1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát huy năng lực chủ động sáng tạo và năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh trong dạy học môn địa lí thông qua một số phương pháp dạy học tích cực tại trường THPT nghi lộc 2

52 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát Huy Năng Lực Chủ Động Sáng Tạo Và Năng Lực Giải Quyết Vấn Đề Cho Học Sinh Trong Dạy Học Môn Địa Lí Thông Qua Một Số Phương Pháp Dạy Học Tích Cực
Trường học Trường THPT Nghi Lộc 2
Chuyên ngành Địa lí
Thể loại đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2020-2021
Thành phố Nghi Lộc
Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 4,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên nền tảng những kiến thức cơ bản và phương pháp giáo dục đề caohoạt động chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh, Chương trình môn Địa lí giúphọc sinh hình thành, phát triển năng l

Trang 1

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Lí do chọn đề tài:

Đổi mới dạy học nói chung, đổi mới dạy học Địa lí nói riêng là mộtquá trình thực hiện thường xuyên và kiên trì trong đó có nhiều yếu tố quan hệ chặtchẽ với nhau

Một trong những vấn đề quan trọng của đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay

là đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy năng lực, chủ động, sáng tạo

và năng lực giải quyết vấn đề của học sinh Dạy như thế nào? Học như thế nào? để

đạt hiệu quả học tập tốt nhất là điều mong muốn của tất cả các giáo viên hiện nay

Trong đó có bộ môn Địa lí đã và đang chuyển hướng từ chủ yếu là trang bịkiến thức, sang trang bị những năng lực cần thiết cho các em học sinh Trongchương trình giáo dục phổ thông 2018 môn địa lí được thực hiện ở tất cả các cấphọc phổ thông Ở cấp tiểu học và trung học cơ sở, nội dung giáo dục địa lí nằmtrong môn Lịch sử và Địa lí; ở cấp trung học phổ thông, Địa lí thuộc nhóm mônkhoa học xã hội, được lựa chọn theo nguyện vọng và định hướng nghề nghiệp củahọc sinh Trên nền tảng những kiến thức cơ bản và phương pháp giáo dục đề caohoạt động chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh, Chương trình môn Địa lí giúphọc sinh hình thành, phát triển năng lực địa lí - một biểu hiện của năng lực khoahọc; đồng thời góp phần cùng các môn học và hoạt động giáo dục khác phát triển ởhọc sinh các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung đã được hình thành trong giaiđoạn giáo dục cơ bản, đặc biệt là tình yêu quê hương, đất nước; thái độ ứng xử đúngđắn với môi trường tự nhiên, xã hội; khả năng định hướng nghề nghiệp; để hìnhthành nhân cách công dân, sẵn sàng đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổquốc

Cùng với đó, việc giúp HS tiếp cận các nội dung kiến thức thiết thực, hiện đạicùng với phương pháp tư duy và học tập tích cực chính là nhằm tạo cơ hội giúp HSrèn luyện kĩ năng, từng bước hình thành, phát triển năng lực sáng tạo, năng lựcgiải quyết các tình huống và vấn đề thực tiễn; từ đó có cơ hội hoà nhập, hội nhậpquốc tế để cùng tồn tại, phát triển … Đây cũng chính là ý nghĩa quan trọng bởi nộidung dạy học mà HS sở hữu sẽ được vận dụng thích ứng với bối cảnh hiện đại vàkhông ngừng đổi mới

Trang 2

Với những lí do trên tôi thực hiện đề tài: “Phát huy năng lực chủ động sáng tạo và năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh trong dạy học môn Địa lí thông qua một số phương pháp dạy học tích cực tại Trường THPT Nghi Lộc 2” 2.Mục đích nghiên cứu:

- Hình thành được các năng lực cho học sinh, đặc biệt năng lực sáng tạo và nănglực giải quyết vấn đề

- Từ đó góp phần đổi mới phương pháp dạy học, hình thức dạy học theo hướngphát triển năng lực học sinh

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về năng lực giải quyết vấn đề và năng lực sángtạo

- Nghiên cứu tổng quan về phương pháp dạy học tích cực và đưa ra được một sốphương pháp dạy học tích cực để từ đó phát huy được năng lực chủ động sángtạo và năng lực giải quyết vấn đề cho Học Sinh trong học tập môn Địa lí

- Tìm hiểu nghiên cứu những vấn đề cốt lõi trong dạy học theo hướng phát triểnnăng lực

4 Tính mới của đề tài:

Tìm hiểu được thực trạng đổi mới phương pháp dạy học của các TrườngTHPT trên địa bàn huyên Nghi Lộc

Hình thành được cho HS năng lực chủ động sáng tạo và năng lực giải quyết vấn đềthông qua một số phương pháp dạy học tích cực

5 Đối tượng nghiên cứu và thời gian nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu :

- Học sinh học theo chương trình chuẩn (Ban cơ bản) của trường THPT Nghi Lộc

2

- Giáo viên dạy bộ môn Địa lí ở trường THPT Nghi Lộc 2

Thời gian nghiên cứu: Năm học 2020-2021 và năm học 2021-2022

6 Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu,

Phương pháp khảo sát, Phương pháp phỏng vấn, Phương pháp thống kê toán học,Phương pháp quan sát

Trang 3

PHẦN II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.

1 Cơ sở lí luận

1.1 Khái niệm về năng lực và những yêu cầu cần đạt của năng lực.

Khái niệm

- Theo chương trình GDPT tổng thể năm 2018: “Năng lực là thuộc tính

cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập,rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng vàcác thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, thực hiện thànhcông một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điềukiện cụ thể.”

- Từ định nghĩa này, chúng ta có thể rút ra những đặc điểm chính của Năng lực là:

+ Năng lực là sự kết hợp giữa tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyệncủa người học

+ Năng lực là kết quả huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và cácthuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,

+ Năng lực được hình thành, phát triển thông qua hoạt động và thể hiện

ở sự thành công trong hoạt động thực tiễn

Yêu cầu cần đạt về năng lực

- Theo GS.TS Nguyễn Minh Thuyết chương trình GDPT mới hìnhthành và phát triển cho học sinh những năng lực cốt lõi sau:

+ Những năng lực chung được hình thành, phát triển thông qua tất cảcác môn học và hoạt động giáo dục: Năng lực tự chủ và tự học, năng lực giaotiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo

+ Những năng lực đặc thù được hình thành, phát triển chủ yếu thôngqua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định: Năng lực ngôn ngữ,năng lực tính toán, năng lực khoa học, năng lực công nghệ, năng lực tin học,năng lực thẩm mĩ, năng lực thể chất

- Theo chương trình GDPT Đia lí năm 2018, yêu cầu cần đạt về năng lực đặcthù là: Môn Địa lí hình thành và phát triển ở học sinh năng lực địa lí, là biểuhiện đặc thù của năng lực khoa học bao gồm: nhận thức khoa học địa lí (nhậnthức thế giớ quan theo quan điểm không gian, Giải thích các hiện tượng vàquá trình địa lí); năng lực tìm hiểu địa lí (Sử dụng các công cụ địa lí học, Tổchức học tập ở thực địa, Khai thác Internet phục vụ môn học); Vận dụng kiếnthức và kĩ năng đã học (Cập nhật thông tin và liên hệ thực tế, Thực hiện chủ

đề học tập khám phá từ thực tiễn, Vận dụng tri thức địa lí giải quyết một sốvấn đề thực tiễn)

Trang 4

1.2 Tổng quan về phương pháp dạy học tích cực

Phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn được dùng ởnhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng pháthuy tính tích cực, chủ động sáng tạo và năng lực giải quyết vấn đề củangười học "Tích cực" trong phương pháp dạy học – tích cực được dùng vớinghĩa tức là hoạt động, chủ động, trái nghĩa với không hoạt động, thụ động.Phương pháp dạy học tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa,hoạt động nhận thức của người học tức là tập kết và phát huy tính tích cựccủa người học chứ không phải là tập kết vào phát huy tính tích cực của ngườidạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì người dạy phải nỗlực nhiều so với dạy học theo phương pháp thụ động

Với nét đặc thù là truyền tải các kiến thức tổng hợp từ đặc điểm tự nhiên,kinh tế - xã hội; Ngoại khóa, giáo dục kỹ năng sống, giáo dục môi trường,giáo dục giới tính, giáo dục dân số, giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên,giáo dục kĩ năng ứng phó các vấn đề thực tiễn trong cuộc sống hàng ngày…,nên việc lựa chọn phương pháp phù hợp phải được chú trọng Giáo viên cóthể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, bản thân tôi và một số đồngnghiệp đã sử dụng một số phương pháp như: phương pháp thảo luận nhóm,phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình, phương pháp giải quyết vấn

đề, phương pháp đóng vai, phương pháp trò chơi, phương pháp dự án,phương pháp dạy học trên thực địa và đã thu được một số hiệu quả nhất định

1.2.1 Mục đích của đổi mới phương pháp dạy học tích cực

Mục đích của việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm giúp học sinh pháthuy tính tích cực, tự giác, chủ động, rèn luyện thói quen và khả năng tự học,tinh thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào giải quyết những tìnhhuống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn Xem việc học là một quátrình kiến tạo, giúp học sinh tìm tòi, khám phá, phát hiện, khai thác và xử líthông tin, tự hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất

1.2.2 Đặc trưng của các phương pháp dạy học tích cực

- Dạy học tăng cường phát huy tính tự tin, tích cực, chủ động, sáng tạo thôngqua tổ chức thực hiện các hoạt động học tập của học sinh

- Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp và phát huy năng lực tự học củahọc sinh và giải quyết được các vấn đề trong thực tiễn

- Dạy học phân hoá kết hợp với học tập hợp tác

- Kết hợp đánh giá của thầy với đánh giá của bạn, với tự đánh giá

- Tăng cường khả năng, kĩ năng vận dụng vào thực tế

1.3 Dạy học phát huy tính năng lực chủ động, sáng tạo và năng lực giải qyết vấn đề của học sinh

Năng lực sáng tạo và năng lực giải quyết vấn đề là một trong những năng lựccốt lõi cần hình thành và phát triển cho học sinh đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dụcphổ thông

Trang 5

Tính tích cực của học sinh phù hợp với nguyên tắc "tính tự giác, tích cực", vì

nó khơi gợi được họat động học tập đã được hướng đích, gợi động cơ trong quátrình phát hiện và giải quyết vấn đề Dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt độnghọc tập của học sinh là biểu hiện sự thống nhất giữa giáo dưỡng và giáo dục Tácdụng của giáo dục kiểu dạy học này là ở chỗ dạy cho học sinh khám phá, tức là rènluyện cho học sinh cách phát hiện, tiếp cận và giải quyết vấn đề một cách khoa học.Đồng thời góp phần bồi dưỡng cho học sinh những đức tính cần thiết của người laođộng sáng tạo như tính chủ động, tự giác, tích cực, tính kiên trì vượt khó

Tính tích cực học tập thể hiện ở cả hai mặt: tính chuyên cần trong hành động và tínhsâu sắc trong hoạt động các hoạt động trí tuệ Cách học tích cực thể hiện trong việctìm kiếm, xử lý thông tin và vận dụng chúng vào giải quyết các nhiệm vụ học tập vàthực tiễn cuộc sống, thể hiện sự tìm tòi, khám phá vấn đề mới bằng phương phápmới, không phải là sao chép, mà là sự sáng tạo của mỗi cá nhân

Tính tích cực thể hiện ở chỗ:

- Hưởng ứng và thấy rõ bổn phận thực hiện những yêu cầu đặt ra trong tìnhhuống học tập và giải quyết các tình huống trong học tập

- Chịu khó suy nghĩ trả lời câu hỏi, chăm chỉ, tự giác thực hiện các hoạt động

để có được các tri thức mới, nhận thức mới, kĩ năng mới

* Dạy học phát huy năng lực chủ động sáng tạo và năng lực giải quyết vấn đềcho Học sinh trong dạy là:

Tính tích cực, chủ động, tự giác là điều kiện cần để sáng tạo Những biểu hiệncủa sự sáng tạo là: biết nhìn nhận một sự vật theo một khía cạnh mới, nhìn nhậnmột sự kiện mới dưới nhiều góc độ khác nhau; biết đặt ra những giả thiết khi phải lígiải một hiện tượng, biết đề xuất giải quyết vấn đề khác nhau khi xử lí một tìnhhuống; không hoàn toàn bằng lòng với giải pháp đã có; không suy nghĩ cứng nhắctheo những gì đã có; không máy móc áp dụng những quy tắc, phương pháp đã biếtvào những tình huống mới

Việc đánh giá sáng tạo được căn cứ vào tính mới mẻ, tính độc đáo, tính hữu íchcủa các đề xuất Tuy nhiên tính sáng tạo cũng có tính chất tương đối: sáng tạo đốivới ai? Sáng tạo trong điều kiện nào? giải quyết những vấn đề nào ?

Để học sinh tích cực, tự giác, chủ động, trước hết người giáo viên phải tạo ramột môi trường vui vẻ, thoải mái, phải làm cho học sinh có hứng thú, phấn khởitrong học tập

Trang 6

Những kết quả, những cách suy nghĩ, giải quyết vấn đề trong các môn học nóichung, trong môn Địa lí nói riêng đều có sức hấp dẫn nhất định, đều kích thíchđược sự ham muốn hiểu biết của học sinh.

Những cách thức để học sinh hứng thú, phấn khởi trong học tập có thể là: gợiđộng cơ, nêu mục đích, nêu tầm quan trọng của vấn đề, khuyến khích, động viênkịp thời

Giáo viên, với vai trò của người thiết kế, tổ chức các hoạt động nhận thức chohọc sinh, cần xác định: không làm thay cho học sinh, phải tạo điều kiện để học sinhđược học và phải học một cách tích cực Nếu người thầy làm cho việc học trở nêndễ dàng thì học sinh sẽ mất đi sự cố gắng, tích cực Nhưng nếu giáo viên đưa yêucầu quá cao, dù học sinh có tích cực suy nghĩ, làm việc cũng không đạt được yêucầu thì chán nản cho HS Vậy cần phải tạo ra tình huống học tập sao cho hấp dẫn,vừa sức để học sinh thấy rõ nhiện vụ nhận thức của mình, chỉ cần học sinh tích cựchọc tập là đạt được kết quả

Người giáo viên có thể tạo ra không khí giao tiếp thuận lợi giữa cô và trò, giữatrò và trò bằng cách tổ chức và điều khiển hợp lý các họat động của từng cá nhânhọc sinh, tập thể học sinh trên lớp Có thể tổ chức những tình huống có vấn đề, đòihỏi dự đoán, nêu giả thiết, tranh luận giữa những ý kiến khác nhau Những tìnhhuống đó cần phải phù hợp với trình độ của học sinh Một nội dung quá dễ hoặcquá khó đều không gây được sự hứng thú học tập của các em Cần tạo cơ hội dẫndắt học sinh tìm tòi, phát hiện ra những tri thức mới, tạo niềm vui của sự khám phá

và giải quyết vấn đề một cách thấu đáo

Để học sinh học tập sáng tạo, giáo viên giáo viên cần tạo ra những tình huốngẩn chứa nhiều cách xem xét, nhiều cách xử lý độc đáo Muốn phát triển trí sáng tạo,cần chú trọng để học sinh tự lực khám phá kiến thức mới, phải dạy cho học sinhphương pháp học, mà cốt lõi là tự học Chính qua các hoạt động tự lực, được giaocho từng các nhân hoặc nhóm nhỏ, tiềm năng sáng tạo của học sinh được bộc lộ vàphát triển

Thường xuyên kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh, qua đó độngviên, khen ngợi hay phê bình, nhắc nhở các em cũng là một biện pháp để học sinhtích cực, tự giác, chủ động và giải quyết các vấn đề trong học tập Giáo viên khôngphải chỉ hô hào, nhắc nhở học sinh: hãy tích cực, tự giác, hãy chủ động, sáng tạo,

mà phải tạo ra các tình huống học tập để qua đó học sinh ý thức được những đềuđó

Tăng cường phương tiện trực quan trong dạy học, vì phương tiện dạy học cóchức năng khơi dậy, dẫn truyền và làm tăng sức mạnh tác động của giáo viên lên

Trang 7

học sinh, để nâng cao hiệu quả dạy học, tất yếu phải nâng cao tính hiện đại của cácphương tiện dạy học và nâng cao trình độ sử dụng chúng của giáo viên và học sinh.

2 Cơ sở thực tiễn:

2.1 Thực trạng về đổi mới phương pháp dạy học môn Địa Lí tại các Trường THPT Nghi Lộc

Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo quyết định số 16/2006/

QĐ-BGDĐT ngày 05/06/2006 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã nêu “phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh và năng lực giải quyết vấn

đề , phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học, bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh”

Đồng thời Bộ Giáo dục ban hành chủ trương đổi mới phương pháp dạy họcmới ở cấp học phổ thông, một giải pháp nhằm khắc phục tình trạng học tập thụđộng, áp đặt của phương pháp dạy học truyền thống, nhằm phát huy tính chủ độngtiếp cận tri thức, tạo cho học sinh khả năng tự soi chiếu tri thức vào cuộc sống, nănglực kiểm chứng giữa lý luận với thực tiễn Chương trình giáo Địa lí cấp THPTđược bố trí hợp lý với các bài học có kiến thức thực tế gắn liền với cuộc sống củamỗi con người, từ Tự nhiên đến kinh tế - xã hội, giá trị con người Việt Nam trongthời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, ngoài ra môn học còn tích hợp rất nhiều nộidung xã hội cần thiết cho các công dân như: Ngoại khóa, giáo dục kỹ năng sống,giáo dục môi trường, gắn liền hoạt động sản xuất tại địa phương… Vậy để truyềntải nội dung bài học đòi hỏi giáo viên phải đầu tư bài giảng thật sự có chất lượng,phải biết sử dụng phương pháp dạy học một cách có hiệu quả thì mới truyền tảiđược nội dung bài học cho học sinh

Trong khi đó, nội dung chương trình Địa lí THPT bao gồm nhiều kiến thứcphức tạp, quỹ thời gian cho một giờ dạy lại có hạn, đồng thời phải chuyển tải rấtnhiều nội dung bài học, khó khăn của thầy và trò là điều không tránh khỏi Đểchuyển tải dung lượng kiến thức một cách có hiệu quả, đòi hỏi đội ngũ thầy cô giáophải có tri thức, nhiệt huyết với nghề nghiệp, phải đổi mới phương pháp dạy họcmới hoàn thành tốt nhiệm vụ

Qua khảo sát thực tế, học sinh trường THPT Nghi Lộc 2 hầu hết các em họcsinh còn hạn chế về năng lực giải quyết vấn đề và năng lực sáng tạo (nhiều em cóđiểm kiểm tra môn Địa chưa đạt 3,0 điểm) Các bài trắc nghiệm thì các em làmtheo hình thức đoán mò, còn đối với các bài tự luận các đề thi thường ở mức độ vận

Trang 8

dụng thấp và vận dụng cao thì các em trả lồi lan man Để giải quyết được các dạngcâu hỏi tự luận này học sinh cần biết sử dụng tổng hợp các kiến thức để làm Qua thực tế giảng dạy trực tiếp các khối lớp, tôi thấy rằng khi ra những bài tậpdạng này học sinh thường lúng túng trong quá trình làm bài Cụ thể tháng 9 năm

2020, khi chưa áp dụng sáng kiến vào giảng dạy Tôi cho học sinh các lớp làm bàikhảo sát, kết quả như sau:

Việc phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và năng lực giải quyết vấn đềtrong học tập của học sinh tại các trường THPT Nghi Lộc 2 là một điều mà đội ngũgiáo viên môn Địa lí rất quan tâm khi sử dụng các phương pháp giáo dục tích cựcmới

Dưới đây là các yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến đến tính tích cực,chủ động, sáng tạo và giải quyết vấn đề trong học học tập của học sinh

Trong quá trình thực hiện sáng kiến kinh nghiệm tôi và đồng nghiệp dựa trên cácyếu tố ảnh hưởng đến tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập của học sinh

đã phát 200 phiếu điều tra các em học sinh tại các trường THPT Nghi Lộc 2 vàTHPT Nghi Lộc 5 và đã thu được các nhận xét như sau:

Bảng 1.1: Các yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập của học sinh

Trang 9

TT Các yếu tố ảnh hưởng Tỉ lệ%

I Yếu tố khách quan

1 Nội dung học tập phù hợp với nhận thức của học sinh 44.6

4 Sách giáo trình tài liệu thư viện phong phú 26.7

5 Giáo viên giảng dạy hay, tạo sự tích cự chủ động cho học sinh 51.7

8 Bản thân có phương pháp học tập phù hợp 19.7

9 Bản thân tíc cực tự giác và giải quyết các vấn đề với hoạt

động học tập

48.2

10 Hiểu vị trí, vai trò của Địa lí trong chương trình học 15.4

II Yếu tố chủ quan

1 Nội dung học tập chưa phù hợp với nhận thức của học sinh 21,2

4 Sách giáo trình tài liệu thư viện chưa phong phú 60.0

5

Giáo viên giảng dạy chưa hay, chưa tạo sự tích cực, chủ

động cho học sinh

10.8

6 Giáo viên đánh giá chưa công bằng với HS 14.6

8 Bản thân chưa có phương pháp học tập phù hợp 10,2

9 Bản thân chưa tích cực tự giác với hoạt động học tập 37.5

10 Ít hiểu vị trí, vai trò của môn Địa Lí trong chương trình học 31,5

Trang 10

Tất cả các yếu tố đều có học sinh lựa chọn (tỉ lệ>0) từ đó cho thấy trong quátrình dạy học các yếu tố ảnh hưởng khách quan lẫn chủ quan khác nhau, ảnh hưởngtích cực và tiêu cực hoạt động học tậpcủa bộ môn Đại Lí.

Yếu tố khách quan: nhìn vào yếu tố 1,4,5,6,7, học sinh đánh giá các yếu tố

“giáo viên vui vẻ, cởi mở là (52,6%), giáo viên giảng dạy hay, tạo sự tích cực, chủđộng cho học sinh (51,7%), giáo viên đánh giá công bằng với học sinh (42,5%), bảnthân tích cực tự giác với hoạt động học tập (48,2%) có ảnh hưởng tích cực đến hoạtđộng học tập của học sinh cao hơn ảnh hưởng tiêu cực là 9,8%, 10,8%, 14,6%,18,6% Điều này cho thấy thái độ của giáo viên cởi mở hòa đồng, mối quan hệ thầytrò và phương pháp giảng dạy, sự tích cực, sự tự giác và cách đánh giá công bằngcủa giáo viên đã thật sự tác động rất lớn đến tính tích cực học tập của học sinh Tuy

nhiên, vẫn còn học sinh bị ảnh hưởng tiêu cực như phương pháp giảng dạy chưa hay, chưa tạo chủ động tích cực (10,8%), giáo viên đánh giá chưa công bằng với

học sinh (14,6%) Như vậy, giáo viên cần chú trọng hơn nữa trong việc đổi mới và

áp dụng phương pháp giảng dạy học tích cực vào mỗi bài học, bên cạnh đó, giáoviên cần quan tâm việc đánh giá công bằng hơn với học sinh Ngoài ra, yếu tố

khách quan khác như “sách, giáo trình, cơ sở vật chất, trang thiết bị ” cũng ảnh

hưởng đến tính tích học tập của học sinh, nguồn tài liệu chưa phong phú làm chohọc sinh khó có điều kiện nghiên cứu đào sâu kiến thức bài học, môn học

Yếu tố chủ quan: nội dung học tập chưa phù hợp với nhận thức của học sinh (21,2%), chưa hiểu vị trí, vai trò của môn Địa Lí học trong chương trình học

(31,5%) Chính những đều này đã làm cho học sinh khó tiếp thu, lĩnh hội và tìmhiếu khám phá sâu những tri thức của ngành học cụ thể, yếu tố thứ hai mà học sinh

chọn tỉ lệ cao “chưa hiểu vị trí, vai của môn Địa Lí trong chương trình học” là

31,5%, cho thấy ngoài bản thân học sinh cần nỗ lực hiểu rõ môn học trong quá trìnhđào tạo, trong quá trình giảng dạy giáo viên phải làm cho học sinh hiểu vị trí, tầmquan trọng của môn học mình phụ trách

Chỉ có yếu tố “bản thân học sinh tích cực tự giác học tập và giải quyết các vấn đề”

được học sinh chọn nhiều nhưng tỉ lệ này chỉ ở mức trung bình 48,2% (<50%) Đây

là yếu tố quan trọng để hoạt động học tập của học sinh đạt kêt quả tốt, cần phát huyyếu tố này để việc học được hiệu quả hơn

3 Phát huy năng lực chủ động, sáng tạo và năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh trong dạy học môn Địa Lí thông qua các phương pháp dạy học tích cực tại trường THPT

Trang 11

3.1 Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề

* Dạy học giải quyết vấn đề là cách thức tổ chức dạy học, trong đó học sinh

được đặt trong một tình huống có vấn đề mà bản thân học sinh chưa biết cáchthức, phương tiện cần phải nỗ lực tư duy để giải quyết vấn đề

- HS được đặt vào tình huống có vấn đề chứ không phải được thông báo dướidạng tri thức có sẵn Vấn đề được đưa ra giải quyết cần vừa sức và gợi được nhucầu nhận thức ở HS

- HS không những được học nội dung học tập mà còn được học con đường

và cách thức tiến hành dẫn đến kết quả đó Nói cách khác, HS được học cáchphát hiện và giải quyết vấn đề

* Cách tiến hành

Bước 1: Nhận biết vấn đề

GV đưa người học vào tình huống có vấn đề hoặc GV có thể gợi ý ngườihọc tự tạo ra tình huống có vấn đề Phát biểu vấn đề dưới dạng “mâu thuẫn nhậnthức”, đó là mâu thuẫn giữa những cái đã biết với những cái chưa biết và HSmuốn tìm tòi để giải quyết vấn đề mâu thuẫn đó

Bước 2: Lập kế hoạch giải quyết vấn đề

HS đề xuất giả thuyết giải quyết vấn đề, đưa ra các phương án và lập kếhoạch để giải quyết vấn đề theo giả thuyết đã đặt ra

Bước 3: Thực hiện kế hoạch

Thực hiện kế hoạch giải quyết vấn đề Đánh giá việc thực hiện giả thuyếtđặt ra đã đúng chưa, nếu đúng thì chuyển sang bước tiếp theo, nếu như chưađúng thì quay trở lại bước 2 để chọn giả thuyết khác

Bước 4: Kiểm tra, đánh giá và kết luận

GV tổ chức cho HS rút ra kết luận về cách giải quyết vấn đề trong tìnhhuống đã được đặt ra, từ đó HS lĩnh hội được tri thức, kĩ năng của bài học hoặcvận dụng được những kiến thức, kĩ năng trong môn học để giải quyết vấn đềtrong thực tiễn

* Để có thể áp dụng dạy học giải quyết vấn đề, GV cần lưu ý:

- GV cần tạo ra tình huống có vấn đề phù hợp, thu hút HS vào quá trình tìmtòi để phát hiện và giải quyết vấn đề Tuy nhiên, không phải nội dung dạy họcnào cũng có thể phù hợp để xây dựng thành tình huống có vấn đề cho HS

Trang 12

- Nếu giải quyết vấn đề được sử dụng cho các nhóm, vấn đề cần đủ phứctạp để đảm bảo rằng tất cả các HS là thành viên trong nhóm đều phải làm việccùng nhau để giải quyết.

- Việc tổ chức tiết học hoặc một phần của tiết học theo phương pháp dạyhọc giải quyết vấn đề đòi hỏi phải có thời gian phù hợp

- Trong một số trường hợp, cần có thiết bị dạy học và các điều kiện phùhợp để thực hiện hiệu quả phương pháp giải quyết vấn đề, ví dụ các dụng cụ đểlàm thí nghiệm, các phương tiện tra cứu, khảo sát và thu thập thông tin…

Dạy học giải quyết vấn đề có ưu thế hình thành các phẩm chất và các năng lựcchung như sau: chăm chỉ, trách nhiêm, tự chủ, tự học, giải quyết vấn đề và sángtạo Thông qua phương phap này HS chủ động đề ra kế hoạch, cách thức giảiquyết vấn đề, cách thức xử lí các vấn đề phát sinh một cách sáng tạo khi giảiquyết vấn đề nhằm đạt được kết quả tốt nhất

Ví dụ 1: Khi dạy bài 18 Đô thi hóa Địa lí 12 cơ bản

- Phần a và c trong mục 1 Đặc điểm GV đưa ra các tình huống có vấn đề nhưsau:

Tình huống có vấn đề thứ nhất là:

+ Đô thị đầu tiên của nước ta xuất hiện từ rất sớm (thế kỉ III Trước công nguyên)

mà hiện nay tỉ lệ dân thành thị của nước ta mới chỉ đạt 26,9%.Tại sao lại như vậy?Điều đó có mâu thuẫn không và nó chứng tỏ được điều gì?

→ Học sinh suy nghĩ trả lời, giáo viên chuẩn kiến thức: Mặc dù đô thị đầu tiêncủa nước ta xuất hiện từ rất sớm nhưng đến nay tỉ lệ dân thành thị của nước ta mớichỉ đạt 26,9% ( thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới) Điều đó chứng

tỏ quá trình đô thị hóa ở nước ta diễn ra chậm chạp

Tình huống có vấn đề thứ hai là:

+ Dụa vào bảng số liệu giải thích Đông Nam Bộ là vùng có số lượng đô thị ítnhất, vậy có phải là vùng có số dân đô thị và quy mô dân số/ đô thị sẽ thấp nhất ?Ngược lại Trung du và miền núi Bắc Bộ có số lượng đô thị nhiều nhất thì sẽ là vùng

có số dân đô thị đông nhất và quy mô dân số/ đô thị sẽ cao nhất ?

Trang 13

→ Học sinh suy nghĩ trả lời, giáo viên chuẩn kiến thức: Đông Nam Bộ có sốlượng đô thị ít nhất nhưng lại là vùng có số dân đô thị cao nhất nên số dân thành thị/

đô thị cao nhất thuộc về Đông Nam Bộ Trung du và miền núi bắc Bộ: có số lượng

đô thị nhiều nhất nhưng không phải là vùng có số dân đô thị đông nhất nên số dânthành thị/ đô thị thấp nhất thuộc về Trung du và miền núi bắc Bộ Điều đó chứng tỏsức hấp dẫn và quá trình đô thị hóa ở Đông Nam Bộ cao hơn nhiều so với Trung du

và miền núi Bắc Bộ và với các vùng khác trong cả nước

Ví dụ 2: Trong chủ đề Trái Đất (Địa lí lớp 10) “Phân tích được hệ quả địa lí

của chuyển động tự quay” GV có thể thực hiện dạy học giải quyết vấn đề bởi

vì:

- Dạy học giải quyết vấn đề đáp ứng YCCĐ: Phân tích được hệ quả địa lí của

chuyển động tự quay

Các bước vận dụng như sau:

- Bước 1: Định hướng: GV có thể nêu vấn đề: Trái Đất chuyển động quanh Mặt Trời, nhưng tại sao hằng ngày chúng ta lại thấy Mặt Trời di chuyển trên bầu trời theo hướng từ Đông sang Tây?

- Bước 2: Lập kế hoạch nghiên cứu: từ vấn đề được nêu, có thể đề xuất 02 giảthuyết sau:

+ Chuyển động của Mặt Trời trên bầu trời theo hướng từ Đông sang Tây là chuyển động không có thực

+ Mặt Trời đứng yên, Trái Đất chuyển động

HS phải tìm đọc các tài liệu có liên quan đến Hệ Mặt Trời, chuyển động của Trái Đất trong không gian, để từ đó đưa ra lời giải cho 02 giả thuyết trên

− Bước 3: Thực hiện kế hoạch

Trang 14

Dựa vào kết quả nghiên cứu tài liệu, HS có lời giải cho 2 giả thuyết:

+ Giả thuyết 1 là chính xác, chuyển động của Mặt Trời trên bầu trời theohướng từ Đông sang Tây chỉ là chuyển động biểu kiến, thực chất là do Trái Đất

tự quay quanh trục theo chiều từ Tây sang Đông, nên người nhìn từ mặt đất sẽthấy Mặt Trời chuyển động biểu kiến từ Đông sang Tây

+ Giả thuyết 2 chỉ đúng 1 phần: Trái Đất chuyển động quanh Mặt Trời, MặtTrời không chuyển động quanh Trái Đất nhưng toàn bộ Hệ Mặt Trời cũngchuyển động xung quanh trục của dải Ngân Hà

− Bước 4: Kiểm tra, đánh giá và kết luận

HS kết luận theo giả thuyết 1 GV có thể đề xuất vấn đề tiếp nối: “Chuyểnđộng tự quay của Trái Đất đã gây nên những hệ quả địa lí gì? Nếu không cóchuyển động tự quay ấy thì sự sống có thể xuất hiện trên Trái Đất hay không?”Như vậy, phương pháp giải quyết vấn đề đã đáp ứng YCCĐ: Phân tích được

hệ quả địa lí của chuyển động tự quay Sử dụng phương pháp giải quyết vấn đềtrong ví dụ trên, HS sẽ hình thành được thành phần năng lực Nhận thức khoahọc địa lí (cụ thể là Giải thích các hiện tượng và quá trình địa lí), Vận dụng kiếnthức kĩ năng đã học (cụ thể là Vận dụng tri thức địa lí giải quyết một số vấn đềthực tiễn)

Ví dụ 3: Bài 8 Thiên nhiên ảnh hưởng sâu sắc của biển

Khi dạy phần a Khí hậu mục 2 Ảnh hưởng của biển Đông đến thiên nhiên Việt

Nam GV sử phương pháp giải quyết vấn đề kết hợp kĩ thuật động não để đặt câuhỏi và giao nhiệm vụ

+ Bước 1: GV đưa ra lược đồ “Phân bố lượng mưa trên thế giới” và hình ảnh về thiên nhiên Việt Nam và thiên nhiên khu vực Tây Nam Á sau đó đặt câu hỏi cho cả lớp: So sánh lượng mưa của Việt Nam và các nước cùng vĩ độ?; Nhận xét về 2 bức tranh thiên nhiên của Việt Nam và khu vực Tây Nam Á?

Bản đồ phân bố lượng mưa trên thế giới

Trang 15

Rừng rậm nhiệt đới Bạch Mã và rừng khộp ở Tây Nguyên

Cảnh quan thiên nhiên ở khu vực Tây Nam Á + Bước 2: HS suy nghĩ và rút ra nhận xét: tuy nằm cũng vĩ độ nhưng Việt Nam

có lượng mưa cao hơn hẳn các nước ở Tây Nam Á và Bắc Phi Thiên nhiên ViệtNam xanh tốt, giàu sức sống khắc hẳn với thiên nhiên khu vực Tây Nam Á khô cằn,chủ yếu là hoang mạc, sa mạc

+ Bước 3: GV đưa ra câu hỏi: Từ các nhận xét trên em hãy nêu ảnh hưởng củabiển Đông đến thiên nhiên nước ta?

+ Bước 4: HS dựa trên các nhận xét kết hợp với kiến thức sách giáo khoa để tìm

ra câu trả lời, GV chuẩn kiến thức

Như vậy, phương pháp giải quyết vấn đề đã đáp ứng yêu cầu cần đạt: Phân tích , giải thích được quá trình đô thị hóa nước ta, phân tích, liên hệ ,so sánh để thấy ảnh hưởng của biển Đông đến thiên nhiên nước ta và đồng thời phân tích được hệ quả địa lí của chuyển động tự quay Thông qua đó cho ta thấy việc sử

dụng phương pháp giải quyết vấn đề trong ví dụ trên, HS sẽ hình thành đượcthành năng lực chủ động sáo tạo và năng lực giải quyết vấn đề từ các thành phần

năng lưc: Nhận thức khoa học địa lí (cụ thể là Giải thích các hiện tượng và quá

Trang 16

trình địa lí), Vận dụng kiến thức kĩ năng đã học (cụ thể là Vận dụng tri thức địa lí giải quyết một số vấn đề thực tiễn).

3.2 Sử dụng phương pháp dự án.

Phương pháp dạy học dự án là cách thức tổ chức dạy học, trong đó học sinhthực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lí thuyết và thựchành, tạo ra các sản phẩm có thể giới thiệu, trình bày Phương pháp này giúp họcsinh phát triển kiến thức và kỹ năng liên quan thông qua những nhiệm vụ học tậpmang tính mở, khuyến khích học sinh tìm tòi, hiện thực hóa những kiến thức đã họctrong quá trình thực hiện dự án và tạo ra những sản phẩm của chính mình

Trang 17

Dạy học dựa trên dự án vận dụng nhiều phương pháp dạy học để tổ chức,chính vì thế nó có khả năng phát triển toàn diện các năng lực cho HS: Năng lực giảiquyết vấn đề và sáng tạo, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực nhận thức thế giớitheo quan điểm không gian, năng lực tìm hiểu địa lí, năng lực vận dụng kiến thức kĩnăng…Chương trình của dạy học theo dự án được xây dựng dựa trên những câu hỏiđịnh hướng quan trọng, lồng ghép các chuẩn nội dung và tư duy bậc cao trongnhững bối cảnh thực tế Bài học thiết kế theo dự án chứa đựng nhiều kĩ thuật dạyhọc khác nhau có thể lôi cuốn mọi đối tượng học sinh không phụ thuộc vào cáchhọc của họ Các phương tiện kĩ thuật cũng được sử dụng để hỗ trợ việc dạy và học.Với mô hình này có thể vận dụng nhiều cách đánh giá khác nhau để giúp học sinhtạo ra những sản phẩm chất lượng và được đánh giá toàn diện.

Dạy học theo dự án là một phương pháp dạy học tích cực, bản chất của phươngpháp này đã tạo nên một sự thay đổi lớn về vai trò của người dạy và người học

* Khi sử dụng phương pháp dạy học theo dự án giáo viên cần lưu ý một số điểm sau đây:

+ Dạy học dựa trên dự án không phù hợp với việc truyền thụ tri thức lí thuyếtmang tính hệ thống cũng như trang bị kĩ năng cơ bản Chính vì thế, việc lựa chọnnội dung phù hợp để có ý tưởng tổ chức dự án là rất quan trọng, nên là những nộidung mang tính vận dụng, thực tiễn và ít nhiều HS có trải nghiệm/ kinh nghiệm + Dạy học dựa trên dự án tốn rất nhiều thời gian chính vì thế cần cân nhắc về sốlượng các dự án học tập trong một năm học, kết hợp linh hoạt thời gian trên lớp vàthời gian ngoài lớp, ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin và truyền thông trong tổchức cho HS thực hiện… là những giải pháp hữu hiệu để khắc phục hạn chế này + Dạy học dựa trên dự án đòi hỏi nhiều sự đầu tư về cơ sở vật chất, tuy nhiên ởnhững điều kiện dạy học tối thiểu vẫn hoàn toàn có thể áp dụng phương pháp nàybằng việc lựa chọn hình thức HS thể hiện sản phẩm phù hợp với điều kiện kinh tếcủa nhà trường, lựa chọn những nội dung gắn với thực tế địa phương…

+ Dạy học theo dự án là một hoạt động học tập nhằm tạo cơ hội cho học sinh tổnghợp kiến thức từ nhiều lĩnh vực, áp dụng một cách sáng tạo vào thực tế cuộc sống.Đồng thời củng cố kiến thức và xây dựng các kỹ năng hợp tác, giao tiếp và học tậpđộc lập, chuẩn bị hành trang cho học sinh học tập suốt đời và đối mặt với các thửthách trong cuộc sống

* Cách tiến hành:

+ Giai đoạn 1: Chuẩn bị dự án

Trang 18

Xác định chủ đề và mục đích của dự án Giáo viên và học sinh cùng nhau đề xuất ýtưởng, xác định chủ đề và mục đích của dự án Cần tạo ra một tình huống xuất phát,chứa đựng một vấn đề, hoặc đặt một nhiệm vụ cần giải quyết, trong đó liên hệ vớihoàn cảnh thực tiễn xã hội và đời sống Cần chú ý đến hứng thú của người họccũng như ý nghĩa xã hội của đề tài Giáo viên có thể giới thiệu một số hướng đề tài

để học sinh lựa chọn và cụ thể hoá Trong một số trường hợp, ý tưởng về việc xácđịnh đề tài có thể xuất phát từ phía học sinh Giai đoạn này còn được mô tả thànhhai giai đoạn là đề xuất ý tưởng và thảo luận về ý tưởng

+ Giai đoạn 2: Xây dựng kế hoạch thực hiện

Trong giai đoạn này học sinh với sự hướng dẫn của giáo viên xây dựng đềcương cũng như kế hoạch cho việc thực hiện dự án Trong việc xây dựng kế hoạchcần xác định những công việc cần làm, thời gian dự kiến, vật liệu, kinh phí,phương pháp tiến hành và phân công công việc trong nhóm

+ Giai đoan 3: Thu thập thông tin:

Hướng dẫn học sinh các cách thu thập thông tin như: Quan sát, phỏng vấn, tra cứumạng, thư viện, bảo tàng, Sách báo, tạp chí và các mối quan hệ khác trong cuộcsống

+ Giai đoạn 4: Thực hiện dự án:

Các thành viên thực hiện công việc theo kế hoạch đã đề ra cho nhóm và cá nhân.Trong giai đoạn này học sinh thực hiện các hoạt động trí tuệ và hoạt động thực tiễn,thực hành, những hoạt động này xen kẽ và tác động qua lại lẫn nhau Kiến thức lýthuyết, các phương án giải quyết vấn đề được thử nghiệm qua thực tiễn Trong quátrình đó sản phẩm của dự án và thông tin mới được tạo ra

+ Giai đoạn 5: Trình bày sản phẩm dự án:

Kết quả thực hiện dự án có thể được viết dưới dạng thu hoạch, báo cáo, bài báo Trong nhiều dự án các sản phẩm vật chất được tạo ra qua hoạt động thực hành Sảnphẩm của dự án cũng có thể là những hành động phi vật chất, chẳng hạn việc biểudiễn một vở kịch, việc tổ chức một sinh hoạt nhằm tạo ra các tác động xã hội Sảnphẩm của dự án có thể được trình bày giữa các nhóm học sinh, có thể được giớithiệu trong nhà trường, hay ngoài xã hội

+ Giai đoạn 6: Đánh gía dự án:

Giáo viên và học sinh đánh giá quá trình thực hiện và kết quả cũng như kinhnghiệm đạt được Từ đó rút ra những kinh nghiệm cho việc thực hiện các dự án tiếptheo Kết quả của dự án cũng có thể đuợc đánh giá từ bên ngoài

Trang 19

Việc phân chia các giai đoạn trên đây chỉ mang tính chất tương đối Trong thực tếchúng có thể xen kẽ và thâm nhập lẫn nhau Việc tự kiểm tra, điều chỉnh cần đượcthực hiện trong tất cả các giai đoạn của dự án Với những dạng dự án khác nhau cóthể xây dựng cấu trúc chi tiết riêng phù hợp với nhiệm vụ dự án Giai đoạn 4 và 5cũng có thể mô tả chung thành một giai đoạn.

Ví dụ 1 : Chương trình địa lí lớp 12, tôi tổ chức, hướng dẫn học sinh thực hiện các

nhiệm vụ theo dạy học dự án Trong chủ đề “ Sử dụng, bảo vệ tài nguyên, môitrường và phòng chống thiên tai”

Giai đoạn 1: Giới thiệu mục tiêu, chủ đề dự án

- Bước 1: Xác định mục tiêu của dự án

+ Có ý thức góp phần giải quyết mối quan hệ giữa sử dụng hợp lí tài nguyênthiên nhiên và bảo vệ môi trường với sự phát triển ở địa phương nhằm tiếp cận đếnmục tiêu phát triển bền vững

+ Nhận biết được hiện trạng sử dụng tài nguyên thiên nhiên và môi trường ở địaphương

+ Tham gia bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường tại địa phương như trườnghọc, xóm làng, khu phố bằng những việc làm cụ thể và thiết thực

+ Phát triển kĩ năng đặt vấn đề và giải quyết vấn đề

+ Hình thành và phát triển năng lực công nghệ thông tin

+ Phát triển năng lực hợp tác và trình diễn (trong quá trình thực hiện và tại thờiđiểm trình bày sản phẩm)

+ Phát triển năng lực tư duy

- Bước 2: Xác định và lựa chọn các tiểu chủ đề của dự án

Giáo viên và học sinh cùng thảo luận để xác định các tiểu chủ đề của dự án:

+ Tiểu chủ đề 1: Sử dụng và bảo vệ tài nguyên sinh vật

+ Tiểu chủ đề 2: Sử dụng, bảo vệ tài nguyên đất và một số tài nguyên khác

+ Tiểu chủ đề 3: Bảo vệ môi trường

+ Tiểu chủ đề 4: Một số thiên tai và biện pháp phòng chống

Sau khi xác định được các tiểu chủ đề, giáo viên căn cứ vào sĩ số học sinh củalớp để chia nhóm và giao nhiệm vụ cho mỗi nhóm

+ Bước 3: Phổ biến quy trình đánh giá, cung cấp mẫu phiếu đánh giá

+ Bước 4: Cung cấp tư liệu hỗ trợ: bao gồm các tài liệu tham khảo; bản hướng

dẫn thực hiện đánh giá

- Giai đoạn 2: Xây dựng kế hoạch thực hiện dự án

Các nhóm dưới sự hướng dẫn của giáo viên sẽ thảo luận về tiểu chủ đề đượcgiao, xây dựng đề cương nghiên cứu cũng như kế hoạch cho việc thực hiện dự án

Trang 20

Trong việc xây dựng kế hoạch phải xác định những công việc cần làm, thời gian dựkiến, vật liệu, phương pháp tiến hành và phân công công việc trong nhóm

- Giai đoạn 3: Thực hiện dự án.

+ Thời gian: 1 tuần

+ Địa điểm: Học sinh tự lựa chọn

Học sinh làm việc cá nhân và nhóm theo kế hoạch đã đề ra

+ Thu thập thông tin: Học sinh có thể thu thập, tìm kiếm thông tin, bản đồ,tranh ảnh, video clip qua sách, báo, internet

+ Xử lí thông tin, tổng hợp kết quả nghiên cứu của các thành viên trong nhóm.Trong quá trình xử lí thông tin, các nhóm phải hướng tới làm rõ các vấn đề đã đặt ratrong đề cương, kế hoạch nghiên cứu

+ Hoàn thành báo cáo kết quả nghiên cứu của nhóm và chuẩn bị bài trình bàytrước lớp

Giai đoạn 4: Báo cáo, trình bày sản phẩm dự án và đánh giá.

- Thời lượng : 1 tiết

- Địa điểm : tại lớp học

Giới thiệu, trình bày sản phẩm của nhóm trước lớp

+ Giáo viên tổ chức cho học sinh báo cáo sản phẩm của nhóm trước lớp Sản

phẩm là bản báo cáo kết quả nghiên cứu và bài thuyết trình của nhóm Khuyếnkhích học sinh trình bày một cách sáng tạo để phát triển các năng lực của các em.+ Mỗi nhóm cử đại diện lên báo cáo sản phẩm về tiểu chủ đề của nhóm Cácnhóm còn lại lắng nghe, phản hồi về phần trình bày của nhóm bạn

+ Giáo viên chốt lại nội dung quan trọng tương ứng với nội dung của mỗi nhóm.+ Học sinh chủ động ghi lại nội dung chính của chủ đề

Ví dụ 2 : Chương trình địa lí lớp 12, có thể tổ chức, hướng dẫn học sinh thực

hiện các nhiệm vụ theo dạy học dự án Trong chuyên đề “Thiên tai và biện pháp

phòng chống” (Địa lí lớp 12, , Chương trình giáo dục môn Địa lí 2018),

PP dạy học dựa trên dự án đáp ứng các YCCĐ trong chuyên đề này

- HS dễ dàng thu thập dữ liệu và liên hệ thực tiễn tại Việt Nam

GV có thể vận dụng PP dạy học dựa trên dự án theo các giai đoạn như sau:

- Giai đoạn 1: Chuẩn bị dự án: GV đề xuất dự án học tập: Tìm hiểu thiên tai

và biện pháp phòng chống để đáp ứng yêu cầu cần đạt của chương trình.

+ GV chia nhóm, giao nhiệm vụ cho các nhóm HS, cụ thể:

 Nhóm 1: Trình bày được quan niệm, đặc điểm, nguyên nhân, phân loại thiên

Trang 21

 Nhóm 4: Thu thập được tranh ảnh, số liệu, video clip, để trưng bày một

số chủ đề về thiên tai ở nước ta

 Nhóm 5: Viết được đoạn văn ngắn tuyên truyền mọi người trong cộngđồng về thiên tai và các biện pháp phòng chống

+ Các nhóm xây dựng kế hoạch làm việc: xác định mục đích của chuyếnkhảo sát; lựa chọn địa điểm khảo sát mang tính điển hình; dự kiến công việc vàxác định phương pháp tiến hành

- Giai đoạn 2: Thực hiện dự án: HS làm việc nhóm theo kế hoạch:

+ Thu thập, xử lí, phân tích tài liệu, số liệu từ nhiều nguồn khác nhau (nhất làvới nhóm 1, 2 và 4)

+ Khảo sát thực tế và tìm hiểu được về một thiên tai cụ thể tại địa phương(đối với nhóm 3)

+ Tập hợp dữ liệu để viết báo cáo

- Giai đoạn 3: Đánh giá dự án

+ HS báo cáo sản phẩm trước lớp, GV và các nhóm khác đặt vấn đề trao đổithêm với nhóm tác giả

+ Tổ chức cho HS tự đánh giá hoặc đánh giá lẫn nhau về kết quả làm việc củatừng nhóm GV tổng kết, đánh giá về phương pháp tiến hành, nội dung và kết quảcủa các vấn đề đã được nghiên cứu và trình bày của từng nhóm

Như vậy qua hai ví dụ với dạy học dựa trên dự án đã đáp ứng các yêu câucần đạt khi dạy chuyên đề Thiên tai và biện pháp phòng chống Qua ví dụ trên có

thể thấy, HS sẽ hình thành được thành phần năng lực: Nhận thức khoa học địa lí (cụ thể là Giải thích các hiện tượng và quá trình địa lí), Tìm hiểu địa lí (cụ thể là Khai thác Internet phục vụ môn học), Vận dụng kiến thức kĩ năng đã học (cụ thể

là Cập nhật thông tin và liên hệ thực tế, Thực hiện chủ đề học tập khám phá từ thực tiễn), và từ đó góp phần hình thành năng lực giải quyết vấn đề và năng lực chủ động , sáng tạo từ người học.

3.3 Phương pháp trực quan

công cụ hỗ trợ HS hình thành năng lực và phẩm chất

Trang 22

Phương tiện trực quan là tất cả những phương tiện được sử dụng trong quátrình dạy học giúp chuyển biến nội dung hình thành mục tiêu dạy học.

Trong dạy học địa lí, GV sử dụng các phương tiện trực quan để tổ chức hoạtđộng học tập nhằm hình thành các biểu tượng cụ thể về sự vật, hiện tượng địa lí,hình thành khái niệm địa lí thông qua sự tri giác trực tiếp bằng các giác quan củangười học Nhờ vậy, học sinh có thể nhận diện các khái niệm, giải thích các sựvật, hiện tượng địa lí, các mối quan hệ nhân quả địa lí một cách chính xác và đầyđủ

Là việc giáo viên sử dụng các phương tiện dạy học tác động trực tiếp đến cơ quan cảm giác của học sinh nhằm đạt được hiệu quả cao

- Bước 3: Định hướng nội dung cần khai thác từ PTTQ

Một PTTQ có thể bao gồm nhiều nội dung khác nhau, trong đó có nội dung phù hợp yêu cầu cần đạt nhưng cũng có nội dung không hoặc ít có liên quan Do đó,

GV cần định hướng cho HS tập trung vào các nội dung theo yêu cầu cần đạt, đảm bảo việc khai thác tri thức từ PTTQ đạt hiệu quả cao

- Bước 4: Tổ chức hoạt động cho học sinh khai thác tri thức từ PTTQ

Khi thực hiện, GV cần hướng dẫn để HS phân tích làm rõ được các nội dung

mà PTTQ ấy muốn biểu đạt Từ đó, GV có thể đặt các câu hỏi gợi mở để HS trảlời, nhận xét và dần dần đạt được phẩm chất và năng lực như dự kiến ban đầu

* Lưu ý khi sử dụng phương pháp trực quan.

+ Lựa chọn PP dạy học trực quan phù hợp với mục tiêu, yêu cầu cần đạt và nội dung dạy học, sử dụng đúng thời điểm và đủ mức độ

+ Phối hợp linh hoạt các phương tiện trực quan và phối hợp chặt chẽ với cácphương pháp dạy học khác để phát huy tối đa tính tích cực học tập của học sinh + Khi nêu ra các tài liệu trực quan cần phải phân tích, giảng giải và rút ra kết

Trang 23

luận một cách chính xác.

+ Tránh hình thành ở học sinh phương pháp tư duy máy móc

+ Kết hợp phương pháp trực quan với các phương pháp khác

* Một số hình thức của phương pháp trực quan trong giảng dạy môn Đia lí.

+ Sơ đồ, bản đồ, bảng biểu, tranh ảnh, phim video, số liệu thống kê

+ Màn hình, máy chiếu

+ Sử dụng ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy

+ Có thể tổ chức tham quan dã ngoại (nếu có điều kiện) trong tiết thực hànhngoại khóa

- Sử dụng sơ đồ, biểu đồ, bản đồ nó có tác dụng hệ thống hóa kiến thức,

nắm kiến thức bài giảng tổng quát, khái quát

Tranh ảnh, phim video: Là hình ảnh trực quan gây nhiều ấn tượng sâu sắc, tạo

ra trạng thái tâm lý tiếp thu nhẹ nhàng, thoải mái, không gây áp lực, ngược lại gâyđược sự hứng thú, tư duy cho học sinh Tất nhiên việc sử dụng tranh ảnh, phimvideo phải có chọn lọc Vì tranh ảnh, phim video minh họa đúng nội dung và có tácdụng tốt Song tranh ảnh nếu thiếu sự chọn lọc sẽ có tác hại xấu

Ví dụ khi dạy địa lí 11 Trong chủ đề Hợp chúng quốc Hoa Kì (lớp 11, trang

42,43, Chương trình giáo dục môn Địa lí cơ bản ) có yêu cầu cần đạt: Trình bày được sự phân bố của ngành công nghiệp Hoa Kì GV nên sử dụng PP dạy học trực

quan bởi vì:

- Phương pháp dạy học trực quan đáp ứng việc hình thành phát triển thànhphần NL Nhận thức khoa học địa lí (biểu hiện: Nhận thức thế giới theo quan điểmkhông gian) và Tìm hiểu địa lí (Sử dụng các công cụ của Địa lí học); đáp ứng yêu

cầu cần đạt: Trình bày được sự phân bố của ngành công nghiệp Hoa Kì.

GV có bản đồ công nghiệp Hoa kì để sửdụng Các bước thực hiện như sau:

- Bước 1: Xác định yêu cầu cần đạt và mục đích của việc sử dụng phương tiệntrực quan

+ Yêu cầu cần đạt: trình bày được sự phân bố của ngành công nghiệp Hoa Kì.+ Mục đích của việc sử dụng phương tiện trực quan: hướng dẫn học sinh khai tháctri thức mới từ lược đồ

- Bước 2: GV lựa chọn lược đồ “Các trung tâm công nghiệp chính của Hoa Kì”

để dạy học.

Trang 24

Hình 6.7 Các trung tâm công nghiệp chính của Hoa Kì

Bước 3: Định hướng nội dung cần khai thác từ lược đồ: HS cần khai thác được

những nội dung sau:

+ Các vùng công nghiệp của Hoa Kì: 3 vùng

+ Quy mô và cơ cấu các ngành công nghiệp của Hoa Kì ở 3 vùng

- Bước 4: Tổ chức hoạt động cho học sinh khai thác tri thức từ phương tiện trực quan

+ Trước hết cần hướng dẫn HS phân biệt 3 vùng công nghiệp của Hoa Kì dựa vào nền màu trên lược đồ

+ Yêu cầu HS so sánh về số lượng, quy mô và cơ cấu ngành công nghiệp của các trung tâm ở 3 vùng công nghiệp Hoa Kì

+ Từ kết quả so sánh, yêu cầu HS rút ra nhận xét về đặc điểm phân bố công nghiệp của Hoa Kì

Như vậy, phương pháp dạy học trực quan đã đáp ứng yêu cầu cần đạt: Trình bàyđược sự phân bố của ngành công nghiệp Hoa Kì Sử dụng phương pháp dạy học

trực quan trong ví dụ trên, HS sẽ hình thành, phát triển được thành phần năng lực Nhận thức khoa học địa lí và Tìm hiểu địa lí Hình thành năng lực giải quyết vấn

đề và năng lực chủ động , sáng tạo từ người học thông qua các thao tác khai thác các tri thức từ phương tiện trực quan.

3.4 Phương pháp dạy học trên thực địa.

Thực địa là phương pháp dạy học trong đó GV tổ chức, hướng dẫn HSthực hiện các hoạt động học tập ngoài thực tế nhằm thu thập thông tin về chủ đềhọc tập thông qua các hình thức khác nhau như tham quan, khảo sát, điều tra,quan sát, phỏng vấn Sau đó, HS sẽ xử lí thông tin đã thu thập được để viết vàtrình bày báo cáo

Trang 25

Nội dung môn học Địa lí bắt nguồn từ thực tiễn cuộc sống xã hội, nêntrong giảng dạy môn Địa lí phải có sự liên hệ với thực tế cuộc sống Nhờ đó họcsinh hiểu được tại sao phải học vấn đề đó? Cần vận dụng kiến thức đã học vàothực tế cuộc sống như thế nào? Rèn luyện kĩ năng sống, thái độ nhận thức vấn

đề nội dung bài học vào thực tiễn đời sống xã hội

Dạy học trên thực địa có những đặc điểm sau:

− Cung cấp thông tin trong thực tiễn của đối tượng địa lí.

− Địa điểm tổ chức hoạt động học tập ở ngoài trời, bên ngoài lớp học.

− Môi trường học tập sống động, trực quan sinh động.

− HS được trải nghiệm trong môi trường thực tế.

− Nội dung học tập được HS đối sánh, kết nối kiến thức học trong lớp và ngoài

thực tiễn

* Cách tiến hành:

− Bước 1 Đặt vấn đề và lên kế hoạch thực địa

Đặt vấn đề trong phương pháp thực địa bằng cách sử dụng kĩ thuật dạy họckhác nhau nhằm làm rõ lí do, vai trò ý nghĩa của việc học tập tại thực địa từ đótạo nhu cầu hứng thú học tập cho HS

Kế hoạch học tập thực địa cần được xây dựng chi tiết, từ lộ trình thực địa,điểm thực địa, thời gian thực hiện cho đến các yêu cầu khảo sát theo tuyến vàđiểm thực địa, phương tiện thực hiện, kinh phí và thành phần có trách nhiệmtrong chuyến thực địa

− Bước 2 Định hướng nội dung và phương pháp cho HS học tập tại thực địa

Định hướng các hoạt động học tập tại thực địa cho HS: GV xác định nộidung trọng tâm của chuyến học tập thực địa căn cứ theo yêu cầu cần đạt Tùyvào nội dung học tập, GV định hướng cho HS lựa chọn các phương pháp, chuẩn

bị công cụ để thu thập và lưu trữ thông tin trong quá trình học tập tại thực địa

Để việc học tập tại thực địa của HS đạt hiệu quả cao, bước này GV nên thựchiện trước khi tổ chức các hoạt động học tập tại thực địa, đồng thời phổ biến cácnội quy học tập tại thực địa cho HS, phân công nhiệm vụ cho các cá nhân/nhóm,nêu cao tinh thần tự chủ, tự quản của HS

- Bước 3 Tổ chức thực địa

GV tổ chức cho HS khảo sát điều tra thực địa theo kế hoạch đã thiết kếthông qua việc sử dụng một số phương pháp phù hợp trong khảo sát thực địanhư: quan sát; phỏng vấn miệng, khảo sát bằng phiếu; thu thập mẫu vật, kết hợpvới việc sử dụng các tư liệu tranh ảnh, bản đồ, sách, báo…; lập bảng thống kê,

vẽ phác họa lược đồ phân bố nhằm thu thập các thông tin về nội dung tìm hiểu,

Trang 26

nghiên cứu.

Trong quá trình học tập tại thực địa, HS phải tuân thủ các nội quy đồng thờiphát huy tinh thần chủ động, tự giác, tích cực để thực hiện các hoạt động theohình thức cá nhân hoặc

theo nhóm

- Bước 4 Hướng dẫn HS xử lí thông tin

Sau khi HS thu thập các thông tin thực địa, GV hướng dẫn HS xử lí thông tin

và viết báo cáo thực địa Công việc này thường được tiến hành ở lớp học và tạinhà để HS có thời gian thực hiện

Về việc xử lí thông tin: Kết quả thu thập thông tin từ việc học tập tại thựcđịa và các thông tin thu thập qua sách, báo, tài liệu thường tồn tại dưới hai dạng làthông tin định tính và thông tin định lượng Các thông tin định tính và định lượngcần được xử lí để làm cơ sở cho việc viết báo cáo thực địa

+ Xử lí thông tin định lượng: thường dùng phương pháp thống kê toán học

để xác định xu hướng diễn biến của tập hợp số liệu thu thập được, tức là xácđịnh quy luật thống kê của tập hợp số liệu và thường được trình bày dưới 3dạng: các con số rời rạc, bảng số liệu thống kê hoặc biểu đồ

+ Xử lí thông tin định tính: xử lí logic đối với các thông tin định tính - làviệc đưa ra những phán đoán về bản chất các sự vật, hiện tượng, quá trình địa lí

đã khảo sát, đồng thời thể hiện những liên hệ logic giữa chúng

− Bước 5: Hướng dẫn HS viết báo cáo thực địa

Bài báo cáo thu hoạch thực địa là báo cáo khoa học, để tập dượt cho HS viếtbáo cáo thực địa, GV cần chú ý một số điểm sau:

+ Cấu trúc và nội dung của báo cáo gồm 3 phần: Mở đầu, nội dung và kết luận Phần mở đầu: Trong phần này nên đề cập đến những yếu tố sau: Đặt vấn đề;mục đích, ý nghĩa; thời gian, địa điểm…

Nội dung: Tùy theo dung lượng của báo cáo phần này có thể cấu tạo thànhcác chương hoặc các mục lớn Trong đó, các nội dung chính được trình bày vớidung lượng nhiều hơn

Kết luận: Phần này trình bày các kết luận chính được rút ra trong quá trìnhkhảo sát điều tra thực địa, nêu được những kết quả đạt được, một số hạn chế và đềxuất khuyến nghị (nếu có)

+ Hình thức, ngôn ngữ sử dụng trong báo cáo: Báo cáo thực địa được xem làmột báo cáo khoa học, nên khi viết báo cáo cần phải đảm bảo đúng ngôn ngữ,văn phong khoa học, cụ thể: Ngôn ngữ trong báo cáo phải ngắn gọn, rõ ràng, súc

Ngày đăng: 02/07/2022, 17:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Các yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập của học sinh - Phát huy năng lực chủ động sáng tạo  và năng lực giải quyết  vấn đề cho học sinh trong dạy học môn địa lí thông qua một số phương pháp dạy học tích cực tại trường THPT  nghi lộc 2
Bảng 1.1 Các yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập của học sinh (Trang 9)
+ Bước 1: GV đưa ra lược đồ “Phân bố lượng mưa trên thế giới” và hình ảnh về thiên nhiên Việt Nam và thiên nhiên khu vực Tây Nam Á sau đó đặt câu hỏi cho cả  lớp: So sánh lượng mưa của Việt Nam và các nước cùng vĩ độ?; Nhận xét về 2 bức  tranh thiên nhiên - Phát huy năng lực chủ động sáng tạo  và năng lực giải quyết  vấn đề cho học sinh trong dạy học môn địa lí thông qua một số phương pháp dạy học tích cực tại trường THPT  nghi lộc 2
c 1: GV đưa ra lược đồ “Phân bố lượng mưa trên thế giới” và hình ảnh về thiên nhiên Việt Nam và thiên nhiên khu vực Tây Nam Á sau đó đặt câu hỏi cho cả lớp: So sánh lượng mưa của Việt Nam và các nước cùng vĩ độ?; Nhận xét về 2 bức tranh thiên nhiên (Trang 14)
Mô hình kinh doanh với các  cửa  hàng  kết  hợp  với  website  online  sẽ  dễ  đạt  được  sự  tin  tưởng  của khách hàng - Phát huy năng lực chủ động sáng tạo  và năng lực giải quyết  vấn đề cho học sinh trong dạy học môn địa lí thông qua một số phương pháp dạy học tích cực tại trường THPT  nghi lộc 2
h ình kinh doanh với các cửa hàng kết hợp với website online sẽ dễ đạt được sự tin tưởng của khách hàng (Trang 15)
dụng phương pháp giải quyết vấn đề trong ví dụ trên, HS sẽ hình thành được thành  năng lực chủ động sáo tạo và năng lực giải quyết vấn đề từ các thành phần năng lưc:  Nhận thức khoa học địa lí (cụ thể là Giải thích các hiện tượng và quá - Phát huy năng lực chủ động sáng tạo  và năng lực giải quyết  vấn đề cho học sinh trong dạy học môn địa lí thông qua một số phương pháp dạy học tích cực tại trường THPT  nghi lộc 2
d ụng phương pháp giải quyết vấn đề trong ví dụ trên, HS sẽ hình thành được thành năng lực chủ động sáo tạo và năng lực giải quyết vấn đề từ các thành phần năng lưc: Nhận thức khoa học địa lí (cụ thể là Giải thích các hiện tượng và quá (Trang 15)
Nhận thức khoa học địa lí và Tìm hiểu địa lí. Hình thành năng lực giải quyết vấn đề và năng lực chủ động , sáng tạo từ người học thông qua các thao tác khai thác các tri thức từ phương tiện trực quan. - Phát huy năng lực chủ động sáng tạo  và năng lực giải quyết  vấn đề cho học sinh trong dạy học môn địa lí thông qua một số phương pháp dạy học tích cực tại trường THPT  nghi lộc 2
h ận thức khoa học địa lí và Tìm hiểu địa lí. Hình thành năng lực giải quyết vấn đề và năng lực chủ động , sáng tạo từ người học thông qua các thao tác khai thác các tri thức từ phương tiện trực quan (Trang 24)
Trên cơ sở của bảng nội dung, HS nghiên cứu sửdụng thêm các câu hỏi khác nhau để xây dựng phiếu điều tra. - Phát huy năng lực chủ động sáng tạo  và năng lực giải quyết  vấn đề cho học sinh trong dạy học môn địa lí thông qua một số phương pháp dạy học tích cực tại trường THPT  nghi lộc 2
r ên cơ sở của bảng nội dung, HS nghiên cứu sửdụng thêm các câu hỏi khác nhau để xây dựng phiếu điều tra (Trang 29)
Bảng 1.3. Bảng hỏi mức độ và địa bàn tiêu thụ các sản phẩm - Phát huy năng lực chủ động sáng tạo  và năng lực giải quyết  vấn đề cho học sinh trong dạy học môn địa lí thông qua một số phương pháp dạy học tích cực tại trường THPT  nghi lộc 2
Bảng 1.3. Bảng hỏi mức độ và địa bàn tiêu thụ các sản phẩm (Trang 29)
+ Cách sắp xếp các câu hỏi trong bảng hỏi: Việc sắp xếp các câu hỏi trong bảng hỏi có ảnh hưởng lớn đến chất lượng của cuộc điều tra - Phát huy năng lực chủ động sáng tạo  và năng lực giải quyết  vấn đề cho học sinh trong dạy học môn địa lí thông qua một số phương pháp dạy học tích cực tại trường THPT  nghi lộc 2
ch sắp xếp các câu hỏi trong bảng hỏi: Việc sắp xếp các câu hỏi trong bảng hỏi có ảnh hưởng lớn đến chất lượng của cuộc điều tra (Trang 30)
Câu 4: Dựa vào bảng 5.4, cho biết đến năm 2004, những quốc gia nào ở Mĩ la tinh có tỉ lệ nợ nước ngoài cao (so với GDP - Phát huy năng lực chủ động sáng tạo  và năng lực giải quyết  vấn đề cho học sinh trong dạy học môn địa lí thông qua một số phương pháp dạy học tích cực tại trường THPT  nghi lộc 2
u 4: Dựa vào bảng 5.4, cho biết đến năm 2004, những quốc gia nào ở Mĩ la tinh có tỉ lệ nợ nước ngoài cao (so với GDP (Trang 37)
Bảng 1.4: Khảo sát học sinh trong việc việc tiếp nhận các phương pháp - Phát huy năng lực chủ động sáng tạo  và năng lực giải quyết  vấn đề cho học sinh trong dạy học môn địa lí thông qua một số phương pháp dạy học tích cực tại trường THPT  nghi lộc 2
Bảng 1.4 Khảo sát học sinh trong việc việc tiếp nhận các phương pháp (Trang 42)
Bảng 1.5: Kết quả học tập năm 2020-2021 - Phát huy năng lực chủ động sáng tạo  và năng lực giải quyết  vấn đề cho học sinh trong dạy học môn địa lí thông qua một số phương pháp dạy học tích cực tại trường THPT  nghi lộc 2
Bảng 1.5 Kết quả học tập năm 2020-2021 (Trang 44)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w