năng thực hành không có sự hướng dẫn trực tiếp của GV và sự quản lí trực tiếpcủa cơ sở giáo dục và đào tạo Cụ thể hơn, tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sửdụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp) và có khi cả cơbắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tìnhcảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan có ý chí tiếnthủ, không ngại khó, kiên trì nhẫn nại, lòng say mê khoa học) để chiếm lĩnh mộtlĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình
Trang 4Theo quan điểm dạy học tích cực, bản chất của học là tự học, nghĩa là ngườihọc luôn là chủ thể nhận thức, tác động vào nội dung học một cách tích cực, tự lực,chủ động và sáng tạo để đạt được mục tiêu học tập Hay nói cách khác, không aihọc giúp cho người học được, vì thế muốn học được phải tự học Theo đó, quátrình hình thành kiến thức, kĩ năng, thái độ, chủ yếu là do HS tự thực hiện, còn môitrường học chỉ đóng vai trò trợ giúp Việc học chỉ có hiệu quả khi người học ý thứcđược việc học (có nhu cầu học tập) từ đó có động cơ, ý chí và quyết tâm để vượtqua những khó khăn, trở ngại trong học tập Tự học là một quá trình chủ thể nhậnthức tác động một cách tích cực, tự lực, chủ động và sáng tạo vào đối tượng họcnhằm chuyển hoá chúng thành tài sản riêng, làm cho chủ thể thay đổi và phát triển.
Có thể nói là con người ai cũng phải tự học, do vậy trong cuộc đời của mỗingười bao giờ cũng có hoạt động tự học, song vấn đề quan trọng là tự học ở mức
độ nào và tự học như thế nào, hướng tới học suốt đời
Đặc điểm cơ bản quan trọng không thể thiếu của tự học là sự tự giác và kiên trì cao, sự tích cực, độc lập và sáng tạo của HS tự mình thực hiện việc học Như
vậy, tự học là sự tích cực, tự lực, chủ động của chủ thể nhận thức trong hoạt độnghọc, quá trình tự học do người học tự thực hiện (mang sắc thái cá nhân) Tuynhiên, cần chú ý rằng với HS phổ thông để việc tự học đạt hiệu quả thường cầnphải có sự hướng dẫn, trợ giúp của GV hay người trợ giúp Theo đó, GV cần tạo ramôi trường để HS phát huy nội lực của mình trong quá trình khám phá kiến thức
Xét về có hay không có sự trợ giúp từ các yếu tố bên ngoài, tự học có haimức độ: tự học hoàn toàn và tự học có hướng dẫn Tự học có hướng dẫn là hìnhthức tự học để chiếm lĩnh tri thức và hình thành kĩ năng tương ứng với sự hướngdẫn tổ chức chỉ đạo của GV hay người hướng dẫn, thông qua bài giảng hoặc tàiliệu hướng dẫn học Tự học có hướng dẫn là việc học cá nhân và tự chủ, được sựgiúp đỡ và tăng cường của một số yếu tố như GV hay người hướng dẫn hay côngnghệ giáo dục hiện đại Khi đó, người học là chủ thể, trung tâm, tự mình chiếmlĩnh tri thức, chân lí bằng hành động của mình Người thầy là tác nhân hướng dẫn,
tổ chức, đạo diễn cho trò tự học trong sự hợp tác với bạn, với thầy, với học liệu,…
Như vậy, tự học là tự mình thực hiện việc học Tự học không thể thiếu tronghoạt động học, trong đó HS phải biết huy động hết khả năng trí tuệ, tình cảm và ýchí của mình để lĩnh hội một cách sáng tạo tri thức kĩ năng và hoàn thiện nhân cáchcủa mình dưới sự hướng dẫn của GV Kết quả tự học cao hay thấp phụ thuộc vào kĩnăng tự học của mỗi cá nhân và đặc biệt với HS THPT thì còn phải phụ thuộc rất lớnđến sự hướng dẫn của GV hay học liệu, phương tiện hỗ trợ,
1.2.2 Vị trí, vai trò của tự học.
Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khoá XI
về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo có nêu lên mục tiêu cụ thể,
trong đó có đề cập tới việc “phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích họctập suốt đời”; trong các giải pháp có nêu “tập trung dạy cách học, cách nghĩ,
Trang 5khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩnăng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thứchọc tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khoá, nghiên cứu khoa học.Đẩy mạnh ứng dụng CNTT và truyền thông trong dạy và học”.
Tự học được xem là một mục tiêu cơ bản của quá trình dạy học Từ lâu các
nhà sư phạm đã nhận thức rõ ý nghĩa của phương pháp dạy tự học Trong quá trìnhdạy học GV không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ những kiến thức có sẵn, yêu cầu
HS ghi nhớ,… mà quan trọng hơn là phải định hướng, tổ chức cho HS tự khám phá
ra những quy luật, thuộc tính mới của các kiến thức hay các vấn đề khoa học Qua
đó, giúp HS không chỉ nắm bắt được kiến thức mà còn biết cách tìm ra những kiếnthức ấy Thực tiễn cũng như phương pháp dạy học hiện đại còn xác định rõ: càng ởtrình độ cao thì tự học càng cần được coi trọng Nói tới phương pháp dạy học thìcốt lõi là dạy tự học Phương pháp tự học là cầu nối giữa học tập và nghiên cứukhoa học Vì thế, muốn thành công trên bước đường học tập và nghiên cứu thìngười học phải có khả năng tự phát hiện và tự giải quyết những vấn đề mà cuộcsống hay khoa học đặt ra
Rèn luyện kĩ năng tự học là phương cách tốt nhất để tạo ra động lực cho
HS trong quá trình học tập: Một trong những phẩm chất quan trọng của mỗi cá
nhân là tính tích cực, sự chủ động sáng tạo trong mọi hoàn cảnh Một trong nhữngnhiệm vụ quan trọng của giáo dục là phải hình thành được phẩm chất đó cho ngườihọc Khi đó giáo dục mới có thể đào tạo ra những lớp người năng động, sáng tạo,thích ứng với thị trường lao động, góp phần phát triển cộng đồng Có thể xem tínhtích cực (có nguồn gốc từ năng lực tự học) như một điều kiện, kết quả của sự pháttriển nhân cách thế hệ trẻ trong xã hội hiện đại Trong đó hoạt động tự học lànhững biểu hiện sự gắng sức cao về nhiều mặt của từng cá nhân trong quá trìnhnhận thức thông qua sự hưng phấn tích cực Mà hưng phấn chính là tiền đề chomọi hứng thú trong học tập Có hứng thú, người học mới có được sự tự giác, say
mê tìm tòi nghiên cứu khám phá Hứng thú là động lực dẫn tới tự giác Tính tíchcực của con người chỉ được hình thành trên cơ sở sự phối hợp giữa hứng thú với tựgiác Nó bảo đảm cho sự định hình tính độc lập trong học tập
Tự học giúp cho mọi người có thể chủ động học tập suốt đời, học tập để
khẳng định năng lực phẩm chất và để cống hiến Tự học giúp con người thích ứngvới những biến đổi của sự phát triển kinh tế - xã hội Bằng con đường tự học mỗingười sẽ không cảm thấy bị lạc hậu so với thời cuộc, thích ứng và bắt nhịp nhanhvới những tình huống mới lạ mà cuộc sống hiện đại mang đến, kể cả những tháchthức to lớn từ môi trường, nghề nghiệp Nếu rèn luyện cho người học có đượcphương pháp, kĩ năng tự học, biết linh hoạt vận dụng những điều đã học vào thựctiễn thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, nhờ đó kết quả học tập sẽ ngày càng đượcnâng cao, tạo đà cho tự học trong cuộc sống hay trong thực tiễn
1.2.3 Một số yêu cầu đối với giáo viên và học sinh trong vấn đề tự học
Trang 61.2.3.1 Yêu cầu đối với giáo viên
Để HS có thể tự học, tự nghiên cứu ở nhà được tốt thì đối với GV cũng cầnđặt ra cho mình một số yêu cầu như sau:
- Giáo viên cần phải có đề cương chi tiết cho học sinh trước khi bắt đầu vàogiảng dạy một nội dung nào đó Trong đó có ghi rõ những phần học trên lớp, phần
HS nghiên cứu tự học
- Trong những bài, phần yêu cầu người học tự học GV nên nêu rõ mục tiêucủa nội dung phần đó Đặt ra các câu hỏi yêu cầu người học phải trả lời được saukhi học xong chương, phần đó
- Yêu cầu HS đọc sách nào, nghiên cứu tài liệu nào hay phần nào và trả lờicâu hỏi theo yêu cầu
- Hướng dẫn HS kỹ năng đọc sách, nghiên cứu tài liệu, tóm tắt tài liệu đọcđược, cách lập dàn bài, đề cương, kỹ năng phân tích bảng số liệu, sơ đồ, bảngbiểu
- Kiểm tra tự học của HS bằng các câu hỏi trắc nghiệm hoặc tự luận trêngiảng đường hoặc qua các phần mềm tiện ích, phù hợp và lấy điểm làm điểm kiểmtra thường xuyên hoặc định kì
1.2.3.2 Yêu cầu đối với học sinh
Để có thể rèn luyện được phương pháp tự học, tự nghiên cứu, người học cầnphải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Học sinh phải cố gắng tự mình suy nghĩ, tìm tòi, nghiên cứu nâng cao khảnăng của mình Điều đó đem lại lợi ích cho HS là tự động viên, nhắc nhở tinh thầncho chính bản thân mình Phải làm cho HS hiểu rằng bất cứ việc gì, người nào biếtdựa vào sức mình là chính, năng lực người đó mới nhanh chóng phát triển, sựthành công mới vững chắc Điều quan trọng bậc nhất, độc lập suy nghĩ, làm việc sẽkhiến những kiến thức tiếp thu được sâu sắc, dễ vận dụng
- Hiểu rõ mục đích học tập và xác định động cơ học tập đúng đắn Khi hiểu
rõ mục đích học tập và xác định động cơ học tập đúng đắn cần phân biệt sự khácnhau giữa phong cách học tập cũ và mới Phong cách học tập mới là vừa học tậpkiến thức khoa học vừa thông qua đó mà tự giác rèn luyện con người mình, nóchống lại việc chỉ lo nhồi nhét kiến thức mà không lo rèn luyện con người mới.Học phải có kế hoạch: người học phải lập kế hoạch cho việc tự học, tự nghiên cứu(Học lúc nào? Học ở đâu? Học môn gì, phần nào trước, môn gì, phần nào sau?), tốtnhất là rèn luyện được phương pháp học ở mọi nơi, mọi lúc
- Khi bắt đầu tự học một môn hay một phần nào đó, HS phải xác định đượcnội dung cần đọc, cần nghiên cứu thông qua các câu hỏi của giáo viên
- Khi xem xét một vấn đề, HS phải xuất phát từ định nghĩa, khái niệm và đặtvấn đề đó trong mối liên hệ với các vấn đề khác
- Để tạo được hứng thú khi học thì HS nên bắt đầu từ dễ đến khó, từ đơn
Trang 7giản đến phức tạp, từ xa đến gần, từ cụ thể đến khái quát, trừu tượng.
Bên cạnh đó HS phải rèn luyện kỹ năng đọc sách, kỹ năng nghiên cứu tàiliệu cụ thể như sau:
- Khi đọc sách cần phải ghi chép: lập dàn bài cho những phần cần nghiêncứu, đầu tiên là dàn ý sơ lược, sau đó chi tiết hóa dần
- Cố gắng nắm được cách bố trí, hệ thống của tài liệu, đọc những gì HShiểu rõ nhất để xác định độ khó Đừng nản chí nếu không hiểu
- Dùng bút đánh dấu những chỗ quan trọng hay chưa hiểu để có thể xem lại.Trong khi đọc, thỉnh thoảng dừng đọc và đặt những câu hỏi kích thích và tự tìmcâu trả lời
- Sau khi tóm tắt được phần cần đọc thì trả lời các câu hỏi của giáo viên yêucầu theo hiểu biết của mình dựa vào tài liệu đã được đọc
Để tìm ra được phương pháp giải quyết vấn đề, HS cần phát huy tư duy biệnchứng, song trong quá trình giải quyết vấn đề thì lại cần vận dụng tới tư duy logic
Để đi đến kết quả trọn vẹn, HS cần rèn luyện tư duy về lựa chọn, lựa chọn nhữngcách giải quyết giản dị, thấu đáo, trong sáng
HS phải học cách hệ thống hóa các kiến thức đã học từ trên lớp kết hợp vớikiến thức đã học thông qua cách lập các sơ đồ về mối quan hệ giữa các kiến thức,lập các bảng so sánh, các bảng tổng hợp các nội dung đã học
Trong việc đẩy mạnh phương pháp tự học, cũng cần chú ý đến sự tương trợ,giúp đỡ nhau trong học tập tức là vấn đề "học thầy không tày học bạn" như ôngcha ta đã từng đúc kết Do đó, HS có thể kết hợp với những bạn khác thành nhómhọc tập, trao đổi thông tin, học hỏi lẫn nhau để khắc sâu nội dung bài học
Trao đổi với giáo viên về những phần kiến thức khó, kiến thức không hiểu
và những phần kiến thức người học muốn đi sâu tìm hiểu rõ hơn
1.2.4 Một số phương pháp và hình thức hướng dẫn học sinh tự học.
Để HS tự học có hiệu quả, ngoài việc tạo động cơ, hứng thú cho các em, cũng như hướng dẫn các em lập kế hoạch học tập hay tự kiểm tra đánh giá còn cần
sử dụng một số phương pháp và kĩ thuật tự học thông dụng Một vài phương pháp
và kĩ thuật tự học thông dụng được đề cập như phần dưới đây:
a) Nghe hiệu quả
Biết nghe giảng đúng cách hay nghe tích cực sẽ giúp HS rút ngắn thời gianhọc tập, làm bài tập nhanh chóng và dễ dàng hơn, tự tin, hứng thú hơn và khôngngỡ ngàng khi gặp lại các nội dung học tập, nhất là trọng tâm bài học
Để luyện kĩ thuật nghe tích cực HS cần:
Trang 8- Tập trung theo dõi bài giảng hay hướng dẫn học ngay từ lúc bắt đầu củatiết học, nhưng chưa nên nghĩ đến việc sẽ làm gì, vì điều đó có thể sẽ phá vỡ lôgiccủa nội dung cũng như quá trình nghe giảng.
- Tập trung nghe trọn vẹn nội dung chính, những điểm quan trọng nhất mà
GV thường nhấn mạnh qua ngữ điệu hay qua việc nhắc lại nhiều lần, để hiểu vấn
đề, rồi ghi chép ý chính theo cách hiểu của mình Chú ý ghi theo dàn bài để nhìnđược khái quát cấu trúc chung của bài học, chú ý tới trọng tâm, mấu chốt của vấnđề
- Chú ý đến các bảng tóm tắt, các sơ đồ và các tài liệu trực quan khác đã giớithiệu, vì ở thời điểm này người thầy (hay người hướng dẫn) so sánh, phân tích, hệthống hoá kiến thức, nhờ đó ta có thể nắm được trình tự, tiến dần đến kết luận vàrút ra cái mới
- Nếu gặp chỗ nào khó, không hiểu, thì hãy tạm thời gác nó lại và sẽ cố gắngtìm hiểu những điều đó sau, để quá trình nghe giảng không bị gián đoạn
- Trong hoặc cuối tiết học, có thể nêu câu hỏi với GV hay người hướng dẫn
để làm rõ những chỗ chưa hiểu, khắc sâu kiến thức,
Lưu ý: Nên dành vài phút để đọc lướt qua tài liệu sẽ học trước khi nghegiảng Nhờ đó, biết được những vấn đề khó để nhắc mình chăm chú hơn khi nghegiảng
b) Ghi chép hiệu quả
Ghi chép không những có thể khiến tăng cường sự tập trung mà còn là mộtcông cụ hỗ trợ ghi nhớ Khả năng ghi chép phụ thuộc vào từng người và được bắtnguồn từ những kinh nghiệm có sẵn Ghi chép còn giúp chúng ta nguồn lưu trữthông tin để sau này dùng lại hay ôn lại nếu cần Song để ghi chép được nhanh vàhiệu quả nên sử dụng các thủ thuật như: dùng từ viết tắt, dùng chữ bắt đầu của mộttừ; dùng các kí hiệu hoặc tạo ra những từ viết tắt riêng cho mình; đặt tựa đề riêngcho đề mục và ghi lùi sang phải từng chi tiết liên quan với đề mục; dùng nhữngchấm riêng cho từng dòng và xuống dòng cho mỗi chi tiết; chừa chỗ trống nhiều sovới lề trái, khoảng 1/3 chiều ngang tờ giấy; Không cần ghi lại mọi thứ mà hãy tưduy, lắng nghe để hiểu và ghi được những điều quan trọng nhất
c) Đọc hiệu quả
- Đọc hiệu quả là đọc một cách tập trung và kĩ lưỡng để hiểu được chính xác
những gì đọc được Ta biết rằng một từ, một cụm từ hay một chữ, thường có hai phần
là âm và nghĩa Đứng về mặt kĩ thuật, đọc là một quá trình kết hợp lướt mắt qua các conchữ và nhập nghĩa của các con chữ đó vào đầu
Khâu thứ nhất - xem như khâu nhận mặt chữ hay biết âm - chỉ bao gồm việcnhận dạng kí tự, đọc thầm, phân tích ngữ pháp của câu để chuẩn bị cho việc hiểu nghĩa
Trang 9Khâu thứ hai - xem như khâu nhập nghĩa vào trong đầu - là quá trình chuyển các
kí tự đọc được thành nghĩa Nó thường xảy ra theo hướng so sánh khái niệm hoặc ýnghĩa vừa đọc với nhận thức cũ của mình Khi đó, nếu có sự phù hợp hay quen thuộc,thì việc hiểu này mang nghĩa củng cố kiến thức; còn nếu nó xa lạ hay trái với những gìmình đã biết thì việc nhập kiến thức sẽ mang nghĩa tiếp nhận, nạp cái mới
d) Ghi nhớ thông tin hiệu quả
Ghi nhớ là quá trình tiếp nhận thông tin và lưu giữ thông tin ấy trong đầu, đểsau đó có thể nhắc lại, dùng lại được Ghi nhớ đòi hỏi yêu cầu cao với người học
Để có thể ghi nhớ thông tin nhanh và lâu, cần lưu ý các bước sau:
- Đọc đi đọc lại: Đọc lại những gì đã ghi chép sau buổi học sẽ giúp nhớ bài
tốt hơn Có thể đọc một tài liệu nhiều lần, mỗi lần với một mục tiêu khác nhau vàđọc theo đúng mục tiêu đó
- Nắm ý chính: Nắm được ý chính trong mỗi đoạn văn và hiểu nó theo cách
của mình là điều cốt lõi của việc đọc có hiệu quả
- Trích lược những chi tiết quan trọng: Mỗi ý chính trong một bài đều có
liên quan đến một chi tiết quan trọng, vì thế, nếu càng nhớ và dẫn được càng nhiềuchi tiết quan trọng hay các liên hệ giữa các chi tiết và các ý, hoặc giữa các ý vớinhau, thì càng liên hệ được các ý tưởng với kiến thức nền tảng Nhờ đó, ta dễ dànghuy động, sử dụng khi cần
- Ghi thành dàn bài: bằng cách chia nội dung toàn bài thành các phần chính
(Ví dụ là A, B hay C,…) Trong mỗi phần lại có thể chia thành một số mục nhỏ,bạn có thể sắp xếp các mục nhỏ ấy bằng những chữ số, như: 1, 2, 3, và đặt nhữngtiêu đề riêng; có thể gạch dưới hoặc viết đậm các phần quan trọng để dễ nhớ
- Nhẩm trong óc: Là cách hệ thống lại và ôn từng phần một của bài, chỗ nào
quên thì dừng lại và lật bài đã có ra xem Tiếp đó nhẩm sang phần khác, chú ý cácphần quan trọng cần ghi nhớ Sau đó, tìm những nội dung còn sót để học lại chothuộc và đặt thành câu hỏi rồi tự giải quyết trong óc câu hỏi ấy
- Ghi ra giấy: Có thể ghi riêng ra giấy những từ mới, công thức, những định
lí, tính chất,… sau đó đóng hay cất những tờ giấy này vào nơi dễ nhìn thấy, có thể
mở ra xem để ghi nhớ Khi ghi chỉ nên tóm tắt phần quan trọng, chính yếu nhất,tránh ghi rườm rà
- Hỏi và tự trả lời: Tự đặt cho mình những câu hỏi và trả lời các câu hỏi để ghi nhớ được các thông tin cần tìm hiểu Các loại câu hỏi như: Cái gì? Ở đâu? Khi nào? Tại sao? Như thế nào? Ai? Cách này vừa giúp ta nhớ kiến thức, vừa tăng
cường tính chủ động, tích cực trong học tập
đ) Liên tưởng trong tự học
Liên tưởng giúp các em phát huy tính khám phá, tính sáng tạo bằng cách kếtnối một vấn đề đang học, một vấn đề đang gặp phải, cần được ghi nhớ, một vấn đề
Trang 10chưa thật quen thuộc, chưa thật hiểu rõ với cái mà mình đã biết Nhờ đó, ta sẽ dễ nhớ
và dễ truy cập, sử dụng một vấn đề nào đó khi cần
g) Sử dụng bản đồ tư duy (BĐTD) trong tự học
Trong việc học và đặc biệt là khi ôn tập, hệ thống hoá kiến thức, HS đã đượclàm quen với việc kẻ bảng, biểu, vẽ sơ đồ, biểu đồ,… và thường HS có chung cách
“ghi chép” giống GV hay người trợ giúp, hoặc mẫu trong tài liệu, nên việc ghi nhớthường bị động, khó khăn, khó khắc sâu, khó nhớ
Đến nay, BĐTD được xem là hình thức ghi chép hỗ trợ tìm tòi, đào sâu, mởrộng một ý tưởng, tóm tắt những ý chính của một nội dung, hệ thống hoá một chủ
đề, một hệ thống bài tập hay một mạch kiến thức, các cách giải của một dạng bàitập,… bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc,chữ viết với sự tư duy tích cực Đặc biệt, BĐTD còn là một sơ đồ mở, không yêucầu tỉ lệ, chi tiết khắt khe, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi người vẽ mộtkiểu, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau Do đó, việc lậpBĐTD còn giúp phát huy khả năng sáng tạo của mỗi người
kỹ năng tự học các môn học để phát huy được tính chủ động, sáng tạo, độc lập củahọc sinh
Đối với bộ môn Địa lí dựa vào những quy định của bộ môn trong quá trìnhxây dựng kế hoạch giảng dạy môn Địa lí thì thời lượng dạy trên lớp cho mỗi tiếthọc là rất ngắn, mỗi tuần chỉ dạy 1 tiết đến 2 tiết/ kì, trong khi nội dung tri thức cầntruyền đạt ở một số bài của môn Địa lí thì khó, cần nhiều thời gian tìm hiểu, nghiêncứu Do đó, việc HS phải tự học bài và chuẩn bị bài trước giờ lên lớp là điều tấtyếu Có thể nói rằng thời gian tự học ở nhà là rất quan trọng, đây là lúc HS cónhiều thời giờ suy ngẫm, đào sâu vấn đề, tiếp tục đề xuất những thắc mắc để thầygiải đáp, suy nghĩ liên hệ hoặc vận dụng vào thực tế Đây cũng là cách để tri thứckhắc sâu trong bộ óc, khó bị quên lãng và trở thành hữu ích, là cách học kết hợpvới hành mà Bác Hồ luôn luôn nhắc nhở Việc học ở nhà còn phải làm tốt việcchuẩn bị trước theo yêu cầu của từng bài giảng
Tuy nhiên, để học sinh trở thành những người học có khả năng tự học, chủđộng sáng tạo không phải là một điều dễ dàng, do học sinh mới làm quen với cáchhọc mới nên tính thụ động còn cao, phương pháp tự học, tự nghiên cứu còn chưa
Trang 11tốt do đó họ rất lúng túng trong việc tự học ở nhà Mặt khác, giáo viên cũng gặpphải nhiều khó khăn khi yêu cầu học sinh tự học ở nhà môn Địa lí và quản lý cũngnhư đánh giá khả năng tự học của học sinh.
2.2 Thực trạng của việc học sinh tự học nói chung và tự học môn Địa lí cấp trung học phổ thông nói riêng hiện nay
Để khách quan tôi đã tiến hành khảo sát việc thực hiện quá trình tự học củahọc sinh tại trường THPT Thái Hòa đem lại kết quả như sau:
* Kết quả khảo sát đối với học sinh khối 10 (số lượng học sinh khảo sát 80em)
Câu 2: Sự cần thiết của việc tự học
Câu 4: Khó khăn mà học sinh gặp phải khi tự học
2 Chưa có biện pháp để kiểm tra kiến thức mình tự 15 19
Trang 12Câu 5: Cách thức tự học của học sinh
2 Học theo nội dung câu hỏi bài tập của giáo viên 30 38
Câu 8: Thời gian tự học của học sinh:
Câu 9: Suy nghĩ của học sinh về vấn đề tự học THPT
Câu 10: Để chuẩn bị cho nội dung tự học một bài học Địa lí, em thường:
Trang 131 Học bài cũ và nghiên cứu trước bài mới theo nội
Câu 11: Thái độ của học sinh đối với việc tự học Địa lí
sự dụng các kỹ năng tự học Mức độ sử dụng thành thạo các kỹ năng tự học conthấp Thời gian tự học của học sinh còn quá ít, thái độ học tập còn mang tính đốiphó cao, còn phụ thuộc nhiều vào sự hướng dẫn của giáo viên Nguyên nhân mộtphần các em chưa có ý thức tự giác trong quá trình học tập, một phần khác do các
em chưa định hướng được một cách cụ thể trong hoạt động tự học của bản thân.Chính vì vậy kết quả tự học của học sinh còn chưa đạt hiệu quả cao Bởi vậy, vaitrò của người giáo viên trong việc phát triển kỹ năng tự học của HS nhằm gópphần nâng cao chất lượng tự học của học sinh nói chung và tự học môn Địa lí nóiriêng ở trường phổ thông là hết sức quan trọng
2.3 Thực trạng của việc hướng dẫn nội dung tự học cho học sinh trong các giờ học môn Địa lí tại các trường trung học phổ thông trên địa bàn Thị xã Thái Hòa Và huyện Nghĩa Đàn.
Trong quá trình thực hiện đề tài tôi cũng đã tiến hành khảo sát việc tự họccủa học sinh nói chung và việc hướng dẫn nội dung tự học cho học sinh trongviệc dạy học môn Địa lí ở các trường THPT trên địa bàn Huyện Nghĩa Đàn vàThị xã Thái Hòa (bao gồm: Trường THPT Cờ Đỏ, Trường THPT 1/5, TrườngTHPT Thái Hòa, Trường THPT Tây Hiếu, Trường THPT Đông Hiếu Tổng 5trường gồm 12 giáo viên) kết quả như sau:
*Kết quả khảo sát như sau (số lượng GV khảo sát: 12 người)
Câu 1: Cách thức hướng dẫn học sinh tự học
Trang 141 Chỉ hướng dẫn một số bài cần thiết
- Có thực hiện
- Không thực hiện
102
8317
2 Hướng dẫn theo nội dung kế hoạch giáo dục
- Hướng dẫn chi tiết, cụ thể
- Hướng dẫn chung chung
84
6733
3 Nội dung hướng dẫn
- Chỉ hướng dẫn phần quan trọng
- Hướng dẫn các nội dung theo yêu cầu
93
7525Câu 2: Những khó khăn mà giáo viên gặp phải khi hướng dẫn học sinh tự học
2 Chưa có biện pháp để kiểm tra kiến thức học
sinh tự học
Câu 3: Việc tiến hành hướng dẫn hoạt động tự học cho học sinh
1 Thực hiện hướng dẫn học sinh tự học
- Có
- Không
102
8317
2 Cơ sở tiến hành hướng dẫn tự học
- Xuất phát từ nội dung
- Từ các nội dung liên quan đến bài học
- Từ nội dung liên quan đến tên bài học
543
423325
3 Mục đích việc hướng dẫn tự học
- Kiểm tra và thống kê kiến thức của học sinh
- Tạo hứng thú cho học sinh
- Tạo tình huống có vấn đề để vào bài
534
422533
42580
Trang 155 Mức độ thu hút và hiệu quả
- Cao
- TB
- Thấp
552
424216
* Nhận xét:
Kết quả khảo sát cho thấy đa số các giáo viên Địa lí trên địa bàn HuyệnNghĩa Đàn và Thị xã Thái Hòa đều đã có sự đổi mới đầu tư cải tiến phương phápgiảng trong việc hướng dẫn học sinh tự học Tuy nhiên vẫn còn một số ít giáo viên
có những hạn chế nhất định như: giáo viên vẫn chưa mạnh dạn vận dụng phươngpháp, kỹ thuật dạy học tích cực vào việc hướng dẫn học sinh tự học Do đó đangtạo cảm giác thụ động đối với học sinh trong việc tiếp nhận kiến thức Một số giáoviên tâm lí môn mình là môn phụ nên chưa chịu đầu tư trong việc soạn giáo án, tìmhiểu những nội dung kiến thức mới thành ra bài dạy gây nhàm chán, không tạođược sự hứng thú cho người học Chính vì lẽ đó bản thân tôi nghĩ người giáo viêndạy môn Địa lí luôn phải tìm tòi, đổi mới để tìm ra phương pháp phù hợp cho từngbài đặc biệt phải biết cách hướng dẫn học sinh tự học để đem lại hiệu quả khi giảngdạy Bên cạnh đó nhiều bài học trong sách giáo khoa môn Địa lí còn khá trừutượng, khó hiểu đối với học sinh phổ thông nên việc lựa chọn hình thức, phươngpháp như thế nào để hướng dẫn học sinh tự học quả là vấn đề không mấy dễ dàngđối với mỗi giáo viên.Vì vậy, trong quá trình dạy, dù rất cố gắng, nhiều giáo viêncũng không thể lôi kéo sự tập trung của học sinh, hiệu quả giờ học bị giảm sút.Chính vì lẽ đó bản thân tôi trong quá trình giảng dạy bộ môn Địa lí bậc THPT tôiluôn luôn trăn trở để tìm ra giải pháp hướng dẫn học sinh tự học một cách hiệu quảnhằm tạo hứng thú cho các em khi học bộ môn này
2.4 Nguyên nhân của thực trạng.
Thứ nhất: Ý thức học tập: Một số bạn học tập chủ yếu với tinh thần thi trước
nhất, sau đó mới hiểu thêm về kiến thức mình học, điều này đã phần nào hạn chế ýthức tự học của các bạn Theo kết quả khảo sát có đến 65,4 % các bạn chỉ thỉnhthoảng mới học Địa Lí và các bạn chỉ học trước khi thi vài ngày; 22,8 % các bạnhọc thường xuyên, số còn lại thì không biết học lúc nào
Chỉ có 22,8 % các bạn được khảo sát là học thường xuyên, như vậy ta thấy ýthức tự học của các bạn là chưa cao Điều này ảnh hưởng rất lớn đến chất lượngkiến thức thu được
Thứ hai: Cách tự học
Các bạn chưa phát huy hết hiệu quả cách học, hầu như các bạn chưa kếthợp được các cách học với nhau Các bạn học thuộc khi thi có kết quả cao, nhưngsau đó kiến thức cũng ra đi rất nhanh Các bạn tự học riêng lẻ bằng bản đồ, hiểu vànhớ, học nhóm lại có kết quả không cao lắm (đa số đạt điểm 5,6,7) Do các bạnchưa hiểu hết bản đồ nên chưa khai thác triệt để kiến thức trên bản đồ, còn các bạn
Trang 16học hiểu và nhớ nhưng chưa có cách hệ thống lại bài, nhiều kiến thức buộc phảinhớ chính xác thì không nhớ được nên làm bài lan man, thiếu trọng tâm Kiến thứcgiữ được thì độ chính xác không cao lắm.
Thứ 3: Cách truyền đạt của giáo viên cũng ảnh hưởng khá lớn đến kết quả học
tập, tiếp thu kiến thức của học sinh Kiến thức giáo viên cung cấp nhiều quá thìkhiến cho học sinh lười suy nghĩ do một phần thì tiếp thu không kịp, một phần dongại đào sâu khai thác, không có thời gian tự khai thác, trao đổi, thảo luận với nhautrên lớp nên kiến thức không được khắc sâu
Tuy nhiên đối với môn địa lý giáo viên đã có sự thay đổi về phương phápgiảng dạy, điều này phù hợp với nguyện vọng của học sinh, giúp cho học sinh tựđào sâu kiến thức hơn và không sợ kiến thức bị hổng, sai vì đã có giáo viên chuẩnkiến thức lại
Theo khảo sát cách truyền đạt này (hướng dẫn cho học sinh tự khai thác, sau
đó chuẩn lại kiến thức) được 59,1 % ý kiến đồng tình, cao hơn rất nhiều so vớicách truyền đạt cung cấp toàn bộ kiến thức (11,4% đồng ý) và học sinh tự khaithác hoàn toàn, không có sự hướng dẫn, chỉ kiểm tra kết quả
Cũng trong đợt khảo sát 75,8 % các bạn chưa hài lòng với cách học và kết quảđạt được của bản thân 21,2 % hài lòng và 3 % chưa hài lòng lắm Và khi được hỏi
là nếu có một phương pháp tự học phù hợp các bạn có quyết tâm thực hiện khôngthì có đến 90,6 % đồng ý áp dụng
Như vậy ta thấy các bạn luôn mong muốn tìm ra một cách học phù hợp, đemlại kết quả cao trong học tập Giải pháp đó là gì?
3 Một số giải pháp để xây dựng, tổ chức dạy học nhằm phát huy tính tích cực, nâng cao năng lực tự học của học sinh trong chương trình môn Địa lí cấp trung học phổ thông.
3.1 Giải pháp 1: Giúp học sinh nhận thức vai trò, ý nghĩa của tự học, xây dựng kế hoạch và phương pháp học tập.
Bước 1: Giúp học sinh nhận thức vai trò, ý nghĩa của tự học
Đa số học sinh trường THPT Thái Hòa còn có những hạn chế sau:
- Thói quen thụ động trong quá trình học tập, quen nghe, ghi, chép, nhớ vàtái hiện lại những gì giáo viên nói
- Do chưa hình thành kỹ năng, phương pháp tự học nên kiến thức của hầuhết học sinh tỏ ra hẫng hụt ngay từ đầu năm học, không nắm được các kiến thức đãhọc một cách hệ thống và khoa học và rất ít vận dụng được kiến thức
- Giai đoạn chuẩn bị cho hoạt động tự học đa số học sinh không thực hiệnđược
Trang 17Tôi đã làm khảo sát nhận thức về vai trò, ý nghĩa của tự học đối với nhómhọc sinh khối 10 trường THPT Thái Hòa và thu được kết quả như sau:
02 - Nâng cao tính tích cực hoạt động trí tuệ, phát huy trí thông minh 61
03 - Mở rộng vốn hiểu biết, tự bổ sung kiến thức và phát triển toàn
diện con người
47
04 - Phát huy tính tích cực, chủ động, độc lập, sáng tạo, tự giác trong
học tập
75
05 - Nâng cao khả năng phân tích, tổng hợp, khái quát 70
06 - Nâng cao khả năng vận dụng kiến thức vào bài tập, vào thực tế 85
07 - Nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập và có kết quả cao trong
kiểm tra, thi cử
70
08 - Hình thành tính kỷ luật tự giác và rèn luyện phong cách làm việc
khoa học
58
10 - Hình thành, biến đổi và phát triển nhân cách 51
Qua khảo sát cho thấy vai trò tự học “Phát huy tính tích cực, chủ động, độclập, sáng tạo, tự giác trong học tập” được học sinh cho rằng quan trọng hàng đầu.Các vai trò: Mở rộng vốn hiểu biết, tự bổ sung kiến thức và phát triển toàn diệncon người; chuẩn bị những khả năng để học tập suốt đời; hình thành, biến đổi vàphát triển nhân cách được đánh giá thấp cho thấy học sinh vẫn chưa hiểu rõ đượcvai trò, ý nghĩa của tự học
Như vậy muốn học sinh nhận thức đầy đủ về ý nghĩa, vai trò của tự học,
giáo viên bộ môn cùng với giáo viên chủ nhiệm cần phải thường xuyên nhắc nhở
học sinh trong các tiết học và có thể lồng ghép nội dung này vào các tiết hoạt độngngoài giờ lên lớp
Bước 2: Xây dựng kế hoạch học tập
Để tìm hiểu thực tế việc lập kế hoạch học tập của học sinh Tôi đã tiến hànhđiều tra, quan sát, trò chuyện, trao đổi, thống kê…với một số giáo viên và học sinh.Kết quả như sau:
* Ý kiến tự đánh giá của học sinh: Chỉ có 40% học sinh tự nhận là có lập kếhoạch tự học trong đó 71% học sinh tự làm kế hoạch còn lại 29% học sinh có sựgiúp đỡ của giáo viên, cha mẹ, anh, chị
* Ý kiến của giáo viên: Có 35% giáo viên cho rằng học sinh có lập kế hoạch
tự học Trong (71% HS lập kế hoạch tự học) đó:
Trang 18- HS lập kế hoạch tự học từng ngày: 64%
- HS lập kế hoạch tự học từng tuần: 3,5%
- HS lập kế hoạch tự học từng tháng: 2%
- HS lập kế hoạch tự học từng năm học: 1,5%
Để thuận lợi trong quá trình học sinh lập kế hoạch học tập, giáo viên cần
hướng dẫn cho học sinh cách xây dựng kế hoạch học tập, cung cấp đầy đủ kếhoạch dạy và học của bộ môn cho các em Ngay từ tiết học đầu tiên của môn học,giáo viên cần phải giới thiệu sơ lược về chương trình, nội dung và phương pháphọc một cách khái quát nhất để học sinh hiểu và từ đó, tự xây dựng cho mình kếhoạch học tập phù hợp Giáo viên làm cho học sinh hiểu rõ: kế hoạch phải đượcxây dựng dựa trên mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể, học sinh có thể phấn đấuthực hiện được từng mục tiêu nếu có kế hoạch thời gian được xây dựng chi tiết.Chẳng hạn, trong quá trình giảng dạy mỗi chương, giáo viên sẽ cung cấp nội dung
và thời gian học và kiểm tra để học sinh nắm rõ Đồng thời, giáo viên có thể chohọc sinh đánh dấu vào trong sách bài nào học ngày nào, đến tiết nào sẽ kiểm tra
Bước 3: Xây dựng phương pháp tự học.
Sử dụng phiếu hỏi và trao đổi trực tiếp với một số học sinh về các phươngpháp tự học đang sử dụng, chúng tôi thu được kết quả như sau:
TT Mức độ sử dụng phương pháp
Thường xuyên (%)
Thỉnh thoảng (%)
Chưa bao giờ (%)
04 Hệ thống hóa và khái quát hóa kiến
Qua bảng điều tra cho thấy hầu hết HS đều biết sử dụng phương pháp tự họctheo nhiều cách khác nhau Trong đó phương pháp được sử dụng thường xuyênnhất là học thuộc lòng bài giảng trước khi lên lớp chiếm đến 86,3% Phương phápđọc tài liệu tham khảo và SGK thường xuyên chiếm tỉ lệ 75,4% và học sinh chorằng tất cả các môn học chứa đựng dung lượng kiến thức nhiều trong lúc thờilượng của môn học trên lớp không tiếp thu đầy đủ được
Kết quả điều tra còn cho thấy việc sử dụng các phương pháp vận dụng kiếnthức để giải bài tập, hệ thống hóa và khái quát hóa kiến thức, làm đề cương và họctheo đề cương, tự kiểm tra đánh giá quá trình tự học chỉ sử dụng không thườngxuyên Những phương pháp này chỉ được sử dụng khi kiểm tra 1 tiết, thi học kì
Trang 19Điều này cho thấy sự hứng thú trong học tập của một số đông học sinh chưa đượcchú trọng, chưa chịu khó động não, tìm tòi trong quá trình tự học, không phát huytính tích cực và chủ động trong học tập Đặc biệt chưa biết phân tích, tổng hợp cácvấn đề của bài học
Như vậy, để nâng cao hiệu quả tự học của học sinh thì:
* Về phía GV:
- Chuẩn bị cho dạy học: Nghiên cứu tài liệu, soạn giáo án (Xác định mụctiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện ) gắn với đối tượng học sinh của trường,chú trọng đến việc thiết kế bài giảng theo hướng giúp học sinh ngay trong giờ họctrên lớp Thiết kế hệ thống các dạng bài tập nhận thức đảm bảo yêu cầu phù hợpmục tiêu bài học nhằm giúp học sinh lĩnh hội tri thức mới, củng cố, mở rộng, đàosâu kiến thức
- Quy định về việc dạy học trên lớp: Kiểm tra kết quả tự học của học sinh, tổchức giờ dạy trên lớp theo phương pháp dạy - tự học để năng cao năng lực tự họccho học sinh Kết thúc mỗi tiết giáo viên giao nhiệm vụ tự học cho học sinh tùytheo mức độ đối tượng học sinh và yêu cầu hoàn thành nhiệm vụ tự học
Chùm ảnh minh họa: Học sinh hăng hái thực hiện các nhiệm vụ tự học
- Về kiểm tra đánh giá: Tăng cường việc kiểm tra bài, kết quả tự học của họcsinh thông qua các hình thức trực tiếp như (kiểm tra miệng, viết (15 phút) trước khivào bài mới, lồng ghép vào bài, củng cố) hoặc kiểm tra bằng hình thức gián tiếp
Trang 20thông qua các phần mềm Nội dung kiểm tra bám sát vào những yêu cầu bài tập,nhiệm vụ tự học giáo viên đã giao Sau các bài kiểm tra một tiết, kiểm tra kết thúchọc kì, năm học cần bố trí tiết trả bài và giải quyết những vấn đề học sinh còn thắcmắc.
- Động viên, khuyến khích, kích thích các hoạt động tự học của học sinh
* Về phía học sinh:
- Cần biết xác định mục tiêu học tập, nội dung cần học, lên kế hoạch tự học
- Xác định kiến thức, kĩ năng cơ bản thuộc mỗi nội dung hay chủ đề
- Hệ thống hoá kiến thức
- Học sinh cần biết tự thể hiện, tham gia quá trình thảo luận, biết tự đánh giá,
tự điều chỉnh bản thân và biết vận dụng kiến thức đã học vào các tình huống thựctiễn
- Nắm được phương pháp và kỹ thuật tự học thông dụng, bao gồm: kỹ thuậtnghe, ghi chép bài, đọc bài hiệu quả, cách ghi nhớ thông tin, sử dụng bản đồ tư duy
và ứng dụng công nghệ thông tin trong tự học
- Biết lập kế hoạch học tập bộ môn: (GV có thể trợ giúp cho học sinh)
Trang 21Trong học kì I năm học 2021 - 2022, tôi đã chọn bốn lớp 10H, 10A, 10C,
10M có điểm đầu vào tương đương để khảo sát hiệu quả áp dụng giải pháp Tôithấy rằng điểm trung bình môn của học sinh ở các lớp Tn có sự tiến bộ rõ rệt so vớicác lớp ĐC:
Số liệu khảo sát điểm trung bình môn:
Thực tế cho thấy đa số học sinh trường THPT Thái Hòa còn có những hạnchế trong việc xây dựng môi trường học tập tự học ở nhà như:
+ Chưa chú trọng đến việc xây dựng môi trường học tập ở nhà
+ Góc học tập còn sơ sài, chưa ngăn nắp, khoa học
+ Nhiều học sinh còn có thói quen tiện đâu học đó
Qua đó tôi đã làm khảo sát nhận thức về vai trò của việc xây dựng môitrường học tập tự học đối với học sinh khối 11 trường THPT Thái Hòa và thu đượckết quả là tới 90% các em đều cho rằng việc xây dựng môi trường tự học ngăn nắp,gọn gàng, khoa học giúp các em hứng thú, hưng phấn, thoải mái và tập trung hơnđối với việc học tập
Để giúp cho học sinh xây dựng được một môi trường học tập tự học hiệuquả ở nhà tôi thông qua những tiết học cũng như các tiết sinh hoạt đã lồng ghépviệc hướng dẫn cho học sinh xây dựng một môi trường học tập hiệu quả, khoa họcnhư sau:
Việc có được một góc học tập, một không gian học tập riêng giúp học sinh
có được sự hứng thú, khả năng tư duy, sáng tạo, thoải mái để có thể tự học ở nhàmột cách tốt nhất Để góc học tập sinh động, Học sinh có thể sắm cho mình mộtvài vật dụng dễ thương, có một chiếc đèn bàn, vì ánh sáng đèn bàn giúp gia tăngkhả năng tập trung Trên giá sách, nên đặt một lọ hoa nho nhỏ để có thêm chút tinhthần khi ngồi xuống bàn học
Trang 22Ảnh: Góc học tập của một số học sinh trường THPT Thái Hòa.
Ngoài ra có thể dán thêm hai mục tiêu: gần (trong ngày hôm đó) và xa (đỗ
ĐH, danh hiệu Học sinh giỏi của trường…), các em sẽ thấy cần phải có tráchnhiệm hơn với việc học của bản thân Góc học tập càng ngăn nắp bao nhiêu càngthấy tâm lý thoải mái, đơn giản và dễ thuộc bài hơn bấy nhiêu Có thể nói góc họctập là một trong những yếu tố giúp các em có được sự thoải mái cũng như gópphần quyết định trong việc tạo hứng thú cho việc tự học ở nhà
Trang 23Thông qua các buổi họp phụ huynh chúng tôi cũng đã tư vấn, trao đổi, thảoluận với các bậc phụ huynh để giúp các em học sinh tạo được một môi trường tựhọc hiệu quả tốt nhất Sau nhiều lần tư vấn, trao đổi, chúng tôi đã tạo phiếu thăm
dò đối với các bậc phụ huynh lớp 11G và kết qủa như sau:
TT Những công việc dưới đây cha mẹ học sinh đã thực hiện ở mức độ nào?
2 Hướng dẫn con phân bố thời gian giữa
việc học, giải trí, việc nhà và kết hợp
nghỉ ngơi hợp lí
28 (77.8) 5 (13.9) 3 (8.3)
3 Lập kế hoạch và sắp xếp việc học của
con để đạt mong muốn của cha mẹ
26 (72.2) 6 (16.7) 4 (11.1)
4 Tìm hiểu vốn kiến thức, khả năng tư
duy và tính cách của con để giúp con
tìm ra cách học phù hợp
26 (72.2) 5 (13.9) 5 (13.9)
5 Tạo điều kiện về không gian cho con tự
học ngoài thời gian con ở trường
31 (86.1) 4 (11.1) 1 (2.8)
6 Gặp gỡ Giáo viên để trao đổi tình hình
học tập của con mình
28 (77.8) 4 (11.1) 4 (11.1)
7 Trao đổi với Giáo viên về những việc
cần làm để giúp con tự học tại nhà
27 (75) 4 (11.1) 5 (13.9)
8 Mua sắm đầy đủ phương tiện tự học
(SGK, tài liệu tham khảo, từ điển,
Internet ) khi con cần
28 (77.8) 5 (13.9) 3 (83.3)
9 Đặt ra yêu cầu duy nhất đối với con là
tập trung vào học
32 (89.0) 2 (5.5) 2 (5.5)
Chú thích: 1: thường xuyên; 2: thỉnh thoảng; 3: Chưa thực hiện.
Như vậy, để có một môi trường cũng như điều kiện học tập tự học hiệu quảthì giáo viên bộ môn cần kết hợp với giáo viên chủ nhiệm cần hướng dẫn các emthông qua các tiết học, các buổi sinh hoạt lớp và thường xuyên trao đổi với cácbậc phụ huynh thông qua các kênh liên lạc, các buổi họp
Bước 2: Đảm bảo thời gian khoa học.
Qua khảo sát cho thấy, chỉ có khoảng 40% học sinh dành thời gian tập trungcho việc học ở nhà, trong đó có khoảng 65% học sinh tự giác học, còn lại 35% tựhọc nhưng dưới sự ép buộc của các bậc phụ huynh Số còn lại thì chỉ học qua loacho có học Nguyên nhân phần lớn do các em chưa biết sắp xếp thời gian học hợp
lí, khoa học dẫn tới hiệu quả tự học chưa cao
Trang 24Để giúp các em biết cách sắp xếp thời gian học hợp lí, giáo viên cần hướngdẫn cho học sinh và tư vấn cho phụ huynh bằng cách thiết lập thời khóa biểu họctại nhà và thực hiện nghiêm túc đúng như thời khóa biểu ở trường Thời khóa biểutại nhà dựa vào thời khóa biểu ở trường, chủ yếu là học bài cho ngày nay và mai.Tùy môn mà dành thời gian ít hoặc nhiều, không xem nhẹ, bỏ sót môn không phải
là môn khối Không có thời khóa biểu sẽ rơi vào tình trạng học tràn lan, không biếthọc môn nào trước môn nào sau, không giờ giấc, đây là điều rất thường thấy ởnhiều học sinh
Thời gian ở nhà khá nhiều nên thời khóa biểu có thể là ngày, đêm gồm 3phần:
- Học lại bài đã học trong ngày
- Ôn bài sẽ học ngày mai
- Nghiên cứu bài sẽ học ngày mai
Ba phần trên thấy đơn giản nhưng khối lượng công việc rất nhiều nên cầnphân phối thời gian hợp lý và quan trọng nhất là ý thức chấp hành việc thực hiệnthời khóa biểu
a Đối với những bài đã học tại lớp trong ngày:
- Phải học lại bài học vừa xong trong ngày vì sẽ dễ nhớ và làm bài tập dễdàng hơn Có nhiều điều quên nhưng lúc đó có thể hình dung, nhớ lại lời giảng củathầy, cô
- Phải trả lời cho được tất cả các câu hỏi của SGK, làm tất cả bài tập vì hầuhết các câu hỏi, bài tập đó là trọng tâm bài không thể để trôi qua dù là câu hỏi dễnhất
- Học lại bài vừa học ít ai thực hiện vì hầu hết chỉ lo bài ngày mai, mà nhưvậy là kiến thức vừa học để hôm sau sẽ quên hết, khi học lại sẽ như mới Vì thếnên thực hiện việc này trước rồi học bài cũ
- Khi học đã hiểu thấu đáo rồi thì việc học ôn lại của hôm sau rất đơn giản
b Đối với việc học bài cũ.
- Môn học ngày mai ít khi trùng với hôm nay, thế nhưng nhờ đã hiểu bài từtrước nên việc ôn lại sẽ ít tốn thời gian
- Hạn chế việc học thuộc lòng từng câu, từng từ trong sách hoặc bài giảng vìnhư vậy sức đâu mà nhớ Hiển nhiên là loại trừ những điều bắt buộc
- Tập thói quen nắm ý chính của mỗi phần rồi từ đó diễn đạt theo ý củamình
- Học bài nào chắc bài đó, cần phải hiểu rõ nội dung chính mới nhớ lâu vàcũng là cơ sở chắc chắn để học tốt bài tiếp theo