1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN VĂN THẠC SĨ) Định hướng giá trị nghề trong sự lựa chọn nghề của học sinh lớp 12 trên địa bàn thành phố Hà Nội

120 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Định Hướng Giá Trị Nghề Trong Sự Lựa Chọn Nghề Của Học Sinh Lớp 12 Trên Địa Bàn Thành Phố Hà Nội
Tác giả Nguyễn Thủy Hoàn
Người hướng dẫn PGS.TS. Lê Thị Minh Loan
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Tâm lý học
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu về giá trị và định hướng giá trị Hiện nay, vấn đề giá trị, định hướng giá trị, trong đó có định hướng giá trị nghề nghiệp và vấn đề dự định chọn nghề của học sinh THPT đang l

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

NGUYỄN THỦY HOÀN

ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRỊ NGHỀ TRONG SỰ LỰA CHỌN NGHỀ CỦA HỌC SINH LỚP 12 TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỔ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên nghành: Tâm lý học

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

NGUYỄN THỦY HOÀN

ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRỊ NGHỀ TRONG SỰ LỰA CHỌN NGHỀ CỦA HỌC SINH LỚP 12 TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỔ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

Mã số: 60310401

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Thị Minh Loan

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Lê Thị Minh Loan – trường Đại Học Khoa Học Xã Hội &

Nhân Văn Các số liệu điều tra và kết quả trong luận văn là trung thực,

khách quan và có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng

Tác giả luận văn

Nguyễn Thủy Hoàn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Với tâm lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô Khoa Tâm lý đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy em trong suốt quá trình em học tập, nghiên cứu và rèn luyện ở trường Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn Em cũng xin cảm ơn các thầy cô Khoa Sau đại học – trường Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn đã hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho em trong thời gian em học tại trường!

Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Lê Thị Minh Loan đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt thời gian qua,

để em có thể hoàn thành đề tài này!

Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến toàn thể các thầy cô giáo cùng toàn thể các em học sinh ở hai trường trung học phổ thông ( trường THPT Minh Khai – Quốc Oai, trường THPT Nhân Chính – Thanh Xuân – Hà Nội) đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện cho quá trình nghiên cứu, đồng thời cho em những ý kiến quý báu để giúp em hoàn thành luận văn !

Do điều kiện và năng lực có hạn của bản thân nên luận văn của em chắc chắn không tránh khỏi những sai sót, rất mong nhận được sự nhận xét

và góp ý cảu các thầy cô và các bạn để đề tài cảu em được hoàn thiện hơn

Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI

STT Chữ viết tắt Nôi dung viết tắt

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Đánh giá của học sinh lớp 12 về tầm quan trọng của các nhóm nghề 50 Bảng 3.2: Nhận thức của học sinh đối với các giá trị nghề mang tính “xã hội” 52 Bảng 3.4 Nhận thức của học sinh đối với các giá trị nghề mang tính “cá nhân” 55 Bảng 3.5: Tổng hợp về ĐHGT nghề của học sinh lớp 12 ở mặt nhận thức 57 Bảng 3.6: Hứng thú của học sinh đối với các giá trị nghề mang tính “xã hội” 59 Bảng 3.7: Hứng thú của học sinh đối với các giá trị nghề mang tính “gia đình”.61 Bảng 3.8: Hứng thú của học sinh đối với các giá trị nghề mang tính “cá

nhân” 62 Bảng 3.9: Tổng hợp về định hướng giá trị nghề của học sinh lớp 12 ở mặt hứng thú 64 Bảng 3.10: Hành vi tìm hiểu nghề của học sinh lớp 12 66 Bảng 3.11: Hành vi tìm kiếm sự trợ giúp của học sinh lớp 12 68 Bảng 3.12: Tổng hợp về định hướng giá trị nghề của học sinh lớp 12 ở mặt hành vi 70 Bảng 3.13: Định hướng giá trị nghề của học sinh lớp 12 74 Bảng 3.14: Thực trạng hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở các trường

THPT thành phố Hà Nội 76 Bảng 3.15: Các nguồn cung cấp thông tin về nghề và giá trị nghề cho học sinh của các hoạt động hướng nghiệp cơ bản và cần thiết 77 Bảng 3.16: Động cơ chọn nghề 81 Bảng 3.17: Tự đánh giá năng lực học tập của mình đối với các nhóm nghề82 Bảng 3.18: Tự đánh giá về sức khỏe của học sinh đối với nghề 84

Trang 7

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1: Hành vi lựa chọn nghề của học sinh lớp 12 71

Biểu đồ 3.2: Sự lựa chọn nghề của học sinh lớp 12 73

Biểu đồ 3.3: Tương quan giá trị nghề của học sinh lớp 12 75

Biểu đồ 3.4: Nguồn cung cấp thông tin về giá trị nghề 79

Trang 8

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đich nghiên cứu 2

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

5 Giả thuyết nghiên cứu 3

6 Phạm vi nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 3

8 Cấu trúc luận văn 4

Chương 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRỊ NGHỀ TRONG SỰ CHỌN NGHỀ CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 5

1.1 Sơ lược các nghiên cứu về định hướng giá trị 5

1.1.1 Nghiên cứu về giá trị và định hướng giá trị 5

1.1.2 Nghiên cứu về định hướng giá trị nghề 12

1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 18

1.2.1 Những nội dung về giá trị 18

1.2.2 Định hướng giá trị 25

1.3 Nghề và các nhóm nghề phổ thông hiện nay của nước ta 30

1.3.1 Khái niệm nghề 30

1.3.2 Sự phân loại nghề nghiệp trong xã hội 31

1.4 Giá trị và định hướng giá trị nghề của học sinh lớp 12 33

1.4.1 Giá trị nghề 33

1.4.2 Định hướng giá trị nghề của học sinh lớp 12 34

1.4.3 Nội dung định hướng giá trị nghề của học sinh lớp 12 37

1.5 Yếu tố tác động đến định hướng giá trị nghề của học sinh lớp 12 39

1.5.1 Yếu tố bên ngoài (yếu tố khách quan) 39

1.5.2 Yếu tố bên trong (yếu tổ chủ quan) 41

Trang 9

Tiểu kết chương 1 43

Chương 2 TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 44

2.1 Tổ chức nghiên cứu 44

2.2 Phương pháp nghiên cứu 45

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 45

2.2.2 Nghiên cứu thực trạng 45

Tiểu kết chương 2 49

CHƯƠNG 3 KẾT QỦA NGHIÊN CỨU ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRỊ NGHỀ TRONG SỰ LỰA CHỌN NGHỀ CỦA HỌC SINH LỚP 12 50

3.1 Thực trạng định hướng giá trị nghề của học sinh lớp 12 50

3.1.1 Nhận thức của học sinh lớp 12 về tầm quan trọng của các nhóm nghề cụ thể 50

3.1.2 Nhận thức của học sinh lớp 12 về giá trị nghề 51

3.1.3 Định hướng giá trị nghề của học sinh lớp 12 thể hiện qua mặt hứng thú 59

3.1.4 Định hướng giá trị nghề của học sinh lớp 12 thể hiện ở mặt hành vi 66

3.1.5 Tổng hợp chung về định hướng giá trị nghề của học sinh lớp 12 74

3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ định hướng giá trị nghề của học sinh lớp 12 trên địa bàn thành phố Hà Nội 75 3.2.1 Yếu tố giáo dục hướng nghiệp ở nhà trường THPT 76

3.2.2 Động cơ chọn nghề của học sinh lớp 12 81

Tiểu kết chương 3 86

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 87

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

PHỤ LỤC 94

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nhân loại đang sống ở thế kỉ XXI – thế kỉ của sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ cao, của thông tin… làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt đời sống xã hội Tuân theo quy luật tất yếu của sự phát triển, cũng như trong xu thế toàn cầu hóa như hiện nay, Việt Nam cũng đang có nhiều biến đổi toàn diện và sâu sắc trên nhiều lĩnh vực nghề nghiệp trong xã hội, trong đó có việc lựa chọn nghề Có nhiều nghề trước đây được xã hội coi trọng nhưng đứng trước bối cảnh mới của thời đại thì nhiều nghề đã mất đi và nhường chỗ cho nhiều ngành nghề mới Vì thế việc lựa chọn hệ thống giá trị phù hợp với xu thế phát triển của thời đại, với yêu cầu của nghề nghiệp là vấn đề cần phải quan tâm nghiên cứu

Trong tất cả các nguồn lực của xã hội thì nguồn lực con người đóng vai trò quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia Con người là giá trị cao nhất của mọi giá trị, là thước đo của mọi giá trị Đầu tư vào con người là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển kinh tế xã hội Như vậy, điều cốt lõi của sự thành công là tạo ra được nguồn nhân lực có đủ năng lực, trí tuệ, thích nghi được với những thay đổi mới của thời đại Muốn vậy, học sinh ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường phải có một trình độ tri thức, một sự hiểu biết nhất định về nghề và giá trị của nghề trong xã hội để từ đó lựa chọn một nghề phù hợp với năng lực và nguyện vọng của bản thân

Nghề luôn được coi là một trong những yếu tố quan trong quyết định tương lai của mỗi con người Vì thế lựa chọn cho mình một nghề phù hợp là vấn

đề được nhiều bạn trẻ quan tâm, đặc biệt là là học sinh cuối cấp trung học phổ thông Trong xã hội hiện nay học sinh THPT có rất nhiều sự lựa chọn sau khi tốt nghiệp: học tiếp ĐH, CĐ, học nghề, du học, đi làm….Vậy họ sẽ chọn nghề như thế nào?

Sau khi tốt nghiệp THPT học sinh thường mong muốn được vào các trường Cao đẳng, Đại học để có một nghề nghiệp nhất định Song sự hiểu biết của các em về nghề nghiệp cũng như những yêu cầu của nghề, những khả năng của bản thân để đáp ứng với yêu cầu đối với nghề nghiệp mà mình lựa chọn còn rất hạn chế Nhiều em còn lúng túng chưa định hướng được tương lai cho cuộc

Trang 11

sống của bản thân, vì vậy khi chọn nghề thường theo cảm tính khôngcó sự cân nhắc, suy xét Điều này có ảnh hưởng rất lớn tới quá trình hoạt động nghề nghiệp của các em Nếu mỗi cá nhân có một nhận thức và thái độ đúng đắn về nghề và giá trị của nghề sẽ chọn cho mình một hướng đi đúng đắn, phù hợp với khả năng, năng lực, hứng thú và nguyện vọng, sẽ tạo ra một động lực thúc đẩy cá nhân tích cực say mê tham gia vào các hoạt động xã hội từ đó cá nhân sẽ có điều kiện để phát huy được khả năng sáng tạo của mình

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi quyết định lựa chọn và nghiêncứu đề tài: “Định hướng giá trị nghề trong sự chọn nghề của học sinh lớp

12 trên địa bàn thành phố Hà Nội.”

2 Mục đich nghiên cứu

Đề tài nhằm tìm hiểu thực trạng định hướng giá trị nghề trong sự chọn nghề của học sinh lớp 12 trên địa bàn thành phố Hà Nội Trên cơ sở đó đưa ra một số kiến nghị cho các em học sinh, gia đình, nhà trường, nhằm hình thành định hướng giá trị nghề đúng đắn cho học sinh lớp 12

3 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Mức độ định hướng giá trị nghề của học sinh lớp

12 trên địa bàn thành phố Hà Nội

- Khách thể nghiên cứu: 300 học sinh khối lớp 12 trên địa bàn thành phố

Hà Nội (Trong đó có 150 em học sinh Trường THPT Minh Khai – Quốc Oai và

150 em học sinh Trường THPT Nhân Chính – Thanh Xuân)

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng hợp một số vấn đề lý luận và xây dựng những khái niệm công cụ của đề tài như: giá trị, giá trị nghề, định hướng giá trị, định hướng giá trị nghề

- Phân tích thực trạng định hướng giá trị nghề của học sinh lớp 12 trên địa bàn thành phố Hà Nội Tìm hiểu yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng định hướng giá trị nghề của học sinh như: Ảnh hưởng từ nhà trường thầy cô, bạn bè, gia đình và các phương tiện truyền thông, năng lực học tạp của bản thân

- Đề xuất một số giải pháp định hướng giá trị nghề cho học sinh lớp 12 trên địa bàn thành phố Hà Nội

Trang 12

5 Giả thuyết nghiên cứu

- Đa số học sinh lớp 12 có định hướng giá trị nghề khá đúng đắn Chỉ có một số ít học sinh lớp 12 trên địa bàn thành phố Hà Nội nhận thức chưa đúng về giá trị nghề

- Không có sự khác biệt có ý nghĩa về định hướng giá trị lựa chọn nghề theo giới tính, và giữa các trường

- Định hướng của học sinh lớp 12 không bị ảnh hưởng nhiều bởi các yếu

tố như yếu tố giáo dục hướng nghiệp từ nhà trường, ý kiến từ gia đình người thân, phương tiện thông tin đại chúng… Mà bị ảnh hưởng nhiều bởi các yếu tố như: Tự đánh giá năng lực học tập của bản thân, tình hình sức khỏe đối với nghề mình định chọn

6 Phạm vi nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: từ 01/09/2016 đến 01/06/2017

- Địa bàn nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu định hướng giá trị nghề trong sự lựa chọn nghề của học sinh lớp 12 trên 2 trường là Trường THPT Minh Khai – Quốc Oai, và Trường THPT Nhân Chính - Thanh Xuân

7 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp các phương pháp sau:

7.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Phân tích tổng hợp và hệ thống các tài liệu lý luận có liên quan đến vấn đề định hướng giá trị nghề trong sự lựa chọn nghề của học sinh THPT để làm sáng

tỏ các vấn đề lý luận

7.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Sử dụng bảng hỏi đã thiết bao gồm một hệ thống câu hỏi danh cho khách thể nghiên cứu và đối tượng có liên quan nhằm thu thập thông tin, từ đó làm sáng tỏ thực trạng định hướng giá trị nghề của học sinh THPT, các yếu tổ ảnh hưởng đến định hướng giá trị nghề

Trang 13

Chúng tôi sử dụng phần mềm SPSS 16 để xử lý số liệu bao gồm các thông số: tỷ lệ phần trằm, điểm trung bình trung để phần tích số liệu thu được từ các phương pháp nghiên cứu đã sử dụng trong đề tài

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, luận văn gồm 3 chương và kết luận, kiến nghị

Chương 1: Cơ sở lý luận về định hướng giá trị nghề của học sinh trung học phổ thông

Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu về định hướng giá trị nghề của học sinh lớp 12 trên địa bàn thành phố Hà Nội

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRỊ NGHỀ TRONG SỰ CHỌN NGHỀ CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1 Sơ lược các nghiên cứu về định hướng giá trị

1.1.1 Nghiên cứu về giá trị và định hướng giá trị

Hiện nay, vấn đề giá trị, định hướng giá trị, trong đó có định hướng giá trị nghề nghiệp và vấn đề dự định chọn nghề của học sinh THPT đang là vấn đề mang tính thời sự và được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu

1.1.1.1 Tổng quan các nghiên cứu về giá trị và định hướng giá trị trên thế giới

Trong tâm lý học,vấn đề giá trị cuả cá nhân và xã hội, ngay từ khi chuyên ngành khoa học này ra đời đã chiếm một vị trí quan trọng mà thuật ngữ của Wundt, là đối tượng “ cao cấp” của tâm lý học

W.Dilthey và E.Spranger là những nhà tâm lý thuộc trường phái tâm lý học mô tả, giảng giải, song họ lại có quan điểm khác nhau về vấn đề giá trị Theo W.Dilthey những cảm xúc, tình cảm chứa đựng những biểu hiện nhân cách của giá trị là nội dung của đời sống tinh thần Ông cho rằng, đối với chúng ta, chỉ

có những cái được trải nghiệm cảm xúc mới có giá trị, giá trị không tách khỏi tình cảm[21]

Phê phán quan điểm này, E.Spranger nhấn mạnh rằng, nội dung đời sống tâm hồn của con người không thể đơn giản hóa thành các giá trị mnag tính chủ quan, được xác định như những công cụ điều chỉnh cảm xúc Theo ông, tâm hồn của con người phản ánh cả những giá trị mang tính khách quan- “những giá trị xuất hiện trong đời sống lịch sử, về mặt bản chất và ý nghĩa, nó nằm ngoài đời sống cá nhân, và được chúng ta gọi là tinh thần, đời sống tinh thần hay văn hóa mang tính khách quan” Như vậy phạm trù nhân cách, trong tâm lý học mô tả gồm hai khía cạnh, cả những đánh giá chủ quan, chuẩn mực và những hình dung

về sự tồn tại trong ý thức xã hội [21]

Trường phái tâm lý học Úc mà đại diện là A.Meinong, X.Ehrenfels, I.Kreybig lại cho rằng giá trị được hiểu là hiện tượng hoàn toàn mang tính chủ

Trang 15

quan Theo X.Ehrenfels, giá trị của đối tượng được xác định bởi mong muốn có

nó, mà mong muốn này lại được xác định bằng khả năng đạt được sự thỏa mãn

Sự sắp xếp các giá tri, do đó được xây dựng trên cớ sở năng lực của đối tượng mang lại sự hài lòng hay không hài lòng A.Meinong chuyển khái niệm giá trị thành khẳ năng trải nghiệm “cảm xúc giá trị” chủ quan nào đó Theo ông giá trị được gán cho một đối tượng bất kỳ nào đó, bởi lẽ là có “một người nào đó mà giá trị là giá trị” Cũng trong nghĩa này ông đã sử dụng khái niệm “giá trị nhân cách”, nghĩa là giá trị “đối với ai đó”[ 21]

Trong quan niệm các nhà tâm lý học hành vi, giá trị nằm ngoài phạm vi nghiên cứu khoa họa về bản chất con người Đối với họ “đạo đức, luân lý và giá trị- chẳng qua chỉ là kết quả học hỏi liên từ xã hội” Hành vi của con người theo chủ nghĩa hành vi cổ điển được coi là tập hợp các phản ứng, mà sự thể hiện của

nó được xác định bởi sức mạnh của củng cố kích thích từ môi trường bên ngoài Tuy nhiên, để đặc trưng cho sức mạnh và xu hướng phản ứng của con người, E.Tolman đã đước sử dụng các khái niệm về giá trị Khái niệm giá trị được ông định nghĩa như sức hấp dẫn của khách thể mục tiêu cùng với nhu cầu xác đinh sự cần thiêt của mục tiêu J.Rotter trong lý thuyết học hỏi xã hội của mình sử dụng khái niệm “giá trị củng cố” và được hiểu là mức độ mà một người ưa thích củng

cố này hay củng cố khác khi xác suất nhận được như nhau Cùng với “giá trị củng cố”, hành vi của con người còn được xác định bởi “giá trị nhu cầu” Giá trị này là giá trị trung bình của tập hợp các củng cố có liên quan đến các phạm trù nhu cầu cơ bản Giá trị mong đợi của củng cố phụ thuộc vào đánh giá chủ quan tình hình xã hội bên ngoài [21]

Phân tâm học của Freud tập trung chú ý vào các yếu tố sinh học bên trong của sự phát triển nhân cách Phân tâm học đặt các ham muốn bản năng vô thức (Id) là cơ sở hành vi của hành vi của con người Theo Freud, “hiển nhiên “Cái ấy” không biết đến giá trị, thiện và ác, đạo đức” Song lý thuyết Freud dù sao cũng hàm ý sự điều chỉnh giá trị - chuẩn mực nhất định về hành vi của con người “Siêu tôi” của Freud về bản chất là nơi lưu trữ các quy định đạo đức vô thức lẫn các quy định đạo đức được xã hội thiết lập, những giá trị đạo đức và chuẩn mực hành vi Freud trong các công trình của mình chỉ ra ba chức năng của

Trang 16

Siêu tôi: lương tâm, tự quan sát và hình thành lý tưởng, theo quan điểm của ông, nhiệm vụ của lương tâm là kiềm chế, cấm đoán hoạt động vô thức; nhiệm vụ của

vô thức là đánh giá hoạt động trên cơ sở và nhu cầu; nhiệm vụ của Cái tôi là tự quan sát Sự hình thành lý tưởng liên quan đến sự phát triển của cái Siêu tôi được tác động bởi các yếu tố xã hội

Khái niệm trung tâm trong lý thuyết nhân cách của Carl Roger người đại diện cho trường phái tâm lý học nhân văn là “tự thân” được ông định nghĩa là

“một mô hình khái niệm có tổ chức, cơ động, nhưng gián tiếp trong việc tri giác các đặc điểm và các mối quan hệ của “Cái tôi”, hoặc chính bản thân mình, và bên cạnh đó là hệ thống giá trị áp dụng cho khái niệm này” Theo quan niệm củ ông cấu trúc của “tự thân” bao gồm cả những giá trị mà “có thể trực tiếp trải nghiệm” lẫn những giá trị có liên quan và “cảm giác bên trong” mà con người diễn giải nhầm lẫn và coi nó như là những giá trị của mình Theo Rogers chính

cơ thể cung cấp dữ liệu để hình thành nên những phán xét về giá trị Ông tin tưởng rằng cả các giá trị bên trong và bên ngoài được thành lập hoặc là được tiếp nhân, nếu như được cảm nhận bằng “cơ chế sinh lý” như là những giá trị đảm bảo cho sự an toàn và củng cố cơ thể Chính trên cở sở này hình thành nên các giá trị xã hội được rút ra từ nền văn hóa Tuy nhiên Rogers vẫn nhấn mạnh sự cần thiết ý thức các trải nghiệm xuất hiện như là nền tảng của các ý tưởng giá trị

Theo Maslow, sự lựa chọn các giá trị bậc cao của một người do chính họ xác định, mà không phải do lực lượng thần thánh hoặc lực lượng nào khác nằm ngoài bản thân họ Khi có sự lựa chọn tự do con người tự mình một cách “bản năng” lựa chọn cái thực sự, mà không phải cái giả dối, điều thiện mà không phải

là điều ác” Khi nói về tính tự nhiên, tính hiển nhiên của các giá trị tâm lý bên trong, Maslow nhấn mạnh, tuy nhiên “bất kỳ xu hướng bản năng nào của con người cũng yếu hơn nhiều so với sức mạnh của nền văn minh” Nhưng ông cũng như Carl Rogers nhìn thấy vai trò “quan trong” sống còn của các nhà tâm lý học hiện thực hóa, “thức tỉnh” các giá trị bên trong của con người

Nhóm giá tri định danh là những mong muốn mà cá nhân muốn đạt được trong cuộc sống Đây là những mục tiêu mà một người muốn đạt được trong cuộc đời mình Những giá trị này khác nhau giữa các nhóm người khác nhau

Trang 17

trong nền văn hóa khác nhau Nó gồm 18 giá trị: Tình hữu nghị, tình yêu, được tôn trọng, hạnh phúc, cái đẹp, công bằng, độc lập, được thừa nhận xã hộ, tự do, lạc quan, gia đình an toàn, quốc gia an toàn, nhạy cảm , thế giới tươi đẹp, thế giới hòa bình, cuộc sống tiện nghi, cuộc sống lạc quan [ 21]

Tâm lý hoạt động có cách tiếp cận tương tự với các nhà tâm lý học nhân văn phương tây Theo B.F.Lomov có những giải thích khác nhau về khái niệm

“nhân cách”, song các nhà tâm lý học hoạt động đều đặt giá trị xu hướng lên hàng đầu Xu hướng như thuộc tính tổng hợp và xác định toàn bộ tài sản tâm lý của nhân cách đã được phân tích theo các cách khác nhau trong các công trình nghiên cứu của Rubinstein, Leontiev, B.G.Ananiev, Uznadeze, Bozhovich, B.F.Lomov xác định xu hướng như “mối quan hệ giữa cái mà nhân cách nhận được và tiếp nhận từ xã hội (với nghĩa là cả các giá trị vật chất và tinh thần) với cái mà nhân cách mang lại cho xã hội, làm cho xã hội phát triển” Như vậy trong

xu hướng thể hiện các giá trị chủ quan của nhân cách với các khía cạnh khác nhau của thực tại Nhấn mạnh đặc trưng tâm lý của các giá trị với tư cách là đối tượng xu hướng V.P.Tugarinov sủ dụng khái niệm “định hướng giá trị” Định hướng giá trị được định nghĩa như xu hướng của nhân cách đói với giá trị nghề nào đó

Tóm lại, các công trình nghiên cứu về giá trị và định hướng giá trị ở đây đã chỉ ra được những khác biệt trong thang giá trị của thanh niên, xây dựng bộ dụng cụ

để đo đạc và kiểm chứng cho nghiên cứu thực tế Ngoài ra các công trình nghiên cứu còn được ứng dụng vào trong các trường học và cộng đồng dân cư

1.1.1.2 Các nghiên cứu về giá trị và định hướng giá trị ở Việt Nam

Vấn đề giá trị cũng đã thu hút được sự chú ý của các nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khoa học khác nhau tại Việt Nam

Đề tài “Thực trạng gia đình trẻ em Việt Nam” đã làm rõ thực trạng giá trị

và thực trạng giá trị trong các gia đình Việt Nam thời kỳ “Đổi mới” Bên cạnh đó

đề tài cũng nhấn mạnh tới vai trò của gia đình trong việc đảm bảo hạnh phúc và giáo dục đạo đức cho trẻ [21]

Để tài “Chuyển đổi cơ cấu xã hội và định hướng giá trị ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ” của viện khoa học xã hội đã làm rõ thực trạng và những thay đổi

Trang 18

định hướng giá trị của nông dân vùng đồng bằng Bắc bộ trong thời kỳ đổi mới

Để tài đặc biệt chú ý tới những tín hiệu thay đổi từ định hướng sản xuất nhỏ mang tính tự cung tự cấp sang nên kinh tế sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường

Trong cuốn Giá trị đạo đức và giáo dục giá trị đạo đức cho trẻ em lứa tuổi mầm non của tác giả Ngô Công Hoàn có đề cập tới nội hàm khái niệm giá trị, những phạm trù cơ bản giáo dục đạo đức cho trẻ em mầm non Những phạm trù

cơ bản mà tác giả đề cập tới là Quyền, Bổn phận, Trách nhiệm, Nghĩa vụ Đồng thười trong công trình nghiên cứu này, tác giả cũng đề cập tới thực trạng việc xây dựng nội dung giáo dục giá trị đạo đức cho trẻ em lứa tuổi mầm non trong một số trường mầm non ở các địa phương: Thái Bình, Nghệ An, Hòa Bình Ưu điểm trong việc giáo dục đạo đức rong các trường tác giả đưa ra: nhà trường csac

cô giáo đã có kế hoạch cụ thể để tổ chức giáo dục đạo đức cho trẻ, đồng thời tổ chức tốt chuyên đề giáo dục lễ giáo mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai Vì vậy giáo dục đạo đức ở trường mầm non đạt kết quả cao Tuy nhiên tác giả cũng chỉ ra những hạn chế như: giáo viên chưa thực sự mẫu mực trong hành vi ứng xử với các cháu, đặc biệt ở các lớp đông trẻ, cô thường dung mệnh lệnh sai khiến trẻ, những hiện tượng quậy phá trò chơi của bạn, tranh dành đồ chơi của bạn… vẫn tồn tại [21]

Tác giả Phạm Minh Hạc đã phát biểu về triết lý giáo dục hiện nay tại buổi tạo đàm “triết lý giáo dục Việt Nam” do Báo điện tử ĐCS Việt Nam tổ chức 31/8/2011 tại Hà Nội như sau: Nhà trường giúp học sinh hình thành và phát triển

hệ giá trị của từng người: tâm lực, trí lực, thể lực – giá trị học thức, giá trị sống, giá trị tay nghề và lương tâm nghề, giá trị đóng góp, giá trị tự khẳng định mình…”

Năm 1991 – 1995 nhiều đề tài KX thuộc chương trình khoa học công nghề cấp nhà nước đã tiếp cận vấn đề giá trị, đặc biệt các chương trình thuộc chương trình KX – 07 “ Con người Việt Nam – mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội” Có thể điểm qua một số đề tài sau:

Đề tài “Những đặc trưng và xu thế phát triển nhân cách của con người Việt Nam trong sự phát triển kinh tế xã hội” mã số KX -07 – 04 do PGS.TS

Trang 19

Nguyễn Quang Uẩn làm chủ nhiệm (1995) đã nghiên cứu những giá trị chung, giá trị nhân cách, giá trị nghề nghiệp, giá trị truyền thống và hiện đại của các nhóm học sinh, sinh viên, thanh niên nông thôn [42]

Tác giả Thái Duy Tuyên với đề tài “tìm hiểu định hướng giá trị của thanh niên Việt Nam” mã số KX – 07 – 10 (1995) đã khảo sát trên các đối tượng thanh niên công nhân, nông dân, học sinh – sinh viên, tri thức… tại một số thành phố lớn về “nhu cầu, nguyện vọng của thanh niên”, và “Định hướng giá trị của thanh niên” Các số liệu thu được của đề tài đã phần nào phác họa bức tranh chung về nhân cách của con người Việt Nam qua các mặt như: nhận thức và giá trị, tâm trạng và thái độ, hứng thú và thị hiếu, nhu cầu và động cơ, cảm nhận và sự đánh giá, nguyện vọng và ước mơ [36]

Tác giả Mạc Văn Trang với công trình nghiên cứu “Đặc điểm của lối sống sinh viên hiện nay và những phương hướng, biện pháp giáo dục”(1995) đã tìm hiểu thực trạng những đặc điểm lối sống của sinh viên và trên cơ sở đó để đưa ra các biện pháp giáo dục phù hợp

Năm 1996, luận án của tác giả Dương Tự Đam nghiên cứu: “Định hướng giá trị của thanh niên sinh viên trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam” [6] Đã nêu ra một

số biểu hiện đặc trưng, xu hướng phát triển và sự chuyển đổi định hướng giá trị trong sinh viên Trên cơ sở đó đề tài đưa ra những giải pháp nhằm giáo dục định hướng giá trị cho thanh niên sinh viên theo yêu cầu của công cuộc đổi mới

Tập thể tác giả Phạm Minh Hạc, Thụy Như Ngọc, Rusell J.Daiton Trong cuộc điều tra giá trị thế giới năm 2001 tại Việt Nam đã thăm dò về sự hài lòng về chất lượng cuộc sống, quan hệ xã hội và gia đình, mức độ quan tâm và sự tham gia trong lĩnh vực chính trị, những giá trị kinh tế, niềm tin vào hệ thống chính trị

Đề tài cũng đưa ra được bức tranh về sự lựa chọn những giá trị cơ bản trong lối sống trong thực tế xã hội vào thời điểm trên

Đầu năm 2002, tác giả Đỗ Ngọc Hà với luận án tiến sỹ “Định hướng của thanh niên, sinh viên hiện nay trước sự chuyển đổi kinh tế - xã hội cuả đất nước” Cho thấy những giá trị nào điều tiết được cuộc sống hàng ngày và hành vi

xã hội của sinh viên, trên cơ sở đó xây dựng biểu mẫu định hướng giá trị cho sinh viên Việt Nam [8]

Trang 20

Năm 2005 tác giả Đào Thị Oanh trong nghiên cứu về định hướng giá trị của học sinh trung học Tác giả đã chỉ ra những giá trị truyền thống và những giá trị mới trong hệ thống giáo dục của học sinh [24]

Tác giả Nguyễn Thị Khoa với luận án: “Định hướng giá trị chất lượng cuộc sống gia đình của nữ tri thức hiện nay” Đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận về giá trị, định hướng giá trị nghiên cứu đã nêu ra những đặc trưng và xu thế định hướng giá trị cuộc sống gia đình của nữ tri thức, từ đó xây dựng những chuẩn giá

trị gia đình Việt Nam hiện đại [18]

Gần đây nhất một số đề tài về định hướng giá trị đạo đức, lối sống được quan tâm, như: “Thực trạng định hướng giá trị đạo đức của sinh viên sư phạm thành phố Hồ Chí Minh” [1], “Định hướng giá trị lối sống sinh viên ở một số trường đại học tại TPHCM” [4] Cả hai trên cơ sở nghiên cứu lý luận và hệ thống câu hỏi mở

để lấy ý kiến các nhà giáo dục, các chuyên gia, sinh viên… nêu ra hệ thống giá trị đạo đức, lối sống Trên cơ sở nghiên cứu cả hai tác giả đều nhận định đa số sinh viên đều

có định hướng giá trị đạo đức tích cực, lối sống đúng đắn

Trong đề tài: “Thực trạng lựa chọn các giá trị đạo đức nhân văn trong lối sống của sinh viên thành phố Hồ Chí Minh hiện nay”, của tác giả Huỳnh Văn Sơn cho biết, trong việc lựa chọn các giá trị cụ thể sinh viên chưa quan tâm đúng mức đến các giá trị hướng đến cộng đồng và các giá trị hướng đến một cuộc sống hữu nghị hợp tác với người khác Ngoài ra, sự lựa chọn của sinh viên còn chưa thống nhất và rất dao động

Tác giả Lê Thị Minh Loan đã tìm hiểu hệ giá trị của doanh nhân thời kì hội nhập quốc tế với ba nhóm giá trị cơ bản bao gồm giá trị cá nhân, giá trị nghề nghiệp và giá trị xã hội Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng giá trị cá nhân và giá trị nghề nghiệp được doanh nhân đề cao và thực hiện tốt nhất, những giá trị xã hội ít

được đề cao và thực hiện kém hơn [21]

Ngoài những đề tài nghiên cứu, còn có một số bài viết và báo cáo về giá trị và định hướng giá trị được đăng trên các tạp chí khoa học Nhìn chung các đề tài tập trung nghiên cứu và làm sáng tỏ nhiều vấn đề cả tích cực lẫn tiêu cực của những thay đổi về định hướng giá trị của người Việt Nam nói chung và của sinh viên, học sinh nói riêng, trên cơ sở đó đề ra những phương hướng và biện pháp

để giúp sinh viên, học sinh hoàn thiện về mặt nhân cách

Trang 21

1.1.2 Nghiên cứu về định hướng giá trị nghề

1.1.2.1 Các nghiên cứu về định hướng giá trị nghề trên thế giới

Trên thế giới, những vấn đề liên quan đến việc đầu tư cho giới trẻ những “công việc thích hợp” đã diễn ra từ rất sớm (gắn liền với sự phát triển của các vương quốc châu Âu và các đế chế thực dân, thời trung cổ) Vì vậy, những ấn phẩm và công trình nghiên cứu liên quan khá đa dạng và phong phú Tuy nhiên, trong các tác phẩm này, định hướng giá trị nghề chưa được nghiên cứu một cách chuyên biệt mà chúng mới chỉ được xem xét như một khía cạnh có ảnh hưởng đáng

kể đến sự phát triển nghề nghiệp của mỗi cá nhân trong đời sống xã hội

Năm 1909 cuốn sách “Chọn lựa một nghề” (Choosing a Vocation) của Parson đã được xuất bản qua đó trình bày phương pháp kết nối những đặc điểm tính cách của cá nhân với một nghề Cuốn sách của Parsons thực sự có ý nghĩa với những điều ông đã đề cập về ba nhân tố cần thiết để chọn lựa chính xác một nghề: 1 sự hiểu biết rõ ràng về bản thân, những năng khiếu, năng lực, những sự quan tâm, tham vọng, những sự tháo vát, hạn chế và những nguyên nhân khác của bạn; 2 kiến thức về những yêu cầu và những điều kiện của sự thành công, những thuận lợi và phi thuận lợi, sự đền bù, những cơ hội và cả các triển vọng theo những con đường khác nhau của công việc; 3 Lý lẽ đúng đắn trên những mối quan hệ của hai nhóm của những sự thật đó Sự nỗ lực mang tính tiên phong

và các tác phẩm của Frank Parsons đã đặt nền móng cho sự ra đời của một nghề mới “Hướng dẫn hướng nghiệp”, sau này được sử dụng với một khái niệm mới“tham vấn hướng nghiệp”

K.K Platonop (1960), với quan niệm về “Tam giác hướng nghiệp” Ba cạnh của hướng nghiệp được xác định là (1) đặc điểm, yêu cầu của ngành nghề trong xã hội, (2) nhu cầu nhân lực của thị trường lao động, (3) đặc điểm về nhân cách, tâm sinh lý cuả cá nhân Khi cá nhân tìm được sự phù hợp cả ba cạnh của tam giác, khi đó tìm được sự lựa chọn nghề tối ưu và có định hướng giá trị nghề nghiệp đúng đắn và phù hợp Mô hình tam giác hướng nghiệp của ông được đánh giá cao, có rất nghiều nghiên cứu lấy đây là cơ sở quan trọng để xây dựng khung lý thuyết nghiên cứu định hướng giá tri nghề [26]

Whiston và Keller (2004), trong bài viết: “Thống kê phân tích các nghiên cứu về tác động của xuất thân gia đình lên định hướng nghề”, thống kê các

Trang 22

nghiên cứu từ 1980 về tác động của xuất thân gia đình lên định hướng giá trị của các thành viên trong gia đình Các khái niệm về nghề của các thành viên trong gia đình chụi ảnh hưởng tới cấu trúc gia đình (như nghề nghiệp của bố mẹ) và các hoạt động của gia đình (như tương trợ lẫn nhau, sự gắn bó, tính độc lập) Tuy nhiên ảnh hưởng của hoạt động gia đình mang tính phức tạp hơn và chụi sự chi

phối của các yếu tố như dân tộc, giới và tuổi [47]

Hou, Wu và Liu (2013), trong bài viết “Sự gần gũi cha mẹ và khó khăn trong việc chọn nghề: Mô hình về định hướng trí tuệ - văn hóa và lương tâm” Đánh giá tác động của sự gần gũi cha mẹ, lương tâm và định hướng trí tuệ - văn hóa trong gia đình tới sự khó khăn lựa chọn nghề của sinh viên Trung Quốc Mẫu 1196 sinh viên Kết quả cho thấy sự gần gũi cha mẹ tác động tới lương tâm lại có ảnh hưởng lên khó khăn chọn nghề của thanh niên Ngoài ra mối quan hệ giữa gần gũi cha mẹ và khó khăn chọn nghề được điều tiết bởi trí tuệ - văn hóa [45]

Sự ra đời của các lý thuyết phát triển nghề (bắt đầu từ những năm 50) với nội dung tập trung vào những quan điểm cá nhân là một bước ngoặt quan trọng khẳng định hiệu quả, tính bền vững và sự phát triển của hoạt động

“Tham vấn hướng nghiệp” Các lý thuyết được đề cập đến bao gồm: Thuyết quá trình (Ginzberg, Ginsburg, Axelrod, Herma, Blau, Gustad, Parnes và Wilcock); Lý thuyết phát triển (Super, Starishevshky,Matlin, Jordaan và Havighurst); Thuyết nhân cách (Holland, Roe vàLunneborg); Lý thuyết logic xã hội (Caplow, Bandura, Herr, Crarner, Hotchkiss và Borow); Lý thuyết kinh

tế (Zunker, Isacson…) Kết quả nghiên cứu các lý thuyết trên đây cho thấy: Phát triển nghề là một quá trình liên tục, là một mặt lâu dài của sự tồn tại của con người (career development across the life span) Định hướng giá trị nghề có vai trò quan trọng trong sự phát triển nghề nghiệp của mỗi cá nhân Dựa trên các nhu cầu cơ bản, những mô hình tính cách khác nhau, những trải nghiệm thực tế, sự tiến bộ liên tục của những ý niệm riêng về nghề…, mỗi cá nhân sẽ

tự biểu hiện về bản thân (giá trị, nhu cầu, hứng thú ) thông qua các quyết định

lựa chọn nghề cũng như môi trường làm việc [3]

Trong những công trình nghiên cứu về hứng thú nghề ( V.N.Supkin, V.P.Gribanov, X.N.Trixtaiakova, N.N.Dakharov…), dự định ghề (A.A.Barbinova,

Trang 23

A.A.Bungacov ) và động cơ chọn nghề ( V.A.Cruchetxki, N.Đ.Leevitov, A.V.Petrovxki, E.M.Pavlưuchenkov, G.Reynolds, J.Shister, A.Roe, A.A.Maslow…) mặc dù định hướng giá trị nghề không phải là đối tượng nghiên cứu trực tiếp nhưng nó luôn hiện hữu và có mối quan hệ mật thiết với hứng thú, động cơ chọn nghề và dự định chọn nghề ở học sinh THPT: 1) Ý nghĩa xã hội của nghề kết hợp nhuần nhuyễn với nguyện vọng và khả năng của cá nhân mang lại sự thỏa mãn về mặt đạo đức cho con người và lợi ích tối đa cho xã hội; 2) Tính sáng tạo của lao động, ý nghĩa xã hội của nghề và quy mô tiềnlương… luôn

là một trong những yếu tố hấp dẫn học sinh trong quátrình lựa chọn một nghề nào đó; 3) Những ngành nghề học sinh dự định phụ thuộc vào đặc điểm lứa tuổi, giới tính cũng như điều kiện kinh tế xã hội của từng giai đoạn phát triển… [27]

1.1.2.2 Các nghiên cứu về định hướng giá trị nghề ở Việt Nam

Ở Việt Nam, vấn đề định hướng giá trị nghề nghiệp phần lớn được nghiên cứu như một khía cạnh của xu hướng lựa chọn nghề, thái độ lựa chọn nghề, động cơ chọn nghề, dự định chọn nghề… hoặc trong những lĩnh vực lớn

về giá trị nhân cách con người Việt Nam

Những công trình nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Ngọc Bích, Phạm Tất Dong, Phạm Nguyệt Lãng và Trần Anh, Phạm Mạnh Hùng, Phan Thị Tố Oanh…

đã xem xét một cách sâu sắc và có hệ thống về hứng thú nghề, xu hướng chọn nghề, động cơ chọn nghề, nhận thức nghề và dự định chọn nghề của học sinh THPT Tuy nhiên có thể thấy trong tất cả những công trình nghiên cứu này, định hướng giá trị nghề của học sinh THPT cũng mới chỉ xem xét như một khía cạnh của hứng thú nghề, động cơ chọn nghề và xu hướng chọn nghề của học sinh “Ở thanh niên học sinh, động cơ bên trong nổi bật hơn động cơ bên ngoài, nam thanh niên xếp khả năng của bản thân là động cơ thứ nhất, tính chất quan trọng của nghề nghiệp là động cơ thứ hai…Nữ thanh niên xếp thứ nhất là yêu cầu của nhà nước, thứ hai là vị trí xã hội của nghề, thứ ba là khả năng của bản thân…” [27, tr.10]; “Lý do chọn nghề quan trọng nhất ở học sinh là nghề phù hợp với khả năng học tập, hứng thú học tập sau đó là sự phù hợp với yêu cầu xã hội” [27, tr.136]

Trang 24

Trên cơ sở phân tích các khía cạnh nhận thức lựa chọn nghề, thái độ lựa chọn nghề, động cơ lựa chọn nghề, dự định lựa chọn nghề, các tác giả chỉ ra thực trạng định hướng giá trị nghề của học sinh THPT [15]

Trong tác phẩm “Định hướng giá trị con người Việt Nam thời kỳ đổi mới

và hội nhập” Phạm Minh Hạc, Thái Duy Tuyên (2010) đã chỉ ra những biến đổi định hướng giá trị của con người Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường giai đoạn 1991 – 1995 Nghiên cứu đã chỉ ra một số giá trị nghề mà người lao động Việt Nam hướng tới đó là: Vấn đề tìm nghề trong biên chế nhà nước không còn giữ vị trí độc tôn; Quan niệm “nhất nghệ tinh nhất thân vinh” nhường chỗ cho quan niệm mới; Nghề có thu nhập cao sống ở các thành phố lớn với đầy đủ tiện nghi được thanh niên ưa thích; Hiện đại hóa thiết bị và đào tạo những chuyên gia có trình độ chuyên môn cao tiếp cận với thị trường trong và ngoài nước… Các tác giả nhận định những giá trị cần thiết để trở thành người lao động tốt bao gồm: 1 Trình độ tay nghề; 2 Văn hóa lao động như tinh thần trách nhiệm, bảo đảm sự nghiêm túc về kỷ luật lao động và quy trình công nghệ; trung thực, không làm hàng xấu, hàng giả, biết tiết kiệm nguyên vật liệu, sức lao động và thì giờ; quan hệ hòa đồng, tốt đẹp với đồng nghiệp…; 3 Dạy nghề đồng thời với quản lý nghề, lòng yêu mến và chăm lo phát triển nghề

[12, tr.68 - 70]

Một số nghiên cứu trên cơ sở tiếp cận vai trò định hướng của hoạt động

cá nhân (cán bộ công chức) trong nghề cho thấy định hướng giá trị nghề được thể hiện ở nhiều cấp độ khác nhau (cấp độ nhận thức, cấp độ mong muốn và cấp

độ hoạt động thực tiễn) Ở cấp độ mong muốn, cá nhân hướng vào việc nhấn mạnh đến khía cạnh cảm xúc mà các giá trị có được đối với cá nhân Ở cấp độ hoạt động thực tiễn, cá nhân nhận rõ những giá trị thực sự có khả năng thúc đẩy chủ thể hành động nhằm đạt được những giá trị đó [16] Ở cấp độ nhận thức và thái độ, các giá tri liên quan đến việc phát triển cá nhân (“Nâng cao trình độ chuyên môn”; “Được làm chủ công việc chuyên môn”) và những tiêu chuẩn nghề nghiệp (“Phù hợp với sở thích của bản thân”; “Tính sáng tạo” và “Giao tiếp với đồng nghiệp”) được quan tâm và đánh giá cao hơn giá trị kinh tế (“Lợi ích vật chất”) Trong biểu hiện thực tế hoạt động nghề có những điểm

Trang 25

thiếu nhất quán và có xu hướng không tích cực so với nó ở cấp độ nhận thức

và thái độ

Lò Mai Thoan (2010) với quan niệm định hướng giá trị nghề của học sinh THPT là kết quả của quá trình giáo dục xã hội, đặc biệt là giáo dục hướng nghiệp của nhà trường và tự giáo dục một cách tích cực và chủ động của mỗi học sinh… [34, tr.48] đã chỉ ra các mặt biểu hiện của định hướng giá trị nghề (Nhận thức, hứng thú và hành động đối với các giá trị nghề) ở học sinh THPT Nghiên cứu đưa đến kết luận định hướng giá trị nghề của học sinh THPT tỉnh Sơn La ở mức trung bình thực trạng này do nhiều nguyên nhân, trong đó giáo dục hướng nghiệp đóng vai trò quan trọng nhất [34, tr.163] Nội dung các giá trị nghề (Giá trị nghề xã hội, Giá trị nghề gia đình, Giá trị nghề cá nhân) được tác giả nghiên cứu trong bối cảnh kinh tế xã hội của địa phương (Sơn La) Vì vậy, các giá trị nghề này chưa phản ánh được những biến động mạnh mẽ của đời sống xã hội, của thế giới nghề nghiệp trong xu thế hội nhập và quốc tế hóa Ở một góc độ nào

đó, vấn đề định hướng giá trị nghề được tác giả nghiên cứu gần với nguyên nhân chọn nghề và dự định chọn nghề của học sinh

Tác giả Phạm Thị Đức, đã tìm hiểu sự tác động của một số giá trị đối với hoạt động học tập và sự chọn nghề của học sinh THPT Theo tác giả, việc học tập của đa số học sinh là định hướng vào các giá trị tinh thần, trong khi đó tác dụng thúc đẩy học tập của các giá trị vật chất ở mức độ thấp hơn và giá tiếp hơn Kết quả cũng cho thấy, ĐHGTNN trong học tập gắn bó chặt chẽ với định hướng nghề tương lai và ý thức trách nhiệm công dân Đây là sự biểu hiện rõ của sự phát triển nhân cách học sinh ở lứa tuổi này [7]

Tác giả Phùng Thị Hằng (2012), thực hiện đề tài “Định hướng nghề nghiệp của học sinh trung học phổ thông là người dân tốc tiểu số ở tỉnh Thái Nguyên” Tác giả đã tìm hiểu ĐHGTNN bao gồm các khía cạnh: dự định tương lai, những lý do căn cứ chọn nghề, ĐHGTNN và xu hướng chọn nghề Nhìn chung ĐHGTNN của Trung học phổ thông là người dân tộc tiểu số ở tỉnh Thái Nguyên thể hiện sự lựa chọn của các đối với nhưng GTNN cụ thể có 13 giá trị nghề được các em đề cập Tuy nhiên mức độ lựa chọn đối với các giá trị khác nhau có sự khác nhau [9, tr.10 -11 ,tr.17]

Trang 26

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyến Đình Thắng (2009), với tên đề tài “Sự lựa chọn nghề nghiệp quân sự của nhóm sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn hiện nay” Luận án làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiến về sự lựa chọn nghề nghiệp quân sự, điều tra khảo sát đánh giá thực trạng sự lựa chọn nghề nghiệp quân sự, phân tích nhân tố ảnh hưởng tới quá trình lựa chọn nghề nghiệp quân sự của nhóm sĩ quan hiện nay, dự báo xu hướng vận động và khuyến nghị một số nhóm giải pháp cho sự lựa chọn nghề nghiệp quân sự của nhóm sĩ quan quân đội thời kỳ cách mạng mới [37]

Tác giả Nguyễn Văn Tuấn (2008), với đề tài “Định hướng giá trị nghề nghiệp của học viên các trường Đại học quân sự hiện nay” đã đưa ra ba yếu tố cơ bản về ĐHGT nghề là: nhận thức của học viên về giá trị nghề quân sự, thái độ của học viên đối với nghề và hành động được học viên lựa chọn Đồng thời bước đầu chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến ĐHGT nghề của học viên, làm cơ sở giáo dục cho họ có ĐHGT đúng đắn, phù hợp với yêu cầu xây dựng quân đội và sự nghiệp bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa [38, tr.27-32]

Tác giả Nguyễn Hoàng Hải (2012) với đề tài “Giáo dục giá trị nghề nghiệp cho sinh viên ngành giáo dục tiểu học qua hoạt động thực hành nghiệp vụ

sư phạm”, tác giả đã chỉ ra việc tổ chức giáo dục giá trị nghề theo quy trình được tích hợp trong quy trình tổ chức hoạt động thực hành nghiệp vụ sư phạm là có tính khả thi và có hiệu quả cao [13]

Mối quan hệ giữa đặc điểm nhân cách cá nhân và định hướng giá trị nghề Đặc điểm nhân cách của cá nhân và định hướng giá trị nghề của họ có mối quan

hệ mật thiết với nhau Vì vậy khi nghiên cứu định hướng giá trị của cá nhân cần phải tìm hiểu, đánh giá đúng các đặc điểm nhân cách của họ ở các mặt như: xu hướng nghề, (bao gồm nguyện vọng, hứng thú, động cơ), năng lực (khả năng) phù hợp nghề, tính cách trong quá trình định hướng giá trị nghề Mỗi cá nhân khi định hướng đến giá trị nghề nào phải có nhận thức về thế giới nghề, về nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước, nhu cầu nhân lực của các ngành nghề trong xã hội, từ đó xác định sự phù hợp của nghề.[2]

ĐHGT nghề của học sinh có sự ảnh hướng lớn đến sự phát triển nguồn nhân lực và sự phát triển kinh tế - xã hội trong lai Do vậy việc nghiên cứu

Trang 27

ĐHGT nghề của học sinh trung học phổ thông ở nước ta hiện nay là cần thiết và

có ý nghĩa cao

1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài

1.2.1 Những nội dung về giá trị

1.2.1.1 Khái niệm giá trị

Theo bách khoa toàn thư Xô Viết thì “giá trị” được định nghĩa là sự khẳng định hoặc phủ định ý nghĩa của các đối tượng xung quanh đối với con người, giai cấp, nhóm hoặc toàn bộ xã hội nói chung Giá trị được xác định không phải bởi bản thân các thuộc tính tự nhiên của các đối tượng mà bởi tính chất cuốn hút của các đối tượng ấy vào phạm vi hoạt động sống của con người, phạm vi của hứng thú và nhu cầu, các mối quan hệ xã hội, các chuẩn mực Tiêu chí và cách thức đánh giá, ý chí nói trên biểu hiện trong các nguyên tắc chuẩn mực đạo đức, lý tưởng, tâm thế, mục đích [42]

Từ điển tiếng Việt (NXB khoa học xã hội), giá trị là: cái mà con người dung làm cơ sở để xem xét một vật có lợi ích đến mức nào đối với con người, cái

mà con người dựa vào dùng để xem xét một người đáng quý đến mức về mặt đạo đức, trí tuệ, tài năng, những quan niệm và thực tại về cái đẹp, sự thật, điều thiện của xã hội [29,tr.370]

Theo từ điển thuật ngữ tâm lý học (GS.TS Vũ Dũng chủ biên) giá trị là phạm trù triết học, xã hội học, tâm lý học thể hiện những gì có ích, có ý nghĩa của những sự vật, hiện tượng tự nhiên, hay xã hội có khả năng thỏa mãn nhu cầu

và phục vụ lợi ích của con người Các sự vật hiện tượng được nhìn nhận từ góc

độ ý nghĩa, không có ý nghĩa, có ý nghĩa tích cực hay không tích cực.[5]

Trong từ điển tâm lý học, “ Giá trị - phạm trù triết học, xã hội học, tâm lý học thể hiện những gì có ích, có ý nghĩa của những sự vật, hiện tượng tự nhiên hay xã hội có khả năng thỏa mãn nhu cầu và phục vụ lợi ích con người” [5, tr.161]

Như vậy từ những khái niệm giá trị theo các loại từ điển trên chúng ta hiểu giá trị “Giá trị là sự nhìn nhận, đánh giá sự vật, hiện tượng có ý nghĩa, có ích lợi đáng quý đối với chủ thể (con người, giai cấp, nhóm hoặc toàn bộ xã hội) bởi nó có khẳ năng thỏa mãn nhu cầu và phục vụ lợi ích của chủ thể

Trang 28

Cho đến nay, thuật ngữ giá trị được nhiều khoa học nghiên cứu và mỗi khoa học nghiên cứu giá trị dưới nhiều bình diện, khía cạnh, góc độ khác nhau:

Dưới góc độ Triết học, có nhiều quan điểm khác nhau về giá trị Tuy nhiên, ở đây chủ yếu được xét theo quan điểm Macxit nên giá trị được coi là những hiện tượng xã hội đặc thù, mọi giá trị đều có nguồn gốc từ lao động sáng tạo của con người Giá trị là sự thống nhất giữa cái chủ quan và cái khách quan [42, tr.51]

Dưới góc độ Xã hội học, giá trị được quan tâm ở nội dung, nguyên nhân, điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể trong quá trình hình thành hệ thống giá trị nhất định của một xã hội

Giá trị trong Đạo đức học luôn gắn liền với những khái niệm trung tâm như: cái thiện, cái ác, công bằng, bình đẳng, bác ái bởi vì khái niệm giá trị thuộc phạm vi đời sống đạo đức của con người, các quan hệ xã hội và quá trình hình thành các chuẩn mực, quy tắc đạo đức của xã hội [34, tr.19]

Dưới góc độ Tâm lý học, khái niệm giá trị được nghiên cứu nhằm mục đích tìm hiểu hành vi, hoạt động của con người và dự báo sự phát triển của nhân cách Tâm lý học xã hội nghiên cứu giá trị và định hướng giá trị trong cộng đồng, đồng thời giải thích vai trò của chúng trong sự hình thành và phát triển của các hiện tượng tâm lý xã hội như tâm lý dân tộc, nhu cầu, thị hiếu, tập quán, lối sống của các nhóm xã hội

Tác giả V.P Tugarinov ( Liên Xô) cho giá trị là những khách thể, những hiện tượng và những thuộc tính của chúng mà tất cả đều cần thiết cho con người (ích lợi, hứng thú) của một xã hội hay một giai cấp nào đó cũng như một cá nhân riêng lẻ với tư cách là phương tiện thỏa mãn những nhu cầu và lợi ích của họ, đồng thời cũng là những tư tưởng và ý định với tư cách là chuẩn mực, mục đích hay lý tưởng [17, tr.54]

T Makiguchi, nhà giáo dục Nhật Bản cho rằng: “Giá trị là sự thể hiện có tính định lượng mối quan hệ giữa chủ thể đánh giá và đối tượng của việc đánh giá”[22, tr.104]

Theo tác giả Hoàng Phê: “Giá trị là cái làm cho một việc có ích lợi, có ý nghĩa, là đáng quý về mặt nào đó Ví dụ như thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao,

giá trị của một sáng kiến, giá trị tinh thần…[29]

Trang 29

Theo PGS.TS Thái Duy Tuyên, có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm giá trị, thông thường có thể hiểu giá trị là cái đáng quý, cần thiết, có ích lợi,

có ý nghĩa, thảo mãn nhu cầu lợi ích tinh thần của con người, của gia cấp, nhóm,

xã hội nói chung Giá trị là một phạm trù lịch sử, thay đổi theo thời gian, là một phạm trù xã hội, phụ thuộc vào tính chất của dân tộc, tôn giáo, cộng đồng [36,

Tr.106]

Tác giả Trần Văn Giàu cho rằng: “Giá trị xuất hiện từ mối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng, nghĩa là từ thực tiễn và chiến đấu của con người trong xã hội Giá trị vì thế được xác định bởi sự đánh giá đúng đắn của con người, xuất phát từ thực tiễn và được kiểm nghiệm qua thực tiễn”

Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Giá trị là tính có nghĩa tích cực, đáng

quý, có ích của các đối tượng với các chủ thể” [11, tr.301]

Theo PGS.TS Trần Trọng Thủy: “Giá trị là một hiện tượng xã hội điển hình biểu thị các sự vật, hiện tượng, các thuộc tính và quan hệ của hiện thực, các

tư tưởng chuẩn mực, mục đích lý tưởng các hiện tượng của tự nhiên và xã hội được loài người tạo ra nhưng đều phục vụ cho sự tiến bộ của xã hội và phát triển của cá nhân con người” [39, tr.11]

GS.TS Nguyễn Quang Uẩn, PGS.TS Nguyễn Thạc, PGS.TS Mạc Văn Trang cho rằng: cần phải hiểu khái niệm giá trị trong mối quan hệ với các thuật ngữ liên quan như nhu cầu, sở thích, động cơ… Song “giá trị không đồng nhất với nhu cầu… các giá trị không phải là những động cơ… giá trị là những cái cần

và có ích cho chủ thể” [42, tr.56 – 57]

PGS.TS Lê Đức Phúc cho rằng: “Giá trị là cái có ý nghĩa đối với xã hội, tập thể và cá nhân, phản ánh mối quan hệ chủ thể khách thể, được đánh giá xuất phát từ điều kiện lịch sử xã hội thực tế và phụ thuộc vào trình độ phát triển nhân cách Khi đã được nhận thức đánh giá lựa chọn, giá trị trở thành một trong những động lực thúc đẩy con người theo một xu hướng nhất định” [30, tr.12]

GS.TS Đỗ Huy cuốn xây dựng môi trường văn hóa ở nước ta hiện nay từ góc độ giá trị học có viết Mỗi dân tộc, xã hội có một hệ thống các giá trị của nó Môi trường văn hóa nhìn từ góc độ giá trị học được đo bằng hệ các chuẩn mực

cơ bản, các chuẩn mực đó đan xen liên kết với nhau định hướng và ràng buộc

Trang 30

các lớp, các chiều, các cạnh các phương diện khác nhau của môi trường văn hóa Chuẩn mực và giá trị là những thước đo được cả cộng đồng, một nhóm người, một khuynh hướng, một dân tộc, một giai cấp, một thời đại tin tưởng một cách tự nhiên khi hoạt động Chuẩn mực và giá trị xã hội tạo cho sự phát triển tốt đẹp và bên vững là thước đo cơ bản của mỗi nên văn hóa [14, tr.80]

Theo tác giả Thanh Lê: đối với nhà xã hôi học “giá trị” là những tiêu chuẩn lý tưởng mà một xã hội đề ra để hướng dẫn những ý nghĩ và hành động của những thành viên sống trong xã hôi ấy Các giá trị của một xã hội đều có liên

hệ với nhau và tạo thành một hệ thống hay còn giọi là một thang giá trị [20, tr.108]

Tác giả Phạm Thành Nghị trong cuốn giáo trình tâm lý học giáo dục, nhìn

từ góc độ tâm lý học có thể thấy giá trị là những cái có ý nghĩa phản ảnh trong niềm tin thái độ, mục đích, cảm xúc đã được đánh giá, lựa chọn phản ánh mối quan hệ chủ thể - khách thể, trong những điều kiện lịch sử, xã hội, phụ thuộc vào trình độ phát triển của nhân cách [23, tr 224]

Tóm lại dù trình bày cách này hay cách khác, theo quan điểm nào thì thì nội dung khái niệm “giá trị” mang những đặc điểm sau:

Bất cứ sự vật nào cũng có thể xem là có giá trị dù nó là vật thể hay phi vật thể miễn là nó được người ta thừa nhận, người ta cần đến nó như một nhu cầu hoặc cấp cho nó một vị trí quan trọng trong đời sống của họ

Cần phân biệt cái gọi là bản chất và quy luật của sự vật hiện tượng với cái gọi là giá trị của chúng Sự vật hiện tượng nào cũng có thuộc tính bản chất và tuân theo các quy luật nhất định, chúng tồn tại độc lập với nhu cầu của con người

Giá trị luôn mang tính khách quan Sự xuất hiện, tồn tại hay mất đi của một giá trị nào đó không phụ thuộc vào ý thức con người mà phụ thuộc vào sự xuất hiện, tồn tại hay mất đi một nhu cầu nào đó của con người Không phải do ý thức mà do yêu cầu của hoạt động thực tiễn quy định giá trị Thực tiễn là tiêu chuẩn của mọi giá trị

Trong mọi giá trị đều chứa đựng yếu tố nhận thức, yếu tố tình cảm và yếu

tố hành vi của chủ thể trong mối quan hệ với sự vật hiện tượng mang giá trị, thể hiện sự lựa chọn và đánh giá của chủ thể [42, tr.55]

Trang 31

Phân biệt các thuật ngữ có liên quan đến vấn đề giá trị như: ước muốn, nhu cầu, động cơ Trước hết, giá trị không đồng nhất với ước muốn và nhu cầu Các nhu cầu nảy sinh từ sự thiếu hụt, những đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cấn thỏa mãn để tồn tại và phát triển Ước muốn là sự mong mỏi nhằm vào một đối tượng hay trạng thái nhất định, những ước muốn có thể trở thành một nhu cầu, trong đó pha trộn những ước muốn tương ứng Còn giá trị là những cái cần

và có thể bị thay đổi theo những điều kiện xã hội - lịch sử cụ thể Yếu tố giá trị gắn liền với nhân cách con người

1.2.1.2 Vai trò của giá trị

Giá trị có tác dụng như một sự định hướng tới mục tiêu, thúc đẩy và điều hành mọi hành động của con người nhằm đạt tới những mục tiêu đó

Giá trị là cơ sở của việc đánh giá thái độ, hành vi nào đúng và nên có, hành vi nào sai và không nên có Sự thống nhất, ổn định về tâm lý, đạo đức, tinh thần của cá nhân và xã hôi được chỉ đạo bởi các giá trị Nó là thang bậc, chuẩn hành vi đề các thành viên của xã hội so sánh, đối chiếu, phân biệt được những hành động và suy nghĩ tốt đẹp, tích cực hoặc tiêu cực, sai lệch

Các giá trị góp phần hình thành ý thức, thái độ và sức mạnh dư luật của đạo đức để phối họp với những hành vi đi ngược lại lợi ích xã hội

Các giá trị có vai trò quan trọng đối với sự phát triển nhân cách của con người Mọi cá nhân đều luôn có nhu cầu, khát vọng vươn tới những giá trị mới

1.2.1.3 Phân loại giá trị

Có nhiều cách phân loại khác nhau về giá trị Tùy theo từng góc độ tiếp cận khác nhau, các tác giả đã xác định những tiêu chí phù hợp cho việc phân loại: Cách phân loại khá phổ biến dựa vào tiêu chí về sự thỏa mãn nhu cầu vật chất hay tinh thần của con người gồm 2 loại: giá trị vật chất và giá trị tinh thần “Toàn

Trang 32

bộ sự tồn tại của con người trên thế giới này bao gồm các giá trị vật chất và giá trị tinh thần… Các giá trị vật chất nằm ngay trong sự vật, hàng hóa… Còn các giá trị tinh thần nói lên ý nghĩa (thích thú, ước muốn, quan tâm) của sự vật, hàng hóa đối với từng người, nhóm người, cộng đồng, dân tộc, nhân loại” [44, tr.35] Trong các giá trị vật chất, người ta thường phân biệt giá trị sử dụng với giá trị kinh tế, nghĩa là phân biệt giữa ý nghĩa về tính chất có ích và ý nghĩa về tính chất trao đổi (mua bán) trên thị trường Trong các giá trị tinh thần, người ta thường đề cập đến các loại giá trị: giá trị nhận thức (Chân lý), giá trị đạo đức (Thiện - Ác), giá trị thẩm mỹ (cái Đẹp), giá trị luật pháp (Hợp pháp - phi pháp); giá trị tôn giáo (thánh thiện, linh thiêng…)…

Nhà xã hội học Mỹ J.H Fichter cho rằng “Tất cả cái gì có lợi, đang ưa chuộng, đáng kính phục đối với cá nhân hoặc xã hội đều có một giá trị” [40,

tr.53] Nhà xã hôi học Bungari Hajnaik – Albert định nghĩa “Giá trị là cái làm

cho người ta chú ý đến việc phải phân biệt những vấn đề sống còn với những vấn

đề ít quan trong hơn, trên bình diện những sự vật và sự kiện, những khả năng và thực tế của cuộc sống [10, tr.70]

Từ quan điểm các giá trị chi phối hệ thống hành vi của con người (cơ thể,

xã hội nhân cách và văn hóa), M.Robin và J.R.Williams phân chia thành các giá trị chủ yếu sau: 1) Các giá trị tồn tại sinh học; 2) Các giá trị tính cách; 3) Các giá trị văn hóa; 4) Các giá trị xã hội

Phân loại theo cấu trúc giá trị mục đích và giá trị phương tiện, các tác giả cho rằng những mục đích lý tưởng, những giá trị mang tính phương tiện là những nguyên tắc chỉ đạo cuộc sống, mô hình của hành vi (phương thức ứng xử tối ưu/lý tưởng) đối với cá nhân và xã hội (M.Rokeach, S Schwartz) Trong nghiên cứu định hướng giá trị của cá nhân Giá trị mục đích bao gồm các giá trị nảy sinh trong các hoạt động đặc trưng của con người (lao động, giao tiếp, hoạt động nhận thức, hoạt động chính trị xã hội…); giá trị phương tiện bao gồm các giá trị gắn với các phẩm chất của nhân cách (phẩm chất đạo đức, phẩm chất công việc, phẩm chất ý chí và nhóm các giá trị phẩm chất luân lý) ( T.E.Levik) Mặc

dù có sự khác nhau giữa các bình diện phương tiện và mục đích (các giá trị mục

Trang 33

đích có tính ổn định cao hơn so với các giá trị phương tiện) nhưng giữa chúng tồn tại mối quan hệ biện chứng trong quá trình chuyển hóa lẫn nhau (V.A.Iadov) Theo hướng tiếp cận cấu trúc giá trị của nhân cách hoặc hệ giá trị cá nhân

và xã hội có hai cách phân loại sau: 1) Cấu trúc theo mối quan tâm chính của con người, hệ thống giá trị bao gồm 6 loại: Lý thuyết; Kinh tế; Thẩm mỹ; Xã hội; Chính trị; Tín ngưỡng (G.Allport, P.E.Vernon); 2) Phân loại giá trị theo thứ bậc/ cấp bậc, hệ thống giá trị cá nhân gồm 7 cấp độ: 1)Phản ứng; 2) Bộ lạc; 3) Cá nhân; 4) Tuân thủ; 5) Thực dụng; 6) Xã hội; 7) Tồn tại (Graves)

Dựa trên hệ thống 3 giá trị tổng quát nhất của con người (Chân - Thiện - Mỹ), Tesunesaburo Makiguchi đã thiết lập hệ giá trị mới Lợi - Thiện - Mỹ và đưa chúng vào một trật tự của những khái niệm chuyên biệt: 1) Thiện - giá trị xã hội ảnh hưởng tới tồn tại của cộng đồng; 2) Ích - giá trị của cá nhân ảnh hưởng đến sự tồn tại của cá nhân, hướng vào bản ngã; 3) Mỹ - giá trị cảm quan ảnh hưởng tới những bộ phận riêng biệt của sự tồn tại cá nhân Hệ thống thang bậc giá trị này được mô tả bằng một hình tháp trụ mà đáy là các giá trị thẩm mỹ, đỉnh

là các giá trị đạo đức [43, tr.122 - 125]

Ngày nay, việc xây dựng hệ thống giá trị rất chú trọng đến tính cá nhân, tính cộng đồng xã hội Vì vậy, ngoài các cách phân loại nói trên, giá trị còn được phân chia thành giá trị truyền thống và giá trị hiện đại; giá trị cá nhân và giá trị

xã hội; giá trị quốc tế và giá trị dân tộc

Giá trị truyền thống là giá trị xuất hiện ở các giai đoạn lịch sử trong quá khứ của các thế hệ đi trước có ảnh hưởng đến cuộc sống hiện tại của một nhóm người, một cộng đồng, dân tộc hay một quốc gia; Giá trị hiện đại là những giá trị mới xuất hiện trong đời sống xã hội, thường là sự tiếp nhận hoặc giao thoa/ảnh hưởng giữa các nền văn hóa khác nhau do kết quả của quá trình giao lưu và hội nhập

Giá trị xã hội là những giá trị được nhóm, cộng đồng và xã hội định ra, phản ánh mong muốn, lợi ích của cộng đồng và các cá thể trong hoạt động cùng nhau một cách có ý thức vì các lợi ích và những điều mong muốn đó (Ph.Schumpeter, 1883 - 1950) Thông qua quá trình xã hội hóa ở mỗi cá nhân, những giá trị xã hội này sẽ chuyển thành giá trị cá nhân Nói khác đi, giá trị cá

Trang 34

nhân là giá trị xã hội được cá nhân lĩnh hội (tiếp nhận) trong quá trình sống và hoạt động

Giá trị quốc tế là những giá trị chung của nhân loại, được đông đảo các dân tộc trên thế giới thừa nhận và hướng tới như hòa bình, hạnh phúc,… Giá trị dân tộc là những giá trị gắn liền với tinh thần dân tộc, lấy bản sắc văn hóa dân tộc làm chuẩn mực [11, tr.275]

Việc phân loại giá trị là hết sức đa dạng và phong phú Xuất phát từ những mục đích khác nhau mà hướng tiếp cận đến các giá trị của các tác giả không giống nhau Vì vậy, các cách phân loại nói trên chỉ mang tính tương đối

1.2.2 Định hướng giá trị

1.2.2.1 Một số quan niệm về định hướng giá trị

Cho đến nay thuật ngữ định hướng giá trị trở nên khá quen thuộc trong lĩnh vực tâm lý học cũng như xã hội học Dưới đây là một số quan niệm tiêu biểu của các tác giả nước ngoài cũng như trong nước:

Khái niệm định hướng

Theo từ điển Tiếng Việt (1995), của Viện Ngôn ngữ học đinh nghĩa định hướng là sự xác định phương hướng Trong từ điển Tâm lý học (2008), do Vũ Dũng chủ biên, định hướng được coi là khuynh hướng của hoạt động nào đó [5, tr.161]

ĐHGT là một là một khái niệm phức tạp, có nhiều quan niệm khác nhau ở trong nước và nước ngoài Thuật ngữ “định hướng giá trị” được sử dụng khá phổ biến trong Xã hội học, Tâm lý học và Tâm lý học xã hội [41, tr.123]

Theo “Từ điển Tâm lý học tóm tắt” của Liên Xô do A.V.Petrovski và M.G.Iarosevski chủ biên, định hướng giá trị là phương thức chủ thể sử dụng để phân biệt các sự vật theo ý nghĩa của chúng đối với chính mình, từ đó hình thành nội dung cơ bản của xu hướng, động cơ hoạt động

B.G.Ananhep: “Việc cá nhân hướng vào những giá trị này hay giá trị khác tạo nên sự định hướng giá trị của học” [2, tr.26]

Tác giả người Nga A.G Zdraromuxlov đã phân tích định hướng giá trị như quá trình hướng đích của mỗi chủ thể với những nỗ lực tìm kiếm mục tiêu, cách thức và phương tiện nhằm thu được lợi ích, cũng như đạt được hiệu quả công việc trong các hoạt động của con người

Trang 35

Theo A.V.Petrovski: “ĐHGT là phương thức chủ thể sử dụng để phân biệt sự vật theo ý nghĩa của chúng đối với chính mình, từ đó hình thành nội dung

cơ bản của xu hướng, động cơ hoạt động Như vậy “ĐHGT có quan hệ đến các mặt nhận thức, ý chí và cảm xúc trong sự phát triển nhân cách” [28]

T Lêvưkin cho rằng: “ĐHGT là việc đánh giá các khẳ năng và tình hình hiện có, để xác định các phương tiện và phương pháp nhằm đạt những mục tiêu

đề ra [41,tr 124]

Theo V.A.Iadop: ĐHGT là những biểu tượng của con người về những mục đích chủ yếu của cuộc đời và những phương tiện cơ bản đạt những mục đích ấy Định hướng giá trị đóng vai trò chủ đạo trong việc xây dựng các chương trình hành vi lâu dài Chúng hình thành trên cơ sở những nhu cầu của chủ thể về việc nắm vững những hình thức cơ bản của hoạt động sống trong những điều kiện lịch sử cụ thể xác định và do tính chất các quan hệ xã hội quy định Các quan hệ xã hội là nguồn gốc khách quan hình thành những nhu cầu của chủ thể [42, tr.68]

Theo Thái Duy Tuyên, khái niệm định hướng giá trị thường được hiểu 2 nghĩa: 1) Mỗi cá nhân hay cộng đồng nào đó định hướng giá trị cho mình có nghĩa là lựa chọn cho mình một giá trị hoặc hệ thống giá trị nào đấy; 2) Mỗi cá nhân hay cộng đồng định hướng giá trị cho một người hay một tập thể có nghĩa

là giáo dục giá trị [35, tr.37]

Đào Hiền Phương cho rằng: “Định hướng giá trị là sự phản ánh chủ quan,

có phân biệt các giá trị trong ý thức và tâm lý con người Định hướng giá trị của mỗi người mang những nét riêng biệt đặc trưng của người đó Con người sống trong môi trường nào, thuộc thành phần xã hội nào, đều mang những nét chung nhất định của nó về định hướng giá trị Định hướng giá trị không phải là bất biến, nhất là các giá trị vật chất, nó có sự thay đổi theo môi trường sống và hoạt động thực tiễn Định hướng giá trị chi phối, điều chỉnh hành vi, hoạt động của con người, hướng tới những mục đích cơ bản trong cuộc sống” [32, tr 23]

Theo Lê Đức Phúc: “Định hướng giá trị là thái độ lựa chọn của con người đối với các giá trị vật chất và tinh thần, là một hệ thống tâm thế, niềm tin, sở thích được biểu hiện trong hành vi của con người” [30, tr.23]

Trang 36

Theo tác giả Trần Trọng Thủy:“ĐHGT chính là các giá trị đã được con người

sống trong xã hội tiếp thu với tư cách như những tiên chuẩn của hành vi” [40]

ĐHGT gắn liền với các chuẩn mức đạo đức trong xã hội, có tác dụng điều chỉnh hành vi của cá nhân phù hợp với chuẩn mực đó

Tác giả Vũ Dũng cho rằng: “ĐHGT là cơ sở tư tưởng, chính trị, đạo đức, thẩm mỹ của các giá trị được cá nhân hướng tới và thể hiện nó trong hoạt động thực tiễn, là khả năng phân biệt, lựa chọn các đối tượng con người theo giá trị và

Tóm lại khái niệm giá trị ở đây trong phạm vi nghiên cứu của đề tài được hiểu: ĐHGT là xu hướng hướng tới những cái mà con người cho là quan trọng, có

ý nghĩa “Định hướng giá trị là xu hướng hành động của chủ thể hướng tới đặc

điểm hay các thuộc tính của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan khi

mà cá nhân nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của nó cũng như có thái độ tích cực đối với nó”.

Tuy có nhiều quan niệm khác nhau về định hướng giá trị, song chúng ta

có thể nhận thấy một số điểm chung sau về định hướng giá trị:

- Định hướng giá trị được hình thành trong quá trình cá nhân hoặc nhóm người gia nhập vào các quan hệ xã hội với tư cách là chủ thể của các hoạt động

đó và hướng vào các giá trị có ý nghĩa cơ bản đối với họ

- Quá trình định hướng giá trị luôn chứa đựng các yếu tố nhận thức (đánh giá), ý chí và cảm xúc (thử nghiệm) và các khía cạnh đạo đức, thẩm mỹ trong sự phát triển nhân cách

- Là cơ sở bên trong của hành vi, nó quyết định lối sống của mỗi cá nhân Trân trọng, kế thừa từ những quan điểm về định hướng giá trị đã được nêu trên, với nghiên cứu cho rằng, định hướng giá trị trong đề tài này được hiểu là: “Một

hệ thống giá trị chuẩn phù hợp với yêu cầu của xã hội được cá nhân (hay tập thể)

Trang 37

nhận thức, đánh giá, lựa chọn theo nguyện vọng, mong muốn của mình Nó có tác dụng chi phối, điều chỉnh, hành vi, hoạt động của con người và quy định xu hướng nhân cách cá nhân”

* Vai trò của định hướng giá trị

ĐHGT giúp con người lập chương trình cho hành động của mình trong một thời gian dài, quy định kế hoạch của hành vi Đồng thời , ĐHGT có thể quy định trực tiếp hành vi thậm chí từng thao tác, động tác của con người

ĐHGT là nhân tố trung tâm để từ đó chi phối mọi suy nghĩ về thế giới tâm lý của con người ĐHGT còn chi phối và điều chỉnh hành vi, hoạt động của

cn người, từ đó hướng hoạt động tới mục đích cơ bản của cuộc đời

Trong thực tế, ĐHGT xem như là một yếu tố để đánh giá một cá nhân hay một nhóm, một tầng lớp xã hội ĐHGT cũng là một yếu tố để đánh giá về văn hóa của một nhóm hay một xã hội

Hiện nay các quốc giá, việc ĐHGT đã trở thành một nhiệm vụ cấp thiết Việc nghiên cứu ĐHGT có ý nghĩa lớn trong sự nghiệp giáo dục và đạo tạo con người, đặc biệt là đối với thể hệ trẻ Đối với học sinh lớp 12 do có sự thay đổi về nhận thức, nhu cầu, môi trường học tập… nên việc ĐHGT của họ đang có sự biến đổi khá phức tạp

* Phân loại định hướng giá trị

Các giá trị của con người rất phong phú và đa dạng Do đó việc phân loại ĐHGT cũng phức tạp Có thể nêu ra một số cách phân biệt sau:

Phân loại dựa vào ý nghĩa xã hội hay ý nghĩa cá nhân của những mục đích

mà con người hướng tới, theo cách này có hai loại định hướng giá trị là: ĐHGT

Trang 38

+ Những ĐHGT đạo đức cho thấy cá nhân có thái độ coi trọng những giá trị có liên quan đến mối quan hệ xã hội (cá nhân – xã hội, cá nhân – nhóm, cộng đồng –cá nhân…) được thể hiện trong các tác phẩm nhân cách như: lòng yêu nước, tình người, lòng nhân ái, tình đoàn kết, tính khoan dung…

+ Những ĐHGT nghề, qua đó chứng tỏ cá nhân đang hướng tới những giá trị của ngành nghề được lựa chọn có liên quan đến lợi ích cá nhân và lợi ích xã hôi, nghề có điều kiện phát triển tài năng, phù hợp sở thích, nghề có thu nhập cao, phù hợp sức khỏe, có điều kiện ổn định cuộc sống, nghề ít vất vả…

+ Những ĐHGT trong học tập thể hiện sự lựa chọn của cá nhân đối với các giá trị: tự khẳng định năng lực của bản thân, học vấn, quyền lực, danh vọng, thỏa mãn tính ham hiểu biết, truyền thống hiểu học, có cơ hội đi nước ngoài…

Ngoài ĐHGT, còn có thể phân loại theo các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội như: khao học, thẩm mỹ, nghệ thuật, văn hóa… [25,tr.169-170] Nhìn chung ĐHGT có nhiều cách phân loại khác nhau tùy thuộc vào căn

cứ khác nhau Trong đề tài chúng tôi nghiên cứu ĐHGT nghề trong sự lựa chọn nghề của học sinh lớp 12

1.2.2.3 Cấu trúc của định hướng giá trị

Một sự vật có giá trị đối với một cá nhân khi nó có ý nghĩa nhất định cho họat động của cá nhân đó Như thế rõ ràng là để biết sự vật đó có giá trị như thế nào đối với cá nhân thì chủ thể phải nhận thức (lựa chọn), tỏ thái độ đánh giá và hướng tới nó trong hoạt động của mình

- Sự nhận thức ở đây là không những về bản thân sự vật mà còn trong mối quan hệ với nhu cầu bản thân và mối quan hệ trong một tình huống nhất định Sự nhận thức này sẽ bộc lộ ra được giá trị của sự vật thông qua việc nó đáp ứng được mong muốn của chủ thể hay không? Nó giúp chủ thể đạt được kết quả mong muốn trong hoạt động nào đó hay không? Khâu nhận thức có vai trò định hướng đối với hai khâu còn lại

- Thái độ với giá trị của sự vật thể hiện sự đánh giá hài lòng hay không hài lòng, trân trọng và đánh giá cao hay ngược lại Chính thái độ cảm xúc và đánh giá này là cở sở chủ thể tiến hành hành động

Trang 39

- Hành động hướng tới giá trị thể hiện rõ nét tính chủ thể của chủ thể lựa chọn ĐHGT của xã hội được cá nhân tiếp thu có chọn lọc “Bộ lọc” cá nhân hình thành thông qua quá trình xã hôi hóa, cụ thể hơn là thông qua những trải nghiệm của cá nhân trong cuộc sống, được con người cảm nhận và xác tín Do

đó chỉ những giá trị nào được trong hệ thống ĐHGT của xã hội phù hợp với “ bộ lọc” của cá nhân thì nó mới đi vào trong nhân cách của họ Tuy nhiên do cá nhân sống trong một xã hội nhất định nên chụi sự chi phối mạnh mẽ bởi ĐHGT của

xã hội đó, nên ĐHGT của cá nhân về cơ bản tương đồng với ĐHGT của xã hội

mà cá nhân sống Nói cách khác thang giá trị, thước do giá trị của xã hôi, cộng đồng chuyển thanh giá trị, thước đo giá trị của cá nhân Cần lưu ý rằng do ĐHGT của cá nhân chụi sự chi phối của ĐHGT xã hội nên nó mang tính lịch sử - xã hội,

có thể thay đổi theo thời gian, theo sự biến động của xã hội và theo quy trình phát triển của nhân cách cá nhân

1.3 Nghề và các nhóm nghề phổ thông hiện nay của nước ta

1.3.1 Khái niệm nghề

Thuật ngữ “nghề” bắt nguồn từ frofessio của tiếng La tinh có nghĩa là công việc (việc làm), chuyên môn đã được định danh một cách chính thức Một cách hiểu khác, nghề được hiểu theo góc độ thuật ngữ “việc làm” Việc làm là công việc, nghề nghiệp thường ngày để sinh sống; Hay việc làm là công việc được giao cho làm và trả công [29] “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” [Điều 13, Luật lao động 1995]

Trong tâm lý học, E.A Klimov cho rằng: “Nghề nghiệp được hiểu là một lĩnh vực sử dụng sức lao động vật chất và tinh thần của con người một cách có giới hạn cần thiết cho xã hội (do sự phân công lao động mà có) nó tạo ra khả năng cho con người sử dụng lao động của mình để thu lấy những phương tiện cần thiết cho việc tồn tại và phát triển”

Tác giả Nguyễn Lân cho rằng: “nghiệp” là nghề làm ăn, “nghề nghiệp” là nghề làm ăn để sinh sống [19]

“Nghề là một lĩnh vực mà con người sử dụng sức lao động của mình để tạo ra những cái cần thiết cho xã hội, nhờ đó con người có thể thỏa mãn những

Trang 40

nhu cầu cấn thiết cho việc tồn tại và phát triển của mình” theo Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học [41,tr.68]

Từ những phân tích trên đây, trong phạm vi luận văn, chúng tôi quan niệm: Nghề là một lĩnh vực hoạt động chuyên nghiệp có tính ổn định, có thu nhập, được đào tạo, hướng đến sự phát triển của mỗi cá nhân và sự phát triển của toàn xã hội

Vì vậy, khi bàn về khái niệm “nghề”, cần lưu ý một số điểm cơ bản sau:

Nghề là hoạt động chủ đích của con người được sinh ra từ nhu cầu thực tiễn của cuộc sống hướng tới sự phát triển của cá nhân, cộng đồng và xã hội

Tính chuyên nghiệp là một đặc trưng của nghề trong xã hội hiện đại Tính chuyên nghiệp đòi hỏi người làm nghề phải có những phẩm chất và năng lực phù hợp với nghề, phải được đào tạo ở một trình độ nhất định để có kiến thức

và kỹ năng nghề nghiệp tương ứng

Tính giao thoa giữa các lĩnh vực nghề và sự chuyển đổi nghề đòi hỏi mỗi

cá nhân phải có khả năng thích ứng linh hoạt với không chỉ một nghề mà là một nhóm nghề trong xã hội

Nghề gắn liền với cuộc đời của mỗi con người, với sự phát triển và hoàn thiện nhân cách của mỗi cá nhân Vì vậy, nghề được xem như một phương thức truyền thông của con người trong các mối quan hệ xã hội

Nghề của một người có tính ổn định nhưng không hẳn là suốt đời Đây là điểm khác biệt lớn so với những quan niệm truyền thống trước đây khi cho rằng nghề gắn bó với cả cuộc đời con người, thậm chí còn có thể truyền từ đời này sang đời khác Vì vậy con người phải linh hoạt, đa dạng, thích ứng cao, có khả năng di chuyển kĩ năng, di chuyển cảm xúc… để có thể dễ dàng chuyển đổi nghề nghiệp Học tập, đào tạo suốt đời trở thành phương châm hành động của mỗi cá nhân “…Việc hình thành các kỹ năng lập nghiệp được coi là sự chuẩn bị hết sức cần thiết cho tất cả những người lao động Đào tạo về lập nghiệp được coi là một công cụ hữu ích để thúc đẩy động cơ, tính sáng tạo và sự đổi mới các kỹ năng lập nghiệp cũng được cho là sẽ giúp trang bị cho người học khả năng tạo ra các cơ hội việc làm…”

1.3.2 Sự phân loại nghề nghiệp trong xã hội

Như chúng ta biết, nghề nghiệp được hình thành và phát triển cùng với sự hình thành, phát triển và tiến bộ của xã hội loài người, đặc biệt trong thời đại

Ngày đăng: 02/07/2022, 14:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Anh (2007), Thực trạng định hướng giá trị đạo đức của sinh viên sư phạm TP. Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sỹ Tâm lý học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng định hướng giá trị đạo đức của sinh viên sư phạm TP. Hồ Chí Minh
Tác giả: Hoàng Anh
Năm: 2007
2. Đặng Danh Ánh (2005), “Tư vấn chọn nghề cho học sinh phổ thông”, Tạp chí Giáo dục, (số 121), tr.12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư vấn chọn nghề cho học sinh phổ thông”, "Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Đặng Danh Ánh
Năm: 2005
3. Nguyễn Thị Nhân Ái (2001) “Các lý thuyết phát triển nghề trong tham vấn hướng nhiệp”, Tạp chí giáo dục, (số 2), tr 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các lý thuyết phát triển nghề trong tham vấn hướng nhiệp”, "Tạp chí giáo dục
4. Bùi Thị Bích (2007), Định hướng về lối sống sinh viên ở một số trường đại học tại TP. Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ tâm lý học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng về lối sống sinh viên ở một số trường đại học tại TP. Hồ Chí Minh
Tác giả: Bùi Thị Bích
Năm: 2007
5. Vũ Dũng (chủ biên), (2008), Từ điển tâm lý học, NXB Từ điển bách khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tâm lý học
Tác giả: Vũ Dũng (chủ biên)
Nhà XB: NXB Từ điển bách khoa
Năm: 2008
6. Dương Tự Đam (1996), Định hướng giá trị của thanh niên sinh viên trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam, Luận án tiến sỹ khoa học triết học, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng giá trị của thanh niên sinh viên trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam
Tác giả: Dương Tự Đam
Năm: 1996
7. Phạm Thị Đức (2000), Xác định mức độ định hướng của một số giá trị đối với hoạt động ở học sinh trung học phổ thông, Đề tài cấp Bộ, Mã số B98 – 49 -57, Viện Khoa Học Giáo Dục. (7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định mức độ định hướng của một số giá trị đối với hoạt động ở học sinh trung học phổ thông
Tác giả: Phạm Thị Đức
Năm: 2000
8. Đỗ Ngọc Hà, Đinh hướng giá trị của sinh viên hiện nay, Luận án tiến sỹ tâm lý học, Hà nội 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đinh hướng giá trị của sinh viên hiện nay
9. Phùng Thị Hằng (8/2012), “Định hướng giá trị nghề của học sinh trung học phổ thông là người dân tộc tiểu số ở tỉnh Thái Nguyên”, Tạp chí Giáo dục số (291), tr.11 – 12, tr.17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng giá trị nghề của học sinh trung học phổ thông là người dân tộc tiểu số ở tỉnh Thái Nguyên”, "Tạp chí Giáo dục
10. Hajnaik Albert, Giá trị trong kế hoạch hóa xã hội, Budapet 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị trong kế hoạch hóa xã hội
11. Phạm Minh Hạc (2010), Giá trị học – Cơ sở lý luận góp phần đúc kết, xây dựng giá trị chung của người Việt Nam hiện nay, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị học – Cơ sở lý luận góp phần đúc kết, xây dựng giá trị chung của người Việt Nam hiện nay
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
12. Phạm Minh Hạc – Thái Duy Tuyên ( Chủ biên) (2011), Định hướng giá trị con người Việt Nam thời kỳ đổi mới và hội nhập, NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, tr.68-70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng giá trị con người Việt Nam thời kỳ đổi mới và hội nhập
Tác giả: Phạm Minh Hạc – Thái Duy Tuyên ( Chủ biên)
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia –Sự thật
Năm: 2011
13. Nguyễn Hoàng Hải (2012),Giáo dục gái trị nghề cho sinh viên nghành giáo dục tiểu học qua thực hành nghiệp vụ sư phạm, Luận án tiến sĩ Quản lý – Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục gái trị nghề cho sinh viên nghành giáo dục tiểu học qua thực hành nghiệp vụ sư phạm
Tác giả: Nguyễn Hoàng Hải
Năm: 2012
14. GS.TS. Đỗ Huy, Xây Dựng Môi Trường Văn Hóa Ở Nước Ta Hiện Nay Từ Góc Nhìn Giá Trị Học Sách, tạp chí
Tiêu đề: GS.TS. Đỗ Huy
15. Phạm Mạnh Hùng (1995), Nghiên cứu chuẩn đoán và tư vấn giáo dục, Đề tài nghiên cứu cấp bộ B91 – 24 – 28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chuẩn đoán và tư vấn giáo dục
Tác giả: Phạm Mạnh Hùng
Năm: 1995
16. Lê Hương (Chủ biên) (2003), Tính tích cực nghề nghiệp của công chức: Một số nhân tố ảnh hưởng, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính tích cực nghề nghiệp của công chức: "Một số nhân tố ảnh hưởng
Tác giả: Lê Hương (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2003
18. Nguyễn Thị Khoa ( 1996), Đinh hướng giá trị chất lượng cuộc sống gia đình của nữ tri thức hiện nay, Luận án tiến sỹ Tâm lý học, Viện nghiên cứu khoa học giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đinh hướng giá trị chất lượng cuộc sống gia đình của nữ tri thức hiện nay
19. Nguyễn Lân (2002), Từ điển từ và ngữ Hán – Việt, NXB Từ điển bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển từ và ngữ Hán – Việt
Tác giả: Nguyễn Lân
Nhà XB: NXB Từ điển bách khoa
Năm: 2002
20. Thanh Lê, Xã hội hóa hiện đại Việt Nam, NXB khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội hóa hiện đại Việt Nam
Nhà XB: NXB khoa học xã hội
21. Lê Thị Minh Loan-Đỗ Hồng Khanh (2013), Hệ giá trị của doanh nhân Việt Nam thời kỳ hội nhập. NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ giá trị của doanh nhân Việt Nam thời kỳ hội nhập
Tác giả: Lê Thị Minh Loan-Đỗ Hồng Khanh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2013

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1 Đánh giá của học sinh lớp12 về tầm quan trọng của các nhóm nghề. - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Định hướng giá trị nghề trong sự lựa chọn nghề của học sinh lớp 12 trên địa bàn thành phố Hà Nội
Bảng 3.1 Đánh giá của học sinh lớp12 về tầm quan trọng của các nhóm nghề (Trang 59)
Bảng 3.2: Nhận thức của học sinh đối với các giá trị nghề mang tính “xã hội” - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Định hướng giá trị nghề trong sự lựa chọn nghề của học sinh lớp 12 trên địa bàn thành phố Hà Nội
Bảng 3.2 Nhận thức của học sinh đối với các giá trị nghề mang tính “xã hội” (Trang 61)
Bảng 3.3: Nhận thức của học sinh đối với các giá trị nghề mang tính “gia đình”. - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Định hướng giá trị nghề trong sự lựa chọn nghề của học sinh lớp 12 trên địa bàn thành phố Hà Nội
Bảng 3.3 Nhận thức của học sinh đối với các giá trị nghề mang tính “gia đình” (Trang 62)
Số liệu trình bày ở bảng 3.2 cho thấy trong nhóm giá trị mang tính „gia đình”  không  được  học  sinh  đánh  giá  cao,  mà  chỉ  ở  mức  phù  hợp  trung  bình  (  ĐTB = 2.45, ĐLC = 0.8) - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Định hướng giá trị nghề trong sự lựa chọn nghề của học sinh lớp 12 trên địa bàn thành phố Hà Nội
li ệu trình bày ở bảng 3.2 cho thấy trong nhóm giá trị mang tính „gia đình” không được học sinh đánh giá cao, mà chỉ ở mức phù hợp trung bình ( ĐTB = 2.45, ĐLC = 0.8) (Trang 63)
Theo kết quả trong bảng 3.4, chúng tôi nhận thấy nhận thức của các em với giá trị  nghề  mang  tính    “cá  nhân”  được  các  em  đánh  ở  mức trung bình và  thấp  nhất  so  với  hai  mặt  biểu  hiện  nói  trên    (ĐTB  =  2.59,  ĐLC  =  0.7) - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Định hướng giá trị nghề trong sự lựa chọn nghề của học sinh lớp 12 trên địa bàn thành phố Hà Nội
heo kết quả trong bảng 3.4, chúng tôi nhận thấy nhận thức của các em với giá trị nghề mang tính “cá nhân” được các em đánh ở mức trung bình và thấp nhất so với hai mặt biểu hiện nói trên (ĐTB = 2.59, ĐLC = 0.7) (Trang 64)
Bảng 3.6: Hứng thú của học sinh đối với các giá trị nghề mang tính “xã hội”. - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Định hướng giá trị nghề trong sự lựa chọn nghề của học sinh lớp 12 trên địa bàn thành phố Hà Nội
Bảng 3.6 Hứng thú của học sinh đối với các giá trị nghề mang tính “xã hội” (Trang 68)
Bảng 3.7: Hứng thú của học sinh đối với các giá trị nghề mang tính “gia đình”. - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Định hướng giá trị nghề trong sự lựa chọn nghề của học sinh lớp 12 trên địa bàn thành phố Hà Nội
Bảng 3.7 Hứng thú của học sinh đối với các giá trị nghề mang tính “gia đình” (Trang 70)
 Bảng 2.1. Một số chỉ tiêu về hoạt động - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Định hướng giá trị nghề trong sự lựa chọn nghề của học sinh lớp 12 trên địa bàn thành phố Hà Nội
Bảng 2.1. Một số chỉ tiêu về hoạt động (Trang 70)
Bảng 3.8: Hứng thú của học sinh đối với các giá trị nghề mang tính “cá nhân”. - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Định hướng giá trị nghề trong sự lựa chọn nghề của học sinh lớp 12 trên địa bàn thành phố Hà Nội
Bảng 3.8 Hứng thú của học sinh đối với các giá trị nghề mang tính “cá nhân” (Trang 71)
Bảng 3.9: Tổng hợp về định hƣớng giá trị nghề của học sinh lớp12 ở mặt hứng thú. - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Định hướng giá trị nghề trong sự lựa chọn nghề của học sinh lớp 12 trên địa bàn thành phố Hà Nội
Bảng 3.9 Tổng hợp về định hƣớng giá trị nghề của học sinh lớp12 ở mặt hứng thú (Trang 73)
Các hoạt động được thể hiện qua bảng khảo sát như sau: - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Định hướng giá trị nghề trong sự lựa chọn nghề của học sinh lớp 12 trên địa bàn thành phố Hà Nội
c hoạt động được thể hiện qua bảng khảo sát như sau: (Trang 75)
Bảng 3.11: Hành vi tìm kiếm sự trợ giúp của học sinh lớp12. - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Định hướng giá trị nghề trong sự lựa chọn nghề của học sinh lớp 12 trên địa bàn thành phố Hà Nội
Bảng 3.11 Hành vi tìm kiếm sự trợ giúp của học sinh lớp12 (Trang 77)
Bảng 3.12: Tổng hợp về định hƣớng giá trị nghề của học sinh lớp12 ở mặt hành vi. - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Định hướng giá trị nghề trong sự lựa chọn nghề của học sinh lớp 12 trên địa bàn thành phố Hà Nội
Bảng 3.12 Tổng hợp về định hƣớng giá trị nghề của học sinh lớp12 ở mặt hành vi (Trang 79)
Qua bảng điều tra ta thấy trong trường hợp các em không đạt được các nghề yêu thích nói trên đa phần các em đã xác định được những việc cần làm đề thực hiện  ước mơ của mình, ý kiến vừa làm gì đó vừa tìm cơ hội để học và làm nghề mình định  chọn có 189 ph - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Định hướng giá trị nghề trong sự lựa chọn nghề của học sinh lớp 12 trên địa bàn thành phố Hà Nội
ua bảng điều tra ta thấy trong trường hợp các em không đạt được các nghề yêu thích nói trên đa phần các em đã xác định được những việc cần làm đề thực hiện ước mơ của mình, ý kiến vừa làm gì đó vừa tìm cơ hội để học và làm nghề mình định chọn có 189 ph (Trang 82)
Quả bảng 3.13 cho ta thấy các em học sinh lớp12 nhận thức về nghề và định hướng giá trị nghề khá đúng đắn - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Định hướng giá trị nghề trong sự lựa chọn nghề của học sinh lớp 12 trên địa bàn thành phố Hà Nội
u ả bảng 3.13 cho ta thấy các em học sinh lớp12 nhận thức về nghề và định hướng giá trị nghề khá đúng đắn (Trang 83)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w