Mục đớch và ý nghĩa của đề tài Chọn tên đề tài là “Đặc điểm ngữ pháp- ngữ nghĩa của nhóm động từ chỉ hoạt động nói năng trong tiếng Anh liên hệ với nhóm động từ t-ơng ứng trong tiếng Vi
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
VƯƠNG HỒNG HẠNH
ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP-NGỮ NGHĨA CỦA NHÓM ĐỘNG TỪ NÓI NĂNG TRONG TIẾNG ANH (LIÊN HỆ VỚI NHÓM ĐỘNG TỪ TƯƠNG ỨNG
TRONG TIẾNG VIỆT)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI, 2007
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
VƯƠNG HỒNG HẠNH
ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP-NGỮ NGHĨA CỦA
NHÓM ĐỘNG TỪ NÓI NĂNG TRONG TIẾNG ANH (LIÊN HỆ VỚI NHÓM ĐỘNG TỪ TƯƠNG ỨNG
TRONG TIẾNG VIỆT)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Những dòng đầu tiên của cuốn luận văn này, tôi muốn dành để bày tỏ
sự cảm ơn đến tập thể các giáo sư, các nhà khoa học, các thầy cô giáo cùng toàn thể cán bộ Khoa Ngôn ngữ học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học
Lời cảm ơn đặc biệt tôi xin gửi đến PGS.TS.Vũ Thị Thanh Hương người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và hết lòng giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn trong suốt thời gian dài vừa qua
-Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn vô hạn đối với gia đình đã ủng
hộ cả về vật chất cũng như tinh thần để tôi hoàn thành luận văn này
Hà Nội, tháng 10 năm 2007
Tác giả luận văn
Vương Hồng Hạnh
Trang 4L Ời cam Đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả được đưa ra trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công
bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả luận văn
Vương Hồng Hạnh
Trang 5MôC LôC
PHẦN MỞ ĐẦU 7
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
3 Mục đích và ý nghĩa của đề tài 8
4 Tư liệu và phương pháp nghiên cứu 9
5 Kết cấu của luận văn 9
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 10
1 Cơ sở lí thuyết………10
1.1 Phạm trù từ loại……… 10
1.1.1 Khái niệm……… 10
1.1.2 Tiêu chí phân loại……… 11
1.1.3 Kết quả phân loại……… 13
2 Động từ 15
2.1 Vấn đề động từ trong lý luận ngôn ngữ học 15
2.2 Động từ trong tiếng Anh hiện đại 18
2.2.1 Khái niệm……… 18
2.2.2 Tiêu chí nhận diện……… 20
2.2.3 Kết quả phân loại……… 24
2.3 Động từ trong tiếng Việt hiện đại……… 24
2.3.1 Khái niệm……… 24
Trang 62.3.2 Tiêu chí nhận diện ……… 26
2.3.3 Kết quả phân loại ……… 30
2.4 Tình hình nghiên cứu động từ nói năng ……….……… 31
2.4.1 Tình hình nghiên cứu động từ nói năng trong tiếng Anh 31
2.4.2 Tình hình nghiên cứu động từ nói năng trong tiếng Việt 34
CHƯƠNG II ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA NHÓM ĐỘNG TỪ NÓI NĂNG TRONG TIẾNG ANH (CÓ LIÊN HỆ VỚI TIẾNG VIỆT) 38
1 Nghĩa biểu hiện của các động từ nói năng 38
1.1 Khái niệm nghĩa biểu hiện 38
1.2 Nghĩa biểu hiện của động từ nói năng 45
1.3 Các tham tố của động từ nói năng… ……… 47
1.3.1 Phát ngôn thể 48
1.3.2 Tiếp ngôn thể 50
1.3.3 Ngôn thể……….51
1.3.4 Đích ngôn thể……….52
1.4 Cấu trúc tham tố của động từ nói năng……… 52
1.4.1 Cấu trúc đầy đủ……… 53
1.4.2 Cấu trúc rút gọn……….54
2 Nghĩa ngôn hành của các động từ nói năng 55
2.1 Khái niệm nghĩa ngôn hành 55
2.2 So sánh nghĩa trần thuật và nghĩa ngôn hành của động từ nói năng59
Trang 72.3 Vai trò trung tâm của động từ nói năng 61
CHƯƠNG III ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP CỦA NHÓM ĐỘNG TỪ NÓI NĂNG TRONG TIẾNG ANH (CÓ LIÊN HỆ VỚI TIẾNG VIỆT) 65 1 Đặc điểm về chức vụ cú pháp của các động từ nói năng 65
1.1 Vị ngữ-chức vụ cú pháp điển hình của động từ nói năng 65
1.2 Các kiểu cấu trúc câu có vị ngữ là động từ nói năng 67
1.2.1 Cấu trúc nòng cốt 69
1.2.2 Cấu trúc mở rộng 71
1.2.3 Cấu trúc rút gọn 74
2 Đặc điểm về khả năng kết hợp của các động từ nói năng 76
2.1 Khả năng kết hợp với chủ ngữ 76
2.1.1 Chủ ngữ là danh từ/danh ngữ 76
2.1.2 Chủ ngữ là đại từ 79
2.2 Khả năng kết hợp với tân ngữ 80
2.2.1 Tân ngữ là danh từ/danh ngữ 80
2.2.2 Tân ngữ là động từ 81
2.2.3 Tân ngữ là giới ngữ 82
2.3 Khả năng kết hợp với phó từ 84
KẾT LUẬN 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
NGUỒN TƯ LIỆU TRÍCH DẪN 98
Trang 8Danh môc tõ viÕt t¾t
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế, giao l-u văn hóa với các n-ớc, số ng-ời Việt học tiếng Anh cũng nh- ng-ời n-ớc ngoài học tiếng Việt ngày càng phát triển Theo thống kê, tiếng Anh là một ngôn ngữ có số l-ợng ng-ời sử dụng nhiều thứ hai trên thế giới sau tiếng Trung Quốc Tiếng Anh không những đ-ợc sử dụng nh- là một ngôn ngữ giao dịch chính thức trong nhiều lĩnh vực trên thế giới mà nó còn đ-ợc coi là ngôn ngữ thứ hai sau tiếng mẹ đẻ ở nhiều quốc gia Tuy nhiên, trong quá trình học tiếng Anh, một số ng-ời gặp không ít khó khăn Một trong những khó khăn đó là cách hiểu và sử dụng đúng, chính xác các động từ nói chung và động từ nói năng nói riêng của hai ngôn ngữ Anh, Việt Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn ch-a có một công trình nghiên cứu nào đi sâu phân tích và so sánh các đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của động từ nói năng trong tiếng Anh, tiếng Việt
Việc nghiên cứu, đối chiếu đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của nhóm
động từ nói năng trong tiếng Anh với nhóm động từ t-ơng ứng trong tiếng Việt không những là yêu cầu cấp thiết của thực tiễn mà con là yêu cầu cấp thiết của lý luận ngôn ngữ học
2 Đối tượng và phạm vi nghiờn cứu của luận văn
Đối t-ợng nghiên cứu của luận văn là nhóm động từ chỉ hoạt động nói năng trong tiếng Anh và b-ớc đầu liên hệ với nhóm động từ t-ơng ứng trong tiếng Việt Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là chúng tôi chỉ xem xét các
đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa trong phạm vi động từ mà còn xem xét chúng
ở cấp độ câu và trên câu
Trong khi nghiên cứu và đối chiếu các động từ nói năng trong tiếng Anh và tiếng Việt, chúng tôi chỉ giới hạn sự phân tích và đối chiếu ở hai
Trang 10bình diện ngữ pháp và ngữ nghĩa Bình diện ngữ dụng học cũng đ-ợc phân tích trong một số tr-ờng hợp khi cần thiết để làm sáng tỏ thêm các bình diện cấu trúc và ý nghĩa nh-ng không phải là mối quan tâm chính của luận văn
3 Mục đớch và ý nghĩa của đề tài
Chọn tên đề tài là “Đặc điểm ngữ pháp- ngữ nghĩa của nhóm động từ chỉ hoạt động nói năng trong tiếng Anh (liên hệ với nhóm động từ t-ơng ứng trong tiếng Việt)”, ng-ời viết h-ớng đến mục đích cụ thể sau:
Tổng kết các quan niệm về động từ trong tiếng Anh, tiếng Việt và
động từ nói năng trong tiếng Anh, tiếng Việt và các khái niệm lí thuyết có liên quan, xây dựng một cơ sở lí thuyết để xem xét, đối chiếu về cách sử dụng và ý nghĩa của các động từ nói năng trong tiếng Anh và tiếng Việt
Trên cơ sở miêu tả một cách có hệ thống các đặc điểm của động từ nói năng ở tiếng Anh và tiếng Việt, xác định đ-ợc chức năng của chúng trên bình diện ngữ pháp và ngữ nghĩa
Dựa vào các kết quả miêu tả, tiến hành nghiên cứu đối chiếu để làm sáng tỏ những điểm giống và khác nhau của động từ nói năng trong tiếng Việt và tiếng Anh, từ đó rút ra những điểm t-ơng đồng và dị biệt trong hai ngôn ngữ này về mặt ngữ pháp và ngữ nghĩa
Đạt đ-ợc những mục tiêu trên đây, luận văn có những đóng góp về mặt thực tiễn và lí luận nh- sau:
Về mặt lí luận: Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ làm sáng tỏ các
đặc điểm t-ơng ứng và khác biệt trong ngữ pháp và ngữ nghĩa của
động từ nói năng trong tiếng Anh và tiếng Việt
Về mặt thực tiễn: Dựa trên những kết quả thu đ-ợc, luận văn có thể
đ-ợc ứng dụng trong việc giảng dạy, biên soạn các giáo trình tiếng
Trang 11Anh cho ng-ời Việt và tiếng Việt cho ng-ời nói tiếng Anh; giúp ng-ời dạy tiếng Anh nâng cao khả năng truyền thụ, ng-ời học có thể nâng cao hiệu quả tiếp thu kiến thức về nhóm động từ này Ngoài ra, kết quả nghiên cứu này còn có thể sử dụng hữu ích trong công tác biên dịch và phiên dịch, góp phần xây dựng cơ sở lý thuyết dịch Anh-Việt, Việt-Anh
4 Tư liệu và phương phỏp nghiờn cứu
Về t- liệu, chúng tôi sử dụng các nguồn t- liệu trích dẫn từ nguyên bản
và bản dịch các tác phẩm văn học, báo chí tiếng Anh và tiếng Việt hiện
đại Ngoài ra, chúng tôi cũng sử dụng các ví dụ trong ngôn ngữ hàng ngày, trong một số công trình nghiên cứu về động từ nói năng từ tiếng Anh sang tiếng Việt, một số từ điển song ngữ Anh-Việt, Việt-Anh, từ điển t-ờng giải tiếng Anh và tiếng Việt, từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học, từ điển đồng nghĩa Anh-Anh
Để giải quyết nhiệm vụ đặt ra, luận văn sẽ sử dụng tổng hợp cỏc phương phỏp nghiờn cứu sau: quy nạp, diễn dịch, phõn tớch mụ tả, phân tích cấu trúc, phân tích chức năng, so sánh đối chiếu
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, luận văn bao gồm ba chương với cỏc nội dung chớnh như sau:
- Chương I: Cơ sở lớ thuyết và tỡnh hỡnh nghiờn cứu
- Chương II: Đặc điểm ngữ nghĩa của nhúm động từ núi năng trong tiếng Anh (cú liờn hệ với nhúm động từ tương ứng trong tiếng Việt)
- Chương III: Đặc điểm ngữ phỏp của nhúm động từ núi năng trong tiếng Anh (cú liờn hệ với nhúm động từ tương ứng trong tiếng Việt)
Trang 12dụ nhà từ vựng học có thể phân loại từ thành những lớp từ về mặt ngữ nghĩa; hoặc để làm từ điển người ta có thể phân loại từ theo vần chữ cái hoặc theo bộ (Trung Quốc, Nhật); còn nhà ngữ pháp học không phân loại từ theo cách đó mà lại theo bản chất ngữ pháp của từ để cho chúng ta các từ loại như: danh từ, động từ, tính từ, đại từ, số từ, liên từ, giới từ…Vậy từ loại
là gì?
Thế kỷ IV trước công nguyên, Aristote (nhà triết học cổ Hy Lạp,
384-322 trước CN) - dựa trên các cơ sở lôgic học, ngữ pháp học- đã phân định
từ thành các loại từ nối, danh từ, động từ, tính từ…
Theo Đỗ Hữu Châu và Bùi Minh Toán [5] thì “Từ loại là một hệ thống
có nhiều tầng bậc, hay là một phạm trù bao gồm các phạm trù nhỏ hơn” Tác giả Đinh Văn Đức [11] cho rằng “Từ loại là những lớp từ có cùng bản chất ngữ pháp, được phân chia theo ý nghĩa, theo khả năng kết hợp với các
từ ngữ khác trong ngữ lưu và thực hiện những chức năng ngữ pháp nhất định ở trong câu”
Trang 13Như vậy, sự phân định từ loại đã được nghiên cứu và đề cập từ rất sớm Các tác giả có thể dựa vào khả năng kết hợp, ý nghĩa hoặc đặc trưng ngữ pháp để phân định thành các từ loại khác nhau Các tiêu chí phân loại
này được thể hiện rõ trong phần dưới đây
1.1.2 Tiêu chí phân loại
Vấn đề phân định từ loại tiếng Việt đã được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu về Việt ngữ học Một số học giả xuất phát từ quan điểm hình thái học phủ nhận sự có mặt của phạm trù từ loại trong tiếng Việt
(Grammont & Lê Quang Trinh, Hồ Hữu Tường, Nguyễn Hiến Lê), bởi theo
họ tiếng Việt cơ cấu theo một lối khác hẳn với các ngôn ngữ phương Tây-
từ không biến đổi hình thái, nên không có từ loại Tuy nhiên, hầu hết các
nhà nghiên cứu đều thừa nhận rằng trong tiếng Việt có phạm trù từ loại,
mặc dù tiêu chí phân định từ loại của họ không hoàn toàn giống nhau
Các tác giả Lê Văn Lý và Nguyễn Tài Cẩn phân định từ loại dựa vào
một tiêu chí đó là “khả năng kết hợp” của từ Theo họ, khác với ý nghĩa,
khả năng kết hợp của từ là một biểu hiện của cú pháp biểu thị mối quan hệ giữa từ với từ trong ngữ lưu Khả năng kết hợp được hình thức hóa bằng những phương thức ngữ pháp khác nhau ở những ngôn ngữ khác nhau; đối với ngôn ngữ biến đổi hình thái, đó là các hình thái ngữ pháp của từ nhằm diễn đạt các phạm trù ngữ pháp, với các ngôn ngữ đơn lập, trong đó có tiếng Việt, là sự biến đổi trật tự từ và dùng các từ phụ, từ hư Bởi vì, đối với tiếng Việt- ngôn ngữ đơn lập, bản chất của khả năng kết hợp từ là sự phân
bố các vị trí trong những bối cảnh ngữ pháp Do đó, mỗi từ loại, căn cứ vào
“khả năng kết hợp” với các từ chứng có thể chỉ ra các thuộc tính của nó Tuy nhiên, ở thời đó cách giải thích của Lê Văn Lý về “khả năng kết hợp”
của các từ loại còn hạn chế, sức khái quát hoá và việc lựa chọn danh sách từ
Trang 14chứng của các từ loại, phần nào còn chưa thật khách quan Hơn nữa, ông mới chỉ liệt kê các khả năng kết hợp mà chưa chú ý phân biệt đâu là những đặc điểm cơ bản, đâu là những nét tiêu biểu của các khả năng này Trong chuyên luận “Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại” (1960), Nguyễn Tài Cẩn đã đề xuất một hướng đi mới trong việc phân định từ loại, đó là dựa
vào khái niệm “đoản ngữ” để mô tả, phân định từ loại và các tiểu loại
Nhưng về sau này, khi mở rộng nhận định về đặc trưng phân bố của từ, ông
đã cho rằng: “Tiêu chuẩn dựa vào đoản ngữ, riêng một mình nó, thì chưa
đủ Phải có cả tiêu chuẩn dựa vào mệnh đề bổ sung thì kết quả mới đáng tin cậy (Nguyễn Tài Cẩn - ngữ pháp Tiếng Việt) Cách nhìn nhận về từ loại
tiếng Việt của Nguyễn Tài Cẩn là rất mới và có ý nghĩa, quan điểm này đánh dấu một bước tiến mới trong lí luận về từ loại tiếng Việt
Tuy nhiên, chúng ta nhận thấy nếu chỉ dùng một tiêu chuẩn ý nghĩa
khái quát (Nguyễn Lân), khả năng kết hợp của từ (Lê Văn Lý) và dựa vào khái niệm “Đoản ngữ” (Nguyễn Tài Cẩn) như trên thì không thể bao quát
và lí giải được mọi hiện tượng ngữ pháp Do đó, hiện nay các tác giả
(Nguyễn Kim Thản, Đinh Văn Đức, Diệp Quang Ban, Đái Xuân Ninh…) có
chủ trương phân định từ loại tiếng Việt dựa vào một tập hợp tiêu chuẩn mà thường nhắc tới ba tiêu chuẩn cơ bản:
1) Ý nghĩa khái quát của các lớp từ (ý nghĩa sự vật của danh từ, ý nghĩa tính chất của tính từ, ý nghĩa hành dộng của động từ…): đây là ý
nghĩa chung cho một lớp từ, không có dấu hiệu âm thanh biểu hiện mà chỉ tiềm ẩn trong từ và bộc lộ ra khi được kết hợp với các từ khác Ví dụ:
- từ bàn sẽ được bộc lộ ý nghĩa chỉ vật khi kết hợp với từ này (ở sau):bàn này
Trang 15- từ bàn sẽ bộc lộ ý nghĩa chỉ hành động khi kết hợp với từ hãy (ở trước): hãy bàn (việc ấy)
2) Chức vụ của từ khi làm thành phần câu: là cái vị trí của từ trong mối liên hệ ngữ pháp với các từ (hay cụm từ) khác nhau trong câu Chú ý khi
3) Khả năng kết hợp của từ với các từ khác: đây chính là khả năng tiềm
ẩn của mỗi từ trong việc kết hợp với các từ khác để bộc lộ tính chất, chức năng của mình Có 3 cách thường dùng để xét khả năng kết hợp: dùng từ
chứng (từ làm chứng) và dùng cụm từ chính phụ, dùng bậc câu đơn
Ngoài ra, trên cơ sở kế thừa tư tưởng của nhiều nhà nghiên cứu đi
trước (Nguyễn Tài Cẩn, Đinh Văn Đức) và vận dụng các thành tựu của ngữ pháp học hiện đại (Halliday, Dik, Cao Xuân Hạo…), với quan niệm coi
phân định từ loại là phân chia từ về mặt ngữ pháp, tác giả Nguyễn Hồng Cổn đã đề xuất một hướng phân định từ loại mới dựa trên sự điều chỉnh hai
tiêu chuẩn dựa vào "chức vụ cú pháp" (tức là dựa vào khả năng làm các thành phần đối tố và vị tố của mệnh đề) và dựa vào "khả năng kết hợp” (tức
là dựa vào khả năng làm thành tố trung tâm hay phụ tố cho các thành phần của mệnh đề) Tuy nhiên, sau khi phân tích và kết hợp các tiêu chuẩn trên, tác giả đưa ra các tiêu chí sau: 1 Khả năng làm (trung tâm của) đối tố hay
vị tố; 2 Khả năng làm thành tố phụ cho đối tố hay vị tố
1.1.3 Kết quả phân loại
Trang 16Nhiều nhà Việt ngữ học (Nguyễn Kim Thản, Diệp Quang Ban, Đinh Văn Đức…) đã tiến hành phân định từ loại tiếng Việt dựa trên sự kết hợp cả
ba loại tiêu chí Các tác giả một mặt kế thừa quan niệm phân định từ loại truyền thống- dựa vào ý nghĩa khái quát phân chia các từ loại thành hai nhóm: thực từ và hư từ, nhưng mặt khác lại vận dụng các tiêu chuẩn ngữ
pháp (khả năng kết hợp và chức vụ cú pháp) để làm cho hệ thống phân loại
khách quan và sáng rõ hơn Tuy nhiên, trong khi vận dụng các tiêu chuẩn này để phân định từ loại, các tác giả đã kết hợp chúng một cách tổng hợp
chứ không theo một trình tự ưu tiên nào như tác giả Lê Văn Lý (ưu tiên khả năng kết hợp của từ) và Nguyễn Tài Cẩn (dựa vào đoản ngữ)
Nguyễn Hồng Cổn [8] dựa vào hai tiêu chí ngữ pháp đã nêu trên, ông
đã tiến hành phân định từ loại thành ba nhóm hay ba phạm trù cơ bản như sau:
- Nhóm A: gồm các từ có khả năng làm (trung tâm của) đối tố và vị tố
trong cấu trúc của mệnh đề Ví dụ: nhà, sinh viên, nói, chạy đẹp, nhanh…
- Nhóm B: gồm các từ không có khả năng làm (trung tâm của) đối tố
và vị tố mà chỉ có khả năng làm thành tố phụ cho chúng Ví dụ: đã, đang,
sẽ, này, ấy…
- Nhóm C: gồm các từ hoàn toàn không có khả năng làm (trung tâm
của) đối tố và vị tố, cũng như không có khả năng làm thành tố phụ cho
chúng Ví dụ: và, nhưng, nếu, ôi, à, đi…
Dựa vào cách vận dụng các tiêu chuẩn về phân định từ loại và các kết quả tương ứng của mỗi quan niệm trên, chúng tôi lựa chọn cách phân định
từ loại của Nguyễn Hồng Cổn làm cơ sở cho đề tài nghiên cứu của luận văn Dưới đây là bảng phân loại của hệ thống từ loại tiếng Việt:
Trang 17
2 Động từ
2.1 Vấn đề động từ trong lý luận ngôn ngữ học
Trong ngôn ngữ học đại cương, vấn đề phân định từ loại động từ đã
được đề cập đến từ thời cổ đại Hy Lạp Protagonas, một trong những nhà
ngụy biện thế kỷ V trước công nguyên, sớm nhất và có ảnh hưởng nhất,
được công nhận là người đầu tiên phân biệt từ loại trong tiếng Hi Lạp Cùng
thời với Protagonas, Platon (khoảng 429-347 trước CN) cũng là một trong
những người đầu tiên phân biệt minh bạch từ loại trong ngôn ngữ học
HỆ THỐNG TỪ LOẠI TIẾNG VIỆT
TỪ TIẾNG VIỆT
A Thể-Vị từ
(có khả năng làm
vị tố và đối tố)
B Định-Phó từ (làm phụ tố của đối tố và vị tố)
C Kết-Thái từ (không làm thành tố của đối tố và vị tố)
vị tố)
Định từ (phụ cho đối tố)
Phó từ (phụ cho
vị tố)
Kết từ (liên kết)
Thái từ (tình thái)
từ
Hậu phó
Trang 18nhưng ông mới chỉ phân từ loại thành hai lớp chính: động từ và danh từ
Theo định nghĩa của Platon, các lớp ngữ pháp chủ yếu “danh từ” và “động từ” được xác định như những thành tố của mệnh đề Những từ loại mà bây
giờ ta gọi là động từ và tính từ đều được Platon đặt chung vào một lớp Ngay cả khi những nhà ngữ pháp Hy Lạp về sau bổ đi cách phân loại của Platon, họ cũng không thay thế nó bằng một hệ thống tam phân gồm danh
từ, động từ và tính từ quen thuộc mà chỉ thay thế nó bằng một hệ thống lưỡng phân khác, gộp chung những cái mà người ta gọi là danh từ và tính
từ
Thế kỷ IV trước công nguyên, Aristote (nhà triết học cổ Hy Lạp,
384-322 trước CN) - dựa trên các cơ sở lôgic học, ngữ pháp học- đã phân định
từ thành các loại từ nối, danh từ, động từ, tính từ… Theo đó, động từ được
định nghĩa như sau: “từ loại không có biến cách nhưng lại biến đổi về thì, ngôi và số, chỉ ra một hành động hay một quá trình được thực hiện hay được trải qua [R.H.Robins, 37] Aristote cũng đề cập đến hiện tượng những
từ “có nghĩa” và những từ “không có nghĩa” mà nội dung của chúng tương
đương với khái niệm thực từ- hư từ [Nguyễn Kim Thản, 41]
Một trường phái khác của triết học Hy Lạp là trường phái Stoic cũng
phân biệt bốn thành phần lời nói (danh từ, động từ, liên từ và mạo từ) Sau
đó, các học giả thuộc trường phái Alexandria, dựa trên các công trình của các nhà ngữ pháp Stoic về từ loại, đã xếp các lớp từ thành tám từ loại khác nhau, trong đó có động từ Thành quả nghiên cứu về từ loại của Aristote, Platon, trường phái Sotic và trường phái Alexandria về sau được các nhà ngôn ngữ học La Mã tiếp tục phát triển
Như chúng ta đều biết, việc nghiên cứu ngôn ngữ học đã trải qua một quá trình phát triển rất mạnh mẽ trong thế kỷ XX, và đặc biệt trong những
Trang 19thập niên cuối thế kỷ này Khi nghiên cứu về động từ, ở các nước nói tiếng Anh như Hoa kỳ, Anh, Canada, Australia…đã có hàng loạt các công trình khi nghiên cứu về lý thuyết ngôn ngữ đều có đề cập, ít hay nhiều, đến động
từ Ngay cả ở các nước cộng hoà thuộc Liên Xô cũ và ở Việt Nam cũng đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến động từ
Việc phân định các từ loại nói chung và động từ nói riêng trong ngôn ngữ học đã được các nhà ngôn ngữ học nghiên cứu từ rất sớm và đã có khá nhiều công trình đề cập tới vấn đề này Đối với các ngôn ngữ có biến hóa hình thái như các ngôn ngữ Ấn-Âu (trong đó có tiếng Anh), động từ với tư cách là một phạm trù từ loại, được xác định dựa trên hai tiêu chí: hình thức
và ý nghiã ngữ pháp Trong các ngôn ngữ Ấn-Âu, phạm trù động từ là một tập hợp bao gồm tất cả các từ mang ý nghĩa ngữ pháp khái quát, chỉ hoạt động, quá trình, trạng thái, đồng thời có hình thức ngữ pháp biến đổi theo các phạm trù ngôi, số, giống, thời, thức, thể… Còn phạm trù động từ tiếng Việt- ngôn ngữ không biến hình- là một tập hợp mang ý nghĩa khái quát chỉ hoạt động, quá trình, trạng thái; đồng thời có đặc điểm về hoạt động ngữ
pháp thể hiện ở khả năng kết hợp với các phó từ thời gian (đã, đang, sẽ…), phó từ mệnh lệnh (hãy, đừng, chớ…) hay các phó từ khác và có khả năng làm vị ngữ trong câu mà không nhất thiết phải dùng tới từ là
Trong các ngôn ngữ Ấn-Âu, phạm trù động từ ít có đặc điểm gần gũi với các phạm trù: tính từ, danh từ Ngược lại, phạm trù động từ trong tiếng Việt có nhiều đặc điểm gần gũi với các phạm trù: tính từ, danh từ Chẳng hạn: động từ và tính từ trong tiếng Việt đều có khả năng kết hợp với các phó từ để tạo nên các cụm từ, tuy rằng các động từ thì dễ dàng kết hợp với các phó từ chỉ mệnh lệnh hơn, còn các tính từ thì lại dễ dàng kết hợp với
các phó từ chỉ mức độ hơn (rất, hơi, quá, lắm…); Cả động từ và tính từ đều
Trang 20có thể trực tiếp làm vị ngữ trong câu, không nhất thiết phải dùng đến từ là
Chính vì thế, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng ở tiếng Việt, động từ và tính từ hợp thành một phạm trù chung là thuật từ hay vị từ
Tóm lại, phạm trù động từ trong các ngôn ngữ khác nhau tuy có thể có những nét chung mang tính phổ quát nhưng vẫn có những đặc điểm khác nhau về cả số lượng và đặc trưng bản chất của chúng
2.2 Động từ trong tiếng Anh hiện đại
2.2.1 Khái niệm
Khi nghiên cứu về động từ trong tiếng Anh, các nhà ngữ pháp học đều
xếp động từ vào loại thực từ (vocabulary words)
Các nhà ngôn ngữ học hiện đại có nhiều cách quan niệm về động từ trong tiếng Anh hiện đại
Theo các tác giả của “Longman dictionary of Language teaching and applied linguistics” [J.C.Richards, J.Platt và H.Platt, 24] thì “động từ là một từ: (a) đóng vai trò như một phần trong vị ngữ của câu hoặc (b) đánh dấu phạm trù ngữ pháp như thì, thể, người, số và thức và (c) thể hiện hành động hoặc trạng thái”
“Webster’s school dictionary” đưa ra một định nghĩa khác rất ngắn
gọn nhưng hàm chứa đầy đủ ý nghĩa và chức năng của động từ trong tiếng
Anh: “Động từ là từ trung tâm ngữ pháp của vị ngữ và thể hiện một hành động, sự kiện hoặc trạng thái và phản ánh theo nhiều ngôn ngữ khác nhau (như sự phù hợp giữa chủ ngữ hoặc thì)” (12)
“Từ điển tiếng Anh hiện hành” (A.S.Hornby, E.V Gatenby và H.Wakefield, bản in lần thứ 6 của Oxford University University Press) định
Trang 21nghĩa về động từ như sau: “Động từ là một từ hay nhóm từ thể hiện một hành động, sự kiện hoặc trạng thái”.(3)
M.A.K Halliday là một trong những người đầu tiên đề xướng mô hình
chức năng hệ thống (functional-symetic model) và vận dung vào vịêc
nghiên cứu động từ trong câu và diễn ngôn Xuất phát từ quan niệm coi một
hệ thống ký hiệu là một hệ thống tạo nghĩa mà các ký hiệu của hệ thống này
là các phương tiện truyền đạt nghĩa, Halliday cho rằng về mặt ngữ pháp học, khả năng kết hợp và hoạt động của động từ sẽ tạo ra cụm động từ, cụm
động từ cùng các từ loại khác tạo ra một kiểu diễn ngôn (discourse type), rồi từ đó, kiểu diễn ngôn lại được hiện thực hoá thành văn bản (text) thông qua sự tổ chức từ vựng- ngữ pháp (lexi-grammar) Trong cuốn “An introduction to Functional Grammar” [16], M.A.K Halliday nghiên cứu động từ theo đường hướng ngữ pháp chức năng (functional grammar)
Những nét nổi bật và đặc sắc của phương pháp mà M.A.K Halliday sử dụng trong công trình này là phát hiện ra những mối quan hệ của động từ và cấu trúc nội tại của nó Theo ông, động từ không tách rời khỏi các từ loại khác
mà luôn được xếp đặt, kết hợp, sử dụng trong tình huống (situation), ngữ cảnh (context), trong mối quan hệ tầng bậc gồm ngữ cảnh (context), ngữ nghĩa (semantics), từ vựng-ngữ pháp (lexico-grammar) Đây là một cách
nghiên cứu hoạt động của động từ dưới góc độ chức năng và dụng học
(pragmatics) So sánh các quan niệm trên về động từ ta thấy các tác giả đều
chú ý tới dặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của động từ tiếng Anh Đặc điểm ngữ pháp đề nhận dạng động từ: là thực từ, là trung tâm của vị ngữ, thể hiện các phạm trù ngữ pháp như thì, thể, người, số và thức Đặc điểm ngữ nghĩa của động từ: thể hiện một hành động, sự kiện hoặc trạng thái
Trang 22Dựa trên các đặc điểm hình thức và ý nghĩa, động từ tiếng Anh được chia thành các nhóm: động từ chỉ trạng thái, hành động ; động từ nội động, động từ ngoại động, động từ nối Ngoài ra, theo A.J Thomson và A.V Martinet, phân loại động từ được chia thành hai loại: động từ thường
(ordinary verb) và trợ động từ (auxiliary verb) [42]
- động từ cần phù hợp với chủ ngữ khi làm vị ngữ trong câu
- căn cứ vào thời gian mà động từ được chia ở các thì khác nhau
- căn cứ vào đối tượng của hành động mà ta có các cấu trúc câu khác nhau
Ví dụ: - John speaks English very well
(John nói tiếng Anh rất giỏi)
Speaks ở đây đóng vai trò vị ngữ, chủ ngữ John là ngôi thứ 3, số ít, thì hiện tại, câu khẳng định nên động từ speak biến đổi hình thái phù hợp với chủ ngữ bằng cách thêm -s ở cuối động từ, vị trí vị ngữ speaks đứng sau chủ ngữ John Ví dụ: - Please tell me the way to the nearest post- office
(Làm ơn nói cho tôi đường tới bưu điện gần nhất)
Ở câu này, tell đóng vài trò chủ ngữ, đứng ở đầu câu Động từ nguyên thể dạng không có to Ví dụ:
- All pupils were asked to complete exercises before going to school
Trang 23(Học sinh phải làm bài tập trước khi tới trường)
Đây là một câu bị động Tân ngữ all pupils trở thành chủ ngữ của câu Động từ ask được phù hợp theo cấu trúc câu, thì và chủ ngữ (ngôi thứ
ba, số nhiều) là: were asked Ví dụ:
- I’m reading an interesting book I can’t remember what it’s called
(Tôi đang đọc một quyển sách hay nhưng không thể nhớ tên quyển sách đó)
Câu thứ nhất là câu khẳng định, Thì hiện tại tiếp diễn, chủ ngữ ngôi
thứ nhất, số ít nên động từ phù hợp sẽ là: am reading Câu thứ hai là câu
phủ định, cấu trúc câu bị động, chủ ngữ ở ngôi thứ ba, số ít nên động từ phù
hợp được chia là is called
Về mặt ý nghĩa: biểu thị quá trình, cũng tức là biểu thị hoạt động hay
trạng thái nhất định của sự vật trong quá trình (ý nghĩa từ vựng, ý nghĩa
khái quát) Ví dụ:
- They talk about their journey happily
(Họ hạnh phúc kể về chuyến đi của mình)
Trạng thái: vui vẻ, hạnh phúc Chủ thể hành động: ngôi thứ ba, số
nhiều (they) Câu ở thì hiện tại nên động từ giữ nguyên, không chia: talk Động từ “talk” biểu thị hoạt động kể chuyện Ví dụ:
- He said that he would pass the exam
(Anh ấy nói rằng anh ấy có thể thi đỗ)
Đây là một câu khẳng định, thì quá khứ nên động từ say được làm phù hợp là said, đứng sau chủ ngữ he; thể hiện hoạt động nói
a) Phân biệt động từ với danh từ
Về mặt ý nghĩa: Danh từ biểu đạt các khái niệm về sự vật (và thực thể nói
chung), động từ thì gắn với các khái niệm thuộc phạm trù vận động Ví dụ:
- talk, speech, school…
Trang 24(cuộc nói chuyện, bài diễn văn, trường học)
Như vậy, ta thấy talk vừa là danh từ vừa là động từ Hình thái từ talk
không thay đổi, nhưng tùy theo vị trí trong câu, chúng ta sẽ xác định được
đó là danh từ hoặc động từ Ví dụ:
- They talk happily
(Họ nói chuyện vui vẻ)
Talk là động từ, đứng sau chủ ngữ they để chỉ hoạt động nói
- Their talk is interesting
(Buổi nói chuyện của họ rất thú vị)
Talk đứng đầu câu, đóng vai trò chủ ngữ, ngôi thứ 3 số ít, là danh từ chỉ sự vật: buổi nói chuyện, tính từ sở hữu their bổ sung ý nghĩa cho danh
a) house(s) - nhà, telephone(s) - điện thoại, b) problem(s) -vấn đề
c) music -nhạc, happiness -hạnh phúc d) butter- bơ
Trang 25- Một số danh từ có thể là danh từ số nhiều hoặc số ít, phụ thuộc vào ngữ cảnh Ví dụ:
- peel an onion - thái một củ hành
- a pizza with onion - bánh pizza có hành
b) Phân biệt động từ với tính từ
Về mặt ý nghĩa: Tính từ thể hiện tính chất hoặc các yếu tố định định tính
khác và quan điểm hoặc thái độ của người viết, hoặc phân loại sự vật, hiện tượng Các tính từ cũng thể hiện các nghĩa khác: nguồn gốc, nơi chốn, tần xuất, mức độ, sự cần thiết hoặc mức độ chắc chắn Ví dụ:
- large, silent, friendly…
(rộng, im lặng, thân thiện)
- excellent, beautiful
(tuyệt vời, xinh đẹp)
- an American writer, an inland waterway, a weekly newspaper
(nhà văn Mỹ, đường thuỷ nội địa, tuần báo)
- a complete failure, an essential safeguard, a probable result
(hoàn toàn thất bại, giấy thông hành an toàn thiết yếu, kết quả có thể)
Về mặt ngữ pháp:
- Hình thức của tính từ không thay đổi
- Không thay đổi giống hoặc số lượng Ví dụ:
(một người đàn ông già, một phụ nữ già, người già)
- Một số tính từ biến đổi khi so sánh hơn hoặc hơn nhất Ví dụ:
- My wife is older than I am
(Vợ tôi già hơn tôi)
- This is the oldest building in the town
(Đây là toà nhà cổ nhất trong thị xã)
Trang 26- Một số tính từ có hình thức giống trạng từ Ví dụ:
- fast, hard
(Nhanh, chăm chỉ)
- Vị trí: Tính từ có thể đứng trước danh từ hoặc đứng sau động từ nối
để đảm nhiệm vai trò định ngữ (attribute) hoặc vị ngữ Ví dụ:
- It is a large apartment
(Đó là một căn hộ rộng)
- Things are getting difficult
(Mọi thứ đang trở nên khó khăn) Như vậy, sự giống nhau và khác nhau giữa các từ loại tính từ, động
từ và danh từ được thể hiện rõ theo vị trí của chúng ở trong câu Tính từ, động từ và danh từ là 3 trong 8 từ loại chính của tiếng Anh, thuộc thực từ
2.2.3 Kết quả phân loại
Có nhiều cách phân loại khác nhau:
- Dựa vào ý nghĩa: động từ chỉ hành động, trạng thái, tiến trình
(active, processive, stative )
- Dựa vào đặc điểm ngữ pháp động từ chia thành 3 loại:
a Động từ nội động (intransitive verbs): những động từ không có tân ngữ Ví dụ: wait, speak, talk…
b Động từ ngoại động (transitive verbs): những động từ có tân ngữ Ví
dụ: speak, talk, tell, say, advice…
c Linking verbs: Động từ nối Ví dụ: be, become, get, look
2.3 Động từ trong tiếng Việt hiện đại
2.3.1 Khái niệm
Các nhà Việt ngữ học hiện đại có nhiều quan niệm khác nhau về động
từ, có thể chia thành 3 nhóm quan niệm chính sau:
Trang 27Nhóm 1: Các tác giả Nguyễn Hữu Quỳnh, Đinh Văn Đức, Mai Ngọc
Chừ, Hoàng Trọng Phiến, Vũ Đức Nghiệu, Nguyễn Thiện Giáp, Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết Nguyễn Văn Thành Đinh Thanh Huệ…
đều cho rằng: động từ là từ có nghĩa khái quát về hoạt động, trạng thái
Chẳng hạn:
Theo Nguyễn Hữu Quỳnh thì động từ là những từ có ý nghĩa từ vựng khái quát chỉ hoạt động hay trạng thái nhất định của sự vật, ví dụ: động từ
đơn: đi, ăn, uống…, động từ ghép: ăn uống, đi lại, cày cấy…
Trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt” (NXB KHXH 1983) các tác giả chỉ
nêu: động từ là từ có nghĩa khái quát về hoạt động, trạng thái
Tác giả Đinh Văn Đức [11]: động từ là những từ chỉ hành động (chạy, đọc, đi…), trạng thái (ngủ, thức…), các liên hệ dưới dạng tiến trình (yêu, hiểu, nhớ…) có mối quan hệ với chủ thể và diễn ra trong thời gian Chủ thể
không chỉ là sự vật mà bao hàm cả những khái niệm được thực thể hoá
(những đối tượng được tri nhận như thực thể)
Theo quan điểm của các tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu,
Hoàng Trọng Phiến thì động từ có ý nghĩa khái quát chỉ hành động (vật lí- tâm lí- sinh lí), có thể đứng sau từ hãy, thường giữ chức vụ ngữ pháp trong
Trang 28Trong cuốn “Tiếng Việt” (Ngữ âm, ngữ pháp), cuốn sách ngữ pháp gần đây nhất (1985), tác giả Đinh Thanh Huệ đã định nghĩa: động từ là
những từ mang ý nghĩa ngữ pháp khái quát: “ý nghĩa vận động” (hành
động, trạng thái do tác nhân gây ra)
Nhóm 2: Động từ là từ thực có ý nghĩa vận động, có khả năng làm trung tâm của đoản ngữ động từ Chẳng hạn, theo Hữu Đạt, Trần Trí Dõi,
Đào Thanh Lan trong cuốn “Cơ sở tiếng Việt” thì động từ là từ thực có ý nghĩa vận động (hoạt động, trạng thái) hiểu như là đặc trưng trực tiếp của
thực thể, có khả năng làm trung tâm của đoản ngữ động từ “động ngữ”
gồm: phần phụ trước + động từ + phần phụ sau
Nhóm 3: Nhóm này chưa đi sâu vào đặc trưng của động từ Chẳng hạn, Nguyễn Kim Thản [41] cho rằng “động từ là một loại từ phức tạp nhất, sử dụng rộng rãi nhất, chiếm địa vị quan trọng hàng đầu trong hệ thống các loại từ của các ngôn ngữ… Trong tiếng Việt, số câu mà vị ngữ là động từ vào khoảng 88%”
Tóm lại, khái niệm về động từ trong tiếng Việt đã được các nhà ngôn ngữ học đưa ra rất khác nhau Tuy nhiên, tất cả các tác giả, dù hiểu ở những khía cạnh khác nhau, cũng đều thừa nhận động từ tiếng Việt chỉ hành động,
trạng thái và thường làm vị ngữ trong câu
Từ các quan niệm trên, chúng tôi đưa ra quan niệm riêng của mình về động từ: động từ là thực từ, dùng để biểu thị hành động trạng thái của sự vật, thường làm vị ngữ trong câu
2.3.2 Tiêu chí nhận diện
Chúng tôi sẽ căn cứ vào hai tiêu chí: hình thức và ý nghĩa để nhận diện động từ
Trang 29Về mặt hình thức: động từ có những đặc điểm chung của vị từ, có thể
đảm nhiệm nhiều chức vụ cú pháp khác nhau Chức năng phổ biến, thường trực và tiêu biểu là làm thành phần chủ ngữ và vị ngữ trong câu
Về mặt ý nghĩa: biểu thị quá trình, cũng tức là biểu thị hoạt động hay
trạng thái nhất định của sự vật trong quá trình (ý nghĩa từ vựng, ý nghĩa
khái quát) Ví dụ: - Anh ta nói được, làm cũng được
Nói, làm đóng vai trò vị ngữ trong câu Nói thể hiện hoạt động nói năng Làm biểu thị hành động của chủ thể anh ta
- Nói thì dễ, làm thì khó Nói, làm đóng vai trò chủ ngữ trong câu
a) Phân biệt động từ với danh từ
Về mặt ý nghĩa: danh từ biểu đạt các khái niệm về sự vật (và thực thể
nói chung), động từ biểu thị hành động hoặc quá trình
Ví dụ:
Trang 30danh từ động từ
cưa (cái cưa) cưa ( cưa gỗ) bào (cái bào) bào (bào mòn) cuốc (cái cuốc) cuốc ( cuốc đất) muối (muối ăn) muối (muối dưa) quạt (quạt điện) quạt (quạt lúa) khoá (chìa khoá) khoá (khoá xe)
+Chức vụ cú pháp:
- Danh từ: chủ yếu đảm nhiệm chức vụ chủ ngữ và định ngữ Ví dụ [11]:
- Mấy con chim đang bay
- Nhà gạch mới xây xong
- Bút bi này mới Mấy con chim: cụm danh từ làm chủ ngữ
Gạch, bi: danh từ bổ sung nghĩa cho danh từ đứng trước
- Khác với danh từ, động từ chủ yếu được dùng trong chức năng vị ngữ Ví
Về mặt ý nghĩa: tính từ thể hiện tính chất, đặc trưng của sự vật, hiện
tượng Động từ biểu thị hành động hoặc quá trình
Trang 31- Tính từ cũng như động từ đều có khả năng kết hợp các chỉ tố thời- thể (đã, đang, sẽ, chưa, từng, còn…), nhưng tần số xuất hiện thấp hơn so với động
từ
- Tuy nhiên, tính từ thường dễ dàng kết hợp với các phó từ chỉ mức độ (rất, hơi, quá, lắm) còn động từ thì lại dễ gàng kết hợp với các phó từ chỉ mệnh lệnh hơn (hãy, đừng, chớ ) Ví dụ:
- Cô ấy rất thông minh
- Đừng nói nữa
+ Chức vụ cú pháp:
- Tính từ cũng như động từ đều có khả năng làm vị ngữ trực tiếp trong câu Ví dụ:
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng
(Tố Hữu, 12) Trong đầm gì đẹp bằng sen
Trang 32Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng Nhị vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn
(Ca dao)
Các tính từ xanh, đỏ tươi, trắng, vàng đóng vai trò vị ngữ
- Ngoài ra, tính từ còn đóng vai trò định ngữ Ví dụ:
- Học sinh thông minh
- Cuốn sách hay Các tính từ hay, thông minh đóng vai trò định ngữ, bổ sung ý nghĩa cho cuốn sách, học sinh
2.3.3 Kết quả phân loại
Các nhà Việt ngữ học dựa vào những tiêu chí khác nhau để phân loại động từ Dựa vào ý nghĩa và đặc trưng ngữ pháp, động từ tiếng Việt có thể được chia thành các lớp con sau đây:
- Dựa vào đặc điểm ngữ pháp động từ chia thành 2 loại:
+Động từ nội động: chỉ những hoạt động không chi phối đến các sự vật ở bên ngoài nó, ví dụ: ngủ, ngồi, nằm, chạy, bò, nói, cười, ăn, uống…
+Động từ ngoại động: chỉ những hoạt động chi phối đến các sự vật ở bên ngoài nó, ví dụ: xây, làm, đẩy, đóng, đưa, nâng, đỡ…
Tuy nhiên, Lê Biên trong giáo trình “Từ loại tiếng Việt hiện đại” [3]
lại khẳng định “Nhưng khảo sát thực tế tiếng Việt, ranh giới nội động và ngoại động ở động từ tiếng Việt không rõ ràng và rất khó xác định”, ví dụ:
- Nó ăn (nội động) - Nó ăn cơm ( ngoại động)
Trang 33- Anh ấy khóc (nội động) - Anh ấy khóc bạn (ngoại động)
- Dựa theo đặc điểm ngữ nghĩa, động từ có thể chia thành:
+Động từ hành động: chỉ hoạt động tinh thần và hoạt động vật lý Ví dụ: toan, định, dám, đoán, đi, chạy, nói
+Động từ chỉ trạng thái tâm lý: có đặc điểm, một mặt kết hợp được với “hãy”, mặt khác lại kết hợp được với “rất”: yêu, nể, kính trọng, chán, ghét… Ví dụ:
- Tất cả người dân Việt Nam đều kính trọng và biết ơn công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh
+Động từ chỉ trạng thái thụ động: bị, được, mắc, phải, chịu… Ví dụ:
- Tất cả chúng ta sinh ra đều có quyền bình đẳng, ai cũng có cơm ăn,
áo mặc, ai cũng được học hành
+Động từ trạng thái: chỉ sự biến đổi về trạng thái, tâm trạng, màu
sắc…; không đòi hỏi bổ ngữ nên các động từ đi sau hệt như gắn chặt với các từ đi trước Ví dụ:
- Chưa bao giờ lòng tự tin của Linh sắt lại như vậy (Chu Lai)
sắt lại: biến đổi tâm trạng từ dễ tính trở nên khó tính
- Mắt hắn hoa lên Bụng quặn lại, đau gò người (Nam Cao, 12)
Hoa lên, quặn lại: chỉ hướng tăng hoặc giảm
+Động từ tình thái: chỉ sự cần thiết, khả năng, bản thân chúng đã mang ý nghĩa mệnh lệnh nên không kết hợp rõ ràng với hãy, nhưng dễ dàng kết hợp với rất: cần, nên, phải,…Ví dụ:
- Chúng ta cần phải sống và học tập theo gương Bác Hồ
Trang 34- Nơi nào cần thanh niên có, nơi nào khó có thanh niên
Dựa vào tiêu chí nhận diện và kết quả phân chia ở trên, chúng tôi xếp động từ nói năng thuộc nhóm động từ hành động
2.4 Tình hình nghiên cứu động từ nói năng
2.4.1 Tình hình nghiên cứu động từ nói năng trong tiếng Anh
J.L Austin [1] cho rằng hành vi ngôn ngữ gồm ba loại lớn: hành vi tạo lời, hành vi ở lời và hành vi mượn lời Tuy nhiên, trong số đó chỉ có hành vi ở lời được ngữ dụng học quan tâm Các hành vi ở lời bị chi phối bởi những quy tắc được mọi người trong cộng đồng ngôn ngữ tuân theo một cách tự giác và có những điều kiện dùng cho mỗi loại hành vi ở lời Hành vi
ở lời là những hành vi người nói thực hiện ngay khi nói năng ví dụ: hỏi, yêu cầu, ra lệnh, Bên cạnh đó, Austin cho rằng động từ ngữ vi chỉ được dùng theo hiệu lực ngữ vi khi nó ở ngôi thứ nhất thời hiện tại và thức thực hiện, không có các yếu tố biến thái đi kèm Và ông đã phân biệt biểu thức
ngữ vi nguyên cấp (biểu thức ngữ vi không có động từ ngữ vi) và biểu thức ngữ vi tường minh (biểu thức ngữ vi nguyên cấp được tường minh hóa bằng động từ ngữ vi với các điều kiện như đã nêu ở trên) Như vậy ông
khẳng định biểu thức ngữ vi nguyên cấp chính là biểu thức ngữ vi đánh dấu một hành vi ở lời nào đó
O.Ducrot [10] đã nói rõ hơn về hành vi ở lời Theo ông, hành vi ở lời khác với hành vi tạo lời và hành vi mượn lời ở chỗ chúng thay đổi tư cách pháp nhân của người đối thoại Chúng đặt người nói và người nghe vào những nghĩa vụ và quyền lợi mới so với tình trạng của họ trước khi thực hiện hành vi ở lời Tác động hầu như buộc vai nghe phải hồi đáp lại đối với một hành động ở lời trong câu nói ra, được gọi là hiệu lực ở lời Với cách
Trang 35niệm động từ nói năng động từ nói năng là tên gọi của động từ biểu thị hành vi ở lời
Năm 1970, Ross chịu ảnh hưởng của Austin, cho rằng tất cả các câu trần thuyết đều phát sinh từ một cấu trúc cú pháp sâu
Ví dụ: Trời mưa sẽ có cấu trúc ngữ vi sâu là:
(Tôi) khẳng định (với anh) trời mưa
Tiếp đó một số tác giả khái quát cao hơn, cho rằng tất cả các câu đều
có một cấu trúc ngữ vi tường minh ở chiều sâu Hay nói cách khác tất cả các biểu thức ngữ vi nguyên cấp thường gặp trong giao tiếp hàng ngày đều
là kết quả cải biến rút gọn từ cấu trúc ngữ vi sâu tường minh Đây là giả thuyết ngữ vi Cấu trúc ngữ vi sâu tường minh được G.Yule [46] tóm lược thành công thức:
I (hereby) Vp you (that) U
I: ngôi thứ nhất; herely: bằng lời nói này; you: ngôi thứ hai, người nghe và tiếp nhận hành vi ở lời do Vp (động từ ngữ vi) biểu thị; U: câu nghe
Trang 36hai, việc tường minh hóa một biểu thức ngữ vi nguyên cấp bằng một động
từ ngữ vi có thể làm thay đổi ngữ nghĩa của phát ngôn
Ví dụ: Vì sao em ghét tôi? (thái độ nhẹ nhàng hơn, tự nhiên hơn)
Hải, tôi hỏi em vì sao em ghét tôi? (căng thẳng, nhấn mạnh, )
Thông qua việc phân tích các quan niệm của các nhà ngôn ngữ học
về động từ nói năng, có thể khẳng định: không thể nhận diện động từ nói năng dựa vào biểu thức ngữ vi tường minh, mà phải dựa vào biểu thức ngữ
vi nguyên cấp Biểu thức ngữ vi tường minh chỉ có thể là chỗ dựa để nhận diện động từ nói năng dùng theo chức năng ngữ vi Như vậy có thể khái quát cách hiểu về động từ nói năng: Một động từ được gọi là động từ nói năng khi động từ đó có khả năng biểu hiện một hành vi ở lời nào đó Nói đến hành vi ở lời là nói đến hiệu lực ở lời được biểu thị bằng một biểu thức ngữ vi nhất định
2.4.2 Tình hình nghiên cứu động từ nói năng trong tiếng Việt
Trước đây, trong Việt ngữ học vì chưa thấy được đầy đủ vai trò của các hành vi ngôn ngữ trong đời sống xã hội và cá nhân, ngữ pháp tiền dụng học không ý thức được tầm quan trọng cũng như các đặc tính chức năng- ngữ nghĩa- ngữ pháp của động từ nói năng trong ngôn ngữ Do đó, động từ nói năng chưa được nghiên cứu đầy đủ một cách có hệ thống
Trong khi nghiên cứu, các nhà ngữ pháp học, từ vựng học tuy có xem xét các động từ nói năng cụ thể, nhưng do không chý ý đến quan hệ của chúng với các hành vi ngôn ngữ cho nên đã phân tán động từ nói năng thành các nhóm nhỏ cùng với các loại động từ khác Vì vậy động từ nói
năng không được tách thành một phạm trù độc lập với các động từ “phi nói năng”, tức tách khỏi các động từ biểu thị các hoạt động, các vận động, quá
Trang 37hình thức- dù đã có tính đến ngữ nghĩa- các công trình về từ loại tiếng Việt hoặc nhập chúng với các động từ cảm nghĩ thành tiểu loại động từ cảm nghĩ- nói năng hoặc xé lẻ chúng ra, đưa vào từng tiểu loại hay tiểu nhóm động từ tuỳ theo khả năng chi phối hai hoặc chi phối ba diễn tố, cũng tức là tuỳ theo ngữ trị của động từ
Chúng tôi cho rằng động từ nói năng có những đặc tính khác hẳn với các động từ phi nói năng, cần được nghiên cứu riêng, sử dụng những tiêu chí phân loại riêng (như Austin, Searle và nhiều nhà ngữ dụng khác đã làm) Còn rất nhiều điều về các động từ nói năng mà cách xử lí truyền thống
do đã đánh đồng chúng với các động từ “phi nói năng” nên không phát hiện
ra được
Có hai quan niệm khác nhau về động từ nói năng: động từ nói năng
(hiểu theo nghĩa rộng) bao gồm cả động từ ngôn hành và động từ nói năng
(hiểu theo nghĩa hẹp) chính là động từ ngôn hành (performative verbs)
Trong cuốn “Đại cương ngôn ngữ học” [4], GS.TS Đỗ Hữu Châu hiểu động từ nói năng theo nghĩa rộng, tức bao gồm cả động từ ngôn hành
Ông cho rằng động từ ngôn hành (động từ ngữ vi-performative verbs) là
động từ đặc biệt của động từ nói năng và chúng có thể được thực hiện trong chức năng ngữ vi, tức thực hiện trong chức năng ở lời động từ ngữ vi là những động từ mà khi phát âm chúng ra cùng với biểu thức ngữ vi- có khi không cần biểu thức nghĩ vi đi kèm- là người nói thực hiện luôn cái hành vi
ở lời do chúng biểu thị
Ở công trình nghiên cứu “Về nghĩa của các từ biểu thị sự nói năng trong tiếng Việt” [17], Hoàng văn Hành có đề cập đến động từ nói năng trong tiếng Việt Ông cho rằng, nhóm từ ngữ biểu thị sự nói năng khá phong phú và đa dạng Xét về mặt hình thái, trong nhóm từ ngữ này, có những từ
Trang 38đơn âm tiết, thuộc vốn từ cơ bản, như: nói, kể, hỏi, đáp, kêu, la, mắng, nhiếc, khuyên, răn, bảo… Có những từ song âm tiết, trong đó có từ ghép như: sai khiến, sai bảo, van xin, trả lời, trình bày…và có từ láy như: nài nỉ, năn nỉ, bàn bạc, nói năng, lẩm nhẩm, cằn nhằn…Ngoài ra còn một số đáng
kể những đơn vị thành ngữ tính, như: bụng bảo dạ, cãi chày cãi cố, rát cổ bỏng hang, câm miệng hến, giây cà ra giây muống, cà riềng cà tỏi… Xét về nhiều mặt nói là từ trung tâm trong nhóm từ ngữ này và gồm hai nghĩa: nói
là hành vi phát ra thành tiếng, thành lời và nói là hành vi giao tiếp bằng lời
Ví dụ:
- Tôi nói, đồng bào có nghe rõ không (Hồ Chí Minh)
(nói là hành vi phát ra thành tiếng)
- Người ta hỏi, mà nó chẳng thèm nói
(nói là hành vi giao tiếp bằng lời)
Như vậy, Hoàng Văn Hành cũng hiểu động từ nói năng theo nghĩa rộng bao gồm cả động từ ngôn hành chứ không phải là động từ ngôn hành (performative verbs)
Phạm Thị Hoà [19] cũng có nói đến động từ nói năng, nhưng đã thu hẹp khái niệm Theo tác giả, động từ nói năng (hiểu theo nghĩa hẹp) là động
từ ngôn hành (performative verbs), hay gọi cách khác là động từ ngữ vi Ví dụ:
- Ngày mai anh có đi chơi không?
- Tôi hỏi anh ngày mai có đi chơi không?
(Động từ “hỏi” là động từ ngôn hành- được gọi tên một cách tường minh hành vi ở lời được thực hiện như ở câu trên)
Trang 39Khái quát từ những quan niệm đã phân tích ở trên về động từ nói
năng, chúng tôi xin đưa ra một cách hiểu về động từ nói năng: động từ nói năng là một nhóm thuộc động từ hành động chỉ hoạt động nói năng của con người, tức là bao gồm cả động từ ngôn hành (performative verbs)
Có thể hiểu động từ ngôn hành là động từ nói năng nhưng không phải
động từ nói năng nào cũng là động từ ngôn hành Ví dụ:
1 Tôi đã bảo nó nhiều lần rồi
2 Tôi sẽ bảo nó đến gặp anh
3 Tôi bảo anh thôi đi ngay
(Trong cả ba ví dụ trên thì động từ “bảo” đều là động từ nói năng, nhưng chỉ có động từ “bảo” ở ví dụ (3) là động từ ngôn hành)
Bên cạnh đó, động từ nói năng được phân biệt dựa vào ý nghĩa (là một loại hoạt động phân biệt với các hoạt động khác như: tác động, di chuyển ) Động từ ngôn hành được phân biệt dựa vào chức năng (chức năng ngôn hành phân biệt với chức năng mô tả hay tường thuật)
Tóm lại: ngôn hành chỉ là một chức năng của động từ nói năng và có thể không phải tất cả các động từ nói năng đều có chức năng này Ví dụ:
tán, kêu, lẩm nhẩm, thều thào, thì thầm không có chức năng ngôn hành
Nhìn chung cho đến nay, vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu đầy đủ và có hệ thống về động từ nói năng trong tiếng Việt, nếu có cũng chỉ
là nghiên cứu sơ bộ và chưa có một cách nhìn thấu đáo, toàn diện Ở luận văn này, do phạm vi nghiên cứu hạn hẹp, chúng tôi sẽ đi sâu vào nghiên cứu một số động từ nói năng trong tiếng Anh và bước đầu đối chiếu với động từ nói năng trong tiếng Việt
Trang 40CHƯƠNG II ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA NHÓM ĐỘNG TỪ NÓI NĂNG TRONG TIẾNG ANH (CÓ LIÊN HỆ VỚI TIẾNG VIỆT)
1 Nghĩa biểu hiện của các động từ nói năng
1.1 Khái niệm nghĩa biểu hiện
Trong ngôn ngữ học, bình diện nghĩa của câu được quan tâm đáng
kể, nhất là trong trào lưu ngữ pháp chức năng Phần lớn các học giả phương Tây đều quan niệm nội dung của bình diện nghĩa của câu (và của ngôn ngữ) là cái phần phản ánh (biểu hiện, miêu tả) những mảng thế giới hiện thực (hay một thế giới nào khác bên ngoài ngôn ngữ) Nghĩa của câu thường được quan niệm gồm hai thành phần: nghĩa biểu hiện (hay nghĩa mô tả, nghĩa sự vật) và nghĩa tình thái
Theo M.A.K Halliday (Dẫn luận ngữ pháp chức năng, 2004, 7):
ngôn ngữ giúp con người có thể xây dựng được bức tranh tinh thần về thực tế, hiểu được những gì xảy ra xung quanh họ và trong thế giới nội tâm của họ Ở đây, một lần nữa cú có vai trò trọng tâm bởi vì nó chứa đựng một nguyên tắc cơ bản để mô hình hóa kinh nghiệm- đó là, nguyên tắc thực tế được hình thành nên từ các quá trình (process)” Theo Halliday, bình diện biểu hiện là phần nằm trong nội dung nghĩa được coi
là phản ánh một sự tình được rút ra từ cái thế giới được mô tả, bên cạnh những bình diện nội dung khác của câu khi nó được xét như một thông điệp (a message), như một bộ phận của văn bản, v.v trong hệ thống ngữ pháp chức năng của ông
Xét trên bình diện biểu hiện, câu diễn đạt một 'quá trình' (process), được con người cảm thụ như một thể trọn vẹn, nhưng khi biểu hiện nó trong lời nói, ta lại phân tích nó thành một mô hình nghĩa (semamtic configuration) gồm ba yếu tố: bản thân quá trình, các tham tố