- Tạo điều kiện cho HS vận dụng kiến thức vừa học vào các tình huống khác nhau Như vậy, để quá trình nhận thức nói chung, QTHT nói riêng diễn ra một cách hiệu quả thì HS không những phải
Trang 1SỞ GD&ĐT NGHỆ AN TRƯỜNG THPT NGUYỄN SỸ SÁCH
Trang 2
Môn: Địa lý
Trang 3
MỤC LỤC
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
I Lý do chọn đề tài 1
II Mục đích nghiên cứu 1
III Đối tượng nghiên cứu 1
PHẦN II NỘI DUNG 1
I Cơ sở lí luận 1
1 Quy trình học chủ động cho học sinh (HS) và tiến trình các hoạt động hướng dẫn của giáo viên (GV) trong quá trình dạy học 1
2 Phương pháp dạy học 4
3 Đặc điểm của các biện pháp dạy học tích cực 5
II Cơ sở thực tiễn 6
III HIỆN TRẠNG 7
IV CÁC GIẢI PHÁP 8
1 Một số nguyên tắc khi sử dụng kĩ thuật dạy học tích cực 8
2 Một số bài học đã được sử dụng các kĩ thuật dạy học tích cực 8
PHẦN III KẾT QUẢ THU ĐƯỢC 28
PHẦN IV KẾT LUẬN 30
1 Khả năng áp dụng của sáng kiến 30
2 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến 30
3 Đánh giá lợi ích thu được từ sáng kiến 31
Trang 4PHẦN I MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài
Trong quá trình dạy và học môn Địa lí nhiều giáo viên (GV) và học sinh (HS) vẫn có quan niệm quan niệm đó là môn học thuộc lòng, chỉ cần học thuộc bài là đạt điểm cao, không cần tư duy, suy nghĩ như các môn học khác Việc dạy và học của thầy và trò do đó thường là giảng và chép như một môn học thuộc, mà chưa thường xuyên sử dụng các phương tiện dạy học, các kĩ thuật dạy học nhằm tạo hứng thú cho HS khi học Chưa kích thích được khả năng tư duy, sáng tạo, chủ động của HS, chưa giúp cho HS nắm bắt được bản chất các hiện tượng địa lí, đặc biệt là khả năng phân tích, tổng hợp, so sánh còn yếu
Tuy nhiên sau khi tìm hiểu các phương pháp, các kĩ thuật dạy học tích cực, cũng như tìm hiểu tháp học tập, đối với bản thân tôi, tôi rất mong muốn được áp dụng những cái mới, những phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy Do đó tôi đã mạnh dạn áp dụng phương pháp trên vào giảng dạy, sau một thời gian kết quả thu được là tích cực
II Mục đích nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu là so sánh sự hứng thú của HS thông qua việc theo dõi tính tích cực của HS ở trên lớp và kết quả bài khảo sát những tiết học sử dụng và không sử dụng (hoặc sử dụng chưa triệt để) kĩ thuật dạy học tích cực Từ
đó rút ra những bài học kinh nghiệm cần thiết
III Đối tượng nghiên cứu
-Đối tượng nghiên cứu là học sinh khối 12 trường THPT Nguyễn Sỹ Sách Phạm vi nghiên cứu chương trình Địa lí lớp 12 - Ban cơ bản phần địa lý tự nhiên
-Thời gian nghiên cứu: 2020-2021, 2021-2022
PHẦN II NỘI DUNG
Theo Tiến sĩ Trần Khánh Ngọc - Đại học sư phạm Hà nội 1 thì có thể tóm tắt các giai đoạn của quá trình nhận thức theo lý thuyết thông tin, điểm cần lưu ý trong mỗi giai đoạn, các hoạt động mà học sinh có thể chủ động thực hiện để tăng cường
Trang 5hiệu quả cho quá trình nhận thức, quá trình học tập của bản thân cũng như các hoạt động hướng dẫn của GV nhằm hỗ trợ cho quá trình học tập (QTHT) của học sinh trong bảng sau
Bảng 1: Các giai đoạn của quá trình nhận thức theo lý thuyết thông tin và ứng dụng trong dạy học
Hoạt động HS có thể thực hiện để tăng cường hiệu quả của quá trình nhận thức/học tập
Hoạt động GV có thể thực hiện nhằm tạo thuận lợi cho QTHT của
HS Tiếp nhận
- Tính quen thuộc của thông tin (dễ tiếp nhận)
- Chủ động huy động các kiến thức có liên quan đến chủ đề sắp học, làm tăng tính "quen thuộc"
của kiến thức mới, tạo thuận lợi cho việc tiếp thu kiến thức mới
- Đặt vấn đề theo kiểu bắc câu từ các thông tin đã học hoặc đưa ra những mâu thuẫn gây sự tò
mò cho HS
- Yêu cầu HS huy động các kiến thức
có liên quan đến chủ đề sắp học trước khi thực sự học chủ đề đó
Xử lý thông
tin: Hình thành
liên kết giữa
các phần của
thông tin, giữa
thông tin mới
xử lý trong cùng một thời điểm
- Thời gian lưu giữ thông tin ngắn
Chủ động "xử lý" hay chiếm lĩnh kiến thức mới:
tập trung vào các phần kiến thức quan trọng, chủ động tìm mối quan hệ giữa các phần khác nhau của kiến thức mới hoặc giữa kiến thức mới và kiến thức
cũ, xác định hình thức phù hợp để thể hiện các mối quan hệ đó nhằm chuyển kiến thức sang dạng sẵn sàng lưu trữ
- Chia nội dung cần học thành các phần nhỏ để HS có thể tiếp cận và xử lý hiệu quả từng phần
- Hỗ trợ cho quá trình "xử lý" hay chiếm lĩnh kiến thức mới của HS bằng hệ thống câu hỏi, bài tập phù hợp
Lưu trữ và sử
dụng thông tin:
Tổ chức, sắp
- Số lượng liên kết được tạo thành
- Chủ động đưa kiến thức mới vào hệ thống kiến thức đã có (tìm kiếm thêm
- Yêu cầu HS hệ thống hóa kiến thức sau khi học
Trang 6có nghĩa của thông tin)
-Độ mạnh/yếu của liên kết giữa các thông tin
các mối quan hệ giữa kiến thức mới và hệ thống kiến thức đã có, làm tăng tính
có nghĩa của kiến thức mới), tái cấu trúc hệ thống kiến thức (hệ thống hóa kiến thức)
- Chủ động vận dụng kiến thức vào các tình huống khác nhau (củng cố liên kết giữa các phần kiến thức, tăng cường hiệu quả của việc tái hiện kiến thức
để sử dụng ở những lần sau)
xong mỗi chủ đề, mỗi bài, mỗi chương
- Tạo điều kiện cho
HS vận dụng kiến thức vừa học vào các tình huống khác nhau
Như vậy, để quá trình nhận thức nói chung, QTHT nói riêng diễn ra một cách hiệu quả thì HS không những phải xác định được vai trò chủ động của mình trong quá trình đó, mà còn phải có hiểu biết về quá trình nhận thức, QTHT của bản thân
để chủ động thực hiện các hoạt động nhằm làm cho QTHT có thể diễn ra một cách thuận lợi, từ đó thu được kết quả cao Bên cạnh đó, GV cũng phải cần phải có hiểu biết về QTHT của HS để có thể thiết kế các hoạt động hướng dẫn sao cho phù hợp với quá trình nhận thức của HS, nhằm giúp cho HS chiếm lĩnh tri thức một cách hiệu quả
Với cơ sở là lý thuyết các giai đoạn của quá trình xử lý thông tin, có thể quy trình hóa các hoạt động của HS khi "chủ động" học tập một vấn đề mới cũng như tiến trình các hoạt động hướng dẫn trên lớp của GV nhằm hỗ trợ và tạo thuận lợi cho QTHT của HS bằng các sơ đồ
Trang 7Có thể thấy, với quy trình học chủ động gồm 5 bước, được thiết kế dựa trên
cơ sở lý thuyết là mô hình các giai đoạn của quá trình xử lý thông tin, QTHT của
HS được diễn ra một cách chủ động theo lôgic khoa học Các bước của quy trình chính là các bước mà HS cần “chủ động” trải qua khi tiến hành học tập một vấn đề mới, gồm: Đầu tiên, nhận biết xem mình sẽ học hoặc phải học chủ đề gì; sau đó, chủ động huy động những kiến thức đã biết có liên quan đến chủ đề đó để tạo thuận lợi cho việc tiếp nhận kiến thức mới Việc huy động kiến thức có liên quan cũng giúp HS có cơ hội rà soát lại vốn kiến thức của mình về chủ đề đó, đánh giá xem mình đã biết những gì và cần phải học thêm điều gì; từ đó chính xác hoá được các nội dung cần học trong chủ đề mới Sau khi xác định được các vấn đề cần học, HS cần chủ động "xử lý" kiến thức mới bằng cách tìm được mối quan hệ giữa các phần của kiến thức mới, giữa kiến thức mới và kiến thức đã biết; xác định được hình thức phù hợp để thể hiện mối quan hệ đó nhằm chuyển kiến thức sang dạng “được mã hoá” và sẵn sàng lưu trữ - tương ứng với việc chiếm lĩnh được kiến thức mới Tiếp
đó là giai đoạn chuyển kiến thức đã được mã hoá đó vào trí nhớ dài hạn để lưu trữ lâu dài bằng cách tìm kiếm thêm các liên kết giữa kiến thức đó với hệ thống kiến thức đã có, sắp xếp kiến thức mới vào “vị trí” phù hợp trong hệ thống kiến thức đó; đồng thời, củng cố, làm tăng thêm “độ mạnh” của các liên kết bằng cách vận dụng kiến thức vừa học vào các tình huống khác nhau như để giải bài tập, giải thích các hiện tượng, giải quyết các vấn đề thực tế hoặc để tiếp tục học các nội dung mới Việc vận dụng này cũng mang lại cho HS cơ hội để tiếp tục xem xét kiến thức dưới nhiều góc độ khác nhau, từ đó có được một cái nhìn khái quát hơn về toàn bộ nội dung kiến thức và có thể tái cấu trúc kiến thức hiệu quả hơn (trong sơ đồ 2, mối quan hệ giữa bước 4 và bước 5 được thể hiện bởi mũi tên hai chiều)
Các bước trong tiến trình các hoạt động hướng dẫn của GV được thiết kế phù hợp và tương ứng với các bước trong quy trình học chủ động của HS, nhằm tạo thuận lợi cho quá trình nhận thức của HS Nếu GV tiến hành các hoạt động hướng dẫn trên lớp như thế này một cách thường xuyên, thì có thể hình thành được ở HS thói quen học tập một cách chủ động, đó là:
Khi học để làm chủ một vấn đề mới, HS có thể định hướng được mình phải bắt đầu từ đâu, tiến trình chiếm lĩnh kiến thức diễn ra như thế nào và khi kết thúc QTHT thì cần phải làm gì để kiến thức được lưu trữ lâu dài và có thể tái sử dụng một cách hiệu quả
2 Phương pháp dạy học (PPDH) tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, tức là tập kết và phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập kết vào phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì thầy giáo phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động
Trang 8Từ thập kỉ lần cuối của thế kỷ XX , các tài liệu giáo dục, một số văn bản của
Bộ Giáo dục và Đào tạo thường nói tới việc nhu yếu phải chuyển dạy học lấy giáo viên làm trọng tâm sang dạy học lấy học trò làm trung tâm
Dạy học lấy học trò làm trọng tâm còn có một số thuật ngữ tương đương như: dạy học tập trung vào người học, dạy học căn cứ vào người học, dạy học hướng vào người học… Các thuật ngữ này có chung một nội hàm là nhấn mạnh hoạt động học và vai trò của học trò trong qúa trình dạy học, khác với cách tiếp cận truyền thống lâu nay là nhấn mạnh hoạt động dạy và vai trò của giáo viên
Lịch sử phát triển giáo dục cho thấy, trong nhà trường một thầy dạy cho một lớp đông học trò, cùng lứa tuổi và trình độ tự do tương đối đồng đều thì giáo viên khó có hoàn cảnh chăm lo cho từng học trò nên đã hình thành kiểu dạy “thông báo đồng loạt” Giáo viên quan tâm trước nhất đến việc hoàn thành bổn phận của mình
là truyền đạt cho hết nội dung quy định trong thời hạn và sách giáo khoa, gắng gổ làm cho mọi học trò hiểu và nhớ những điều giáo viên giảng Cách dạy này đẻ ra cách Học hỏi bị động, thiên về ghi nhớ, ít chịu nghĩ suy, thành ra đã giữ lại chất lượng, hiệu quả dạy và học, không đáp ứng đề nghị phát triển năng động của từng lớp đương đại Để khắc phục tình trạng này, các nhà sư phạm kêu gọi phải phát huy
nhu cầu, khả năng của mỗi cá nhân chủ nghĩa học trò trong tập thể lớp Biện pháp dạy học hăng hái, dạy học lấy học trò làm trọng tâm sinh ra từ bối cảnh đó
3 Đặc điểm của các biện pháp dạy học tích cực
+ Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh Trong phương pháp dạy học tích cực, người học – đối tượng của hoạt động “dạy”, song song là chủ thể của hoạt động “học” – được cuốn hút vào các hoạt động học tập do thầy giáo tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa
rõ chứ không phải thụ động tiếp nhận những kiến thức đã được thầy giáo sắp xếp Được đặt vào những tình huống của chỗ ở thực tế, người học trực tiếp quan sát, bàn bạc, làm thí nghiệm, giải quyết sự tình đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến thức kĩ năng mới, vừa nắm được phương pháp “làm ra” kiến thức,
kĩ năng đó, không rập theo những khuôn mâu sẵn có, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo
+ Dạy và học coi trọng rèn luyện phương pháp tự học Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một phương pháp nâng cao công hiệu dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học Trong tầng lớp hiện đại đang biến đổi nhanh – với sự phát triển khoa học, kĩ thuật, công nghệ như
vũ bão – thì không thể nhồi nhét vào đầu óc học sinh khối lượng kiến thức ngày càng nhiều Phải quan tâm dạy cho học sinh phương pháp học ngay từ bậc tiểu học
và càng lên bậc học cao hơn càng phải được chú trọng hơn để rèn tính tự giác trong họctập.Trong các phương pháp học thì then chốt là phương pháp tự học Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói thường , lập trường tự
Trang 9học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người Cuối cùng học tập sẽ được nhân lên gấp bội Vì thế, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học trong qúa trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động
+ Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác Trong một lớp học mà sự nhận thức, tư duy của học sinh không thể đồng đều tuyệt đối thì khi vận dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp thuận sự phân hóa về cường độ, tiến độ hoàn tất nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một xâu công việc độc lập Lớp học là môi trường tiếp xúc với nhau thầy – trò, trò – trò , tạo nên mối quan hệ hiệp tác giữa các cá nhân chủ nghĩa trên con đường chiếm lĩnh nội dung học hỏi Phê duyệt đàm luận, tranh luận trong tập thể, quan điểm mỗi cá nhân chủ nghĩa được thổ lộ, tự tin tuyên bố hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới
+ Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò Trong dạy học, việc đánh giá học trò không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và sắp xếp hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo hoàn cảnh nhận định thực trạng và sắp xếp hoạt động dạy của thầy Trước đây giáo viên giữ độc quyền đánh giá học trò, nhưng hiện nay giáo viên cần tạo hoàn cảnh thuận tiện để học trò được tham gia đánh giá lẫn nhau Tự đánh giá đúng và sắp xếp hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho
sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho học sinh
Từ dạy và học bị động sang dạy và học chủ động, giáo viên không còn đóng vai trò thuần tuý là người truyền đạt tri thức, giáo viên trở nên người thiết kế, tổ chức, chỉ dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để học trò tự lực chiếm lĩnh nội dung học hỏi, chủ động đạt các kiếm thức, năng lực Trên lớp, học trò hoạt động là chính, giáo viên có vẻ nhàn nhã hơn nhưng trước đó, khi soạn giáo án, giáo viên đã phải đầu tư công sức, thời kì rất nhiều so với kiểu dạy và học bị động mới
có khả năng thực hành bài lên lớp với vai trò là người gợi mở, xúc tác, cổ vũ, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi háo hức, tranh cãi rầm rộ của học trò GV phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề mới có khả năng tổ chức, chỉ dẫn các hoạt động của học trò mà nhiều khi biến diễn ngoài tầm
dự kiến của GV
II Cơ sở thực tiễn
Chủ đề Địa lí tự nhiên Việt Nam trong học kì 1 lớp 12 là phần kiến thức đã được tìm hiểu sơ lược từ lớp 8 Đây là phần kiến thức khó, trừu tượng, không dễ lấy ví dụ minh họa, kết hợp với quan điểm của HS là môn Địa là môn phụ, do đó các em không hoàn toàn tập trung vào môn học, việc nắm bắt kiến thức thầy cô giảng chưa được tốt Khả năng phân tích, tổng hợp, so sánh còn yếu; hầu hết chưa thực sự có hứng thú học tập và kết quả chưa cao
-Qua khảo sát học sinh về kỹ thuật dạy học cho thấy: Biết : 55% ,sử dụng thành thạo 35%, chưa tập trung 10%
Trang 10-Khảo sát qua Giáo Viên trong địa bàn huyện:Thường xuyên 30%,Thỉnh thoảng 50%, ít sử dụng 20%
Việc sử dụng các kĩ thuật dạy học tích cực trong các nhà trường hiện nay chưa thực sự thường xuyên và hiệu quả Do cả các nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan mà việc sử dụng chưa thực sự phát huy được hiệu quả của nó, trong đó có vai trò mang lại hứng thú học tập cho HS
Xuất phát từ thực tế trên, tôi thấy việc tích cực sử dụng kĩ thuật dạy học tích cực để mang lại hứng thú học tập cho HS là rất cần thiết
III HIỆN TRẠNG
Với việc dạy khoảng 200 em hs khối 12 cho thấy
Học sinh khá giỏi khoảng 10%, học sinh TB khoảng 55% Học sinh yếu khoảng 35%
Về mức độ tích cực của học sinh
Qua đó thấy, nếu giáo viên chỉ tập trung vào việc giảng giải, thuyết trình, ít
sử dụng các mô hình, tư liệu, giáo cụ trực quan, không tổ chức cho học sinh được làm việc, mà chỉ cô giảng, trò nghe và ghi chép thì học sinh rất thụ động, không tích cực, không chú ý, làm việc riêng…
Về chất lượng bài khảo sát
Kết quả khảo sát chất lượng bài học như trên là chưa cao, tỉ lệ kết quả trung bình, yếu, kém còn cao Nguyên nhân thì từ cả hai phía
* Nguyên nhân từ HS
- Ý thức học tập của học sinh chưa cao
- Trình độ nhận thức còn hạn chế
- Khả năng ghi nhớ kém
- Có tính ỉ lại, không chịu tìm tòi, không chủ động nắm bắt kiến thức
- Không tập trung vào bài học
- Khả năng tổng hợp kiến thức kém, tiếp thu bài chậm
* Nguyên nhân từ GV
- Giáo viên mới chỉ quan tâm đến kiến thức nội dung chính của bài và những kiến thức nào cần học thuộc
- Bài giảng còn chưa thật hấp dẫn, chưa thu hút học sinh
- Các phương pháp giảng dạy còn hạn chế, chưa thật sự phát huy được vai trò của đồ dùng dạy học (mà ở đây là bản đồ; tranh ảnh)
- Bài giảng cứng nhắc, nặng về nội dung văn bản, thiếu tính sáng tạo
Trang 11Thực trạng trên đòi hỏi tôi phải có những biện pháp thay đổi phương pháp dạy, tích cực hơn nữa trong việc sử dụng đồ dùng dạy học nhằm tạo hứng thú cho học sinh, từ đó nâng cao chất lượng giảng dạy
IV CÁC GIẢI PHÁP
Kết quả như trên là do rất nhiều nguyên nhân, tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu, tôi sẽ tập giải quyết theo hướng tích cực sử dụng kĩ thuật dạy học mới cũng như sử dụng nhiều phương tiện – đồ dùng dạy học
1 Một số nguyên tắc khi sử dụng kĩ thuật dạy học tích cực
- Sử dụng kĩ thuật dạy học tích cực phải đáp ứng được mục tiêu và phù hợp với nội dung của việc giảng dạy
- Phải luôn đề cao vai trò hoạt động chủ động, tích cực của học sinh Giáo viên luôn tạo điều kiện tối đa cho học sinh tự mình làm việc với các phương tiện -
đồ dùng dạy học để khám phá, tìm tòi các tri thức cần thiết
- Sử dụng kĩ thuật đúng lúc, đúng chỗ, đủ cường độ, không quá lạm dụng dẫn đến quá sức hoạt động của học sinh
- Phối hợp nhiều kĩ thuật khác nhau, không nên quá lạm dụng một phương nào đó sẽ gây nhàm chán
2.Cách thức sử dụng trong kỹ thuật dạy học
-Lựa chọn địa chỉ ứng dụng
-Sử dụng phương pháp kĩ thuật dạy học
-Ứng dụng phương pháp dạy học
3.Các phương pháp ứng dụng
-Phương pháp chuyên gia mảnh nghép
-Phương pháp khăn trải bàn
-Phương pháp trình chiếu
-Phương pháp trò chơi ô chữ
-Phương pháp thảo luận nhóm
-Phương pháp sử dụng phiếu học tập
-Phương pháp mon dmap
-Phương pháp thảo luận nhóm
- Phương pháp khai thác từ vi deo
4 Một số bài học đã được ứng dụng các kĩ thuật dạy học tích cực
Hiện nay đã có rất nhiều các kĩ thuật dạy học tích cực, trong phạm vi sáng kiến tôi tập trung đi sâu vào sử dụng một số kĩ thuật sử dụng trong chủ đề Địa lý tự
Trang 12nhiên Việt Nam, Địa lý 12 Cơ bản Trong chủ đề này có 15 bài, trong giới hạn của
đề tài tôi xin phép được trình bài trong mỗi bài một hoạt động sử dụng kĩ thuật dạy học tích cực, có thể là tình huống xuất phát, các hoạt động trong hình thành kiến thức mới, hoạt động luyện tập và củng cố kiến thức hay hoạt động vận dụng và mở rộng Đặc biệt với đặc thù của môn Địa lí luôn cập nhật tính mới nên phương pháp
và kĩ thuật tích hướng vào tính mới, sự cập nhật đặc thù của bộ môn
BÀI 1: VIỆT NAM TRÊN ĐƯỜNG ĐỔI MỚI VÀ HỘI NHẬP
HOẠT ĐỘNG: TÌM HIỂU VỀ CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI (15 PHÚT)
* Đổi mới là một tất yếu của lịch sử,là quyết tâm lớn của Đảng và nhà nước, sức sáng tạo phi thường của nhân dân ta.Sau 20 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta
có nhiều khởi sắc trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh quốc phòng.bên cạnh những thành tựu đó,đất nước ta vẫn đứng trước muôn vàn khó khăn và thách thức
1 Mục tiêu:
- Giải thích được lí do đất nước phải tiến hành đổi mới
- Đánh giá các thành tựu đất nước sau đổi mới và thách thức hiện nay của đất nước
- Trân trọng các thành tựu mà đất nước đạt được sau hơn 30 năm đổi mới
2 Phương pháp/kĩ thuật dạy học:
+ HS chia sẻ trong nhóm, thư kí ghi nhận thông tin trong bảng nhóm
+ Dán phần giấy note làm việc cá nhân vào các góc vị trí ngồi tương ứng Tại sao đất nước ta cần phải đổi mới
Dựa vào SGK, hãy ghi ra 3 xu thế của đổi mới
Lấy ví dụ cho 1 biểu hiện của 1 xu thế
Bước 2: HS thực hiện nhiệm vụ, GV hỗ trợ HS
Bước 3: HS trả lời nguyên nhân theo vòng tròn (thực trạng đất nước và xu thế của thế giới) GV ghi ý chính lên bảng theo cấu trúc bài học
Trang 13GV nhấn mạnh:
+ Dân chủ thể hiện trong kinh doanh thấy rất rõ
+ Nhiều thành phần kinh tế, đặc biệt là kinh tế tư nhân đã và đang phát huy các vai trò tích cực
+ Hợp tác với các nước là biểu hiện rõ của xu thế Toàn cầu hóa
Bước 4: HS tìm hiểu các thành tựu và thách thức
+ Thời gian 2 phút
+ Sử dụng thiết bị điện tử/SGK/Bài báo
+ Ghi ra các 3 thành tựu và 3 thách thức tiêu biểu Số lẻ ghi thành tựu, số chẵn ghi thách thức
+ Hết giờ HS sẽ xếp hàng như hình để chia sẻ trong 1 phút 2 bên sẽ cùng trao đổi các thông tin về thành tựu và thách thức + diễn giảng
Hết 1 phút, HS dịch chuyển sang phải 2 bước và đổi hàng để tạo thành cặp mới
Trang 14HS có khoảng 3 lượt dịch chuyển như vậy để hoàn thành thông tin + bổ sung nhau
Bước 5: HS nêu nhanh các thành tựu và thách thức, GV có thể chiếu một số thông tin bổ sung nhằm nhấn mạnh một số điểm cơ bản
BÀI 2: VỊ TRÍ ĐỊA LÍ VÀ PHẠM VI LÃNH THỔ
HOẠT ĐỘNG HÌNH THÀNH KIẾN THỨC MỚI: TÌM HIỂU PHẠM
VI LÃNH THỔ VÀ ĐÁNH GIÁ Ý NGHĨ VỊ TRÍ ĐỊA LÍ – LÃNH THỔ NƯỚC TA (20 PHÚT)
*Có thể nói,vị trí địa lý và phạm vi lãnh thổ biệt của nước ta đã ảnh hưởng sâu sắc đến điều kiện tự nhiên, các hoạt động kinh tế, chính trị- xã hội GV dựa vào Bản đồ các nước Đông Nam Á xác định vị trí địa lý của nước ta để học sinh quan sát và hình dung ban đầu
Trang 15GV chia lớp thành 4 hoặc 6 nhóm tùy sĩ
số, yêu cầu các nhóm quan sát Atlat, khai thác
SGK, dựa vào kiến thức đã học, hiểu biết thực
tế, hoàn thành phiếu học tập của các nhóm:
- Bước 3: Vòng 2: Nhóm ghép: Tùy theo số
lượng học sinh chia thành 2 cụm hoặc 3 cụm mỗi cụm
3 nhóm tương ứng với 3 nội dung được giao Mỗi
nhóm chuyên gia sẽ đếm số từ 1 đến 3 Ai chưa có số
đứng lên đếm lại từ đầu và di chuyển theo sơ đồ Lưu
ý là chỉ di chuyển trong cụm của mình Giáo viên
chiếu sơ đồ và hs có 30 giây để di chuyển về nhóm
mới
- Học sinh có 3 vòng di chuyển sản phẩm (nếu
lớp chật) còn rộng thì sản phẩm của nhóm chuyên gia dán cố định trên bàn Mỗi nhóm có 1 phút 30 giây để trình bày lại những gì mình làm được ở nhóm chuyên gia cho các bạn ở nhóm mới
- Bước 4: Giáo viên kiểm tra, đánh giá các chuyên gia bằng cách hỏi các bạn được truyền tải lại kiến thức vừa rồi Sau đó cho điểm hoạt động chuyên gia Mỗi cụm gọi ít nhất 3 người
- Bước 5: Giáo viên chốt kiến thức
BÀI 6: ĐẤT NƯỚC NHIỀU ĐỒI NÚI
HOẠT ĐỘNG : CÁC KHU VỰC ĐỊA HÌNH
*Lịch sử hình thành và phát triển lãnh thổ trải qua một thời kỳ lâu dài và phức tạp đã tạo nên cảnh quan chung của nước ta là một đất nước nhiều đồi núi, đây là đặc điểm đầu tiên của tự nhiên nước ta.Đặc điểm đó sẽ được thể hiện trong bài học ngày hôm nay
I.Mục tiêu: hiểu, phân tích, so sánh được đặc điểm địa hình của 4 vùng núi và chứng minh được mối quan hệ của địa hình với tự nhiên
Hình thức: Nhóm, cặp đôi
Phương pháp, kĩ thuật: Phiếu học tập và khai thác bản đồ
II.Phương tiện: Bản đồ địa hình VN, bản đồ tự nhiên VN
Cụm 1 Nhóm 1 Nhóm 3 Nhóm 5
Lối di chuyển Cum 2
Nhóm 2 Nhóm 4 Nhóm 6
Số 3
Số 2
Số 1
Trang 16Hoạt động 1: Các khu vực địa hình
Bước 1: GV chia HS thành các nhóm, giao nhiệm vụ cụ thể cho từng nhóm Nhóm 1: Trình bày đặc điểm địa hình vùng núi Đông Bắc
Nhóm 2: Trình bày đặc điểm địa hình vùng núi Tây Bắc
Nhóm 3: Trình bày đặc điểm địa hình vùng núi Bắc Trường Sơn
Nhóm 4: Trình bày đặc điểm địa hình Vùng núi Nam Trường Sơn
Các nhóm làm việc theo các ý chính:
- Giới hạn
- Hướng nghiêng
- Độ cao địa hình
- Tên các dãy núi chính, các đỉnh núi
GV đặt câu hỏi thêm cho các nhóm:
?Địa hình Đông Bắc có ảnh hưởng như thế nào tới khí hậu
? Địa hình vùng Tây Bắc có ảnh hưởng như thế nào tới sinh vật
Bước 2: HS trong các nhóm làm việc và trao đổi kết quả với nhau
Bước 3: Đại diện các nhóm trình bày, các nhóm khác bổ sung ý kiến
Bước 4: GV nhận xét, đánh giá phần trình bày của HS
Hoạt động 2: So sánh các vùng đồi núi nước ta
BÀI 7: ĐẤT NƯỚC NHIỀU ĐỒI NÚI
Trang 17*Mặc dù đồi núi chiếm phần lớn diện tích nước ta, và đồng bằng chỉ chiếm một phần diện tích nhỏ nhưng đối với một quốc gia nông nghiệp, đồng bằng có ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và đời sống Vậy ta cùng nhau đi tìm hiểu nội dung này
HOẠT ĐỘNG 1 TÌM HIỂU ĐẶC ĐIỂM CỦA KHU VỰC ĐỒNG BẰNG
1 Mục tiêu
- Trình bày được các đặc điểm của các đồng bằng
- So sánh được 2 đồng bằng châu thổ về một số đặc điểm tự nhiên giống và khác nhau
+ Phân công nhiệm vụ: Số 1 nghiên cứu
+ Đọc các câu hỏi và phiếu hoàn thiện
+ Quan sát đoạn phim GV chuẩn bị
+ Nghiên cứu SGK để hoàn thành phiếu hoàn thiện
Bước 2: Học sinh hoàn thành phiếu học tập cá nhân và trả lời câu hỏi in nghiêng trong phiếu trong thời gian 3 phút
Bước 3: GV tổ chức cho HS đi tìm đồng đội
+ Tìm các HS có cùng nội dung nghiên cứu để chia sẻ và thống nhất kiến thức, thông tin trong 3 phút với 3 bạn cùng nội dung
+ Lập nhóm 3 người, cùng chia sẻ và giảng giải các nội dung có liên quan,
sử dụng Atlat làm phương tiện
Bước 4: Tổng kết thông tin bằng trò chơi trả lời nhanh
Bước 5: Thực hiện kĩ thuật khăn trải bàn biến thể, giải quyết câu hỏi
Trang 18Những giống nhau và khác nhau về đặc điểm tự nhiên của ĐBSH và ĐBSCL
-> HS ghi thông tin cá nhân ra giấy note >>>bổ sung thông tin sau khi các nhóm trình bày
Bước 6: Thực hiện báo cáo vòng tròn
Nhóm 1: Đồng ý quan điểm đào các kênh đào
Nhóm 2: Không đồng ý đào các kênh đào
Bước 2: HS theo nhóm thảo luận đưa ra các lập luận cần thiết theo hướng: Nhóm 1: Nêu các lợi ích của việc đào kênh trong đời sống, sản xuất và cải tạo đất phèn, mặn của đồng bằng
Nhóm 2: Nêu các tác động tiêu cực của việc đào kênh dẫn nước về vịnh Thái Lan gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái tự nhiên phía đông, đặc biệt tình trạng xâm nhập mặn