1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN VĂN THẠC SĨ) Nghiên cứu một số giải pháp về chính sách ứng dụng công nghệ Chất chữa cháy sạchnhằm bảo vệ tầng ôzôn trong hệ thống chữa cháy ở Việt Nam hiện nay

92 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Một Số Giải Pháp Về Chính Sách Ứng Dụng Công Nghệ “Chất Chữa Cháy Sạch” Nhằm Bảo Vệ Tầng Ôzôn Trong Hệ Thống Chữa Cháy Ở Việt Nam Hiện Nay
Tác giả Nguyễn Long Hưng
Người hướng dẫn TS. Đỗ Ngọc Cẩn
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

45 2.7 Một số phân tích về kết quả thực hiện các chính sách đã được áp dụng trong việc quản lý các chất chữa cháy gây ảnh hưởng đến tầng ôzôn .... Đứng trước những bất cập trong việc quả

Trang 1

***************

NGUYỄN LONG HƯNG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỂ CHÍNH SÁCH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ “CHẤT CHỮA CHÁY SẠCH” NHẰM BẢO VỆ TẦNG ÔZÔN TRONG HỆ THỐNG CHỮA CHÁY Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC Chuyên ngành: Quản lý Khoa học và Công nghệ

Hà Nội, năm 2010

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

***************

NGUYỄN LONG HƯNG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỂ CHÍNH SÁCH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ “CHẤT CHỮA CHÁY SẠCH” NHẰM BẢO VỆ TẦNG ÔZÔN TRONG HỆ THỐNG CHỮA CHÁY Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Quản lý Khoa học và Công nghệ

Mã số: 60.34.72

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS ĐỖ NGỌC CẨN

Hà Nội, năm 2010

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do nghiên cứu 1

2 Lịch sử nghiên cứu 2

3 Mục tiêu nghiên cứu 3

4 Phạm vi nghiên cứu 3

5 Vấn đề nghiên cứu 4

6 Giả thuyết nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Kết cấu của luận văn 4

CHƯƠNG 1 6

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN PHÁ HUỶ TẦNG ÔZÔN 6 1.1 Một số khái niệm cơ bản 6

1.1.1 Công nghệ 6

1.1.1.1 Khái niệm công nghệ 6

1.1.1.2 Đặc điểm công nghệ 7

1.1.2 Đổi mới công nghệ 8

1.1.2.1 Khái niệm đổi mới công nghệ 8

1.1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến đổi mới công nghệ 9

1.1.3 Khái niệm về suy giảm ôzôn 10

1.1.4 Khái niệm Halon 10

1.1.5 Khái niệm “chất chữa cháy sạch” 11

1.1.6 Khái niệm chính sách 11

1.1.7 Khái niệm phân tích chính sách 12

1.2 Nhận dạng sự suy giảm tầng ôzôn 13

1.2.1 Lỗ thủng tầng ôzôn 13

1.2.2 Phân hủy ôzôn 13

1.2.3 Các quan sát 14

1.2.4 Nguyên nhân 15

1.3 Hậu quả của giảm sút tầng tầng ôzôn 16

1.3.1 Halon và nguyên nhân gây ra sự suy giảm tầng ôzôn 17

Trang 4

1.3.2 Gia tăng lỗ thủng tầng ôzôn và tia cực tím 18

1.3.3 Các tác động sinh học không có lợi cho môi trường 18

1.3.4 Giảm sút tầng ôzôn 19

1.4 Chính sách và vai trò của chính sách trong việc ứng dụng công nghệ “chất chữa cháy sạch” 20

1.4.1 Phân tích chính sách 20

1.4.1.1 Mục đích của phân tích chính sách 20

1.4.1.2 Ý nghĩa của phân tích chính sách 20

1.4.1.3 Yêu cầu của phân tích chính sách 21

1.4.2 Vai trò của chính sách đối với việc ứng dụng công nghệ "chất chữa cháy sạch" 23

Kết luận chương 1 25

CHƯƠNG 2 26

HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG HALON VÀ NHU CẦU ĐỔI MỚI SANG CÔNG NGHỆ CHẤT CHỮA CHÁY SẠCH 26

2.1 Hiện trạng sử dụng Halon ở Việt Nam 26

2.1.1 Lịch sử thâm nhập của Halon vào Việt Nam 26

2.1.2 Thực trạng vấn đề sử dụng Halon dùng trong chữa cháy ở Việt Nam 27

2.2 Ưu điểm của Halon dùng trong chữa cháy 32

2.2.1 Về giá thành 32

2.2.2 Tác dụng chữa cháy 32

2.2.3 Sự linh hoạt 35

2.3 Những mặt hạn chế của Halon 35

2.3.1 Ảnh hưởng tiêu cực đến sức khoẻ con người 35

2.3.2 Làm suy giảm và thủng tầng ôzôn 36

2.4 Các cam kết pháp lý của Quốc tế và của Việt Nam về giảm thiểu và loại trừ dần Halon 38

2.4.1 Văn bản pháp lý của Quốc tế 38

2.4.2 Văn bản pháp lý của Việt Nam 38

2.5 Tính cấp bách trong việc thay thế chất chữa cháy Halon 40

2.5.1 Do yêu cầu hội nhập và phát triển cần phải thay thế 40

Trang 5

2.5.2 Các kết quả đạt được trong việc hạn chế sử dụng các chất làm suy

giảm tầng ôzôn 41

2.6 Đổi mới sang công nghệ "chất chữa cháy sạch" 44

2.6.1 Các nguyên tắc chung 44

2.6.2 Công nghệ thay thế không giống Halon 44

2.6.3 Chất thay thế tương tự Halon 45

2.7 Một số phân tích về kết quả thực hiện các chính sách đã được áp dụng trong việc quản lý các chất chữa cháy gây ảnh hưởng đến tầng ôzôn 47

2.7.1 Chính sách tài chính 47

2.7.1.1 Tổng quan chung về chính sách tài chính đối với công nghệ "chất chữa cháy sạch" 47

2.7.1.2 Hạn chế và bất cập trong việc sử dụng tài chính 48

2.7.2 Chính sách thuế môi trường 50

2.7.2.1 Tầm quan trọng của chính sách thuế đối với công nghệ "chất chữa cháy sạch" 50

2.7.2.2 Những bất cập hiện nay 50

2.7.3 Chính sách kiểm soát sử dụng 52

2.7.3.1 Tổng quan chung trong việc kiểm soát sử dụng 52

2.7.3.2 Những bất cập trong thực hiện 54

Kết luận chương 2 55

CHƯƠNG 3 56

GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CHẤT CHỮA CHÁY SẠCH 56

3.1 Một số quan điểm về việc sử dụng chất chữa cháy Halon hiện nay 56

3.1.1 Quan điểm thứ 1 56

3.1.2 Quan điểm thứ 2 56

3.2 Định hướng một số giải pháp chính sách nhằm ứng dụng công nghệ "chất chữa cháy sạch" 58

3.2.1 Mục tiêu 58

3.2.1 Định hướng một số giải pháp chính sách 58

3.2.1.1 Chính sách tài chính 58

3.2.1.2 Chính sách thuế môi trường 60

Trang 6

3.2.1.4 Chính sách tuyên truyền nâng cao nhận thức công chúng 61

3.3 Một số giải pháp về chính sách nhằm ứng dụng công nghệ “chất chữa cháy sạch” 62

3.3.1 Tăng cường nguồn lực tài chính từ ngân sách nhà nước cho lĩnh vực KH&CN phòng cháy chữa cháy, tạo sự chuyển biến cơ bản trong đầu tư ứng dụng công nghệ "chất chữa cháy sạch" nhằm bảo vệ tầng ôzôn 62

3.3.2 Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về trong ứng dụng công nghệ "chất chữa cháy sạch", đáp ứng yêu cầu bảo vệ tầng ôzôn trong hội nhập quốc tế 66 3.3.3 Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, chuyển giao, ứng dụng công nghệ "chất chữa cháy sạch" 66

3.3.4 Kiểm soát nhập khẩu các chất chữa cháy có ảnh hưởng đến môi trường 67

3.3.5 Sử dụng công cụ thuế môi trường nhằm ứng dụng công nghệ "chất chữa cháy sạch" 68

3.3.8 Tuyên truyền nâng cao nhận thức công chúng 70

Kết luận chương 3 74

KHUYẾN NGHỊ 75

1 Đối với Nhà nước 75

2 Đối với lực lượng phòng cháy chữa cháy 75

3 Đối với các doanh nghiệp 76

KẾT LUẬN CHUNG 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

BẢNG THU THẬP THÔNG TIN 81

Trang 7

Lời cảm ơn

Đề tài: “Nghiên cứu một số giải pháp về chính sách ứng dụng công

nghệ “chất chữa cháy sạch” nhằm bảo vệ tầng ôzôn trong hệ thống chữa cháy ở Việt Nam” Là kết quả học tập và nghiên cứu của tác giả trong quá

trình học tập tại khoá học về Quản lý Khoa học và Công nghệ tại Bộ môn Khoa học quản lý, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học

Quốc Gia Hà Nội Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả đã nhận được

sự giúp đỡ tận tình của Thầy giáo hướng dẫn, TS Đỗ Ngọc Cẩn, Hiệu trưởng trường Đại học Phòng cháy chữa cháy - Bộ Công an, tác giả xin chân thành

cảm ơn Thầy

Tác giả xin được gửi lời cảm ơn đến các Thầy, các Cô giáo đã giảng dạy cho lớp cao học khoá 8, chuyên ngành Quản lý KH&CN trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội, TS Mai Hà, Viện trưởng Viện chính sách KH&CN, PGS.TS Phạm Ngọc Thanh, TS Trần Văn Hải, ThS Đào Thanh Trường và các thày cô giáo trong khoa

Cuối cùng tác giả xin được gửi lời cảm ơn đến Cục Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy, Sở Cảnh sát Phòng cháy Chữa cháy thành phố Hồ Chí Minh

và Phòng Cảnh sát các tỉnh Bình Dương, Vũng Tàu, Cần Thơ, Phú Thọ, Quảng Ngãi, Thừa Thiên Huế, Quảng Bình, Bộ Khoa học và Công nghệ, Trung tâm thông tin ôzôn, Văn phòng Thường trực Ban Chỉ đạo thực hiện Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu và Nghị định thư Kyoto, Xí nghiệp Liên doanh Dầu khí Vietsovpetro (VSP), CTy TNHH Tâm Thành-Tp HCM, Cty Dịch vụ Hàng hải Sài Gòn, Công ty Cổ phần Tư vấn Năng lượng và Môi trường VNEEC, Công ty Cổ phần Năng lượng và Môi trường RCEE, Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam, Cty Dịch vụ Hàng hải Sài Gòn, Bộ Khoa học & Công nghệ, Bộ Tài Nguyên & Môi trường

Tác giả

Trang 8

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

làm suy yếu tầng ôzôn

NFPA Tiêu chuẩn được Hiệp hội phòng cháy quốc gia

Hoa Kỳ đưa ra

Trang 9

Danh môc b¶ng biÓu

Bảng 1 Ký hiệu một số Halon……… 26

Bảng 2 Số liệu nhập khẩu Halon từ năm 1995-2003……… 29

Bảng 3 Hệ thống chữa cháy sử dụng Halon trong lĩnh vực công nghiệp 30 Bảng 4 Danh sách các cơ sở nhập halon để nạp bổ sung cho các hệ thống chữa cháy sẵn có bằng Halon ……… 31

Bảng 5 Nhiệt hoá hơi của một số Halon so với nước……… 33

Bảng 6 Tiềm năng phá huỷ tầng ôzôn của một số Halon dùng trong chữa cháy……… 37

Bảng 7 Thời hạn loại trừ các chất làm suy giảm tầng ôzôn……… 41

Bảng 8 Hạn định loại trừ Halon theo kế hoạch đề xuất (tấn ODS)…… 42

Bảng 9 C¸c chÊt thay thÕ t-¬ng tù Halon……… 46

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do nghiên cứu

Sự ảnh hưởng của con người đến sự suy thoái tầng ôzôn do những chất thải “làm hư hỏng” tầng ôzôn vốn dĩ mỏng manh trên tầng cao khí quyển luôn là vấn đề thời sự được toàn thế giới hết sức quan tâm

Bảo vệ tầng ôzôn là trách nhiệm của toàn nhân loại Vì thế, Nguyên thủ các nước trên toàn thế giới đã họp tại Montreal (Canada), tìm một giải pháp chung để hạn chế sự hư hại tấm lá chắn này Kết quả là đã soạn thảo một hiệp định chung để loại trừ việc sử dụng các hoá chất làm suy thoái tầng ôzôn

Đó chính là Nghị định thư Montreal hiện đã được 195/196 nước cùng ký, soạn thảo vào năm 1987 và đã điều chỉnh lại hai lần, lần mới nhất vào năm

1992

Việt Nam chính thức phê chuẩn Nghị định thư Montreal vào tháng 1 năm 1994 Nhờ các chính sách cương quyết của Chính phủ, nỗ lực của Bộ Tài nguyên Môi trường cùng các cơ quan liên quan, sự tham gia của các doanh nghiệp, sự ủng hộ của người tiêu dùng cùng hỗ trợ tài chính của quốc tế, Việt Nam đã đạt được những thành quả đáng kể trong việc từng bước hạn chế sử dụng các chất làm suy giảm tầng ôzôn

Để hoàn thành đúng lộ trình cam kết khi tham gia Nghị định thư Montreal là đến năm 2010 loại trừ hoàn toàn các chất chính làm suy giảm tầng ôzôn như CFC, Halon và đến năm 2040 loại trừ hoàn toàn các chất khác làm suy giảm tầng ôzôn, Việt Nam đã xây dựng kế hoạch hành động, trong đó

có các biện pháp chính như thiết lập cơ sở thu gom, tái chế chất halon; cung cấp thiết bị giảng dạy, phương tiện kỹ thuật cho các trung tâm đào tạo, cơ sở sản xuất các sản phẩm có sử dụng các chất làm suy giảm tầng ôzôn vv

Trên thế giới cũng đã có rất nhiều nghiên cứu tìm ta những chất thay thế Halon, tạm gọi là "chất chữa cháy sạch”, đảm bảo yêu cầu trong chữa cháy mà không ảnh hưởng đến tầng ôzôn Những chất này đã và đang được ứng dụng ở rất nhiều nơi trên thế giới, trong đó có Việt Nam

Trang 11

Đứng trước những bất cập trong việc quản lý và sử dụng Halon, các

kế hoạch hành động trên chưa thực sự phát huy được việc việc loại bỏ hoàn

toàn chất Halon để thay thế sử dụng công nghệ "chất chữa cháy sạch" nhằm bảo vệ tầng ôzôn, với mong muốn nâng hiệu quả công tác phòng cháy chữa cháy trong việc bảo vệ môi trường, tác giả mong muốn đẩy mạnh việc ứng dụng những công nghệ "chất chữa cháy sạch" theo từng bước nghiên cứu, hoàn thiện những chính sách đã và đang thực hiện, bên cạnh đó xây dựng, đề xuất những giải pháp thực hiện chính sách mới để không những ứng dụng thật tốt mà còn tiến tới nghiên cứu sản xuất ra công nghệ "chất chữa cháy sạch" nhằm bảo vệ tầng ôzôn

Nhận thức được tầm quan trọng nêu trên, được sự đồng ý của trường Đại học Quốc Gia Hà Nội, trường Đại học KHXH&NV, dưới sự hướng dẫn của TS Đỗ Ngọc Cẩn - Hiệu trưởng trường Đại học Phòng cháy chữa cháy

tôi đã thực hiện luận văn: “Nghiên cứu một số giải pháp về chính sách ứng dụng công nghệ “chất chữa cháy sạch” nhằm bảo vệ tầng ôzôn trong hệ thống chữa cháy ở Việt Nam”

2 Lịch sử nghiên cứu

Một số chuyên gia của Cục Cảnh sát phòng cháy chữa cháy đã có

đóng góp trong việc nghiên cứu đề tài cấp cơ sở “Nghiên cứu ứng dụng chất không phá huỷ tầng ôzôn trong hệ thống chữa cháy tự động”, (đề tài nghiệm

thu vào tháng 12 năm 2008) Bên cạnh đó có rất nhiều chất chữa cháy ở trên thế giới được xâm nhập vào Việt Nam, với những tính năng và những ưu điểm khác nhau, các chuyên gia phòng cháy chữa cháy đang xây dựng chiến lược và kế hoạch trong nghiên cứu và ứng dụng những chất chữa cháy phù hợp với nguồn tài chính, tính năng hiệu của chữa cháy cao và quan trọng là không gây ảnh hưởng đến tầng ôzôn nhằm góp phần bảo vệ môi trường

Bộ Thương Mại và Bộ Tài nguyên-Môi trường đã ban hành Thông tư liên tịch số 14/2005/TTLT-BTM-BTNMT, ngày 11 ngày 7 năm 2005 về việc xuất nhập khẩu và tạm nhập-tái xuất các chất làm suy giảm tầng ôzôn theo

Trang 12

Chưa có những chính sách áp dụng triệt để nhằm ứng dụng công nghệ "chất chữa cháy sạch" ở Việt Nam Những kết quả trên cũng mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu lựa chọn và những thủ tục hành chính trong việc quản lý những chất chữa cháy có ảnh hưởng đến môi trường

Trong điều kiện ở Việt Nam chưa sản xuất hoặc nghiên cứu ra những chất tương tự Halon, để thực hiện đúng theo lộ trình với Quốc tế về thực hiện cam kết trong Nghị định thư Montreal, cần phải có những chính sách mới, sử dụng các biện pháp tích cực để thúc đẩy, không những ứng dụng tốt mà còn nghiên cứu ra công nghệ mới - công nghệ "chất chữa cháy sạch" góp phần bảo

vệ môi trường

3 Mục tiêu nghiên cứu

- Phân tích tác hại của việc sử dụng Halon trong chữa cháy ảnh hưởng đến sự phá huỷ tầng ôzôn

- Phân tích những chính sách hiện hành về việc ứng dụng công nghệ

"chất chữa cháy sạch" bảo vệ tầng ôzôn ở Việt Nam

- Đề xuất những giải pháp, chính sách, cơ chế nhằm loại trừ dần các chất làm suy giảm tầng ôzôn trong lĩnh vực phòng cháy chữa cháy

4 Phạm vi nghiên cứu

Trong khuôn khổ của luận văn thạc sỹ, tác giả dự kiến nghiên cứu như sau:

a Phạm vi không gian + Thực trạng sử dụng Halon trong hệ thống chữa cháy tự động ở một số doanh nghiệp trên cả nước

b Phạm vi thời gian + Thời gian nghiên cứu từ năm 1995 đến nay

c Phạm vi nội dung + Phân tích thực trạng sử dụng Halon tại một số doanh nghiệp trên cả nước

+ Phân tích một số bất cập của những chính sách hiện hành

Trang 13

+ Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp về chính sách nhằm thúc đẩy việc ứng dụng công nghệ “chất chữa cháy sạch”

6 Giả thuyết nghiên cứu

a Cần từng bước thay thế dần công nghệ chất chữa cháy Halon chuyển sang sử dụng công nghệ "chất chữa cháy sạch"

b Giải pháp cho việc ứng dụng công nghệ "chất chữa cháy sạch"

Nhà nước cần hoàn thiện những chính sách về nhập khẩu, thuế, đầu tư, tài chính v.v… nhằm ứng dụng và tiến tới nghiên cứu ra công nghệ

“chất chữa cháy sạch” để dần thay thế công nghệ chất chữa cháy Halon

7 Phương pháp nghiên cứu

a Phương pháp nghiên cứu tài liệu

b Khảo sát hiện trạng sử dụng công nghệ chữa cháy ở một số cơ sở trên địa bàn cả nước

c Phiếu điều tra xã hội học về ứng dụng công nghệ "chất chữa cháy sạch" không phá huỷ tầng ôzôn

d Phân tích kết quả, đưa ra các giải pháp về chính sách ứng dụng công nghệ "chất chữa cháy sạch"

8 Kết cấu của luận văn

Luận văn được bố cục như sau:

Mở đầu: trình bày lý do chọn đề tài, vấn đề nghiên cứu, giả thuyết

nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và kết cấu của luận văn

Chương 1 Những vấn đề chung liên quan đến việc phá huỷ tầng

ôzôn

Trang 14

Nội dung của chương này trình bày: khái niệm chính sách, khái niệm

về suy giảm ôzôn, khái niệm Halon, khái niệm “chất chữa cháy sạch”, khái niệm đổi mới công nghệ; Halon, thành phần cơ bản, thực trạng sử dụng Halon trong chữa cháy và ảnh hưởng của nó đến môi trường; phân tích vai trò của chính sách trong việc ứng dụng công nghệ "chất chữa cháy sạch" ở Việt Nam

Chương 2 Chính sách và vai trò của chính sách trong việc ứng dụng

công nghệ "chất chữa cháy sạch"

Chương này mô tả về lịch sử thâm nhập của Halon vào Việt Nam, sự phát triển của Halon dùng trong chữa cháy

Trong chương này luận văn cũng phân tích được những quy định của Pháp luật và một số Văn bản pháp lý của Quốc tế và Việt Nam về loại trừ các chất làm suy giảm tầng ôzôn; phân tích một số bất cập trong chính sách ứng dụng Halon trong chữa cháy để thấy rằng sự thay đổi là cần thiết

Chương 3 Nêu một số quan điểm phát triển công nghệ “chất chữa

cháy sạch” ở Việt Nam hiện nay đưa ra một số giải pháp chính sách ứng dụng công nghệ trong hệ thống chữa cháy của Việt Nam hiện nay

Kết luận Khuyến nghị Tài liệu tham khảo Phụ lục

Trang 15

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN PHÁ HUỶ TẦNG ÔZÔN 1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Công nghệ

1.1.1.1 Khái niệm công nghệ

Trong lịch sử xã hội loài người, khái niệm công nghệ được hình thành

từ khá lâu và được sử dụng khá phổ biến, đã có nhiều tác giả đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về công nghệ Có thể nêu ra một số khái niệm điển hình sau đây:

- Theo tác giả R.Jones, năm 1970 cho rằng, công nghệ là cách thức mà qua đó các nguồn lực được chuyển thành hàng hoá

- Theo tác giả J.Baranson, năm 1976 đưa ra: Công nghệ là tập hợp các kiến thức về một quy trình hoặc/ và các kỹ thuật chế biến cần thiết để sản xuất

ra các vật liệu, cấu kiện và sản phẩm công nghiệp hoàn chỉnh

- Theo tác giả J.R.Dunning, năm 1982, công nghệ là nguồn lực bao gồm kiến thức được áp dụng để nâng cao hiệu quả sản xuất và việc nghiên cứu tiếp cận thị trường cho những sản phẩm và dịch vụ đang có và tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mới

- Theo tác giả P.Strunk, năm 1986 cho rằng: Công nghệ là sự áp dụng khoa học vào công nghiệp bằng cách sử dụng những nghiên cứu và cách xử lý một cách có hệ thống và có phương pháp Công nghệ là kiến thức có sẵn trong óc con người không phải là hàng hoá

- Theo tác giả Graham, năm 1988 cho rằng: Công nghệ là kiến thức không sờ mó được và không phân chia được, có lợi về mặt kinh tế khi sử dụng để sản xuất ra các sản phẩm và dịch vụ

Một số tổ chức quốc tế đã đưa ra các định nghĩa về công nghệ khác nhau

- Tổ chức PRODEC năm 1982 cho rằng: Công nghệ là một loại kỹ

năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp được sử dụng trong sản xuất công

Trang 16

- Trước đó, năm 1972, Liên hiệp quốc về thương mại và phát triển

(UNCTAD) cho rằng: Công nghệ là một đầu vào cần thiết cho sản xuất Nó

được mua bán trên thị trường như một hàng hoá

- Theo tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO) thì công nghệ là việc áp dụng khoa học vào công nghiệp

- Ngân hàng Thế giới năm 1985 đưa ra định nghĩa: Công nghệ là phương pháp chuyển hoá các nguồn thành sản phẩm, gồm ba yếu tố:

+ Thông tin về phương pháp

+ Phương tiện, công cụ sử dụng phương pháp để thực hiện việc chuyển hoá

+ Sự hiểu biết phương pháp hoạt động như thế nào và tại sao?

Trên cơ sở tập hợp và khái quát các định nghĩa về công nghệ nêu trên, tác giả Trần Ngọc Ca, năm 1987 đã đưa ra một khái niệm hợp lý về công nghệ như sau: Công nghệ có thể được hiểu như mọi loại hình kiến thức, thông tin, bí quyết, phương pháp (gọi là phần mềm) được lưu giữ dưới các dạng khác nhau (con người, ghi chép ) và mọi loại hình thiết bị, công cụ, tư liệu sản xuất (gọi là phần cứng) và một số tiềm năng khác (tổ chức, pháp chế, dịch vụ ) được áp dụng vào môi trường thực tế để tạo ra các loại sản phẩm và dịch vụ

- Theo Luật chuyển giao công nghệ, năm 2006: Công nghệ là giải pháp,

quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm 1

- Luật Khoa học và Công nghệ của Việt Nam, năm 2000 đã đưa ra định nghĩa khái quát: Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm 2

1.1.1.2 Đặc điểm công nghệ

Bất kỳ một công nghệ nào cũng có 5 đặc điểm cơ bản là:

Trang 17

- Công nghệ trước hết là khoa học “Làm” tức là hệ thống tri thức về các giải pháp hành động, khác với khoa học “Hiểu” (Vũ Cao Đàm)

- Công nghệ hoạt động lặp lại theo chu kỳ chế tạo sản phẩm

- Công nghệ tồn tại theo chu kỳ, phù hợp với chu kỳ sống của sản phẩm Nó tồn tại và phát triển qua các giai đoạn: Ra đời - Tăng trưởng - Thịnh vượng - Bão hoà - Tiêu vong

- Sản phẩm của công nghệ được xác định trước theo thiết kế

- Hoạt động công nghệ mang tính tin cậy cao, trên cơ sở một quy trình

đã được nhà chế tạo chuẩn hoá và được người sản xuất làm chủ

1.1.2 Đổi mới công nghệ

1.1.2.1 Khái niệm đổi mới công nghệ Chúng ta có thể hiểu đổi mới (Innovation) nói chung là việc tạo ra và

phát triển một ý tưởng nào đó và đưa nó vào áp dụng trong cuộc sống Trong khoa học có thể nói đổi mới là quá trình thương mại hoá thành công một sáng chế Đổi mới là quá trình tìm kiếm, tiếp thu và sử dụng tri thức nên không thể

là một việc chốc lát Thành công không chỉ được đo bằng một đổi mới thành công mà bằng cả một chuỗi các đổi mới

Trên thế giới, theo định nghĩa của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh

tế (OECD): Đổi mới công nghệ của sản phẩm và quy trình (technological product and process innovations) bao gồm các sản phẩm và quy trình mới về mặt công nghệ đã được thực hiện và những cải tiến công nghệ trong các sản phẩm và quy trình đó Như vậy, đổi mới công nghệ liên quan đến hàng loạt hoạt động, cả về khoa học, công nghệ, lẫn về tổ chức, tài chính và thương mại

Khái niệm đổi mới công nghệ được đưa ra như sau:

“Đổi mới công nghệ là việc chủ động thay thế phần quan trọng (cơ bản, cốt lõi) hay toàn bộ công nghệ đang sử dụng bằng một công nghệ khác tiến tiến hơn, hiệu quả hơn”

Theo nhà kinh tế học người Áo J.Schumpeter, có 5 trường hợp đổi

Trang 18

a Đưa ra sản phẩm mới

b Đưa ra phương pháp sản xuất và thương mại hóa mới

c Chinh phục thị trường mới

d Sử dụng nguồn nguyên liệu mới

e Tổ chức mới đơn vị SX

1.1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến đổi mới công nghệ

a Thị trường Những nền kinh tế thị trường có thể có lợi thế trong quá trình đổi mới Nếu thị trường của một loại sản phẩm nào đó được mở rộng thì điều này sẽ thúc đẩy đổi mới Đổi mới chỉ thực sự hoàn thành sau khi sản phẩm hay quá trình được người tiêu dùng chấp nhận, do vậy một khía cạnh rất quan trọng của đổi mới là marketing

b Nhu cầu Phần lớn các trường hợp đổi mới công nghệ xuất phát từ nhu cầu Có thể là do áp lực của môi trường kinh doanh (các yếu tố vĩ mô như chính trị, xã hội, kinh tế, công nghệ ) làm xuất hiện nhu cầu, Ví dụ: do áp lực của toàn thế giới về vấn đề ô nhiễm môi trường gây thủng tầng ôzôn, các nhà sản xuất phương tiện phòng cháy chữa cháy nỗ lực nghiên cứu để chế tạo ra những chất chữa cháy tốt mà không làm thủng tầng ôzôn Nhu cầu của người tiêu dùng cũng thúc đẩy đổi mới

c Hoạt động R&D R&D là khâu quan trọng trong quá trình đổi mới Báo cáo về năng lực cạnh tranh của châu Âu nêu rõ: "Nếu không có cơ sở nghiên cứu khoa học mạnh và đa dạng thì sẽ không hề có bất kỳ một sự cất cánh công nghệ nào cả" Các doanh nghiệp có ngân sách R&D lớn và nguồn nhân lực R&D có kỹ năng nghiên cứu sẽ thuận lợi trong đổi mới công nghệ

d Cạnh tranh Nói chung, cạnh tranh thúc đẩy đổi mới

e Các chính sách quốc gia hỗ trợ đổi mới

Trang 19

Như vậy, để khuyến khích các doanh nghiệp đổi mới công nghệ sang

“chất chữa cháy sạch” thì cần phải có những chính sách phù hợp

1.1.3 Khái niệm về suy giảm ôzôn

Sự suy giảm tầng ôzôn là hiện tượng giảm lượng ôzôn trong tầng bình lưu Từ năm 1979 cho đến năm 1990 lượng ôzôn trong tầng bình lưu đã suy giảm vào khoảng 5% Vì lớp ôzôn ngăn cản phần lớn các tia cực tím có hại không cho xuyên qua bầu khí quyển Trái đất, do đó sự suy giảm ôzôn đang được quan sát thấy và các dự đoán suy giảm trong tương lai đã trở thành một mối quan tâm toàn cầu, dẫn đến việc công nhận Nghị định thư Montreal hạn chế và cuối cùng chấm dứt hoàn toàn việc sử dụng và sản xuất các hợp chất

có chứa cacbon của clo và flo (CFC - chlorofluorocacbons) cũng như các chất hóa học gây suy giảm tầng ôzôn khác như tetraclorit cacbon, các hợp chất của

brôm (Halon) và methylchloroform

Sự suy giảm ôzôn thay đổi tùy theo vùng địa lý và tùy theo mùa Lỗ thủng ôzôn dùng để chỉ sự suy giảm ôzôn nhất thời hằng năm ở hai cực Trái đất, những nơi mà ôzôn bị suy giảm vào mùa xuân và được tái tạo trở lại vào mùa hè Nồng độ clo tăng cao trong tầng bình lưu, xuất phát khi các khí CFC

và các khí khác do loài người sản xuất ra có thể bị phân hủy ra clo, chính là nguyên nhân gây ra sự suy giảm này

Các cuộc hội thảo đều cho rằng, sự suy giảm tầng ôzôn là vấn đề toàn cầu, nó sẽ tạo điều kiện cho các bức xạ cực tím đến mặt đất nhiều hơn Nguyên nhân của việc suy giảm tầng ôzôn chính là do thải các khí CFC vào khí quyển

Cường độ gia tăng của các bức xạ cực tím đang được nghi ngờ chính

là nguyên nhân gây ra nhiều hậu quả trong sinh học, ví dụ như gia tăng các khối u ác tính, tiêu hủy các sinh vật phù du trong tầng có ánh sáng của biển

1.1.4 Khái niệm Halon

Halon là các chất sử dụng trong chữa cháy, là một chất phá huỷ tầng ôzôn được quy định tại phụ lục A, nhóm I của Nghị định thư Montreal về các

Trang 20

chất gây phá hủy tầng ôzôn Chất này có tiềm năng phá hủy tầng ôzôn (ODS)

là 10,6 và 3 tương ứng với các loại halon 1301, 2402 và 1211

Trong các loại Halon thường gặp thì CBrClF2 (Halon 1211), CBrF3

(Halon 1301), C2Br2F4 (Halon 2402) có chứa flo, clo, brôm có hiệu quả chữa cháy rất cao nhưng lại có khả năng phá huỷ tầng ôzôn cao hơn hẳn so với những chất bị kiểm soát bởi Nghị định thư Montreal

1.1.5 Khái niệm “chất chữa cháy sạch”

Là tập hợp các chất sử dụng để dập tắt đám cháy mà không gây phá huỷ tầng ôzôn

"Chất chữa cháy sạch" bao gồm các thành phần khí hóa lỏng, không mùi, không mầu, không dẫn điện và rất sạch, được lưu trữ dưới dạng chất lỏng và phun ra khu vực cháy Sau khi chữa cháy, không lưu lại các chất thừa, không gây độc tính, phù hợp sử dụng trong các khu vực có người vì "chất chữa cháy sạch" dập tắt đám cháy bằng cách kết hợp cơ chế hóa học và vật lý, không thay thế oxy mà luôn duy trì mức oxy tối thiểu từ 16% đến 21% Môi trường lý tưởng để sử dụng “chất chữa cháy sạch” ở trong các khu vực nhỏ và hẹp, các khu vực yêu cầu chữa cháy cao nhưng khối lượng nhỏ, các khu vực yêu cầu chất chữa cháy không dẫn điện Và một điều quan trọng nữa là "chất chữa cháy sạch" hoàn toàn không tác động ảnh hưởng đến tầng ôzôn, không tác động trong quá trình nóng lên của trái đất, “chất chữa cháy sạch" sử dụng hiệu quả đối với hầu hết các dạng cháy bao gồm cả các chất lỏng dễ cháy và các chất cháy rắn

“Chất chữa cháy sạch” được đánh giá là một chất lý tưởng để sử dụng trong những kỷ nguyên mới, là một chất sử dụng trong công tác phòng cháy chữa cháy góp bảo vệ an toàn cho cuộc sống của con người trên trái đất và giữ gìn cho bầu không khí trong lành, môi trường của chúng ta ngày càng được xanh sạch đẹp hơn

1.1.6 Khái niệm chính sách

Chính sách là một thiết chế rất phức tạp và quan trọng của quản lý

Trang 21

Một chính sách đúng đắn sẽ dẫn hệ thống đến thành công Một chính sách sai lầm sẽ dẫn hệ thống đến thất bại

Khi nói về chính sách là nói về một tập hợp biện pháp được thể chế hoá dưới dạng các đạo luật, pháp lệnh, sắc lệnh; các văn bản dưới luật như nghị định, thông tư, chỉ thị của Chính phủ; hoặc các văn bản quy định nội bộ của các tổ chức (viện, trung tâm nghiên cứu, trường đại học…) Nói cách khác, vật mang chính sách chính là văn bản quy phạm pháp luật

Dưới góc độ tiếp cận xã hội học, chính sách là tập hợp biện pháp do chủ thể quản lý đưa ra, nhằm tạo lợi thế cho một (hoặc một số) nhóm xã hội, giảm lợi thế của một (hoặc một số) mục tiêu xã hội mà chủ thể quyền lực đang hướng tới

Tóm lại, “Chính sách là một tập hợp các biện pháp được thể chế hoá,

mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo ra sự ưu đãi một nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của nhóm này, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội” 3 Việc nghiên cứu cấu trúc của chính sách giúp hình dung một cách mạch lạc một chính sách, từ đó có thể phân tích chính sách đó

1.1.7 Khái niệm phân tích chính sách

Phân tích chính sách là xem xét chính sách từ nhiều giác độ khác nhau,

phát hiện điểm mạnh, điểm yếu của chính sách để nhằm vào các mục đích sử dụng khác nhau 4

Trong hoạt động của người quản lý, phân tích chính sách là một nhiệm vụ quan trọng Nó giúp các nhà quản lý có được cái nhìn phê phán đối với chính sách, để quyết định rằng, một chính sách có cần thiết hay không hoặc có cần chỉnh lý, sửa đổi, hoặc thậm chí, có cần tiếp tục duy trì hay

không? Phân tích chính sách là một cách nói chung liên quan đến việc xem

Trang 22

xét nội dung và tác động của các văn bản chính sách

Còn đối với những người là đối tượng tác động của chính sách, thì việc phân tích sẽ giúp tìm được chỗ có lợi nhất cho công việc, tránh những vùng cấm của chính sách có thể gây phương hại cho công việc của đơn vị mình hoặc cá nhân mình Với các cơ quan hoạch định chính sách, việc phân tích chính sách sẽ giúp phát hiện những chỗ bất cập của chính sách, có thể gây phương hại đến lợi ích của cộng đồng hoặc việc thực hiện mục tiêu toàn xã hội, để tìm biện pháp điều chỉnh

1.2 Nhận dạng sự suy giảm tầng ôzôn

1.2.1 Lỗ thủng tầng ôzôn

Lỗ thủng tầng ôzôn

Lỗ thủng tầng ôzôn được các nhà khoa học

là Farman, Gardiner và Shanklin phát hiện lần đầu tiên năm 1987 ở Nam Cực đã làm chấn động

dư luận toàn cầu, dấy lên những mối quan ngại sâu sắc về môi trường và sức khỏe con người Đó cũng là lý do ra đời của Nghị định thư Montreal năm 1987, thể hiện quyết tâm toàn cầu trong việc bảo vệ tầng ôzôn

Năm 1994, Đại hội đồng Liên hiệp quốc tuyên bố lấy ngày 16-9 hàng năm là ngày quốc tế bảo vệ tầng ôzôn nhằm kỷ niệm ngày ký kết Nghị định thư Montreal

Theo Tổ chức khí tượng thế giới (WMO), hiện tầng ôzôn vẫn đang tiếp tục bị thủng Kích thước của lỗ thủng tầng ôzôn năm nay trên Nam Cực

có thể tương đương với hai lỗ thủng lớn ghi nhận trong năm 2000 và 2003 Hiện nay, lỗ thủng tầng ôzôn ở phía trên Nam Cực rộng chừng 27 triệu km2

và có thể tăng lên tới 28 triệu km2

, gần bằng diện tích của lỗ hổng ôzôn lớn nhất đo được vào năm 2003 (29 triệu km2

)

1.2.2 Phân hủy ôzôn

Ôzôn có thể bị phá hủy bởi các nguyên tử clo, flo hay brôm trong bầu

Trang 23

khí quyển Các nguyên tố này có trong một số hợp chất bền nhất định, đặc biệt là chlorofluorocacbon (CFC), đi vào tầng bình lưu và được phân tách bởi các tia cực tím

Quan trọng nhất là các nguyên tử clo được tạo thành như thế sẽ trở thành chất xúc tác hủy diệt các phân tử ôzôn trong một chu kỳ khép kín Trong chu kỳ này, một nguyên tử clo tác dụng với phân tử ôzôn, lấy đi một nguyên tử ôxy (tạo thành ClO) và để lại một phân tử ôxy bình thường Tiếp theo, một ôxy nguyên tử tự do sẽ lấy đi ôxy từ ClO và kết quả cuối cùng là một phân tử ôxy và một nguyên tử clo, bắt đầu lại chu kỳ Một nguyên tử clo đơn độc sẽ phân hủy ôzôn mãi mãi nếu như không có các phản ứng khác mang nguyên tử clo ra khỏi chu kỳ này bằng cách tạo nên các nguồn chứa khác như axít clohydric và clo nitrat (ClONO2)

Phản ứng của nguyên tử clo trong các nguồn chứa này thông thường chậm nhưng được gia tăng khi có các đám mây tầng bình lưu ở địa cực, xuất hiện trong mùa đông ở Nam Cực, dẫn đến chu kỳ tạo thành lỗ thủng ôzôn theo mùa

1.2.3 Các quan sát

Phần lớn các giảm sút ôzôn được công bố thuộc về phần phía dưới của tầng bình lưu Tuy vậy, lỗ thủng tầng ôzôn thường không được đo bằng nồng

độ của ôzôn ở độ cao này (chỉ vào khoảng vài phần triệu - parts per million)

mà qua giảm sút của cột ôzôn trên một điểm ở mặt đất, thường được thể hiện bằng đơn vị Dobson5

Dùng các thiết bị như Total Ozone Mapping Spectrometer (TOMS), người ta đã quan sát thấy cột ôzôn giảm sút rõ rệt trong mùa xuân và đầu hè ở Nam Cực so sánh với thập niên 1970 và trước đó

Giảm sút cho đến 70% cột ôzôn được quan sát thấy vào mùa xuân ở nam bán cầu trên Nam Cực được nhắc đến lần đầu tiên vào năm 1985 vẫn đang tiếp tục Trong thập kỷ 1990, tổng lượng cột ôzôn vào tháng 9 và tháng

5

Đơn vị Dobson (DU) là đơn vị đo lường ôzôn trong khí quyển

Trang 24

10 vẫn tiếp tục ít hơn các trị trước lỗ thủng ôzôn 40-50% Ở Bắc Cực, giảm sút nhiều nhất là vào mùa đông và mùa xuân, lượng giảm dao động từ năm này sang năm khác nhiều hơn ở Nam Cực khi tầng bình lưu lạnh hơn giảm sút tăng lên đến 30% Các phản ứng trên mây tầng bình lưu ở địa cực rất quan trọng Các đám mây này chỉ tạo thành trong nhiệt độ rất lạnh Tầng bình lưu ở Nam Cực lạnh hơn ở Bắc Cực vì thế mà các lỗ thủng ôzôn được hình thành trước tiên ở Nam Cực và cũng vì thế mà các lỗ thủng ở Bắc Cực không to bằng Các dự đoán đầu tiên không tính toán đến các đám mây này cho nên lỗ thủng xuất hiện ở Nam Cực thay vì một suy giảm dần trên toàn cầu đã tạo nên một bất ngờ như thế Ở các vĩ độ trung bình, thường người ta hay nói giảm sút ôzôn thay vì lỗ thủng ôzôn Lượng ôzôn giảm vào khoảng 3% so với các giá trị trước thập kỷ 1980, ở 35-60 vĩ độ bắc và vào khoảng 6% ở 35-60, vĩ độ nam Vùng nhiệt đới không có xu hướng đáng kể

Giảm sút ôzôn cũng giải thích phần lớn việc giảm sút nhiệt độ ở tầng bình lưu và phía trên của tầng đối lưu được quan sát thấy Đó là vì nguyên nhân do việc sưởi ấm tầng bình lưu là do ôzôn hấp thụ các tia cực tím, vì thế giảm sút ôzôn dẫn đến việc tầng bình lưu lạnh đi Một phần giảm sút nhiệt độ

ở tầng bình lưu được dự đoán là vì lượng các khí nhà kính tăng lên, mặc dù vậy lạnh đi vì giảm sút ôzôn được coi là lý do vượt trội Dự đoán cho lượng ôzôn còn lại là một khoa học phức tạp Bản báo cáo số 44 của dự án quan sát

và nghiên cứu ôzôn toàn cầu của Tổ chức khí tượng thế giới nhận định rằng, các dự đoán giảm sút ôzôn của UNEP 6

vào năm 1994 cho thời gian

1994-1997 là quá nhiều

1.2.4 Nguyên nhân

Việc sử dụng và sản xuất các hợp chất cacbon của clo và flo cũng như các chất hóa học gây suy giảm tầng ôzôn khác, như: Tetracloit cacbon, các hợp chất của brom và Methyl chloroform Các nguyên tố này có trong một số

theo Nghị quyết 2997(XXVII) của Đại hội đồng Liên hợp quốc

Trang 25

hợp chất bền nhất định, đi vào tầng bình lưu và được giải phóng bởi các tia cực tím

Toàn bộ các khí CFC đều được sản xuất nhân tạo, chúng không có trong tự nhiên trước khi được con người tổng hợp ra Các CFC được dùng trong các máy điều hòa nhiệt độ, các máy làm lạnh trước thập kỷ 1980, trong các quy trình làm sạch các thiết bị điện tử dễ hỏng và là sản phẩm phụ của một số quá trình hóa học Nếu các CFC phân tử tồn tại lâu, thời gian tái tạo phải tính bằng thập kỷ Người ta tính bằng một phân tử CFC mất trung bình là

15 năm để từ mặt đất lên đến các tầng trên của khí quyển và có thể ở đó khoảng một thế kỷ, phá hủy đến cả trăm ngàn phân tử ôzôn trong thời gian này

Chúng diễn ra theo sơ đồ sau:

CFCl3 Tia bức xạ CFCl2 + Cl

CFCl2

Tia bức xạ nhiê ̣t đô ̣ thấp

CFCl2 + Cl

Ngoài ra các nhà máy và hoạt động của con người đã tạo nên một lượng lớn CO2 Các lò phản ứng hạt nhân đã thải ra một lượng CO2 khá lớn

Phản ứng của Cl trong các nguồn chứa này thông thường chậm nhưng được gia tăng khi có các đám mây tầng bình lưu ở địa cực, xuất hiện trong mùa đông ở Nam cực, dẫn đến chu kỳ tạo thành lỗ thủng ôzôn

1.3 Hậu quả của giảm sút tầng tầng ôzôn

Tầng ôzôn của trái đất nằm ở tầng bình lưu thấp, ngay phía trên tầng đối lưu (bắt đầu từ bề mặt trái đất lên cao khoảng 12 km) đón nhận các tia cực tím có hại từ mặt trời

Cường độ gia tăng của các bức xạ cực tím có năng lượng cao được coi là nguyên nhân gây ra nhiều hậu quả trong sinh học như gia tăng các khối

u ác tính C (ung thư da) Theo một nghiên cứu, tăng 10% các tia cực tím có năng lượng cao được coi là liên quan với tăng 19% các khối u ác tính ở đàn ông và 16% ở phụ nữ

Trang 26

Tăng cường bức xạ tia cực tím có thể tiêu hủy các sinh vật phù du trong tầng có ánh sáng của biển và ảnh hưởng đến mùa màng Các loại cây bị ảnh hưởng rất lớn

Do những thiệt hại ở lá cây gây ra bởi khí ôzôn, sản lượng nhiều loại cây trồng có tầm quan trọng về kinh tế, như lúa phụ thuộc vào quá trình cố định N2 của vi khuẩn lam rất nhạy cảm với ánh cực tím và có thể bị chết khi hàm lượng tia cực tím gia tăng

Bên cạnh các ảnh hưởng trực tiếp của bức xạ cực tím đối với sinh vật, gia tăng tia cực tím trên bề mặt sẽ làm gia tăng lượng ôzôn ở tầng đối lưu Ở mặt đất ôzôn thông thường được công nhận là một yếu tố gây nguy hiểm đến sức khỏe vì ôzôn có độc tính vì là chất oxy hóa mạnh

Vì tầng ôzôn hấp thụ tia cực tím từ mặt trời, giảm sút tầng ôzôn dự đoán sẽ dẫn tới tăng cường độ tia cực tím ở bề mặt Trái Đất, có thể dẫn đến nhiều thiệt hại bao gồm cả gia tăng bệnh ung thư da Mặc dù sự giảm sút của ôzôn ở tầng bình lưu gắn liền với các chất CFC và có nhiều lý lẽ trên lý thuyết

để tin rằng giảm sút ôzôn sẽ dẫn đến tăng tia cực tím trên bề mặt Trái Đất Tuy nhiên chưa có nhiều quan sát trực tiếp nhằm chứng minh liên hệ giữa giảm sút ôzôn và gia tăng tỷ lệ phát bệnh ung thư da ở con người

1.3.1 Halon và nguyên nhân gây ra sự suy giảm tầng ôzôn

Halon là những hợp chất hữu cơ có chứa các nguyên tố cacbon, hydro

và halogen (clo, Flo, Brôm, iốt) Chúng được sử dụng phổ biến trong các lĩnh

vực như: phòng cháy chữa cháy, điện lạnh, y tế, bảo quản nông sản vv…

Trang 27

kiện nhất định tham gia vào các phản ứng xúc tác, gây phá huỷ các phân tử ôzôn và tạo ra lỗ thủng tầng ôzôn

1.3.2 Gia tăng lỗ thủng tầng ôzôn và tia cực tím

Mặc dầu chỉ là một thành phần nhỏ của khí quyển, nhưng ôzôn có vai trò chính trong việc hấp thụ phần lớn tia bức xạ cực tím Lượng bức xạ cực tím xuyên qua lớp ôzôn giảm theo hàm mũ với độ dầy đặc của lớp ôzôn Do

đó việc giảm ôzôn trong không khí được dự đoán sẽ cho phép tăng mức độ các tia cực tím ở gần mặt đất một cách đáng kể

Việc tăng các bức xạ của tia cực tím trên bề mặt Trái Đất vì lỗ thủng ôzôn chỉ có thể suy ra một phần từ các mô hình tính toán di chuyển nhưng chưa có thể tính toán từ các đo lường trực tiếp vì thiếu các dữ liệu lịch sử (thời kỳ trước lỗ thủng) đáng tin cậy của tia cực tím mặc dù có nhiều chương trình mới đo lường, quan sát tia cực tím trên bề mặt

Bởi vì cũng chính những tia cực tím chiếm vị trí đầu tiên trong việc tạo thành ôzôn trong lớp ôzôn ở tầng bình lưu từ ôxy, giảm bớt ôzôn ở tầng bình lưu sẽ tạo ra xu hướng gia tăng các quá trình quang hóa sản xuất ôzôn ở tầng thấp hơn (tầng đối lưu)

1.3.3 Các tác động sinh học không có lợi cho môi trường

Mối quan tâm chính của dư luận về lỗ thủng ôzôn là các tác động của ôzôn đến sức khỏe con người Khi lỗ thủng ôzôn trên Nam Cực lớn lên đến mức bao phủ các phần phía nam của Austraylia và New Zealand, những người bảo vệ môi trường lo rằng các tia cực tím trên bề mặt Trái Đất có thể gia tăng đáng kể

Các tia bức xạ cực tím có năng lượng cao được hấp thụ bởi ôzôn được công nhận chung là một yếu tố tạo thành các khối u ác tính (ung thư da)

Cho đến nay thâm thủng ôzôn ở phần lớn các địa điểm tiêu biểu chỉ vào khoảng vài phần trăm Nếu sự thâm thủng ở mức độ cao được quan sát thấy ở lỗ thủng ôzôn trở thành chung cho toàn cầu, các tác động thực chất có thể sẽ tăng nhiều hơn nữa

Trang 28

Ví dụ, như một nghiên cứu mới đây đã phân tích cho thấy việc tiêu hủy rộng lớn các phiêu sinh vật 2 triệu năm trước đây trùng khớp với một sao băng đến gần Các nhà nghiên cứu cho rằng sự hủy diệt được gây ra bởi vì lớp ôzôn suy yếu đi trong thời gian này khi các bức xạ từ sao băng tạo thành các ôxít của nitơ làm chất xúc tác phá hủy ôzôn (các phiêu sinh vật đặc biệt rất nhạy đối với tác động của tia cực tím và rất quan trọng trong dây chuyền thức

ăn dưới biển)

Tăng cường bức xạ tia cực tím có thể cũng ảnh hưởng đến mùa màng Sản lượng nhiều loại cây trồng có tầm quan trọng về kinh tế, như lúa, phụ thuộc vào quá trình cố định nitơ của vi khuẩn lam cộng sinh ở rễ cây Mà vi khuẩn lam rất nhạy cảm với ánh sáng cực tím và có thể bị chết khi hàm lượng tia cực tím gia tăng

1.3.4 Giảm sút tầng ôzôn

Chấp nhận và củng cố Nghị định thư Montreal đã làm giảm thải các khí CFC, nồng độ phần lớn các hợp chất quan trọng phá huỷ ôzôn trong khí quyển đang giảm đi Các chất này đang được giảm dần trong khí quyển Vào năm 2015 lỗ thủng ôzôn ở Nam Cực sẽ chỉ giảm đi khoảng một triệu km2

Trang 29

1.4 Chính sách và vai trò của chính sách trong việc ứng dụng công nghệ

“chất chữa cháy sạch”

1.4.1 Phân tích chính sách

1.4.1.1 Mục đích của phân tích chính sách

Người quản lý cần phải phân tích chính sách vì những mục đích sau:

- Nhận biết được hiệu quả của một chính sách

- Đánh giá được mức độ hiệu lực của một chính sách

- Phát hiện được những vấn đề của chính sách và nhu cầu đổi mới chính sách, và cuối cùng là

Lựa chọn quyết định điều chỉnh chính sách hoặc ban hành chính sách mới, nếu là cơ quan ban hành chính sách

Đề xuất khuyến nghị quyết định điều chỉnh chính sách hoặc ban hành chính sách mới, nếu là một tổ chức thực hiện chính sách, hoặc đối tượng thụ hưởng chính sách

Trong phân tích chính sách có rất nhiều khía cạnh: Phân tích tác nhân dẫn đến chính sách; phân tích triết lý của chính sách; hoạt động quy định bởi chính sách; phân tích các phương tiện thực hiện chính sách; phân tích các thiết chế; phân tích tác động của chính sách; phân tích các ảnh hưởng của chính sách; phân tích phân hoá xã hội do chính sách; phân tích các xung đột

xã hội do chính sách; phân tích các phản ứng xã hội do chính sách; phân tích kiến tạo xã hội do chính sách

1.4.1.2 Ý nghĩa của phân tích chính sách

Bất kỳ chính sách nào sau khi ban hành cũng trải qua những giai đoạn hiệu lực khác nhau, có những tác động và những hệ luỵ xã hội hết sức khác

nhau, khi thì diễn biến phù hợp với ý đồ chủ thể chính sách, khi thì không thật sự phù hợp, thậm chí đi ngược lại với ý đồ ban đầu Chính vì vậy, đòi hỏi người quản lý phải luôn luôn tổng hợp, phân tích chính sách

Phân tích chính sách là công việc thường xuyên của nhà quản lý, bởi

vì nhà quản lý phải luôn cập nhật tình hình thực hiện một chính sách, để biết

Trang 30

được những biến động xã hội liên quan những tác động của chính sách, để biết được thái độ của dân chúng trước một chính sách, và cuối cùng, để biết được khi nào cần điều chỉnh chính sách, thậm chí phải thay đổi hoàn toàn một chính sách

Tuy nhiên, phân tích chính sách không chỉ là nhu cầu của nhà quản lý,

mà còn là nhu cầu của các tổ chức kinh doanh, nhu cầu của dân chúng Các tổ chức kinh doanh cần biết rất rõ chính sách của chính phủ về những gì liên quan công việc kinh doanh của mình Không những thế, các tổ chức kinh doanh còn cần hiểu biết chính sách của các đồng minh, các đối thủ, để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của mình tránh được tối đa các rủi ro

Như vậy, có thể nói, công việc phân tích chính sách vô cùng quan trọng trong công tác quản lý Bất kỳ làm quản lý trong lĩnh vực nào, dù là quản lý kinh tế, văn hoá, giáo dục, v.v, người quản lý cũng đụng chạm đến việc phân tích chính sách

1.4.1.3 Yêu cầu của phân tích chính sách

Nói một cách khái quát, nghiên cứu phân tích chính sách là hoạt động nghiên cứu khảo sát thực tiễn để định hướng chính sách Thực tiễn mà chúng ta cần nghiên cứu, khảo sát gồm thực tiễn hình thành và phát triển các quan hệ xã hội (các vấn đề nảy sinh đòi hỏi nhà quản lý phải giải quyết) với biểu hiện nhiều mặt và mối quan hệ phổ biến của chúng Việc nghiên cứu khảo sát trải qua các bước sau đây:

a Phát hiện vấn đề của chính sách

“Vấn đề chính sách” xuất hiện khi những quan điểm chính sách truyền thống trở nên mâu thuẫn, thậm chí trở nên yếu tố cản trở tình hình phát triển thực tế của xã hội

Khi một vấn đề xuất hiện trong thực tế, nó cần được nhận biết hoặc phản ảnh tới cơ quan làm chính sách, cơ quan lập pháp hoặc lập quy Cơ quan này cần phân tích và nghiên cứu mức độ nghiêm trọng của vấn đề (có thể coi

là tiền đề của sự kiện chính sách) và cần đặt ra những câu hỏi:

Trang 31

+ Vấn đề có nghiêm trọng tới mức phổ biến và cần được giải quyết bằng biện pháp quản lý hay không?

+ Nếu có, thì xác định đâu là những hạn chế về mặt chính sách hoặc pháp luật (liệt kê, tìm ra nguyên nhân của khiếu nại hoặc vấn đề được nêu) Tại bước này người phân tích chính sách không nên là người có cách nhìn thiên vị về pháp luật, mà nên là chuyên gia về lĩnh vực mà vấn đề xuất hiện (xã hội học, nhà chính trị học, khoa học chuyên ngành vv.), để tránh méo

mó về nghề nghiệp Tuy nhiên, lời khuyên này không đúng trong trường hợp một luật gia được trang bị phương pháp phân tích chính sách một cách khách quan hoặc kết hợp chuyên gia chuyên ngành với chuyên gia pháp lý

b Phân tích vấn đề của giải pháp chính sách để lựa chọn

Nếu đã xác định có những hạn chế, ách tắc cần tháo gỡ, thì câu hỏi tiếp theo là:

+ Có thể khắc phục những hạn chế này bằng các biện pháp nào? (biện pháp tự nguyện, cộng đồng, đạo đức, dân chủ cơ sở, qua các tổ chức xã hội, bằng biện pháp hành chính hoặc là những biện pháp khả dĩ khác không tốn kém) Giai đoạn nhận biết vấn đề nói trên là bước định tính các quan hệ

sự can thiệp bằng một văn bản chính sách mới của Nhà nước là các quan hệ

xã hội cơ bản, có phạm vi tác động rộng ở địa bàn hành chính (từng địa phương, trong cả nước) hay đối với một nhóm các cơ quan, tổ chức, công dân

Các quan hệ xã hội không cơ bản có thể điều chỉnh bằng các quan hệ phi Nhà nước (biện pháp xã hội, tự quản, hành chính nội bộ v.v ) Ví dụ: cũng là quan hệ xã hội trong lĩnh vực hôn nhân gia đình nhưng những quan hệ

Trang 32

như kết hôn, ly hôn, nghĩa vụ và quyền của vợ, chồng, của cha mẹ và con điều kiện nhận, nuôi con nuôi, chế độ đỡ đầu.v.v cần phải dùng quy phạm pháp luật về hôn nhân gia đình để điều chỉnh Còn các quan hệ không cơ bản như

về thủ tục cưới xin cụ thể thì lại theo phong tục tập quán, Nhà nước chỉ dùng biện pháp giáo dục vận động thuyết phục để tác động vào những quan hệ đó Hoặc có thể cũng cần thiết phải có sự tác động của Nhà nước nhưng lại bằng các biện pháp kinh tế (đòn bẩy, khuyến khích về kinh tế để định hướng các quan hệ đó theo mong muốn của Nhà nước) hoặc bằng biện pháp thông qua các quyết định hành chính cá biệt để giải quyết Nếu không định tính độ quan

hệ xã hội sẽ lẫn lộn và sai lầm trong việc xác định Nhà nước có cần phải can thiệp hay không? và can thiệp bằng biện pháp nào thì phù hợp với tính chất của các quan hệ xã hội đó? Nhà nước can thiệp quá nhiều cũng làm kém hiệu lực quản lý và dàn mỏng năng lực quản lý hoặc tăng bộ máy quản lý dẫn đến

Quá trình nghiên cứu của về chính sách ứng dụng công nghệ "chất chữa cháy sạch" là quá trình tìm ra những giải pháp tối ưu nhất, hỗ trợ việc thực thi chính sách, việc phân tích càng phân tích chi tiết, rõ ràng mang tính khoa học cao thì càng góp phần làm nền tảng vững chắc cho việc quản lý của nhà nước về phòng cháy chữa cháy trong công tác bảo vệ môi trường

Trên cơ sở đó, việc hình thành và thông qua các văn bản một cách

Trang 33

nhanh chóng, tiết kiệm được công sức, thời gian và tiền của Nội dung của chính sách mới được thông qua sẽ thoả mãn đầy đủ nhất yêu cầu hợp pháp, hợp lý, hợp tình (sát thực tiễn) để áp dụng cho toàn xã hội thực hiện

Qua kết quả nghiên cứu của luận văn, tác giả mong sẽ sớm được áp dụng vào thực tiễn, trong việc hình thành nên những chính sách mới ra đời Qua đó việc ứng dụng công nghệ "chất chữa cháy sạch" được thực hiện một cách dễ dàng hơn, triệt để hơn

Trang 34

Kết luận chương 1

1 Suy giảm tầng ôzôn gây nên biến đổi khí hậu toàn cầu đã trở thành mối nguy hiểm đe dọa đến cuộc sống của toàn nhân loại Tầng ôzôn bị bào mòn bởi các chất khí thải độc hại gây nên, đến một lúc nào đó sẽ không còn tác dụng che chắn và bảo vệ trái đất khỏi những tia cực tím của ánh sáng mặt trời Nhận thức được hiểm họa này, cộng đồng quốc tế đã nhất trí đưa ra Công ước Vienna về bảo vệ ôzôn (1985) và Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ôzôn (1987) Những điều ước quốc tế này nhằm từng bước hạn chế để đi đến thay thế hoàn toàn trong sản xuất và tiêu thụ những

chất gây hại cho tầng ôzôn, bảo vệ môi trường và sức khỏe con người

2 Ngày nay “chất chữa cháy sạch” được đánh giá là một chất lý tưởng để sử dụng trong công tác phòng cháy chữa cháy, không những bảo vệ

an toàn cho cuộc sống của con người mà còn giữ gìn cho bầu không khí được trong lành, môi trường của chúng ta ngày càng được xanh, sạch đẹp hơn Là kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới, “chất chữa cháy sạch” cần được ứng dụng rộng rãi trên toàn thế giới nói chung, trong đó có Việt Nam riêng, tuy nhiên việc ứng dụng còn cần phải có những chủ trương và

chính sách mới nhằm áp dụng một cách triệt để trong toàn xã hội

3 Vai trò của chính sách đối với việc ứng dụng công nghệ "chất chữa cháy sạch" là vô cùng to lớn, khi Việt Nam đã ký kết giao ước với Quốc

tế về bảo vệ môi trường và hàng loạt những văn bản quy định của Nhà nước

về việc tuân thủ Nghị định thư Montreal về các chất phá hủy tầng ôzôn Trong công tác phòng cháy chữa cháy, đến thời điểm này vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế, lực lượng cảnh sát phòng cháy chữa cháy cần phải đổi mới một số chính sách sao cho phù hợp với tình hình phát triển của đất nước và ứng dụng triệt để công nghệ "chất chữa cháy sạch" góp một phần nhỏ bé trong

việc bảo vệ tầng ôzôn

Trang 35

CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG HALON VÀ NHU CẦU ĐỔI MỚI SANG

CÔNG NGHỆ CHẤT CHỮA CHÁY SẠCH 2.1 Hiện trạng sử dụng Halon ở Việt Nam

2.1.1 Lịch sử thâm nhập của Halon vào Việt Nam

Halon (xuất phát từ tiếng anh: Halogenated hydrocarbon) là chất sử dụng hiệu quả trong chữa cháy nhưng lại gây phá hủy tầng ôzôn Chất Halon được quy định tại phụ lục A của Nghị định thư Montreal về các chất gây phá hủy tầng ôzôn Chất này có tiềm năng phá hủy tầng ôzôn tương ứng với các loại Halon 1301, 2042 và 1211 được thể hiện ở bảng 1 sau:

Phụ lục các chất có khả năng làm suy giảm tầng ôzôn được kiểm soát bởi Nghị định thư Montreal và các biên bản bổ sung, sửa đổi London (1990), Copenhagen (1992), Viên (1995)

Trang 36

Trên thế giới, Liên bang Nga là nước duy nhất sản xuất Halon 2402 Nước này đã đóng cửa tất cả các nhà máy sản xuất Halon 2402 của mình từ năm 2000 theo hiệp định ký với Quỹ đa phương về ôzôn của Nghị định thư Montreal Như vậy, Halon 2402 của các nước nhập khẩu từ Nga, trong đó có Việt Nam, là hàng tồn kho hoặc tái chế và số lượng chỉ hạn chế với giá khá cao

Halon 104 (CCl4) vào nước ta cũng rất lâu, do độc tính cao của sản phẩm nhiệt phân nên Halon 104 đã cấm sử dụng từ lâu ở nhiều nước trên thế giới, tuy vậy ở nước ta hiện nay vẫn tồn một số bình Theo số liệu điều tra của Cục Cảnh sát phòng cháy chữa cháy - Bộ Công an thì vẫn còn một số doanh nghiệp đang sử dụng với số lượng 24 bình tại các cơ sở ở Bến Tre

Halon 1211 của Trung Quốc cũng đã được đưa vào nước ta qua đường biên giới với số lượng là 50 bình chữa cháy cầm tay, loại 2 kg, vào năm 1995

Qua việc quản lý nhập khẩu các phương tiện PCCC, Năm 1997, Phòng Cảnh sát phòng cháy chữa cháy Công an thành phố TP Hồ Chí Minh

đã đề nghị Công ty Việt Long, số 9 đường Tân Sơn, phường 12, quận Gò Vấp, Tp Hồ Chí Minh tái xuất 11 bình Halon

Năm 2001, Công ty Dịch vụ kỹ thuật Dầu Khí, tầng 5, Tòa nhà PetroVietnam Tower, 1-5 Lê Duẩn, Quận 1, Tp Hồ Chí Minh đã nhập khẩu gần 4 tấn Halon 2402

Năm 2005, Nhà máy sợi Long An cũng đã nhập về 27 bình Halon

1211 loại 4 kg và phòng Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy Công an Tỉnh Long

An đang thu giữ để chờ xử lý

2.1.2 Thực trạng vấn đề sử dụng Halon dùng trong chữa cháy ở Việt Nam

Hệ thống khí chữa cháy sử dụng Halon có một lịch sử phát triển trên

60 năm, trải qua hàng ngàn các dự án nhà máy phát điện, khu công nghiệp, nhà máy lọc dầu, tàu biển và rất nhiều các lĩnh vực khác, hệ thống khí chữa cháy Halon đã được phát triển thành một hệ thống bảo vệ hiệu quả, nhanh chóng

Trang 37

Từ năm 1881 con người đã biết ứng dụng các Halon vào việc chữa cháy, một dược sĩ người Đức đã tình cờ phát hiện ra rằng, dầu hoả khi cháy sẽ

bị dập tắt tức khắc khi cho một lượng rất nhỏ clorofom (CHCl3) Tetraclocacbon (CCl4) được Regrault điều chế lần đầu tiên vào năm 1839, đến năm 1881 được đề nghị sử dụng làm chất chữa cháy Mãi khi nó được đưa vào sản xuất rộng rãi mới thực hiện được việc ứng dụng thực sự vào việc chữa cháy

Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, hàng loạt các hiđrocacbon flo hoá

có tác dụng chữa cháy cao đã được đưa vào làm chất chữa cháy Các chất này

có tính độc hại thấp, tác dụng chữa cháy lại rất cao và ít ăn mòn hơn Thời gian đầu việc sử dụng chúng bị hạn chế do giá thành quá cao so với các chất chữa cháy thông thường khác, nhưng khi công nghệ điều chế chúng phát triển thì chúng được sử dụng rất rộng rãi Tính đến năm 1988, riêng trữ lượng Halon 1211 dùng trong chữa cháy trên thế giới có tổng lượng là 20 nghìn tấn, Halon 1301 là 12,5 nghìn tấn

Đến nay do các Halon gây ô nhiễm môi trường, làm suy giảm tầng ôzôn nên đang bị hạn chế sử dụng và đi đến loại trừ trên toàn thế giới

Từ năm 1994, Việt Nam đã phê chuẩn tham gia Nghị định thư Montreal Vì vậy, nước ta phải loại trừ Halon theo hạn định loại trừ do Nghị định thư Montreal đề ra

Theo số liệu của Ban soạn thảo "Chương trình Quốc gia của Việt Nam nhằm loại trừ dần các chất làm suy giảm tầng ôzôn vào năm 1995” thống kê nếu tính cả quân đội, hàng không thì lượng Halon sử dụng ở nước ta

có thể lên đến 410 tấn Hơn 80% hệ thống thiết bị chữa cháy sử dụng Halon ở Việt Nam là Vietsovpetro, doanh nghiệp dầu khí lớn nhất sở hữu nhà nước Tổng nhu cầu ở Việt Nam trong 5 năm trước là khoảng 76 tấn ODS (các chất làm thủng tầng ôzôn) và một phần của nhu cầu này được đáp ứng bởi tái chế Trong các chất làm suy giảm tầng ôzôn có các Halon thường dùng để chữa

Trang 38

cháy đạt hiệu quả cao Theo thống kê sơ bộ, việc nhập khẩu Halon từ năm 1995-2003 theo bảng 2 như sau:

Bảng 2 Số liệu nhập khẩu Halon từ năm 1995-2003 7

Một số cơ sở kinh tế ở nước ta cũng đã được trang bị các chất này để chữa cháy mà tập trung nhất là trên các phương tiện giao thông vận tải (tầu thuỷ, máy bay) và trong quân đội

Trên các tầu chiến, tầu ngầm quân sự, xe tăng, máy bay của Liên Xô cũ

7

Nguồn: Cục Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy - Bộ Công an, 2000

Trang 39

sản xuất trước đây cung cấp cho nước ta thường có lắp đặt hệ thống hoặc trang bị bình chữa cháy bằng halon và chủ yếu là Halon 2402

Dựa trên điều tra được thực hiện bởi Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hiệp quốc (UNIDO) vào năm 2001, Halon – 1301 và Halon 2402 được nạp chủ yếu trong hệ thống chữa cháy trên tàu biển và giàn nổi khai thác dầu ngoài khơi Tổng số hệ thống chữa cháy sử dụng Halon lắp đặt trong công nghiệp được trình bày ở bảng 3

Bảng 3 Hệ thống chữa cháy sử dụng Halon trong lĩnh vực công nghiệp8

(kg)

Halon – 2402 (kg)

2 Tàu chở dầu và giàn nổi khai

Tất cả c ác máy bay đều có bình chữa cháy cầm tay sử dụng chất chống cháy Halon – chất này đang có mô ̣t số vấn đề về đô ̣c ha ̣i và môi trường nhưng la ̣i không gây ra hư hỏng cho các hê ̣ thống trên máy bay

Trước đây, các hãng hàng không vẫn thường dùng các loại bột chống cháy hoặc C02, nhưng những loa ̣i vâ ̣t liê ̣u này có thể làm hư hỏng các hê ̣

8

Nguồn: Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hiệp quốc (UNIDO), năm 2001

Trang 40

thống điê ̣n tử , đồng thời tăng khả năng gây rỉ sét Mỗi khi có sự cố và các bình cứu hỏa kiểu cũ này được sử du ̣ng thì chi phí khắc phu ̣c cũng như chi phí sửa chữa máy bay là rất tốn kém

Hóa chất của các loại bột chống cháy cũng gây ra tác dụng khi hành khách hít vào Chất liê ̣u Halon trong các bình chữa cháy mới sẽ tiếp xúc và

ngăn cách không cho ngo ̣n lửa lấy được oxy trong không khí , qua đó dâ ̣p tắt đám cháy , đồng thời Halon không hề gây hư hỏng cho hê ̣ thống cũng như

để các cơ sở thuộc Tổng công ty Dầu khí Việt Nam nhập 20,4 tấn Halon 2402

và 1,9 tấn Halon 1301 để giải quyết tình thế trước mắt

Tuy nhiên nhu cầu lựa chọn chất chữa cháy để thay thế Halon là rất cần thiết

cả trong các thiết bị chữa cháy cầm tay, hệ thống chữa cháy cố định và hệ thống chữa cháy tự động

Với mức tiêu thụ cơ sở Halon của Việt Nam thấp, tốc độ phát triển

9

Ngày đăng: 02/07/2022, 16:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ KH&CN: Báo cáo đề tài Nghiên cứu cơ chế, chính sách KH&CN khuyến khích đổi mới CN đối với DNV&N có vốn Nhà nước. Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đề tài Nghiên cứu cơ chế, chính sách KH&CN khuyến khích đổi mới CN đối với DNV&N có vốn Nhà nước
4. Chính phủ nước Cộng hoà XHCN Việt Nam: Nghị định số 119/1999/NĐ- CP về một số chính sách và cơ chế tài chính khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động KH&CN. Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 119/1999/NĐ-CP về một số chính sách và cơ chế tài chính khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động KH&CN
5. Chính phủ nước Cộng hoà XHCN Việt Nam: Nghị định số 81/2002/NĐ- CP qui định chi tiết thi hành một số điều của Luật KH&CN. Hà Nội, tháng 10/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 81/2002/NĐ-CP qui định chi tiết thi hành một số điều của Luật KH&CN
6. Đặng Duy Thịnh: Tài liệu bài giảng môn Chính sách khoa học và công ngh ệ, chương trình cao học chuyên ngành quản lý KH&CN tháng 5/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bài giảng môn Chính sách khoa học và công ngh
7. Trần Ngọc Ca: Tài liệu bài giảng môn Quản lý công nghệ, chương trình cao học chuyên ngành quản lý KH&CN tháng 4/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bài giảng môn Quản lý công nghệ
8. Nguyễn Đăng Dậu, Nguyễn Xuân Tài: Giáo trình quản lý công nghệ, NXB Đại học kinh tế quốc dân, năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý công nghệ
Nhà XB: NXB Đại học kinh tế quốc dân
9. Vũ Cao Đàm: Tài liệu bài giảng mụn Lý thuyết hệ thống, chương trỡnh cao học chuyên ngành quản lý KH&CN tháng 4/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bài giảng mụn Lý thuyết hệ thống
10. Vũ Cao Đàm: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB KH&KT, Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Nhà XB: NXB KH&KT
12. Trần Ngọc Ca: Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc xây dựng một số chính sách và biện pháp thúc đẩy hoạt động đôỉ mới công nghệ và nghiên cứu và triển khai trong các cơ sở sản xuất ở Việt Nam; Báo cáo đề tài cấp bộ. Hà Nội, 8/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc xây dựng một số chính sách và biện pháp thúc đẩy hoạt động đôỉ mới công nghệ và nghiên cứu và triển khai trong các cơ sở sản xuất ở Việt Nam
13. Phạm Văn Năng: Vấn đề đổi mới công nghệ để tăng năng lực cạnh tranh doanh nghiệp sản xuất. Tạp chí hoạt động khoa học số 4/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề đổi mới công nghệ để tăng năng lực cạnh tranh doanh nghiệp sản xuất
14. Nguyễn Long Hưng : Ứng dụng công nghệ „chất chữa cháy sạch‟ nhằm bảo vệ tầng ôzôn và những tác nhân gây nên hiệu ứng nhà kính, Tạp chí Bảo hộ Lao động, 10/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng công nghệ „chất chữa cháy sạch‟ nhằm bảo vệ tầng ôzôn và những tác nhân gây nên hiệu ứng nhà kính
15. Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam: Luật Khoa học và công nghệ, NXB chính trị Quốc gia, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Khoa học và công nghệ
Nhà XB: NXB chính trị Quốc gia
2. Công ước Viên năm 1985 về bảo vệ tầng ôzôn và Nghị định thư Montreal 1987 về các chất làm suy giảm tầng ôzôn và các văn kiện sửa đổi, bổ sung của Nghị định thư Montreal đã được Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam phê chuẩn tham gia Khác
3. Chương trình hành động bảo vệ môi trường của công an nhân dân giai đoạn 2006 – 2010 (Ban hành kèm theo Quyết định số 1869/2005/QĐ- BCA(E11), ngày 19/12/2005 của Bộ trưởng Bộ Công an) Khác
16. Quyết định số 46/2001/QĐ-TTg, ngày 14/4/2001 của Thủ tướng chính phủ về quản lý xuất nhập khẩu hàng hoá thời kỳ 2001-2005 Khác
18. Ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại văn bản số 286/TTg-KTTH, ngày 22 tháng 03 năm 2005 về quản lý xuất nhập khẩu các chất làm suy giảm tầng ôzôn và thiết bị làm lạnh dùng CFC Khác
19. Thông tư Liên tịch Bộ Thương mại và Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc quản lý nhập khẩu, xuất khẩu, tạm nhập - tái xuất các chất làm suy giảm tầng ôzôn theo quy định của Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ôzôn Khác
20. Pháp lệnh số 07/1998/PL-UBTVQH10 ngày 20 tháng 08 năm 1998 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Ký hiệu một số Halon - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Nghiên cứu một số giải pháp về chính sách ứng dụng công nghệ Chất chữa cháy sạchnhằm bảo vệ tầng ôzôn trong hệ thống chữa cháy ở Việt Nam hiện nay
Bảng 1. Ký hiệu một số Halon (Trang 35)
Bảng 2. Số liệu nhập khẩu Halon từ năm 1995-200 37 - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Nghiên cứu một số giải pháp về chính sách ứng dụng công nghệ Chất chữa cháy sạchnhằm bảo vệ tầng ôzôn trong hệ thống chữa cháy ở Việt Nam hiện nay
Bảng 2. Số liệu nhập khẩu Halon từ năm 1995-200 37 (Trang 38)
Bảng 3. Hệ thống chữa cháy sử dụng Halon trong lĩnh vực công nghiệp8 - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Nghiên cứu một số giải pháp về chính sách ứng dụng công nghệ Chất chữa cháy sạchnhằm bảo vệ tầng ôzôn trong hệ thống chữa cháy ở Việt Nam hiện nay
Bảng 3. Hệ thống chữa cháy sử dụng Halon trong lĩnh vực công nghiệp8 (Trang 39)
Bảng 4. Danh sách các cơ sở nhập halon để nạp bổ sung cho các hệ  thống chữa cháy sẵn có bằng Halon 9 - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Nghiên cứu một số giải pháp về chính sách ứng dụng công nghệ Chất chữa cháy sạchnhằm bảo vệ tầng ôzôn trong hệ thống chữa cháy ở Việt Nam hiện nay
Bảng 4. Danh sách các cơ sở nhập halon để nạp bổ sung cho các hệ thống chữa cháy sẵn có bằng Halon 9 (Trang 40)
Bảng 5. Nhiệt hoá hơi của một số Halon so với nước 10 - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Nghiên cứu một số giải pháp về chính sách ứng dụng công nghệ Chất chữa cháy sạchnhằm bảo vệ tầng ôzôn trong hệ thống chữa cháy ở Việt Nam hiện nay
Bảng 5. Nhiệt hoá hơi của một số Halon so với nước 10 (Trang 42)
Bảng 6. Tiềm năng phá huỷ tầng ôzôn của một số Halon dùng trong chữa cháy 11 - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Nghiên cứu một số giải pháp về chính sách ứng dụng công nghệ Chất chữa cháy sạchnhằm bảo vệ tầng ôzôn trong hệ thống chữa cháy ở Việt Nam hiện nay
Bảng 6. Tiềm năng phá huỷ tầng ôzôn của một số Halon dùng trong chữa cháy 11 (Trang 46)
Hình ảnh cháy rừng, lũ lụt,... - những thảm họa thiên nhiên dưới ảnh hưởng của biến đổi khí hậu phần nhiều là do chính con người gây ra - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Nghiên cứu một số giải pháp về chính sách ứng dụng công nghệ Chất chữa cháy sạchnhằm bảo vệ tầng ôzôn trong hệ thống chữa cháy ở Việt Nam hiện nay
nh ảnh cháy rừng, lũ lụt,... - những thảm họa thiên nhiên dưới ảnh hưởng của biến đổi khí hậu phần nhiều là do chính con người gây ra (Trang 46)
Bảng 7. Thời hạn loại trừ các chất làm suy giảm tầng ôzôn - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Nghiên cứu một số giải pháp về chính sách ứng dụng công nghệ Chất chữa cháy sạchnhằm bảo vệ tầng ôzôn trong hệ thống chữa cháy ở Việt Nam hiện nay
Bảng 7. Thời hạn loại trừ các chất làm suy giảm tầng ôzôn (Trang 51)
Bảng 9. Các chất thay thế tương tự Halon - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Nghiên cứu một số giải pháp về chính sách ứng dụng công nghệ Chất chữa cháy sạchnhằm bảo vệ tầng ôzôn trong hệ thống chữa cháy ở Việt Nam hiện nay
Bảng 9. Các chất thay thế tương tự Halon (Trang 55)
Để hình dung được tính chất và mức độ hiệu quả chữa cháy của các chất thay thế tương tự Halon có thể dẫn ra một số đại diện điển hình như nêu  trong  "ISO  14521-Phần  12  đến  14:  Hệ  thống  chữa  cháy  bằng  khí-Tính  chất  vật lý và thiết kế hệ th - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Nghiên cứu một số giải pháp về chính sách ứng dụng công nghệ Chất chữa cháy sạchnhằm bảo vệ tầng ôzôn trong hệ thống chữa cháy ở Việt Nam hiện nay
h ình dung được tính chất và mức độ hiệu quả chữa cháy của các chất thay thế tương tự Halon có thể dẫn ra một số đại diện điển hình như nêu trong "ISO 14521-Phần 12 đến 14: Hệ thống chữa cháy bằng khí-Tính chất vật lý và thiết kế hệ th (Trang 55)
BẢNG 2.1 6: CHỈ TIÊU TÀI CHÍNH 5 NGÂN HÀNG CÓ THỊ PHẦN LỚN NHẤT NĂM 2009 - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Nghiên cứu một số giải pháp về chính sách ứng dụng công nghệ Chất chữa cháy sạchnhằm bảo vệ tầng ôzôn trong hệ thống chữa cháy ở Việt Nam hiện nay
BẢNG 2.1 6: CHỈ TIÊU TÀI CHÍNH 5 NGÂN HÀNG CÓ THỊ PHẦN LỚN NHẤT NĂM 2009 (Trang 64)
+ Tăng thuế theo hình thức luỹ tiến đối với các doanh nghiệp sử dụng chất chữa cháy ảnh hưởng đến môi trường - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Nghiên cứu một số giải pháp về chính sách ứng dụng công nghệ Chất chữa cháy sạchnhằm bảo vệ tầng ôzôn trong hệ thống chữa cháy ở Việt Nam hiện nay
ng thuế theo hình thức luỹ tiến đối với các doanh nghiệp sử dụng chất chữa cháy ảnh hưởng đến môi trường (Trang 78)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w