1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) biến đổi sinh kế của cư dân ven biển thanh hóa trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn từ năm 1991 đến nay

179 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Biến Đổi Sinh Kế Của Cư Dân Ven Biển Thanh Hóa Trong Thời Kỳ Công Nghiệp Hóa, Hiện Đại Hóa Nông Nghiệp Nông Thôn Từ Năm 1991 Đến Nay: Nghiên Cứu Tại Làng Đông Thành - Xã Đa Lộc - Huyện Hậu Lộc
Tác giả Lê Thị Thương
Người hướng dẫn PGS.TS Lâm Bá Nam
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Nhân học
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 179
Dung lượng 2,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- LÊ THỊ THƯƠNG BIẾN ĐỔI SINH KẾ CỦA CƯ DÂN VEN BIỂN THANH HÓA TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGH

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LÊ THỊ THƯƠNG

BIẾN ĐỔI SINH KẾ CỦA CƯ DÂN VEN BIỂN THANH HÓA TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN TỪ NĂM 1991 ĐẾN NAY: NGHIÊN CỨU TẠI LÀNG ĐÔNG THÀNH - XÃ ĐA LỘC - HUYỆN HẬU LỘC

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Nhân học

Hà Nội-2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LÊ THỊ THƯƠNG

BIẾN ĐỔI SINH KẾ CỦA CƯ DÂN VEN BIỂN THANH HÓA TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN TỪ NĂM 1991 ĐẾN NAY: NGHIÊN CỨU TẠI LÀNG ĐÔNG THÀNH – XÃ ĐA LỘC – HUYỆN HẬU LỘC

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Nhân học

Mã số: 60310302

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lâm Bá Nam

Hà Nội-2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Nội dung trình bày trong luận văn là kết quả nghiên cứu của tôi tại xã Đa Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa Các số liệu, kết quả nghiên cứu và trích dẫn trong luận văn hoàn toàn trung thực

Hà Nội, tháng 09 năm 2017

Tác giả luận văn

Lê Thị Thương

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn thạc sĩ Biến đổi sinh kế của cư dân ven biển Thanh Hóa

trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn từ năm 1991 đến nay: Nghiên cứu tại làng Đông Thành - xã Đa Lộc - huyện Hậu Lộc Tôi đã nhận được sự giúp

đỡ quý báu của nhiều cơ quan, tập thể và cá nhân

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Lâm Bá Nam, là giáo

viên viên hướng dẫn khoa học, thầy đã tận tình chỉ bảo tôi trong việc xác định đề tài, tiếp cận lý thuyết, phương pháp nghiên cứu, gợi ý các nội dung và góp ý để tôi hoàn thiện bản luận văn này

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới:

- Khoa Nhân học, trường Đại học khoa học xã hội và Nhân văn – ĐHQGHN đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành chương trình học tập, nghiên cứu và bảo vệ luận án

- Lãnh đạo các ban ngành của huyện Hậu Lộc, xã Đa Lộc và người dân tại các thôn Đông Thành, Hùng Thành, Ninh Phú và một số thôn của hai xã Ngư Lộc, Hải Lộc đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong các chuyến đi điền dã lấy tư liệu để viết luận văn

- Tôi xin cảm ơn gia đình chú Vũ Quốc Sử - trưởng thôn Đông Thành, chị Nguyễn

Thị Hiền – cán bộ khuyến nông xã Đa Lộc và gia đình em Vũ Thị Thu đã trực tiếp cưu

mang, tạo điều kiện chỗ ăn, ở và giúp đỡ tận tình tôi trong thời gian nghiên cứu tại thực địa

- Cảm ơn gia đình, các quý thầy cô, bạn bè đã khích lệ, động viên, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn

Trân trọng cảm ơn./

Hà Nội, tháng 09 năm 2017

Tác giả luận văn

Lê Thị Thương

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 7

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 7

4 Phương pháp nghiên cứu 9

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 12

6 Kết cấu của luận văn 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, TIẾP CẬN LÝ THUYẾT VÀ KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 14

1.2 Cơ sở lý thuyết 20

1.3 Khái quát về huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa 27

Tiểu kết chương 1 34

CHƯƠNG 2 SINH KẾ TRONG TRUYỀN THỐNG 2.1 Nông nghiệp 36

2.2 Hoạt động tiểu thủ công nghiệp: 46

2.3 Hoạt động xây dựng, thương mại dịch vụ 53

2.4 Hoạt động khai thác nguồn lợi tự nhiên 57

Tiểu kết chương 2 64

CHƯƠNG 3 SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN TRONG BỐI CẢNH CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN 3.1 Bối cảnh biến đổi của các hoạt động sinh kế 66

3.2 Những biến đổi trong nông nghiệp 82

Trang 6

3.3 Biến đổi của các hoạt động khai thác nguồn lợi tự nhiên 97

3.4 Biến đổi của các hoạt động tiểu thủ công nghiệp 100

3.5 Biến đổi của các hoạt động thương mại và dịch vụ 102

3.6 Sự xuất hiện các loại hình sinh kế mới 108

Tiểu kết chương 3 112

CHƯƠNG 4 TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI SINH KẾ, CÁC VẤN ĐỀ ĐẶT RA, GIẢI PHÁP VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ 4.1 Tác động tích cực 114

4.2 Tác động tiêu cực và các vấn đề đặt ra 129

4.3 Giải pháp và khuyến nghị 139

Tiểu kết chương 4 147

KẾT LUẬN 148

TÀI LIỆU THAM KHẢO 153

PHỤ LỤC……… 179

Trang 7

MỤC LỤC BẢNG

Bảng 2.1 Một số giống lúa gieo trồng phổ biến trong truyền thống 40 Bảng 2.2 Sản lượng cây lương thực và bình quân lương thực đầu người 41 Bảng 2.3 Các hoạt động khai thác nguồn lợi tự nhiên 69

Bảng 3.4 Các giống lúa đang được gieo trồng hiện nay 86 Bảng 3.5 Một số giống hoa màu phổ biến hiện nay 92 Bảng 3.6 Các cơ sở kinh doanh dịch vụ nông nghiệp 94

Bảng 4.1 Mức thu nhập trung bình năm của các hộ gia đình theo nguồn thu 130 Bảng 4.2 Hiện trạng và quy hoạch hệ thống thiết chế văn hóa xã 141

Bảng 4.4 Tỷ lệ hộ chia theo cách xử lý rác thải khu vực nông thôn - thành thị

Trang 8

MỤC LỤC HÌNH

Hình 4.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của xã Đa Lộc giai đoạn 1991-2016 127

Trang 9

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CNH-HĐH C ÔNG NGHIệP HÓA – HIệN ĐạI HÓA

DFID B ộ PHÁT TRIểN Q UốC Tế A NH

HDND H ộI ĐồNG NHÂN DÂN

NTTS N UÔI TRồNG THủY SảN

THCS T RUNG HọC CƠ Sở

THPT T RUNG HọC PHổ THÔNG

UBND Ủ Y BAN NHÂN DÂN

XKLĐ X UấT KHẩU LAO ĐộNG

Trang 10

MỞĐẦU

1.LÝ DO CHọN Đề TÀI

Quá trình đổi mới ở Việt Nam bắt đầu từ những năm 80 của thế kỷ trước, đổi mới đã tạo ra những tiền đề quan trọng để đất nước chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Với một nước có nền tảng từ nông nghiệp với 80% dân cư sống ở nông thôn, lao động nông nghiệp chiếm trên 70% lao động xã hội thì vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân là một vấn đề lớn của quá trình công nghiệp hóa.Trên thực tế, cùng với việc đẩy mạnh công nghiệp hóa ở các thành phố lớn thì vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn đã và đang được Đảng, Nhà nước coi trọng,góp phần làm thay đổi rất nhiều bộ mặt nông nghiệp và nông thôn nước ta Tiêu biểu là những thay đổi trong lĩnh vực kinh tế nông thôn, những năm gần đây sự biến đổi sinh kế của các gia đình nông dân ở nhiều vùng nông thôn khác nhau trên cả nước đang diễn ra rất nhanh chóng và phức tạp, trở thành đề tài được nhiều người quan tâm nghiên cứu

Vùng ven biển của Việt Nam trải dài theo hơn 3260km đường bờ biển.Từ bao đời nay cùng với các không gian núi rừng và châu thổ, biển đã là môi trường sống, môi trường tiếp giao văn hóa của người Việt, từ đó biển đã góp phần hợp thành, định diện truyền thống, bản sắc văn hóa, cơ sở kinh tế, tư duy của nhiều cộng đồng cư dân Việt Nam Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay đã tạo

ra nhiều cơ hội nhưng cũng mang đến lắm thách thức, rủi ro cho các tộc người nói chung

và cộng đồng cư dân ven biển nói riêng Vì thế việc biến đổi nhằm đối phó hoặc thích ứng với những biến đổi của xã hội, môi trường của các cộng đồng là lẽ tự nhiên, và một trong những biến đổi quan trọng chính là biến đổi hoạt động sinh kế Do đó, nghiên cứu hoạt động sinh kế và quá trình chuyển đổi sinh kế là cách giúp chúng ta có cái nhìn cụ thể hơn

về đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội của một cộng đồng tộc người dưới tác động của môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và văn hóa

Hậu Lộc là một huyện ven biển của tỉnh Thanh Hóa Là huyện có điều kiện tự nhiên

đa dạng và phong phúvới 3 vùng: vùng đồi, vùng đồng bằng châu thổ và vùng ven biển,cùng hệ thống giao thông khá phát triển do có có nhiều tuyến đường huyết mạch và cách thành phố Thanh Hóa chưa đến 25km, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế Hậu Lộc phát triển đa dạng ở nhiều lĩnh vực Hiện nay trên địa bàn huyện đã xuất hiện nhiều nhà máy, xí nghiệp, công ty có vốn đầu tư nước ngoài hoặc liên doanh thu hút lực lượng lớn

Trang 11

lao động từ các địa phương Quá trình công nghiệp hóađã lan nhanh từ khu vực đô thị trung tâm ra các vùnglận cận và tiếp tục ảnh hưởng đến các khu vực còn lại Mặc dù, khu vực giáp biển nằm cách khu vực đô thị khá xa nhưng không vì thế mà mức ảnh hưởng bị giảm đi Bởi lẽ đó, cùng với các huyện ven biển khác của tỉnh Thanh Hóa, những năm gần đây quá trình công nghiệp hóa ở khu vực nông thôn ven biển Hậu Lộc diễn ra rất mạnh

mẽ Biến đổi rõ ràng nhất có thể nhận thấy là sự chuyển dịch nhanh chóng của các hoạt động kinh tế Tuy nhiên, công nghiệp hóa cũng đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết, đó là vấn đề thiếu việc làm, mất đất sản xuất,ô nhiễm môi trường biển, suy giảm nguồn lợi tự nhiên,gia tăng mâu thuẫn xã hội, Vì vậy, việc nghiên cứu sự biến đổi sinh

kế của người dân tại vùng biển Hậu Lộc sẽ góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về sinh kế của người dân vùng ven biển dưới tác động của công nghiệp hóa

Với các lý do trên, tôi đã chọn Biến đổi sinh kế của cư dân ven biển Thanh Hóa

trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn từ năm 1991 đến nay: Nghiên cứu tại làng Đông Thành - xã Đa Lộc - huyện Hậu Lộclàm đề tài nghiên cứu của

luận văn này

2.MụC ĐÍCH VÀ NHIệM Vụ NGHIÊN CứUCủA LUậN VĂN

2.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực về sinh kế và biến đổi sinh kế của người dân vùng ven biển Từ đó, đề xuất một số giải pháp và khuyến nghị định hướng sinh kế bền vững cho người dân địa phương

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Các nhiệm vụ chính của nghiên cứu bao gồm:

- Tìm hiểu các vấn đề lý luận về nông nghiệp, nông thôn, nông dân, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sinh kế, biến đổi sinh kế và sinh kế bền vững của người dân

- Tìm hiểu hoạt động sinh kế của người dân làng Đông Thành trong truyền thống

- Làm rõ những biến đổi sinh kế của người dân làng Đông Thành hiện nay

- Nhận định những tác động của biến đổi sinh kế đối với người dân và gợi ý một số giải pháp về sinh kế bền vững

3.ĐốI TƯợNG VÀ PHạM VI NGHIÊN CứU CủA LUậN VĂN

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 12

Thực hiện nghiên cứu này tôi tập trung vào đối tượng là các hoạt động sinh kế và những biến đổi của sinh kế vùng nông thôn ven biển trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi về không gian: Thực hiện nghiên cứu này tôi tiến hành khảo sát chủ yếu tại

làng Đông Thành, xã Đa Lộc, Hậu Lộc – Thanh Hóa Đây là một làng thuộc xã ven biển lớn nhất và xa nhất của huyện Hậu Lộc Chọn địa bàn này để nghiên cứu, khác với những nghiên cứu trước đó chủ yếu tìm hiểu quá trình biến đổi ở khu vực ven đô, tôi muốn tìm hiểu quá trình biến đổi sinh kế của người dân ở một làng cách xa trung tâm thị trấn nhấtđể xem dưới tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì sinh kế ở những vùng vốn thuần nông và ít bị ảnh hưởng trực tiếp bởi đô thị hóa sẽ diễn ra như thế nào? Ngoài ra huyện Hậu Lộc còn 5 xã ven biển khác bao gồm Ngư Lộc, Hải Lộc, Minh Lộc, Hòa Lộc và Hưng Lộc, trong cộng đồng cư dân ven biển Hậu Lộc thì có hơn 70% lấy nông nghiệp làm kế sinh nhai chính, 20% làm ngư nghiệp và 10% làm các nghề khác Nhưng đặc điểm chung của sinh kế là đều chịu ảnh hưởng bởi yếu tố hải văn và địa lý ven biển Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu, dù địa điểm chính là làng Đông Thành - xã Đa Lộc nhưng để có cái nhìn

so sánh và bao quát hơn tác giả cũng liên hệ thêm ở một số khu vực khác ngoài địa bàn này

Phạm vi về thời gian: Đề tài nghiên cứu từ năm 1991 đến nay bởi lý do, mặc dù mốc

đánh dấu đổi mới ở Việt Nam thường được nhắc đến là từ năm 1986, tuy nhiên, tác giả nhận thấy mục tiêu nghiên cứu chính của luận văn là tập trung sự biển đổi của nông nghiệp, nông thôn và nông dân.Trong khi thời kỳ đầu của đổi mới, cụ thể tại đại hội VI (1986) các chủ trương về công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn mới chỉ manh nha, phải đến đại hội VII (1991) và VIII (1996) bắt đầu thể hiện quan điểm coi trọng nông nghiệp bằng việc xách định rõ vai trò hàng đầu của nông nghiệp, ưu tiên phát triển nông nghiệp trong hệ thống kinh tế chung của đất nước Đặc biệt, với đại hội X (2006) thì chương trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn chính thức ra đời và được cụ thể hóa bằng nhiều chủ trương, chính sách Do vậy, để phù hợp với trọng tâm của đề tài tôi chọn phạm vị thời gian nghiên cứu chính là từ năm 1991 tức là thời điểm bắt đầu tiến hành đẩy mạnhcông nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn Tuy vậy, nghiên cứu vẫn có những

Trang 13

liên hệ với với các mốc thời gian trước đó để có những so sánh lịch đại nhằm thể hiện một cách tốt nhất quá trình của sự biến đổi

4.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CứU

Thực hiện nghiên cứu này tôi đã kết hợpcả nghiên cứuđịnh tính, định lượng và nghiên cứu lịch sử (lịch đại và đồng đại), cụ thể gồm các phương pháp sau:

Phương pháp điền dã dân tộc học: Đây là phương pháp nghiên cứu chủ đạo của luận

văn.Trong đó, công cụ được sử dụng chính và nhiều nhất là phỏng vấn sâu Ngoài ra, còn

có các công cụ nghiên cứu khác cũng được áp dụng là: quan sát và quan sát tham gia, thảo luận nhóm, ghi chép, quay video, chụp ảnh Tôi đã có 3 đợt điền dã tại huyện Hậu Lộc: + Tháng 4/2016 tôi tiến hành khảo sát chung về huyện Hậu Lộc, xã Đa Lộc và một

số xã ven biển khác là Ngư Lộc và Hải Lộc Đây là lần khảo sát đầu tiên về địa bàn nghiên cứu Tôi trực tiếp liên hệ với UBND huyện Hậu Lộc, UBND xã Đa Lộc và cán bộ thôn Đông Thành về các thủ tục xin qua lại và ở tại địa bàn, cùng ăn, ở, làm việc vớingười dân; trao đổi với người chuyên trách một số thông tin về đề tài để nắm được tình hình chung của địa bàn nghiên cứu Qua lần điền dã này, thông tin tôi thu thập được chủ yếu là những thông tin khái quát về địa bàn như: Đặc điểm địa lý, tự nhiên, văn hóa, xã hội, lịch sử của huyện Hậu Lộc, xã Đa Lộc và làng Đông Thành Lần khảo sát này kéo dài trong 5 ngày, công cụ nghiên cứu chủ yếu là quan sát, thu thập tài liệu thứ cấp và phỏng vấn sâu các thông tín viên là cán bộ các cấp ở địa phương, những người phụ trách trông coi đình làng, miếu, nghè của làng, trụ trì chùa của xã để tìm hiểu thông tin về lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng của người dân địa phương

+ Tháng 5 đến tháng 6/2016là đợt nghiên cứu thứ 2, kéo dài 17 ngày, tôi trực tiếp nghiên cứu tại làng Đông Thành – xã Đa Lộc Sử dụng công cụ nghiên cứu chính là phỏng vấn sâu và quan sát tham sát tham gia, kết hợp chụp ảnh và tiếp tục thu thập tài liệu thứ cấp Tôi đã tiến hành nhiều cuộc phỏng vấn sâu với các thông tín viên chủ chốt Các thông tin tôi thu thập được trong đợt điền dã này rất quan trọng, giúp tôi định hình được các vấn

đề nghiên cứu chính của mình, bám sát với mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu, tôi đã có được khối lượng thông tin tương đối đầy đủ, chi tiết về hoạt động sinh kế trong truyền thống và những biến đổi sinh kế của người dân hiện nay Mặc dù vậy, có một số vấn đề đã phát sinh từ đợt nghiên cứu này đã gây khó khăn cho tôi tại địa bàn, đó là thời điểm giữa tháng 5/2016 là người dân bước vào vụ thu hoạch lúa chiêm, do vậy việc gặp gỡ và thời

Trang 14

gian cho các cuộc phỏng vấn không được đảm bảo, đặc biệt với những thông tín viên “dắt dây” hầu như đều không liên lạc được Để giải quyết vấn đề này, tôi đã phải lập một thời gian biểu cho các cuộc phỏng vấn, theo đó tôi chủ yếu thực hiện các cuộc phỏng vấn vào buổi tối, sau khi họ đã hoàn thành xong công việc của một ngày và hoàn toàn có thời gian

để trao đổi Vào ban ngày, tôi dành toàn bộ thời gian của mình để gặp gỡ và các phỏng vấn ngẫu nhiên Tôi thường đi “la cà” vừa quan sát vừa tìm các thông tín viên của mình, các thông tín viên ngẫu nhiên rất đa dạng về lứa tuổi, nghề nghiệp và tùy vào từng đối tượng mà các cuộc phỏng vấn sẽ có những chủ đề phù hợp Thông tín viên lớn tuổi nhất

mà tôi phỏng vấn là 82 tuổi, nhỏ nhất là 15 tuổi Với những người trên 60 tuổi, tôi thường hỏi về các sinh kế truyền thống, dùng phương pháp “hồi cố” để hỏi về hoàn cảnh xã hội của địa phương, không gian làng xã trong quá khứ và những thay đổi hiện tại mà thông tín viên có thể nắm được, nếu họ vẫn tham gia sinh kế thì hỏi về chính hoạt động sinh kế trong quá khứ và hiện tại của họ, Với những người trong độ tuổi trung niên (45-59), tôi hỏi họ về cuộc sống và sinh kế hiện tại của gia đình, so sánh với khoảng thời gian 20-25 năm về trước và những thời kỳ biến đổi về sinh kế mà họ trải qua, những mốc biến đổi mà

họ thấy sâu sắc, quan trọng cùng những định hướng sinh kế, hay nguyện vọng của gia đình trong tương lai, Với những thông tín viên trong độ tuổi thanh thiếu niên tôi hỏi họ về công việc hiện tại, đặc điểm nghề nghiệp, thu nhập cá nhân, mức sống hiện tại, đóng góp đối với sinh kế của gia đình, mong muốn của các thông tín viên về công việchiện tại hoặc trong tương lai Một số thông tin viên là những em nhỏ, những cuộc nói chuyện với các

em giúp tôi có thêm một số thông tin ở những“góc nhìn của trẻ em”, bởi vì ở vùng nông thôn trẻ em tham gia lao động rất sớm, các em trở thành những lao động không thường xuyên và dù không trực tiếp tạo ra thu nhập nhưng đôi khi lại là những lao động không thể thiếu trong gia đình.Tuy vậy, các cuộc phỏng vấn ngẫu nhiên này thường bị hạn chế vì thời gian vì cuộc trao dổi thường diễn ra “tranh thủ” khi người dân nghỉ giải lao hoặc vừa cùng làm việc vừa nói chuyện, Mặc dù vậy, những thông tin thu được từ việc đi “la cà”

và phỏng vấn ngẫu nhiên rất phong phú, thú vị, gắn liền với hoàn cảnh của chính các thông tín viên.Trong suốt quá trình nghiên cứu tôi tiến hành nhiều cuộc phỏng vấn định tính trong đó có 25 cuộc phỏng vấn với thông tín viên chủ chốt và nhiều thông tín viên ngẫu nhiên khác, ở những lứa tuổi và nghề nghiệp khác nhau

Trang 15

Tháng 8/2016, tôi tiến hành đợt nghiên cứu thứ 3, cũng là đợt nghiên cứu cuối cùng tại địa bàn Sau đợt nghiên cứu thứ 2 tôi bắt đầu viết những phân tích và đánh giá về các thông tin thu được ở các đợt điền dã trước, vừa là để ghi nhớ vừa là để tổng hợp và xem xét lại còn những vấn đề gì vướng mắc, chưa rõ hoặc chưa đầy đủ cần phải tiếp tục khai thác trong đợt điền tiếp theo Do vậy, đợt nghiên cứu này tôi chủ yếu thu thập thông tin bổ sung cho luận văn bằng phỏng vấn bán cấu trúc lặp lại với những thông tín viên của mình, thu thập thêm thông tin định lượng thông qua khảo sát bảng hỏi, các tài liệu địa phương chủ yếu là các bản báo cáo, đề án, tổng kết – sơ kết, biên bản làm việc, và luôn song song với việc chụp ảnh tư liệu điền dã

Như vậy, qua các đợt điền dã với việc cùng ăn, ở tại địa bàn và sử dụng các công cụ nghiên cứu điền dã dân tộc học đã giúp tôi thu thập được nhiều thông tin quan trọng, hữu ích không chỉ phục vụ luận văn mà còn học hỏi được nhiều kiến thức, kinh nghiệm sống

từ những người dân địa phương

Phương pháp điều tra xã hội học: Để có được những số liệu chi tiết tạo thêm sức

thuyết phục cho nghiên cứu, tôi tiến hành phương pháp điều tra chọn mẫu cấp hộ bằng phỏng vấn bảng hỏi Tôi sử dụng bảng hỏi số liệu kèm các câu hỏi có thể thu về cả thông tin định lượng và định tính Số hộ được khảo sát là 30 được chọn ngẫu nhiên Các bảng hỏi được phát chủ yếu tại thôn Đông Thành, xã Đa Lộc Để đảm bảo số lượng và chất lượng bảng hỏi tôi đã sử dụng thêm các cộng tác viên – chính là một số người có uy tín tại thôn như trưởng thôn, bí thư, chủ tịch hội nông dân, hỗ trợ việc phát bảng hỏi, và đọc câu hỏi Để đảm bảo tính khách quan tôi cũng yêu cầu các cộng tác viên không được gợi ý hay hướng dẫn câu trả lời, và khuyến khích người dân trả lời câu hỏi theo cách mà họ hiểu Sau khi thu lại các bảng hỏi, tôi tiến hành xử lý số liệu theo phương pháp thống kê đơn thuần để lấy tỷ lệ và các ý kiến trùng lặp, với những câu trả lời khác với chủ đề của câu hỏi tôi sẽ trực tiếp liên lạc qua điện thoại để xác nhận lại câu trả lời

Bên cạnh thông tin bảng hỏi và từ các thông tín viên, tôi còn thu thập và sử dụng các tài liệu thứ cấp thu thập được tại địa bàn như báo cáo của phòng Nông nghiệp, phòng Công thương, Văn hóa – xã hội huyện Hậu Lộc; Đề án xây dựng nông thôn mới thôn Đông Thành và xã Đa Lộc; Báo cáo các vấn đề văn hóa – xã hội của xã Đa Lộc;… cũng được sử dụng cho nghiên cứu này

Trang 16

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

5.1 Ý nghĩa lý luận

Trước hết luận văn đã làm sáng tỏ một số khái niệm công cụ và các chiều cạnh phân tích về sinh kế, nông nghiệp, nông thôn và nông dân Đồng thời luận văn cũng đã xác định được các lý thuyết cơ bản trong áp dụng phân tích đó là lý thuyết khung sinh kế bền vững

và thuyết sinh thái văn hóa.Từ nghiên cứu thực tế cùng với việc áp dụng các lý thuyết phù hợp, luận văn góp phần cung cấp một cái nhìn mới trong xem xét, phân tích và đánh giá vấn đề sinh kế và biến đổi sinh kế hiện nay Đặc biệt là những biến đổi sinh kế của người nông dân ở các vùng ven biển, vùng cách xa các trung tâm của đô thị hóa nhưng lại là vùng gánh chịu nhiều ảnh hưởng và dễ bị tổn thương bởi những hệ quả của công nghiệp hóa, hiện đại hóa

5.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn cung cấp cơ sở khoa học cho nghiên cứu về sinh kế ở vùng nông thôn ven biển Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể là nguồn tài liệu tham khảo cho các nhà hoạch định và thực thi chính sách ở các cấp trong phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống của người nông dân, đặc biệt ở vùng được nghiên cứu; Luận văn cũng có thể là nguồn tư liệu tham khảo hữu ích cho cán bộ, nhân dân địa phương các xã ven biển huyện Hậu Lộc và những người quan tâm đến vấn đề sinh kế nông thôn trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Ngoài ra, các kết quả nghiên cứu của luận văn cũng

có thể được sử dụng để phục vụ công tác giảng dạy về vấn đề sinh kế của người nông dân

ở vùng đồng bằng nói chung và ven biển nói riêng dưới góc nhìn Nhân học

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn được kết cấu thành 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, tiếp cận lý thuyết và khái quát địa bàn nghiên cứu

Chương 2:Sinh kế truyền thống của người dân xã Đa Lộc – Hậu Lộc

Chương 3: Biến đổi sinh kế của người dân xã Đa Lộc trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

Chương 4: Tác động của biến đổi sinh kế và các giải pháp định hướng sinh kế bền vững

Trang 18

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, TIẾP CẬN LÝ THUYẾT VÀ KHÁI

QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Các nghiên cứu về chủ đề sinh kế và biến đổi sinh kế ở Việt Nam

Nghiên cứu về sinh kế và biến đổi sinh kế là đề tài được các nhà nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực quan tâm những năm gần đây Nguồn tài liệu về sinh kế có thể tiếp cận được rất

đa dạng từ các công trình thuộc đề tài cấp quốc gia, cấp bộ, ngành, đến những dự án được tài trợ bởi các tổ chức phi chính phủ trong nước và nước ngoài; những công trình nghiên cứu độc lập của các nhà khoa học cho đến những luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp sinh viên, các bài chuyên khảo trên các tạp chí chuyên ngành, báo chí truyền thông,… Ở Việt Nam sinh kế là chủ đề được nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau Có thể kể đến một số tài liệu đề cập trực tiếp đến vấn đề sinh kế sau:

Tác giả Tô Duy Hợp với “Biến đổi tam nông: một số vấn đề lý luận cơ bản” - Bài tham luận tại Hội thảo khoa học Biến đổi xã hội nông thôn Việt Nam dưới tác động của đô

thị hóa, tích tụ ruộng đất và chính sách dồn điền đổi thửa: những vấn đề lý luận, thực trạng và giải pháp (2006); và “Khinh-Trọng, một quan điểm lý thuyết trong nghiên cứu triết học và xã hội học”(2007) Ông và các cộng sự khi nghiên cứu về xã hội học nông

thôn đã dựa trên cơ sở lý thuyết Khinh-Trọng để đi sâu phân tích động lực và sự lựa chọn các mô hình sinh kế của nông dân Quan điểm này nhấn mạnh sự lựa chọn mô hình sinh

kế của chủ thể và các yếu tố tác động đến sự lựa chọn đó33 Cũng gắn với lý thuyết còn

có bài viết “Khung sinh kế bền vững: Một cách phân tích toàn diện về phát triển và giảm

nghèo”của Nguyễn Văn Sửu74 đã phân tích và đánh giá khá sâu sắc về khung sinh kế

bền vững mà DFID đã đưa ra Từ việc phân tích vai trò của từng loại nguồn vốn đối với sinh kế của người nông dân tác giả đã khẳng định tínhứng dụng của của lý thuyết sinh kế bền vững trong xóa đói giảm nghèo ở nông thôn và phát triển bền vững ở Việt Nam

Nhiều tác giả khác lại quan tâm đến sinh kế với ý nghĩa là đặc trưng cơ bản của kinh

tế - xã hội tộc người, do đó ta có các nghiên cứu về sinh kế của các tộc người thiểu số và

đa số ở Việt Nam Hầu hết các nghiên cứu ở khía cạnh này đều đi sâu tìm hiểu các hoạt động sinh kế gắn với một tộc người và một địa bàn cụ thể, từ đó khái quát và giới thiệu

Trang 19

các đặc trưng sinh kế cả trong truyền thống và hiện tại của tộc người Có thể kể đến như Trần Thị Mai An (2006) nghiên cứu về Sinh kế người Cơ tu ở Thừa Thiên – Huế;Nguyễn Xuân Hồng (2007) nghiên cứu sinh kế của người Tà-ôi (Pacoh) ở huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên–Huế;Phạm Thị Thu Hà (2011, 2012) nghiên cứu Sinh kế của người Tày ở Lạng Sơn;Nguyễn Thị Thanh Thủy (2011) về Sinh kế người Hmông; Ngô Phương Lan (2012) có sinh kế người Khmer; Trần Hồng Hạnh (2011) với nghiên cứu sinh kế người Pà thẻn ở huyện Quảng Bình, …

Ngoài ra, sinh kế còn được nghiên cứu trong mối liên hệ với văn hóa tộc người Tác

giả Hoàng Cầm và Phạm Quỳnh Phương với Diễn ngôn – chính sách và sự biến đổi văn

hóa – tộc người (2012), nghiên cứu đã chỉ ra một trong những bất cập trong việc thực

hành chính sách đối với dân tộc thiểu số đó là chưa thể hiện quan điểm tôn trọng sự đa dạng văn hóa đã được đề ra trong Hiến pháp Việt Nam Và qua việc sử dụng Khung tiếp cận đánh giá văn hóa (Cultural Impact Assessment) các tác giảđã phân tích và đánh giá nhữngtác động của chính sách đốivới các khía cạnh khác nhau của văn hóa bao gồm cả hệ thống sinh kế, thiết chế và tín ngưỡng văn hóa, các giá trị được gọi là bản sắc văn hóa,…

Một số nghiên cứu khác như Nguyễn Văn Mạnh – Nghiên cứu biến đổi văn hóa truyền

thống của các dân tộc thiểu số Quảng Bình-Các giải pháp bảo tồn và phát huy (2009),

Phạm Thị Thu Hà – Văn hóa tộc người với đảm bảo sinh kế - Nghiên cứu ở một số dân tộc

thiểu số tại 3 tỉnh Lạng Sơn, Nghệ An, An Giang - (2012); Nguyễn Thu Trang – Đôi nét văn hóa truyền thống người Thái ở Thanh Hóa – (2012), Nguyễn Thế Anh – Vấn đề sinh

kế và phát triển văn hóa của người Mường ở Cẩm Lương (2016),… các nghiên cứu đã

phân tích vai trò, sự ảnh hưởng, tác động qua lại giữa sinh kế và văn hóa, môi trường tự nhiên quy định phương thức mưu sinh của con người rồi từ đó hình thành nên những đặc trưng văn hóa tộc người, sau đó văn hóa lại tác động trở lại sinh kế trong quá trình sáng tạo, học hỏi thông qua các tri thức bản địa thế nhưng khi môi trường thay đổi, sinh kế thay đổi thì điều tất yếu cũng sẽ dẫn đến sự biến đổi về văn hóa Do đó, các nghiên cứu sinh kế gắn với văn hóa tộc người nhằm chỉ ra vai trò hay vị trí của sinh kế đối với văn hóa đời sống và ngược lại Theo đó, sinh kế còn được xếp là một thành tố của văn hóa sản xuất

Võ Tòng Xuân và các cộng sự dành mối quan tâm đến sinh kế trong mối quan hệ với

vấn đề đất đai trong nghiên cứu Phát triển nông thôn bền vững: Chính sách đất đai và

sinh kế (2008) Nguyễn Đăng Hiệp Phố sử dụng cách Tiếp cận lý thuyết về Khung sinh kế

Trang 20

bền vững của DFID trong nghiên cứu sinh kế của người Mạ ở vườn quốc gia Cát Tiên

(2016), bằng việc xem xét các loại tài sản của người Mạ và đặt vấn đề nghiên cứu sinh kế của người Mạ trong bối cảnh và các thể chế, chính sách có ảnh hưởng đến sự tiếp cận và

sử dụng các tài sản sinh kế mà cuối cùng ảnh hưởng đến kết quả sinh kế66 Hiện nay, nghiên cứu sinh kế thường gắn với các vấn đề đa dạng và phức tạp của phát triển, trở thành chủ đề được nhiều nhà nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực quan tâm, có thể kế đến một số chủ đề phổ biến sau:

Sinh kế - giới và bình đẳng giới: là những nghiên cứu gắn sinh kế với vấn đề giới và

bình đẳng giới Hoàng Bá Thịnh nghiên cứu Giới và tác động sinh kế ở vùng nông thôn

(2012) đã phân tích những tác động tới sinh kế của người dân không liên quan trực tiếp tới sản xuất nông nghiệp như điều kiện nhà ở, cơ hội tiếp cận nguồn nước an toàn vệ sinh, tiếp cận nguồn nhiên liệu,… trong đó tác giả đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của giới trong các tác động tới hoạt động sinh kế ở khu vực nông thôn, những vai trò khác nhau giữa các giới trong việc tiếp cận, sử dụng các nguồn lực sinh kế của các hộ nông dân Ngoài ra, còn

có một số nghiên cứu khác như của Lê Trần Quyên (2008) -Người phụ nữ nông thôn ở

thành phố; Võ Cẩm Ly (2016) Từ nghiên cứu về sinh kế và những vấn đề đặt ra đối với nghiên cứu sinh kế của phụ nữ làm mẹ đơn thân ở Việt Nam,… Hầu hết, các nghiên cứu

chủ đề này đều đi sâu mô tả, phân tích vai trò của sinh kế đối với cuộc sống của các nhóm phụ nữ khác nhau, trong đó dành nhiều quan tâm đến sinh kế của những nhóm phụ nữ có hoàn cảnh đặc biệt như mẹ đơn thân, góa phụ, phụ nữ nghèo nông thôn,… Bởi vìhọ vốn được xem là một trong những đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương bởi các yếu tố biến đổi

Sinh kế - đói nghèo và di cư: Nguyễn Thị Phương Lan nghiên cứu“Bất ổn sinh kế

và di cư lao động của người Khơ-me ở đồng bằng sông Cửu Long” (2013), tác giả khái

quát các chính sách kinh tế và hệ thống sinh kế của người Khơ-me vùng đồng bằng sông Cửu Long đồng thời tìm hiểu tình hình di cư lao động nông thôn-đô thị hiện nay của cộng

đồng này Ngoài ra còn có Đoàn Việt – Đi làm ăn xa của người Chăm ở miền Trung và

miền Tây Nam Bộ (2010), , Lê Bạch Dương và Nguyễn Thanh Liêm – Từ nông thôn ra thành phố-Tác động kinh tế-xã hội của di cư ở Việt Nam (2011), Trần Tiến Khai và

Nguyễn Ngọc Danh – Quan hệ giữa sinh kế và tình trạng nghèo ở nông thôn Việt Nam (2012), , Đào Thanh Thái – Biến đổi sinh kế của người Dao di cư tự do tại huyện M’Gar,

tỉnh Đăk Lăk (2016), … Các nghiên cứu này đã gắn sinh kế với các vấn đề đói nghèo và di

Trang 21

cư, theo đó các nghiên cứu đều chỉ ra mối liên hệ giữa nghèo đói – sinh kế và di cư, bất ổn trong sinh kế khiến cho tình trạng nghèo đói kéo dài và di cư được xem như là một trong những giải pháp để cải thiện sinh kế

Gần đây, các nghiên cứu sinh kế tập trung nhiều vào sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế

của các cộng đồng Nghiên cứu của Ngô Phương Lan “Từ lúa sang tôm: hành vi giảm

thiểu rủi ro và khai thác vốn xã hội của nông dân ở vùng đồng bằng sông Cửu Long”

(2014) tác giả nghiên cứu về sự chuyển dịch kinh tế từ trồng lúa sang nuôi tôm ở vùng đồng bằng sông Cửu Long đã phân tích động cơ, mục tiêu của người dân, trong đó nhấn mạnh đến vai trò của vốn xã hội trong việc lựa chọn sinh kế Các nghiên cứu về sinh kế

của người dân ven đô Hà Nội trong quá trình đô thị hóa của Nguyễn Văn Sửu trong Công

nghiệp hóa, đô thị hóa và biến đổi sinh kế ở ven đô Hà Nội (2014), tác giả đã tiếp cận sinh

kế và biến đổi sinh kế trong không gian làng, tìm hiểu quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa ở ven đô Hà Nội, nêu thực trạng biến đổi sinh kế ở hai làng Gia Minh và Phú Điền đồng thời phân tích những cơ hội và thách thức đối với sinh kế ở ven đô Hà Nội trong quá

trình chuyển đổi Cùng đề tài này còn có các tác giả Bùi Văn Tuấn – Thực trạng và giải

pháp đảm bảo sinh kế bền vững cho cộng đồng dân cư ven đô Hà Nội trong quá trình đô thị hóa (2015), Huỳnh Văn Chương và Ngô Hữu Hoạnh - Ảnh hưởng của việc chuyển đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp đến sinh kế người nông dân bị thu hồi đất tại thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam (2010), Nguyễn Thị Thuận An – Đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng tới sinh kế của người dân tại dự án xây dựng khu đô thị mới quận Hải An, thành phố Hải Phòng (2012), Nguyễn Thị Diễn, Vũ Đình Tôn và

Philippe Lebailly - Ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp cho công nghiệp hóa đến

sinh kế của các hộ nông dân ở tỉnh Hưng Yên (2011),…Có thể thấy hầu như các nghiên

cứu đều có điểm chung là đề cập đến một trong những hệ quả của đô thị hóa là việc quy hoạch thu hồi đất sản xuất để xây dựng các khu công nghiệp, chế xuất, khu đô thị mới, các công trình phục vụ quá trình hiện đại hóa hoặc chuyển đổi từ đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp, điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống kinh tế - xã hội của cư dân thuộc diện quy hoạch Vì thế nhiều tác giả đã quan tâm nghiên cứu về cuộc sống của người dân sau thu hồi đất phục vụ đô thị hóa ở nhiều khu vực khác nhau trên cả nước

1.1.2 Tình hình nghiên cứu về sinh kế ven biển ở Việt Nam

Trang 22

Các nghiên cứu gần với chủ đề của luận văn thường đề cấp đến vấn đề sinh kế ven biển, trong đó chủ yếu gắn sinh kế với những tổn thương và rủi ro do biến đổi khí hậu gây

ra Có thể đến một số nghiên cứu như: Nguyễn Xuân Mai và Nguyễn Duy Thắng (2011)

đã nghiên cứu về “Thực trạng sinh kế của các cộng đồng ngư dân ven biển miền trung

Việt Nam”, trong đó các tác giả nhấn mạnh đến những rủi ro của hoạt động nuôi trồng và

đánh bắt thủy sản, đồng thời đưa ra những định hướng giải pháp về sinh kế bền vững cho

cộng đồng này Trần Thọ Đạt và Nguyễn Thị Hoài Thu với nghiên cứu Biến đổi khí hậu

và sinh kế ven biển (2012) đã tổng quan các nội dung về biến đổi khí hậu, tác động của

biến đổi khí hậu lên vùng ven biển, khả năng bị tổn thương của sinh kế ven biển trước tác động của biến đổi khí hậu, năng lực thích ứng của sinh kế ven biển trước tác động của biến đổi khí hậu, và hỗ trợ sinh kế để thích ứng với biến đổi khí hậu23 Ngoài ra còn có

một số nghiên cứu khác như Võ Hồng Tú và các cộng sự - Tính tổn thương sinh kế nông

hộ bị ảnh hưởng lũ tại tỉnh An Giang và các giải pháp ứng phó (2012), Lương Ngọc Thúy

và Phan Đức Nam –Tác động của biến đổi khí hậu đến hoạt động sản xuất nông nghiệp và

di cư của người nông dân (2015), Nguyễn Ngọc Quý – Nghiên cứu cải thiện sinh kế của cộng đồng ngư dân ven biển ở Diễn Châu, Nghệ An trong bối cảnh biến đổi khí hậu

(2015),…, cùng địa bàn nghiên cứu gần đây nhất có tác giả Phan Như Đại – Biện pháp

hỗ trợ cộng đồng thay đổi sinh kế ứng phó với biến đổi khí hậu (Nghiên cứu tại xã Đa Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa (2014), đây là luận văn thạc sĩ ngành công tác xã

hội nghiên cứu về thực trạng và các giải pháp giúp người dân chuyển đổi sinh kế để thích ứng với biến đổi khí hậu Có thể thấy, các nghiên cứu về biến đổi sinh kế vùng ven biển đã tập trung khảo sát và đánh giá mức độ tổn thương do biến đổi khí hậu đối với các hoạt động sinh kế của người dân ở những vùng chịu nhiều ảnh hưởng do biến đổi khí hậu gây ra như các vùng ven biển, hải đảo,… đồng thời các nghiên cứu cũng đã cố gắng phân tích để tìm ra những giải pháp phù hợp nhằm giúp các cộng đồng dễ bị tổn thương thích ứng và chống chịu với rủi ro, một trong những biện pháp đó là biến đổi sinh kế để thích ứng với biến đổi khí hậu.Các tài liệu liên quan đến vấn đề sinh kế vùng ven biển khá nhiều, tuy nhiên chỉ chủ yếu tập trung vào chuyển đổi sinh kế để ứng phó với biến đổi khí hậu, đối tượng nghiên cứu cũng là các cộng đồng ngư dân là chính mà chưa có nghiên cứu nào một cách cụ thể và hệ thống về sinh kế của các cộng đồng cư dân ven biển không phải

là ngư dân Do vậy, nghiên cứu này sẽ tập trung vào sinh kế và biến đổi sinh kế của những

Trang 23

người dân sống ven biển Hậu Lộc nhưng nghề đi biển với họ lại không mấy chuyên nghiệp

Tài liệu về sinh kế ven biển còn được tìm thấy qua báo cáo của các dự án chủ yếu là được tài trợ bởi các tổ chức phi chính phủ hoặc liên kết giữa một số cơ quan nhà nước với các tổ chức phát triển như Ngân hàng thế giới (World Bank), Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP), Cơ quan hợp tác phát triển quốc tế Canada(CIDA), Chương trình môi trường Liên Hợp Quốc(UNEP), Bộ phát triển quốc tế Anh (DFID), CARE,… Các dự án chủ yếu tập trung vào một số vấn đề như bảo vệ môi trường, bảo tồn các nguồn tài nguyên, các chiến lược sinh kế nhằm cải thiện đời sống và tăng khả năng thích ứng chống chịu rủi ro, tăng cường sự tham gia đóng góp sáng kiến của cộng đồng cho các vấn đề của

dự án,… vì thế nhiều dự án đã tác động rất lớn đối với nhận thức và hành động của cộng đồng tại địa điểm đó Sinh kế còn được quan tâm ở một số ngành, lĩnh vực khác như ở các ngành Khí tượng, Thủy Văn, Nông – Lâm – Ngư nghiệp, Tài nguyên môi trường, quản lý kinh tế,… với những công trình nghiên cứu phục vụ công tác chuyên ngành riêg mà ta có thể tìm thấy trên nhiều sách, báo, tạp chí chuyên ngành, luận văn, luận án hoặc các báo điện tử,…

Ngoài ra, để có cái nhìn khái quát về đặc điểm kinh tế - xã hội của cư dân vùng ven biển tôi đã tham khảo thêm một số tài liệu nghiên cứu về cộng đồng cư dân ven biển

Có thể kể đến một số nghiên cứu tiêu biểu như nhưNgô Đức Thịnh (chủ biên) - Văn

hoá dân gian làng ven biển (Văn hoá Dân tộc, 2000), Nguyễn Duy Thiệu - Cộng đồng ngư dân ở Việt Nam (2002); Các nghiên cứu này chủ yếu nêu lên lịch sử của mối

quan hệ giữa biển và con người, đặc điểm vùng biển và ven biển Việt Nam, nhìn nhận vai trò của biển đối với văn hóa và đời sống của nhiều cộng đồng cư dân sinh sống và gắn bó với biển Riêng về vùng biển Thanh Hóa có một số tài liệu khá tiêu biểu được

viết dưới dạng chuyên khảo và bài đăng tạp chí như của Lê Văn Tạo (2012) – Về di sản

văn hóa ở làng cổ ven biển xứ Thanh, bài viết đã giới thiệu khái quát về lịch sử hình

thành, các đặc điểm văn hóa – xã hội, kinh tế của 7 làng “ngư nghiệp cổ truyền” ven biển Thanh Hóa (Nga Bạch, Hoàng Trường, Quảng Tiến, Ngư Lộc, Quảng Nham, Biện

Sơn và Hải Thanh) Loạt bài nghiên cứu của tác giả Hoàng Tuấn Phổ - Những làng cổ

tiêu biểu xứ Thanh (2010) trong đó có phần viết riêng về Địa danh một số làng biển Thanh Hóa như làng Diêm Phố – Hậu Lộc, làng Triều Dương – Sầm Sơn, làng Bạch

Trang 24

Câu – Nga Sơn,… giới thiệu khái quát về lịch sử hình thành, ý nghĩa tên gọi và một số đặc điểm địa lý, nhân văn của các làng này

Từ lịch sử nghiên cứu trên có thể thấy, sinh kế và biến đổi sinh kế là đề tài khá rộng với nhiều vấn đề phức tạp và đa dạng, cũng là một trong những chủ đề đang được quan tâm nhiều hiện nay bởi tính cấp thiết của nó Riêng về vấn đề sinh kế ven biển, hầu hết đều được các nghiên cứu tập trung vào quá trình biến đổi sinh kế để ứng phó với biến đổi khí hậu của các cộng đồng ngư dân ven biển có sinh kế chủ đạo là khai thác, đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, nhưng không phải cộng đồng sống ven biển nào cũng đều chỉ có nguồn sinh kế từ đánh bắt và nuôi trồng, mà còn có những cộng đồng tuy sống ven biển nhưng sinh kế chủ đạo lại từ những lĩnh vực khác, có thể là những làng thuần nông, bán nông bán ngư hoặc bán nông bán thương Và nghiên cứu này sẽ nghiên cứu một trong số những cộng đồng đó – địa bàn là một xã có đường bờ biển dài nhất của một huyện ven biển nhưng lại chỉ có 10% dân số làm các nghề gắn với biển còn lại sinh kế đều là những hoạt động khác, vậy thì trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và những hệ quả của

nó đã khiến các hoạt động sinh kế của cộng đồng này biến đổi như thế nào chính là mục tiêu nghiên cứu chính của tác giả

1.2 Cơ sở lý thuyết

1.2.1 Một số khái niệm cơ bản

- Biến đổi và biến đổi xã hội:

Cũng giống như tự nhiên, mọi xã hội không ngừng biến đổi Sự ổn định của xã hội chỉ là sự ổn định của bề ngoài, còn thực tế nó không ngừng thay đổi bên trong bản thân

nó Bất cứ xã hội nào và bất cứ nền văn hóa nào, cho dù nó có bảo thủ và cổ truyền đến đâu chăng nữa cũng luôn biến đổi; sự biến đổi trong xã hội hiện đại ngày càng rõ hơn, nhanh hơn, và điều này cho thấy rõ hơn là sự biến đổi đó không còn là điều mới mẻ, nó đã trở thành chuyện thường ngày Có nhiều cách quan niệm về sự biến đổi xã hội như:

Theo các tác giả của cuốn “Từ điển Tiếng Việt thông dụng” thì biến đổi nếu ở thể động từ có nghĩa là“thay đổi hoặc làm cho thay đổi thành khác trước”102, ở thể danh từ

là chỉ “sự thay đổi hay điều thay đổi khác với trước” Dưới góc độ xã hội học, sự biến đổi thường được quan niệm là biến đổi xã hội, “là một quá trình qua đó những khuôn mẫu

của các hành vi, các quan hệ, các thiết xã hội và các hệ thống phân tầng được thay đổi

Trang 25

qua thời gian”17 có hai loại hình biến đổi xã hội chủ yếu là i) Biến đổi vĩ mô, diễn ra

trên một phạm vi rộng lớn, diễn ra trong một thời gian dài và ii) biến đổi vi mô, liên quan đến những biến đổi nhỏ, diễn ra nhanh hơn Ngoài ra, trong Từ điển xã hội học Nguyễn

Khắc Viện dùng khái niệm “thay đổi xã hội” Theo đó, thay đổi xã hội “chỉ trạng thái vận

động xã hội khác nhau: tiến bộ hoặc thoái bộ, tiến hóa hoặc cách mạng, bộ phận hoặc toàn bộ, v.v ”97Với cách tiếp cận này thay đổi xã hội ở tầm vĩ mô, khi xã hội có sự vận

động trong tồn tại xã hội, ý thức xã hội hoặc kết hợp cả hai… Như vậy, biến đổi xã hội là một khái niệm mang tính chất là một phạm trù triết học nhằm để chỉ sự vận động từ một giai đoạn xã hội (hình thái kinh tế-xã hội) này sang một giai đoạn khác Biến đổi xã hội dưới góc nhìn xã hội học bao gồm rất nhiều phương diện Biến đổi xã hội không chỉ thể hiện trên phương diện cấu trúc chính trị và cơ cấu xã hội rộng lớn mà còn thể hiện trong

chuẩn mực, giá trị, khuôn mẫu hành vi, các mối quan hệ

Trong luận văn này, biến đổi được hiểu là quá trình thay đổi tất yếu của mọi sự vật, hiện tượng từ những biến đổi ngắn hạn đến những biến đổi dài hạn, những biến đổi quy

mô lớn đến quy mô nhỏ, từ cấp độ toàn cầu tới cấp độ gia đình Sự biến đổi sẽ dẫn đến một trạng thái khác trước, có thể cao hơn, thấp hơn hoặc tốt hơn, xấu hơn77 Khi xem xét sự biến đổi, luận văn sẽ chỉ tập trung vào những biến đổi sinh kế của người dân địa phương, mà trọng tâm là sự biến đổi của các nguồn lực nhằm đảm bảo sinh kế

- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trọng tâm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước Từ một nước nông nghiệp với 80% dân cư sống ở nông thôn, lao động nông nghiệp chiếm trên 70% lao động xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là chủ trương tất yếu để thoát khỏi tình trạng nghèo đói, lạc hậu Theo quan điểm của Đảng và Nhà nước, công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là quá trình xây dựng cơ sở vật chất, kĩ thuật và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn theo định hướng sản xuất hàng hóa lớn, hiện đại, gắn nông nghiệp với công nghiệp và dịch vụ, cho phép phát huy có hiệu quả cao mọi nguồn lực và lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới, mở rộng giao lưu trong nước và quốc tế nhằm nâng cao năng suất lao động xã hội trong nông nghiệp và nông thôn, xây dựng nông thôn mới giàu có, công bằng, dân chủ, văn minh và xã hội chủ nghĩa Thực chất của công nghiệp

Trang 26

hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn là quá trình phát triển nông thôn theo hướng tiến bộ kinh tế - xã hội của một nước công nghiệp Điều đó có nghĩa là không chỉ phát triển công nghiệp nông thôn mà bao gồm cả việc phát triển toàn bộ các hoạt động, các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ và đời sống văn hóa, tinh thần ở nông thôn phù hợp với nền sản xuất công nghiệp ở nông thôn và cả nước nói chung

Luận văn này sẽ xem xét các vấn đề biến đổi sinh kế của người dân làng Đông Thành dưới những tác động của chương trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn một cách toàn diện, ngoài việc tập trung vào những biến đổi của sinh kế thì những biến đổi về xã hội và đời sống văn hóa dưới tác động của chuyển đổi kinh tế cũng

sẽ được nghiên cứu, làm rõ

- Sinh kế, sinh kế bền vững

Sinh kế là một khái niệm được hiểu và sử dụng theo nhiều cách ở nhiều cấp độ khác

nhau Robert Champers định nghĩa “Sinh kế gồm năng lực, tài sản, cách tiếp cận (sự dự trữ,

tài nguyên, quyền sở hữu, quyền sử dụng) và các hoạt động cần thiết cho cuộc sống” (Dẫn

lại của Nguyễn Đăng Hiệp Phố trên Tạp chí Khoa học – Đại học Đồng Nai, số 2/2016 [65])

Một định nghĩa đầy đủ hơn của Chambers và Conway về sinh kế là: “sinh kế bao gồm khả

năng, nguồn lực và các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống của con người” Scoones

(1998) thì định nghĩa sinh kế “bao gồm khả năng, nguồn lực (bao gồm các nguồn lực vật

chất và nguồn lực xã hội) và các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống của con người”

(dẫn theo Trần Thọ Đạt và Nguyễn Thị Hoài Thu, 2012 23) Trung tâm Phát triển nông thôn miền Trung Việt Nam – CRD khi triển khai các chương trình cộng đồng giải thích

“Sinh kế là tập hợp tất cả các nguồn lực và khả năng con người có được kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm để kiếm sống cũng như để đạt được các mục tiêu và ước nguyện” (dẫn theo Nguyễn Đăng Hiệp Phố, 2016 65) Năm 1999, Cơ quan

Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID) đưa ra khái niệm về sinh kế để hướng dẫn cho

các hoạt động hỗ trợ của mình, theo đó, sinh kế “bao gồm khả năng, nguồn lực cùng các

hoạt động cần thiết làm phương tiện sống cho con người”74 Ở Việt Nam, khi nghiên cứu

về sinh kế nhiều nhà nghiên cứu còn sử dụng các khái niệm tương đồng như “hoạt động mưu sinh”; “phương cách kiếm sống”, “hoạt động kinh tế” hay “tập quán mưu sinh”,…Trong nghiên cứu này, khái niệm sinh kế được dùng với ý nghĩa sinh kế tộc người

Trang 27

tức là những phương thức kiếm sống của một cộng đồng hay một tộc người cụ thể, đó là sinh kế từ truyền thống đến hiện tại của cộng đồng cư dân ven biển Đa Lộc - Hậu Lộc Khái niệm sinh kế bền vững (Sustainable livelihood) về cơ bản được dựa trên nền tảng của khái niệm phát triển bền vững Một sinh kế được coi là bền vững khi nó có thể giải quyết được hoặc có khả năng phục hồi từ những căng thẳng; duy trì và tăng cường khả năng và nguồn lực hiện tại để duy trì và đạt được một mức phúc lợi kinh tế cơ bản dù mức phúc lợi kinh tế này có thể khác nhau giữa các khu vực mà không làm tổn hại đến cơ

sở tài nguyên thiên nhiên, đồng thời nó được hỗ trợ một cách liên tục và ổn định theo thời gian bởi các thể chế hiện hành Theo đó tính bền vững của sinh kế được đánh giá trên bốn phương diện: bền vững về kinh tế, bền vững xã hội, bền vững môi trường và bền vững về thể chế23 Khi nghiên cứu những biến đổi sinh kế của người dân làng Đông Thành – xã

Đa Lộc, tác giả cũng sẽ dựa vào các tiêu chí trên để đánh giá tính bền vững của các hoạt động sinh kế

- Nông thôn mới

Đây là một khái niệm mới xuất phát từ chủ trương Xây dựng nông thôn thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của Đảng và nhà nước Từ Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (2008), Đảng đã xác định:“Xây dựng nông thôn mới ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công bằng, văn minh, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển ngày càng hiện đại” Tiếp đến là một loạt các nghị quyết cụ thể như Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5 tháng 8 năm 2008 của

Ban chấp hành TW Đảng khóa X về “Nông nghiệp - Nông dân - Nông thôn”; Nghị quyết 24/2008/NQ-CP về chương trình hành động của Chính phủ theo đó xây dựng NTM trở

thành một trong những chương trình mục tiêu quốc gia đến năm 2020; Quyết định

491/QĐ-TTg ngày 16/9/2009 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia

Nông thôn mới [Xem Phụ Lục]; Quyết định 800/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Phê

duyệt “Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới giai đoạn 2010 –

2020”, Từ các chủ trương ban đầu của Đảng và Nhà nước thông qua các Nghị quyết,

cùng với hướng dẫn cụ thể của các tài liệu đào tào, bồi dưỡng cán bộ về xây dựng NTM, thì NTM được hiểu là: Là nông thôn mà trong đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị.Nông thôn mới có kinh tế phát triển toàn diện, bền vững, cơ sở hạ tầng được xây dựng

Trang 28

đồng bộ, hiện đại, phát triển theo quy hoạch, gắn kết hợp lý giữa nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và đô thị Nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ Sức mạnh của hệ thống chính trị được nâng cao, đảm bảo giữ vững

an ninh chính trị và trật tự xã hội.Nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới [106] Hay nói tóm lại thì NTM là nông thôn có sự phát triển toàn diện và bền vững trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - văn hóa – xã hội và giải quyết tối đa vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân dựa trên những chủ trương, chính sách của Nhà nước Khái niệm NTM cũng chính là mục tiêu và đặc trưng của chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM

Luận văn này cũng sẽ tìm hiểu sự biến đổi sinh kế của người nông dân trong bối cảnh của quá trình xây dựng NTM đang diễn ra tại địa phương, như là một trong những yếu tố mới của quá trình công nghiệp hóa, hiện hóa nông nghiệp nông thôn

1.2.2 Lý thuyết khung sinh kế bền vững

Lý thuyết khung sinh kế bền vững được bắt nguồn từ những nghiên cứu trong lĩnh vực xóa đói giảm nghèo ở các nước, các vùng kém phát triển Có nhiều khung sinh kế bền vững được xây dựng và áp dụng qua các nghiên cứu hoặc dự án, Scoones là người đầu tiên xây dựng khung phân tích sinh kế với Khung sinh kế nông thôn bền vững (Sustainable Rural Livelihoods Framework) năm 1998, mối quan tâm chính trong khung phân tích này là các qui trình thể chế và chính sách - được coi là nhân tố trung gian giúp thực hiện những chiến lược sinh kế này và đạt được các kết quả sinh kế mong muốn Về sau xuất hiện thêm một số khung sinh kế được xây dựng thêm trong quá trình nghiên cứu như của DFID; FAO, WB, UNDP, Oxfarm Anh,…Nhưng về cơ bản các khung sinh kế bền vững đều phân tích sự tác động qua lại của 5 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế hộ gia đình là: nguồnlực sinh kế; chiến lược sinh kế; kết quả sinh kế; các qui trình về thể chế và chính sách, và bối cảnh bên ngoài (DFID, 2001)23

Qua phân tích nhiều mô hình sinh kế, các nhà nghiên cứu đưa ra thảo luận nhằm tìm

ra một khung sinh kế bền vững thống nhất Theo đó, khung sinh kế bền vững (Sustainable Livelihoods Framework) của Bộ Phát triển Quốc tế Anh (DFID) công bố năm 1999 đã được các nhà nghiên cứu trong tổ chức này mở rộng, phát triển và dần phổ biến rộng rãi

trong giới nhân học 74 Nội dung chủ đạo của khung sinh kế bền vững là “lấy con người

Trang 29

và sinh kế của họ làm trung tâm để phân tích, nghĩa là đặt con người ở trung tâm của sự phát triển”74 Khung sinh kế này đã đề cập đến các thành tố hợp thành sinh kế của con

người, từ các ưu tiên và chiến lược họ lựa chọn để thực hiện các ưu tiên của mình; các chính sách ảnh hưởng đến cách tiếp cận của họ, khả năng sử dụng các loại vốn và môi trường sống quanh họ Con người được xem là trọng tâm của một mô hình sinh kế với các tài sản gắn với sinh kế đó vì thế khi phân tích một sinh kế của cộng đồng hay hộ gia đình cần xem xét các khả năng về tài sản của họ34 do vậy trong phân tích khung sinh kế bền vững, các nhà nghiên cứu đã tập trung phân tích các loại tài sản hay còn gọi là vốn, trong

đó chủ yếu là năm loại vốn gồm có vốn vật chất, vốn tài chính, vốn xã hội, vốn con người,

và vốn tự nhiên

- Vốn vật chất bao gồm cơ sở hạ tầng, kĩ thuật và các loại hàng hóa được sử dụng để hậu thuẫn sinh kế, cụ thể hơn đó là các loại máy móc và công cụ được sử dụng cho các hoạt động sản xuất Đây là loại vốn dễ bị tổn thương nhất của người nghèo ở vùng nông thôn bởi các tác động bên ngoài như thiên tai, bão lũ,…

- Vốn tài chính là các nguồn lực tài chính, cụ thể như các khoản tiết kiệm, tín dụng, vay nợ và các tài sản khác có khả năng lưu thông và kể cả khả năng tiếp cận với các nguồn vốn tài chính

- Vốn xã hội là các nguồn lực xã hội mà con người sử dụng để theo đuổi các mục tiêu sinh kế, bao gồm các quan hệ, mạng lưới xã hội, thành viên nhóm, niềm tin, sự phụ thuộc lẫn nhau,… Vốn xã hội và các thành phần của nó là nền tảng của một xã hội dân sự năng động và hiệu quả

- Vốn con người là khả năng của mỗi cá nhân bao gồm học vấn, kỹ năng, khả năng lãnh đạo, sự sáng tạo, sức khỏe,… và thường là tài sản có giá trị nhất của mỗi cá nhân Nếu ở cấp độ hộ gia đình thì vốn con người là số lượng nhân khẩu và chất lượng lao động của từng hộ

- Vốn tự nhiên là nền tảng các nguồn lực tự nhiên của cộng đồng/hộ như đất đai, rừng, nước, khí hậu, khoáng sản,… Vốn tự nhiên cung cấp các tài sản mà con người có thể

sử dụng theo mục đích riêng trong quá trình tạo lập sinh kế

Vận dụng lý thuyết khung sinh kế bền vững trong nghiên cứu này, tôi muốn tìm hiểu

và lý giải những biến đổi sinh kế của người dân vùng bãi ngang ven biển xã Đa Lộc – Hậu

Trang 30

Lộc dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Cụ thể hơn, việc phân tích khung sinh kế bền vững sẽ giúp trả lời các câu hỏi: nguồn lực sinh kế nào, chiến lược sinh

kế nào và thể chế - chính sách nào là quan trọng để đạt được sinh kế bền vững cho các nhóm cư dân khác nhau tại địa bàn này

1.2.3 Thuyết sinh thái học văn hóa

Lý thuyết về sinh tháivăn hóa (Cultural ecology) ra đời vào khoảng những năm 40 của thế kỷ XX Người đặt nền móng cho Sinh thái học văn hóa (Cultural ecology) là J.H

Stewward, một nhà nghiên cứu văn hóa người Mỹ Năm 1938, tác phẩm Các nhóm chính

trị xã hội thổ dân vùng thung lũng-cao nguyên (Basin-Plateau Aboriginal Sociopolitical

Groups) của ông được xuất bản thể hiện khá đầy đủ lý thuyết về sinh thái học văn hóa và đánh dấu bước chuyển biến mới của nền nhân học Mỹ Sau đó, lý thuyết này tiếp tục được các nhà nhân họcnhư Roy Rappaport, Marvin Harris, Emily A Schultz, Andrew Vayda,… tiếp tục phát triển và hoàn thiện.Thuyết sinh thái học văn hóa được coi như một mô hình

lý thuyết để tìm hiểu mối quan hệ qua lại giữa con người và môi trường tự nhiên bao quanh, cũng như tìm hiểu về văn hóa với tư cách là sản phẩm của mối quan hệ đó Phương pháp của sinh thái học văn hóa hướng đến việc làm rõ mối quan hệ giữa văn hóa và môi trường từ quan điểm coi con người là thể tồn tại thích ứng với môi trường thông qua văn hóa, đến lượt mình, văn hóa chịu ảnh tác động lớn của các loại tài nguyên môi trường do con người sử dụng Trong công trình của mình, J Steward nêu ra ba bước đối với nghiên cứu sinh thái học văn hóa: (1) Chứng minh được các kỹ thuật và phương pháp được dùng

để khai thác môi trường và sống trong môi trường đó; (2) Xem xét những mô thức ứng xử văn hóa của con người liên quan đến việc sử dụng môi trường; (3) Đánh giá sức tác động của những mô thức kể trên đối với các bình diện khác của văn hóa [70]

Theo thuyết sinh thái học văn hóa, các đặc trưng văn hóa được hiểu như một tập hợp những nét khu biệt cho một lối sống do kết quả thích nghi với môi trường xung quanh và

là hạt nhân của văn hóa - cái gắn liền với các hoạt động tạo ra các phương thức tồn tại, các thiết chế xã hội như gia đình, kinh tế, chính trị, tôn giáo, v.v… Theo quan niệm này thì phương thức tồn tại hay sinh kế là một phần của văn hóa và hoạt động sinh kế sẽ phản ánh văn hóa Như vậy, khi môi trường ảnh hưởng đến văn hóa cũng có nghĩa ảnh hưởng đến sinh kế Do đó, nghiên cứu biến đổi sinh kế của người dân ven biển Hậu Lộc trong bối

Trang 31

cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa sẽ được xem xét trong tương quan giữa môi trường tự nhiên – văn hóa cả trong truyền thống và hiện đại

1.2.4 Giả thuyết nghiên cứu:

Thứ nhất, các hoạt động sinh kế của người chịu ảnh hưởng nhiều từ các yếu tố môi trường sinh thái Là đồng bằng ven biển, hầu như các yếu tố tự nhiên như đất đai, khí hậu, nguồn ngước, sinh vật, đều chịu tác động mạnh mẽ và trực tiếp từ biển Biển quy định các đặc trưng cơ bản về văn hóa của cư dân địa phương, trong đó có các đặc trưng sinh kế

Và ngược lại trong quá trình sinh tồn và phát triển con người cũng đã tác động rất nhiều

đến môi trường sinh thái, bao gồm cả những tác động tích cực và tiêu cực

Thứ hai, dưới tác động mạnh mẽ của công nghiệp hóa, hiện đại hóa các hoạt động sinh kế của người dân ven biển thuộc xã Đa Lộc, cụ thể là làng Đông Thành đã có nhiều thay đổi như là một xu hướng phát triển chung của xã hội, các biến đổi xảy ra theo hai hướng : một là sự thay đổi của chính những sinh kế truyền thống có thể là biết mất hoặc là phát triển theo những cách khác nhau; hai là sự xuất hiện thêm các sinh kế mới được xem

là phù hợp với điều kiện hiện tại

Thứ ba, những biến đổi về sinh kế đã mang đến nhiều cơ hội cho người dân, đặc biệt

là các cơ hội việc làm, thu nhập và chất lượng cuộc sống nhưng đồng thời cũng gây ra những rủi ro, thách thức cho chính họ và cộng đồng, đó là những thách thức về văn hóa,

xã hội, về nguồn lực sinh kế, rủi ro về môi trường, hệ sinh thái và các tổn thương nặng nề hơn đối với sinh kế,…

1.3 Khái quát về huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa

Thanh Hoá là một tỉnh ở cực Bắc của miền Trung Việt Nam, vùng ven biển Thanh Hóa có diện tích 110.655 ha, chiếm 9,95% diện tích toàn tỉnh, với bờ biển dài 102 km gồm các huyện Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoàng Hóa, Quảng Xương, Tĩnh Gia, thị xã Sầm Sơn và một số đảo như hòn Nẹ, đảo hòn Mê, cụm đảo Nghi Sơn và hàng loạt đảo nhỏ như: hòn Đót, hòn Miệng, hòn Vạt, hòn Góc, v.v (Hình 1, xem Phụ Lục )

1.3.1 Đặc điểm tự nhiên:

Hậu Lộc là một huyện đồng bằng ven biển, nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Thanh Hóa Cách Hà Nội 140km về phía Bắc và cách thành phố Thanh Hóa 25km Về địa giới hành chính, phía Bắc của Hậu Lộc giáp huyện Hà Trung và huyện Nga Sơn, phía Nam và phía Tây giáp huyện Hoằng Hóa, phía Đông giáp Biển Đông Hậu Lộc có diện tích tự

Trang 32

nhiên là 143,67km2 Hậu Lộc nằm trên trục đường chính của giao thông Bắc – Nam với 6km đường quốc lộ 1A và đường sắt từ ga Lèn tới ga Nghĩa Trang, đây cũng là một trong những điều kiện tốt để Hậu Lộc mở mang và giao lưu với các vùng để phát triển kinh tế - văn hóa xã hội (Hình 2, xem Phụ Lục)

Vùng đồng gồm 19 xã, đồng Hậu Lộc gồm hai loại: Đồng cấy 2 vụ lúa (gọi là đồng chiêm), đồng cấy 2 vụ lúa – 1 vụ màu (gọi là đồng màu) Đồng chiêm gồm 17 xã vùng giữa và vùng phía Tây Cá biệt một số nơi như Cầu Thôn (Cầu Lộc), Phú Vinh (Tuy Lộc) thấp hơn mặt nước biển 0,4m Vùng trũng trước kia chỉ trồng được một vụ lúa chiêm nay trồng được 2 vụ lúa, một số nơi trồng thêm được một vụ màu Đồng màu gồm 9 xã phía Đông (thường gọi là vùng Đông – Tây kênh De) là: Liên Lộc, Quang Lộc, Hoa Lộc, Phú Lộc, Hòa Loocjm Hải Lộc, Đa Lộc, Minh Lộc, Hưng Lộc Vùng này phát triển mạnh 2 vụ lúa – 1 vụ màu với các loại cây công nghiệp ngắn ngày, rau quả,…

Hậu Lộc có 12km bờ biển, từ cửa Lạch Sung ở phía Bắc đến cửa Lạch Trường ở phía Nam Các xã giáp biển bao gồm Đa Lộc, Hòa Lộc, Minh Lộc, Hưng Lộc, Ngư Lộc và Hải Lộc Cách bờ 4km về phía Đông Bắc còn có đảo Hòn Nẹ với diện tích 1km2

* Nguồn nước

Hậu Lộc có 4 sông chính: Sông Lèn, sông Lạch Trường, sông Trà Giang và sông kênh De Sông Lèn là một nhánh của sông Mã chảy theo hướng Tây – Đông, bắt đầu từ ngã ba Bông về đến cửa Lạch Sung Sông có chiều dài qua huyện là 36km với 34km đê Sông Lèn ở phía Bắc huyện là ranh giới tự nhiên với huyện Hà Trung Sông Lạch Trường

là một phần của sông Tào Xuyên chảy theo hướng Tây – Đông Sông này ở phía Nam của huyện là ranh giới tự nhiên với huyện Hoằng Hóa Sông Lạch Trường có chiều dài qua huyện là 14km với 12km đê Sông Trà Giang chảy theo hướng Đông – Tây nối từ cống

Trang 33

Lộc Động (Phong Lộc) với sông Ấu ở ngã ba Ghềnh (Mỹ Lộc) Từ năm 1963 – 1964 người dân trong huyện đào thêm một đoạn sông nối từ Thịnh Lộc xuống cống Nguyễn gọi

là sông Nước Xanh Sông Kênh De ở phía Đông, chảy theo hướng Bắc – Năm, nối sông Lèn từ giữa Hưng Lộc – Hoa Lộc với sông Lạch Trường ở Nam Khê – Hải Lộc Các con

sông này vừa là đường giao thông thủy, vừa là nguồn nước tưới cho đồng ruộng Hậu Lộc

* Khí hậu

Nằm ở phía Đông Bắc Thanh Hóa, Hậu Lộc thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nắng lắm, mưa nhiều với lượng mua trung bình là 1.600 – 1.900mm rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp50 Riêng Đa Lộc cùng với các xã ven biển khác thì có đặc trưng của vùng khí hậu đồng bằng ven biển với độ ẩm trung bình cả năm tương đối cao từ 85 - 87% trong đó cao nhất vào tháng 3 (93%) Chia ra làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa bắt đầu từ tháng

5 và kết thúc vào tháng 11; mùa khô kéo dài 5 tháng từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Biên độ nhiệt độ trong năm dao động từ 12 – 13oC Đối với Đa Lộc mùa mưa lớn thường xảy ra vào tháng 8, tháng 9 và tháng 10 Tổng lượng mưa trung bình năm: 1.874 mm Mùa mưa thường gây xói lở bờ biển, xói mòn đất và gây lũ lụt

* Về biển và vùng ven biển củahuyện Hậu Lộc

Hậu Lộc có 12km bờ biển với cửa Lạch Sung và Lạch Trường Ngoài khơi phía Bắc

là Hòn Nẹ, phía Nam là Hòn Sụp và dãy núi Trường Cửa Lạch Trường từ thời cổ đã là một thương cảng lớn của Ái Châu và là một thắng cảnh có tiếng Biển Hậu Lộc phía Bắc thì bồi phía Nam thì lở Hiện nay có 5km kè đá từ Hải Lộc đến Ngư Lộc, là công trình lao động sáng tạo của nhân dân để chống lại sự xâm lấn của biển Hiện nay bờ biển và các cửa lạch có gần 700ha bãi triều, rất thuận lợi cho việc nuôi trồng hải sản, trồng các loại cây như sú, vẹt,… Hậu Lộc có 6 xã giáp biển, trong đó Đa Lộc là xã ven biển có diện tích lớn nhất (12,07km2), Ngư Lộc là xã có diện tích nhỏ nhất (0,54km2) nhưng lại có mật độ dân

số đông nhất trong tỉnh và cả nước (34.380 người/km2) Xã Ngư Lộc có làng Diêm Phố -

là một trong những làng biển nổi tiếng về nghề cá và nghề làm muối từ thời kỳ phong kiến (Khoảng thế kỉXVII)64 Năm 2016, Tỉnh Thanh Hóa đã tuyên bố quyết định phê duyệt quy hoạch chung khu đô thị Diêm Phố đến năm 2025, có diện tích khoảng 450 ha bao gồm toàn bộ diện tích xã Ngư Lộc và một phần các xã Đa Lộc, Hưng Lộc, Minh lộc Đây là khu đô thị tổng hợp với các chức năng tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, du lịch, văn hóa,

Trang 34

giáo dục và cũng chính là cơ hội thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa tại các xã ven biển của huyện Hậu Lộc

1.3.2 Đặc điểm văn hóa, xã hội

* Văn hóa Hoa Lộc và đặc điểm cư dân ven biển Hậu Lộc:

Theo số liệu thống kê năm 2014 huyện Hậu Lộc có tổng số dân là 167.250 người, mật độ dân số 1.164 người/km², chủ yếu là người Kinh sinh sống

Là một huyện đồng bằng ven biển có vị trí địa lý gần trung tâm của tỉnh, điều kiện tự nhiên không quá khó khăn nên từ xa xưa trong lịch sử Hậu Lộc đã trở thành một trong những khu vực cư trú đông đúc của người Kinh tại tỉnh Thanh Hóa Từ năm 1974 – 1976 tại xã Hoa Lộc và Phú Lộc của huyện Hậu Lộc các nhà khảo cổ đã phát hiện các di chỉ Cồn sau chợ, Cồn Nghè, Bái Cù, Gò Trũng, với nhiều hiện vật từ đá và gốm 47 Nền văn hoá khảo cổ ở đây được đặt tên là văn hoá Hoa Lộc Cư dân văn hoá Hoa Lộc sống gần bờ biển Tại các di chỉ thuộc văn hoá này đã phát hiện được nhiều chì lưới bên cạnh xương răng các loài cá biển, cá nước ngọt, chứng tỏ đánh cá là một nghề quan trọng trong đời sống cư dân Đồng thời cũng tìm thấy ở đây xươngrăng các loài động vật đã được thuần dưỡng như trâu, bò, chó, lợn, và thú rừng như hươu, nai, hoẵng, lợn rừng, tê giác v.v chưng minh chủ nhân văn hoá Hoa Lộc còn là những người chăn nuôi và săn bắn giỏi Bên cạnh đó, hiện vật tìm còn cho thấy các bộ lạc văn hoá Hoa Lộc đã có một nền nông nghiệp dùng cuốc phát triển

Ngoài ra, chủ nhân văn hoá Hoa Lộc cũng là những người làm gốm giỏi, đồ gốm của

họ rất độc đáo cả về hình dáng lẫn hoa văn trang trí Một đặc điểm quan trọng khác của văn hoá Hoa Lộc là sự xuất hiện rất nhiều những con dấu bằng đất nung Các con dấu này

có hình chữ nhật hoặc gần tròn, thường được người thợ gốm khắc những chữ “S” hoặc những hoa văn nối tiếp nhau với nét khắc rất sâu Các nhà nghiên cứu cho rằng, công dụng của những con dấu này có lẽ được dùng để in hoa văn lên vải hơn là để tạo hoa văn trên đồ gốm Điều quan trọng là đã phát hiện được dấu vết của đồng trong văn hoá Hoa Lộc Trong tương quan với các nền văn hoá cùng thời, các nhà nghiên cứu nhận thấy đã xuất hiện sự giao lưu giữa các bộ lạc văn hoá Hoa Lộc với chủ nhân các nền văn hoá khác Căn

cứ vào những thành tựu trong kĩ thuật chế tác các loại công cụ, trong các ngành kinh tế sản xuất và sự phân bố các di chỉ trên một vùng rộng lớn, có thể nhận thấy rằng mật độ cư dân trong văn hoá Hoa Lộc đã khá cao Sự phát triển mạnh mẽ của nghề đánh cá biển và kĩ

Trang 35

thuật chế tác kim loại ra đời có thể đã góp phần quan trọng xác lập chế độ công xã thị tộc phụ quyền trong đời sống xã hội văn hoá Hoa Lộc

Các di chỉ văn hóa nêu trên đã chứng tỏ người tiền sử ở Hậu Lộc sớm xuất hiện và phát triển nền văn minh lúa nước, chăn nuôi, đánh bắt cá Từ những con người đầu tiên đó, qua quá trình sinh sống đã xây dựng nên những cụm dân đầu tiên, những xóm làng cổ đầu tiên Nhiều tài liệu cũng khẳng định cửa Lạch Trường là một thường cảng lớn, sầm uất từ thời cổ xưa49

* Văn hóa truyền thống và lễ hội:

Trên địa bàn huyện có nhiều di tích lịch sử văn hóa gắn liền với quá trình dựng nước

và giữ nước của dân tộc như di chỉ khảo cổ học văn hóa Hoa Lộc, khu di tích lịch sử văn hóa đền Bà Triệu, chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh (di tích quốc gia), chùa Cam Lộ, chùa Vích, cụm di tích Nghè Diêm Phố, chùa Ngọc Đới - xã Tuy Lộc, Nghè Vích – xã Hải Lộc, đền thờ Lê Doãn Giai,… Có thể kể đến các địa danh nổi tiếng như cửa biểnLạch Trường, cụm thắng cảnh đền Hàn Sơn (bao gồm Đền Mẫu, đền Cô Tám, đền Cô Đôi) thuộc làng Phong Mục, xã Châu Lộc hay đảo Hòn Nẹ vốn là một địa danh đã đi vào bài thơ nổi tiếng

“Mẹ Tơm” của nhà thơ Tố Hữu Hiện nay huyện Hậu Lộc có 3 di tích lịch sử văn hoá được xếp hạng cấp quốc gia la: di tích Đền, lăng Bà Triệu, di tích đình làng Phú Điền (xã Triệu Lộc), di tích chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh (xã Văn Lộc) và có 2 lễ hội lớn được

bộ văn hoá thông tin bảo tồn di sản văn hoá phi vật thể là lễ hội Cầu Ngư của ngư dân làng Diêm Phố, xã Ngư Lộc (từ 21-24/02 âm lịch) và lễ hội đến Bà Triệu (từ 19-24/02 âm lịch) Ngoài ra còn 21 di tích dã được xếp hạng di tích lịch sử văn hoá và danh lam thắng cảnh cấp tỉnh

1.3.2 Khái quát về xã Đa Lộc, huyện Hậu Lộc

* Đặc điểm tự nhiên:

Đa Lộc là một xã ven biển thuộc huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa Xã nằm ở phía đông của huyện Hậu Lộc và thuộc hữu ngạn sông Lèn Phía Đông và phía nam giáp vịnh Bắc Bộ, phía Tây giáp xã Hưng Lộc, huyện Hậu Lộc và xã Nga Thạch, huyện Nga Sơn, phía Bắc giáp các xã Nga Bạch và Nga Thủy, huyện Nga Sơn Cách thị trấn Hậu Lộc 16km về phía Đông Tổng diện tích tự nhiên của xã Đa Lộc là: 12,07km2 Theo số liệu thống kê của UBND xã năm 2016, xã Đa Lộc có 2069 hộ dân được chia thành 10 thôn (Hùng Thành, Yên Lộc, Yên Đông, Đông Hòa, Đông Tân, Đông Hải, Đông Thành, Ninh

Trang 36

Phú, Vạn Thắng, Mỹ Điền) Dân số toàn xã là 8371 người trong đó nam giới là 4.119 người (chiếm 49,2%), nữ giới là 4252 (chiếm 50,8%), số người trong độ tuổi lao động là 3.802 người (chiếm 45,4%) Dân cư sống trên địa bàn xã chủ yếu là người Kinh (Hình 3, Phụ Lục)

Xã Đa Lộc trước năm 1954 được gọi là vùng đất Hanh Cát, Hanh Cù thuộc xã Đồng Lạc (1945) là một trong những cái nôi của phong trào cách mạng Thanh Hóa thế kỉ XX, nơi đây còn được biết đến là quê hương của Mẹ Tơm – một bà mẹ Việt Nam anh hùng, nhân vật chính trong bài thơ nổi tiếng cùng tên của nhà thơ Tố Hữu Năm 1946 xã Đồng Lạc đổi tên thành xã Vạn Lộc và đến tháng 4-1954 tách ra thành 4 xã: Minh Lộc, Đa Lộc, Ngư Lộc, Hưng Lộc như ngày nay28 Đa Lộc là xã đồng bằng ven biển có địa hình tương đối bằng phẳng với 5km đường bờ biển cùng hệ thống các đồng màu, các bãi triều ven biển thuận tiện cho việc canh tác lúa nước, trồng hoa màu, nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản

* Đặc điểm văn hóa - xã hội:

Đa Lộc là một trong 6 xã giáp biển của huyện Hậu Lộc, cách Hoa Lộc 8km về phía Đông Mặc dù không trực tiếp là nơi phát tích của các đi chỉ khảo cổ nêu trên, nhưng theo tài liệu địa chí và lịch sử xã thì cư dân các xã ven biển Hậu Lộc trong đó có Đa Lộc vốn thuộc vùng Châu An Thiện xưa đã có mặt trong khoảng thời gian tồn tại các di chỉ Gò Trũng và Hoa Lộc, là vùng chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ của văn hóa Hoa Lộc Căn cứ vào các vị trí cư trú của người Hoa Lộc xưa và dấu vết của đường bờ biển, của các lạch cận kề

có thể khẳng định rằng chủ nhân văn hóa Hoa Lộc đã tồn tại và phát triển trong môi trường sinh thái ven biển24 cư dân làm chủ nền văn hóa này sống khắp các vùng Châu

An Thiện Cũng theo các tích trong lịch sử như chuyện về Mai An Tiêm có thể thấy là từ thời vua Hùng thì vùng biển từ Nga Sơn và Hậu Lộc dọc theo dãy núi An Tiêm đã có cư dân sinh sống Cho đến năm 248, Triệu Trinh Nương khởi nghĩa trên đất Hậu Lộc đánh đuổi giặc Ngô thì tại các cửa sông như sông Ngu (sông Lạch Trường), sông Sung đã có đồn tiền tiêu của Bà Triệu Sau khi nghĩa quân thất bại, quân lính tản về các vùng hẻo lánh, trong đó vùng Châu An Thiện lúc bấy giờ là vùng rất xa xôi và hẻo lánh (tức vùng các xã ven biển Hậu Lộc ngày nay) Như vậy, có thể nói rằng cộng đồng cư dân ven biển

Trang 37

Hậu Lộc nói chung cũng như cư dân xã Đa Lộc nói riêng đã có một lịch sử hình thành, phát triển lâu dài và cùng chung mạch nguồn văn hóa Hoa Lộc

Căn cứ vào đặc điểm địa hình, Đa Lộc được phân vào danh sách xã bãi ngang ven biển (theo danh sách mới nhất Chính phủ công bố tháng 1/2017) do đó cư dân sinh sống tại đây thuộc loại hình cộng đồng dân cư làm nghề cá bãi ngang88 Mặc dù có 5km đường bờ biển nhưng chỉ có 1 trong 10 thôn chuyên về khai thác hải sản với trên 90% hộ gia đình làm nghề cá – “là những ngư dân chuyên nghiệp”88, 9 thôn còn lại xem nghề khai thác hải sản là nghề thứ hai sau nông nghiệp – hay còn gọi là những làng ngư nghiệp không chuyên

Dân cư trong xã tập trung đông đúc ở khu vực trung tâm, dọc 2 bên đường liên thôn còn sâu phía trong làng gần với cánh đồng thì khá thưa thớt Các đặc điểm về yếu tố văn hóa vật chất của người dân như kiến trúc nhà ở, thiết chế làng xã, dòng họ mang những đặc trưng chung với văn hóa của người Việt vùng nông thôn Ngoài ra, về văn hóa tinh thần thì bên cạnh những mẫu số chung như tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thờ thành hoàng làng, thần thổ địa, thờ Phật thì cư dân ở đây do chịu ảnh hưởng của biển nên họ thờ thêm thần Biển chủ yếu được thờ ở các nghè Đặc biệt cư dân ở Đa Lộc thờ một vị thần có tên

là Cao Sơn Đại Vương Thần tích về nguồn gốc vị thần này có nhiều dạng khác nhau theo lời kể của người dân nhưng nhìn chung đây là vị thần tốt bụng chuyên hiển linh giúp đỡ dân lành có tài, có đức nên được người dân ngưỡng mộ lập đền thờ Riêng thôn Hùng Thành do hoạt động sinh kế của người dân gắn liền với biển nên việc thờ thần Biển là vô cùng quan trọng, không chỉ thờ các nghè, miếu mà trong mỗi gia đình, trên mỗi con thuyền ngư dân đều có nơi để thờ thần Biển Năm 2004, người dân thôn này đã phát hiện được xác một con cá voi to nặng hàng chục tấn trôi dạt vào bờ, gần cửa lạch Sung Sau khi xác cá tan rữa người dân đã thể hiện lòng thành kính với các vị thần linh ngoài khơi bằng việc bảo vệ bộ xương cá và đem về thờ trong miếu ở thôn (Hình 4, Phụ Lục)

Mặc dù không phải là những ngư dân chuyên nghiệp nhưng với phần lớn người dân

Đa Lộc biển giữ một vai trò quan trọng trong đời sống của họ, biển tác động nhiều tới các hoạt động sinh kế và một phần hình thành nên tính cách, văn hóa ứng xử của con người nơi đây Con người học cách đối phó với thiên tai, khắc phục những điều kiện khắc nghiệt của tự nhiên ven biển để sinh tồn đồng thời tận dụng, khai thác các yếu tố thuận lợi để

Trang 38

phát triển Hơn ai hết người dân địa phương chính là người hiểu rõ mình cần làm gì và nên làm làm gì để thích ứng với những điều kiện tự nhiên xung quanh Do đó, thông qua việc tìm hiểu hoạt động sinh kế và những thay đổi của nó cũng là cách để hiểu hơn về suy nghĩ, quan niệm, các kinh nghiệm của người dân khi ứng xử với tự nhiên, môi trường sinh thái

* Khái quát về địa bàn nghiên cứu chính:

Địa bàn nghiên cứu là thôn Đông Thành, là thôn có diện tích tự nhiên lớn nhất của

xã Đa Lộc, nằm ở vị trí trung tâm, nơi đặt trụ sở UBND xã và các công trình phúc lợi dân sinh như trường học, trạm y tế, nhà văn hóa, sân vận động,… Về địa giới hành chính, thôn Đông Thành tiếp giáp với 6 thôn khác, bao gồm phía Đông giáp thôn Đông Tân và thôn Đông Hải; phía Tây giáp thôn Mỹ Điền; phía Nam giáp thôn Ninh Phú và thôn Vạn Thắng; phía Bắc giáp sông Sung và thôn Đông Hòa Hình dạng của làng Đông Thành Đây cũng là thôn có số dân đông nhất của xã với 330 hộ dân và 1220 nhân khẩu (2016) Ngoài các hộ dân trong đăng kí còn có khoảng 10% dân không có hộ khẩu thường trú tại thôn hoặc chỉ là hộ khẩu theo dạng KT3, đối tượng này chủ yếu là các gia đình hoặc cá nhân cán bộ, giáo viên, bộ đội (đồn biên phòng 72), công chức ở nơi khác đến công tác nên họ không đăng kí hộ khẩu thường trú về thôn

Thôn có 53,12 ha đất sản xuất nông nghiệp và 10 ha diện tích ao đầm nuôi trồng thủy sản, là điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp đa canh, nuôi trồng thủy sản và chăn nuôi theo mô hình trang trại Trước kia, hoạt động sinh kế chính của người dân trong thôn

là sản xuất nông nghiệp (chiếm 85-90%), nhưng những năm gần đây, quá trình chuyển đổi sinh kế của các hộ dân trong thôn diễn ra khá mạnh mẽ, đã làm thay đổi mọi mặt đời sống người dân (Hình 4, xem Phụ Lục)

Tiểu kết chương 1

Nghiên cứu sinh kế trong bối cảnh công nghiệp hóa, đô thị hóa là vấn đề đang được quan tâm hiện nay, do đó, số lượng công trình nghiên cứu về sinh kế và biến đổi sinh kếlà khá nhiều, bao gồm cả nghiên cứu dưới góc độ của khoa học xã hội cũng như các ngành, các lĩnh vực khác Sự đa dạng của các tài liệu liên quan đến sinh kế không chỉ được thể hiện ở vấn đề nghiên cứu, địa bàn, thời gian mà còn ở phương pháp nghiên cứu và khung

lý thuyết áp dụng Bởi vậy, mỗi một tài liệu đều là nguồn tham khảo quý giá cho những người quantâm đến chủ đề sinh kế nói chung cũng như tác giả luận văn nói riêng Lựa chọn vấn đề biến đổi sinh kế của người nông dân vùng ven biển Hậu Lộc làm đề tài chính

Trang 39

của luận văn, tôi mong muốn góp thêm nguồn tài liệu tham khảo về chủ đề này ở một địa

bàn cụ thể và dưới góc nhìn Nhân học Luận văn lấy lý thuyết về khung sinh kế bền vững

và thuyết sinh thái học văn hóa làm nền tảng lý thuyết tiếp cận chính để giải thích các vấn

đề nghiên cứu, luận văn cũng sử dụng phương pháp điền dã dân tộc học với bộ công cụ hỗ

trợ như phỏng vấn sâu, quan sát tham gia, bảng hỏi, chụp ảnh,… làm phương pháp nghiên

cứu chủ đạo

“Sóng bồi thêm bãi, thuyền thêm bến – Gió lộng đường khơi, rộng đất trời” Những

câu thơ của Tố Hữu trong bài thơ mẹ Tơm đã nói rất đúng về đặc điểm địa hình, tự nhiên

của vùng đất Đa Lộc Đó là vùng biển được bồi tụ bởi phù sa sông (sông Lèn) và quá trình

này vẫn đang tiếp tục Biển quy định phần lớn các yếu tố về đất đai, hải văn, tài nguyên

sinh vật, khí hậu,… của địa phương này, vì thế tác động rất lớn đến đời sống người dân,

trong đó trực tiếp là các hoạt động sinh kế Mặc dù là xã ven biển nhưng kinh tế biển lại

đứng thứ 2 sau kinh tế đồng Người dân đi biển không chuyên nghiệp và phần lớn vừa làm

ruộng vừa đi biển, số ít chuyên đi biển Bên cạnh yếu tố tự nhiên, các yếu tố xã hội khác

như lịch sử phát triển,dân số, trình độ dân trí, chính sách,… cũng tác động không nhỏ đến

hoạt động sinh kế của người dân

Nằm trong vùng ảnh hưởng của văn hóa Hoa Lộc – là văn hóa khảo cổ tiêu biểu của

thời đại kim khí ở miền Bắc Việt Nam, với nét nổi trội là những thành tố mang bản sắc

văn hóa biển Dân cư xã hội Đa Lộc cũng đã có một lịch sử phát triển khá lâu dài gắn liền

với quá trình hình thành và phát triển của văn hóa Hoa Lộc Trong đó đặc trưng chủ yếu

trong hoạt động kinh tế của cư dân là nông nghiệp lúa nước kết hợp đánh bắt hải sản và

chăn nuôi Mặc dù điều kiện tự nhiên của một vùng đồng bằng ven biển tương đối thuận

lợi cho hoạt động sản xuất, nhưng các yếu tố thiên tai, thời thiết bất thường lại thường

xuyên xảy ra gây thiệt hại không nhỏ cho đời sống của người dân Do vậy, để thích ứng

với thiên nhiên, môi trường sinh thái người dân địa phương đã có những lựa chọn, những

cách ứng xử phù hợp để thích nghi và phát triển Chính quá trình thích nghi để sinh tồn ấy

đã tạo nên những đặc trưng riêng của cư dân ven biển Đa Lộc

Trang 40

CHƯƠNG 2 SINH KẾ TRONG TRUYỀN THỐNG

Mặc dù điều kiện tự nhiên rất phù hợp để phát triển đa dạng các hoạt động sinh kế, nhưngtrong truyền thống nguồn sinh kế chínhcủa người dân vẫnlà sản xuất nông nghiệp, tiếp đến là ngư nghiệp và một số nghề phụ khác

2.1 Nông nghiệp

2.1.1 Nông nghiệp trồng cây lương thực:

Cây lương thực là các loại cây trồng mà sản phẩm dùng làm lương thực cho người, nguồn cung cấp chính về năng lượng và chất bột cacbohydrat trong khẩu phần thức ăn Trong bốn loại cây lương thực được trồng phổ biến ở Việt Nam là lúa, ngô, sắn, khoai lang thì có 3 loại là lúa, sắn và khoai lang được trồng nhiều ở Đông Thành, trong đó lúa là cây lương thực chính

Đất trồng lúa của toàn xã chủ yếu là đất do phù sa sông Lèn bồi đắp, đất nằm phía trong đê cấy hai vụ chính trong năm, thường gọi là vụ chiêm (tháng 10) và vụ mùa (tháng 5), ngoài ra một số khu vực sát chân đê, đất ruộng có pha thêm cát mịn thì có thể cấy thêm

vụ lúa thứ ba xen canh với trồng màu nhưng năng suất không cao nên ít phổ biến hơn Lúa được trồng gồm 02 loại chính là lúa nếp và lúa tẻ chia thành các vụ lúa sớm, lúa muộn, lúa chiêm trạng, chiêm đỏ Lúa được trồng trong thời gian này không có sự đa dạng về giống do các ngành dịch vụ nông nghiệp còn hạn chế, nhất là lĩnh vực nghiên cứu và thử nghiệm giống cây trồng chưa phát triển, mức độ cơ giới hóa còn thấp, thủy lợi nội đồng yếu kém trong khi điều kiện thời tiết vùng ven biển khá thất thường và đôi khi rất khắc nghiệt với nhiều thiên tai như hạn hán, bão lụt, nhiễm mặn,… nên các giống lúa được trồng ở đây phải

có sức chịu đựng và khả năng thích nghi tốt Do đó, người dân ưu tiên trồng các giống lúa thuần có sức chống chọi cao như Xi23, X21, VN10 (Việt Nam), Bao Thai,… đây là những giống lúa cho sản lượng thóc hạt ổn định và khả năng chống chịu sâu bệnh, thời tiết khá tốt Mặc dù năng suất và chất lượng gạo của các giống lúa trên tương đối ổn định nhưng nhược điểm lớn nhất là thời gian sinh trưởng lâu, trung bình đều từ 160-180 ngày (tức khoảng 6 tháng) cho nên nhiều năm khi lúa đến thời gian trổ bông hoặc sắp cho thu hoạch thì gặp đúng vào thời điểm mùa bão lụt gây thiệt hại, có khi mất trắng vì ngập úng, hoặc không thì cũng cho sản lượng rất ít, không những thế lúa dài ngày còn làm ảnh hưởng đến thời gian canh tác vụ màu Về sau khoảng từ năm 1993, một số giống lúa thuần được nhập

từ Trung Quốc là Khang Dân, Q5, có thời gian sinh trường và phát triển được rút ngắn lại

Ngày đăng: 02/07/2022, 16:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị Mai An (2010) Phác thảo yếu tố biển trong văn hóa Việt Nam, Tạp chí khoa học và công nghệ, Đại học Đà Nẵng số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phác thảo yếu tố biển trong văn hóa Việt Nam
2. Trần Thị Mai An (2006) Sinh kế người Cơ Tu: Khả năng tiếp cận và cơ hội – Nghiên cứu trường hợp ở huyện Nam Đông – tỉnh Thừa Thiên – Huế. NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh kế người Cơ Tu: Khả năng tiếp cận và cơ hội – Nghiên cứu trường hợp ở huyện Nam Đông – tỉnh Thừa Thiên – Huế
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
3. Nguyễn Thị Anh (2012) Một số quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế trong thời kỳ đổi mới. Tạp chí Lịch sử Đảng số 6, tr 55-57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế trong thời kỳ đổi mới
4. Nguyễn Thị Thuận An (2012) Đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng tới sinh kế của người dân tại dự án xây dựng khu đô thị mới quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Luận văn thạc sĩ Đại học Khoa học Tự nhiên – ĐHQGHN chuyên ngành Địa chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng tới sinh kế của người dân tại dự án xây dựng khu đô thị mới quận Hải An, thành phố Hải Phòng
5. A. Haroon Akaram – Lodhi (2010), Land, labour and agrarian transition in Viet Nam. Jouranal of Agrarian Change, vol.10, No.4. pg. 564-580. Bản dịch: Đất đai, lao động và chuyển đổi đổi đất nông nghiệp ở Việt Nam. Người dịch Đoàn Thị Tuyến Sách, tạp chí
Tiêu đề: Land, labour and agrarian transition in Viet Nam. Jouranal of Agrarian Change", vol.10, No.4. pg. 564-580. Bản dịch: "Đất đai, lao động và chuyển đổi đổi đất nông nghiệp ở Việt Nam
Tác giả: A. Haroon Akaram – Lodhi
Năm: 2010
6. Bách khoa toàn thƣ mở Wikipedia. Dân cư Thanh Hóa. https://vi.wikipedia.org/wiki/D%C3%A2n_c%C6%B0_Thanh_H%C3%B3a Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân cư Thanh Hóa
7. Bách khoa toàn thƣ mở Wikipedia. Con cáy https:// vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A1y Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con cáy
8. Nguyễn Dương Bình, Đời sống kinh tế của cư dân ven biển (Sầm Sơn- Thanh Hoá), Tƣ liệu Viện Dân tộc học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống kinh tế của cư dân ven biển (Sầm Sơn- Thanh Hoá)
9. Nguyễn Dương Bình (2001), Một số vấn đề có liên quan đến cư dân ven biển làm nghề cá ở miền Bắc nước ta. Tạp chí Dân tộc học, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề có liên quan đến cư dân ven biển làm nghề cá ở miền Bắc nước ta
Tác giả: Nguyễn Dương Bình
Năm: 2001
10. Nguyễn Dương Bình (1984) Vài nét về tình hình các làng xã làm nghề cá ở ven biển các tỉnh phía Bắc. Tạp chí Dân tộc học, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét về tình hình các làng xã làm nghề cá ở ven biển các tỉnh phía Bắc
13. Nguyễn Văn Quỳnh Bôi và Đoàn Thị Thanh Kiều (2012) Áp dụng chỉ số tổn thương trong nghiên cứu sinh kế - Trường hợp xã đảo Tam Hải, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.Tạp chí khoa học trường Đại học Cần Thơ số 24b, tr. 251-260 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Áp dụng chỉ số tổn thương trong nghiên cứu sinh kế - Trường hợp xã đảo Tam Hải, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam
15. Vũ Văn Cường (2014) Phát triển kinh tế biển để thoát nghèo bền vững tại các xã ven biển Hậu Lộc, Thanh Hóa. Luận văn thạc sĩ Khoa học quản lý – Đại học KHXH&NV- ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kinh tế biển để thoát nghèo bền vững tại các xã ven biển Hậu Lộc, Thanh Hóa
16. Hoàng Cầm, Phạm Quỳnh Phương (2012), Diễn ngôn, chính sách và sự biến đổi văn hóa – sinh kế tộc người. Tài liệu tham khảo của Viện nghiên cứu xã hội, kinh tế và môi trường (ISEE) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn ngôn, chính sách và sự biến đổi văn hóa – sinh kế tộc người
Tác giả: Hoàng Cầm, Phạm Quỳnh Phương
Năm: 2012
17. Huỳnh Văn Chương, Ngô Hữu Hoạnh (2010), Ảnh hưởng của việc chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp đến sinh kế người nông dân bị thu hồi đất tại thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Tạp chí khoa học Đại học Huế, số 62A Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của việc chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp đến sinh kế người nông dân bị thu hồi đất tại thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam
Tác giả: Huỳnh Văn Chương, Ngô Hữu Hoạnh
Năm: 2010
18. Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng (đồng chủ biên, 2001), Xã hội học, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
19. Nguyễn Thị Diễn, Vũ Đình Tôn, Philippe Lebailly (2012), Ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp cho công nghiệp hóa đến sinh kế của các hộ nông dân ở tỉnh Hưng Yên. Kỷ yếu hội thảo Quốc tế Việt Nam học lần 4 (tr. 315-327) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp cho công nghiệp hóa đến sinh kế của các hộ nông dân ở tỉnh Hưng Yên
Tác giả: Nguyễn Thị Diễn, Vũ Đình Tôn, Philippe Lebailly
Năm: 2012
20. Đoàn Minh Duệ (2008), Giải quyết các vấn đề xã hội trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa – Một số quan điểm và giải pháp. Bài tham luận Hội thảo Quốc tế Việt Nam lần thứ 3: Việt Nam hội nhập và phát triển, tr 728, NXB Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết các vấn đề xã hội trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa – Một số quan điểm và giải pháp
Tác giả: Đoàn Minh Duệ
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2008
21. Lê Bạch Dương, Nguyễn Thanh Liêm (2011), Từ nông thôn ra thành phố: Tác động kinh tế - xã hội của di cư ở Việt Nam. Nxb Lao Động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ nông thôn ra thành phố: Tác động kinh tế - xã hội của di cư ở Việt Nam
Tác giả: Lê Bạch Dương, Nguyễn Thanh Liêm
Nhà XB: Nxb Lao Động
Năm: 2011
22. Peter D.Dwyer & Monica Minegal (2010), Theorizing social change. Journal of the Royal Anthropological Institute, 16:3, pp. 629 – 645. Bản tiếng việt Tạo lập lý thuyết biến đổi xã hội. Người dịch Đoàn Thị Tuyến Sách, tạp chí
Tiêu đề: Theorizing social change. Journal of the Royal Anthropological Institute", 16:3, pp. 629 – 645. Bản tiếng việt "Tạo lập lý thuyết biến đổi xã hội
Tác giả: Peter D.Dwyer & Monica Minegal
Năm: 2010
23. Phan Nhƣ Đại (2014) Biện pháp hỗ trợ cộng đồng thay đổi sinh kế ứng phó với biến đổi khí hậu (Nghiên cứu tại xã Đa Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa). Luận văn thạc sĩ trường Đại học khoa học xã hội và Nhân văn – ĐHQGHN, chuyên ngành Công tác xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp hỗ trợ cộng đồng thay đổi sinh kế ứng phó với biến đổi khí hậu (Nghiên cứu tại xã Đa Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa)

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1.1. Sự hình thành và phát triển của ý tưởng sản xuất sạch hơn - (LUẬN văn THẠC sĩ) biến đổi sinh kế của cư dân ven biển thanh hóa trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn từ năm 1991 đến nay
1.1. Sự hình thành và phát triển của ý tưởng sản xuất sạch hơn (Trang 1)
Hình 4: Sơđồ câc biện phâp kỹ thuật trong xử lý CTR của Công ty quản lýđô thị Thâi Nguyín - (LUẬN văn THẠC sĩ) biến đổi sinh kế của cư dân ven biển thanh hóa trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn từ năm 1991 đến nay
Hình 4 Sơđồ câc biện phâp kỹ thuật trong xử lý CTR của Công ty quản lýđô thị Thâi Nguyín (Trang 29)
Bảng 2.1. Một số giống lúa được gieo trồng phổ biến trong truyền thống. - (LUẬN văn THẠC sĩ) biến đổi sinh kế của cư dân ven biển thanh hóa trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn từ năm 1991 đến nay
Bảng 2.1. Một số giống lúa được gieo trồng phổ biến trong truyền thống (Trang 41)
Bảng 2.3. Các hoạt động khai thác nguồn lợi tự nhiên (Nguồn: Nghiên cứu thực tếcủa tác giả, 2016) - (LUẬN văn THẠC sĩ) biến đổi sinh kế của cư dân ven biển thanh hóa trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn từ năm 1991 đến nay
Bảng 2.3. Các hoạt động khai thác nguồn lợi tự nhiên (Nguồn: Nghiên cứu thực tếcủa tác giả, 2016) (Trang 67)
Bảng 3.2: Trình độ học vấn, chuyên môn. Nguồn: Điều tra của tác giả,2016 - (LUẬN văn THẠC sĩ) biến đổi sinh kế của cư dân ven biển thanh hóa trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn từ năm 1991 đến nay
Bảng 3.2 Trình độ học vấn, chuyên môn. Nguồn: Điều tra của tác giả,2016 (Trang 77)
Căn cứ vào bảng trên có thể thấy mặc dù đấtnông nghiệp có diện tích lớn nhất nhƣng  đất  sử  dụng  cho  mục  đích  trồng  trọt  nhƣ  đất  trồng  lúa,  hoa  màu,  cây  ăn  quả  lại  chiếm tỷ  lệ  khiêm tốn (tổng là 29,32%),  đất dành  cho  nuôi trồng thủy - (LUẬN văn THẠC sĩ) biến đổi sinh kế của cư dân ven biển thanh hóa trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn từ năm 1991 đến nay
n cứ vào bảng trên có thể thấy mặc dù đấtnông nghiệp có diện tích lớn nhất nhƣng đất sử dụng cho mục đích trồng trọt nhƣ đất trồng lúa, hoa màu, cây ăn quả lại chiếm tỷ lệ khiêm tốn (tổng là 29,32%), đất dành cho nuôi trồng thủy (Trang 79)
Hình 3.1.Cơ cấu vốn vay theo mục đích sử dụng của các hộ khảo sát. (Đơn - (LUẬN văn THẠC sĩ) biến đổi sinh kế của cư dân ven biển thanh hóa trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn từ năm 1991 đến nay
Hình 3.1. Cơ cấu vốn vay theo mục đích sử dụng của các hộ khảo sát. (Đơn (Trang 84)
Vớicây hoa màu, ngƣời dân duy trì song song hai hình thức cây hoa màu lƣơng thực và hoa màu hàng hóa - (LUẬN văn THẠC sĩ) biến đổi sinh kế của cư dân ven biển thanh hóa trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn từ năm 1991 đến nay
ic ây hoa màu, ngƣời dân duy trì song song hai hình thức cây hoa màu lƣơng thực và hoa màu hàng hóa (Trang 89)
Bảng 3.7 Cơ sở kinh doanh dịch vụ nông nghiệp. Nguồn:UBND xã Đa Lộc 2015 - (LUẬN văn THẠC sĩ) biến đổi sinh kế của cư dân ven biển thanh hóa trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn từ năm 1991 đến nay
Bảng 3.7 Cơ sở kinh doanh dịch vụ nông nghiệp. Nguồn:UBND xã Đa Lộc 2015 (Trang 107)
Hình 4.1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tếcủa giai đoạn 1991 – 2016 (Đơn vị %).Nguồn: Tổng hợp từ UBND xã Đa Lộc - (LUẬN văn THẠC sĩ) biến đổi sinh kế của cư dân ven biển thanh hóa trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn từ năm 1991 đến nay
Hình 4.1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tếcủa giai đoạn 1991 – 2016 (Đơn vị %).Nguồn: Tổng hợp từ UBND xã Đa Lộc (Trang 119)
Hình 4.2. Cơ cấu thu nhập của các hộ dân chia theo nguồn thu (Đơn vị: Hộ). Nguồn: Tổng hợp từ các báo cáo của thôn Đông Thành - (LUẬN văn THẠC sĩ) biến đổi sinh kế của cư dân ven biển thanh hóa trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn từ năm 1991 đến nay
Hình 4.2. Cơ cấu thu nhập của các hộ dân chia theo nguồn thu (Đơn vị: Hộ). Nguồn: Tổng hợp từ các báo cáo của thôn Đông Thành (Trang 121)
Bảng 4.2: Hiện trạng và quy hoạch hệ thống thiết chế văn hóa xã giai đoạn 2010-2020. Nguồn: Đề án Nông thôn mới UBND xã Đa Lộc - (LUẬN văn THẠC sĩ) biến đổi sinh kế của cư dân ven biển thanh hóa trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn từ năm 1991 đến nay
Bảng 4.2 Hiện trạng và quy hoạch hệ thống thiết chế văn hóa xã giai đoạn 2010-2020. Nguồn: Đề án Nông thôn mới UBND xã Đa Lộc (Trang 131)
Bảng 4.3: Giải quyết đơn thƣ khiếu nại của ngƣời dân.Nguồn:UBND xã Đa Lộc - (LUẬN văn THẠC sĩ) biến đổi sinh kế của cư dân ven biển thanh hóa trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn từ năm 1991 đến nay
Bảng 4.3 Giải quyết đơn thƣ khiếu nại của ngƣời dân.Nguồn:UBND xã Đa Lộc (Trang 136)
Theo số liệu điều tra mức sống dân cƣ năm 2014 (Bảng 4.4), tỷ lệ hộ ở khu vực nông thôn có cách xử lý rác thải bằng việc vứt ở khu vực gần nhà chiếm tới 48,22%, trong đó tỷ  lệ hộ làm nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản xử lý rác thải bằng cách vứt gần nh - (LUẬN văn THẠC sĩ) biến đổi sinh kế của cư dân ven biển thanh hóa trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn từ năm 1991 đến nay
heo số liệu điều tra mức sống dân cƣ năm 2014 (Bảng 4.4), tỷ lệ hộ ở khu vực nông thôn có cách xử lý rác thải bằng việc vứt ở khu vực gần nhà chiếm tới 48,22%, trong đó tỷ lệ hộ làm nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản xử lý rác thải bằng cách vứt gần nh (Trang 137)
13. Trong những năm qua tình hình vay mƣợn (tín dụng) cho các mục đích khác nhau của gia đình nhƣ thế nào - (LUẬN văn THẠC sĩ) biến đổi sinh kế của cư dân ven biển thanh hóa trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn từ năm 1991 đến nay
13. Trong những năm qua tình hình vay mƣợn (tín dụng) cho các mục đích khác nhau của gia đình nhƣ thế nào (Trang 169)

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w