Phương pháp này giúp học sinh nhận thức sâu sắc hơn nội dung địa lý đang học, phát triển trí tuệ và giáo dục các phẩm chất nhân cách cho người học, có tác dụng to lớn trong tạo hứng thú
Trang 1Bộ mụn : Địa lý Tỏc giả : Cao Thị Thương
Tổ bộ mụn : Khoa học xó hội Năm học : 2021 – 2022
Sử dụng ph-ơng pháp ĐóNG VAI trong DạY HọC
địa lý nhằm phát TRIểN PHẩM CHấT, NĂNG LựC Và
GóP PHầN ĐịNH HƯớNG NGHề NGHIệP CHO HọC SINH
ở TRƯờNG TRUNG HọC PHổ THÔNG
Trang 2MỤC LỤC
Trang
1.1 Dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực 4 1.2 Tổng hợp các tổ hợp xét tuyển và các ngành học có môn Địa lý 7 1.3 Phương pháp đóng vai và vai trò của phương pháp đóng vai trong
phát triển phẩm chất, năng lực và định hướng nghề nghiệp cho học sinh
11
1.3.2 Vai trò của PPĐV trong phát triển phẩm chất, năng lực và định
hướng nghề nghiệp cho học sinh
11
2.1 Thực trạng nhận thức của giáo viên về sử dụng phương pháp đóng
vai nhằm phát triển phẩm chất, năng lực và định hướng nghề nghiệp
II TỔ CHỨC DẠY HỌC ĐÓNG VAI TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÝ
Ở TRƯỜNG THPT NHẰM PHÁT TRIỂN PHẨM CHẤT, NĂNG
LỰC VÀ ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP
15
1 Nguyên tắc sử dụng PPĐV trong dạy học địa lý phát triển phẩm chất,
năng lực và định hướng nghề nghiệp
15
Trang 32 Cách thức sử dụng các dạng đóng vai trong dạy học Địa lí phát triển
phẩm chất, năng lực và định hướng nghề nghiệp
Trang 4DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Chữ cái viết tắt / Ký hiệu Cụm từ đầy đủ
Trang 51
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
I Lí do chọn đề tài
Ngày nay, khi nền kinh tế nước ta ngày càng phát triển, đặt ra yêu cầu bức thiết
về nguồn lao động trí thức cao Trong bối cảnh đó, vai trò của giáo dục càng trở nên quan trọng Nghị quyết số 29 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI ra đời
đã tạo điều kiện để toàn ngành Giáo dục và đào tạo tập trung đổi mới căn bản và toàn diện Theo đó, đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực được coi là “chìa khóa” của đổi mới giáo dục Đặc biệt khi triển khai Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 thì vấn đề này được xem như “ mắt xích” không thể thiếu để tiến tới thành công
Trong quá trình dạy học phát triển năng lực, giáo viên không phải đóng vai như các phát thanh viên để truyền lại những thông tin được in sẵn trong sách giáo khoa Ngược lại, chúng ta phải nhập vai như các nhà tổ chức thực thụ, hướng dẫn học sinh hoạt động Dạy học phát triển năng lực hướng tới mục tiêu kép: vừa giúp học sinh chủ động lĩnh hội được kiến thức bài học, vừa phát triển được kĩ năng và hình thành được những phẩm chất đạo đức tốt đẹp ở các em
Đối với học sinh ở bậc THPT, các em còn đứng trước một bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời Đó là việc lựa chọn ngành nghề sao cho phù hợp với sở thích, nguyện vọng, năng lực của bản thân cũng như đáp ứng yêu cầu của xã hội về nhân lực Do vậy, nội dung giáo dục hướng nghiệp tiếp tục được lồng ghép, tích hợp vào các môn học và các hoạt động giáo dục, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện Qua đó, giúp cho HS có những quyết định lựa chọn nghề phù hợp với bản thân, với gia đình và với sự phát triển của xã hội, góp phần tăng năng suất lao động, thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội, rút ngắn khoảng cách về kinh tế - xã hội giữa Việt Nam và các nước trên thế giới
Trong các môn học ở trường phổ thông, địa lý là một môn khoa học tổng hợp vừa phản ánh tự nhiên vừa phản ánh kinh tế xã hội Hiện nay, môn địa lý có thể kết hợp với các môn học thuộc ban xã hội và cả ban tự nhiên trong xét và thi tuyển nhiều ngành nghề, mở ra nhiều cơ hội cho học sinh trong lựa chọn nghề nghiệp Tuy nhiên, không phải học sinh, bậc phụ huynh, hay cả những người làm công tác giáo dục đều biết, tìm hiểu, cập nhật được những xu hướng đó Từ đó dẫn đến tình trạng trong quá trình học tập, học sinh phần lớn không mặn mà và ít em lựa chọn môn học này để hướng tới ngành nghề trong tương lai Một số em học tốt và yêu thích môn địa lý nhưng hiểu biết, hình dung của các em về các ngành nghề liên quan đến môn học còn chưa thật sự đầy đủ Trước thực trạng đó, tôi luôn trăn trở về việc dạy học của mình: làm thế nào để các em học sinh yêu thích, có hứng thú với địa lý? Làm sao để các em có thể hình dung, hiểu biết trực quan nhất về những ngành nghề mà các em
có thể học và làm sau khi chọn địa lý để xét và thi tuyển vào Đại học? Trong thực tế dạy học địa lý ở trường chúng tôi trong những năm gần đây, các giáo viên đã tích cực đổi mới phương pháp dạy học, trong đó vận dụng có hiệu quả phương pháp đóng
Trang 62
vai Do đó các giờ học địa lý trở nên sinh động, học sinh hứng thú hơn trong tiếp nhận kiến thức Các em tự tin, mạnh dạn theo đuổi đam mê với môn học, ngành học Phương pháp đóng vai là một trong những phương pháp dạy học tích cực nhằm phát triển năng lực học sinh, phát huy cao độ tính tự giác, độc lập và sáng tạo của người học Phương pháp đóng vai làm phong phú thêm phương pháp dạy học của giáo viên, góp phần tích cực vào xu thế đổi mới phương pháp ở trường phổ thông hiện nay Phương pháp này giúp học sinh nhận thức sâu sắc hơn nội dung địa lý đang học, phát triển trí tuệ và giáo dục các phẩm chất nhân cách cho người học, có tác dụng to lớn trong tạo hứng thú và động cơ học tập cho học sinh, giáo dục kĩ năng sống và hướng nghiệp cho học sinh Phương pháp này đáp ứng được mục tiêu giáo dục mà UNESSCO đã đề ra: học để biết, học để làm, học để chung sống và học để
tự khẳng định mình
Nhằm nâng cao hiệu quả bài học, tạo cho học sinh thấy được lợi ích thiết thực
khi học môn địa lý, tôi áp dụng sáng kiến “ Sử dụng phương pháp đóng vai trong
dạy học địa lý nhằm phát triển phẩm chất, năng lực và góp phần định hướng nghề nghiệp cho học sinh ở trường trung học phổ thông”, với mong muốn chia sẻ những
kinh nghiệm hiểu biết của mình tới đồng nghiệp, áp dụng vào thực tiễn dạy học để nâng cao hơn nữa chất lượng bộ môn
II Mục đích nghiên cứu
- Vận dụng PPĐV nhằm phát triển phẩm chất, năng lực và định hướng các ngành nghề liên quan đến môn Địa lí
- Nâng cao hiệu quả bài học, tạo sự hứng thú và yêu thích môn học của học sinh
III Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Phương pháp đóng vai trong dạy học địa lý áp dụng cho nhiều bài học Địa lý THPT
- Khách thể nghiên cứu: quá trình dạy học môn địa lý ở trường THPT
- Đối tượng: học sinh THPT
IV Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lí luận: nghiên cứu tài liệu, các công trình nghiên cứu về phương pháp dạy học địa lý, về phương pháp đóng vai, về xu hướng nghề nghiệp, sách giáo khoa phổ thông, các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về đổi mới giáo dục và đào tạo,…
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm: khảo sát ý kiến của giáo viên, của học sinh
về PPĐV, về định hướng ngành nghề Dự giờ đồng nghiệp, trao đổi ý kiến với giáo viên, xây dựng hệ thống các câu hỏi, phiếu điều tra để điều tra thực trạng
- Phương pháp thống kê toán học: sử dụng phương pháp thống kê toán học để
xử lí kết quả thực nghiệm, rút ra kết luận, chứng minh tính khả thi của đề tài
V Tính mới của đề tài
Trang 73
Sử dụng PPĐV trong dạy học đã được tiến hành và áp dụng ở nhiều môn học như: GDCD, Ngữ văn…Trong những năm trở lại đây, do yêu cầu đổi mới dạy học, kiểm tra đánh giá và định hướng nghề nghiệp qua môn Địa lý, nhiều giáo viên đã quan tâm, trăn trở hơn đến các tiết dạy, áp dụng các phương pháp dạy học tích cực, đưa ra nhiều giải pháp Những biện pháp đó được đúc rút trong một số sáng kiến kinh nghiệm hay các đề tài nghiên cứu như:
- Sử dụng phương pháp đóng vai trong dạy học địa lý THPT – Tác giả Nguyễn
Mỹ Quỳnh Anh – trên 123docz.net
- Sử dụng phương pháp đóng vai trong dạy học địa lý Kinh tế xã hội lớp 10 –
đăng 18.01.2016 - trên 123docz.net
- Tích hợp giáo dục hướng nghiệp trong môn địa lý 12 THPT – Tác giả Nguyễn
Thị Luyến – Trường ĐHSP Hà Nội
Tuy nhiên, các sáng kiến trên chưa nêu được quy trình áp dụng đóng vai trong giờ học, cũng như chưa khai thác được tác dụng của phương pháp này trong định hướng ngành nghề thông qua việc tổ chức cho học sinh trực tiếp được tìm hiểu, trải nghiệm, quan sát trực quan về ngành nghề mình sẽ học, sẽ làm trong tương lai khi
các em lấy Địa lý là một trong những môn học để xét, thi tuyển Vì vậy, đề tài “ Sử
dụng phương pháp đóng vai trong dạy học địa lý nhằm phát triển phẩm chất, năng lực và góp phần định hướng nghề nghiệp cho học sinh ở trường trung học phổ thông” đã hệ thống được quy trình thiết kế và sử dụng đa dạng, phù hợp các vai
diễn, góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả dạy học môn Địa lý
VI Tính khả thi của đề tài
- Đề tài áp dụng được rộng rãi trong quá trình dạy học Địa lý ở trường THPT, phù hợp với mọi đối tượng học sinh và các trường học
Trang 84
PHẦN II: NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1 Cơ sở lí luận
1.1 Dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực
Chương trình giáo dục định hướng năng lực (định hướng phát triển năng lực)
nay còn gọi là dạy học định hướng kết quả đầu ra được bàn đến nhiều từ những năm
90 của thế kỷ 20 và ngày nay đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế Giáo dục định hướng năng lực nhằm mục tiêu phát triển năng lực người học
Giáo dục định hướng năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp Chương trình này nhấn mạnh vai trò của người học với tư cách chủ thể của quá trình nhận thức
Chương trình dạy học định hướng năng lực không quy định những nội dung dạy học chi tiết mà quy định những kết quả đầu ra mong muốn của quá trình giáo dục, trên cở sở đó đưa ra những hướng dẫn chung về việc lựa chọn nội dung, phương pháp, tổ chức và đánh giá kết quả dạy học nhằm đảm bảo thực hiện được mục tiêu dạy học tức là đạt được kết quả đầu ra mong muốn Trong chương trình định hướng năng lực, mục tiêu học tập, tức là kết quả học tập mong muốn thường được mô tả thông qua hệ thống các năng lực (Competency) Kết quả học tập mong muốn được
mô tả chi tiết và có thể quan sát, đánh giá được Học sinh cần đạt được những kết quả yêu cầu đã quy định trong chương trình Việc đưa ra các chuẩn đào tạo cũng là nhằm đảm bảo quản lý chất lượng giáo dục theo định hướng kết quả đầu ra
Qua nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm các nước phát triển, đối chiếu với yêu cầu và điều kiện giáo dục trong nước những năm sắp tới, các nhà khoa học giáo dục Việt Nam đã đề xuất định hướng chuẩn đầu ra về phẩm chất và năng lực của chương trình giáo dục trung học phổ thông những năm sắp tới Theo đó, chương trình dạy học định hướng năng lực hình thành cho người học các phẩm chất cơ bản là:
- Yêu gia đình, quê hương, đất nước;
- Nhân ái, khoan dung;
- Trung thực, tự trọng, chí công vô tư;
- Tự lập, tự tin, tự chủ và có tinh thần vượt khó;
- Có trách nhiệm với bản thân, cộng đồng, đất nước, nhân loại và môi trường tự nhiên;
- Thực hiện nghĩa vụ đạo đức, tôn trọng, chấp hành kỷ luật, pháp luật
Các năng lực chung được chú trọng hình thành bao gồm:
- Năng lực tự học;
Trang 9Bảng 1: Yêu cầu cần đạt về năng lực đặc thù của môn Địa lí
Thành phần
Nhận thức khoa học địa lí
Nhận thức thế
giới theo quan
điểm không gian
- Sử dụng được bản đồ địa hình kết hợp địa bàn để xác định vị trí của một điểm trên thực địa, trên bản đồ và giải thích
- Phân tích được ý nghĩa của vị trí địa lí đối với tự nhiên, phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng
- Sử dụng được lược đồ trí nhớ để mô tả nhận thức về không gian; sử dụng bản đồ hoặc lược đồ để trình bày về mối quan hệ không gian của các đối tượng địa lí…
- Giải thích được các sự vật, hiện tượng; sự phân bố, đặc điểm, quá trình phát triển về kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia, khu vực
và ở Việt Nam
- Giải thích được các sự vật, hiện tượng, quá trình kinh tế - xã hội trên cơ sở vận dụng mối liên hệ và tác động của tự nhiên
Trang 106
- Giải thích được những hệ quả do con người tác động đến môi trường tự nhiên; giải thích được tính cấp thiết của việc sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường
- Đọc được bản đồ để khai thác thông tin, kiến thức cần thiết; khai thác được các kênh thông tin bổ sung (biểu đồ, tranh ảnh, )
từ bản đồ, atlat địa lí; đọc được lát cắt địa hình; sử dụng được một số bản đồ thông dụng trong thực tế
- Thực hiện được một số tính toán đơn; nhận xét, phân tích được bảng số liệu thống kê; xây dựng được bảng thống kê có cấu trúc phù hợp với ý tưởng phân tích số liệu…
- Nhận xét được biểu đồ và giải thích…
Tổ chức học tập ở
thực địa
- Xây dựng được kế hoạch, sử dụng được những kĩ năng cần thiết để thu thập tài liệu sơ cấp,trình bày được thông tin khi học tập ngoài thực địa
Khai thác Internet
phục vụ môn học
- Tìm kiếm, thu thập, chọn lọc và hệ thống hoá, được các thông tin địa lí cần thiết từ các trang web; đánh giá và sử dụng được các thông tin trong học tập và thực tiễn
Thực hiện chủ đề
học tập khám phá
từ thực tiễn
- Trình bày ý tưởng và xác định được cụ thể chủ đề nghiên cứu
ở địa phương; vận dụng được kiến thức, kĩ năng địa lí vào việc nghiên cứu chủ đề, viết được báo cáo hoàn chỉnh và trình bày kết quả nghiên cứu theo các hình thức khác nhau
Vận dụng tri thức
địa lí giải quyết
- Vận dụng được các kiến thức, kĩ năng địa lí để giải quyết một
số vấn đề thực tiễn phù hợp với trình độ học sinh và ứng xử phù hợp với môi trường sống
Trang 117
một số vấn đề
thực tiễn
1.2 Tổng hợp các tổ hợp xét tuyển và các ngành học có môn Địa lý hiện nay
Chọn khối thi là vấn đề rất quan trọng đối với các học sinh có nguyện vọng xét tuyển cao đẳng, đại học Nhiều em còn băn khoăn không biết nên chọn khối nào cho phù hợp với năng lực Bảng tổng hợp dưới đây sẽ rất hữu ích cho các học sinh yêu thích học môn Địa lí và muốn dùng điểm Địa lí xét tuyển Đại học
Bảng 2: Các tổ hợp xét tuyển có môn Địa lí
STT Tên Tổ
hợp
Các môn xét tuyển
Trường xét tuyển
1 C00 Văn , Sử, Địa Học Viện Báo Chí –Tuyên Truyền,
Đại Học Giáo Dục - ĐHQGHN Học viện Tòa án
Khoa Luật – Đại Học Quốc Gia Hà Nội Trường Sĩ Quan Chính Trị - Đại Học Chính Trị
Đại học Kiếm Sát Hà Nội Học Viện Biên Phòng Học Viện Hành Chính Quốc Gia Học Viện Ngân Hàng
Đại Học Văn Hóa – Nghệ Thuật Quân Đội Đại Học Văn Hóa Hà Nội
Đại Học Công Đoàn Đại Học Luật TPHCM Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn – Đại Học Quốc Gia TPHCM
Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn – Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Đại học Luật - Đại Học Huế Đại Học Sư Phạm Hà Nội
….vv……
2 A04 Toán, Lý, Địa Đại Học Mỏ Địa Chất
Đại Học Kinh Doanh và Công Nghệ Hà Nội
Trang 128
Học Viện Quản Lý Giáo Dục
… vv…………
3 A06 Toán, Hóa, Địa Đại Học Mỏ Địa Chất
Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2 Đại Học Kinh Doanh và Công Nghệ Hà Nội
… vv…………
4 A07 Toán, Sử, Địa Đại Học Kinh Doanh và Công Nghệ Hà Nội
Đại Học Thái Bình Dương
… vv…………
5 A09 Toán, Địa lý,
Giáo dục công dân
Đại Học Kinh Doanh và Công Nghệ Hà Nội Đại Học Kinh Tế Công Nghiệp Long An
Đại Học Quy Nhơn
Trang 13Đại Học Kinh Tế – Đại Học Quốc Gia Hà Nội Đại Học Văn Hóa Hà Nội
Đại học Tài Chính Kế Toán
….vv…………
15 C20 Văn, Địa lí,
Giáo dục công dân
Đại Học Nội Vụ Đại Học Sư Phạm – Đại Học Huế Đại Học Sư Phạm – Đại Học Đà Nẵng Đại Học Khoa Học – Đại Học Huế Đại Học Sư Phạm – Đại Học Thái Nguyên
Đại Học Hàng Hải Đại Học Sư Phạm – Đại Học Thái Nguyên Khoa Du Lịch – Đại Học Huế
Đại Học Sư Phạm TPHCM Đại Học Kinh Doanh và Công Nghệ Hà Nội
Trang 1410
Đại Học Ngoại Ngữ – Đại Học Đà Nẵng Đại Học Ngoại Ngữ – Tin Học TPHCM Đại Học Công Nghiệp TPHCM
Đại Học Khoa Học – Đại Học Huế Đại Học Kinh Doanh và Công Nghệ Hà Nội Đại Học Quy Nhơn
Đại Học Kinh Tế -Tài Chính TPHCM Đại Học Sư Phạm – Đại Học Đà Nẵng
25 D43 Văn, Địa lí,
Tiếng Nhật
Đại Học Mở TPHCM Đại Học Ngoại Ngữ – Đại Học Huế
Trang 15Như vậy, với việc mở rộng thêm nhiều tổ hợp xét tuyển có môn Địa lí, học sinh
có thêm rất nhiều cơ hội để chọn ngành, chọn trường phù hợp năng lực, mong muốn,
sở thích, điều kiện của bản thân, gia đình và đáp ứng yêu cầu về nhân lực của xã hội Bên cạnh các ngành nghề truyền thống như giáo viên ở các cấp học, hay văn thư, nhà báo, luật sư…ở các cơ quan Nhà nước, thì hiện nay với sự đa dạng của các loại hình đào tạo, cũng như với xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, HS có cơ hội thử sức thêm ở nhiều lĩnh vực khác như phóng viên, biên tập viên, MC cho nhiều kênh truyền hình, làm content quảng cáo, làm cố vấn, tư vấn luật, nhân viên truyền thông, tổ chức sự kiện…cho các công ty, doanh nghiệp tư nhân, tập đoàn đa quốc
gia; làm hướng dẫn viên, quản trị và lữ hành du lịch…cho các công ty du lịch… 1.3 Phương pháp đóng vai và vai trò của phương pháp đóng vai trong phát triển phẩm chất, năng lực và định hướng nghề nghiệp cho học sinh
1.3.1 Khái niệm phương pháp đóng vai
Phương pháp đóng vai là một trong những PPDH tích cực, nhằm phát huy cao
độ tính tự giác, độc lập, sáng tạo của người học Theo định nghĩa của tài liệu Bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình sách giáo khoa lớp 10 năm 2006, thì “ Đóng vai là phương pháp tổ chức cho người học thực hành “ làm thử” một số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định” Với định nghĩa này các tác giả tiếp cận phương pháp đóng vai theo hướng nhấn mạnh vai trò của người học qua việc thể hiện quan điểm thái độ, hành vi của mình trước tình huống được giao Giáo viên nêu các tình huống mở để người học sáng tạo kịch bản, lời thoại phù hợp với nội dung,
Trang 1612
thông, phương pháp thuyết trình vẫn chiếm ưu thế, vì vậy điều này đã làm mất đi một hình thái của tư duy đó là tư duy sáng tạo Tư duy sáng tạo tập trung vào khám phá các ý tưởng, phát triển thành nhiều giải pháp, tìm ra những phương án trả lời đúng thay vì chỉ có một phương án
PPĐV có khả năng kích thích tư duy sáng tạo của người học (sáng tạo trong giải quyết tình huống, sáng tạo trong xây dựng kịch bản, thể hiện hình tượng nhân vật…) Do vậy PPĐV có thể kết hợp với phương pháp thuyết trình để làm cho bài học sinh động, hạn chế nhược điểm và phát huy những ưu điểm của phương pháp dạy học truyền thống
PPĐV giúp học sinh nhận thức sâu sắc hơn nội dung địa lý đang học, phát triển trí tuệ và phẩm chất nhân cách cho HS Ngoài việc cung cấp kiến thức sát với nội dung bài học, đóng vai giúp phát triển khả năng tư duy, sáng tạo của người học, kích thích người học đưa ra nhiều ý tưởng mới cho bài học Phương pháp đóng vai giúp phát triển kĩ năng thực hành cho học sinh, gắn lí luận với thực tiễn, nhất là đóng vai tình huống Qua đó học sinh thể hiện kĩ năng và cách ứng xử của mình, là cơ hội thể hiện thái độ và tính cách trước đám đông
PPĐV có tác dụng to lớn trong tạo hứng thú và động cơ học tập cho học sinh Với chủ trương đổi mới phương pháp dạy học là học sinh tích cực chủ động tìm kiếm kiến thức, vì vậy mục tiêu giáo dục sẽ thay đổi theo các bước: Thái độ, hứng thú - Kĩ năng - Tri thức Hứng thú có vai trò quan trọng trong nâng cao tính tích cực, làm tăng hiệu quả nhận thức Phương pháp đóng vai mang lại hứng thú học tập cho học sinh vì trong quá trình đóng vai, học sinh được trao đổi giao lưu với thầy
cô, bạn bè, được thể hiện năng khiếu, thể hiện mình trước đám đông, hòa mình vào không khí lớp học sôi nổi, thoải mái, thân thiện, hấp dẫn Hứng thú là nguyên nhân hình thành động cơ học tập cho HS
PPĐV có tác dụng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh như kĩ năng giao tiếp, kĩ năng giải quyết tình huống, kĩ năng thuyết trình Đóng vai đòi hỏi HS phải chủ động trong quá trình học tập như một bên liên quan trong một kịch bản tưởng tượng hay thực, trong quá trình tham gia sẽ giúp HS hình thành kĩ năng giao tiếp giữa cá nhân – cá nhân, cá nhân - tập thể, từ đó giúp HS biết cách giao tiếp, ửng xử với bạn bè cùng trang lứa và những người xung quanh Thông qua đóng vai HS thể hiện nhận thức, thái độ trong tình huống cụ thể và phải có cách ứng xử phù hợp với tình huống
đó Qua các vai diễn, HS bộc lộ khả năng giao tiếp, tự giải quyết các tình huống trong cuộc sống…HS sẽ tự tin khi đứng trước đám đông và thấy mình cần cố gắng hơn nữa để vai diễn của mình nhận được sự khen ngợi từ mọi người…
PPĐV có tác dụng trong hướng nghiệp cho học sinh Thông qua đóng vai không chỉ tạo không khí học tập sôi nổi, khơi dậy hứng thú học tập cho học sinh mà còn có khả năng hình thành niềm đam mê nghề nghiệp trong quá trình tìm tòi, sáng tạo, xây dựng kịch bản, hóa thân vào vai diễn như: phóng viên, nhà báo , hướng dẫn viên du lịch, luật sư, kiểm soát viên, kỉ sư mỏ - địa chất…Ví dụ khi dạy bài 32 Địa lý 12:
Em hãy đóng vai kỉ sư mỏ - địa chất giới thiệu về các mỏ khoáng sản lớn của vùng
Trang 1713
Trung du và miền núi Bắc Bộ Hoặc đóng vai phóng viên của kênh truyền hình Nông
nghiệp - Nông thôn (VTC16) để giới thiệu về khả năng và hiện trạng phát triển cây
công nghiệp và cây đặc sản trong vùng… Hướng dẫn học sinh lựa chọn nhân vật
đóng vai có “chủ ý” còn giúp các em định hình trực quan hơn, rõ nét hơn, chân thực
hơn về công việc mình sẽ chọn và làm việc trong tương lai
2 Cơ sở thực tiễn
2.1 Thực trạng nhận thức của giáo viên về sử dụng phương pháp đóng vai
nhằm phát triển phẩm chất, năng lực và định hướng nghề nghiệp
Để có cơ sở thực tiễn cho việc ứng dụng PPĐV ở trường THPT đạt hiệu quả cao,
tôi đã tiến hành điều tra về nhận thức, mức độ sử dụng của 12 giáo viên dạy Địa lí ở
3 trường THPT: Phan Thúc Trực ( Yên Thành), Nguyễn Xuân Ôn và Diễn Châu 2 (
Diễn Châu) ( PHỤ LỤC 1 ) Kết quả thu được như sau:
Bảng 1: Kết quả khảo sát mức độ nhận thức của giáo viên về sử dụng PPĐV
trong dạy học ở trường THPT
- Học sinh được thể hiện mình trước đám đông
- Học sinh được phát triển năng lực địa lí
- Học sinh được trải nghiệm nghề nghiệp
2.2 Mức độ sử dụng PPĐV của giáo viên trong dạy học Địa lí
Để điều tra thực trạng vận dụng PPĐV trong dạy học Địa lí, tác giả đã tiến hành
điều tra các PPDH được các GV sử dụng Kết quả như sau:
Bảng 2: Thực trạng sử dụng các PPDH của GV trong dạy học Địa lí ở trường THPT
TT Các PPDH Thường xuyên Thỉnh thoảng Không sử dụng
Trang 182.3 Mức độ hứng thú của HS đối với các phương pháp dạy học của GV
Để tìm hiểu về mức độ hứng thú của HS đối với các PPDH mà GV thường sử dụng tôi đã tiến hành điều tra 100 HS khối 10,11,12 của 3 trường THPT ở trên, kết quả thu được như sau:
Bảng 3: Mức độ hứng thú của HS với các phương pháp mà GV đã sử dụng
Qua số liệu điều tra trên tôi thấy:
- Về phía giáo viên: 100% (12/12) GV được khảo sát đều khẳng định sự cần thiết
cả việc sử dụng PPĐV trong dạy học Các GV đã có nhận thức đúng đắn về tác dụng của PPĐV: 100% (12/12) GV đều cho rằng PPĐV kích thích sự hứng thú trong học tập, phát huy tính tích cực, độc lập sáng tạo của HS, 75% (9/12) GV cho rằng phương pháp này đảm bảo kiến thức vững chắc 100%(12/12) GV đều cho rằng nếu thực hiện đóng vai HS sẽ được thể hiện mình trước đám đông, 58 % (7/12) GV cho rằng
HS có cơ hội trải nghiệm nghề
Tuy nhiên qua số liệu điều tra ở bảng 2: Các phương pháp dạy học được các GV
sử dụng cho thấy: 100% GV trong dạy học sử dụng thường xuyên phương pháp
thuyết trình, 33% sử dụng phương pháp hoạt động nhóm, 17% sử dụng phương pháp trực quan Trong khi đó với PPĐV chỉ có 42% (5/12) GV được hỏi là thỉnh thoảng
sử dụng trong quá trình dạy học, 58%( 7/12) GV không sử dụng, còn sử dụng thường xuyên không có GV nào Điều này cho thấy giữa nhận thức, thái độ và hành động thực tế của GV còn có khoảng cách khá xa Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến việc cải tiến, đổi mới PPDH còn gặp nhiều khó khăn
- Về phía học sinh: Qua điều tra tôi thấy hầu hết các em rất thích thú khi được đóng vai trong giờ học Địa lí 85% HS rất thích và 15 % HS thích GV sử dụng PPĐV trong giờ học Địa lí Như vậy đây là một thuận lợi để giáo viên có thể áp dụng
Trang 1915
phương pháp này trong xu thể đổi mới PPDH hiện nay Tuy nhiên trong quá trình dạy học giáo viên rất ít khi sử dụng PPĐV, nếu có thì cũng chỉ trong các tiết thao giảng hoặc sinh hoạt chuyên đề Qua tìm hiểu tôi thấy nguyên nhân của thực trạng trên là do:
Các GV cho rằng PPĐV đòi hỏi đầu tư nhiều công sức, chuẩn bị mất thời gian Không phải nội dung nào cũng sử dụng PPĐV một cách hiệu quả, giáo viên phải mất thời gian chuẩn bị giáo án và triển khai đóng vai trên lớp
Năng lực, kĩ năng vận dụng PPĐV còn hạn chế, nhiều GV còn đang lúng túng chưa biết vận dụng PPĐV vào bài nào, tiến hành ra sao…, đó là những nguyên nhân làm cho giáo viên chưa mạnh dạn sử dụng PPĐV trong dạy học
Khả năng hợp tác của các HS cũng làm giảm hiệu quả sử dụng phương pháp này, các em chưa chủ động khi tham gia hoạt động nhóm
Chương trình môn học còn nặng về cung cấp kiến thức, giáo viên không có thời gian để sân khấu hóa lớp học
Thực tế đó cho thấy việc áp dụng PPĐV trong dạy học Địa lí là hết sức cần thiết
GV và HS đều hứng thú với PPĐV song vẫn gặp những khó khăn vướng mắc trong
quá trình thực hiện Với tư cách một giáo viên Địa lí, tôi cho rằng mình cần phải có
trách nhiệm, với một phạm vi nhỏ hơn – đó là làm cho học sinh yêu thích môn Địa
lí Để làm được điều đó, trước hết bản thân giáo viên phải thay đổi Để môn Địa lí không khô khan, tôi đưa các phương pháp dạy học tích cực vào giáo án, để trong
mỗi giờ học Địa lí, học sinh sẽ như đang là mình trong tương lai gần Thực tiễn đó
là cơ sở để tôi triển khai và thực hiện đề tài trong quá trình dạy học
II TỔ CHỨC DẠY HỌC ĐÓNG VAI TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÝ Ở TRƯỜNG THPT NHẰM PHÁT TRIỂN PHẨM CHẤT, NĂNG LỰC VÀ ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP
1 Nguyên tắc sử dụng PPĐV trong dạy học địa lý phát triển phẩm chất, năng lực và định hướng nghề nghiệp
Để thiết kế giờ học theo hướng phát triển năng lực của học sinh, tiến trình giờ học được tổ chức theo các hoạt động: khởi động, hình thành kiến thức, luyện tập, vận dụng và tìm tòi sáng tạo Tùy theo từng tiết học giáo viên có thể sử dụng PPĐV
ở các bước trên lớp hoặc chỉ tiến hành một số hoạt động nhất định như khởi động, hình thành kiến thức, luyện tập, tìm tòi sáng tạo PPĐV nhằm hướng tới phát triển phẩm chất, năng lực và định hướng nghề nghiệp Để thực hiện PPĐV có hiệu quả
GV cần chú ý các nguyên tắc:
- Đảm bảo khai thác kiến thức cơ bản, trọng tâm Giáo viên khi lựa chọn nội
dung có sử dụng phương pháp đóng vai thì bám sát chương trình sách giáo khoa để đạt được mục tiêu dạy học Mỗi bài cụ thể giáo viên cần cân nhắc lựa chọn nhân vật, tình huống để sử dụng phương pháp đóng vai
- Đảm bảo tính khả thi
Trang 2016
Khả thi về kịch bản: Kịch bản được xây dựng dựa vào mục tiêu, nội dung bài học, phải có kịch tính để gây sự hứng thú, gây sự chú ý, đồng thời kịch bản phải có tính giáo dục, bồi dưỡng cảm xúc, thẩm mĩ Vì vậy giáo viên cần hỗ trợ học sinh tìm nguồn tham khảo chính xác, và giáo viên phải kiểm duyệt trước khi học sinh diễn trước lớp
Khả thi về mặt thời gian: Đối với bài dạy nội khóa có sử dụng phương pháp đóng vai thì thời gian đóng vai trò quan trọng Với thời gian 45 phút, giáo viên cần cân đối giữa các hoạt động, chọn nội dung sử dụng phương pháp đóng vai phù hợp
- Đảm bảo phát triển phẩm chất, năng lực Hoạt động đóng vai phải phát huy
được tinh thần làm việc tập thể, khả năng hợp tác, làm việc nhóm của học sinh Qua hoạt động đóng vai HS phải làm việc nhóm, đòi hỏi sự tự giác và tích cực của tất cả các thành viên Vì vậy trong quá trình dạy học GV phải luôn chú ý quan sát, nắm bắt tâm lí từng đối tượng HS để có biện pháp lôi kéo các em vào bài học một cách
tự nhiên nhất GV yêu cầu phải có biên bản làm việc nhóm, có phân công nhiệm vụ
và đánh giá về tinh thần thái độ của từng thành viên Việc làm này sẽ giúp GV nắm bắt được tình hình của HS từ đó đưa ra những biện pháp cụ thể với mỗi đối tượng
- Đảm bảo nguyên tắc tự nguyện Khi tự nguyện các em sẽ chủ động, tích cực,
tự giác và sáng tạo trong khám phá tri thức
Tuy nhiên, PPĐV không khuyến khích ở các khâu lên lớp, tất cả nội dung bài học, GV chỉ nên chọn nội dung phù hợp để đóng vai tránh nhàm chán Trong quá trình lên lớp cần kết hợp nhiều phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực khác để tăng hiệu quả nội dung hoạt động dạy học Tình huống đóng vai phù hợp với lứa tuổi, trình độ học sinh và hoàn cảnh lớp học, số lượng vai diễn khoảng từ 2 – 4 người, không nên quá nhiều Tình huống không nên quá dài, cần khích lệ những học sinh nhút nhát cùng tham gia
2 Cách thức sử dụng các dạng đóng vai trong dạy học Địa lí phát triển phẩm chất, năng lực và định hướng nghề nghiệp
PPĐV có thể áp dụng qua các hoạt động ngoại khóa, hoặc trong kiểm tra đánh giá, tuy nhiên ở đề tài này tôi trình bày cách thức sử dụng trong bài dạy nội khóa Qua nghiên cứu và thực nghiệm trong các tiết dạy nội khóa, dựa vào mục đích sử dụng của giáo viên, tôi chia ra hai dạng đóng vai: Đóng đóng vai nhân vật giả định
và đóng vai tình huống Với các dạng đóng vai đó tôi sử dụng trong các hoạt động của một tiết học theo phát triển năng lực: Khởi động, hình thành kiến thức, củng cố,
tìm tòi mở rộng…
2.1 Đóng vai nhân vật giả định theo ngành nghề trong tương lai
Trang 2117
Khi đóng vai nhân vật giả định, học sinh sẽ tưởng tượng về nhân vật mình hóa thân qua vốn hiểu biết của mình trong cuộc sống Để phù hợp với mục tiêu dạy học phát triển phẩm chất, năng lực gắn với định hướng nghề, GV nên ưu tiên lựa chọn những vai diễn như phóng viên, biên tập viên, người dẫn chương trình, nhà báo, hướng dẫn viên du lịch, giáo viên, kỉ sư mỏ - địa chất, chính trị viên, luật sư, trợ lí luật sư, thẩm phán hoặc thư kí tòa án…
Các bước thực hiện đóng vai nhân vật giả định
Bước 1: GV dựa vào kiến thức nội dung bài học để lựa chọn việc áp dụng PPĐV
hợp lí
Bước 2: Giao nhiệm vụ đóng vai cho các nhóm về chuẩn bị, xây dựng kịch bản,
phân công đóng vai
Bước 3: Các nhóm thông qua kịch bản với GV và tiến hành tập diễn
Bước 4: Các nhóm diễn trên lớp
Bước 5: Nhận xét của HS, GV về: sự sáng tạo trong thể hiện nhân vật, đúng/ sai
về nội dung, những thông tin cần bổ sung…
Việc xây dựng kịch bản và tập diễn do học sinh tiến hành trước khi đến lớp, tức
là có sự chuẩn bị trước Giáo viên là người chỉ dẫn, sửa kịch bản, tổng duyệt trước khi học sinh diễn trước tập thể lớp Dựa vào nội dung bài học, GV quy định cụ thể thời gian đóng vai cho học sinh để không làm ảnh hưởng đến tiến trình bài học Đóng vai nhân vật giả định đòi hỏi HS phải tưởng tượng, phải có vốn kiến thức cuộc sống phong phú thì vai diễn mới sinh động và hấp dẫn Dựa trên những thông tin, dữ liệu hỗ trợ mà giáo viên sẽ cung cấp, các em hóa thân vào nhân vật, thông qua công việc họ đã và đang làm để trình bày về những vấn đề địa lí gắn với nội dung bài học
Đối với dạng đóng vai này giáo viên có thể áp dụng cho phần khởi động bài học hoặc khai thác một mục của sách giáo khoa, hoặc hoạt động tìm tòi mở rộng Với kiểu đóng vai nhân vật giả định sẽ giúp học sinh có những trải nghiệm thú vị Học sinh thông qua vai diễn tự tưởng tượng, các em sẽ bộc lộ được khả năng tự nhận thức, khả năng giao tiếp, tự giải quyết vấn đề, được trải nghiệm nghề nghiệp theo cách thức trực quan sinh động, được rèn luyện khả năng thực hành, điều chỉnh hành
vi thái độ theo hướng tích cực trong cuộc sống
Đây là trường hợp đóng vai mà nhóm chuyên môn chúng tôi thường áp dụng trong quá trình dạy học, qua thực tế dự giờ đồng nghiệp và thực hiện nghiên cứu bài học chúng tôi thấy cách tổ chức này nhận được sự phản hồi tích cực từ học sinh và tạo ra sự hứng thú trong quá trình học tập
Ví dụ: khi dạy phần Địa lí khu vực và quốc gia – địa lí 11, HS đóng vai hướng dẫn viên du lịch giới thiệu về đặc điểm tự nhiên, dân cư, văn hóa, xã hội của Hoa
Kì, Liên Bang Nga, Nhật Bản, Trung Quốc, Đông Nam Á Còn thầy, cô và các bạn trong lớp là du khách trong hành trình du lịch đó Cùng nội dung trên, HS còn có thể
Trang 22Với dạng vai phóng viên, nhà báo, GV có thể vận dụng vào rất nhiều bài học Chẳng hạn như: phóng viên báo Người lao động phỏng vấn Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội về phương hướng giải quyết việc làm ( bài 17, địa lí 12); phóng viên báo Kinh tế phỏng vấn Bộ trưởng Bộ Công nghiệp về hướng hoàn thiện
cơ cấu ngành công nghiệp (bài 26, địa lí 12), phỏng vấn Giám đốc Sở Nông nghiệp Tỉnh Đắc Lắc về giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội sản xuất cây công nghiệp lâu năm ở Tây Nguyên ( bài 37, địa lí 12)… Hay phóng viên Vietnam net đưa tin, làm phóng sự, làm phim tài liệu giới thiệu về tiềm năng, hiện trạng phát triển cây công nghiệp ở Trung du miền núi Bắc Bộ ( bài 32, lớp 12); về hiện trạng khai thác lãnh thổ theo chiều sâu trong công nghiệp của Đông Nam Bộ ( bài 39, lớp 12)…Hay viết mẫu tin, viết bài báo ngắn , vẽ tranh tuyên truyền, vận động bảo vệ môi trường, sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên ( bài 41, 42 lớp 10)…
GV tổ chức cho HS đóng vai một chính trị viên làm việc ở quần đảo Trường Sa, tuyên truyền đến các bạn HS về ý nghĩa chiến lược của các đảo, quần đảo trong phát triển kinh tế và bảo vệ an ninh vùng biển của đất nước; đóng vai sinh viên trường
ĐH Mỏ - địa chất đi tham quan, khảo sát thực tế và làm báo cáo về hiện trạng khai thác dầu khí vùng biển và thềm lục địa ( bài 42, lớp 12)…
Khi tổ chức tranh luận về một vấn đề địa lí, GV có thể sử dụng đóng vai trong hoạt động nhóm dưới hình thức là một phiên tòa xét xử các vụ án về kinh tế, môi trường, dân sự, hình sự… Với cách này GV đưa ra tình huống gợi mở cho học sinh suy nghĩ, đánh giá vấn đề theo những chiều hướng khác nhau HS sẽ đưa ra ý kiến
để bảo vệ quan điểm của mình, đồng thời thuyết phục đối phương theo ý kiến đó bằng những lập luận lí lẽ, bằng chứng xác thực…Với phương pháp này sẽ phát triển
tư duy phản biện cho học sinh
Ví dụ khi dạy về chủ đề Đô thị hóa ở lớp 10, GV có thể tổ chức thảo luận về tác động tích cực và tiêu cực của đô thị hóa Trong đó nhóm 1: nhóm theo quan điểm
đề cao những mặt thuận lợi mà đô thị hóa tạo ra trong quá trình phát triển kinh tế -
xã hội Nhóm 2: Lên án những tồn tại của đô thị hóa, nhất là về mặt xã hội và môi trường Nhóm 3 đóng vai là hội đồng xét xử điều hành phiên tòa khi phiên tòa diễn
ra Phiên tòa có sự tham gia của các diễn viên là luật sư, thư kí tòa án, thẩm phán…
Sử dụng đóng vai nhân vật giả định vào hoạt động khởi động bài học
Ví dụ 1: Thiết kế đóng vai sử dụng cho hoạt động khởi động Bài 9: Thiên nhiên
nhiệt đới ẩm gió mùa (Địa lí 12-Ban cơ bản)
Trang 23- Kích thích hứng thú tìm hiểu nội dung bài học
- Phát triển năng lực tự học, năng lực công nghệ thông tin, năng lực ngôn ngữ, hợp tác và giao tiếp trong quá trình thảo luận, tìm kiếm thông tin, hình ảnh, thiết
kế, trình bày bản tin
- Rèn luyện năng lực đặc thù: rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ, khai thác thông tin về các bản dự báo thời tiết từ Internet phục vụ môn học
- Định hướng nghề: biên tập viên – MC thời tiết
Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
1 Chuẩn bị:
Giáo viên giao nhiệm vụ đóng vai biên
tập viên – dẫn chương trình thời tiết của
Ban thời sự - Đài truyền hình Việt Nam
cho các nhóm học sinh chuẩn bị từ tiết
học trước
- Nhiệm vụ :
+ Mỗi nhóm chọn 1 nhân vật và cử đại
diện đóng vai nhân vật
+ GV yêu cầu các em biên tập và dẫn
một bản tin thời tiết ( 1 bản tin vào tháng
1 và 1 bản tin vào tháng 7)
+ Thời gian trình bày: mỗi bản tin 2
phút
+ Sau khi lựa chọn vai diễn các nhóm
thống nhất nội dung để thực hiện nhiệm
vụ
2 Tiến hành trên lớp :
- Sau khi học sinh trình bày xong vai
diễn, GV cho HS nhận xét về phần diễn
xuất của bạn, tuyên bố vai diễn xuất sắc
nhất và phát vấn:
+ Em hãy cho biết 2 bản tin thời tiết trên
phản ánh hoạt động của loại gió nào ở
nước ta?
- Học sinh xung phong tham gia đóng vai và chuẩn bị chu đáo vai diễn trước tiết học
- Các HS khác quan sát và nhận xét phần diễn của bạn
- Học sinh vận dụng hiểu biết trả lời: + Bản tin về hoạt động của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam
+ Ảnh hưởng: gió mùa Đông Bắc làm miền Bắc thời tiết lạnh ; gió mùa Tây Nam làm miền Bắc và miền Nam có mưa, miền Trung bị Phơn khô nóng
Trang 2420
+ Qua 2 bản tin của các bạn em thấy
các loại gió trên tác động như thế nào
đến khí hậu nước ta?
- Giáo viên đưa ra thông tin phản hồi và
giới thiệu vào nội dung bài học:
Nước ta nằm trong khu vực có gió Tín
phong hoạt động thường xuyên Ngoài
ra trong năm, nước ta còn chịu ảnh
hưởng của 2 luồng gió thổi theo mùa, đó
là gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây
Nam Gió mùa đã tác động sâu sắc đến
thời tiết và khí hậu nước ta Vậy gió mùa
có đặc điểm gì? Chúng ta sẽ tìm hiểu
trong bài học hôm nay
- Học sinh lắng nghe, từ kiến thức cũ liên hệ đến những vấn đề sẽ đặt ra trong bài mới theo sự dẫn dắt của giáo viên
Ví dụ 2: Thiết kế đóng vai sử dụng cho hoạt động khởi động Bài 37: Địa lí các
ngành giao thông vận tải (Địa lí 10 - Ban cơ bản)
Hoạt động khởi động (5 phút)
Tổ chức đóng vai Trưởng phòng và các nhân viên trong công ty quản trị du lịch
và lữ hành Vietravel – Chi nhánh Vinh – Nghệ An
Mục tiêu:
- Kích thích hứng thú học tập, có hiểu biết ban đầu về các ngành giao thông vận tải
- Phát triển năng lực giao tiếp, ngôn ngữ Phẩm chất chăm chỉ, trách nhiệm
- Rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với thực tiễn thông qua tìm hiểu, lựa chọn loại hình giao thông phù hợp; năng lực khai thác Internet phục vụ môn học thông qua tìm kiếm thông tin về cách tổ chức một cuộc họp…
- Định hướng nghề: quản lí, nhân viên làm việc trong lĩnh vực du lịch
Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
1 Chuẩn bị:
Giáo viên giao nhiệm vụ đóng vai Trưởng
phòng và các nhân viên trong công ty quản
Trang 2521
+ GV yêu cầu các em tổ chức 1 cuộc họp
báo cáo kết quả lựa chọn loại hình vận tải
phù hợp cho 3 đoàn khách du lịch (1 đoàn
khách đi châu Âu, 1 đoàn khách đi Ninh
Bình - Sa Pa, 1 đoàn khách đi vùng Đồng
bằng sông Cửu Long)
+ Thời gian trình bày: 3 phút
+ Sau khi lựa chọn vai diễn các nhóm thống
nhất nội dung để thực hiện nhiệm vụ
2 Tiến hành trên lớp :
- GV : Mời các em theo dõi buổi họp ngắn
tại công ty quản trị du lịch và lữ hành
Vietravel
Sau khi học sinh trình bày xong vai diễn,
GV gửi lời cảm ơn đến cho HS nhận xét về
phần diễn xuất của bạn, tuyên bố vai diễn
xuất sắc nhất và phát vấn:
- Em hãy cho biết trong cuộc họp vừa rồi,
các nhân viên đã nhắc đến những loại hình
vận tải nào?
- Theo em vì sao các nhân viên lại lựa chọn
phương tiện đi lại khác nhau cho từng đoàn
khách?
3 Giáo viên đưa ra thông tin phản hồi và
giới thiệu vào nội dung bài học:
Trên thế giới hiện nay có 6 loại hình giao
thông vận tải chính với những ưu, nhược
điểm và khả năng vận tải khác nhau Sự
phát triển và phân bố mạng lưới các ngành
này có sự gắn bó mật thiết và chịu sự tác
động mạnh mẽ với nhu cầu vận chuyển
hàng hóa và hành khách Trong bài học
hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu về những vấn
đề đó
- HS tiến hành vai diễn
- Các HS khác quan sát và nhận xét phần diễn của bạn
- Học sinh vận dụng hiểu biết trả lời:
+ Các loại hình : đường hàng không, đường bộ, đường sông, đường sắt
+ Nguyên nhân : do ưu, nhược điểm của từng loại hình vận tải và nhu cầu khác nhau của khách hàng
- Học sinh lắng nghe, từ kiến thức
Trang 2622
Ví dụ 1: Sử dụng PPĐV khi dạy bài 32: Vấn đề khai thác thế mạnh ở Trung du
và miền núi Bắc Bộ ( Địa li 12 – Cơ bản)
Hoạt động tìm hiểu: Khai thác, chế biến khoáng sản và thủy điện
- Hình thành ý thức học tập chăm chỉ việc xây dựng quê hương đất nước
- Năng lực chung: tự học; giải quyết vấn đề; hợp tác; giao tiếp
- Năng lực chuyên biệt: sử dụng bản đồ, sơ đồ của vùng, tư duy lãnh thổ
Cách thức: đóng vai, phát vấn…
Hoạt động của GV Hoạt động của học sinh
A - Chuẩn bị
GV giao nhiệm vụ từ tiết học trước:
- GV nêu tình huống yêu cầu học sinh
đóng vai các sinh viên của khoa Địa chất
học – trường Đại học Mỏ - địa chất Hà Nội
để tìm hiểu về tiềm năng, hiện trạng khai
thác, chế biến khoáng sản và thủy điện của
vùng
- Thời gian cho HS trình bày sản phẩm là
2 phút
- Mỗi nhóm sẽ chọn một lĩnh vực để thể
hiện: khoáng sản năng lượng, kim loại, phi
kim, thủy điện và chọn người phụ trách
chính
- Các nhóm bàn bạc thống nhất kịch bản
và thông qua kịch bản với GV Sau khi
kịch bản được thông qua HS sẽ đóng vai
theo kế hoạch đã thống nhất
B - Thực hiện trong giờ học
- GV: Tiếp nối bài học, chúng ta hãy đến
với 4 đoạn báo cáo khảo sát ngắn của các
sinh viên khoa Địa chất học – trường Đại
- HS xung phong thực hiện nhiệm vụ
- HS thể hiện vai diễn được phân công
, kết hợp với trình chiếu tư liệu hỗ trợ
Trang 2723
học Mỏ - địa chất Hà Nội để tìm hiểu về
tiềm năng, hiện trạng khai thác, chế biến
khoáng sản và thủy điện của vùng
- Trên cơ sở trình bày của HS ở các nhóm
GV yêu cầu HS làm việc cặp đôi, lập bảng:
+ Khoáng sản chủ yếu, tên các mỏ chính,
sản lượng khai thác, khó khăn trong khai
thác
+ Các sông chính, các nhà máy điện, công
suất, khó khăn trong khai thác
- GV chốt ý: Đây là vùng giàu khoáng sản
và có trữ năng thủy điện lớn nhất nước ta
Giúp vùng hình thành cơ cấu công nghiệp
đa dạng
- Thực hiện nhiệm vụ được giao
Ví dụ 2: Khi dạy chủ đề Địa lí dân cư ( Địa lí 12 – Cơ bản), GV tổ chức HS đóng
vai phiên tòa giả định để tranh luận về vấn đề: Ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta Với chủ đề này GV tổ chức dạy 3 tiết, phần
tổ chức tranh luận được tiến hành ở tiết 3
A Chuẩn bị: Sau khi học xong 2 tiết của chủ đề, để chuẩn bị cho chủ đề 3, GV
yêu cầu HS về nhà tìm hiểu tác động tích cực và hạn chế của quá trình đô thị hóa ở nước ta GV chia lớp thành 3 nhóm ( nhóm được lựa chọn theo hình thức bốc thăm ngẫu nhiên) Các nhóm bầu nhóm trưởng làm luật sư đại diện (2 người) và thẩm phán ( 1 người), thư kí Toà án ( 1 người)
Nhóm 1: Ghi nhận tác động tích cực của đô thị hóa
Nhóm 2: Phê phán những hệ lụy về kinh tế, xã hội, môi trường của đô thị hóa Nhóm 3: Đóng vai là Hội đồng của phiên tòa xét xử
Nhóm 3: Hội đồng xét xử phiên tòa Nhóm 1: Đô thị hóa tạo ra nhiều thuận
lợi
Nhóm 2: Đô thị hóa có nhiều tác động tiêu cực
Nhiệm vụ cụ thể của các nhóm
Trang 2824
Nhóm 1: đưa ra các luận điểm để bảo về
quan điểm của mình
Nhóm 2: đưa ra các luận điểm bảo vệ quan điểm của nhóm mình
Nhóm 1: phản biện các luận điểm của
B Tiến hành dạy trên lớp:
- Đại diện hội đồng phiên toà đọc vấn đề tranh luận“ Đô thị hóa ở nước ta diễn
ra từ rất sớm Từ thế kỉ III trước Công nguyên nước ta đã có đô thị đầu tiên Từ năm
1975 đến nay, đô thị hóa nước ta có những chuyển biến tích cực, tác động lớn đến phát triển kinh tế - xã hội đất nước Xét về vai trò của đô thị hóa có rất nhiều ý kiến khác nhau
Ý kiến nhóm 1: Đô thị hóa rất quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Ý kiến nhóm 2: Đô thị hóa gây ra nhiều vấn đề kinh tế, xã hội và môi trường nan giải
- Các nhóm thảo luận trong vòng 3 phút sau đó đại diện các nhóm trình bày quan điểm, luận chứng để bảo vệ quan điểm của nhóm mình( mỗi nhóm có 3 phút để trình bày)
- Chủ tọa phiên tòa sẽ đọc kết luận cuối cùng
- GV nhận xét về các hoạt động trong buổi tranh luận và phần đóng vai của nhóm 3: phong thái, nội dung kết luận của phiên tòa, góp ý, biểu dương…
Áp dụng PPĐV cho phần tìm tòi, mở rộng (hoạt động ở nhà)
Ví dụ 1:
Sau khi học xong chủ đề: Môi trường và phát triển bền vững (Địa lí 10), GV
yêu cầu HS đóng vai là Bí thư Đoàn trường Nhiệm vụ: Với vai trò là 1 bí thư Đoàn
trường, em hãy tổ chức 1 cuộc thi Vẽ tranh tuyên truyền bảo vệ môi trường ở địa phương Với nhiệm vụ này, HS cần phải vừa tìm hiểu cách thức 1 cán bộ Đoàn triển
khai một hoạt động, vừa phát triển kĩ năng viết, vẽ, thiết kế, sáng tạo các content về môi trường cho các thành viên trong lớp Thiết kế các content về môi trường hiện nay được nhiều tổ chức, đoàn thể triển khai nhằm phát triển kĩ năng mềm cho học sinh, sinh viên Với hoạt động vận dụng gắn với 1 chủ đề học tập đã tạo sự hứng thú rất lớn và ý nghĩa thiết thực cho HS
Ví dụ 2:
Trang 29Với cách tổ chức và hướng dẫn học sinh thực hiện đóng vai như trên, tôi thấy đây là chuyển biến mạnh mẽ trong đổi mới PPDH, GV là người hướng dẫn, quan sát, chỉ đạo quá trình học của học sinh còn học sinh là người trực tiếp tham gia vào quá trình học, tự học, khám phá kiến thức
2.2 Đóng vai tình huống
Trong quá trình dạy học có nhiều phương pháp dạy học tích cực được áp dụng mang lại hiệu quả cao Trong đó việc GV tạo tình huống và học sinh giải quyết tình huống bằng phương pháp đóng vai có ý nghĩa quan trọng Tình huống là những sự kiện, hoàn cảnh có mâu thuẫn, có vấn đề cần được giải quyết
Khi giáo viên tổ chức đóng vai giải quyết tình huống sẽ giúp học sinh hiểu sâu sắc nội dung bài học, nắm vững kĩ năng, tạo điều kiện cho học sinh vào vị trí trung tâm của hoạt động, phát triển năng lực nhận thức, tư duy sáng tạo cho học sinh Khi
áp dụng phương pháp này sẽ hạn chế lối học thụ động, học sinh chủ động tư duy sáng tạo, tăng sự hứng thú, giờ học sôi nổi
Khi dạy kiến thức mới HS sẽ tự tưởng tượng về nhân vật thông qua dữ liệu tình huống GV đưa ra tình huống mà học sinh chưa biết và sẽ biết khi học xong bài học
GV là người xây dựng tình huống còn HS đảm nhận vai trò là người giải quyết tình huống
Quy trình thực hiện khi đóng vai tình huống:
- Bước 1: Lựa chọn tình huống Giáo viên tạo tình huống ngay khi vào bài học,
hoặc trong quá trình dạy bài mới giáo viên lựa chọn tình huống và tạo tình huống có vấn đề
- Bước 2: Giáo viên chia nhóm, các nhóm tự bàn bạc và lựa chọn người diễn
xuất
- Bước 3: Sau khi phân vai các nhóm bàn bạc cách giải quyết tình huống mà giáo
viên đưa ra
- Bước 4: Thể hiện vai diễn để giải quyết tình huống
- Bước 5: Đánh giá xem nhóm nào giải quyết tình huống tốt hơn Giáo viên chốt
Trang 3026
của bài học mà giáo viên phải phân bố hợp lý để có sự xâu chuỗi, từ tìm hiểu tình huống, thể hiện qua đóng vai, thông qua hệ thống câu hỏi để rút ra nội dung cơ bản của bài học Việc diễn không phải là phần chính mà quan trọng là thảo luận sau phần diễn ấy HS thường làm theo tổ nhóm để giải quyết tình huống Học sinh không có
sự chuẩn bị trước ở nhà như đóng vai nhân vật mà được giáo viên thông báo tình huống và yêu cầu giải quyết tình huống ngay tại lớp Vì vậy, giáo viên phải luôn chủ động về mặt thời gian, đảm bảo đúng yêu cầu về lý luận dạy học, tuân thủ lôgic của quá trình dạy học
Ví dụ: Khi dạy bài 9: Tác động của ngoại lực đến địa hình bề mặt Trái đất (Địa
lý 10) Sau khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu về biểu hiện của quá trình bóc mòn và liên hệ địa phương về hậu quả của nó, giáo viên tổ chức cho học sinh đóng vai cán
bộ địa chính huyện, đại diện đoàn thanh niên… họp bàn và thống nhất giải pháp khắc phục và phòng chống tác hại của bóc mòn…Khi học sinh nhập vai các tổ chức,cá nhân liên quan để bàn cách phòng chống thiên tai sẽ tạo sự hứng thú trong quá trình tìm hiểu kiến thức, kích thích khả năng sáng tạo, trình bày được quan điểm
cá nhân về một vấn đề môi trường địa phương
Đối với hình thức này GV có thể áp dụng trong nhiều bài dạy về cả địa lý tự nhiên và cả địa lí kinh tế xã hội các khu vực, các nước và cả ở Việt Nam Chẳng hạn tìm hiểu phần Địa lí vùng kinh tế lớp 12, sau khi tìm hiểu tiềm năng, thực trạng các vấn đề phát triển kinh tế các vùng, GV tổ chức HS đóng vai đề xuất giải pháp để kinh tế các vùng phát triển hơn nữa
Hoặc áp dụng khi dạy phần Địa lý khu vực và quốc gia ( Địa lí 11), khi dạy về đặc điểm kinh tế các nước, GV tổ chức HS đóng vai chính các ngành kinh tế, tranh luận về thực trạng, hướng phát triển …
Sử dụng đóng vai tình huống trong phần khởi động bài học
Ví dụ : Thiết kế hoạt động khởi động bằng phương pháp đóng vai khi dạy Bài
1: Sự tương phản về trình độ phát triển kinh tế - xã hội của các nhóm nước Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại (Địa lí 11- Ban cơ bản)
Hoạt động khởi động (5 phút) Mục tiêu: Nhằm tạo mâu thuẫn nhận thức giữa kiến thức đã biết và chưa biết
có liên quan đến bài học, yêu cầu học sinh xác định nhiệm vụ học tập của bài và giáo viên dẫn dắt vào bài mới
Cách thức: Tổ chức đóng vai cặp đôi ăn ý
Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
1 Giáo viên nêu vấn đề
- Giáo viên chọn 2 cặp đôi nam – nữ
tham gia đóng vai “Cặp đôi hoàn hảo”
- Học sinh xung phong tham gia đóng vai