Trong hệ thống giáo dục quốc dân của Việt Nam, giáo dục phổ thông là nền tảng văn hóa của một nước, là sức mạnh tương lai của một dân tộc, nó đặt những cơ sở ban đầu rất quan trọng cho s
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TRƯƠNG THỊ HOA
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO
SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Hoàng Hồng Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng
Luận văn có sự kế thừa các công trình nghiên cứu của những người đi trước và
có sự bổ sung thêm những tài liệu mới
Hà Nội, ngày 15 tháng 12 năm 2007
Tác giả luận văn
Trương Thị Hoa
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới PGS.TS Hoàng Hồng, người thầy đã gợi mở cho tôi từ những ý tưởng ban đầu của luận văn cũng như đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn cho tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn
Tôi cũng trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo tại Bộ môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã chỉ bảo, động viên khích lệ, tạo điều kiện tốt nhất cho quá trình học tập của tôi tại đây Tôi cũng gửi lời cảm ơn đến các cán bộ tại Thư viện Quốc gia, Thư viện của Viện chiến lược và Chương trình giáo dục, đã tạo điều kiện cho tôi thu thập những tài liệu cần thiết cho luận văn
Luận văn này cũng không thể hoàn thành nếu không có những người thân trong gia đình và các bạn bè của tôi, những người bằng nhiều cách khác nhau đã
giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu của mình
Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù đã rất cố gắng song do năng lực bản thân còn nhiều hạn chế nên luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong
sự đóng góp, ý kiến xây dựng của thầy cô và các bạn
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 12 năm 2007
Tác giả luận văn Trương Thị Hoa
Trang 5MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục tiêu nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 6
6 Cấu trúc của luận văn 7
CHƯƠNG 1: ĐẢNG LÃNH ĐẠO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC PHỔ THÔNG (TỪ 1975 ĐẾN 1986) 8
1.1 Giáo dục phổ thông là nền tảng văn hóa của một nước 8
1.2 Những hoạt động giáo dục phổ thông bước đầu của nước Việt Nam thống nhất 10
1.3 Tiến hành cải cách giáo dục lần thứ ba 14
1.3.1 Sơ lược hai cuộc cải cách giáo dục sau cách mạng tháng Tám năm 1945 14
1.3.2 Tiến hành cải cách giáo dục lần thứ ba 18
1.3.3 Quá trình thực hiện cải cách giáo dục phổ thông 26
CHƯƠNG 2: ĐẢNG LÃNH ĐẠO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC PHỔ THÔNG (TỪ 1986 ĐẾN 2000) 42
2.1 Giai đoạn 1986 - 1996 42
2.1.1 Đường lối đổi mới giáo dục phổ thông của Đảng 42
2.1.1.1 Đổi mới tư duy giáo dục phổ thông 42
2.1.1.2 Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII) về việc tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục - đào tạo (1/1993) 48
2.1.2 Quá trình thực hiện đường lối đổi mới giáo dục phổ thông trong những năm 1986 - 1996 ………53
Trang 62.1.2.1 Ngành giáo dục phổ thông triển khai thực hiện đường lối
đổi mới của Đảng ………53
2.1.2.2 Một số kết quả của giáo dục phổ thông giai đoạn 1986 - 1996 61
2.2 Giai đoạn 1996 - 2000 69
2.2.1 Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) về định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa (12/1996) 69
2.2.2 Giáo dục phổ thông Việt Nam trong những năm 1996 - 2000 77
CHƯƠNG 3: MỘT VÀI NHẬN XÉT, BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐÃ ĐẶT RA 93
3.1 Một vài nhận xét 93
3.1.1 Về thành tựu 93
3.1.2 Hạn chế 101
3.2 Bài học kinh nghiệm 108
3.3 Những vấn đề đã đặt ra 118
KẾT LUẬN ….125
TÀI LIỆU THAM KHẢO 128
PHỤ LỤC 134
Trang 7ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TRƯƠNG THỊ HOA
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO
SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
(TỪ 1975 ĐẾN 2000)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2007
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hơn 60 năm qua (1945 - 2007), nền giáo dục nước ta đã trải qua biết bao thử thách, thăng trầm, nhưng vẫn luôn giữ vững bản chất là nền giáo dục “của dân, do dân
và vì dân”, vẫn phát triển, ngay trong những điều kiện hết sức khó khăn của chiến tranh
và của trình độ kinh tế non kém Đảng ta đã có nhiều chủ trương, biện pháp giáo dục kịp thời, sáng suốt đào tạo và bồi dưỡng con người, thích hợp với hoàn cảnh đất nước, góp phần xứng đáng vào thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và công cuộc kiến thiết đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội và công cuộc đổi mới đang tiến hành Đảng và Nhà nước ta hết sức coi trọng vị trí, vai trò của giáo dục trong sự nghiệp cách mạng Ngày nay, giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu
Trong hệ thống giáo dục quốc dân của Việt Nam, giáo dục phổ thông là nền tảng văn hóa của một nước, là sức mạnh tương lai của một dân tộc, nó đặt những cơ sở ban đầu rất quan trọng cho sự phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ
và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Chính vì thế mà giáo dục phổ thông là bộ phận rất quan trọng trong hệ thống giáo dục nước ta, luôn được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm
Đại thắng mùa xuân năm 1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam, đã mở ra giai đoạn mới của dân tộc, giai đoạn cả nước độc lập, thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội
Từ đây, nhiệm vụ chính trị của nền giáo dục nước ta là phục vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ nền độc lập của đất nước Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 2000, lịch sử phát triển giáo dục của Việt Nam nói chung và lịch sử phát triển giáo dục phổ thông nói riêng nằm trong bối cảnh của rất nhiều biến động kinh tế - xã hội, của một đất nước vừa bước ra khỏi cuộc chiến tranh lâu dài và ác liệt, của sự thăng trầm về kinh tế
Trang 9vv…Chính vì vậy, đây cũng là thời kỳ mà Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành cuộc cải cách giáo dục lần thứ ba (1979) và công cuộc đổi mới giáo dục kéo dài (bắt đầu từ năm 1987) cùng với nhiều chủ trương chính sách cụ thể đối với giáo dục phổ thông trong từng giai đoạn Những chính sách đó đã đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển của giáo dục, đưa giáo dục nước nhà đạt được những thành tựu to lớn, góp phần không nhỏ vào
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, lịch sử phát triển của giáo dục nói chung và đặc biệt là giáo dục phổ thông nước ta nói riêng giai đoạn này không phải đi lên theo một đường thẳng đứng mà có những bước thăng trầm, lên xuống trong từng giai đoạn, rất nhiều vấn đề đã đặt ra
Thực tế cho thấy, nền giáo dục của ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, trở thành nền giáo dục của toàn dân, nhưng bên cạnh đó vẫn tồn tại những yếu kém và bất cập cần được giải quyết Việc tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục theo hướng hiệu quả, hiện đại, phù hợp với trình độ phát triển của thế giới trên cơ
sở phát huy truyền thống dân tộc và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa đang là vấn
đề cấp bách đặt ra cho giáo dục Việt Nam hiện nay
Muốn vậy, ngoài việc tham khảo mô hình giáo dục của một số nước tiên tiến, thì một điều rất cần thiết là phải nhìn nhận, tiếp thu những kinh nghiệm giáo dục trong lịch
sử giáo dục của đất nước Với mục đích tìm hiểu đường lối của Đảng ta đối với giáo dục phổ thông giai đoạn này cũng như quá trình thực hiện trong thực tiễn, phân tích rõ những thành tựu cũng như những hạn chế của nó, từ đó nhìn nhận, đánh giá, có thể rút
ra một số bài học kinh nghiệm để xây dựng phương hướng phát triển đúng đắn của giáo dục phổ thông Việt Nam giai đoạn sau này
Chính vì lý do đó mà tôi chọn đề tài cho luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử
Đảng cộng sản Việt Nam của mình là: “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sự nghiệp giáo dục phổ thông (từ 1975 đến 2000)”
Trang 102 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử giáo dục Việt Nam nói chung và giai đoạn từ 1975 nói riêng Các sách đó có một số cuốn có điểm qua về lịch sử giáo dục phổ thông cũng như những chính sách của Đảng và Nhà nước đối với giáo dục phổ thông từ năm 1975, tuy nhiên cũng rất sơ sài vì đó chỉ là một phần nhỏ trong cuốn sách, thời gian cũng chỉ hạn chế đến thời điểm viết cuốn sách, hoặc chỉ quan tâm đến một vấn đề nào đó của giáo dục phổ thông Theo thứ tự thời gian xuất bản, có thể kể đến như:
Cuốn “35 năm phát triển sự nghiệp giáo dục phổ thông”, của Võ Thuần Nho
(cb) do Nxb Giáo dục xuất bản năm 1980, đề cập đến lịch sử giáo dục phổ thông nước
ta từ năm 1945 đến 1980, trong đó dành một phần rất khiêm tốn để nói về tình hình giáo dục phổ thông nước ta từ sau ngày giải phóng đến năm 1980 với những số liệu thống kê Cuốn sách giúp cho chúng ta nắm được lịch sử cơ bản của 35 năm phát triển
sự nghiệp giáo dục phổ thông Việt Nam
Cuốn “Tổng kết giáo dục 10 năm (1975 - 1985) ” của Bộ Giáo dục do Nxb Giáo
dục ban hành năm 1986, đã tiến hành tổng kết, nêu ra những chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đối với giáo dục, sự triển khai của Bộ Giáo dục cũng như tình hình tổng quát, những phân tích nhận xét của giáo dục Việt Nam trong giai đoạn này, trong
đó có đề cập đến tình hình ngành giáo dục phổ thông Mặc dù không đi sâu vào ngành giáo dục phổ thông nhưng cuốn sách đã cung cấp những tài liệu quan trọng và bổ ích, nhất là những số liệu thống kê về tình hình giáo dục phổ thông nước ta
Cuốn “Sơ thảo giáo dục Việt Nam (1945 - 1990)” do Phạm Minh Hạc (cb), được
Nxb Giáo dục phát hành năm 1992 Trong đó, trình bày sơ lược về các cuộc cải cách giáo dục, hệ thống giáo dục phổ thông, một số hoạt động của công cuộc xóa mù chữ và phổ cập giáo dục giai đoạn 1975 - 1990
Cuốn “50 năm phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo (1945 - 1995)” của Bộ
Giáo dục và Đào tạo, do Nxb Giáo dục phát hành năm 1995 Cuốn sách là một công
Trang 11trình đồ sộ của nhiều tác giả, cuốn sách là bức tranh toàn cảnh nói về sự phát triển của giáo dục Việt Nam từ 1945 đến 1995, trong đó có ngành giáo dục phổ thông giai đoạn
1975 - 1995 Cuốn sách cũng đã cung cấp những tài liệu cơ bản về các mặt của giáo dục phổ thông giai đoạn này từ đường lối chính sách đến tình hình phát triển của giáo dục phổ thông và những đánh giá, nhận xét chung về giáo dục Việt Nam
Cuốn “Từ bộ Quốc gia đến bộ giáo dục và đào tạo (1945 - 1995)” do Vũ Xuân
Ba, Phạm Duy Bình, Nguyễn Minh Đường (cb) được Nxb Giáo dục phát hành năm
1995 Đây là một đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của tập thể các nhà khoa học về lịch sử cơ quan Bộ Giáo dục và Đào tạo từ 1945 đến 1995 Cuốn sách dành một phần nói về sự chỉ đạo của Bộ đối với ngành giáo dục phổ thông, trong đó có đề cập sơ qua giai đoạn 1975 - 1995 Mặc dù chỉ mang tính chất sơ thảo nhưng cuốn sách cũng cho ta thấy Bộ Giáo dục đã quan tâm chỉ đạo, triển khai các đường lối chính sách về giáo dục phổ thông của Đảng đối với ngành giáo dục phổ thông giai đoạn này như thế nào
Cuốn “Nhà trường phổ thông Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử” của Viện Khoa
học giáo dục được Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội phát hành năm 2001, trong đó có trình bày tình hình, những đánh giá tổng hợp về giáo dục phổ thông giai đoạn 1975 -
1995 Tuy nhiên đó mới chỉ là sự khái quát sơ lược về giáo dục và nhà trường phổ thông Việt Nam giai đoạn này, giới hạn đến năm 1995, bản thân cuốn sách cũng là sự
kế thừa những cuốn sách trước đã viết về giáo dục phổ thông của nước ta
Cuốn “Lịch sử giản lược hơn 1000 năm nền giáo dục Việt Nam” của tác giả Lê
Văn Giạng do Nxb Chính trị quốc gia phát hành năm 2003, trong đó có dành một phần nhỏ mô tả hoạt động nền giáo dục của nước Việt Nam thống nhất và chủ nghĩa xã hội (từ năm 1975 đến năm 2000) Như tên gọi của cuốn sách, tác giả đã trình bày một cách khái lược tiến trình giáo dục Việt Nam, giáo dục phổ thông được đề cập đến một cách
sơ lược
Cuốn “Lịch sử giáo dục Việt Nam” do Bùi Minh Hiền biên soạn được Nxb Đại
học sư phạm phát hành năm 2004 Đây là giáo trình dùng cho sinh viên các trường Đại
Trang 12học và Cao đẳng sư phạm, trong đó có dành hai chương viết về giáo dục Việt Nam hai giai đoạn 1975 - 1986 và 1986 đến nay (năm 2004) Cuốn sách không dành viết riêng
về giáo dục phổ thông, nhưng qua việc trình bày những chính sách, những tổng kết tình hình giáo dục Việt Nam nói chung, ta có thể chọn lọc ra những phần liên quan đến giáo dục phổ thông giai đoạn 1975 - 2000
Kế thừa thành tựu của các tác giả đi trước, luận văn sẽ cố gắng tập hợp những chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về giáo dục phổ thông giai đoạn 1975 -
2000 và các hoạt động cơ bản của ngành giáo dục để triển khai thực hiện, trên cơ sở đó mạnh dạn phân tích và đưa ra những nhận xét về giáo dục phổ thông giai đoạn này Vấn đề sẽ được trình bày trong một hệ thống chặt chẽ, lôgíc và có tính lịch sử Chúng tôi coi đó là đóng góp mới của đề tài
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của luận văn là tìm hiểu sự lãnh đạo của Đảng đối với giáo dục phổ thông những năm 1975 - 2000 Trên cơ sở tìm hiểu những đường lối, chính sách, chủ trương của Đảng đối với giáo dục phổ thông giai đoạn này cũng như quá trình triển khai thực hiện những chính sách đó như thế nào, đồng thời căn cứ vào hoàn cảnh lịch
sử cụ thể từ đó phân tích, đánh giá để để xem xét kết quả: những thành tựu, vai trò của Đảng cũng như những vấn đề tồn tại, hạn chế, những nguyên nhân lý giải cho sự phát triển thăng trầm của giáo dục phổ thông giai đoạn này và một số bài học kinh nghiệm rút ra cho sự lãnh đạo của Đảng đối với sự phát triển của giáo dục phổ thông
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là toàn bộ chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác giáo dục phổ thông trong những năm 1975 - 2000 cùng những hoạt động của hệ thống giáo dục này dưới sự lãnh đạo của Đảng
Phạm vi nghiên cứu đề tài được giới hạn trong 25 năm (1975 - 2000), trong một thời kỳ hết sức quan trọng của đất nước vừa bước ra khỏi chiến tranh, thống nhất, vươn lên thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu và bước đầu phát triển
Trang 13Giáo dục là một khái niệm rộng lớn được cấu thành bởi nhiều yếu tố, đề tài này chỉ khảo cứu về giáo dục phổ thông - một trong những yếu tố quan trọng nhất trong hệ thống giáo dục Việt Nam
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu
Nguồn tư liệu phục vụ cho luận văn là các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng về giáo dục và giáo dục phổ thông được khai thác chủ yếu từ các Văn kiện Đảng; các tài liệu của Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục; các cuốn sách tập hợp các văn kiện, các chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, của Bộ Giáo dục và Đào tạo về giáo dục và giáo dục phổ thông; đặc biệt là đề tài kế thừa và sử dụng các kết quả nghiên cứu từ các cuốn sách, các công trình nghiên cứu của các tác giả, các nhà khoa học đi trước về giáo dục phổ thông; bên cạnh đó là việc khai thác những số liệu thống
kê từ những tổng kết của Bộ Giáo dục và Đào tạo, của Tổng cụ Thống kê Nguồn tư liệu có độ tin cậy cao và có khả năng đáp ứng tốt cho nghiên cứu của đề tài
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để có được những phân tích, đánh giá thật sự khoa học, khách quan trong khi nghiên cứu, đề tài dựa trên quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh về vấn đề giáo dục và đào tạo
Để khai thác tốt nguồn tư liệu hiện có và để trình bày vấn đề “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sự nghiệp giáo dục phổ thông (từ 1975 đến 2000)” theo một hệ
thống hợp lý, đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp sử liệu học chữ viết nhằm xử lý nguồn sử liệu chữ viết rất phong phú và khai thác được những thông tin lịch sử tin cậy
Phương pháp thống kê mô tả để thấy được những thay đổi về cơ cấu và kết quả hoạt động giáo dục thông qua các con số
Phương pháp lịch sử được ứng dụng để trình bày nội dung của đề tài theo tiến trình lịch sử
Trang 14Phương pháp lôgíc được sử dụng trong các phần khái quát, tổng kết, đánh giá của luận văn
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, Tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu làm 3 chương:
Chương 1: Đảng lãnh đạo sự nghiệp giáo dục phổ thông (từ 1975 đến 1986)
Chương 2: Đảng lãnh đạo sự nghiệp giáo dục phổ thông (từ 1986 đến 2000)
Chương 3: Một vài nhận xét, bài học kinh nghiệm và những vấn đề đã đặt ra
Trang 15CHƯƠNG 1 ĐẢNG LÃNH ĐẠO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
từ đó mà trở thành người lao động, người công dân theo lý tưởng của xã hội đó
Nhiệm vụ của giáo dục phổ thông trong chế độ xã hội chủ nghĩa là đào tạo người lao động làm chủ và phát triển toàn diện, đồng thời chuẩn bị lao động dự trữ cho sự phân công lao động xã hội Con người phát triển toàn diện, theo ý nghĩa đầy đủ của nó,
là con người được phát triển mọi khả năng của mình, được đào tạo để tinh thông những hoạt động chủ yếu của xã hội, trước hết của lao động sản xuất, trở thành những nhân cách sáng tạo, góp phần xây dựng đất nước
Giáo dục phổ thông còn là nền tảng văn hóa vì nó đóng vai trò quyết định trong
sự hình thành con người mới Trường phổ thông đã phụ trách đào tạo con người từ bé cho đến lúc trưởng thành, tức là vào quãng thời gian mà con người có thể tiếp thụ sự giáo dục một cách bền vững nhất, tiếp thụ hoàn chỉnh từ trí tuệ đến tình cảm, từ tri thức đến thực hành Đó là một phương tiện tác động đến con người mạnh mẽ và có hiệu lực hơn bất cứ hoạt động văn hóa nào khác Và cả những hoạt động văn hóa khác muốn đi vào con người thì cũng phải qua sự môi giới của giáo dục Hơn nữa, không có phương
Trang 16tiện văn hóa nào đặt nền móng cho thế giới quan khoa học bằng hệ thống kiến thức về
tự nhiên, xã hội và con người
Giáo dục phổ thông là nền tảng văn hóa của một nước, và cũng vì thế mà là sức mạnh tương lai của một dân tộc, vì ba lẽ:
Một là, văn hóa phổ thông là cái cửa đầu tiên mở cho nhân dân đi chiếm lĩnh toàn
bộ giá trị văn hóa, là bệ phóng đầu tiên của mọi phát minh khoa học và kỹ thuật
Hai là, giáo dục phổ thông là phương tiện quan trọng nhất để hình thành con
người mới, là bộ phận quan trọng nhất của cách mạng tư tưởng và văn hóa
Ba là, giáo dục phổ thông có tác dụng thúc đẩy tất cả các hoạt động văn hóa khác
và trên cơ sở phối hợp với các hoạt động văn hóa khác ấy để bồi dưỡng nên chính cái sản phẩm của giáo dục phổ thông
“Nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng” [62, tr.8] Đồng thời, nguyên lý của nền giáo dục Việt Nam là: học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội
Trong Luật Giáo dục (Luật số 11/1998/QH10 ngày 2/12/1998) của Việt Nam đã
khẳng định: “Giáo dục phổ thông là ngành giáo dục mang tính phổ cập trong giáo dục quốc dân có mục tiêu giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ, thể chất và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc… Nội dung giáo dục phổ thông phải đảm bảo tính phổ thông, cơ bản, toàn diện, hướng nghiệp và
có hệ thống; gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh, đáp ứng mục tiêu giáo dục ở mỗi bậc học, cấp học… Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng
Trang 17kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” [2, tr.94 - 96]
Vốn văn hóa phổ thông là nền tảng cho phép mọi người có thể nhảy cao trong mọi lĩnh vực hoạt động, và ngược lại, bất cứ một thiếu sót nào trong việc học phổ thông đều
để lại hậu quả tai hại trong con người trên bước đường tương lai của nó
1.2 NHỮNG HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHỔ THÔNG BƯỚC ĐẦU CỦA NƯỚC VIỆT NAM THỐNG NHẤT
Đại thắng mùa xuân năm 1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam, đã mở ra giai đoạn mới của dân tộc, giai đoạn cả nước độc lập, thống nhất và tiến lên chủ nghĩa xã hội
Tháng 9 năm 1975, Hội nghị lần thứ 24 Ban chấp hành Trung ương khóa III đã
đề ra nhiệm vụ chiến lược mới:
Miền Bắc phải tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; miền Nam phải đồng thời tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội
Về giáo dục, miền Bắc có nhiệm vụ tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua “Hai tốt”, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, tích cực giúp đỡ giáo dục miền Nam Miền Nam cần mau chóng xóa bỏ tàn dư của nền giáo dục cũ, xây dựng hệ thống giáo dục mới, nâng cao giác ngộ chính trị cho giáo viên và học sinh, xây dựng tổ chức quản
lý của ngành
Năm học 1975 - 1976, cả nước đã tiến hành khai giảng trong bầu không khí tưng bừng, phấn khởi trước thắng lợi vĩ đại của dân tộc và trong niềm vui kỷ niệm 30 năm ngày thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
Trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa, các hoạt động chủ yếu của nhà trường phổ thông vẫn là làm tốt việc dạy và học các bộ môn văn hóa, lao động sản xuất và hoạt động xã hội Ngành cũng quan tâm hết sức đến việc nâng cao phẩm chất chính trị đạo đức và năng lực chuyên môn của đội ngũ giáo viên Đối với học sinh, đặc biệt ở cấp I và cấp
Trang 18II, chú ý giáo dục thật tốt 5 điều Bác dạy, thường xuyên sinh hoạt theo chủ đề: “Vâng lời Bác dạy, thi đua làm nghìn việc tốt, mừng Tổ quốc nở hoa, mừng Đội 35 tuổi” Ngày 17/6/1975, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra chỉ thị số 221- CT/TW hướng dẫn công tác giáo dục ở miền Nam
Căn cứ vào chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng, công tác giáo dục phổ thông
ở miền Nam có những nhiệm vụ sau: mau chóng đưa giáo dục trở lại hoạt động bình thường; kết hợp việc cải tạo nền giáo dục cũ và xây dựng nền giáo dục mới, lấy công tác giáo dục chính trị và xây dựng tổ chức làm nhiệm vụ trung tâm, làm cho giáo dục trở thành một lực lượng cách mạng góp phần xây dựng xã hội mới; đẩy mạnh việc xóa nạn mù chữ cho nhân dân lao động, bổ túc văn hóa cho cán bộ và thanh niên, coi đó là nhiệm vụ số một; phát triển giáo dục phổ thông và mẫu giáo nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho con em nhân dân lao động được đi học; xây dựng hệ thống các trường sư phạm
để đào tạo cán bộ, giáo viên mới; tổ chức lại việc quản lý giáo dục, chuẩn bị cho kế hoạch phát triển lâu dài của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa thống nhất trong cả nước Thực hiện chỉ thị số 221, các tỉnh miền Nam lần lượt khai trường, lập ban điều hành lâm thời do quần chúng đề cử để quản lý nhà trường Học sinh được tổ chức học
bù để chuẩn bị thi lên lớp 6 và thi tú tài, việc chuẩn bị kỳ thi tốt nghiệp lớp 12 (tú tài) tiến hành đồng thời với việc chuẩn bị khai trường vào năm học mới
Cuối tháng 9/1975, gần 62.000 thí sinh của 29 tỉnh, thành phía Nam đã dự thi tốt nghiệp phổ thông dưới chế độ mới [63, tr 234]
Ngày 19/10/1975, các trường phổ thông khắp các tỉnh miền Nam đã tưng bừng khai giảng năm học giải phóng mới với 4 triệu học sinh phổ thông, mẫu giáo và gần 10 vạn giáo viên Mở đầu năm học là việc tổ chức học tập thư Bác Hồ gửi học sinh nhân ngày khai trường 9/1945 để xác định thái độ, động cơ học tập mới, rèn luyện đạo đức người học sinh dưới chế độ mới
Ngay năm học đầu, các trường phổ thông ở miền Nam đã chuyển sang hệ thống giáo dục mới Trường phổ thông mới gồm 12 năm chia làm 3 cấp: cấp I (5 năm) gắn
Trang 19với trường cấp II (4 năm), cấp III tức trường phổ thông trung học có phân khoa (3 năm) Nội dung giáo dục đổi mới, tiến bộ cả về tư tưởng chính trị lẫn mặt khoa học Bộ Giáo dục đã kịp thời ban hành chương trình mới, biên soạn và in 20 triệu bản sách giáo khoa cấp I, cấp II, cấp III gửi vào miền Nam thay cho sách cũ Hầu hết các giáo viên cũ được tuyển dụng lại
Miền Bắc đã kịp thời cử cán bộ, giáo viên vào Nam bổ sung những nơi thiếu hụt, đặc biệt là đội ngũ quản lý, chỉ đạo giáo dục Mặt khác, chính quyền mới đã đào tạo cấp tốc một số giáo viên mới
Mùa hè năm 1975, các giáo viên miền Nam đã được tham dự một lớp học chính trị, nghiệp vụ Mọi người thảo luận dân chủ về tình hình, nhiệm vụ cách mạng, ý nghĩa chiến thắng đế quốc Mĩ và tay sai, nghiên cứu về chương trình, tính chất của nền giáo dục mới Nhờ vậy, các giáo viên đã nhận thức rõ ràng hơn, phấn khởi bắt tay vào khôi phục nhanh chóng các sinh hoạt của nhà trường
Cơ cấu thành phần xã hội của học sinh được cải tiến một bước Trường học được phân bổ đều hơn, bố trí ở các vùng đông dân lao động, ở nông thôn, ở vùng dân tộc ít người, các khu kinh tế mới Trường học vùng giải phóng cũ được củng cố và mở rộng thêm Con em nhân dân lao động, các gia đình cách mạng, liệt sĩ được ưu tiên nhận vào học Trong chế độ cũ có tới 2.500 trường tư thục, một nửa là tôn giáo, nay là “công lập hóa” một số lớp trường, tách nhà trường khỏi ảnh hưởng của tôn giáo và chủ trương đưa dần toàn bộ trường tư vào sự quản lý của Nhà nước Các giáo viên trường tư sẽ được Nhà nước xem xét và tuyển dụng Học sinh các trường phổ thông đều được miễn học phí
Ngày 19/1/1976, Thủ tướng ra quyết định số 41/TTg về việc ngân sách Nhà nước đảm nhiệm in sách giáo khoa phát không cho toàn thể học sinh ở các cấp học, từ mẫu giáo đến cấp III Đó là một sự cố gắng lớn của Đảng và Chính phủ Nhiều nơi đã có sáng kiến lập tủ sách dùng chung cho nhà trường, tổ chức cho học sinh mượn và bảo quản tốt
Trang 20Tháng 4/1976 Tổng tuyển cử thống nhất nước nhà tiến hành thắng lợi, bầu ra Quốc hội khóa VI của nước Việt Nam Đến tháng 12/1976, Đại hội Đảng lần thứ IV đã vạch ra con đường cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn nước ta đã độc lập
và thống nhất
Vấn đề xây dựng con người mới, Đại hội chỉ rõ những đặc trưng cần phải bồi dưỡng là “làm chủ tập thể, lao động, yêu nước xã hội chủ nghĩa và tinh thần quốc tế vô sản” Để xây dựng con người mới, giáo dục phổ thông phải là “nền tảng văn hóa của một nước, là sức mạnh tương lai của một dân tộc, nó đặt những cơ sở ban đầu rất trọng yếu cho sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa” Vì vậy, nhiệm vụ của giáo dục trong giai đoạn cách mạng mới là phải “đào tạo có chất lượng tốt những người lao động mới” và thực hiện tốt nguyên lý, phương châm giáo dục của Đảng
Những năm đã qua, giáo dục tuy đã thu hút được những thành tựu to lớn, song cũng còn nhiều mặt yếu kém, thiếu sót Thực trạng của giáo dục trong thời kỳ mới không đủ đáp ứng những yêu cầu của cách mạng Bởi vậy, Đại hội IV đã quyết định phải “tiến hành cải cách giáo dục trong cả nước, làm cho hệ thống giáo dục quốc dân gắn chặt hơn nữa với sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa”
Tháng 4/1977, hội nghị tổng kết 5 năm thi đua “Hai tốt” theo gương các điển hình tiên tiến được tổ chức (1971 - 1976) Sau 5 năm phấn đấu, nhiều đơn vị tiên tiến xuất hiện Số trường vừa học vừa làm lên tới 47 trường phân bố trên khắp các địa bàn đất nước Nhiều hình thức học tập và lao động phong phú, thích hợp với từng vùng kinh tế khác nhau
Qua những bài học kinh nghiệm phong phú của các đơn vị mới và cũ, hội nghị một lần nữa khẳng định, đánh giá cao những đóng góp của phong trào, đặc biệt là bài học về tinh thần cách mạng tiến công, tự mình khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, sáng tạo và kiên trì thực hiện mục tiêu, nguyên lý của Đảng về giáo dục Hội nghị đã nhất trí cao là cần thiết tiếp tục phát động phong trào thi đua “Hai tốt” theo gương các trường
Trang 21học tiên tiến Phát huy kết quả hội nghị, năm học 1977 - 1978 đã diễn ra một khí thế
“đồng khởi thi đua” sôi nổi
Năm 1976 toàn miền Nam có hơn 3 triệu người mù chữ trong đó có 1,5 triệu trong độ tuổi 12 đến 50 Nhưng đến ngày 28/2/1978, toàn miền Nam đã cơ bản hoàn thành xóa nạn mù chữ, với “1.323.670 người đã thoát nạn mù chữ, tỉ lệ người biết chữ trong độ tuổi 12 đến 50 là 94,15% [44; tr.49] Trong năm học 1978 - 1979, ở nhiều địa phương như Tiền Giang, Nghĩa Bình, Nghệ Tĩnh, Hải Hưng… phong trào phổ cập cấp
I đã diễn ra sôi nổi Việc phổ cập cấp II cũng có nhiều tiến bộ mới
Ngày 21/3/1978, quyết định số 63/CP của Hội đồng Chính phủ đã thể chế hóa loại trường phổ thông vừa học vừa làm, quy định một số biện pháp để đảm bảo cho loại trường này có điều kiện phát triển
Ở miền Nam trong 3 năm cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhà trường phổ thông đều có những tiến bộ mọi mặt Bên cạnh việc dạy và học văn hóa, các trường thành phố đều tham gia phong trào quét sạch tàn dư văn hóa phản động, cải tạo tư sản thương nghiệp Các trường nông thôn tham gia phong trào bổ túc văn hóa, phong trào làm thủy lợi
Ngày 16/6/1978, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra chỉ thị số 47-CT/TW hướng dẫn công tác giáo dục miền Nam trong 3 năm 1978 - 1980, đề ra kế hoạch phát triển giáo dục tích cực và vững chắc về bổ túc văn hóa, mầm non và phổ thông
Về kiến thức văn hóa, điều đáng lưu ý là có nhiều học sinh giỏi xuất hiện Trong
kỳ thi toán quốc tế năm 1979, đoàn học sinh Việt Nam có 4 em thì cả 4 em đều đoạt giải: 1 giải nhất và 3 giải nhì
Tuy vậy, nhìn chung cả nước, chất lượng giáo dục toàn diện còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu xây dựng chủ nghĩa xã hội của một nước Việt Nam thống nhất
1.3 TIẾN HÀNH CẢI CÁCH GIÁO DỤC LẦN THỨ BA
1.3.1 SƠ LƢỢC HAI CUỘC CẢI CÁCH GIÁO DỤC SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945
Trang 22Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 2/9/1945 nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, mở ra một kỷ nguyên mới của đất nước Ngày 3/9/1945 trong thư gửi học sinh nhân ngày khai trường, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định vai trò của giáo dục phục vụ sự phục hưng của một nước mới giành được độc lập: “Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được vẻ vang sánh vai các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu” Cùng ngày đó, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Chủ tịch nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu Vì vậy tôi đề nghị mở chiến dịch chống nạn mù chữ”, coi nạn thất học là một thứ giặc nguy hiểm như giặc ngoại xâm và nạn đói, và đề ra nhiệm
vụ nâng cao dân trí là một nhiệm vụ cấp bách lúc bấy giờ
Vừa tiến hành chiến dịch chống nạn mù chữ, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tiếp tục phát triển đại học và trung học, chủ trương cải cách nền giáo dục thành nền giáo dục của một nước độc lập, một nền giáo dục sẽ đào tạo thế hệ trẻ thành những người công dân hữu ích cho đất nước, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực vốn có của học sinh
Chính phủ chủ trương xây dựng một nền giáo dục nhân dân, dân chủ, phụng sự sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, một nền giáo dục tôn trọng nhân phẩm, rèn luyện chí khí, phát triển tài năng Từ sau cách mạng tháng Tám đến năm 1975, trên đất nước
ta đã trải qua 2 cuộc cải cách giáo dục:
- Cải cách giáo dục năm 1950
- Cải cách giáo dục năm 1956
Cuộc cải cách giáo dục năm 1950:
Ngay từ tháng 10/1945 Chính phủ đã thành lập Hội đồng cố vấn học chính để nghiên cứu một chương trình cải cách giáo dục Nhưng vì từ tháng 9/1945 ở miền Nam
và từ tháng 12/1946 ở cả miền Bắc, nhân dân ta phải tiến hành cuộc chiến tranh chống thực dân xâm lược Pháp (cuộc chiến tranh này kết thúc bằng thắng lợi của Việt Nam tại chiến dịch Điện Biên Phủ tháng 5/1954), nên đến tháng 7/1950 Hội đồng Chính phủ
Trang 23mới thông qua đề án cải cách giáo dục và quyết định bắt đầu thực hiện cuộc cải cách này
Theo đề án cải cách này nền giáo dục nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được chính thức tuyên bố là nền giáo dục của dân, do dân, vì dân; được xây dựng theo
nguyên tắc: dân tộc, khoa học, đại chúng Mục tiêu đào tạo: giáo dục thế hệ trẻ thành
những người công dân trung thành với Tổ quốc, có năng lực và phẩm chất phục vụ đất
nước Phương châm giáo dục: học đi đôi với hành, lí luận gắn liền với thực tiễn Về nội
dung giáo dục phổ thông tập trung vào một số môn như tiếng Việt, Văn, Toán, Lí, Hóa,
Sinh; có các môn học mới: thời sự - chính sách, giáo dục công dân, tăng gia sản xuất; không học các môn: ngoại ngữ, nhạc, vẽ, nữ công gia chánh Theo tinh thần của cuộc cải cách lần này, nước ta đã thực hiện dạy tiếng Việt ở bậc đại học, hoàn tất việc đưa tiếng Việt vào vào dạy ở nhà trường vốn đã được triển khai sau Cách mạng tháng Tám năm 1945
Cơ cấu trường phổ thông:
Sau cách mạng tháng Tám, hệ thống giáo dục phổ thông được sửa đổi thành hệ
11 năm (4 + 4 +3) với bậc tiểu học 4 năm và bậc trung học 7 năm, trong đó trung học bậc cao (trung học chuyên khoa) (3 năm) có 3 ban là ban Toán Lí Hóa, ban Lí Hóa Sinh và ban Văn Sử Địa
Với cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất này, hệ thống giáo dục phổ thông được cơ cấu lại thành hệ 9 năm (4 + 3 + 2) cho phù hợp với hoàn cảnh kháng chiến, bao gồm 3 cấp học: cấp I, cấp II, cấp III Cấp I: 4 năm (không kể vỡ lòng) (lớp 1 - 4), thay cho cấp tiểu học; cấp II: 3 năm (lớp 5 - 7), thay cho bậc trung học đệ nhất cấp gồm 4 năm và cấp III: 2 năm (lớp 8 - 9), thay cho bậc trung học chuyên khoa (hay trung học đệ nhị cấp) gồm 3 năm
Bên cạnh hệ thống giáo dục phổ thông còn có hệ thống giáo dục bình dân, giáo dục chuyên nghiệp và giáo dục cao đẳng, đại học
Trang 24Tháng 2/1951, Đại hội Đảng lần thứ II đã họp, quyết định Đảng ra công khai hoạt động, đổi tên Đảng Cộng sản Đông Dương thành Đảng Lao động Việt Nam Nghị quyết của Đại hội đã soi sáng cho ngành giáo dục thực hiện thắng lợi những mục tiêu của cải cách giáo dục
Cuộc cải cách giáo dục năm 1956:
Cuộc cải cách giáo dục năm 1950 được tiến hành ở các vùng giải phóng, trong vùng thuộc quyền kiểm soát của bọn thực dân Pháp các trường vẫn dạy theo số năm học phổ thông từ tiểu học đến hết trung học đệ nhị cấp là 12 năm, với nội dung, chương trình cơ bản giống trước năm 1945
Như vậy là, cho đến lúc giải phóng và hòa bình lập lại (1954) ở miền Bắc từ vĩ tuyến 17 trở lên có hai hệ thống giáo dục phổ thông: hệ thống giáo dục phổ thông 9 năm và hệ thống giáo dục phổ thông 12 năm Việc gấp rút thống nhất hai hệ thống giáo dục là một đòi hỏi khách quan cấp thiết Hội nghị lần thứ VII của Trung ương Đảng khóa II (3/1955) đã nêu nhiệm vụ phải mau chóng “chấn chỉnh và củng cố giáo dục phổ thông, thống nhất hai hệ thống giáo dục của vùng tự do cũ và các vùng mới giải phóng” [12, tr 20]
Tháng 3/1956 Chính phủ thông qua đề án cải cách giáo dục lần thứ hai và giao cho Bộ Giáo dục bắt đầu triển khai đề án đó Tháng 8/1956 Chính phủ ban hành “chính sách giáo dục phổ thông của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”
Mục tiêu của cuộc cải cách giáo dục lần này là: “đào tạo, bồi dưỡng thế hệ thanh
niên và thiếu nhi trở thành những người phát triển về mọi mặt, những công dân tốt, trung thành với Tổ quốc, những người lao động tốt, cán bộ tốt của Nhà nước, có tài có đức để phát triển chế độ dân chủ nhân dân tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước
ta, đồng thời để thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ” [44, tr 27]
Phương châm giáo dục là liên lệ lí luận với thực tiễn, gắn nhà trường với đời sống
xã hội Nội dung giáo dục có tính chất toàn diện, gồm bốn mặt: đức dục, trí dục, thể
Trang 25dục, mĩ dục, trong đó lấy “trí dục là cơ sở” đồng thời tăng cường giáo dục tư tưởng và giáo dục đạo đức cũng trên cơ sở coi trọng giảng dạy tri thức có hệ thống Trong phương pháp, tăng cường thực hành, tăng cường giờ lao động sản xuất, chú ý nhiều hơn đến ứng dụng tri thức vào đời sống
Hệ thống giáo dục phổ thông từ 9 năm nâng lên 10 năm, bao gồm:
1.3.2 TIẾN HÀNH CẢI CÁCH GIÁO DỤC LẦN THỨ BA
Thực hiện Nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ IV, ngày 11/1/1979, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết số 14-NQ/TW về cải cách giáo dục
Lý do và yêu cầu của cuộc cải cách:
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng Lao động Việt Nam đã đổi tên Đảng thành Đảng Cộng sản Việt Nam và vạch ra phương hướng, nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội trên toàn quốc, mà nội dung chủ yếu là từng bước xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, chế độ làm chủ tập thể, xây dựng con người mới và nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa, bằng cách “tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học - kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hóa, trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt” [28, tr 5 - 6]
Để đáp ứng những yêu cầu đó, nước ta có một cơ sở thuận lợi: “đó là những thành tựu đáng tự hào của sự nghiệp giáo dục trong hơn 20 năm qua” [28, tr 9] Tuy nhiên, đối chiếu với yêu cầu của cách mạng trong giai đoạn mới, sự phát triển của giáo dục Việt Nam (đến năm 1979) cả về số lượng và chất lượng đều không đáp ứng được, còn nhiều nhược điểm và thiếu sót
Trang 26“Sự nghiệp giáo dục xã hội chủ nghĩa của ta phát triển nhanh về số lượng, nhưng còn yếu về chất lượng toàn diện Nội dung và phương pháp giáo dục chưa thấu suốt nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội” [28, tr 12]
Hệ thống giáo dục chưa bồi dưỡng đúng mức cho thế hệ trẻ những phẩm chất và năng lực của con người mới, chưa chuẩn bị đầy đủ cho học sinh đi vào sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa Hệ thống giáo dục cũng chưa bảo đảm việc hình thành đội ngũ lao động mới có ý chí cách mạng kiên cường, có trình độ kiến thức, tác phong công tác và lối sống phù hợp Chưa đảm bảo yêu cầu học tập thường xuyên và rộng rãi của đông đảo nhân dân lao động
Về hạn chế trong giáo dục phổ thông, Nghị quyết nêu: “Học sinh tốt nghiệp các trường phổ thông chưa được chuẩn bị kiến thức cần thiết, về ý thức, năng lực và sức khỏe để trở thành những người lao động kiểu mới Nội dung giáo dục của trường phổ thông chưa toàn diện, chủ yếu chỉ mới dạy kiến thức văn hóa chung, còn coi nhẹ kiến thức kỹ thuật và quản lý; phương pháp giáo dục của trường phổ thông còn có phần đơn giản và cũ kỹ, coi nhẹ thực hành và lao động sản xuất, do đó chưa phát huy trí thông minh, óc sáng tạo của học sinh…Mức độ phổ cập giáo dục phổ thông trong cả nước còn thấp so với yêu cầu phát triển kinh tế và văn hóa trong giai đoạn mới” [28, tr 13]
Vì vậy, yêu cầu cải cách nền giáo dục đáp ứng yêu cầu mới của cách mạng Việt Nam là tất yếu Từ năm 1975, trên đất nước đã bắt đầu xây dựng một nền giáo dục thống nhất cho cả nước, đó là một điều thuận lợi để thực hiện cải cách giáo dục, cải cách giáo dục sẽ có tác dụng làm cho nền giáo dục thống nhất một cách đầy đủ hơn
Mục tiêu cải cách giáo dục phổ thông:
Nghị quyết số 14-NQ/TW về cải cách giáo dục đã đề ra những mục tiêu sau:
- “Làm tốt việc chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ ngay từ tuổi thơ ấu cho đến lúc trưởng thành nhằm tạo ra cơ sở ban đầu rất quan trọng của con người Việt Nam mới, người lao động làm chủ tập thể và phát triển toàn diện
Trang 27Cần phấn đấu cho thế hệ trẻ từ 6 tuổi đến trưởng thành được học đầy đủ đến bậc phổ thông trung học và được chuẩn bị tốt để đi vào nghề nghiệp Giáo dục thế hệ trẻ lòng yêu Tổ quốc xã hội chủ nghĩa và tinh thần quốc tế vô sản trong sáng, ý thức làm chủ tập thể, tinh thần đoàn kết, thân ái, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học,
ý thức tổ chức và kỷ luật, quý trọng và bảo vệ của công, đức tính thật thà, dũng cảm, khiêm tốn, v.v… Bồi dưỡng cho thế hệ trẻ có kiến thức cơ bản về văn hóa, phát triển tư duy khoa học và phát huy năng khiếu, có óc thẩm mỹ, có thói quen giữ gìn vệ sinh vè rèn luyện thân thể… Phấn đấu thực hiện chế độ cả xã hội chăm sóc, nuôi dạy trẻ em, làm cho mọi trẻ em đều được học tập một cách bình đẳng, không tùy thuộc vào hoàn cảnh riêng về gia đình, dân tộc và địa phương” [28, tr 16 - 17]
- Thực hiện phổ cập giáo dục trong toàn dân, coi trọng việc phát triển giáo dục trong các vùng dân tộc ít người
Nguyên lý cải cách giáo dục phổ thông:
Giáo dục phổ thông được tiến hành theo nguyên lý “học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội” Nguyên lý này quyết định hệ thống giáo dục về nội dung, phương pháp, cơ cấu, làm cho công tác giáo dục gắn chặt với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Nguyên lí giáo dục nói trên xuất phát từ những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và của Đảng ta
về con người mới
“Trong nhà trường phổ thông, lao động sản xuất phải có tính chất kỹ thuật tổng hợp, nghĩa là gắn khoa học và kỹ thuật với sản xuất, dạy cho học sinh những kiến thức phổ thông về sản xuất hiện đại, nắm được những kỹ năng lao động phổ thông và làm quen với công cụ và máy móc, có ý thức trách nhiệm và thói quen đối với lao động, chuẩn bị tốt cho học sinh đi vào đào tạo nghề nghiệp” [28, tr 21]
Nội dung chủ yếu của cải cách giáo dục phổ thông:
Để thực hiện được mục tiêu, nguyên lý giáo dục, phải tiến hành cải cách toàn bộ
hệ thống, nội dung và phương pháp giáo dục
Trang 28- Về cơ cấu của hệ thống giáo dục phổ thông: “Xây dựng mới và mở rộng hệ thống trường phổ thông, nhằm thực hiện việc giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ từ 6 tuổi đến tuổi trưởng thành, chuẩn bị tốt cho thanh niên đi vào đào tạo nghề nghiệp, từ công nhân đến đại học Trước mắt, hoàn thành việc phổ cập bậc phổ thông cơ sở, đồng thời từng bước thực hiện việc phổ cập bậc phổ thông trung học bằng nhiều hình thức Gắn liền hệ thống giáo dục phổ thông với hệ thống giáo dục chuyên nghiệp và đại học, nhằm làm cho hệ thống giáo dục phổ thông thực hiện tốt chức năng chuẩn bị cho học sinh đi vào giáo dục chuyên nghiệp và đại học, làm cho hệ thống giáo dục chuyên nghiệp và đại học phát huy đầy đủ thành quả của giáo dục phổ thông
Trong hệ thống giáo dục phổ thông, cần mở rộng những trường, lớp phổ thông cho những học sinh có năng khiếu đặc biệt và những trường, lớp phổ thông dành riêng cho các trẻ em có tật (mù, điếc, câm, chậm phát triển, v.v…)” [28, tr 23 - 24]
- Về nội dung giáo dục phổ thông, Nghị quyết chỉ rõ “ cải cách là nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, tạo ra những lớp người lao động mới làm chủ tập thể, đủ sức gánh vác sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta” [28, tr.25] Cần tăng cường giáo dục chính trị và tư tưởng, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, đường lối và chính sách của Đảng, truyền thống tốt đẹp của dân tộc và đạo đức mới của người lao động làm chủ tập thể…
Nội dung giáo dục một mặt được nâng cao tính cơ bản hiện đại, mặt khác cố gắng đảm bảo thiết thực theo hướng gắn với thực tiễn xã hội, thiên nhiên và con người Việt Nam Đưa ra những kiến thức phổ thông về kỹ thuật và kinh tế vào trường phổ thông Tăng cường giáo dục thẩm mỹ cho học sinh, chăm lo xây dựng thói quen giữ gìn
vệ sinh và rèn luyện thân thể của học sinh, đẩy mạnh các loại hoạt động thể dục thể thao, nâng cao chất lượng luyện tập quân sự
- Về phương pháp giáo dục phổ thông: Chú trọng việc nâng cao vai trò của học sinh trong học tập, phát huy tính độc lập, sáng tạo, coi trọng việc rèn luyện và lĩnh hội thông qua luyện tập, thực hành kỹ thuật và lao động sản xuất
Trang 29Ngoài ra, Nghị quyết còn chỉ rõ hướng cải cách về đội ngũ giáo viên, cán bộ quản
lý và đưa ra những yêu cầu về biên soạn chương trình mới, sách giáo khoa, cơ sở vật chất và thiết bị cho giảng dạy, về tổ chức quản lí, nghiên cứu khoa học vv… Mặt khác, cần phải vận động phong trào quần chúng rộng rãi tham gia xây dựng nhà trường mới
dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ các cấp
Hệ thống giáo dục phổ thông mới:
Nghị quyết số 14 của Bộ chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã vạch ra
mô hình của hệ thống giáo dục quốc dân mới, đáp ứng những yêu cầu xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục phổ thông là cốt lõi, là nền tảng Vì thế bất cứ một cuộc cải cách giáo dục nào cũng phải đề cập trước tiên đến cải cách trường phổ thông Từ khi có khả năng học tập đến lúc bước vào đời, mọi người đều phải qua trường phổ thông, đó là con đường tối ưu chuẩn bị con người cho cuộc sống
Trường phổ thông có nhiệm vụ giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ từ 6 tuổi đến tuổi trưởng thành, và được chia làm hai bậc: trường phổ thông cơ sở và trường phổ thông trung học
Như vậy, trong cải cách giáo dục lần thứ ba, hệ thống giáo dục phổ thông 12 năm gồm 2 bậc học:
- Bậc phổ thông cơ sở: 9 năm, gồm hai cấp học, cấp I: 5 năm, bao gồm cả học vần
và cấp II: 4 năm
- Bậc phổ thông trung học 3 năm (cấp III)
Trang 30Sau đây, chúng ta sẽ đi vào tìm hiểu cụ thể các bậc học, nội dung cũng như phương pháp giáo dục của các bậc học phổ thông theo hệ thống giáo dục phổ thông mới được thể hiện trong Nghị quyết 14
Trường phổ thông cơ sở: là một thể thống nhất từ lớp 1 đến lớp 9; đó là bậc học
phổ cập bắt buộc cho tất cả nhi đồng và thiếu niên từ 6 tuổi tròn đến 15 tuổi tròn Trường phổ thông cơ sở có nhiệm vụ giáo dục toàn diện cho học sinh đạt trình độ văn hóa phổ thông tương đối hoàn chỉnh, có năng lực làm các loại lao động phổ thông, có ý thức lựa chọn nghề nghiệp, sẵn sàng đi vào học nghề và tham gia sản xuất, tham gia công tác trong xã hội, hoặc tiếp tục học lên bậc phổ thông trung học bằng nhiều con đường khác nhau
Nội dung giáo dục ở trường phổ thông cơ sở có tính chất toàn diện và kỹ thuật tổng hợp Các môn khoa học tự nhiên cung cấp cho học sinh những khái niệm cơ bản
về toán học, vật lý học, hóa học, sinh học, địa lý học theo quan điểm hiện đại, và được vận dụng theo hướng gắn với thực tế Việt Nam Về khoa học xã hội, cần coi trọng các môn giáo dục công dân và đạo đức cách mạng, lịch sử Việt Nam và thế giới, địa lý Việt Nam và thế giới, tiếng Việt, văn học Việt Nam và những áng văn hay của văn học thế giới Coi trọng việc dạy cho học sinh biết một thứ tiếng nước ngoài Bồi dưỡng một bước cho học sinh về kiến thức và thói quen thẩm mỹ
Học sinh phổ thông cơ sở cần có những hiểu biết kỹ thuật phổ thông, như những kiến thức thông thường về kỹ thuật nông nghiệp, những nguyên tắc cấu tạo và hoạt động của các công cụ, các cơ cấu máy đơn giản, cách sử dụng những công cụ sản xuất phổ thông; đồng thời học sinh cũng phải được giáo dục lao động một cách có phương pháp để xây dựng tinh thần sẵn sàng lao động, ý thức trách nhiệm trong lao động, thói quen lao động có tổ chức, có kỹ thuật, theo tác phong đại công nghiệp Ở các lớp trên cần hướng dẫn cho học sinh biết đại thể đặc tính của những nghề nghiệp sẽ lựa chọn Ở trường phổ thông cơ sở, việc giáo dục cho học sinh ý thức và thói quen giữ gìn vệ sinh
và rèn luyện thân thể là rất quan trọng
Trang 31Về phương pháp giáo dục, cần coi trọng việc xây dựng cho học sinh tính chủ động trong học tập và thói quen tự học Kết hợp với việc học tập văn hóa, cần tổ chức cho học sinh tham gia lao động sản xuất theo mức độ phù hợp với lứa tuổi Tăng cường sinh hoạt đoàn thể và hoạt động xã hội của học sinh thông qua Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh và Đội nhi đồng Hồ Chí Minh
Sau khi tốt nghiệp trường phổ thông cơ sở, học sinh có thể tiếp tục vào học các loại trường phổ thông trung học hoặc các loại trường chuyên nghiệp…
Trường phổ thông trung học: từ lớp 10 đến lớp 12, có nhiệm vụ nâng cao và hoàn
chỉnh trình độ văn hóa phổ thông cho những học sinh đã tốt nghiệp bậc phổ thông cơ
sở Hoàn thành bậc phổ thông trung học, học sinh có thể vào học các trường đại học, trường cao đẳng, một số trường trung học chuyên nghiệp và trường dạy nghề đòi hỏi trình độ văn hóa cao, hoặc có thể đi ngay vào lao động sản xuất Trong mạng lưới các trường phổ thông trung học, đi đôi với loại trường thông thường, cần phát triển tốt loại trường vừa học vừa làm cho lứa tuổi thanh niên
Nội dung giáo dục ở trường phổ thông trung học cũng mang tính chất toàn diện
và kỹ thuật tổng hợp, nhưng có chú ý hơn đến việc phát huy sở trường và năng khiếu
cá nhân
Các môn khoa học tự nhiên và khoa học xã hội giảng dạy trong trường phổ thông trung học sẽ cung cấp cho học sinh những kiến thức lý luận khoa học hiện đại, được chọn lọc theo hướng sát với thực tế Việt Nam Những kiến thức đó về tự nhiên, xã hội
và con người là cơ sở khoa học giúp học sinh hoàn chỉnh cho mình thế giới quan khoa học và nhân sinh quan cách mạng, giúp học sinh vững bước đi vào thực tiễn cách mạng, sản xuất và xây dựng của nước ta
Đi đôi với việc học tập những môn khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, học sinh còn được học những kiến thức phổ thông về quản lý và kỹ thuật (cơ khí, điện, trồng trọt và chăn nuôi), về cách sử dụng những máy móc thường dùng trong sản xuất
và trong đời sống
Trang 32Học sinh trường phổ thông trung học cần được học tốt tiếng nước ngoài để nâng cao năng lực học tập, nghiên cứu khoa học, kỹ thuật hiện đại, và tiếp thu kho tàng văn hóa phong phú của thế giới
Ở trường phổ thông trung học, cần coi trọng giáo dục thẩm mỹ và nghệ thuật (âm nhạc, mỹ thuật…), giáo dục và rèn luyện thể chất, hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao và luyện tập quân sự
Để phát huy sở trường và năng khiếu của từng học sinh, đồng thời để chuẩn bị đáp ứng tốt những yêu cầu của đất nước về phát triển kinh tế, văn hóa và củng cố quốc
phòng, ở trường phổ thông trung học sẽ thực hiện việc phân ban một cách hợp lý trên
cơ sở giáo dục toàn diện
Đặc điểm của phương pháp giáo dục ở bậc phổ thông trung học là kết hợp nhuần nhuyễn học tập văn hóa với lao động sản xuất, thực nghiệm khoa học, hoạt động xã hội
và sinh hoạt đoàn thể, đảm bảo cho học sinh đang độ tuổi thanh niên có thể củng cố và nâng cao vốn kiến thức, phát triển tư duy khoa học và kỹ thuật, bồi dưỡng tốt ý thức,
kỹ năng và thói quen lao động kiểu mới, phát huy mạnh hơn nữa tính năng động và vai trò làm chủ tập thể của mình thông qua quá trình vừa học tập vừa tham gia cải tạo thiên nhiên và xã hội theo mức độ thích hợp
Cần coi trọng bồi dưỡng hứng thú, thói quen và phương pháp tự học cho học sinh, hướng dẫn học sinh biết cách nghiên cứu sách, báo khoa học, thảo luận chuyên đề, ghi chép tư liệu, tập làm thực nghiệm khoa học
Triển khai hệ thống giáo dục phổ thông mới sẽ làm cho chất lượng giáo dục phổ thông được nâng cao đúng hướng Điều đó có nghĩa là, thế hệ trẻ qua trường phổ thông mới sẽ được phát triển toàn diện phù hợp với sự phát triển của kinh tế - xã hội Việt Nam trong khoảng 20 năm của giai đoạn này và có năng lực đẩy mạnh công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta vào đầu thế kỷ sau Hệ thống giáo dục phổ thông mới
đã được xây dựng trên những nguyên tắc của nhà trường xã hội chủ nghĩa mà sản phẩm cuối cùng của nó là những con người, những lớp người đáp ứng tích cực sự phân
Trang 33công lao động và cuộc sống mới, ngày càng tiếp cận những thành tựu hiện đại của cách
mạng thế giới và của khoa học kỹ thuật
1.3.3 QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CẢI CÁCH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
Tiến hành cải cách giáo dục phổ thông ở nước ta không có nghĩa chỉ là chuyển sang hệ thống mới, với chương trình học mới, mà còn là cuộc vận động toàn Đảng, toàn dân làm theo đường lối, quan điểm giáo dục xã hội chủ nghĩa của Đảng Vì thế năm học 1979 - 1980 tuy chưa chuyển sang hệ thống mới và chương trình mới, song đã từng bước thực hiện cải cách giáo dục
Trong năm 1979, Nghị quyết đã được triển khai một cách rộng rãi, quy mô để các lực lượng trong và ngoài ngành học tập, nghiên cứu
Cuộc cải cách lần này tiến hành làm 2 vòng Vòng đầu là hình thành được những
cơ sở và nội dung lớn của nền giáo dục mới, vòng 2 là vòng sửa đổi, bổ sung và hoàn chỉnh
Cuộc cải cách giáo dục phổ thông triển khai theo cách “cuốn chiếu”, nghĩa là lần lượt làm từng lớp học, mỗi năm một lớp, bắt đầu từ năm học 1981 - 1982, thay sách cải cách giáo dục ở lớp 1 Như vậy sẽ kéo dài 12 năm mới thay sách cải cách giáo dục đến lớp 12 Toàn ngành, toàn cơ quan Bộ đều hăng hái và nỗ lực, nhưng đã phải vượt qua bao nhiêu vất vả và khó khăn
Ngày 27/3/1979, Ủy ban cải cách giáo dục đã họp phiên đầu tiên dưới sự chủ tọa của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Chủ tịch Ủy ban và đồng chí Tố Hữu, phó chủ tịch Ủy ban
Để mở đầu cho việc thực hiện Nghị quyết, bước vào năm học 1979 - 1980, Ủy ban cải cách giáo dục Trung ương đã ra quyết định số 1 phát động phong trào tăng cường giáo dục đạo đức cách mạng trong các trường học Đối tượng giáo dục không chỉ là học sinh mà bao gồm cả giáo viên và cha mẹ học sinh Cuộc vận động này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc chuẩn bị tiền đề để nâng cao chất lượng giáo dục toàn
Trang 34diện, nâng cao sức chiến đấu của nhà trường chống những hiện tượng tiêu cực, chuẩn
bị cho việc thực hiện chương trình mới, hệ thống mới
Do hậu quả của chiến tranh biên giới và thiên tai, năm học 1979 - 1980 diễn ra trong hoàn cảnh có nhiều khó khăn to lớn song sự nghiệp giáo dục vẫn tiếp tục phát triển ở tất cả các ngành học Riêng giáo dục phổ thông, số lượng học sinh ba cấp của cả nước đều tăng, cụ thể là “cuối năm 1979, tổng số học sinh phổ thông lên tới 11.803.869 em, trong đó cấp I có 8.025.909, cấp II có 3.139.739 em và cấp III là 638.221 em” [75, tr 164] Phong trào phổ cập cấp I cho trẻ và người lớn cũng được đẩy mạnh hơn
Chỉ thị số 06/CT (tháng 3/1983) của Bộ giáo dục quy định tiêu chuẩn phổ cập cấp
I cho trẻ em gắn với điều kiện phải có về số lượng, chất lượng giáo viên, về cơ sở vật chất thiết bị của nhà trường để được công nhận là đơn vị đạt tiêu chuẩn phổ cập giáo dục cấp I Chỉ thị 06 quy định 90% số trẻ em 15 tuổi phải học xong chương trình cấp I cải cách giáo dục (gọi là mức I) và 10% số trẻ em 15 tuổi phải học xong phải học xong chương trình cấp I ở mức thấp hơn (gọi là mức II) Trong khi chờ đợi Bộ ban hành chương trình cấp I phổ cập (ngắn hạn…) các địa phương tạm thời rút gọn chương trình cấp I cải cách giáo dục và sử dụng chung sách giáo khoa cải cách giáo dục để dạy học
ở các lớp buổi tối, lớp tình thương…
Ngành giáo dục phổ thông đã tập trung nhiều công sức thực hiện phong trào học
đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tế Lao động sản xuất và hướng nghiệp là một nội dung quan trọng trong trường học Thực hiện quyết định 48/HĐBT (7/12/1982) của Hội đồng Bộ trưởng về tổ chức và hoạt động của các trung tâm khoa học kỹ thuật - hướng nghiệp, Bộ đã thành lập Ban lao động sản xuất về hướng nghiệp, đã chỉ đạo thành lập được hệ thống các trung tâm khoa học kỹ thuật - hướng nghiệp cấp tỉnh làm
cơ sở cho sự phát triển hệ thống này ở cấp huyện Đây là loại mô hình hướng nghiệp dạy nghề rất phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam Nhiều trường phổ thông được tăng cường thiết bị thí nghiệm, trang bị xưởng trường Các trường vừa học vừa làm được
Trang 35thành lập ở nhiều dạng khác nhau Không khí trường phổ thông trở nên sôi động hơn, gắn với đời sống xã hội hơn
Ngành giáo dục phổ thông còn rất coi trọng việc giáo dục chính trị đạo đức cho học sinh, đã xây dựng chương trình chủ điểm cho từng cấp học, từng năm học gắn với các sự kiện chính trị lớn của đất nước, phù hợp với từng lứa tuổi với nhiều sinh hoạt phong phú hơn…Ngành cũng rất chú ý đến phát triển giáo dục ở miền núi, vùng khó khăn bằng cách xây dựng hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú từ cấp Trung ương, tỉnh huyện đến cụm xã…Cũng trong giai đoạn này, hệ thống trường cán bộ quản
lý được phát triển và củng cố
Đối với các tỉnh phía Nam, việc tổng kết và mở Hội nghị khoa học về chương
trình nghiên cứu giáo dục đồng bằng sông Cửu Long họp trong hai ngày 23 và
24/9/1981 đã được đánh giá là một sự kiện đầu tiên nghiên cứu giáo dục trên một địa bàn rộng lớn có tầm quan trọng đặc biệt về mặt nông nghiệp đối với cả nước
Báo cáo của Bộ, do Thứ trưởng Hồ Trúc trình bày với nhan đề “Ngành giáo dục phổ thông đối với nhiệm vụ khoa học và kỹ thuật phát triển kinh tế và xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long” đã nêu lên một cách súc tích nhiều vấn đề có tầm quan trọng chiến lược cho giáo dục phổ thông đồng bằng sông Cửu Long, làm chuyển biến bước đầu các trường trong khu vực này
Qua hội nghị, Bộ đã nhìn thấy rõ những khó khăn của giáo dục phổ thông khu vực này: ở các xã xa đường quốc lộ, nhất là ở các xã vùng sâu, vùng căn cứ kháng chiến, chỉ có 40% - 50% số trẻ em trong độ tuổi đi học cấp I, tỉ lệ học sinh lưu ban và bỏ học
có nơi tới 25% - 30%, ảnh hưởng của lũ lụt khiến cho số tuần thực học (35 tuần) của năm theo cải cách giáo dục không thể thực hiện được; giáo viên thiếu nhiều; học sinh ở vùng kênh rạch khó đi tới học ở các điểm trường lập trong xã…Vì vậy, Bộ đã đề ra chủ trương “Nghiên cứu ban hành chương trình cấp I ngắn hạn” (100 tuần), và năm 1984 ở vùng bị lũ lụt, Bộ cho rút gọn chương trình xuống còn 26 tuần thực học
Trang 36Hội nghị khoa học về giáo dục ở đồng bằng sông Cửu Long (1981) còn là tiền đề
để đến năm 1985, phân viện Khoa học giáo dục tại Thành phố Hồ Chí Minh đề xuất một số biện pháp góp phần chuyển hướng giáo dục phổ thông ở vùng này
Ngành giáo dục phổ thông cũng đã giải quyết tích cực những khó khăn trong đời sống giáo viên để thực hiện được yêu cầu đặt ra của công cuộc cải cách giáo dục Trong những năm học 1978 - 1979 đến 1981 - 1982, đời sống khó khăn, tình trạng giáo viên, nhất là ở các tỉnh phía Nam, bỏ nghề đã trở thành mối quan tâm lớn của Bộ giáo dục Bộ đã đề xuất với Đảng và Nhà nước giải quyết được một số vấn đề cụ thể, tồn tại
từ lâu
Bằng quyết định 15-CP (14/1/1981) Chính phủ cho phép ngành giáo dục lập “quỹ bảo trợ nhà trường” Mục đích của quỹ bảo trợ là: góp phần sửa chữa, xây dựng cơ sở vật chất cho nhà trường, mua sắm thêm đồ dùng dạy học, giấy bút cho thầy giáo, góp phần cải thiện đời sống giáo viên, khen thưởng, khuyến khích thầy giáo dạy giỏi, học trò học giỏi
Quyết định của Hội đồng Bộ trưởng ngày 28/9/1982 lấy ngày 20/11 hàng năm là ngày Nhà giáo Việt Nam Nghị quyết 73/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ngày 12/7/1983 điều chỉnh thang lương giáo viên tốt nghiệp đại học sư phạm theo thang lương kỹ sư, lương giáo viên tốt nghiệp trung học sư phạm theo thang lương kỹ thuật viên
Ngành giáo dục phổ thông cũng rất quan tâm đến vai trò của các đoàn thể như phối hợp với Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đẩy mạnh việc giáo dục chính trị tư tưởng, phối hợp và tạo điều kiện hoạt động cho công đoàn giáo dục Việt Nam trong việc chỉ đạo thi đua hai tốt và chăm sóc đời sống thầy, cô giáo v.v… Triển khai cải cách giáo dục đã có nhiều cố gắng trong xây dựng cơ sở vật chất -
kỹ thuật trường học Tiếp tục thực hiện Nghị quyết 248/TTg ngày 23/11/1973 của Thủ tướng Chính phủ, “trong 10 năm từ 1975 đến 1985, cả nước đã xây dựng thêm được 185.000 nghìn phòng học các loại (trong đó có 130.000 phòng học kiên cố và bán kiên
Trang 37cố) và hơn 2 triệu mét vuông các công trình phục vụ khác (thư viện, phòng thí nghiệm, nhà làm việc, nhà ở cho giáo viên, v.v…), với số vốn huy động khoảng 16 tỉ đồng (tính theo giá năm 1984)” [12, tr.349] Đến năm học 1983 - 1984, các tỉnh phía Bắc đã căn bản thanh toán được tình trạng học 3 ca, 4 ca Một số huyện đã có đủ phòng học bằng gạch ngói học 2 ca, số trường xây dựng kiên cố cao tầng theo phương thức “Nhà nước
và nhân dân cùng làm” ngày càng nhiều Trường sở được xây dựng ngày càng đúng quy cách hơn do có sự hướng dẫn của Ban xây dựng cơ bản của Bộ Giáo dục
Cùng với việc xây dựng trường sở, vấn đề trang thiết bị đồ gỗ (bàn ghế học sinh, giáo viên, bảng lớp, tủ…) cũng được chú ý tăng cường Một số địa phương đã có ý thức đóng bàn ghế cho học sinh theo kích thước và mẫu hướng dẫn của Bộ Riêng đối với các trường trực thuộc Bộ Giáo dục cũ, “trong 10 năm (1975 - 1985) đã đầu tư hơn
200 triệu đồng vốn xây dựng cơ bản và gần 100 triệu vốn sự nghiệp xây dựng được gần 300.000m2 nhà cửa và trang thiết bị phục vụ giảng dạy, học tập, lao động, sản xuất” [12, tr.350]
Thiết bị dạy học cho giáo dục phổ thông trong thời kỳ này cũng được chú ý hơn
Từ Bộ đến các địa phương đã có các cơ quan chuyên lo việc sản xuất, cung ứng, hướng dẫn tổ chức quản lý, sử dụng thiết bị dạy học cho các trường phổ thông Bộ giáo dục đã ban hành quy chế bảo quản đồ dùng dạy học và bằng cách ấy khuyến khích các thầy cô giáo cải tiến đồ dùng dạy học Chỉ thị 23/CT ngày 16/10/1984 quy định nội dung công việc giáo viên cần làm để sản xuất đồ dùng dạy học, quy định chế độ đãi ngộ đối với đội ngũ cộng tác viên làm đồ dùng dạy học “Từ năm 1976 - 1985 các trường đã trang
bị trên 1000 loại thiết bị dạy học khác nhau: tranh ảnh, bản đồ, phim đèn chiếu, phim xinê, băng đĩa ghi âm giáo khoa, mô hình, mẫu vật, dụng cụ thí nghiệm, máy móc v.v…Mỗi loại thiết bị hàng ngàn chiếc” [12, tr.350]
Để tăng cường thiết bị dạy học cho các trường phổ thông ngành giáo dục đã phát động phong trào tự làm đồ dùng dạy học với 2 cuộc thi và triển lãm thiết bị dạy học tự làm ở từng miền vào năm 1976 và 1978, và cuộc thi toàn quốc vào năm 1981, 1985 đã
Trang 38thu hút hàng loạt giáo viên và học sinh tham gia, tạo ra hàng nghìn mẫu thiết bị dạy học phục vụ cho việc dạy học ở các trường phổ thông
Cuộc tổng kết công tác giáo dục 10 năm (1975 - 1985) đã được tiến hành vào năm
1986 là một dịp nhìn lại quá trình phát triển của ngành sau một thập kỷ kể từ ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Cuộc tổng kết đã điểm lại tình hình phát triển của các ngành học, những điều kiện chủ yếu để phát triển sự nghiệp giáo dục Từ đó
mà rút ra những nhận xét, đánh giá chung về những thành tựu, những tồn tại chủ yếu, những bài học kinh nghiệm lớn nhằm mở ra một thời kỳ mới của giáo dục
Riêng về ngành học phổ thông, cuộc tổng kết đã đi sâu vào từng cấp học cả về số lượng và chất lượng
Về cấp I phổ thông cơ sở: Trong 10 năm phát triển, đến 1986, mạng lưới trường
cấp I phổ thông cơ sở đã mở rộng ở khắp các địa bàn Hầu như ở mỗi xã đều có một trường phổ thông cơ sở hai cấp, hoặc ít nhất cũng có cấp I Đây là điều kiện quan trọng
để trẻ em đến tuổi đi học được thỏa mãn yêu cầu học tập
Theo số liệu thống kê thì: “Năm học 1975 - 1976, trong cả nước có 7.404.000 trẻ
em đi học cấp I phổ thông cơ sở Đến năm học 1984 - 1985, con số đó lên tới 8.166.372 trẻ em, chiếm 13,69% dân số” [21, tr 17]
Nhìn chung trong cả nước, học sinh cấp I tăng không nhanh, song đều đặn, ổn định Chủ trương phổ cập cấp I được tiến hành tích cực “Việc huy động trẻ trong độ tuổi ra lớp đạt một tỉ lệ cao (98% ở miền xuôi, 80% ở miền núi)” [21, tr 17]
Về chất lượng giáo dục, ở các trường tiên tiến và các trường trọng điểm cải cách giáo dục, học sinh đã được rèn luyện về nhiều mặt, các em chăm ngoan, có tiến bộ hơn trong học tập Ở các lớp “thay sách”, nền nếp học tập và sinh hoạt được duy trì, kỷ luật trật tự khá hơn trước Qua khảo sát ở một số địa phương, kết quả học tập ở lớp 1 “thay sách” hơn hẳn các lớp vỡ lòng trước đây, “Toán đạt 80%, học vần và tập đọc: 70%, tập viết: 50%” [21, tr 18]
Trang 39Tuy vậy, sự phát triển về số lượng ở cấp I không đồng đều trên các địa bàn Trong khi nhiều nơi đã hoàn thành việc phổ cập giáo dục cấp I và đang đi vào phổ cập cấp II, thì ở một số nơi khác, vấn đề phổ cập cấp I còn đang rất khó khăn Ở Đồng bằng sông Cửu Long, tỉ lệ trẻ đi học cấp I đúng độ tuổi chỉ đạt 60% Ở vùng sâu, vùng cao còn thấp hơn nữa, dao động từ 20% đến 30% Có những xã trẻ em chưa bao giờ học quá lớp 2 Tình trạng tái mù chữ ở trẻ em thể hiện khá rõ Hiện tượng lưu ban và bỏ học ở cấp I không trầm trọng như ở cấp II và có xu hướng giảm đi, nhưng vẫn còn cao và là trở ngại lớn cho việc phổ cập cấp I “Năm học 1984 - 1985, số học sinh lưu ban của toàn cấp học là 8,44% Tình hình lưu ban ở lớp 1 còn đáng lo ngại hơn” [21, tr 19] Chất lượng văn hóa cũng có sự chênh lệch khá lớn giữa các trường tiên tiến, các trường trọng điểm cải cách với các trường thuộc diện đại trà, giữa các trường ở miền xuôi với miền núi, ở thành thị với nông thôn (có nơi chất lượng văn hóa “đạt yêu cầu
95 - 100%, nhưng có nơi chỉ đạt 25 - 30%” [21, tr 19] )
Chất lượng giáo dục toàn diện của các lớp ở cấp I nhìn chung chưa có thay đổi, chuyển biến gì đáng kể Giáo dục thể chất vẫn bị coi nhẹ Rất nhiều học sinh cấp I bị cong vẹo cột sống, suy dinh dưỡng, giun sán, đau mắt hột Công tác quản lý sức khỏe của học sinh còn rất lỏng lẻo vì chưa có quy định, cũng như chưa có tổ chức y tế trường học
Giáo dục thẩm mĩ được chú ý hơn ở các lớp “thay sách”, nhưng lại rất thiếu cơ sở vật chất và giáo viên, cách dạy nặng về cung cấp kiến thức hơn là giáo dục tình cảm và thói quen tốt Qua việc thay sách cấp I, một số vấn đề đặt ra là phải quan tâm hơn nữa đến công tác nghiên cứu khoa học giáo dục, tổ chức thực nghiệm đối với cấp I, tổng kết các lớp học trọng điểm cải cách để xác định phương pháp giáo dục ở cấp I, làm sáng tỏ về tâm lý lứa tuổi trẻ em Việt Nam Từ đó có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên trở thành những chuyên gia cấp học quan trọng này
Để hoàn chỉnh công tác cải cách giáo dục, cũng cần xem xét lại chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục nhằm khắc phục hiện tượng “quá tải” Có điều chỉnh cần thiết
Trang 40và phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện ở các vùng dân tộc, miền núi, các nơi xa xôi, hẻo lánh Đảm bảo sự phát triển toàn diện và việc xây dựng nhân cách của học sinh, tăng cường công tác bồi dưỡng giáo viên, chú ý cơ cấu, quy mô và cách bố trí trường
lớp thuận lợi hơn cho việc đi lại, học tập của học sinh
Cấp II phổ thông cơ sở: Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IV chỉ rõ: “Phát triển
tích cực, vững chắc và từng bước tiến tới phổ cập cấp II phổ thông cơ sở” Vì vậy, ngành giáo dục đã cố gắng để nâng cao tỉ lệ trẻ trong độ tuổi đi học
“Năm học 1975 - 1976, cả nước có 2.410.000 học sinh cấp II Năm học 1980 -
1981, con số đó lên tới 3.158.867 em, và năm học 1984 - 1985 xấp xỉ 3,1 triệu, chiếm 5,2% dân số” [21, tr 20] Riêng đối với các tỉnh của vùng mới giải phóng thì số học sinh cấp II đã tăng gấp nhiều lần so với thời kỳ trước 1975
Mạng lưới trường phổ thông cơ sở cấp II khá đầy đủ thu nhận trẻ đã học hết cấp I
“Năm học 1884 - 1985, tổng số trường phổ thông cấp II là 12.265 trường, trong đó trường chỉ có cấp II là 179” [21, tr 21] Trong đó có 62 trường là lá cờ đầu của cả nước và của 40 tỉnh, thành và hàng trăm trường tiên tiến xuất sắc cấp huyện Đó là những trường tiến bộ rõ rệt trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục toàn diện Ở nhiều huyện hoặc nhiều cụm trường đã có nước trung tâm thí nghiệm thực hành giúp nâng cao kỹ năng thực hành cho học sinh Học sinh ở các trường chuyên, lớp chọn học tập chăm chỉ, hứng thú, đạt kết quả khá tốt, nhưng tỉ lệ chỉ chiếm từ 10 đến 15% tổng số học sinh
Nhiều trường có chuyển biến rõ rệt trong việc tổ chức lao động sản xuất, hướng nghiệp, dạy nghề đơn giản cho học sinh Ở một số vùng nông nghiệp, thầy và trò đã tự xây dựng cơ sở vật chất của trường mình hoặc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất địa phương Ở những xã, huyện đã có sự phối hợp giữa nhà trường, cơ sở sản xuất và chính quyền, tìm cách phân luồng học sinh cấp II kết hợp với đào tạo và sử dụng, giúp học sinh an tâm học tập và chuẩn bị tốt để đi vào cuộc sống