Nhằm trả lời các câu hỏi trên và tìm hiểu rõ hơn về BHTN, tôi đã chọn hướng nghiên cứu “Quá trình thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp đối với nhóm lao động thất nghiệp trên địa bàn
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Luận văn thạc sỹ “Quá trình thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp đối với nhóm lao động thất nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội”
được hoàn thành sau một thời gian làm việc khẩn trương và nghiêm túc
Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn Ban chủ nhiệm Khoa Xã hội học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn thạc sỹ này
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới
thầy giáo PGS.TS Nguyễn Tuấn Anh, người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình
giúp đỡ và cho tôi những lời khuyên quý báu trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Xã hội học, Trường Đại học Khoa học và Xã hội Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian theo học tại trường
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo, tập thể cán bộ Trung tâm dịch vụ việc làm Hà Nội đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong thời gian thu thập tài liệu phục vụ cho luận văn tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn các anh chị và các bạn lớp Cao học Công tác xã hội khóa 2012 đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Cuối cùng tôi xin được gửi lời cảm ơn đặc biệt tới bạn bè và người thân trong gia đình tôi, những người đã động viên, khích lệ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành khóa học và khóa luận tốt nghiệp này
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 8 năm 2015 Học viên
Nguyễn Thị Lan
Trang 2DANH MỤC VIẾT TẮT
BHTN: Bảo hiểm thất nghiệp
BHXH: Bảo hiểm xã hội
BHYT: Bảo hiểm y tế
UBND: Ủy ban nhân dân
VN: Việt Nam
NLĐ: Người lao động NSDLĐ: Người sử dụng lao động DN: Doanh nghiệp
KCN: Khu công nghiệp
TCTN: Trợ cấp thất nghiệp
HĐLĐ: Hợp đồng lao động HĐLV: Hợp đồng làm việc TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
GTVL: Giới thiệu việc làm
LĐTBXH: Lao động thương binh xã hội LĐLĐ: Liên đoàn lao động
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2.Tổng quan vấn đề nghiên cứu 5
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 9
4 Phạm vi nghiên cứu 9
5 Mục tiêu nghiên cứu 9
6 Câu hỏi nghiên cứu 9
7 Giả thuyết nghiên cứu 10
8 Phương pháp nghiên cứu 10
9 Ý nghĩa của nghiên cứu 12
10 Cấu trúc luận văn 12
NỘI DUNG 13
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 13
1.1 Các khái niệm làm việc 13
1.1.1 Thất nghiệp 13
1.1.2 Bảo hiểm thất nghiệp 15
1.1.3.Chính sách bảo hiểm thất nghiệp 15
1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 16
1.2.1 Lý thuyết hệ thống 16
1.2.2 Lý thuyết nhu cầu Maslow 18
1.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về việc thực hiện an sinh xã hội 19
1.4 Khái quát điều kiện kinh tế xã hội của Hà Nội 22
1.4.1.Điều kiện tự nhiên 22
1.4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 23
Trang 4CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM
THẤT NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 26
2.1 Khái quát về chính sách bảo hiểm thất nghiệp 26
2.1.1 Nội dung của chính sách bảo hiểm thất nghiệp 26
2.1.2 Vai trò của chính sách bảo hiểm thất nghiệp 31
2.2 Đặc điểm của người lao động thất nghiệp trên địa bàn nghiên cứu 33
2.3 Bộ máy và quy trình tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở Hà Nội 36
2.3.1.Tổ chức bộ máy, nhân sự 36
2.3.2 Thủ tục giải quyết chế độ 40
2.3.3 Quy trình thực hiện 43
2.3.4 Công tác phối hợp thực hiện 50
2.3.5 Cơ sở vật chất thiết bị làm việc và các hoạt động khác 53
2.4 Kết quả thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn Hà Nội 55
2.4.1 Trợ cấp thất nghiệp hàng tháng 55
2.4.2 Tư vấn giới thiệu việc làm 59
2.4.3 Hỗ trợ học nghề 60
2.5 Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp đối với người lao động thất nghiệp 63
2.5.1.Thuận lợi 63
2.5.2 Khó khăn 65
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 75
Kết luận 75
Khuyến nghỊ 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 5DANH MỤC SƠ ĐỒ BIỂU ĐỒ, BẢNG BIỂU
* BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Cơ cấu độ tuổi của người lao động thất nghiệp (%) 33 Biểu đồ 2: Giới tính của người lao động thất nghiệp (%) 34 Biểu đồ 3: Trình độ chuyên môn của nhân viên phòng bảo hiểm thất nghiệp (người) 37
Biểu đồ 4: Các hình thức hưởng lương của nhân viên phòng bảo hiểm
thất nghiệp(%) 39 Biểu đồ 5: Đánh giá của lao động về thủ tục giải quyết bảo hiểm thất
nghiệp (%) 41 Biểu đồ 6: Tỷ lệ nhân viên bảo hiểm thất nghiệp nắm bắt được quy
trình nghiệp vụ (%) 49 Biểu đồ 7: Đánh giá về cơ sở vật chất kĩ thuật để giải quyết bảo hiểm
thất nghiệp (%) 53 Biểu đồ 8: Kết quả thực hiện bảo hiểm thất nghiệp (người) 56 Biểu đồ 9:Tỷ lệ số người hưởng trợ cấp thất nghiệp được tư vấn giới thiệu việc làm năm 2014(%).….……… ……… 59
Biểu đồ 10: Số người thất nghiệp được hỗ trợ học nghề (người) …60
* BẢNG
Bảng 1: Tỷ lệ sự phối hợp giữa lao động, cán bộ thực hiện, doanh nghiệp trong quá trình giải quyết bảo hiểm thất nghiệp (%) 51 Bảng 2: So sánh một số chỉ tiêu thực hiện hiểm thất nghiệp 2 năm trở lại đây ( người) 58
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Ngày 01.01.2009 tại Việt Nam một loại hình bảo hiểm mới đã bắt đầu có hiệu lực nhằm bảo vệ, hỗ trợ những đối tượng lao động thất nghiệp đó là bảo hiểm thất nghiệp [25] Sự ra đời của loại hình bảo hiểm này thực sự là một bước tiến lớn trong con đường phát triển của ngành bảo hiểm Việt Nam nói riêng và
nỗ lực đảm bảo an sinh xã hội của Đảng và nhà nước ta nói chung
Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) ra đời gắn với giai đoạn đầy khó khăn của nền kinh tế nước ta cũng như kinh tế thế giới, giai đoạn mà chúng ta phải chứng kiến nhiều doanh nghiệp phá sản, hàng nghìn lao động rơi vào cảnh thất nghiệp[42,tr.66] Đặc biệt trên địa bàn thủ đô Hà Nội sau khi mở rộng địa giới hành chính, dân số tuy lớn nhưng sự mất cân đối giữa cung – cầu khá rõ nét, chất lượng cung qua đào tạo giảm hơn so với trước[42,tr.66] Hàng năm, Hà Nội có khoảng trên dưới 75.000 người bước vào độ tuổi lao động nhưng khả năng thu hút lao động của nên kinh tế lại có hạn [44] Trong khi đó tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu từ cuối năm 2008 đến nay, đã buộc các doanh nghiệp phải
cơ cấu lại sản xuất, sắp xếp lại lao động, tiết kiệm chi phí nhân công, cắt giảm lao động Cộng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chủ trương di dời các cơ
sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường ra khỏi nội đô của ủy ban nhân dân thành phố
Hà Nội đã làm cho một số lượng không nhỏ lao động do nhiều nguyên nhân khác nhau đã bị mất việc làm, đồi sống khó khăn, ảnh hưởng đến trật tự an sinh xã hội[42,tr.66] Bảo hiểm thất nghiệp ra đời góp phần ổn định đời sống, hỗ trợ người lao động được học nghề, tư vấn, giới thiệu việc làm nhằm sớm đưa họ trở lại với thị trường lao động
Chính sách BHTN nằm trong hệ thống an sinh xã hội là một trong những công cụ giữ nên kinh tế thị trường phát triển bền vững, là một trong những trụ cột của hệ thống an sinh xã hội, là biện pháp góp phần hỗ trợ cho người lao động
Trang 7trong nên kinh tế thị trường, đồng thời cũng làm giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước và doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và các doanh nghiệp đang gặp khó khăn về tài chính[42,tr.66]
Hà Nội là nơi tập trung số lượng lao động lớn, cũng là nơi tập trung khá đông người lao động thất nghiệp, đã thực hiện chính sách BHTN đối với nhóm lao động thất nghiệp như thế nào? Các cá nhân, tổ chức nào chịu trách nhiệm chính thực hiện hoạt động này? Và quan trọng hơn người lao động được trợ giúp thế nào trong quá trình thực hiện? Làm thế nào để nâng cao hiệu quả hoạt động chính sách? Nhằm trả lời các câu hỏi trên và tìm hiểu rõ hơn về BHTN, tôi đã
chọn hướng nghiên cứu “Quá trình thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp đối với nhóm lao động thất nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội ” làm đề tài
luận văn thạc sỹ chuyên ngành công tác xã hội của mình
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Ngay sau khi nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường, hiện tượng thất nghiệp đã bắt đầu xuất hiện và tình trạng thất nghiệp có xu hướng ngày càng gia tăng, kể cả khu vực nông thôn và thành thị Chính vì vậy, BHTN
và trợ cấp thất nghiệp đã bắt đầu thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học và nhiều nhà quản lý Mỗi một tác giả đi vào tìm hiểu, nghiên cứu ở nhiều khía cạnh và cấp độ khác nhau như:
Cuốn “Một số vấn đề cơ bản về chính sách xã hội ở Việt Nam hiện nay” do tác giả Mai Ngọc Cường chủ biên, gồm hai phần phần thứ nhất các tác giả giới thiệu khái quát về đặc điểm, mục tiêu, nguyên tắc và quá trình chính sách xã hội, cũng như hệ thống các chính sách xã hội phổ biến ở nước ta, phần thứ hai tác giả
đề cập tới thực trạng và những thành tựu đạt được cũng như hạn chế, vướng mắc của các chính sách xã hội dưới góc độ các lĩnh vực như: chính sách về thu nhập, giảm nghèo, an sinh xã hôi, bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm thất
Trang 8nghiệp….Trên cơ sở đó tác giả đã đưa ra những giải pháp và một số khuyến nghị
về xây dựng hệ thống chính sách xã hội ở Việt Nam trong những năm tới [6] Năm 1993, trong cuốn “Một số vấn đề về chính sách BHXH ở nước ta hiện nay” do nhà xuất bản lao động phát hành, tác giả Nguyễn Văn Phần đã có một bài viết với tiêu đề: “Một số ý kiến về trợ cấp thất nghiệp và trợ cấp hưu trí” Nội dung bài viết chỉ đề cập đến khái niệm về trợ cấp thất nghiệp và sự cần thiết phải
có trợ cấp thất nghiệp cho người lao động trong cơ chế thị trường [22]
Đề tài khoa học cấp bộ mã số B2000: “Tổ chức bảo hiểm thất nghiệp ở Việt
Nam trong điều kiện kinh tế thị trường” của Nguyễn Văn Định và các cộng sự
của bộ môn Kinh tế Bảo hiểm – Trường Đại học kinh tế Quốc Dân được thực hiện năm 2000 Tuy nhiên, do thời gian và kinh phí có hạn và khi đó luật BHXH chưa ra đời cho nên nội dung của đề tài này mới chỉ dừng lại ở một số nội dung chủ yếu mang tính định tính như: sự cần thiết khách quan phải triển khai BHTN
và nêu lên quan điểm chung về BHTN ở nước ta [13]
Trong cuốn sách “BHXH- những điều cần biết” do nhà xuất bản thống kê phát hành năm 2001, tác giả Nguyễn văn Kỳ đã có bài viết: “Luật BHXH và vấn
đề BHTN” Nội dung bài viết chỉ tập trung vào khía cạnh nhỏ là khi xây dựng luật BHXH ở nước ta có nên hay không nên đề cập đến vấn đề BHTN [19]
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ về “Thực trạng quản lý thu BHXH hiện nay và các biện pháp nâng cao hiệu quả công tác thu” của Nguyễn Văn Châu đã nghiên cứu, tìm hiểu kinh nghiệm quản lý thu BHXH của một số nước trên thế giới , tổng kết đánh giá thực tiễn hoạt động quản lý thu BHXH của Việt Nam giai đoạn trước năm 1995 và những năm đầu khi BHXH Việt Nam mới thành lập
và đi vào hoạt động từ 1995 đến 1996 Tác giả đã đưa ra một số khuyến nghị để đổi mới nâng cao hiệu quả công tác thu BHXH ở Việt Nam [7]
Luận án tiến sĩ của tác giả Đỗ Văn Sinh “Hoàn thiện quản lý quỹ BHXH ở Việt Nam năm 2005” Nghiên cứu vấn đề quản lý quỹ BHXH ở Việt Nam, phân
Trang 9tích đánh giá thực trạng quản lý quỹ BHXH ở Việt Nam, đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý quỹ ở Việt Nam, trong đó có quỹ BHTN Tuy nhiênmnghiên cứu này được thực hiện trong điều kiện các chế độ chính sách BHXH được xây dựng và thực thi theo điều lệ do chính phủ ban hành, chưa được bổ sung, sửa đổi theo quy định của Luật BHXH hiện hành Nhiều vấn đề mới nảy sinh trong quá trình tổ chức thực hiện trong thời kỳ mới cũng chưa được giải quyết trong các công trình nói trên [28]
Năm 2003, tại buổi hội thảo khoa học “Hoàn thiện chính sách tài chính đảm bảo an sinh xã hội” do bộ tài chính tổ chức, Đặng Anh Duệ có bài báo tham luận: “ Để xây dựng và thực hiện chế độ BHTN ở Việt Nam” Bài báo này chủ yếu tập trung nêu lên sự cần thiết phải có chế độ BHTN trong hệ thống các chế
độ BHXH ỏ Việt Nam và điều kiện để xây dựng và thực hiện chế độ này [11] Năm 2004, Nguyễn Huy Ban và các cộng sự tại BHXH Việt Nam đã thực hiện chuyên đề khoa học: “Nghiên cứu những nội dung cơ bản của BHTN hiện đại- vấn đề lựa chọn hình thức trợ cấp thất nghiệp ở Việt Nam” Trong chuyên
đề này, một số nội dung của BHTN đã bước đầu được đề cập, một số quan điểm khi lựa chọn hình thức trợ cấp thất nghiệp đã được đưa ra Vấn đề tổ chức thực hiện BHTN chưa được làm rõ [2] Ngoài ra còn một số nghiên cứu khác như:
“Cơ chế tạo nguồn và tổ chức thực hiện bảo hiểm thất nghiệp” (thực hiện năm 2003) Vụ chính sách Lao động và Việc làm, Bộ lao động thương binh và Xã hội [47]
Bài viết “Mối quan hệ giữa chế độ Bảo hiểm thất nghiệp với chế độ Bảo hiểm xã hội và giải quyết việc làm” Tạp chí Bảo hiểm xã hội, 11/2005, của Lê Thị Hoài Thu ,Bộ môn Luật Kinh doanh, Khoa Luật – ĐHQGHN đã nêu rõ hai chế độ có liên quan tới giải quyết viêc làm là rất cần thiết, Tuy nhiên bài viết còn nhiều hạn chế nặng về phân tích luật [31, tr.27-29]
Trang 10Trong bài viết “Bảo hiểm thất nghiệp – Kết quả bước đầu và những vướng mắc cần tháo gỡ” tác giả Lê Quang Trung, đã đề cập đến quá trình triển khai bảo hiểm thất nghiệp tại các địa phương và những khó khăn vướng mắc quá trình triển khai bảo hiểm thất nghiệp Bài viết đã nêu ra một số khó khăn trong quá trình triển khai bảo hiểm thất nghiệp như: Người sử dụng lao động chưa nhận thức đầy đủ về trách nhiệm của mình và chưa nắm rõ các quy định về hoàn thiện các thủ tục giấy tờ cho người lao động để đăng ký thất nghiệp và nộp hồ sơ bảo hiểm thất nghiệp như các giấy tờ chứng minh về việc chấm dứt hợp đồng lao động, làm các thủ tục chốt sổ bảo hiểm cho người lao động… Các cơ quan tổ chức chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của chính sách nên công tác thông tin tuyên truyền phổ biến ở một số địa phương còn chậm, hình thức thông tin tuyên truyền còn nghèo nàn dẫn đến một bộ phận không nhỏ người lao động, người sử dụng lao động không nắm bắt được, dẫn đến việc đăng ký thất nghiệp
và hoàn thiện hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp chậm theo quy định, ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động [32]
Trong bài viết “Một số bất cập trong thi hành pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp” tác giả Bùi Đức Hiển đã đề cập đến thực trạng thực hiện và những hạn chế của những chính sách bảo hiểm thất nghiệp Tuy nhiên, những nhận định đưa ra mới chỉ dừng lại ở việc đánh giá những quy định của quy định bảo hiểm thất nghiệp, trên cơ sở đó tác giả cũng đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện những chính sách về bảo hiểm thất nghiệp[14]
Các công trình nghiên cứu, bài viết trên mới chỉ đề cập tới lĩnh vực việc làm thất nghiệp và BHTN trong điều kiện nước ta chưa thực hiện chính sách BHTN Vì thế chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu một cách hệ thống
và toàn diện về cách thức tổ chức và triển khai BHTN ở Việt Nam, đặc biệt nội dung của BHTN chính thức được đưa vào triển khai sau hơn 5 năm Vì vậy đề
Trang 11tài: “Quá trình thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp đối với nhóm lao động thất nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội” là nghiên cứu thực sự cần thiết
3 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình thực hiện chính sách BHTN
- Khách thể nghiên cứu là người lao động thất nghiệp, cán bộ thực thi, đội ngũ lãnh đạo được thực hiện tại phòng BHTN thuộc Trung tâm giới thiệu việc làm Hà Nội
4 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Giới hạn nghiên cứu tại Hà Nội
- Về thời gian nghiên cứu: nghiên cứu dữ liệu trong khoảng thời gian
2013-2014
5 Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu bộ máy, quy trình thực hiện chính sách BHTN ở Hà Nội
- Làm rõ tình hình thực hiện chính sách BHTN trên địa bàn Hà Nội hiện nay
- Chỉ ra những khó khăn trong quá trình thực hiện chính sách BHTN mà người lao động thất nghiệp gặp phải
6 Câu hỏi nghiên cứu
- Bộ máy, quy trình thực hiện chính sách BHTN ở Hà Nội như thế nào?
- Thực tế tình hình chính sách BHTN trên địa bàn Hà Nội được thực hiện như thế nào?
- Quá trình thực hiện chính sách BHTN có những khó khăn gì?
Trang 127 Giả thuyết nghiên cứu
- Hiện nay, bộ máy và quy trình tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp được Trung tâm giới thiệu việc làm Hà Nội áp dụng phù hợp đảm bảo việc tiếp nhận và xử lý hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp kịp thời, chính xác, không ảnh hưởng đến thời gian giải quyết chế độ cho người lao động
- Kết quả thực hiện chính sách BHTN trên địa bàn Hà Nội có tác dụng lớn trong các lĩnh vực như trợ cấp thất nghiệp hàng tháng, tư vấn giới thiệu việc làm,
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1.Phương pháp phân tích tài liệu
Nghiên cứu này có các nguồn tài liệu chính được thu thập và phân tích : các công trình nghiên cứu có liên quan tới đề tài, các tài liệu, thông tin thu thập từ Internet có liên quan tới đề tài, các tài liệu thông tin kinh tế xã hội do địa phương cung cấp, tài liệu sẵn có( Bộ Lao Động Thương Binh Xã Hội- cục việc làm, bảo hiểm thất nghiệp( BHXH), Sở Lao động Hà Nội, Luật BHXH, công văn , nghị định, chỉ thị liên quan đến BHTN, báo cáo về tình hình thực hiện chính sách BHTN, báo cáo thường kỳ của những cán bộ quản lý thực thi chính sách BHTN ) Phần này sẽ giúp người nghiên cứu có cái nhìn tổng quát về tình hình BHTN của địa phương, thực trạng từ đó đưa ra các biện pháp cải thiện hiệu quả hơn
Trang 138.2 Phương pháp phỏng vấn sâu
Phương pháp phỏng vấn sâu là phương pháp phỏng vấn từng cá nhân, giúp chúng ta hiểu sâu, kĩ về các vấn đề của cá nhân cũng như ý kiến của họ Sử dụng phương pháp này nhằm thu nhận những thông tin cụ thể liên quan đến vấn đề nghiên cứu, và những đối tượng liên quan đến vấn đề nghiên cứu, tìm hiểu chi tiết về cách thức tổ chức, quản lý, thực hiện chính sách cũng như nhu cầu tâm tư, nguyện vọng của người lao động nhằm mang đến những kết quả tốt nhất cho bài nghiên cứu
Nhà nghiên cứu trong quá trình thực hiện đề tài đã tiến hành phỏng vấn sâu
cá nhân 14 người, trong đó: 05 người là những người thực hiện và quản lý chính sách; 07 người là người lao động thất nghiệp- những người trực tiếp tham gia và thụ hưởng chính sách; 02 người là doanh nghiệp- người sử dụng lao động Các kết quả phỏng vấn sâu giúp cho người đọc hiểu rõ hơn, chi tiết hơn về các vấn đề liên quan và là minh chứng cụ thể sinh động cho các số liệu nghiên cứu định lượng
8.3 Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát là phương pháp thu thập thông tin xã hội sơ cấp liên quan đến vấn đề nghiên cứu Quan sát thực trạng thái độ, hành vi của người lao động thất nghiệp Quan sát thực tế cách xử lý tình huống, cách làm việc, cách quản lý và thực hiện chính sách Đối với doanh nghiệp sẽ kết hợp quan sát trong quá trình phỏng vấn người lao động Những quan sát này góp phần làm sáng tỏ thêm những kết quả nghiên cứu định lượng mà nhà nghiên cứu thu thập được Phương pháp này được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu
Trang 149 Ý nghĩa của nghiên cứu
9.1 Ý nghĩa khoa học
Đây là đề tài nhằm áp dụng các lý thuyết khoa học để tiến hành tìm hiểu, thu thập thông tin liên quan đến chính sách BHTN và việc vận dụng vào thực tiễn Qua đây có thể kiểm nghiệm được tính thực tế của những lý thuyết này trong thực hành Tác giả hy vọng nghiên cứu này góp phần cung cấp thêm một góc nhìn mới đối với bảo hiểm thất nghiệp - một vấn đề mới ở Việt Nam
9.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần cung cấp những bằng chứng thực tiễn về quá trình thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp đối với nhóm lao động thất nghiệp trên địa bàn Hà Nội Từ đó, đề tài đưa ra những giải pháp
để nâng cao chất lượng thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp
10 Cấu trúc luận văn:
Luận văn này ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, nội dung chính chia làm 2 chương Chương 1: Cơ sở lý luận và địa bàn nghiên cứu Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp đối với người lao động thất nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội
Trang 15NỘI DUNG CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1 Các khái niệm làm việc
1.1.1 Thất nghiệp
Thất nghiệp được hiểu là tình trạng người lao động muốn có việc làm mà không tìm được việc làm (từ Hán - Việt thất: mất mát, nghiệp: việc làm) [30,tr.13] Tỷ lệ thất nghiệp là phần trăm số người lao động không có việc làm trên tổng số lực lượng lao động xã hội.Lịch sử của tình trạng thất nghiệp chính là lịch sử của công cuộc công nghiệp hóa Ở nông thôn, mặc dù có tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp một phần, làm việc ít thời gian ở nông thôn, nhưng thất nghiệp không bị coi là vấn đề nghiêm trọng [30,tr.13]
Theo John Maynard Keynes – một nhà kinh tế học được coi là có nghiên cứu khá thành công về thất nghiệp cho rằng: “Vấn đề thất nghiệp không phải là hiện tượng độc lập của nền kinh tế mà đó là kết quả của các quy luật nhất định
để đạt được sự cân bằng của hệ thống kinh tế” [30,tr.13] Theo ông nạn thất nghiệp tồn tại dưới dạng bắt buộc mà trong đó “tổng cung về lao động của những người lao động muốn làm việc với tiền lương danh nghĩa tại một thời điểm lớn hơn khối lượng việc làm hiện có” [30,tr.14]
Samuelson – một trong số các nhà kinh tế học hiện đại đã đưa ra lý thuyết mới về thất nghiệp: “Đó là hiện tượng người có năng lực lao động không có cơ hội tham gia lao động xã hội, bị tách khỏi tư liệu sản xuất Và trong nền kinh tế thị trường, luôn luôn tồn tại một bộ phận người lao động bị thất nghiệp Tỷ lệ thất nghiệp cao hay thấp phụ thuộc rất nhiều vào khả năng giải quyết việc làm của Chính phủ và sự đấu tranh của giới thợ đối với giới chủ” [30,tr.14]
Các quan điểm khác nhau đúng theo những cách khác nhau đã góp phần đưa ra một cái nhìn toàn diện về thất nghiệp
Trang 16ILO đã đưa ra bốn tiêu chí cơ bản để xác định người thất nghiệp đó là: trong độ tuổi lao động; có khả năng lao động đang không có việc làm, đang đi tìm việc làm Nhìn chung, các tiêu chí này mang tính khái quát cao, đã được nhiều nước tán thành và lấy làm cơ sở để vận dụng tại quốc gia mình khi đưa ra những khái niệm về người thất nghiệp [30,tr.14] Ví dụ như: Trong Luật bảo hiểm thất nghiệp ở CHLB Đức (1969) định nghĩa: “Người thất nghiệp là người lao động tạm thời không có quan hệ lao động hoặc chỉ thực hiện công tác ngắn hạn” Ở Trung Quốc người thất nghiệp là: “Người trong độ tuổi lao động, có sức lao động, mong muốn tìm việc nhưng không có việc” Ở Pháp, người thất nghiệp
“là người không có việc làm, có điều kiện làm việc và đang tìm việc làm” [30,tr.14]
Việc đưa ra một khái niệm hoàn chỉnh về “người thất nghiệp” là rất quan trọng, từ đây sẽ tạo một cơ sở chung giúp cơ quan Nhà nước có những thống kê chính xác về tình trạng thất nghiệp, và đề ra những chính sách khắc phục tình trạng thất nghiệp và những hậu quả của nó phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của quốc gia Ở Việt Nam từ khi chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước, thuật ngữ “thất nghiệp” được đề cập đến trong những văn kiện quan trọng của Đảng và Nhà nước ta (khởi đầu là Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII) và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam giai đoạn 2001- 2010, giai đoạn 2010 -2020 [30,tr.15]
Tại khoản 4 điều 3 Luật BHXH năm 2006 thì “người thất nghiệp” là:
“người đang đóng bảo hiểm thất nghiệp mà bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc nhưng chưa tìm được việc làm” [25,tr.3] Như vậy, có thể tham khảo các tiêu chí của ILO để xây dựng khái niệm về người thất nghiệp theo hướng toàn diện hơn, chẳng hạn: Người thất nghiệp là người trong độ tuổi lao động và có khả năng làm việc, hiện không có việc làm đem lại thu nhập, đang tích cực tìm việc và sẵn sàng làm việc
Trang 171.1.2 Bảo hiểm thất nghiệp
Bảo hiểm thất nghiệp là chế độ nhằm bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi bị mất việc làm, hỗ trợ người lao động học nghề, duy trì việc làm, tìm việc làm trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp [26,tr.1]
Nguồn tài chính hỗ trợ cho người thất nghiệp được lấy từ quỹ BHTN Quỹ BHTN là quỹ tiền tệ tập trung, được hình thành từ sự đóng góp của các bên tham gia BHTN, theo nguyên tắc cộng đồng chia sẻ rủi ro, không vì mục đích lợi nhuận Quỹ này được dùng để trợ cấp cho người lao động bị thất nghiệp, nhằm đảm bảo ổn định đời sống cho họ và gia đình [26,tr.18]
Ở đây có một số điểm cần nhấn mạnh: Một là, mức hỗ trợ thu nhập dựa trên
cơ sở đóng góp của người lao động trước khi bị thất nghiệp; Hai là, người lao động tham gia BHTN, khi thất nghiệp sẽ được hỗ trợ tư vấn giới thiệu việc làm, đào tạo nghề để có thể sớm tìm được việc làm, gia nhập lại thị trường lao động Bên cạnh việc hỗ trợ một khoản tài chính đảm bảo ổn định cuộc sống cho người lao động trong thời gian mất việc làm thì mục đích chính của BHTN là thông qua các hoạt động đào tạo nghề, tư vấn, giới thiệu việc làm, sớm đưa những lao động thất nghiệp tìm được việc làm mới thích hợp và ổn định
Như vậy, Bảo hiểm thất nghiệp là sự hỗ trợ một phần thu nhập cho người lao động bị mất thu nhập do thất nghiệp và hỗ trợ họ sớm quay trở lại thị trường
lao động
1.1.3.Chính sách bảo hiểm thất nghiệp
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam“ Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể
để thực hiện đường lối, nhiệm vụ, chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó, bản chất nội dung và phương hướng của chính sách này tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội….” [33,tr.104]
Trang 18Từ điển Bách khoa Việt Nam xác định“ Chính sách xã hội là một bộ phận cấu thành chính sách chung của một chính đảng hay chính quyền nhà nước trong việc giải quyết và quản lý các vấn đề xã hội Chính sách xã hội phải hướng tới sự công bằng xã hội, bảo đảm sự bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các thành phần kinh tế trước pháp luật” [33,tr.106]
Chính sách xã hội thực chất là một hệ thống các chính sách Mỗi chính sách xã hội có đối tượng, phạm vi, nội dung điều chỉnh nhất định và nhằm vào mục tiêu nhất định trong việc giải quyết một vấn đề xã hội đặt ra Chính sách BHTN mang đầy đủ những đặc trưng của chính sách xã hội và là một hợp phần quan trọng của hệ thống chính sách xã hội Có thể hiểu chính sách BHTN là một trong những chính sách an sinh xã hội, thực hiện chức năng hỗ trợ phần thu nhập
của NLĐ khi bị mất việc làm
1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu
1.2.1 Lý thuyết hệ thống:
Người có công khởi sướng lý thuyết hệ thống tổng quát là Ludwig von Bertalanffy(1901-1972) nhà sinh vật học người Áo, một nội dung cơ bản của lý thuyết tổng quát là sự phát hiện và làm rõ đặc điểm, tính chất của các hệ thống đóng và các hệ thống mở [29,tr.1]
Bertalanffy định nghĩa: một hệ thống đóng là khi hệ thống không có vật chất nào xâm nhập vào hay không có vật chất nào thoát ra khỏi nó Một hệ thống
mở là khi hệ thống có dòng vào và dòng ra và nhờ vậy có sự biến đổi của các vật chất hợp thành Với định nghĩa như vậy, hệ thống đóng là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của vật lý học và hóa học vô cơ Còn hệ thống mở là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của khoa học về các hệ thống sống, của khoa học xã hội và khoa học nhân văn Lý thuyết nhấn mạnh các thuộc tính như tính tự điều tiết, tự tổ chức rất cần được phát huy để đối phó với những rủi ro như sự vô cảm, vô trách nhiệm có thể xảy ra trong quá trình phân hóa và biến đổi xã hội [29,tr.4]
Trang 19Trong tiến trình thực hiện công tác xã hội, nhân viên công tác xã hội phải vận dụng rất nhiều kỹ năng Lý thuyết hệ thống chính là một lý thuyết cơ bản được vân dụng trong công tác xã hội
Đại diện cho những người theo thuyết này là Hasson, macoslee, Siporin Trong đó 2 tác phẩm nổi tiếng về ứng dụng những quan điểm hệ thống trong thực hành công tác xã hội là Goldstein, Pincus, minahan ( Phạm Huy Dũng, 2009) Những hệ thống mà nhân viên công tác xã hội làm việc là những
hệ thống đa dạng: hệ thống gia đình, cộng đồng, xã hội Hay còn được phân thành các loại hệ thống như sau: Hệ thống tự nhiên: gia đình, bạn bè, người đưa thư ; Hệ thống chính thức: nhóm cộng đồng, tổ chức công đoàn ; Hệ thống xã hội: bệnh viện, trường học, các thiết chế xã hội, hay hệ thống chính sách [17, tr.87]
Lý thuyết hệ thống trong công tác xã hội ứng dụng các khái niệm về hệ thống nói chung coi mỗi hệ thống có một ranh giới nhất định, một hệ thống có thể bao gồm các hệ thống phụ và nằm trong một hệ thống lớn hơn; các hệ thống
có thể trao đổi với nhau (hệ thống mở) hay khép kín (hệ thống đóng); một tác động đầu vào sẽ dẫn tới một sản phẩm đầu ra qua hệ thống, một hệ thống có thể
ổn định hay biến động [17, tr.86]
Theo định nghĩa của lý thuyết công tác xã hội hiện đại:“ Hệ thống là một tập hợp các thành tố được sắp xếp có trật tự và liên hệ với nhau để hoạt động thống nhất” Lý thuyết này nói lên mối liên kết tất yếu trong mạng xã hội các cá nhân và đoàn thể vì không ai có thể tồn tại riêng lẻ mà phụ thuộc vào những hệ thống trong môi trường xã hội trực tiếp của họ như tổ chức đoàn thể, đồng nghiệp… Vì vậy, công tác xã hội chú trọng tới hệ thống như vậy
Lý thuyết hệ thống là một trong những lý thuyết quan trọng được sử dụng trong công tác xã hội, đặc biệt khi nghiên cứu về hoạt động chính sách cũng như các hệ thống hỗ trợ xung quanh Bởi nó cho nhân viên công tác xã hội biết rằng
Trang 20người lao động đang gặp những vấn đề gì hoặc có nhu cầu, mong muốn nào đối với chính sách… Những hệ thống mà nhân viên công tác xã hội làm việc là những hệ thống xã hội, hệ thống cơ quan đoàn thể chịu trách nhiệm quản lý, thực hiện chính sách, hệ thống truyền thông… Vấn đề xã hội này xảy ra khi thân chủ không tiếp cận được hoặc gặp vấn đề khi tiếp cận với những hệ thống trên Vận dụng lý thuyết hệ thống vào đề tài nghiên cứu để tìm hiểu hệ thống chính sách bảo hiểm thất nghiệp Hệ thống chính sách bảo hiểm thất nghiệp nằm trong hệ thống bảo hiểm xã hội, cũng là một trong những hệ thống an sinh xã hội
có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, giúp người lao động tiếp cận và sử dụng hệ thống mà họ đang có được tốt hơn, giúp tăng cường sự thông tin, qua lại giữa những hệ thống xung quanh
1.2.2 Lý thuyết nhu cầu Maslow
Abraham Maslow (1908 – 1970), nhà tâm lý học người Mỹ, được thế giới biết đến như là nhà tiên phong trong trường phái Tâm lý học nhân văn (humanistic psychology) bởi hệ thống lý thuyết về thang nhu cầu (Hierachy of Needs) của con người Ngay từ sau khi ra đời, lý thuyết có tầm ảnh hưởng khá rộng rãi và được ứng dụng rất nhiều ở lĩnh vực khoa học [17, tr.83]
Vào thời điểm đầu tiên của lý thuyết, Maslow đã sắp xếp các nhu cầu của con người theo 5 cấp bậc: Nhu cầu cơ bản (basic needs): ăn uống, hít thở không khí…Nhu cầu về an toàn (safety needs): tình yêu thương, nhà ở, việc làm…Nhu cầu về xã hội (social needs): nhu cầu được hòa nhập Nhu cầu được quý trọng (esteem needs): được chấp nhận có vị trí trong một nhóm người, cộng đồng, xã hội…Nhu cầu được thể hiện mình (self-actualizing): nhu cầu được hoàn thiện, phát triển trí tuệ, được thể hiện khả năng và tiềm lực của mình [17,tr.83]
Theo Maslow, về căn bản, nhu cầu của con người được chia làm hai nhóm chính sau: nhu cầu cơ bản (basic needs) và nhu cầu bặc cao (meta needs) Nhu cầu cơ bản liên quan đến các yếu tố thể lý của con người như mong muốn có đủ thức ăn, nước uống, được ngủ nghỉ… Những nhu cầu cơ bản này đều là các nhu
Trang 21cầu không thể thiếu hụt vì nếu con người không được đáp ứng đủ những nhu cầu này, họ sẽ không tồn tại được nên họ sẽ đấu tranh để có được và tồn tại trong cuộc sống hàng ngày Các nhu cầu cao hơn nhu cầu cơ bản trên được gọi là nhu cầu bậc cao Những nhu cầu này bao gồm nhiều nhân tố tinh thần như sự đòi hỏi công bằng, an tâm, vui vẻ, địa vị xã hội sự tôn trọng, vinh danh với một cá nhân… Các nhu cầu cơ bản thường được ưu tiên chú ý trước so với những nhu cầu bậc cao này Hệ thống nhu cầu của Maslow được thể hiện dưới hình kim tự tháp
Thang bậc nhu cầu này của Maslow ứng dụng vào đề tài nghiên cứu này để tìm hiểu và kiểm chứng khả năng đáp ứng nhu cầu của những người thực hiện và quản lý chính sách BHTN đối với nhóm đối tượng là người lao động thất nghiệp,
và để xem chính sách đó đã đáp ứng được đến đâu trong số những nhu cầu của
họ, đồng thời cũng là tìm hiểm những nhu cầu và mong muốn của chính những người thụ hưởng chính sách
1.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về việc thực hiện an sinh xã hội
Ngay sau cách mạng Tháng 8 thành công, một trong những công việc quan trọng của chính quyền lúc bấy giờ là quan tâm đến đời sống thợ thuyền, theo đó, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách về an sinh xã hội Cụ thể, ngày 01/11/1945 Hồ Chủ tịch đã ký Sắc lệnh số 54 ấn định những điều kiện cho công chức về hưu[53]; Sắc lệnh số 105 ngày 14/6/1946 của chính phủ về cấp hưu bổng cho những công chức bị về hưu do không còn đủ điều kiện làm việc, hoặc
do tự ý xin nghỉ việc[53]; Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về quy chế công chức[53]; Điều 14, Hiến Pháp
1946 của nước Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Quốc hội thông
qua ngày 9/11/1946: "Những người công dân già cả hoặc tàn tật không làm được việc thì được giúp đỡ Trẻ con được săn sóc về mặt giáo dưỡng” [53]
Trang 22Có thể nói, đây là những tiền đề quan trọng của chính sách về ASXH của nước ta sau này, tạo nền tảng cho sự hình thành, ra đời của hệ thống chính sách BHXH ở Việt Nam
Với phương châm tất cả vì hạnh phúc của nhân dân, Đảng và Nhà nước đã tiếp tục ban hành các chính sách liên quan đến an sinh xã hội như: "Giúp đỡ những người mất việc làm, khi ốm đau, tai nạn, hoặc làm những việc công ích…"; sửa sang cách sinh hoạt của công nhân cho khá hơn bây giờ, để giữ gìn quyền lợi cho công nhân; Chủ trương "Tổ chức tất cả vô sản giai cấp vào Công hội, thực hành bảo hiểm cho thợ thuyền thất nghiệp", "Đối với công nhân, ngày làm việc tám giờ, định tiền lương tối thiểu; cứu thế thất nghiệp; xã hội bảo hiểm; lập các giấy giao kèo giữa chủ và thợ, công nhân già có lương hưu trí "[53] Đây là những văn bản hết sức giá trị, được áp dụng trên cả nước BHXH, BHYT được xác định là những chính sách quan trọng giữ vai trò trụ cột chính trong hệ thống chính sách an sinh xã hội Từ nhiều năm nay, Đảng
và Nhà nước ta đã luôn quan tâm đến lĩnh vực này Trong vòng chưa đầy 15 năm
kể từ năm 1997 đến cuối năm 2012, Trung ương Đảng đã liên tiếp ban hành 03 văn kiện quan trọng thể hiện quan điểm lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT Cụ thể, ngày 26/5/1997, Bộ Chính trị ra Chỉ thị 15-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng thực hiện chính sách BHXH[53]; ngày 07/09/2009, Ban Bí thư TW Đảng, ban hành Chỉ thị 38-CT/TW về đẩy mạnh công tác BHYT trong tình hình mới[53]; ngày 1/6/2012, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 15-NQ/TW nêu rõ đến năm 2020 sẽ cơ bản hình thành hệ thống an sinh xã hội bao phủ toàn dân, trong đó, bảo đảm người dân có việc làm, thu nhập tối thiểu[53]; tham gia BHXH, bảo đảm hỗ trợ người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; bảo đảm người dân tiếp cận được các dịch vụ xã hội cơ bản ở mức tối thiểu, góp phần từng bước nâng cao thu nhập, bảo đảm cuộc sống an toàn, bình đẳng và hạnh phúc của nhân dân [53]
Trang 23Ngày 22/11/2012, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012-2020[53] Qua đó, thể hiện quyết tâm rất lớn của Đảng và Nhà nước trong việc xây dựng nền an sinh xã hội vững bền, thực hiện có hiệu quả các chính sách, chế độ BHXH, BHYT; tăng nhanh diện bao phủ đối tượng tham gia BHXH, nhất là BHXH tự nguyện; thực hiện mục tiêu BHYT toàn dân Phấn đấu đến năm 2020, có khoảng 50% lực lượng lao động tham gia BH thất nghiệp; trên 80% dân số tham gia BHYT Sử dụng an toàn và bảo đảm cân đối Quỹ BHXH trong dài hạn quản lý, sử dụng có hiệu quả và bảo đảm cân đối Quỹ BHYT Xây dựng hệ thống BHXH, BHYT hiện đại, chuyên nghiệp, hiệu quả cao, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa Trong hai nhiệm kỳ XI, XII, Quốc hội đã thông qua 2 bộ Luật quan trọng, đó là Luật BHXH được thông qua tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội Khóa XI ngày 29/6/2006 và Luật BHYT được thông qua tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội Khóa XII ngày 14/11/2008 [53] Qua đó, đã tăng độ bao phủ, đáp ứng được nguyện vọng của người lao động và nhân dân cả nước Tính đến nay, cả nước đã có 11,66 triệu người tham gia BHXH bắt buộc; 65,2 triệu người tham gia BHYT; 9,85 triệu người tham gia BH thất nghiệp Từ năm 1995 đến nay, đã giải quyết cho trên 1,6 triệu người hưởng chế độ BHXH thường xuyên; gần 70 triệu lượt người hưởng trợ cấp một lần và các chế độ ngắn hạn khác; chi trả kịp thời lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho trên 2,7 triệu người Từ năm 2003 đến 2014, đảm bảo quyền lợi BHYT cho trên 994 triệu lượt người, trong đó chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2015 đã thanh toán chi phí KCB BHYT cho trên 10,3 triệu lượt người trong 7 tháng đầu năm 2015, toàn ngành giải quyết chế độ BHXH cho 4.372.909 lượt người… [53]
Với việc Quốc hội khóa XIII tại các kỳ họp thứ 7 và thứ 8 thông qua Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT và Luật BHXH (sửa đổi), có thể khẳng định năm 2014 đã để lại dấu ấn quan trọng trong tiến trình xây dựng sự nghiệp an sinh xã hội của nước ta [53] Đây được coi là dấu mốc lớn trong việc
Trang 24hoàn thiện cơ chế chính sách về BHXH, BHYT, và về cơ bản, 02 Bộ Luật này đã tạo khung pháp lý nhằm điều chỉnh kịp thời các chính sách BHXH, BHYT, BHTN[53]
Chúng ta tin tưởng chắc chắn rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, chính sách
về an sinh xã hội mà trọng tâm là chính sách BHXH, BHYT, BHTN sẽ ngày càng được thực hiện tốt hơn Đời sống dân sinh và hạnh phúc của mọi người, mọi nhà sẽ được chăm lo ngày càng nhiều hơn
1.4 Khái quát điều kiện kinh tế xã hội của Hà Nội
1.4.1.Điều kiện tự nhiên
Thủ đô Hà Nội sau khi được mở rộng có diện tích tự nhiên 334.470,02 ha, lớn gấp hơn 3 lần trước đây và đứng vào tốp 17 Thủ đô trên thế giới có diện tích rộng nhất; dân số tăng hơn gấp rưỡi, hơn 6,2 triệu người, hiện nay là hơn 7 triệu người; gồm 30 đơn vị hành chính cấp quận, huyện, thị xã, 577 xã, phường, thị
trấn [44]
Hiện nay, thủ đô Hà Nội là đô thị loại đặc biệt của Việt Nam Hà Nội nằm giữa đồng bằng sông Hồng trù phú, nơi đây đã sớm trở thành một trung tâm chính trị và tôn giáo ngay từ những buổi đầu của lịch sử Việt Nam Năm 1010,
Lý Công Uẩn, vị vua đầu tiên của nhà Lý, quyết định xây dựng kinh đô mới ở vùng đất này với cái tên Thăng Long [43]
Với vị trí và địa thế đẹp, thuận lợi, Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá và khoa học lớn, đầu mối giao thông quan trọng của Việt Nam
Trang 25Bản đồ địa giới Hành chính Hà Nội
1.4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Kinh tế thủ đô Hà Nội có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế đất nước Những thành tựu đã đạt được của Hà Nội trong năm vừa qua và cùng hướng tới
một năm mới với niềm tin Hà Nội sẽ tiếp tục đạt được nhiều thành tựu mới
Hiện nay, Hà Nội là hai trung tâm kinh tế - xã hội đặc biệt quan trọng của Việt Nam Năm 2012, sau khi mở rộng, GDP của thành phố tăng khoảng 8,1%
so với năm 2011 tổng thu ngân sách khoảng 85,5 tỷ đồng Hà Nội cũng là một trung tâm văn hóa, giáo dục với các nhà hát, bảo tàng, các làng nghề truyền thống, những cơ quan truyền thông cấp quốc gia và các trường đại học lớn Năm
2010 mức độ tăng trưởng gấp 1,5 lần so với 6,7% của năm 2009, xấp xỉ con số 10,9% năm 2008 và 11,2 năm 2007 [44]
Trang 26Tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP) Hà Nội quý 4/2012 ước tăng 8,6 và cả năm 2012 đạt 8,1%, thấp hơn chỉ tiêu kế hoạch và mức tăng cùng kỳ của các năm trước Cụ thể, theo kế hoạch đề ra từ đầu năm, GDP năm 2012 là 10 - 10,5%, còn mức cùng kỳ các năm 2010, 2011 tương ứng là 11,07% và 10,14% Riêng GDP quý 1, 2, 3/2012 tương ứng tăng 7,3% và 7,9% và 8,5% [44]
Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của thành phố thời kỳ 1991–1995 đạt 12,52%, thời kỳ 1996–2000 là 10,38% Từ năm 1991 tới 1999, GDP bình quân đầu người của Hà Nội tăng từ 470 USD lên 915 USD, gấp 2,07 so với trung bình của Việt Nam Theo số liệu năm 2010, GDP của Hà Nội chiếm 12,73% của cả quốc gia và khoảng 41% so với toàn vùng Đồng bằng sông Hồng Trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2011, Hà Nội xếp ở vị trí thứ 36/63 tỉnh thành Năm 2012, Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Hà Nội xếp thứ 51/63 tỉnh thành [44]
Sự phát triển của Hà Nội đã có những thay đổi về cơ cấu kinh tế Ngành dịch vụ tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn với 45,23 nghìn tỷ đồng, tương đương 52% GDP thủ đô Đây cũng là ngành đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng GDP cả năm với mức tăng trưởng 9,32% Nông, lâm và thủy sản gần như “đứng chân tại chỗ” với mức tăng trưởng so với 2011 vỏn vẹn 0,4%.Giá trị tăng thêm ngành công nghiệp - xây dựng năm 2012 tăng 7,7% (đóng góp 3,3% vào mức tăng chung) Chia theo nhóm ngành cấp 1, hoạt động tài chính – tín dụng tuy chỉ đóng góp trên 4,1 nghìn tỷ đồng vào GRDP nhưng mức tăng trưởng đạt khá cao với 10,97% so với năm 2011 Vận tải kho bãi, bưu điện đóng góp 12,94 nghìn tỷ đồng và có mức tăng kỷ lục 11,03% Ngành công nghiệp của Hà Nội vẫn tập trung vào 5 lĩnh vực chính, chiếm tới 75,7% tổng giá trị sản xuất công nghiệp, là cơ–kim khí, điện - điện tử, dệt – may - giày, chế biến thực phẩm và công nghiệp vật liệu Bên cạnh đó, nhiều làng nghề truyền thống như gốm Bát Tràng, may
ở Cổ Nhuế, đồ mỹ nghệ Vân Hà cũng dần phục hồi và phát triển [44]
Trang 27Sau 5 năm mở rộng địa giới hành chính, GDP đầu người của người dân thủ
đô tăng từ 1.697 USD năm 2008 lên 2.257 USD năm 2012, tăng 1,3 lần so với năm 2008 [43]
Hà Nội là một trong những địa phương nhận được đầu tư trực tiếp từ nước ngoài nhiều nhất, với 1.681,2 triệu USD và 290 dự án Thành phố cũng là địa điểm của 1.600 văn phòng đại diện nước ngoài, 14 khu công nghiệp cùng 1,6 vạn cơ sở sản xuất công nghiệp Nhưng đi đôi với sự phát triển kinh tế, những khu công nghiệp này đang khiến Hà Nội phải đối mặt với nạn thất nghiệp Bên cạnh những công ty nhà nước, các doanh nghiệp tư nhân cũng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Hà Nội Năm 2003, với gần 300.000 lao động, các doanh nghiệp tư nhân đã đóng góp 77% giá trị sản xuất công nghiệp của thành phố Ngoài ra, 15.500 hộ sản xuất công nghiệp cũng thu hút gần 500.000 lao động Tổng cộng, các doanh nghiệp tư nhân đã đóng góp 22% tổng đầu tư xã hội, hơn 20% GDP, 22% ngân sách thành phố và 10% kim ngạch xuất khẩu của Hà Nội [44]
Thành phố Hà Nội với đặc điểm dân số và trình độ phát triển như vậy vẫn thiếu lao động có trình độ chuyên môn cao, cơ cấu và chất lượng nguồn lao động chưa dịch chuyển theo yêu cầu cơ cấu ngành kinh tế, vấn đề thất nghiệp của người lao động vẫn thường xuyên xảy ra Vì vậy, Hà Nội đang phải đối đầu với vấn đề khó khăn đó là vấn đề thất nghiệp, hệ quả tiêu cực tất yếu từ thất nghiệp đến xã hội, đến người lao động là rất lớn
Trang 28CHƯƠNG 2 :THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM
THẤT NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1 Khái quát về chính sách bảo hiểm thất nghiệp
2.1.1 Nội dung của chính sách bảo hiểm thất nghiệp
Công ước đầu tiên về giải quyết tình trạng thất nghiệp mang tính toàn cầu
là công ước về thất nghiệp C2 được chính phủ Mỹ soạn thảo tại Washington
ngày 29/10/1919 Theo mục 2 của chương trình nghị sự tại phiên họp đầu tiên của tổ chức lao động quốc tế ILO đã thông qua ngày 28/11/1919 “ Công ước thất C2” (Unemployment Convention C2, 1919 ) có hiệu lực thi hành đối với các thành viên của tổ chức lao động quốc tế ILO vào ngày 14/7/1921 [39, tr.1]
Công ước C2 đã đề cập đến việc các thành viên của tổ chức lao động quốc
tế ILO phải thành lập một hệ thống đại diện việc làm công cộng ( Ủy ban thường trực) để thực hiện việc tư vấn về các lĩnh vực liên quan đến vấn đề việc làm có đại diện bao gồm các đại diện của các chủ sử dụng lao động và người lao động, hình thành hệ thống bảo hiểm chống thất nghiệp, áp dụng cả với các nước thuộc địa và các nước bị bảo hộ và các nước thành viên phải có trách nhiệm thông báo với tổ chức lao động quốc tế ILO về việc thực hiện trợ cấp này ở các nước nói trên [39, tr.2]
Đến năm 1934 tại hội nghị ban điều hành của tổ chức lao động quốc tế ILO ngày 23/6/1924 đã đề ra công ước C44 về “phòng chống thất nghiệp” (Unemployment Provision Convention C44, 1934) và công ước này có hiệu lực
từ ngày 10/6/1938 đã quy định rất cụ thể các mục tiêu bảo vệ người lao động trong tình trạng bị thất nghiệp Từ những năm 1934, tổ chức lao động quốc tế ILO đã nghiên cứu ra một số nguyên tắc mang tính định hướng trong việc thực hiện bảo hiểm thất nghiệp nhằm ngăn chặn tình trạng lạm dụng bằng việc chờ hưởng quỹ bảo hiểm thất nghiệp và khuyến khích người lao động tìm kiếm việc làm nhằm phát triển kinh tế chung của quốc gia [40, tr.1]
Trang 29Hình thức tổ chức thực hiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp có thể là: Hệ thống bảo hiểm bắt buộc, hệ thống bảo hiểm thất nghiệp tự nguyện, hệ thống kết hợp cả hai hình thức tự nguyện và bắt buộc hoặc áp dụng bất kỳ một trong các
hệ thống nói trên kết hợp với một hệ thống bổ sung Đặc biệt công ước C4 quy định rõ đối tượng áp dụng bảo hiểm thất nghiệp bao gồm chủ yếu là các cá nhân làm công ăn lương thường xuyên và một số trường hợp ngoại lệ [40, tr.2]
Theo quy định tối thiểu của công ước bảo đảm xã hội( Các chuẩn mực tối thiểu) C102, 1952 tiền trợ cấp thất nghiệp chỉ thực hiện cho những người lao động(… Bị gián đoạn thu nhập nhưng pháp luật quốc gia quy định và xảy ra do không thể có được một công việc thích hợp, trong khi người lao động được bảo
vệ có khả năng làm việc và sẵn sang làm việc) Theo công ước C102 đã có một
số điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp thay đổi so với quy định của công ước C44: Giảm số ngày chờ hưởng trợ cấp thất nghiệp thay đổi xuống còn 7 ngày và
số thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp [41, tr.6-7]
Đại hội của các nước thành viên tổ chức lao động quốc tế ILO đã thông qua công ước C168 về “Xúc tiến hỗ trợ và bảo vệ chống thất nghiệp’’(Employment Promotion and Against Unemployment Convention, C168,1988) ngày 21/6/1988 Công ước C168 có hiệu lực thực hiện từ ngày 17/10/1991 Chương trình trợ cấp thất nghiệp chỉ thực hiện với những người bị thất nghiệp bắt buộc một trong những giải pháp tích cực trước mắt là đầu tư để tạo ra chỗ làm việc mới Tùy theo thực tiễn và pháp luật hoặc quy định quốc gia mỗi nước thành viên sẽ cố gắng thiết lập chương trình đặc biệt để khuyến khích những cơ hội có việc làm thêm và sự trợ giúp việc làm [41, tr.7]
Điều 2 công ước 168 đã nêu: “Trợ cấp mà người được bảo vệ được quyền hưởng khi thất nghiệp sẽ bị từ chối, hủy bỏ trì hoãn hoặc cắt giảm tùy mức độ khi đương sự từ chối không nhận việc làm thích hợp” Khi đánh giá mức độ phù hợp của công việc trong những điều kiện quy định và ở mức độ thích hợp, đặc
Trang 30biệt phải tính đến độ tuổi của người thất nghiệp, thời gian làm việc trước đó, kinh nghiệm làm việc, thời gian thất nghiệp, tình hình thị trường lao động, ảnh hưởng của việc thất nghiệp đối với tình hình gia đình và bản thân, và khi không
có chỗ làm việc như là một hậu quả trực tiếp của vấn đề ngừng việc do tranh chấp lao động đang xảy ra [41, tr.9]
Điều 22 công ước 168 đã nêu: “Khi người lao động được bảo vệ đã nhận được tiền trực tiếp từ người sử dụng lao động hoặc bất cứ từ nguồn nào mà pháp luật hoặc quy định quốc gia quy định hay bằng thỏa ước tập thể, mục đích chính của khoản tiền này là góp phần bồi thường những thiệt hại về thu nhập do việc thất nghiệp hoàn toàn gây ra Trợ cấp thất nghiệp mà đơn sự nhận có thể tạm ngừng trong thời gian có khoản tiển đền bù thiệt hại mà đương sự phải chịu Khoản tiền này có thể bị cắt giảm tùy theo mức tương ứng với giá trị quy ra tiền của trợ cấp thất nghiệp mà đương sự có quyền hưởng trong thời gian mà khoản tiền đền bù thiệt hại đương sự phải chịu, tùy theo quy định của mỗi nước thành viên” [41, tr.9]
Bảo hiểm thất nghiệp là một chính sách mới của chính phủ Việt Nam nhằm
hỗ trợ người lao động bị thất nghiệp vượt qua những khó khăn trong giai đoạn mất việc làm thông qua việc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động đồng thời giúp người lao động nâng cao kỹ năng nghề nghiệp và nhanh chóng tái hòa nhập thị trường lao động Bên cạnh đó, người lao động bị thất nghiệp cũng được hưởng chế độ bảo hiểm y tế Quỹ bảo hiểm thất nghiệp bắt đầu có thu từ 01/01/2009 và tiến hành chi trả các chế độ cho người lao động bị thất nghiệp đáp ứng đầy đủ các điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp từ ngày 01/01/2010 [8, tr.19]
Việc quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp được giao cho Bộ lao động thương binh và xã hội, trực tiếp là Cục Việc làm thực hiện Bảo hiểm xã hội Việt Nam đảm nhận công tác thu và thanh toán các chế độ BHTN cho người lao động Tại mỗi tỉnh, Trung tâm Giới thiệu việc làm trực thuộc Sở Lao động
Trang 31thương binh xã hội thành lập phòng BHTN để thực hiện các nhiệm vụ được giao với sự hỗ trợ của bộ phận BHTN thuộc Cục Việc làm [8, tr.6]
Chính sách BHTN áp dụng bắt buộc đối với người lao động ( NLĐ) và người sử dụng lao động (NSDLĐ); có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 1 năm 2009[25] Vấn đề BHTN hiện đang được điều chỉnh cơ bản bởi Nghị định số 127/2008 NĐ – CP được Chính phủ ban hành ngày 12/12/2008 quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp[9] Nghị định100/2012/NĐ-CP sửa đổi bổ sung một số điều về bảo hiểm thất nghiệp trong văn bản được ban hành trước đó Nghị định 127/2008/NĐ-CP[8] Thông tư 04/2013/TT-BLĐTBXH về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 32/2010/TT-BLĐTBXH ngày 25/10/2010 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp[4]
Về đối tượng đóng bảo hiểm thất nghiệp:
“ Đối với người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp là công dân Việt Nam giao kết các loại hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc với người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo các loại hợp đồng sau: Hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng, hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng làm việc xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng, hợp đồng làm việc không xác định thời hạn, kể cả những người được tuyển dụng vào làm việc tại các đơn vị sự nghiệp của nhà nước trước ngày nghị định số 116/ 2003/ NĐ – CP ngày 10/10/2003 của chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ công chức trong các đơn vị sự nghiệp nhà nước có hiệu lực” [8,tr.1-2]
“ Đối với người sử dụng lao động có sử dụng từ 10 người lao động trở lên tại các cơ quan đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp sau đây: Cơ quan nhà nước, đơn vị
sự nghiệp của nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức
Trang 32chính trị xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội nghề nghiệp, đơn vị sự nghiệp thuộc tổ chức chính trị, đơn vị sự nghiệp thuộc tổ chức chính trị xã hội và các tổ chức xã hội khác, doanh nghiệp thành lập hoạt động theo luật doanh nghiệp, luật đầu tư, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thành lập và hoạt động theo luật hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và
cá nhân có thuê mướn, sử dụng và trả công cho người lao động, cơ quan tổ chức
cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam có sử dụng lao động là người Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác” [8,tr.2] Như vậy, có thể hiểu rằng người lao động có hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc từ đủ 12 tháng trở lên hoặc không xác định thời hạn nhưng phải đang làm việc cho người sử dụng lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp mới thực hiện đóng bảo hiểm thất nghiệp
Về điều kiện được hưởng chế độ bảo hiểm thất nghiệp: Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ 12 tháng trở lên trong vòng 24 tháng trước khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật lao động hoặc chấm dứt hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật về cán bộ công chức,
đã đăng ký thất nghiệp với tổ chức bảo hiểm xã hội, chưa tìm được việc làm sau
15 ngày kể từ ngày đăng ký thất nghiệp với tổ chức bảo hiểm xã hội [8,tr 10]
Về các chế độ của bảo hiểm thất nghiệp: Theo quy định của pháp luật bảo hiểm thì người lao động khi bị thất nghiệp sẽ được hưởng bốn chế độ bao gồm: 1) Trợ cấp thất nghiệp, 2) Hỗ trợ học nghề, 3) Hỗ trợ tìm việc và 4) Bảo hiểm y
tế ( Nếu đáp ứng đủ các điều kiện hưởng chế độ bảo hiểm thất nghiệp theo quy định):
1/ Trợ cấp thất nghiệp: mức trợ cấp thất nghiệp hàng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của sáu tháng liền kề trước khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, chấm dứt hợp đồng làm việc Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng phụ thuộc
Trang 33vào thời gian làm việc có đóng bảo hiểm thất nghiêp của người lao động và tổng thời gian được hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng được tính như sau: 03 tháng nếu có từ đủ 12 tháng đến dưới 36 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp, 06 tháng nếu có từ đủ 36 tháng đến dưới 72 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp, 09 tháng nếu có từ đủ 72 tháng đến dưới 144 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp, 12 tháng nếu có từ đủ 144 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp trở lên [8,tr.10]
2/ Hỗ trợ học nghề: mức hỗ trợ học nghề cho người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bằng mức chi phí học nghề ngắn hạn theo quy định của pháp luật về dạy nghề Thời gian được hỗ trợ học nghề không qua 6 tháng tính từ ngày người lao động được hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng [8,tr.11]
3/ Hỗ trợ tìm việc làm: Việc tổ chức thực hiện hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí cho người lao động được hưởng trợ cấp thất nghiệp do cơ quan lao động thực hiện thông qua các trung tâm giới thiệu việc làm Thời gian được hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm tính từ ngày người lao động được hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng và không quá tổng thời gian mà người lao động đó được hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật Bảo hiểm
xã hội [8,tr.11]
4/ Bảo hiểm y tế: Tổ chức bảo hiểm xã hội đóng bảo hiểm y tế cho người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp [8,tr.11]
2.1.2 Vai trò của chính sách bảo hiểm thất nghiệp
Một trong các giải pháp để bảo vệ người lao động tránh được những hụt hẫng khi bị mất việc làm là xã hội cần tạo cho họ một khoản thu nhập bù đắp khoản thu nhập bị mất đó là bảo hiểm thất nghiệp Đây là một trong những biện pháp được nhiều nước quan tâm, vì nó không chỉ đảm bảo cuộc sống cho cá nhân người bị thất nghiệp mà còn góp phần ổn định xã hội Bảo hiểm thất nghiệp
là quá trình hình thành và sử dụng quỹ tài chính thông qua việc đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và sự hỗ trợ của nhà nước, nhằm hỗ trợ
Trang 34về mặt thu nhập cho người lao động trong thời kỳ họ bị mất việc làm, tạo điều kiện cho họ tìm kiếm việc làm mới trong thị trường lao động [54]
Bảo hiểm thất nghiệp vừa là công cụ góp phần giải quyết thất nghiệp vừa
là một chính sách xã hội rất quan trọng Với cách tiếp cận này, bảo hiểm thất nghiệp có hai chức năng chủ yếu: Chức năng bảo vệ và chức năng khuyến khích Với chức năng bảo vệ, bảo hiểm thất nghiệp tổ chức bù đắp thu nhập cho người thất nghiệp và tạo điều kiện thuận lợi cho họ có cơ hội quay trở lại thị trường lao động Với chức năng khuyến khích, bảo hiểm thất nghiệp hạn chế sự ỷ lại của người lao động, kích thích người thất nghiệp tích cực tìm việc làm và sẵn sàng đi làm việc [54]
Qua hai chức năng này có thể thấy bảo hiểm thất nghiệp không chỉ có ý nghĩa đối với người lao động mà còn có ý nghĩa đối với cả người sử dụng lao động và nhà nước Đối với người sử dụng lao động, do có bảo hiểm thất nghiệp nên khi thất nghiệp xảy ra đối với người lao động, người sử dụng lao động không phải tăng thêm chi phí để trả trợ cấp mất việc làm cho họ Điều này sẽ khuyến khích doanh nghiệp sử dụng lao động có hiệu quả hơn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển sản xuất Đối với nhà nước, nhờ có bảo hiểm thất nghiệp nên gánh nặng ngân sách sẽ giảm hơn khi thất nghiệp xảy ra (thường vào thời kỳ kinh tế suy thoái, ngân sách nhà nước eo hẹp lại phải chi nhiều cho các vấn đề xã hội khác) Mặt khác, khi có trợ cấp thất nghiệp, những vấn đề xã hội sẽ bớt căng thẳng
Tóm lại, bảo hiểm thất nghiệp có vai trò rất lớn không chỉ đối với cá nhân người lao động và doanh nghiệp, mà còn đóng vai trò thăng bằng nền kinh tế, là liều thuốc làm hạ nhiệt sự căng thẳng xã hội do tình trạng thất nghiệp gây ra, là một trong những công cụ để thực hiện chính sách an sinh xã hội của mỗi quốc gia [54]
Mục tiêu chính của BHTN là giúp người thất nghiệp sớm quay trở lại thị trường lao động thông qua việc hỗ trợ tư vấn giới thiệu việc làm, đào tạo nghề,
Trang 35làm giảm thiểu tình trạng thất nghiệp[9] Thất nghiệp giảm, có nghĩa là nhiều người lao động tìm được việc làm Nguồn nhân lực không bị lãng phí và được sử dụng vào các hoạt động tạo ra của cải cho xã hội, thúc đẩy kinh tế phát triển
2.2 Đặc điểm của người lao động thất nghiệp trên địa bàn nghiên cứu
Những đặc điểm quan trọng của người lao động thất nghiệp chúng ta cần tìm hiểu trong tổng số 33041 người lao động đã thụ hưởng bảo hiểm thất nghiệp theo báo cáo tại Trung tâm giới thiệu việc làm Hà Nội 2014 có thể khái quát như sau:
Về độ tuổi, đa phần người thất nghiệp có độ tuổi từ 25 đến dưới 40 chiếm 58%, tiếp đó là độ tuổi dưới hoặc bằng 24 chiếm 32%, cuối cùng là độ tuổi trên
40 tương ứng 10% [5]
Biểu đồ 1: Cơ cấu độ tuổi của người lao động thất nghiệp(%)
(Nguồn : Trung tâm giới thiệu việc làm Hà Nội năm 2014)
Những con số này tương đối phù hợp với độ tuổi của thống kê thất nghiệp trong cả nước (năm 2013, tỷ lệ thất nghiệp trong giới trẻ chiếm 50% )[5] Lý do cho người lao động thất nghiệp trong độ tuổi dưới 40 một phần do tỷ lệ cao không phải là kỹ năng hoạt động có thể không cao, không có kinh nghiệm nhỏ giọt, họ rất dễ bị mất việc làm khi người dùng gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh, cần phải cắt giảm lao động, một phần do hiện tượng "nhảy việc" là khá phổ biến trong giới trẻ ngày nay, họ không sợ thay đổi công việc, có sẵn từ bỏ
Trang 36công việc hiện tại của bạn nếu không hài lòng với môi trường làm việc, thu nhập,
cơ hội cho tiến bộ , để kỳ vọng về một cơ hội công việc tốt hơn Điều này không xảy ra cho người lao động trên 40 tuổi, khi họ có nhiều kinh nghiệm uy tín, làm việc và có xu hướng thích ổn định hơn về mặt tâm lý
Về giới tính, người lao động thất nghiệp là nữ giới có phần nhiều hơn nam giới nữ chiếm 52% và nam chiếm 48%)[5]
Biểu đồ 2: Giới tính của người lao động thất nghiệp.(%)
(Nguồn : Trung tâm giới thiệu việc làm Hà Nội năm 2014)
Có thể giải thích thực tế này bởi phần lớn các lực lượng lao động tập trung
ở khu vực doanh nghiệp, một phần lớn không công ăn việc làm trong các cơ quan, đơn vị thuộc chính phủ, Nó cũng có thể là lời giải thích thêm về bản chất của công việc ổn định trong các đơn vị của nhà nước là lớn hơn nhiều so với bây giờ Đặc biệt là trong những năm gần đây, những khó khăn kinh tế thế giới, không phải là ngoại trừ cuộc khủng hoảng Việt Nam, rất nhiều công ty trong một "tổ chức" để cắt giảm lao động, thậm chí kinh doanh hiện nay phải
đóng cửa, ngừng sản xuất kinh doanh, trong đó người lao động thất nghiệp
Theo loại đơn vị, người lao động tham gia cuộc khảo sát này đại đa phần trước đó làm việc trong các doanh nghiệp (chiếm 91,3 %), phần đa trong số này làm việc cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa Trong khi đó, chỉ có rất ít người thất nghiệp từ các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước (chiếm 8,7 %)[5]
Nam 48%
Nữ 52%
Trang 37Về loại hợp đồng lao động/ hợp đồng làm việc, người đã làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn (chiếm 40%), người đã làm việc theo hợp đồng xác đinh thời hạn từ 12 - 36 tháng (chiếm 60%), không có người nào làm việc theo hợp đồng có thời hạn dưới 12 tháng Những người làm việc theo hợp đồng có thời hạn dưới 12 tháng có nguy cơ thất nghiệp cao và trong thực tế, các đối tượng này là một tỷ lệ lớn những người thất nghiệp Tuy nhiên,
họ không thể có mặt trong cuộc khảo sát này vì đối tượng của cuộc điều tra là thất nghiệp đã được tham gia và hưởng lợi từ các chế độ BHTN Người lao động làm việc theo hợp đồng thời hạn dưới 12 tháng không được bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội Điều này cũng giúp chúng ta thấy rõ một thực tế là chính sách BHTN không bao gồm một nhóm đối tượng rất lớn[5]
Về nghề nghiệp, dệt may chiếm 47%, Giầy da 28%, điện tử 13%, các ngành nghề khác 12% Người lao động thất nghiệp tập trung chủ yếu ở các khu công nghiệp, khu chế xuất lớn Về trình độ chuyên môn lao động phổ thông chiếm 83%, trung cấp, sơ cấp 10%, cao đẳng đại học 7% Như vậy, lao động thất nghiệp chủ yếu vẫn là lao động phổ thông chưa qua đào tạo[5]
Về mức lương, hơn 1/2 số người lao động được hỏi ( chiếm 58%) trước đó
đã có mức lương trung bình trong khoảng từ 2 - 5 triệu đồng/ tháng Số người có mức lương thấp (dưới 2 triệu đồng/ tháng) và trung bình khá (từ 5 - 10 triệu đồng/ tháng) chiếm ít hơn, chiếm 20 % và chiếm 18 % Không nhiều người lao động đã hưởng mức lương trước đó trên 10 triệu đồng (chiếm 4 %).Đây có lẽ là
do thực tế là mức lương 2-5 triệu đồng / tháng là khá phổ biến cho người lao động , thường cho mức lương thấp hơn cho lao động học nghề , không có trình
độ chuyên môn, kỹ thuật, và mức lương cao hơn cho người lao động thường xuyên các vị trí kỹ thuật cao và quản lý Mức lương trung bình và thấp sẽ không tạo ra sức hấp dẫn cho lao động, trong khi mức lương tốt là một yếu tố rất quan trọng để giữ người lao động trong một thời gian dài, tỷ lệ thất nghiệp trong nhóm này không phải là quá cao[5]
Trang 38Về tình trạng công việc hiện tại, đại đa số người lao động thất nghiệp đã có việc làm ( chiếm 92%), chỉ có một số lượng nhỏ người lao động vẫn chưa có việc làm mới ( chiếm 8%) Một lượng không nhỏ người lao động đã tìm kiếm được một công việc với mức lương tốt hơn ( chiếm 36%) Điều này cho thấy hiệu quả của hệ thống để hỗ trợ đào tạo nghề và hỗ trợ tìm kiếm việc làm cho chính sách BHTN Về số lần thụ hưởng chính sách bảo hiểm thất nghiệp, đa số
đã được hưởng 1 lần (chiếm 96%), chỉ có ít người trả lời đã được hưởng 2 lần (chiếm 4%)[5]
2.3 Bộ máy và quy trình tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở Hà Nội
từ 01/01/2010 [39,tr.67] Trung tâm đã thành lập một trưởng phòng và bốn phó phòng phụ trách BHTN Liên quan đến vấn đề này, một cán bộ đại diện bảo hiểm thất nghiệp ở Hà Nội cho biết :
“Trung tâm dịch vụ việc làm Hà Nội được giao nhiệm vụ thực hiện việc giải quyết thủ tục BHTN Để chính sách thiết thực này nhanh đến được với người lao động, Trung tâm đã thành lập phòng Bảo hiểm thất nghiệp, tổ chức cho cán bộ tập huấn nghiệp vụ, xây dựng kế hoạch công tác,…”(Ông Nguyễn T
P, 58 tuổi, Cán bộ lãnh đạo Trung tâm giới thiệu việc làm Hà Nội.)
Như vậy, để tổ chức thực hiện tốt chính sách BHTN trên địa bàn Hà Nội
và thực hiện có hiệu quả các mục tiêu của BHTN, căn cứ số lượng định suất thực hiện BHTN được Cục Việc làm - Bộ Lao động TB & XH giao và nguồn kinh phí
Trang 39chi quản lý BHTN hàng năm; Trên cơ sở thực trạng thị trường lao động trên địa bàn thành phố Hà Nội, tính đến hết 2014, Trung tâm Giới thiệu việc làm Hà Nội
đã bố trí và sử dụng 90 cán bộ và lao động hợp đồng để thực hiện nghiệp vụ BHTN [5]
Nhân viên BHTN phần lớn là những người trẻ tuổi bởi vì BHTN là chính sách tương đối mới tại Việt Nam Độ tuổi trung bình của nhân viên BHTN là 29 tuổi, trong đó người lớn tuổi nhất là 50 tuổi, người trẻ nhất là 21 tuổi, như vậy tổng số nhân viên BHTN dưới 30 tuổi chiếm 74%, nhân viên BHTN trên 30 tuổi 26% Lợi thế của đội ngũ nhân viên trẻ là sự năng động, tiếp thu nhanh trong công việc Tuy nhiên họ cũng gặp khó khăn trong công việc như thiếu kinh nghiệm giải quyết, ứng xử, chưa tạo được uy tín đối với lao động [5]
“Trong tổng số 90 nhân viên thì có tới 71 nữ ( 79%) và 19 nam ( 21%), đa
số nhân viên là nữ giới”(N T K L – Cán bộ lãnh đạo phòng BHTN) Sỡ dĩ có sự
chênh lệch giữa tỷ lệ này có nhiều nguyên nhân như nhiều người cho rằng tính chất công việc này là nhàn, có tính ổn định cao, phù hợp với nữ giới hơn, hoặc thu nhập của nhân viên BHTN thường không cao do vậy không thu hút sự hấp
dẫn với nam giới
Tổng số cán bộ, nhân viên và lao động thực hiện nghiệp vụ BHTN chia theo trình độ chuyên môn đã được đào tạo:
Biểu đồ 3: Trình độ chuyên môn của nhân viên phòng BHTN (Người)
(Nguồn : Phòng BHTN thuộc trung tâm giới thiệu việc làm Hà Nội)
Trang 40Phần lớn nhân viên BHTN đều tốt nghiệp đại học (81,1%) Tỷ lệ nhân viên BHTN có trình độ cao đẳng là 21% và có 3,3% nhân viên BHTN có bằng trung cấp, tỷ lệ nhân viên BHTN có trình độ sau đại học là 1,1% [5] Tất cả sau khi trở thành nhân viên của phòng BHTN đều đã được đào tạo về BHTN thông qua các lớp tập huấn về BHTN do Cục Việc làm tổ chức Đào tạo thông qua quá trình làm việc kèm cặp thực tế là phương pháp được phòng áp dụng hiệu quả Vì hằng ngày họ thường tiếp xúc với rất nhiều người lao động và không phải ai cũng làm hài long người lao động bằng khả năng tư vấn, giải thích của mình
Đội ngũ cán bộ và lao động trên tập trung chủ yếu vào các chuyên ngành: Kinh tế, Luật, Bảo hiểm, Ngoại ngữ, Công nghệ thông tin, Xã hội học v.v Hiện nay ở nước ta chưa có ngành đào tạo chính quy về BHTN do đó nhân viên BHTN được tuyển từ rất nhiều chuyên ngành đào tạo khác nhau
Để phù hợp với đặc điểm nghề nghiệp phòng BHTN cũng đã nêu ra các ngành
để ưu tiên tuyển dụng như BH, luật, văn thư lưu trữ, tin học…tuy nhiên để tuyển
đủ số lượng nhân viên này rất khó vì thế hiện nay nhân viên BHTN cũng có một
số người tốt nghiệp những chuyên ngành không mấy liên quan như Hải dương học, Thú y….Liên quan đến vấn đề này một nhân viên bảo hiểm thất nghiệp nói:
“Chuyên ngành học của tôi là Hải dương học không mấy liên quan tới BHTN nhưng sau khi được nhận vào làm tôi đã không ngừng học hỏi từ đồng nghiệp, trau dồi kiến thức từ sách , tài liệu và tham gia các lớp tập huấn … nên đến giờ sau 5 năm thực hiện, nghiệp vụ của tôi khá vững, không thua kém những đồng nghiệp khác cùng chuyên ngành” (Nguyễn Thanh T, 31 tuổi, nhân viên phòng BHTN)
Việc làm trái ngành đôi khi cũng là một trở ngại đối với nhân viên BHTN,
do học chưa có kiến thức chuyên ngành, nhưng sau thời gian quen với công việc
họ cũng đã nắm bắt được những kỹ năng cơ bản và những yêu cầu của công việc