Tuy không ghi lại những kinh nghiệm thực tiễn hay thể hiện lối suy nghĩ của nhân dân lao động đối với các vấn đề sản xuất, vấn đề xã hội như tục ngữ và không bao quát mọi lĩnh vực khác n
Trang 1-
Nguyễn Thị Thanh Huyền
Bước đầu tìm hiểu cách thức tri nhận thế giới của người
Việt (trên ngữ liệu câu đố) : / ;
Luận văn ThS Ngôn ngữ học: 60 22 01
Nghd : GS.TSKH Lý Toàn Thắng
ĐHKHXH & NV
Hà Nội – 2009
Trang 2TÓM TẮT
1 Lý do chọn đề tài
Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, câu đố chiếm một số lượng đáng kể, không thua kém gì ca dao, tục ngữ, truyện thần thoại, cổ tích, hò vè, Câu đố đã từng đóng một vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của nhân dân ta trong suốt cả một thời kì lịch sử và cho đến nay, hình thức đố vui vẫn còn
là một sinh hoạt giải trí được nhiều người ưa thích Có thể nói, câu đố thể hiện một lối nhìn thế giới của nhân dân ta khá dí dỏm, hóm hỉnh và cũng đầy chất thơ Tuy không ghi lại những kinh nghiệm thực tiễn hay thể hiện lối suy nghĩ của nhân dân lao động đối với các vấn đề sản xuất, vấn đề xã hội như tục ngữ và không bao quát mọi lĩnh vực khác nhau của đời sống nhân dân, từ thế giới nội tâm con người đến những sinh hoạt gia đình, sinh hoạt xã hội, sinh hoạt lao động, đấu tranh,… bằng ca dao; câu đố có một vị trí riêng của nó Câu đố không chỉ mang lại cho người ta những giây phút thư giãn thoải mái, những tràng cười giòn giã mỗi khi giải được lời đố mà còn là phương tiện để thử độ tinh nhạy của tư duy, kích thích trí tưởng tượng của con người
Cho đến nay, mặc dù hình thức sinh hoạt đố - đáp không còn phổ biến như xưa, nhưng nó vẫn xuất hiện đây đó trên các diễn đàn mạng, trên các tờ báo, tạp chí hay trong những giờ nghỉ giải lao ở các cơ quan, nhà máy, xí nghiệp,…và đặc biệt trong các sách giáo khoa phổ thông, nhất là sách cho bậc tiểu học, mục đố vui được đưa vào như là một hình thức giải trí sau những giờ học căng thẳng và cũng
là một hình thức rèn luyện khả năng sử dụng ngôn ngữ, phần nào củng cố nhận thức cho các em nhỏ
Có thể nói đố vui là một trò chơi trí tuệ bổ ích, kích thích trí tưởng tượng của con người, đặc biệt những câu đố về đồ vật, cây cỏ, động vật, các bộ phận cơ
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, câu đố chiếm một số lượng đáng kể, không thua kém gì ca dao, tục ngữ, truyện thần thoại, cổ tích, hò vè, Câu đố đã từng đóng một vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của nhân dân ta trong suốt cả một thời kì lịch sử và cho đến nay, hình thức đố vui vẫn còn
là một sinh hoạt giải trí được nhiều người ưa thích Có thể nói, câu đố thể hiện một lối nhìn thế giới của nhân dân ta khá dí dỏm, hóm hỉnh và cũng đầy chất thơ Tuy không ghi lại những kinh nghiệm thực tiễn hay thể hiện lối suy nghĩ của nhân dân lao động đối với các vấn đề sản xuất, vấn đề xã hội như tục ngữ và không bao quát mọi lĩnh vực khác nhau của đời sống nhân dân, từ thế giới nội tâm con người đến những sinh hoạt gia đình, sinh hoạt xã hội, sinh hoạt lao động, đấu tranh,… bằng ca dao; câu đố có một vị trí riêng của nó Câu đố không chỉ mang lại cho người ta những giây phút thư giãn thoải mái, những tràng cười giòn giã mỗi khi giải được lời đố mà còn là phương tiện để thử độ tinh nhạy của tư duy, kích thích trí tưởng tượng của con người
Cho đến nay, mặc dù hình thức sinh hoạt đố - đáp không còn phổ biến như xưa, nhưng nó vẫn xuất hiện đây đó trên các diễn đàn mạng, trên các tờ báo, tạp chí hay trong những giờ nghỉ giải lao ở các cơ quan, nhà máy, xí nghiệp,…và đặc biệt trong các sách giáo khoa phổ thông, nhất là sách cho bậc tiểu học, mục đố vui được đưa vào như là một hình thức giải trí sau những giờ học căng thẳng và cũng
là một hình thức rèn luyện khả năng sử dụng ngôn ngữ, phần nào củng cố nhận thức cho các em nhỏ
Có thể nói đố vui là một trò chơi trí tuệ bổ ích, kích thích trí tưởng tượng của con người, đặc biệt những câu đố về đồ vật, cây cỏ, động vật, các bộ phận cơ thể con người hay các hiện tượng tự nhiên là một trò chơi hữu ích đối với sự phát
Trang 4triển trí tuệ của trẻ nhỏ Tuy nhiên, cho đến nay, câu đố ít được các nhà nghiên cứu chú ý bằng các thể loại văn học dân gian khác như ca dao, tục ngữ, truyện cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn,… Có thể người ta chưa đánh giá cao vị trí và tầm quan trọng của câu đố trong văn học dân gian nhưng rõ ràng câu đố đã và đang là một nét sinh hoạt bổ ích và cần được duy trì cho thế hệ mai sau
Chính vì những lí do đó, luận văn này mong muốn có thể góp một phần nhỏ bé vào việc duy trì sự tồn tại của câu đố nói chung và đem lại một cái nhìn cơ bản về cách thức tri nhận thế giới của người Việt qua câu đố để chúng ta hiểu hơn
về cuộc sống của ông cha ta cũng như lối nhìn, lối tư duy của họ trong cuộc sống thể hiện qua việc sáng tạo câu đố
2 Lịch sử nghiên cứu
Như trên đã nói, những công trình nghiên cứu và sưu tầm về câu đố cho đến nay, nói chung vẫn còn rất ít so với các thể loại văn học dân gian khác Có thể kể đến một số công trình sau:
1 Phần phụ tập II Tục ngữ phong dao của Nguyễn Văn Ngọc in lần đầu tại
Hà Nội 1928
2 Thai ngữ phổ thông của Nguyễn Văn Xứng, Sài Gòn 1949
3 Câu đố câu thai, Phạm Văn Giao, Sài Gòn 1956, Nxb Phạm Văn Tiến
4 Câu đố Việt Nam, Ninh Viết Giao, Hà Nội 1958 (Biên soạn và in lại
năm 2008, Nxb Văn Học)
5 Thai đố phổ thông dẫn giải, Từ Phát, Sài Gòn 1971
6 Câu đố Việt Nam, Nguyễn Văn Trung, Nxb Tổng hợp TPHCM (Không
rõ năm xuất bản)
7 Văn học dân gian Việt Nam, Đinh Gia Khánh (chủ biên), Chu Xuân
Diên, Võ Quang Nhơn (Không rõ năm xuất bản)
Trang 58 Văn học dân gian Việt Nam của Hoàng Tiến Tựu (Không rõ năm xuất
bản)
9 Những đặc điểm thi pháp của các thể loại văn học dân gian của Đỗ
Bình Trị (Không rõ năm xuất bản)
10 Câu đố người Việt về tự nhiên, Triều Nguyên, Nxb Thuận Hoá, 2007
11 Câu đố người Việt về văn hoá, Triều Nguyên, Nxb Thuận hoá, 2007 Ngoài ra, phần nghiên cứu của Ninh Viết Giao trong Câu đố Việt Nam được chọn in vào Văn học Việt Nam, Văn học dân gian - những công trình nghiên
cứu (thuộc phần II “Một số thể loại và tác phẩm”) do Bùi Mạnh nhị chủ biên,
Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2000 Mục “Hoàn cảnh sử dụng, mục đích và chức năng
của câu đố” trong phần nghiên cứu của Nguyễn Văn Trung, được chọn in ở Tổng
tập Văn học dân gian Việt - tập 19, Nhận định và tra cứu (thuộc chương VI
“Nghiên cứu, bình luận về câu đố”) do Nguyễn Xuân Kính biên soạn, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2003
Cũng có thể kể đến một số sách sưu tầm về câu đố khác như: Câu đố dân
gian, Lữ Huy Nguyên, Trần Gia Linh, Nguyễn Đình Chỉnh, Nxb Kim Đồng, Hà
Nội, 1989; Câu đố, Nguyễn Đình Chúc, Huệ Nguyễn, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 2000; Câu đố dân gian Việt Nam, Nguyễn Xuân Thu, Nxb Thanh Niên, Hà
Nội, 1998;…
Hầu hết các sách này, nếu có nghiên cứu về câu đố thì thường chỉ nghiên cứu các vấn đề như nguồn gốc, xuất xứ, cách cấu tạo, tư tưởng nghệ thuật, hoàn cảnh sử dụng, mục đích và chức năng, tần số câu đố, phong tục, lối sống,… Chỉ
có cuốn Câu đố Việt Nam của Nguyễn Văn Trung đề cập đến những lối nhìn và tư
tưởng trong câu đố nhưng không đi sâu vào chi tiết
Vì thế, có thể nói luận văn này là công trình đầu tiên đặt vấn đề tìm hiểu về cách thức tri nhận thế giới của người Việt qua ngữ liệu câu đố, cụ thể là đặc điểm
Trang 6định danh và đặc điểm tư duy liên tưởng của người Việt trong câu đố Tuy nhiên,
do khuôn khổ của khoá luận và thời gian thực hiện cho nên chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu câu đố về tự nhiên của người Việt và giới hạn ở hai nhóm câu đố
về động vật và câu đố về thực vật
3 Mục đích nghiên cứu, đối tượng và phạm vi khảo sát của luận văn
Như chúng tôi đã trình bày ở trên, mục đích nghiên cứu của luận văn nhằm góp phần vào việc duy trì sự tồn tại của hình thức sinh hoạt đố - đáp, là một trò chơi trí tuệ bổ ích giúp con người rèn luyện độ tinh nhạy, khả năng phân định, luận giải của tư duy; khả năng sử dụng ngôn ngữ và giúp củng cố nhận thức về thế giới Hơn nữa, qua những tìm hiểu bước đầu về cách thức tri nhận thế giới của người Việt trên ngữ liệu câu đố, chúng tôi hy vọng có thể đem đến một cái nhìn toàn diện về cách thức quan sát thế giới, cách tư duy và sáng tạo câu đố của ông cha ta để từ đó phần nào thấy được cuộc sống sinh hoạt hàng ngày và công việc của họ
Ngoài ra, chúng tôi cũng hy vọng kết quả nghiên cứu của luận văn có thể góp phần vào việc nghiên cứu câu đố từ góc nhìn của lý luận ngôn ngữ học và có thể hữu ích cho việc nghiên cứu, giảng dạy câu đố nói riêng và ngữ nghĩa học tiếng Việt nói chung
Với các tiêu chí đã nêu ở trên, chúng tôi chọn mấy cuốn sách về câu đố sau
để lấy cơ sở tư liệu khảo sát:
a Câu đố người Việt về tự nhiên, Triều Nguyên, Nxb Thuận Hoá, 2007
b Câu đố Việt Nam, Nguyễn Văn Trung, Nxb Tổng hợp TPHCM, 2007
c Câu đố Việt Nam, Hồ Anh Thái (chủ biên), Nxb Hải Phòng, 2004
Ngoài ra còn có một số câu đố lấy từ các diễn đàn trên mạng
Do khuôn khổ của khoá luận và thời gian thực hiện, chúng tôi không khảo sát toàn bộ số lượng hiện có của câu đố tự nhiên mà chỉ đi vào khảo sát 400 câu
Trang 7đố về động vật và 400 câu đố về thực vật, là hai nhóm câu đố lớn nhất trong lĩnh vực câu đố tự nhiên của người Việt
4 Phương pháp nghiên cứu
a Phương pháp thống kê phân loại: Luận văn tiến hành thống kê các đặc điểm, tiêu chí định danh trong câu đố động vật và thực vật sau đó tiến hành phân loại và
đi đến những nhận xét bước đầu về cách thức quan sát và tri nhận thế giới của người Việt
b Phương pháp so sánh đối chiếu: Sau khi khảo sát các đặc điểm định danh trong câu đố động vật và thực vật, chúng tôi có những so sánh bước đầu về cách thức tri nhận thế giới của người Việt trong hai mảng câu đố động vật và thực vật để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt
5 Đóng góp của luận văn
Luận văn là chuyên luận đầu tiên tìm hiểu về cách thức tri nhận thế giới của người Việt trong câu đố Qua bước đầu tìm hiểu và khảo sát, luận văn có những đóng góp sau:
- Góp phần vào việc nghiên cứu câu đố từ góc nhìn của lý luận ngôn ngữ học
- Những kết quả của luận văn có thể hữu ích cho việc nghiên cứu và giảng dạy câu đố nói riêng và ngữ nghĩa học tiếng Việt nói chung
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Những cơ sở lý luận ngôn ngữ học và tổng quan về câu đố của người Việt
Chương này có nhiệm vụ chỉ ra những cơ sở ngôn ngữ học định hướng cho nghiên cứu của luận văn và những giới thiệu tổng quát về câu đố của người Việt Đây là chương có tính chất lý luận và định hướng quan trọng của luận văn
Trang 8Chương 2: Đặc điểm định danh của câu đố động vật và đặc điểm tư duy liên tưởng của người Việt trong câu đố động vật
Chương này có nhiệm vụ khảo sát và phân tích các đặc điểm được chọn làm cơ sở định danh của câu đố động vật, đặc điểm tư duy liên tưởng của người Việt trong khi miêu tả về các loài động vật trong câu đố để từ đó rút ra nhận xét bước đầu về cách thức tri nhận thế giới của người Việt trong câu đố động vật
Chương 3: Đặc điểm định danh của câu đố thực vật và đặc điểm tư duy liên tưởng của người Việt trong câu đố thực vật
Chương này có nhiệm vụ khảo sát và phân tích các đặc điểm được chọn làm cơ sở định danh của câu đố thực vật, đặc điểm tư duy liên tưởng của người Việt trong khi miêu tả về các loài thực vật trong câu đố, từ đó có những so sánh
về những điểm tương đồng và khác biệt trong cách thức sáng tạo câu đố động vật
và thực vật của người Việt và có những nhận xét ban đầu về cách thức tri nhận thế giới của người Việt trong câu đố thực vật
**********
Trang 9NỘI DUNG
Chương 1
NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN NGÔN NGỮ HỌC
VÀ TỔNG QUAN VỀ CÂU ĐỐ CỦA NGƯỜI VIỆT
1.1 Những cơ sở lý luận ngôn ngữ học
1.1.1 Tính võ đoán của ngôn ngữ
Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt và là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của xã hội loài người Hệ thống tín hiệu ngôn ngữ có những đặc tính hay bản chất riêng khiến nó có một đẳng cấp vượt trội, không giống với bất cứ hệ thống vật chất nào khác không phải là tín hiệu Một trong những bản chất quan trọng của tín hiệu ngôn ngữ là tính võ đoán của nó Theo Ferdinand de Saussure:
“Mối tương quan giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện là võ đoán, hoặc nói rõ thêm, vì chúng ta quan niệm tín hiệu là cái tổng thể do sự kết hợp giữa cái biểu
hiện và cái được biểu hiện mà thành, có thể phát biểu một cách giản đơn: tín hiệu
ngôn ngữ là võ đoán.”
Chẳng hạn, ý niệm “hoa” không có mối tương quan bên trong nào với cái
tổ hợp âm “H-O-A” được dùng làm cái biểu hiện cho nó Chính vì thế mà ở các ngôn ngữ khác nhau thì ý niệm này cũng được biểu hiện khác nhau và nó hoàn toàn do sự quy ước hay là do thói quen của tập thể quy định chứ không thể giải thích lý do
Vì hiện thực của đời sống là đa dạng và vô cùng phong phú nên mối liên hệ giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện ở các từ và các yếu tố ngôn ngữ khác cần thiết phải được trừu tượng hoá đến mức là võ đoán Chính nhờ tính võ đoán này
mà các kí hiệu ngôn ngữ có thể được sắp xếp theo các trục dọc (hệ hình) khác
Trang 10nhau của hình thức để tạo nên tính hệ thống của ngôn ngữ Cũng nhờ tính võ đoán
mà ngôn ngữ có tính hình thức
Tuy nhiên, ở đây có sự phân biệt giữa từ đơn và từ ghép Tiếng Việt cũng vậy, ở các từ đơn, mối tương quan giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện cơ bản
là võ đoán, điều này không còn gì để bàn cãi Tuy nhiên, đối với từ ghép thì khác,
mối tương quan giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện không hoàn toàn là võ
đoán nữa Quay trở lại ví dụ ở trên, ý niệm “hoa” và cái tổ hợp âm “H-O-A”
được dùng làm cái biểu hiện cho nó không có mối tương quan bên trong nào, hay
nói cách khác nó là võ đoán Tuy nhiên, bên cạnh từ đơn “hoa”, chúng ta có các
từ ghép như “hoa giấy”, “hoa hồng”, “hoa hồng bạch”, “hoa hồng nhung”,
“hoa sữa”, “hoa đào”,… Ở đây, cái biểu hiện và cái được biểu hiện không phải
là không có mối tương quan nào nữa Chẳng hạn, có thể giải thích về mối tương
quan giữa ý niệm “hoa giấy” và tổ hợp âm “H-O-A” “G-I-A-Y” được dùng làm
cái biểu hiện cho nó là: 1 Cánh hoa của nó mỏng như giấy nên người ta gọi là hoa giấy; 2 Cánh hoa của nó được làm bằng giấy nên được gọi là hoa giấy Hay
ta có thể giải thích cái tên gọi “hoa hồng” đơn giản là bởi người ta chọn đặc trưng
màu sắc của nó để gọi tên Rồi người ta thấy loài hoa này còn có nhiều màu sắc
khác như trắng, vàng, xanh,… nhưng người ta vẫn gọi là hoa hồng bạch, hoa
hồng vàng, hoa hồng xanh,…
Về tính võ đoán của ngôn ngữ, đến nay có nhiều ý kiến khác nhau Nguyễn
Đức Tồn trong bài viết “ Từ đặc trưng dân tộc của định danh nhìn nhận lại
nguyên lí võ đoán của kí hiệu ngôn ngữ” đăng trên tạp chí Ngôn ngữ số 4 năm
1997 cho rằng, “tất cả mọi kí hiệu ngôn ngữ đều có lí do, chứ không phải là võ
đoán Lí do ấy có thể là lí do khách quan, khi tên gọi dựa trên đặc trưng nằm
trong chính bản thân đối tượng được gọi tên Khi đó, tên gọi phản ánh bản chất
hoặc một phần bản chất của đối tượng Thuyết phúsei về tên gọi có lí ở mảng này
Trang 11Mặt khác, lí do của tên gọi có thể là lí do chủ quan (không nằm trong bản thân đối tượng, mà nằm ở chủ thể định danh), khi đó, tên gọi không phản ánh bản chất của
sự vật được gọi tên Lí do định danh chủ quan thường có ở các tên riêng.”
Ở đây, chúng tôi không có ý định bàn luận về vấn đề này mà chỉ muốn nói đến khía cạnh mỗi ngôn ngữ đều có những đặc trưng rất riêng trong cách định danh sự vật và chúng tôi muốn tìm hiểu những nét đặc trưng riêng đó trong định danh ở câu đố của người Việt
1.1.2 Hình thái bên trong của ngôn ngữ
Wilhelm von Humboldt, nhà ngôn ngữ học người Đức, đã có những đóng góp lớn cho ngành ngôn ngữ học và những tư tưởng lớn của ông xoay quanh ba vấn đề chính như sau:
- Ngôn ngữ không phải là một "công trình" đã hoàn thành và bất di bất dịch,
mà là một hoạt động đang diễn ra Trí tuệ làm việc không ngừng để thích ứng âm thanh, chất liệu ngữ âm, với sự thể hiện của tư duy Chính hình thức ngôn ngữ, với những quy tắc hình thái và cú pháp, cho phép và nâng đỡ "lao động đó của tư duy"
- Ngôn ngữ chẳng những là một phương tiện giao tiếp mà còn là sự phản chiếu trí tuệ con người, cũng như nghệ thuật và khoa học "Ngôn ngữ là sự thể hiện hình thức mà qua đấy cá nhân nhìn nhận thế giới, và chuyển nó vào nội tâm của mình"
- Về phương diện xã hội, mỗi ngôn ngữ phản ánh những cách tư duy của dân tộc dùng nó, đồng thời cũng tác động đến tư duy đó Ngôn ngữ tổ chức và hướng dẫn thế giới quan của người nói Thế giới quan ấy làm thành "hình thái bên trong” của ngôn ngữ, trong lúc "hình thái bên ngoài" là cấu trúc ngữ âm, ngữ pháp, v.v
Trang 12Trong định danh, khi nói đến “hình thái bên trong” của ngôn ngữ, tức là người ta có ý nói đến việc lựa chọn những đặc điểm, thuộc tính nào của sự vật để gọi tên cho nó Trong định danh của câu đố người Việt, việc lựa chọn đặc điểm, thuộc tính nào của sự vật, hiện tượng để mô tả ở lời đố cũng thể hiện “hình thái bên trong” của ngôn ngữ, cũng như đặc điểm tư duy của dân tộc hay cách thức tri nhận thế giới của người Việt
1.1.3 Bức tranh ngôn ngữ về thế giới
Trong “Ngôn ngữ học tri nhận” của Lý Toàn Thắng, bình diện nội dung của ngôn ngữ đã được đề cập đến với những luận điểm đáng chú ý như sau:
- Các ngôn ngữ tự nhiên đều có những cách thức riêng trong việc tổ chức các tài liệu ngữ nghĩa
- Trong ngữ nghĩa của mỗi ngôn ngữ đều có phản ánh một cách hình dung
về thực tại khách quan của cộng đồng văn hoá - bản ngữ đó, thường được gọi là
“mô hình thế giới”, hay “bức tranh thế giới”, “hình ảnh thế giới” và “biểu tượng
về thế giới”
- Mỗi mô hình như thế, ngoài cái chung, cái phổ quát, có cái riêng, cái đặc thù, ứng với từng ngôn ngữ và phản ánh một cách tri giác, một cách nhận thức về thế giới của dân tộc ấy (không giống với dân tộc khác), được gọi là “cách nhìn thế giới”
“Bức tranh thế giới” là hạt nhân hay là thành tố cơ sở của thế giới quan con người Trong các ngôn ngữ, bức tranh này có thể biến đổi; mỗi bức tranh ngôn ngữ đều liên quan đến một “lôgich” nhìn nhận thế giới, hay nói đúng hơn, với một cách thức tri giác và nhận thức thế giới của người bản ngữ
1.1.4 Định danh ngôn ngữ
Theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê (chủ biên), “định danh” được định nghĩa như sau: Gọi tên sự vật, hiện tượng (nói về một chức năng của từ ngữ)
Trang 13Trong ngôn ngữ học, thuật ngữ này được hiểu theo nhiều cách khác nhau
Theo quan niệm của G.V Kolshanskii, định danh là “sự cố định (hay gắn) cho
một kí hiệu ngôn ngữ một khái niệm - biểu niệm (signifikat) phản ánh những đặc trưng nhất định của một biểu vật (denotat) – các thuộc tính, phẩm chất và quan
hệ của các đối tượng và quá trình thuộc phạm vi vật chất và tinh thần, nhờ đó các đơn vị ngôn ngữ tạo thành những yếu tố nội dung của giao tiếp ngôn từ” Đồng
thời, ông cũng cho rằng: “Bất kì kí hiệu ngôn ngữ nào cũng biểu thị những thuộc
tính đã được trừu tượng hoá của các sự vật cụ thể, và do vậy, bao giờ cũng được
Vấn đề định danh trong câu đố cũng không nằm ngoài nội dung này Có điều, vì câu đố là một chuỗi những câu văn vần mô tả về một sự vật, hiện tượng nào đó chứ không chỉ là một từ, cho nên phạm vi biểu đạt của nó rộng hơn Người
ta không chỉ nhìn vào các đặc điểm, thuộc tính của sự vật mà còn nhìn vào các mối tương quan của nó với môi trường xung quanh và với con người…
***
Tiếp thu những ý tưởng của Saussure và Humboldt cùng với những luận điểm về
“bức tranh ngôn ngữ về thế giới” của Lý Toàn Thắng, chúng tôi đã áp dụng vào việc nghiên cứu và tìm hiểu cách thức định danh và đặc điểm tư duy liên tưởng trong câu đố của người Việt Cụ thể là, trong định danh, người Việt thường lấy những đặc điểm, thuộc tính gì của sự vật, hiện tượng để gọi tên sự vật; còn trong
tư duy liên tưởng, người Việt thường liên tưởng, so sánh sự vật, hiện tượng được
đố với cái gì và chúng có sự liên quan với nhau như thế nào Đó chính là cách thức tri nhận, cách nhìn thế giới của người Việt trong câu đố Qua đây, chúng ta
1
Dẫn theo Nguyễn Đức Tồn trong cuốn “Đặc trưng văn hoá - dân tộc của ngôn ngữ và tư duy
ở người Việt”, Nxb Đại học QGHN, 2002
Trang 14cũng có thể thấy được phần nào cuộc sống và các mối quan hệ xã hội, các quan niệm dân gian cũng như các đặc điểm tâm lý, tính cách của người Việt xưa
***
Trước khi đi vào tìm hiểu cách thức tri nhận thế giới của người Việt (trên ngữ liệu câu đố), chúng tôi xin giới thiệu những nét tổng quát về câu đố của người Việt để chúng ta có một cái nhìn đầy đủ về câu đố - một thể loại văn học dân gian của người Việt Nam:
1.2 Tổng quan về câu đố của người Việt
1.2.1 Định nghĩa về câu đố
Câu đố là thể loại văn học dân gian phản ánh sự vật hiện, tượng theo lối nói chệch Khi sáng tạo câu đố, người ta tìm đặc trưng và chức năng của từng vật cá biệt và sau đó phản ánh thông qua sự so sánh, hình tượng hóa
Xét về mặt cấu tạo, câu đố có cấu trúc của một đối thoại gồm hai phần: Lời
đố và lời giải Lời đố là một câu hỏi dưới hình thức mô tả những đặc điểm về hình dáng, cấu tạo, màu sắc, công dụng,… của vật đố Như vậy, câu đố là một kiểu định nghĩa ở đó người đố cố gắng đưa ra những thông tin về vật đố để người giải có đủ cơ sở gọi tên được vật đố
Hai vế khác nhau về xây dựng ngôn ngữ, nhưng giống nhau về nghĩa Lời
đố bao giờ cũng là một mô tả những yếu tố cấu tạo vật đố, nhưng chỉ cần đưa ra hai ba điểm chính hoặc hai ba điểm chính kèm theo một vài điểm phụ Những điểm chính này là những chỉ dẫn người nhận giải câu đố dựa vào để đoán giải Do
đó câu đố còn có thể hiểu như một xây dựng ngôn ngữ áp dụng phép hoán dụ vì chỉ lấy một đặc điểm tiêu biểu, một phần để chỉ thị toàn phần của sự vật
Xét về mặt xã hội, câu đố là một cuộc chơi sử dụng đồ chơi hình ảnh, từ và
ý nghĩa; là một cách chơi chữ, nhằm mục đích giải trí vui vẻ, nhưng là một giải trí của tinh thần vì chủ yếu người chơi sử dụng trí tuệ, óc phán đoán lý luận Nói
Trang 15cách khác, câu đố là một bài toán, không phải toán số mà là toán văn học có một trật tự luận lý chặt chẽ và hợp lý theo cách riêng của câu đố…
Do đó, câu đố biểu lộ chức năng sinh hoạt tri thức thông qua những đấu trí thi đua trổ tài mà trình độ thông minh là tiêu chuẩn chính quyết định ý nghĩa giá trị câu đố và khả năng của người chơi… Trong văn học dân gian, nếu tục ngữ là
“túi khôn” kho tàng kiến thức đạo lý về đối nhân xử thế, ca dao dân ca là tiếng nói của tình cảm thì câu đố là tiếng cười của trí tuệ thông minh linh hoạt
Trí tuệ thông minh linh hoạt được đem ra thử thách thi tài trong sinh hoạt câu đố đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến hóc búa Cái khó, cái hóc búa được thể hiện qua các lối diễn tả bằng so sánh, ví, ẩn dụ, hoặc bằng cái tục, cái quái dị và chơi chữ,…do đó cấu trúc của câu đố thường là một cấu trúc ngôn ngữ gián tiếp
ám chỉ
Người nhận đoán giải câu đố phải có những điều kiện như:
- Có vốn kiến thức dồi dào về không gian cư ngụ dựa vào óc quan sát tinh
Câu đố, trừ một số ít trường hợp, nói chung không bày tỏ những ý nghĩa, tư tưởng về đời người và người đời như thường thấy trong ca dao, tục ngữ, truyện thần thoại, cổ tích,… mà thường chỉ nhằm gọi tên cho đúng sự vật là đối tượng của câu đố
Trang 16Chiều cạnh văn chương nghệ thuật cũng không phải là điều thiết yếu trong câu đố Tuy câu đố có vần, điệu nhưng không phải là thơ mà chỉ là một thứ văn vần có tính cách thực dụng để dễ nói, dễ đọc, dễ nhớ mà thôi
Câu đố trình bày một số chỉ dẫn về phong tục hay nếp sống của dân tộc Tính cách dân tộc của câu đố không hẳn ở chính những lối sống (lề lối, kỹ thuật canh tác, làm việc, ăn, ở, mặc, giải trí,…) mà ở cách diễn tả, biểu lộ những nếp sống bằng hình tượng, văn cảnh…
Tóm lại, có thể trình bày một định nghĩa về câu đố như sau: Câu đố là một
thể loại văn học dân gian, gồm hai bộ phận: bộ phận lời đố và bộ phận lời giải (vật đố); lời đố bằng văn vần, nhằm miêu tả vật đố một cách xác thực, hợp lẽ nhưng làm cho lạ hoá để khó đoán nhận, lời giải nêu tên vật đố, là những sự vật, hiện tượng phổ biến, ai cũng từng hay, từng biết
1.2.2 Nội dung câu đố
1.2.2.1 Đặc điểm của vật đố
Vật đố là những sự vật, hiện tượng, sự việc thuộc về thế giới hiện thực như
cây cau, con trâu, cái bát, ánh trăng, (việc) câu cá,… Sự vật trừu tượng hầu như
không thấy Vật đố có hai đặc điểm là tính phổ biến và tính khái quát
a Tính phổ biến của vật đố đòi hỏi những sự vật, hiện tượng, sự việc được đem ra đố phải là những thứ, những việc mà ai cũng từng hay, từng biết Bởi mỗi khi đưa ra đố cái mà đối phương chưa từng nghe thấy thì cuộc chơi đố coi như bị huỷ bỏ, vì đã vi phạm yêu cầu vật đố phải là những sự vật phổ biến của trò chơi này Chính vì thế mà vật đố trong câu đố của người Việt hầu hết là những thứ gần
gũi với cuộc sống của người dân như con trâu, con gà, cây cau, lá trầu, hạt thóc,
cây ngô, bàn tay, con mắt,…
Trang 17Cũng chính vì yêu cầu về tính phổ biến của vật đố mà những câu đố về một loại sự vật chỉ một thiểu số người nào đó biết được thường diễn ra hạn chế trong nhóm người ấy, và tất nhiên, mức độ lưu truyền cũng hãn hữu
b Tính khái quát của vật đố yêu cầu sự vật đem ra đố phải là một sự vật mà trong cảm quan ngôn ngữ của người Việt có được sự phân loại với những sự vật
khác trong cùng một chủng loại Ví dụ như vật đố cái cày phân biệt với cái bừa,
cái cuốc, cùng là những nông cụ; vật đố cây ngô phân biệt với cây mía, cây chuối, cây cau, cây mít,… cùng là những cây trồng;…
Chúng đồng thời cũng phân biệt với sự vật ở cấp chủng loại lớn hơn, bao hàm chúng, và phân biệt với sự vật ở cấp chủng loại bé hơn mà chúng bao hàm
Ví dụ như có vật đố là cái cày, cái bừa,… mà không có vật đố thuộc chủng loại bao hàm chúng là nông cụ; có vật đố là cái cuốc mà không có vật đố thuộc chủng loại bé hơn mà nó bao hàm như cuốc bàn, cuốc năm răng, cuốc ba răng, cuốc
chim, cuốc xếp,…
Mặt khác, tính khái quát cũng được biểu hiện ở sự không xác định của vật
đố Các sự vật, hiện tượng khi trở thành vật đố đã bị tước đi những khía cạnh có tính chất cá biệt, cụ thể, để chỉ còn mang những đặc điểm khái quát về chủng loại
mà chúng tham gia
1.2.2.2 Đặc điểm của lời đố
Lời đố xét về nội dung và đặt trong mối quan hệ với vật đố, có hai đặc điểm nổi bật, đó là tính xác thực và tính lạ hoá
a Tính xác thực của lời đố thể hiện ở các chi tiết được nêu trong lời đố phải là những cơ sở xác thực để suy ra vật đố Không phải tất cá các đặc điểm của vật đố đều được lời đố nêu hết, mà chỉ một vài chi tiết trong số chúng được lựa chọn Nhưng khi đã nêu thì các chi tiết ấy phải tương ứng một cách xác thực với
Trang 18vật đố (tức thông tin chứa đựng trong lời đố, so với vật đố, có thể thiếu chứ không được thừa, và chúng đều hợp lẽ)
b Tính lạ hoá của lời đố được thể hiện ở sự phong phú, đa dạng của các lời
đố khác nhau về cùng một vật đố, và sự khác thường của hình ảnh, của cấu tạo ngữ pháp ở một lời đố
Ví dụ: Các lời đố khác nhau về con cua, ghẹ:
- Tám sào chống cạn, Hai nạng chống xiên, Con mắt láo liên;
Cái đầu không có!
- Tám thằng dân vần cục đá tảng, Hai ông xã xách nạng chạy theo!
- Vuông không vuông, Méo không méo, Tròn không tròn;
Lặn cùng khe suối, nước non, Bởi chưng ăn sổi nên mắc cạn, có bản son để thờ
Trang 19Đi thì nằm, nằm thì đứng
(Bàn chân)
Mặc áo xanh, đội nón xanh;
Đi quanh một vòng, Mặc áo trắng, đội nón trắng!
(Quả cau khi róc vỏ)
1.2.2.3 Nội dung của lời đố
Như chúng tôi đã nói, câu đố nói chung không bày tỏ những ý nghĩa, tư tưởng về đời người và người đời như thường thấy trong ca dao, tục ngữ,… mà thường chỉ nhằm gọi tên cho đúng sự vật là đối tượng của câu đố
Nhưng cũng có một bộ phận câu đố mà lời đố ngoài chuyện để chỉ ra vật
đố còn có thể tìm thấy nội dung về nhân sinh, về xã hội nhất định
Ví dụ:
Chân đen mình trắng, Đứng nắng giữa đồng
Đây là câu đố về con cò, nhưng thực chất là nói về người nông dân dãi
nắng dầm mưa ngoài đồng ruộng để làm nên thóc gạo
Hay câu đố sau đây nói về người và bóng nhưng cũng là để lên án tình bạn
có tính chất cơ hội:
Nắng ba năm ta không bỏ bạn, Mưa một ngày bạn lại bỏ ta
Câu đố về cái chiếu lại chính lời phàn nàn của người vợ bị chồng vũ phu,
ngược đãi:
Xưa kia em trắng như ngà,
Vì chàng quân tử thiếp đà nên thâm
Trách ai mảng tính vô tâm,
Trang 20Chàng đánh, chàng đập, chàng lại còn nằm với em
Câu đố về con dê nhưng lại là lời phê phán thói hư tật xấu của tầng lớp
dù câu đố luôn luôn sử dụng những hình thức xây dựng ngôn ngữ như so sánh, ví,
ẩn dụ, nhưng hình như trước hết và chủ yếu là do yêu cầu về kỹ thuật hơn là về nghệ thuật, chỉ nhằm làm sao cho lời đố trở nên rắc rối, phức tạp, hóc búa, khó đoán giải mà thôi Vì vậy, ở đây chúng tôi không trình bày chi tiết về các thể thơ
sử dụng trong câu đố mà sẽ nói về các khía cạnh hình thức sau của câu đố:
1.2.3.1 Hình ảnh
Hình ảnh ở lời đố thường được thể hiện theo lối lạ hoá, nhằm làm cho đối phương lạc hướng, hay khó khăn trong việc tìm ra đáp án cho lời đố Lối lạ hoá của hình ảnh được thể hiện bằng nhiều cách khác nhau như sử dụng những hình ảnh, âm thanh gây nhiễu; phóng đại; tráo hình ảnh muốn nói bằng hình ảnh cùng
Trang 21trường nghĩa, cùng dáng dấp; dùng hình ảnh khác thường; sử dụng tên riêng cùng nghĩa hay cùng âm; dùng lời Hán Việt thay vì dùng lời thuần Việt;…
Một số hình ảnh lặp đi lặp lại trong nhiều câu đố khác nhau Chúng cho thấy việc dùng những hình ảnh này đã phản ánh một sự nhìn nhận, một quan niệm
của cộng đồng về đối tượng được đề cập Chẳng hạn như hình ảnh mẹ - con, cha
– con, mình – đuôi, đầu làng - cuối làng,…
về vóc dáng, đặc tính Có khá nhiều trường hợp mô hình quy định vật đố thuộc một nhóm, loại sự vật nào đó
Trang 22Đây cũng là một đặc điểm phổ biến trong văn học dân gian, đó là trong quá trình sáng tạo, nhân dân vừa làm nên cái mới (tạo văn bản nghệ thuật mới lạ) vừa xây dựng phát triển trên cơ sở cái cũ (mô hình có trước)
Một số mô hình thường gặp trong câu đố là:
- Mô hình Trong nhà có bà P (P: động ngữ hay danh ngữ, làm định ngữ
cho bà):
Trong nhà có bà la lết (Cái chổi)
Trong nhà có bà ăn cơm trước (Đũa bếp)
Trong nhà có bà hai đầu (Cái võng)
- Mô hình Chân chẳng đến đất, cật chẳng đến trời, lơ lửng giữa A, [một
đặc điểm nổi bật khác] (A: danh từ, danh ngữ):
Trang 23Hai người cùng có một tên,
Anh dưới vùng vẫy, anh trên dùm doà
(Cá chuối, cây chuối)
Cái gì khác họ cùng tên,
Cái ở dưới nước, cái trên mái nhà
(Cá mè, cái mè ở mái nhà)
v.v…
- Mô hình Không P mà (có) Q và mô hình Có Q mà (không có) P (P là điều
kiện để có Q, hoặc chúng là hai mặt của một thực thể):
Không sông mà bắc cầu kiều,
Không rừng mà có chim kêu trên ngàn,
Không ruột mà lại có gan,
Không thờ mà có song loan để ngồi
(Cái khung cửi)
Không làm thợ mà biết đóng hòm,
Không đi còm mà phải chống gậy,
Đường cái không đi, mà đi đường quanh,
Áo lành không mặc mà mặc áo rách
Trang 24(Ông sư)
v.v…
1.2.3.3 Phương pháp sáng tác
Câu đố Việt Nam được sáng tác theo hai hướng: tục hoá và mỹ hoá Dù
theo hướng nào thì hình thức miêu tả và kể chuyện ngắn gọn vẫn là chủ yếu Dưới đây là những phương pháp thường được sử dụng khi sáng tác câu đố của người Việt:
- Ẩn dụ: Đây là phương pháp cơ bản để hình thành câu đố Việt Nam
Phương pháp ẩn dụ cho phép dựng nên những cấu tạo ngôn ngữ hết sức mềm dẻo,
và ghép lại với nhau những hiện tượng rất khác nhau, tạo nên những sắc thái ý nghĩa đa dạng mà vẫn giữ được sự hợp lý vừa đủ để câu đố tồn tại Bởi ẩn dụ còn gọi là ví ngầm, một biện pháp tu từ, nằm trong phạm trù so sánh, nhưng ở mức độ nghệ thuật cao hơn, không còn vế bị so sánh, chỉ còn vế đem ra so sánh, gây một tác dụng liên tuởng kín đáo Cơ sở tâm lý của ẩn dụ là liên tưởng và cho dù tinh tế
kỳ diệu đến đâu cũng phải có căn cứ và có thể hiểu được Đặc tính của câu đố là miêu tả phán ảnh đặc điểm hình dáng, vai trò,… của sự vật trong thế giới khách quan chứ không phải chủ yếu là miêu tả và phán ánh xã hội Cho nên không thể coi ẩn dụ trong câu đố giống như lối ẩn dụ trong các thể loại văn học thuần tuý được Ẩn dụ trong câu đố không nhất thiết nói về người mà có thể nói về bất kỳ một sự vật nào trong thế giới khách quan mà câu đố nói đến Hàng loạt ẩn dụ trong câu đố được xây dựng trên cơ sở quan sát những đặc điểm về hình dáng và công dụng cùng thuộc tính của sự vật đem ra đố với những đặc điểm và tất cả những biểu hiện phong phú của chính bản thân con người Đó là phương pháp nhân hoá Ví dụ như câu đố sau:
Quê em ở chốn thanh lâm,
Sinh ra em vốn hồng tâm hắc bì
Trang 25Em đi dạo khắp kinh kì,
Ăn no tắm mát rủ nhau đi nằm
(Bát đĩa rửa xong xếp vào rổ)
Nhiều câu đố còn dùng phương pháp thực vật hoá, tức chuyển bất động thành thực vật Ví dụ:
Cây gì không lá không chân,
Mình vàng không rễ ở gần nhà ta
(Cây rơm)
Một số ít câu đố sử dụng phương pháp tự nhiên hoá Ví dụ:
Hang sâu, đá chắn chung quanh,
Có con cá quẫy loanh quanh giữa dòng
(Răng và lưỡi)
Bằng phương pháp nhân hoá, động vật hoá, thực vật hoá, tự nhiên hoá, tác giả dân gian đã làm cho câu đố không những linh hoạt, hấp dẫn mà còn độc đáo, bất ngờ
- So sánh: Đây cũng là một phương pháp sáng tạo câu đố thường được sử
dụng Phương pháp này làm cho câu đố thêm cụ thể Ở đây vật đem ra đố giống vật miêu tả ở một vài đặc điểm hình thức hoặc chức năng nào đó, nhưng lại không phải là bản thân nhân vật miêu tả Ví dụ:
Trang 26Song sanh như đọi nước hè,
Đẹp thời có đẹp nhưng què một chân
(Con nhất vạn)
- Miêu tả trực tiếp: Đây là phương pháp được sử dụng nhiều nhất trong
câu đố Với phương pháp này, ta thấy rõ được hình khối, dáng dấp, màu sắc, vị trí, trạng thái đang hoạt động của sự vật Ví dụ:
Miêu tả màu sắc:
Lá xanh cọng đỏ hoa vàng,
Hạt đen rễ trắng, đố chàng cây chi?
(Cây rau sam)
Vốn xưa nó ở trên non,
Đem về mà tạc trên tròn dưới vuông
(Cái bồ)
Miêu tả dáng dấp:
Cong cong như cái bắp cày,
Một trăm chú khách đậu ngày đậu đêm
(Buồng chuối)
Trang 27Miêu tả âm thanh:
- Chơi chữ: Bà con ta cũng thường sử dụng đặc điểm ngôn ngữ dân tộc để
xây dựng hình tượng trong lời đố như nói lái, sử dụng từ đồng âm khác nghĩa, đồng nghĩa, gần nghĩa, Ví dụ:
Sử dụng lối nói lái:
Khi đi cưa ngọn,
Vốn giữ quyền cao,
Bá quan văn võ giúp vào;
Ta đến chỗ nào,
Hào quang chiếu sáng
(Con giời)
Trang 28Những câu đố trên đây nằm trong xu hướng mỹ hoá Bên cạnh số lượng lớn câu đố được sáng tác theo hướng này, một bộ phận không nhỏ câu đố được sáng tác theo hướng tục hoá Xu hướng đưa yếu tố tục mà thường xoay quanh vấn đề sinh lý vào câu đố có chung một nguồn gốc xã hội với các truyện tiếu lâm, song ý nghĩa sâu sắc của nó vẫn là phản ứng lại những gì giả dối của lễ giáo phong kiến
Dù vậy, yếu tố tục trong câu đố không nằm ngoài mục đích gây cười, tạo hình tượng ngộ nghĩnh, dí dỏm,… Ví dụ:
Cái chi khum khum như của chị hắn đó,
Cái chi nho nhỏ như của anh hắn đây?
Ngày thì dạo khắp đông tây,
Đêm về anh hắn đây chui vô chị hắn đó
(Con rùa)
Ngoài ra, cũng phải kể đến một số lượng câu đố được bà con ta sáng tạo bằng cách vận dụng văn học dân gian và văn học viết Ví dụ:
Ca dao trở thành câu đố:
Đôi ta như gậy chống rèm,
Vừa đôi thì lấy ai gièm mặc ai
Có đầu có đuôi mà không có khúc giữa
(Bon trộm cướp – vì ta có câu “đầu trộm, đuôi cướp)
Cả ý của ca dao và thành ngữ được vận dụng làm câu đố:
Thường là quý, quý là thường,
Trang 29Dân nông rất trọng, dân thường có lúc chờ
Khen thay những kẻ nói mơ,
Người bảo con gái, kẻ lại ngờ cái cưa
(Mưa – vì ta có bài ca dao “Thân em như hạt mưa sa,…” và câu thành ngữ
“Nước mưa là cưa trời”)
Sáng tạo câu đố dựa trên cốt truyện cổ:
Sinh con rồi mới sinh cha,
Sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông
(Cây tre)
Đó là văn học dân gian, còn đối với văn học thành văn, bà con ta thường sử
dụng Truyện Kiều, Lục Vân Tiên, Chinh Phụ ngâm khúc hay thơ của Hồ Xuân
Hương, Nguyễn Công Trứ, Tản Đà, Quách Tấn, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Bội
Châu, Trạng Quỳnh,… để sáng tạo câu đố, điển hình nhất là sử dụng Truyện Kiều
của Nguyễn Du Ví dụ:
Sử dụng Truyện Kiều:
Chênh vênh bóng nguyệt xế mành,
Tựa ngồi bên án một mình thiu thiu
(Cây rau ngủ)
Lời đố thuộc Truyện Kiều (dòng 185-186, tả cảnh Thuý Kiều đang ngủ
thiếp đi lúc đang ngồi suy nghĩ ngổn ngang vào buổi tối, sau cuộc dạo chơi tiết thanh minh về, mở đầu cho việc hồn ma Đạm Tiên xuất hiện) Cây rau ngủ được
tá vào chi tiết “ngủ” này
Thơ Nguyễn Công Trứ trở thành câu đố:
Hôi tanh chẳng thú vị gì,
Thế mà ai cũng kẻ vì người yêu
(Đồng Tiền)
Trang 30Thơ Tản Đà trở thành câu đố:
Cát đâu ai bốc tung trời,
Sóng sông ai vỗ, cây đồi ai rung
(Gió)
v.v…
Trên đây là một vài giới thiệu sơ lược về câu đố của người Việt Mục đích của luận văn không nhằm nghiên cứu về các vấn đề lý luận, phương thức sáng tạo, nguồn gốc,… của câu đố mà chúng tôi muốn tìm hiểu về một khía cạnh khác, đó
là cách thức tri nhận thế giới của người Việt trong câu đố Từ những vấn đề lý
luận ngôn ngữ và những đặc điểm của câu đố như đã trình bày ở trên, chúng tôi vận dụng vào việc tìm hiểu cách nhìn, cách tri nhận thế giới của người Việt trong câu đố mà ở đây được giới hạn ở thế giới động vật và thực vật sẽ được khảo sát
và tìm hiểu ở chương 2 và chương 3 sau đây
**********
Trang 31Chương 2
ĐẶC ĐIỂM ĐỊNH DANH CỦA CÂU ĐỐ ĐỘNG VẬT
VÀ ĐẶC ĐIỂM TƯ DUY LIÊN TƯỞNG CỦA NGƯỜI VIỆT
TRONG CÂU ĐỐ ĐỘNG VẬT
Như chúng tôi đã trình bày ở chương 1, ở chương này, chúng tôi đi vào khảo sát 400 câu đố về động vật để từ đó bước đầu tìm hiểu cách thức tri nhận thế giới của người Việt về thế giới động vật Câu đố động vật là câu đố mà vật đố là những con vật, thường là những con vật thân thuộc, gần gũi với đời sống hàng ngày của người dân lao động Đôi khi, người ta còn đố về các bộ phận của cơ thể con vật như tai, đuôi, sừng… hoặc đố con vật đang ở một trạng thái nào đó như tắm, giao phối… Trong lời đố, con vật thường hay được nhân cách hoá thành con người và được miêu tả giống như một con người vậy Ví dụ:
Anh kia đội cứt đi đâu,
Tài chi mà lại mọc râu sái cằm?
(Con tôm)
Cô kia nho nhỏ rứa mà khôn,
Đã từng ăn ở chốn công môn,
Cao lương mĩ vị từng được nếm,
Trai hiền, gái đẹp đã từng hôn
Trang 32đố coi như bị huỷ bỏ Các loại thú dữ và các loại sinh vật biển ít được nói đến trong câu đố động vật của người Việt trừ con voi Có lẽ bởi con voi là một loài vật bị chế ngự thuần phục và khá gắn bó với người Việt từ thủa xa xưa
Các loài vật thường được nhân cách hoá khiến cho những câu đố trở nên linh hoạt, hấp dẫn và rất độc đáo Cũng chính vì thế mà lời đố trở nên khó đoán giải hơn nhưng khi giải được thì lại thấy hợp lý vô cùng, gây bất ngờ cho những người trong cuộc đố Và mặc dù được nhân cách hoá, những đặc điểm của con vật trong câu đố vẫn được miêu tả một cách chính xác và sinh động, thể hiện óc tưởng tượng vô cùng phong phú của người nông dân Việt Nam Để xác định được
là con gì, người ta thường phải căn cứ vào những đặc điểm như hình thức, màu sắc, cấu tạo cơ thể, cách thức di chuyển, vai trò chức năng, tập tính, bản năng…của con vật
Vậy người Việt thường quan sát và miêu tả một con vật như thế nào, những con vật gì xuất hiện nhiều nhất trong câu đố động vật, người ta thường so sánh, liên tưởng vật đố với cái gì… Đó chính là công việc mà chúng tôi sẽ tìm hiểu ở chương này Cụ thể, chúng tôi lần lượt đi vào tìm hiểu những vấn đề chính sau:
Trang 33- Đặc điểm được chọn làm cơ sở định danh của câu đố động vật
- Đặc điểm tư duy liên tưởng của người Việt trong câu đố động vật
2.1 Đặc điểm được chọn làm cơ sở định danh của câu đố động vật
Cơ sở định danh của câu đố động vật thường là những đặc điểm dễ nhận thấy nhất của con vật như về hình thức, cấu tạo cơ thể, màu sắc, đặc điểm di chuyển, thức ăn… Người quan sát và miêu tả lời đố dựa vào một hoặc có thể là vài ba đặc điểm của con vật tuỳ từng trường hợp Những đặc điểm này đôi khi được miêu tả một cách chân thực hoặc cũng có thể được ẩn dụ, hoặc so sánh liên tưởng với những yếu tố khác (như con người, thực vật, sự vật)
Qua khảo sát, chúng tôi thấy ở câu đố động vật, người ta thường dựa vào những tiêu chí sau để miêu tả con vật đố với các mức độ và tần số sử dụng khác nhau:
1 Cấu tạo cơ thể: 129/400 câu
8 Màu sắc cơ thể: 53/400 câu
9 Tiếng kêu: 50/400 câu
10 Tên gọi: 47/400 câu
11 Cách thức kiếm mồi và thức ăn: 44/400 câu
12 Sinh trưởng, sinh dục: 25/400 câu
13 Tư thế đặc trưng: 20/400 câu
Trang 34đã đến lúc bắt đầu một ngày làm việc mới”
Ngoài 23 tiêu chí về đặc điểm phân loại ở trên, qua khảo sát, chúng tôi thấy
có một số trường hợp người ta sử dụng tục ngữ, ca dao hoặc truyện cổ, truyện Kiều để tạo lời đố Mặc dù chiếm số lượng không nhiều (10/400 câu), nhưng nó thể hiện sự gắn kết giữa các hình thức văn học dân gian và giữa văn học dân gian với văn học viết Nó cũng thể hiện sự linh hoạt, uyển chuyển trong sáng tạo nghệ thuật của người dân Việt Ví dụ như câu đố về con công như sau:
Ai tơ vẽ áo cho mày Mỗi màu mỗi vẻ đẹp thay lạ lùng
Ơn người bao quản tấc công
Trang 35Đã không báo đáp đem lòng khinh khi
Câu đố này sáng tác dựa trên nội dung của câu chuyện ngụ ngôn “Công và quạ” Câu chuyện kể rằng ngày xưa công và quạ là hai con vật có bộ lông xấu xí nhưng chơi rất thân với nhau Không chịu phận xấu, hai con vật bảo nhau tô vẽ cho bộ lông thêm đẹp Quạ khéo tay nên đã vẽ chô công một bộ lông rất đẹp, rực
rỡ nhiều màu sắc Đến lượt công vẽ cho quạ, vì quạ muốn nhanh nhanh để đi kiếm ăn nên công đã đổ cả lọ mực đen lên mình quạ Từ đó quạ có bộ lông đen đúa, xấu xí còn công khoác trên mình bộ cánh đẹp nhất trong các loài chim Hai con vật cũng không còn là bạn thân như trước nữa…
Đây là loại câu đố dựa vào nội dung của câu chuyện dân gian về con vật chứ không phải kinh nghiệm của người đố về con vật, đòi hỏi người ta phải biết được nội dung của câu chuyện thì mới giải đố được
Ví dụ: Câu đố về con gà con:
Ở hiền gặp ác
Lời đố dựa trên câu tuc ngữ: Ở hiền gặp lành “Ác” ở đây trái nghĩa với
“hiền” “ác” cũng có nghĩa là con quạ
Ví dụ: Câu đố về con lươn:
Tấm thân bao quản lấm đầu,
Hồ to, sông rộng, nơi nào quê hương?
Giận mình vai hẹp, thân trường,
Cứ năm năm lại lên đường thăm quê
Truyện Kiều có dòng 1147: “Thân lươn bao quản lấm đầu” (lời Thuý Kiều nói với mụ Tú Bà sau khi mắc lừa Sở Khanh); so dòng này với dòng 1 của lời đố, chỉ ẩn giấu từ “lươn”
Đi vào chi tiết từng tiêu chí về đặc điểm của các con vật được người Việt
sử dụng tạo lời đố, qua khảo sát 400 câu đố về động vật có thể thấy những tiêu
Trang 36chí như Cấu tạo và hoạt động của cơ thể, hình thức, môi trường sống, tập tính,
vai trò chức năng được sử dụng phổ biến nhất Vậy người Việt đã ứng dụng
những tiêu chí này vào lời đố như thế nào? Sau đây là phân tích cụ thể về từng tiêu chí đã được áp dụng trong câu đố động vật của người Việt
2.1.1 Cấu tạo cơ thể
Ở đây, cấu tạo cơ thể được hiểu là sự kết hợp của nhiều bộ phận trong một
cơ thể và cũng có thể là nói về cơ chế hoạt động của cơ thể con vật hoặc các bộ phận cơ thể con vật, hay nói đơn giản là con vật có những bộ phận gì hoặc không
có những bộ phận gì, chúng hoạt động ra sao Người ta thường chú ý đến những
bộ phận hình thức bên ngoài như mình, chân, mắt, mũi, lông, đầu, sừng… chứ không phải là cấu tạo cơ thể con vật như một đối tượng của sinh vật học Chính vì thế mà ở một số công trình khác, có thể chúng được xếp vào tiêu chí hình thức hoặc hình thù của con vật
Theo khảo sát, có 129/400 câu đố có đặc điểm cấu tạo cơ thể (trong đó, sử dụng đặc điểm cấu tạo cơ thể: 12 câu; sử dụng đặc điểm cấu tạo cơ thể kết hợp với những đặc điểm khác: 117 câu)
Ví dụ: Đặc điểm cấu tạo cơ thể:
Có chân mà chẳng có tay, Con mắt thì có, lông mày thì không
Có da mà chẳng có lông, Con mắt thì có mà không có mày
(Con rạm) Đặc điểm cấu tạo cơ thể của con rạm: có chân, không có tay, có mắt, không
có lông mày, có da, không có lông
Ví dụ: Kết hợp đặc điểm cấu tạo cơ thể với các đặc điểm khác:
Cũng như loài khác có lông,
Trang 37Mà sao lại cứng như chông thế này?
Hiền lành vốn tính xưa nay,
Kẻ nào động đến vía bay kinh hồn
(Con nhím) Lời đố này miêu tả ba đặc điểm nổi bật của con nhím:
- Cấu tạo cơ thể: có lông, cứng
Đến khi nó chết biến thành da cam
(Con cua, ghẹ) Lời đố về con cua (ghẹ) này miêu tả những đặc điểm:
- Hình thức và hình dạng: lạ lạ kì kì
- Cấu tạo cơ thể: không đầu, không mũi
- Cách thức di chuyển: bò
- Màu sắc cơ thể: sống: màu xanh; chết: màu da cam
Các bộ phận cơ thể của con vật đôi khi như một cá thể sống động với những hoạt động hoặc tính chất riêng của nó khiến cho người ta dễ bị nhầm lẫn, khó đoán giải nhưng khi giải được lời đố rồi, ta nhận ra đó chính là những đặc điểm cơ thể của con vật được ẩn đi một cách tài tình
Ví dụ:
Bốn ông đập đất,
Trang 38Một ông phất cờ
Một ông vơ cỏ, Một ông bỏ phân
(Con trâu) Các bộ phận cơ thể của con trâu ở đây đã được nhân cách hoá thành những người lao động đang miệt mài với công việc của mình Những công việc của họ cũng chính là đặc điểm hoạt động của các bộ phận cơ thể con trâu Hình ảnh con trâu trở thành một bức tranh lao động sản xuất đơn giản và vô cùng gần gũi, thân thiết với người dân lao động Hẳn là người ta đã sáng tạo câu đố này khi đang làm việc trên cánh đồng quê nên mới có thể linh hoạt và độc đáo đến vậy
Có thể thấy đặc điểm cấu tạo cơ thể của con vật trong câu đố động vật của người Việt thường là những đặc điểm đơn giản nhất, dễ nhìn thấy nhất, dễ hiểu nhất với tất cả mọi người Bởi câu đố là sản phẩm của những người dân lao động
Họ không có kiến thức uyên bác nhưng có kinh nghiệm tích luỹ qua lao động sản xuất và qua tiếp xúc, gần gũi với con vật Tuy nhiên, những đặc điểm này đã được những người nông dân với óc tưởng tượng và sáng tạo phong phú của mình, miêu tả hết sức sinh động và tài tình khiến cho lời đố vừa gần gũi thân quen vừa khó hiểu Cũng chính vì thế người ta thường đố nhau mỗi khi nghỉ ngơi sau giờ làm đồng vất vả để quên đi sự mệt nhọc và khó khăn của cuộc sống bởi mỗi khi giải được lời đố, cả người đố và người giải đố đều cảm thấy vui vẻ, phấn chấn
2.1.2 Đặc điểm hình thức và hình dạng:
Hình thức và hình dạng cũng được sử dụng nhiều bởi nó là cái vỏ bề ngoài
dễ nhìn thấy nhất Theo khảo sát, có 126/400 câu có đặc điểm hình thức và hình dạng của con vật (trong đó, sử dụng đặc điểm hình thức: 5 câu; kết hợp với các đặc điểm khác của con vật: 121 câu) Có lẽ bởi đặc điểm bề ngoài chưa đủ để vẽ
Trang 39nên bức tranh về con vật rõ ràng và đầy đủ, nên hầu hết nó được dùng kết hợp với các đặc điểm khác
Ví dụ: Đặc điểm hình thức và hình dạng của con vật:
Nực cười vẽ rắn thêm chân Thêm chân ai biết thành thân con gì?
(Con rồng) Con rồng được miêu tả hết sức đơn giản và dễ hiểu bằng cách sử dụng hình ảnh con rắn có thêm chân
Hoặc câu:
Ta đây ta vẫn là ta, Chặt đuôi chặt trốc ta vẫn là ta
(Con chồn) Với con chồn thì thân mình nó là đặc điểm nổi trội nhất cho nên dù không
có đuôi, không có đầu thì vẫn nhận ra đó là con chồn
Ví dụ: Đặc điểm hình thức và hình dạng của con vật kết hợp với các đặc điểm khác:
Mình tròn trùng trục, Hay húc giậu rào, Không sừng, tiếng bé, Sống đàn với nhau
(Con dê) Con dê được miêu tả với những đặc điểm sau:
- Hình thức và hình dạng: mình tròn trùng trục
- Tập tính, lối sống: Hay húc giậu rào, sống đàn
- Cấu tạo cơ thể: không sừng
- Tiếng kêu: bé
Trang 40Hoặc câu:
Mình dà mặc áo cũng dà, Tay xách con gà, đầu đội thúng bông
(Chim ó) Chim ó có đặc điểm:
- Màu sắc: lông màu dà
- Kiếm mồi và thức ăn: bắt gà
- Hình thức: trên đầu có túm lông trắng
Những câu đố sáng tạo bằng cách miêu tả hình thức con vật thường sử
dụng phương pháp so sánh với các từ nối như: bằng, vừa bằng, tựa, trông tựa,
như,… và thường có cấu trúc như: là… (không phải là/chẳng phải là), không
…mà…, không… nhưng…, không phải… mà/cũng,v.v… Nhiều nhất vẫn là
phương pháp miêu tả trực tiếp, có thể là miêu tả hình thức tổng thể của con vật hoặc từng bộ phận cơ thể của chúng
Ví dụ:
Cái gì trông tựa con voi, Nhưng ngà mọc ngược, mà vòi lại không?
(Con trâu)
Con trâu có hình thức tựa con voi, hai cái sừng được ví như ngà voi mọc
ngược và không có vòi Lối so sánh sử dụng một con vật khác để nói về con vật
đố khá phổ biến nhưng chúng tôi sẽ trình bày cụ thể hơn ở phần sau của chương này