1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Chuyên đề Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế

65 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Kinh Tế
Trường học Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Thể loại chuyên đề
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 348,5 KB
File đính kèm Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế.rar (63 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chuyên đề 2 Ý ĐỊNH GIẢNG BÀI I MỤC TIÊU, YÊU CẦU A MỤC TIÊU 1 Về kiến thức Nắm được nguồn gốc hình thành, đặc điểm và nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế 2 Về thái độ Tích cực chủ động trong học tập, nghiên cứu nắm vững đặc điểm, nội dung chủ yếu của tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh 3 Về kĩ năng Biết vận dụng để đi sâu nghiên cứu tư tưởng Hò Chí Minh về các lĩnh vực văn hóa và xây dựng con người B YÊU CẦU Nêu cao trách nhiệm trong học tập, chấp hành nghiêm quy chế lớp học Kết hợp chặ.

Trang 1

Chuyên đề:

TƯ TƯỞNG HCM VỀ KINH

TẾ, VĂN HÓA VÀ XÂY DỰNG

CON NGƯỜI

Trang 2

Ý ĐỊNH GIẢNG BÀI

I MỤC TIÊU, YÊU CẦU

A MỤC TIÊU

1 Về kiến thức: Nắm được nguồn gốc hình thành, đặc điểm và nội dung cơ bản

của tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế

2 Về thái độ: Tích cực chủ động trong học tập, nghiên cứu nắm vững đặc

điểm, nội dung chủ yếu của tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh

3 Về kĩ năng: Biết vận dụng để đi sâu nghiên cứu tư tưởng Hò Chí Minh về

các lĩnh vực văn hóa và xây dựng con người

B YÊU CẦU:

- Nêu cao trách nhiệm trong học tập, chấp hành nghiêm quy chế lớp học

- Kết hợp chặt chẽ giữa nghe giảng với tự học, tự nghiên cứu, lấy tự họclàm chính

- Phát huy tính tích cực trong học tập, chủ động trao đổi, thảo luận để nắmchắc nội dung chuyên đề

II NỘI DUNG TRỌNG TÂM

A NỘI DUNG: Gồm 2 phần

Phần I: Quá trình hình thành, phát triển, đặc điểm và bản chất tư tưởng

Hồ Chí Minh về kinh tế

Phần II: Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế

Phần III: Vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế trong quá trình đổi mới

B TRỌNG TÂM: Phần I

III THỜI GIAN:

Tổng số: 6 tiết, ngày 5 tiết, đêm………….tiết

Trong đó: Lên lớp: 6 tiết Luyện tập (thảo luận) tiết

IV TỔ CHỨC, PHƯƠNG PHÁP:

A TỔ CHỨC: Giảng bài theo đội hình lớp

Trang 3

B PHƯƠNG PHÁP:

1 Giảng viên: Sử dụng chủ yếu phương pháp thuyết trình, kết hợp với phát

vấn, trao đổi ngắn và sử dụng trình chiếu Powerpoint hỗ trợ

2 Học viên: Nghe, ghi chép, trao đổi, thảo luận ngắn.

V ĐỊA ĐIỂM: Theo lịch của P3

VI TÀI LIỆU VÀ VẬT CHẤT BẢO ĐẢM:

A GIẢNG VIÊN:

1 Tài liệu nghiên cứu

a Tài liệu bắt buộc

- Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương, Chủ tịch Hồ Chí Minh –

Tiểu sử và sự nghiệp (in lần thứ năm, có chỉnh sửa, bổ sung), Nxb Sự thật,

Hà Nội, 1980

- GS Song Thành (Chủ biên), Tiểu sử Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, Hà

Nội, 2006

- Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa

học MLN, TTHCM, Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, Hà Nội, 2010

- Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Giáo trình cao cấp lý luận chính

trị, Tập 4, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Lý luận chính trị, H.2014.

- Hồ Chí Minh - Biên niên sự kiện, 10 tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2016

- Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập Nxb CTQG, Hà Nội, 2011.

- Văn kiện Đại hội Đảng VII, IX XI, XII.

b Tài liệu tham khảo

- Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Giáo trình đào tạo cao cấp lý luậnchính trị, Tập 4, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, Hà Nội, 2014

- GS Song Thành, Hồ Chí Minh nhà văn hóa kiệt xuất, Nxb CTQG, Hà Nội,

2010

- GS, TS Mạch Quang Thắng, Hồ Chí Minh nhà cách mạng sáng tạo, Nxb

CTQG, Hà Nội, 2005

Trang 4

- TS Đinh Thế Huynh – GS.TS Phùng Hữu Phú – GS.TS Lê Hữu Nghĩa –

GS.TS Vũ Văn Hiền – PGS.TS Nguyễn Huy Thông (Đồng chủ biên), 30 năm

đổi mới và phát triển ở Việt Nam, Nxb CTQG, Hà Nội, 2015.

- Ngô Xuân Lịch, “Kết hợp xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vớiphát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở khu vực biên giới và biển, đảo trong tình

hình mới”, Tạp chí Cộng sản, 9/2017.

2 Vật chất bảo đảm

Bài giảng, kế hoạch giảng bài, giáo trình, tài liệu, máy tính, máy chiếu

B HỌC VIÊN:

1 Tài liệu nghiên cứu:

a) Tài liệu nghiên cứu bắt buộc: (như của giảng viên)

b) Tài liệu nghiên cứu tham khảo: (như của giảng viên)

2 Vật chất bảo đảm: Giấy, bút, giáo trình, tài liệu

Phần II THỰC HÀNH GIẢNG BÀI

I THỦ TỤC GIẢNG BÀI: (05 phút)

- Nhận báo cáo, nắm quân số, (Báo cáo cấp trên nếu có)

- Ổn định tổ chức

- Quán triệt mục đích, yêu cầu buổi học

II TRÌNH TỰ GIẢNG BÀI:

Bài giảng lý luận

Trang 5

phương pháp luận nghiên

cứu, học tập tư tưởng Hồ

Chí Minh về kinh tế

20 Câu hỏi: Trao đổi ngắn, ,,

II Nội dung cơ bản của tư

5 Quan điểm về phát triển

kinh tế đối ngoại

III Vận dụng tư tưởng

kinh tế Hồ Chí Minh trong

công cuộc đổi mới ở nước

ta hiện nay

40 Diễn giảng,

phát vấn, traođổi ngắn

Nghe, trao đổi,ghi chép

Trang 6

MỞ ĐẦU

I Quá trình hình thành, phát triển, đặc điểm và bản chất của tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế

1 Quá trình hình thành, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế

Tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh phát sinh, hình thành và phát triển qua 3giai đoạn lớn

a) Trước năm 1945

Nghiên cứu, khảo sát nền kinh tế phong kiến thuộc địa ở Việt Nam vànhiều nước khác trên thế giới, Hồ Chí Minh bắt đầu hình thành các quan điểmkinh tế của riêng mình

Nội dung kinh tế của tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời gian này tập trungvào các vấn đề sau đây:

- Một là: Hồ Chí Minh đã dày công nghiên cứu một cách toàn diện bản

chất kinh tế của chủ nghĩa thực dân nói chung, chủ nghĩa thực dân Pháp ở ViệtNam nói riêng, quy luật vận động của chúng và sự diệt vong không thể tránhkhỏi về mặt lịch sử của chủ nghĩa thực dân

Các kết luận kinh tế về chủ nghĩa thực dân được Hồ Chí Minh trình bày

một cách có hệ thống trong tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” Xét về

kinh tế, chủ nghĩa thực dân, chế độ thuộc địa là con đẻ không thể tránh khỏi củachủ nghĩa tư bản Đây là một chế độ dã man, tàn bạo trong lịch sử nhân loại:cưỡng ép, vơ vét thuộc địa làm giàu cho chính quốc, bần cùng hóa người laođộng, làm cho các nước thuộc địa trở nên nghèo đói, lạc hậu về mọi mặt (nôngnghiệp, công nghiệp và chính sách mậu dịch)

Bằng cách vạch trần bản chất xâm lược, ăn cắp của chủ nghĩa thực dân và

vị trí, vai trò của các nước thuộc địa, Hồ Chí Minh đã dùng hình tượng ”con đỉahai vòi” để mô tả phương thức bóc lột của chủ nghĩa đế quốc

+ Một vòi hút máu của nhân dân lao động chính quốc, một vòi hút máu

Trang 7

quốc một cách triệt để phải đồng thời chặt đứt cả hai vòi của con đỉa hút máu.Kết luận này của Hồ Chí Minh có giá trị, ý nghĩa cả về kinh tế và chính trị.

+ Về kinh tế, Hồ Chí Minh đã lột trần bản chất thực sự của chủ nghĩa đếquốc, vị trí của các nước thuộc địa trong hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa thếgiới, quy luật tồn tại của chủ nghĩa thực dân Những khái quát kinh tế này của

Hồ Chí Minh đã góp phần cụ thể hóa các đặc điểm của chủ nghĩa đế quốc màV.I Lênin đã chỉ rõ trước đó, đồng thời Người đã bố sung vào lý luận của Lêninnhững vấn đề mới do thực tiễn đặt ra

+ Về phương diện chính trị, kết luận của Hồ Chí Minh đã chỉ rõ cơ sởkinh tế khách quan của sự thống nhất các lực lượng cách mạng thời đại, xâydựng khối đại đoàn kết quốc tế giữa lao động các nước chính quốc và các nướcthuộc địa; khẳng định tính chủ động và khả năng thắng lợi của cách mạng vô sản

ở chính quốc

- Hai là: Từ phương tiện kinh tế, Hồ Chí Minh đã chỉ ra Hệ thống thuộc địa là nền tảng, cơ sở tồn tại, nuôi sống các đế quốc xâm lược

Chính thuộc địa đã cung cấp cho chính quốc các phương tiện để kiếm

sống, làm giàu duy trì sự tồn tại của mình, đó là: Tài nguyên thiên nhiên phong

phú, đa dạng đủ các loại; đó là vị trí địa lý quan trọng về quân sự và giao lưu quốc tế; nguồn nhân lực nhiều và rẻ mạt; đó còn là thị trường tiêu thụ hàng hóa của các nước đế quốc.

- Ba là: Nghiên cứu kinh tế thuộc địa, Hồ Chí Minh vạch trần tính chất

phản động, dã man của chủ nghĩa thực dân đối với người dân thuộc địa, từ đóthức tỉnh các dân tộc bị áp bức đứng lên đấu tranh giành lại tự do độc lập

+ Kết quả nghiên cứu kinh tế thuộc địa của Hồ Chí Minh không chỉ dừnglại ở việc tố cáo chủ nghĩa đế quốc và thức tỉnh các dân tộc bị áp bức, chỉ ra sựdiệt vong tất yếu của chủ nghĩa thực dân, mà là còn cơ sở để Người từng bướchình thành tư tưởng về một nền kinh tế dân chủ sẽ được xây dựng sau khi nướcnhà được độc lập, nhà nước dân chủ nhân dân ra đời

+ Những quan điểm kinh tế này được Hồ Chí Minh trình bày rõ trong tác

phẩm “Đường cách mệnh” (1927) và các văn kiện được thông qua tại Hội nghị

Trang 8

thành lập Đảng (2-1930) Những bất công, những phi lý, những thói quen, tập tục,bảo thủ, lạc hậu v.v…của nền kinh tế thực dân - phong kiến cùng mục tiêu giảiphóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người của cuộc các mạng theokhuynh hướng vô sản, không thể không khiến Hồ Chí Minh suy ngẫm để rồi xácđịnh một nền kinh tê độc lập, dân chủ định hướng xã hội chủ nghĩa

Trong nền kinh tế dân chủ mới, theo Người: “Các sản nghiệp lớn (như

công nghiệp, vận tải, ngân hàng, v.v) thuộc về kinh tế nhà nước; ruộng đất thuộc về tài sản công cộng và đem chia cho nông dân sử dụng; những thứ thuế

vô lý phải xóa bỏ; công nghiệp và nông nghiệp phải được mở mang” 1

- Bốn là: Đặc biệt, trong thời kỳ này, Hồ Chí Minh đã xây dựng một lýluận tương đối hoàn chỉnh về hợp tác xã với tư cách vừa là một hình thức tổchức doàn kết, tập hợp quần chúng cách mạng, vừa là một loại hình kinh tế chủchốt của chế độ mới

Người đã đề cập đến hợp tác xă một cách toàn diện: cơ sở lý luận; nguyêntắc tổ chức; phương thức lãnh đạo, quản lý; các hình thức chủ yếu của các hợptác xã

b) Giai đoạn 1945-1954

- Hồ Chí Minh quan tâm xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ phục

vụ công cuộc kháng chiến và kiến quốc.

Tháng Tám năm 1945, nhân dân Việt Nam đứng lên Tổng khởi nghĩathắng lợi, giành chính quyền trên cả nước từ tay phát xít Nhật Ngày 2-9-1945,chính phủ cách mạng lâm thời tuyên bố nước nhà độc lập, nước Việt Nam Dânchủ Cộng hòa ra đời Nhưng sau đó thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta,nhân dân Việt Nam lại phải tiến hành một cuộc kháng chiến trường kỳ, toàn dân,toàn diện để giữ vững nền độc lập vừa giành được Cuộc kháng chiến kéo dàitrong vòng 9 năm và kết thúc thắng lợi vào năm 1954 Đây là thời kỳ một số tưtưởng kinh tế của Hồ Chí Minh được thực hiện, có bước phát triển và bố sungnhững nội dung mới

- Hồ Chí Minh chủ trương và lãnh đạo xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ nhằm mục đích cải thiện và nâng cao dần đời sống của nhân dân lao động

Trang 9

+ Theo Người, độc lập về chính trị luôn gắn liền với độc lập về kinh tế:

“Để xóa bỏ tàn tích của thực dân Pháp, các nước mới giành được độc lập về chính trị cần giải quyết vấn đề kinh tế quốc dân không lệ thuộc vào kinh tế đế quốc, thì độc lập mới hoàn toàn và thực sự” 2

Và độc lập dân tộc phải gắn với đem lại cơm no, áo ấm, hạnh phúc cho

nhân dân Người ý thức rất rõ: nước độc lập tự do mà nhân dân không được no

ấm, hạnh phúc thì độc lập đó chẳng có nghĩa lý gì, vì dân chỉ hiểu được giá trị của tự do, độc lập khi họ được ăn no mặc đủ Vì thế cho nên, sau khi giành

được độc lập phải tập trung mọi nguồn lực để xây dựng và phát triển kinh tế

+ Xuất phát từ đặc điểm nước ta, Hồ Chí Minh đã có tư tưởng chỉ đaọsáng suốt, nhạy bén, vừa giải quyết được vấn đề trước mắt, vừa hướng đến sựphát triển lâu dài Người xác định phải tập trung phát triển nông nghiệp, ”Dĩnông di bản”, coi nông nghiệp là gốc của sự phát triển kinh tế Sự lựa chọn đúngđắn này có thể tận dụng tối đa các tiềm lực sẵn có của đất nước như: tài nguyênđất đai, khí hậu, truyền thống kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp của nhân dân,phát huy nguồn lực của con người mà đại bộ phận là nông dân nhằm trước hếtgiải quyết vấn đề ăn cho nhân dân, cho bộ đội đánh giặc, trên cơ sở đó từngbước xây dựng nền kinh tế độc lập của nước nhà

+ Coi trọng nông nghiệp, Hồ Chí Minh đã khái quát thành những luận đề

có tính lý luận triết lý: “Nông dân giàu thì nước ta giàu, nông nghiệp thịnh thì

nước ta thịnh” 3 Thậm chí Người còn đặt vấn đề “công cuộc phát triển nông nghiệp là nền tảng để phát triển kinh tế” 4 …

- Hồ Chí Minh đã đề xuất hàng loạt chính sách, biện pháp và cách làm

để vực dậy một nền nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá nặng nề

+ Người kêu gọi nông dân tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, trồng đủcác loại cây: lúa, hoa mầu, cây ăn quả và tổ chức lại sản xuất Chính ở giai đoạnnày Người đã nói đến “sách khuyến nông”, tổ chức các tổ đổi công, hợp tác xã

2 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 10 tr 551.

Trang 10

trong nông thôn Để khuyến khích nông dân, bồi dưỡng sức dân, tăng cường lựclượng cho cuộc kháng chiến, Hồ Chí Minh đã bước đầu thực hiện giảm tô, xóa

bỏ triệt để mọi thứ thuế do chế độ thực dân,phong kiến đã đặt ra, sau đó thựchiện cải cách ruộng đất, đưa lại đất cày cho hàng triệu nông dân

Hồ Chí Minh đánh giá cải cách ruộng đất là một cuộc cách mạng thật sự,

là một bước phát triển tất yếu của nền nông nghiệp nước nhà Cũng chính ở thờiđiểm đó Người kêu gọi nhân dân, trước hết là nông dân tự lực tự cường theo

phương châm: “Làm cho nhiều, tiêu thì ít, làm chóng tiêu chậm, tức là đầy đủ:

như vậy “nghèo đói trở nên đủ,đủ trở nên khá, khá trở nên giàu và giàu thì ngày càng giàu thêm 5 ”

Hồ Chí Minh không sợ dân giàu, trong nhận thức của Người, tiến tới giàu

có là một quá trình lâu dài, có sự phân tầng về mặt xã hội và dân có giàu thìnước mới mạnh Dân giàu, nước mạnh trong độc lập dân tộc, dân giàu nướcmạnh để giữ vững và bảo vệ độc lập dân tộc

+ Từ quan điểm dân giàu nước mạnh, lần đầu tiên trong tư duy kinh tếmác-xít ở Việt Nam, Người chủ trương thực hiện chính sách cơ cấu kinh tếnhiều thành phần với các hình thức sở hữu đa dạng

Người không chỉ rõ sự tồn tại khách quan của số lượng các thành phầnkinh tế, mà còn xác định vị trí, vai trò, xu hướng biến đổi của nó trong nền kinh

tế quốc dân thống nhất

Năm 1953, Hồ Chí Minh đưa ra thứ tự sắp xếp các thành phần kinh tế

(Quốc doanh; hợp tác xã; tiểu chủ, cá thể; tư bản tư nhân; tư bản nhà nước)

(Đảng ta quán triệt và thể hiện trong Văn kiện Đại hội đại điểu Đảng toàn quốclần thứ IX-2001)

- Ở Việt Nam, Hồ Chí Minh là người lãnh đạo đầu tiên của Đảng và Nhànước ta nêu ra một cách đầy đủ về chủ trương sử dụng nền kinh tế nhiều thànhphần định hướng xã hội chủ nghĩa Trong tư tưởng của Người, nền kinh tế nhiềuthành phần với các hình thức sở hữu khác nhau tồn tại lâu dài dưới chế độ dânchủ nhân dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo

- Cùng với đường lối phát triển kinh tế nhiều thành phần, Hồ Chí Minhcòn chỉ rõ, để phát triển kinh tế của đất nước, Đảng và Chính phủ phải thực hiện

Trang 11

bốn chính sách mấu chốt là: “công tư đều có lợi”; “chủ thợ đều có lợi”; “côngnông giúp đỡ lẫn nhau” và “lưu thông trong ngoài”6.

+ Hồ Chí Minh đã xác định lợi ích kinh tế là hạt nhân để xác định các loạikinh tế; giải quyết đúng đắn lợi ích của các chủ thể kinh tế sẽ đảm bảo tạo đượcđộng lực cho nền kinh tế hoạt động có hiệu quả và phát triển đúng hướng

+ Trong thời gian này, Hồ Chí Minh đã từng bước hình thành một bộ máyquản lý kinh tế với một cơ cấu hợp lý, hoạt động có hiệu quả thực tế, trong sạch,liêm khiết Tất cả những việc làm đó đều có tác dụng chuẩn bị các nhân tố, điềukiện và tiền đề cần thiết để thực hiện bước quá độ từ chế độ dân chủ mới lên chủnghĩa xã hội

c) Giai đoạn 1954 -1969

Đặc điểm lịch sử nổi bật của giai đoạn này là: sau Hiệp định Giơnevơ 1954) miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, miền Nam còn bị đế quốc Mỹchiếm đóng, áp đặt chủ nghĩa thực dân mới, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta

(7-Lúc này, cách mạng Việt Nam phải đồng thời thực hiện hai nhiệm vụchiến lược: miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ xây dựng CNXH, miền Nam tiếptục cuộc các mạng dân tộc dân chủ nhân dân

Hai miền Nam Bắc đều nhằm thực hiện mục tiêu chung là giải phóngmiền Nam, thống nhất nước nhà, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủnhân dân trên cả nước, rồi cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội Trong bối cảnh đó, tưtưởng kinh tế Hồ Chí Minh có bước phát triển kinh tế mới được bổ sung

- Hồ Chí Minh xác định rõ và nhất quán mục đích phát triển kinh tế của nước ta là không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân, trước hết

là thõa mãn các nhu cầu thiết yếu nhất cho quần chúng lao động.

+ Làm cho nhân dân có ăn, có mặc, có chỗ ở, được học hành và có điềukiện để chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe Hiệu quả của đường lối, chính sách kinh

tế, năng lực tổ chức quản lý của bộ máy, cán bộ kinh tế được đánh giá thông quaviệc cải thiện, nâng cao đời sống nhân dân

Trang 12

+ Muốn nâng cao đời sống nhân dân, theo Hồ Chí Minh, phải đẩy mạnhtăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm phân phối công bằng; và việc nâng cao đờisống của nhân dân phải do nhân dân tự làm lấy Hồ Chí Minh nhận thức rõ mốiquan hệ biện chứng và sự chi phối, tác động lẫn nhau giữa tăng gia sản xuất,thực hành tiết kiệm với việc nâng cao đời sống nhân dân.

- Hồ Chí Minh đã thực hiện một loạt các biện pháp lâu dài để xây dựng và phát triển lực lượng sản xuất xã hội

+ Quan điểm phát triển lực lượng sản xuất hàm chứa một nội dung rất rộng,tác động đến nền tảng phát triển xã hội: xây dựng con người xã hội chủ nghĩa, pháttriển khoa học - kỹ thuật, văn hóa giáo dục, hình thành đội ngũ tri thức cách mạng,xây dựng cơ cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, tiến hành công nghiệp hóa XHCN

+ Hồ Chí Minh cho rằng: công nghiệp hóa là con đường phải đi của nước ta

và công nghiệp hóa phải bắt đầu từ nông nghiệp, nông thôn trên cơ sở xây dựng vàphát triển một nền nông nghiệp toàn diện

- Hồ Chí Minh bổ sung và phát triển quan niệm về vai trò “gốc, nền tảng” của nông nghiệp và xây dựng một nền nông nghiệp toàn diện với một hệ thống các chỉ dẫn thiết thực, cụ thể

+ Một nền nông nghiệp toàn diện theo Hồ Chí Minh bao gồm: trồng trọt,chăn nuôi, nghề rừng, đánh cá và phát triển cả ngành nghề phụ ở nông thôn;trong trồng trọt cũng đa dạng các loại cây trồng, chăn nuôi phải chú ý cả gia súc,gia cầm

+ Lần đầu tiên, Hồ Chí Minh đã nêu lên ý tưởng quy hoạch các vùng sản xuất

nông nghiệp chuyên canh, đem lại khối lượng sản phẩm lớn, có hiệu quả cao.

+ Về tổ chức sản xuất nông nghiệp, Hồ Chí Minh đã chỉ ra các bước tiếnhành tuần tự phải trải qua: cải cách ruộng đất → tổ đổi công → hợp tác xã cấpthấp → hợp tác xã cấp cao → nông trường nông nghiệp → làm cho nông nghiệp

xã hội hóa Riêng về xây dựng hợp tác xã nông nghiệp, Hồ Chí Minh đã đề xuấtmột hệ thống các luận điểm chỉ rõ tinh tất yếu khách quan, mục đích, phương

Trang 13

châm, nguyên tắc, hình thức và các giải pháp thực hiện Quan niệm đó ngày nayvẫn còn giữ nguyên tính thời sự.

- Hồ Chí Minh tiếp tục phát triển quan niệm về cơ cấu kinh tế trong thời

kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

+ Người đề cập đến ba loại cơ cấu kinh tế chủ yếu: cơ cấu kinh tế công nông nghiệp; cơ cấu kinh tế nhiều thành phần và cơ cấu vùng, lãnh thổ

-+ Người lựa chọn cơ cấu công - nông nghiệp là cơ cấu kinh tế ngành hợp

lý nhất, xem đó là hai chân của nền kinh tế, phải phát triển đồng đều, toàn diện,cân đối; thương nghiệp là mắc khâu trung gian nối liền công nghiệp và nôngnghiệp Cơ cấu công - nông nghiệp là cơ sở kinh tế thực hiện lien minh côngnhân với nông dân và lao động trí óc - nền tảng xã hội vững chắc của nhà nước,

ổn định của dân tộc

+ Trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh vẫn thực hiện đường lốikinh tế nhiều hình thức sở hữu với nhiều thành phần kinh tế khác nhau Bêncạnh chăm lo, củng cố kinh tế quốc doanh, kinh tế hợp tác xã, Hồ Chí Minhkhuyến khích phát triển kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế tư nhân dưới mọi hìnhthức Chính ở điểm nút lý luận này, Hồ Chí Minh đã vượt qua truyền thống tưduy kinh tế mác-xít đương thời, cho rằng xây dựng chủ nghĩa xã hội, về thựcchất là một sự nghiệp kinh tế của toàn dân, của mọi người Việt Nam yêu nước,

kể cả tư sản dân tộc Chủ trương này được Đảng ta vận dụng sáng tạo và thànhcông trong quá trình đổi mới

- Hồ Chí Minh đã xây dựng một bộ máy và cán bộ theo hướng chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa trong quản lý kinh tế

+ Người đã đề xuất và thực hiện một loạt các nguyên tắc quản lý, phảnánh đúng bản chất các quan hệ kinh tế của chế độ mới: tập trung dân chủ, chútrọng hiệu quả, hạch toán, kế hoạch hóa; sử dụng rộng rãi các đòn bẩy kinh tếtrong sản xuất và bắt đầu đề xuất, thực hiện quan điểm về chế độ làm khoán.Người xác định rõ làm khoán là một đặc điểm của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa,

Trang 14

trong đó kết hợp được ba lợi ích rất cơ bản: lợi ích nhà nước, tập thể và lợi íchngười lao động.

+ Bên cạnh kiên trì quan điểm xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ,thực hiện các cách làm kinh tế phù hợp với đặc điểm, điều kiện của dân tộc ViệtNam, Hồ Chí Minh lại chủ trương mở cửa, tăng cường hợp tác kinh tế quốc tếvới các nước có chế độ chính trị khác nhau, tranh thủ viện trợ và học tập kinhnghiệm tốt của các nước anh em Đây chính là quan điểm lý luận với kết hợpsức mạnh dân tộc với sức mạnh quốc tế, thời đại trong xây dựng và phát triểnkinh tế nước nhà

1.2 Đặc điểm và bản chất của tư tưởng Hồ Chí Minh vè kinh tế

a) Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế

* Trên cơ sở quá trình hình thành, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế, phần nào chúng ta hình dung diện mạo của tư tưởng đó, có thể đi đến xác định khái niệm khoa học

Tuy nhiên, việc định nghĩa khái niệm “Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh

tế”, cần dựa vào các nguyên tắc phương pháp luận mác-xít Đó là:

Thứ nhất, làm rõ nội hàm với những đặc trưng cơ bản của khái niệm.

Công việc này được tiến hành trên cơ sở tài liệu, sự kiện chính xác và nhữngkhái quát lý luận khoa học

Thứ hai, phải rút ra được cái cốt lõi, bản chất của sự kiện, những quy luật

vận động tác động đến nó

Thứ ba, mối quan hệ giữa nội dung tư tưởng với thực tiễn cuộc sống.

Từ những yêu cầu trên đây, khái quát các kết quả nghiên cứu đã đạt được,

có thể quan niệm: “Tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh là một bộ phận hợp thành tư

tưởng Hồ Chí Minh, bao gồm hệ thống những luận điểm lý luận được rút ra từ thực tiễn cách mạng, từ sự kế thừa và phát triển những tinh hoa của dân tộc và trí tuệ của thời đại mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác - Lênin nhằm giải quyết những vấn

đề kinh tế cơ bản của quá trình phát triển từ một xã hội thuộc địa nửa phong kiến, nông nghiệp lạc hậu tiến dần lên chế độ xã hội chủ nghĩa có cơ cấu công - nông

Trang 15

nghiệp hiện đại, khoa học- kỹ thuật tiên tiến có khả năng không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân lao động”.

* Khái niệm “Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế” đã chỉ ra được các yếu

tố sau:

- Chỉ ra nguồn gốc lý luận của khái niệm

- Chỉ ra những đặc trưng, nêu rõ quy luật xây dựng và phát triển nền kinh

tế Việt Nam với yêu cầu, nội dung cốt lõi và mục đích của nó

- Chỉ ra điểm xuất phát và tương lai phát triển của nền kinh tế Việt Nam,chi phối và tác động đến toàn bộ hệ thống các quan hệ xã hội khác, nói lên bảnchất nhân văn của tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh

Đây cũng chỉ mới là ý kiến ban đầu, còn phải tiếp tục nghiên cứu và bổsung để tiến tới có được một khái niệm hoàn chỉnh và khoa học hơn

b) Một số đặc điểm, bản chất của tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế

Lược khảo lịch sử hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh

tế, chúng ta có thể khái quát những đặc điểm chủ yếu sau đây:

- Thứ nhất: Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng mác-xít đầy sáng tạo, có những

cống hiến lý luận rất phong phú, toàn diện Tư tưởng kinh tế là một bộ phận đặc sắc,chứa đựng những tư tưởng mới mẻ, hiện đại, rất khoa học và cách mạng

Mặc dầu được hình thành từ nhiều nguồn gốc lý luận khác nhau, nhưngnguồn gốc trực tiếp và chủ yếu là học thuyết kinh tế của chủ nghĩa Mác-Lênin

Vì thế, tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh thuộc phạm trù kinh tế - chính trị học Mác

- Lênin, là sự kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo kinh tế - chính trị họcMác - Lênin trong điều kiện lịch sử của Việt Nam

- Thứ hai: Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế có cấu trúc nội tại, bao

gồm một hệ thống các luận điểm có quan hệ chặt chẽ với nhau: mục tiêu, cơ cấu,phương hướng, biện pháp, nhịp độ, bước đi của nền kinh tế nước ta… trong toàn

bộ quá trình vận động từ chế độ dân chủ mới quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội

- Thứ ba: Người không dùng ngôn ngữ trừu tượng để nói lý luận với các

nhà lý luận mà dùng ngôn ngữ thông thường, giản dị, dễ hiểu với nhiều hình ảnh

so sánh để nói với quần chúng về những điều cụ thể, thiết thực dễ nhớ, dễ làm;

Trang 16

phản ánh nhu cầu bức thiết của thực tiễn kinh tế đất nước, nguyện vọng nóng

bỏng của người sản xuất, nên được quần chúng nhiệt tình đón nhận và dốc lòng

thực hiện

Có thế nói, trong tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế, dường như không cómột khoảng cách quá lớn giữa lý luận và đời sống hiện thực, và khả năng hiệnthực hóa các quan điểm lý luận là hết sức lớn Điều đó cho thấy, sức mạnh vậtchất và cải tạo hiện thực kinh tế khách quan của tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh

- Thứ tư: Tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh mang tính chất cách mạng và phát triển

+ Người thường đề cập đến những vấn đề thiết thực vừa tầm với trình độnhận thức và hiểu biết của người dân, đặc biệt là nông dân - bộ phận dân cư

đông đảo nhất trong xã hội nước ta, nhưng đó cũng thường là những vấn đề cấp

bách, cốt lõi, bản chất có tính quy luật của nền kinh tế trong thời kỳ quá độ mà

đến nay chúng ta vẫn tìm tòi cách để tháo gỡ, để tiến tới xác lập được một môhình kinh tế tổng quát, định hướng cho hoạt động thực tiễn, không đi chệch conđường xã hội chủ nghĩa

+ Cũng vì thế, các quan điểm kinh tế được Người thường xuyên được bổsung bằng những nội dung mới mà thực tiễn đất nước và cuộc sống đặt ra

Trong Di chúc, Người căn dặn Đảng ta khi có diều kiện tì miễn thuế nôngnghiệp một năm co nông dân để bà con vui vẻ, hỷ xả, mát dạ mát lòng

1.3 Một số nguyên tắc phương pháp luận nghiên cứu, học tập tư tưởng

Hồ Chí Minh về kinh tế

Nghiên cứu về thân thế và sự nghiệp của Hồ Chí Minh nói chung, tưtưởng Hồ Chí Minh nói riêng, càng ngày dần dần chúng ta cảm nhận thêm đượcnhiều vấn đề, trong đó có tư tưởng của Người về kinh tế

Thật ra thì cho đến nay, không phải là không có người nghĩ rằng và nóirằng, Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất,

cả cuộc đời của Người gắn với sự nghiệp giải phóng dân tộc cho nên ở Ngườikhông “mạnh” lắm về những vấn đề kinh tế

Trang 17

Theo nghiên cứu bước đầu, chúng tôi cảm nhận được, trên khía cạnh phươngpháp tiếp cận trong nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế, như sau:

- Một là: Xác định rõ vị trí của tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế trong toàn bộ hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh

+ Có một cái nhìn tổng thể vấn đề tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế trongtoàn bộ hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh

Trong thực tế, chúng ta thấy Hồ Chí Minh không bao giờ tách riêngnhững vấn đề kinh tế khỏi toàn bộ những vấn đề khác của đất nước Quan điểmnổi bật nhất là kinh tế gắn với chính trị với nghĩa rộng nhất của từ này, kinh tếgắn với con người, với xã hội, v.v Ở Người, không có kinh tế duy nhất, biệt lập,làm “kinh tế”, bằng mọi giá…

+ Sử dụng phương pháp tiếp cận này, người nghiên cứu lại cần có ít nhấthai vấn đề lưu ý:

Đặt những quan điểm hoặc cả những chỉ đạo cụ thể của Hồ Chí Minh vềkinh tế vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể Chúng ta có thể dẫn một loạt thí dụ nhữngquan điểm của Hồ Chí Minh về vấn đề này

Ở Hồ Chí Minh, có những vấn đề quan điểm thuộc về chiến lược kinh tếnhưng cũng có không ít những quan điểm chỉ đạo cụ thể trong một thời điểm cụ thể

và đương nhiên có tác dụng trong một khoảng thời gian và thời gian nhất định Cảcuộc đời của Hồ Chí Minh hầu như dành cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dântộc, kể cả trong thời kỳ Người cùng toàn Đảng lãnh đạo sự nghiệp xây dựng chủnghĩa xã hội ở miền Bắc nước ta cũng là nằm trong khói lửa chiến tranh, Nam -Bắc bị chia cắt, mọi quy luật chiến tranh trùm lên những vấn đề kinh tế

+ Không nên coi Hồ Chí Minh là một nhà kinh tế, để từ đó câu nệ vàochữ, những ý kiến cụ thể của Người về kinh tế, mà phải coi ở Người trước hết làmột nhà chính trị, một nhà tư tưởng Do vậy, nên khắc phục nhược điểm thườngthấy ở một số nhà nghiên cứu chỉ thấy những vấn đề rất vụn (thường trích dẫn

để chứng minh) mà chưa làm nổi bật lên vấn đề thuộc tư tưởng - điều mà nhànghiên cứu đang cần như một cái đích để phấn đấu làm rõ

Trang 18

- Hai là: Nghiên cứu tư liệu thành văn, đồng thời chú trọng nghiên cứu cả tư liệu không thành văn của hồ Chí Minh

Cách tiếp cận truyền thống từ trước đến nay là dựa chủ yếu vào tư liệuthành văn Điều này cực kỳ quan trọng, bởi vì nếu thiếu mảng này chúng ta khóhoặc không thể nghiên cứu tốt tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế Ở đây, cũng có

sự phân loại để tiếp cận nghiên cứu cho tốt:

Thứ nhất, đó là những tác phẩm đã công bố của Hồ Chí Minh (trong Hồ

Chí Minh Toàn tập, 15 tập) Đây là tài liệu cần ưu tiên chú trọng số 1 trong

nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế

Thứ hai, những tác phẩm của Hồ Chí Minh và đang còn nghi là của Hồ

Chí Minh chưa được xác minh và đương nhiên chưa được in ấn phát hành Loạitài liệu này chủ yếu được lưu giữ ở các kho lưu trữ trong và ngoài nước, thậmchí ở một số cá nhân

Thứ ba, những sách, tài liệu người khác biên soạn, viết về Hồ Chí Minh.

Loại tài liệu này cần có sự phân loại thành nhiều loại khác nhau nữa Chẳng hạn, cóthể phân theo nhóm trong nước, ngoài nước; những loại biên soạn như kiểu sáchcông cụ (như Biên niên tiểu sử 10 tập đã xuất bản), những sách nghiên cứu, v.v

Thứ tư, loại tài liệu hồi ký từ những người làm việc cùng với Hồ Chí

Minh, nhớ lại rồi ghi thành những sự kiện, những nhận xét của mình về nhữngvấn đề kinh tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh Ở loại tài liệu này, cần chú ý cảnhững sự kiện về cuộc sông thường nhật của Người, những ý kiến cụ thể củaNgười khi phát biểu với đơn vị này, địa phương kia khi Người đến,v.v…

Thứ năm, loại tài liệu kiểm chứng thông qua sự khảo sát, liên tưởng, đối

chứng với tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế Điều này là rất khó, đòi hỏi tư duytổng kết của người nghiên cứu Bởi vì, tư tưởng Hồ Chí Minh gắn kết rất chặtchẽ với cuộc sống, nó chỉ sống động trong cuộc sống ở các thời kỳ tiếp theo củadân tộc Việc nghiên cứu này tránh được kinh viện

=> Năm loại trên đây, đòi hỏi người nghiên cứu phải có phương pháp

nghiên cứu riêng

Trang 19

Một mặt khác, nói chung và đặc biệt đối với Hồ Chí Minh, chỉ tư liệu thànhvăn không thôi thì chưa đủ, mà còn cả những tư liệu không thành văn Những tưliệu này có thể là hiện vật, có thể là di tích, bức ảnh… Hồ Chí Minh không phải làngười chuyên tâm viết những cuốn sách lớn, bởi vì Người là nhà chính trị

Do vậy, có thể có người nghiên cứu có vẻ thất vọng khi nghiên cứu những tưtưởng Hồ Chí Minh về kinh tế so với những tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề cáchmạng giải phóng dân tộc Đây là cảm nhận sai lầm Một nhà tư tưởng không nhấtthiết là viết hàng pho sách mà chính cuộc đời mình là một pho sách lớn

Điều rất lý thú mà chúng ta cảm nhận được qua bước đầu nghiên cứu tưtưởng Hồ Chí Minh về kinh tế là: Trong hoàn cảnh hiện nay, khi đất nước hoạtđộng theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa, hội nhập, chủđộng hội nhập trong toàn cầu hóa kinh tế Đọc lại những quan điểm của Hồ ChíMinh về kinh tế mới thấy vẫn còn nguyên tính thời sự Phải chăng tính dự báotrong quan điểm đó rất nổi trội, hoặc phải chăng ở tầm nhìn xa của bậc vĩ nhân

Hồ Chí Minh như là một đặc tính không thể thiếu

Chẳng hạn, ngay từ năm 1947, Hồ Chí Minh đã thay mặt Nhà nước ViệtNam mới để tuyên bố với Liên hợp quốc rằng, Việt Nam sẵn sàng làm bạn với tất

cả các nước dân chủ mà không gây thù oán với một ai

Cũng trong những năm đầu của nước Việt Nam mới ra đời, Người gửi thưcho Liên hợp quốc với những đoạn như sau: “Nhân dân Việt Nam sẽ tuân thủnhững nguyên tắc dưới đây:

1 Đối với Lào và Miên, nước Việt Nam tôn trọng nền độc lập của hainước đó và bày tỏ lòng mong muốn hợp tác trên cơ sở bình đẳng tuyệt đối giữacác nước có chủ quyền

2 Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách

mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực:

a) Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tưbản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình

Trang 20

b) Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giaothông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế.

c) Nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tếdưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc

d) Nước Việt Nam sẵn sàng ký kết với các lực lượng hải quân, lục quântrong khuôn khổ của Liên hợp quốc những hiệp định an ninh đặc biệt và nhữnghiệp ước liên quan đến việc sử dụng một vài căn cứ hải quân và không quân”7

Trong xây dựng kinh tế, mặc dù trong điều kiện chi viện cho cách mạng

miền Nam, Hồ Chí Minh đã đưa ra những quan điểm có ý nghĩa chiến lược: vấn

đề khoán trong chủ nghĩa xã hội; vấn đề sử dụng các đòn bẩy kinh tế; vấn đề tăng năng suất lao động; vấn đề tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm; vấn đề khoa học kỹ thuật trong sản xuất; vấn đề tổ chức quản lý sản xuất; vấn đề quan

hệ sản xuất vv…

- Ba là: Khái quát những luận điểm cơ bản trên tầm vĩ mô

Có thể có nhiều cách tiếp cận tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế Thôngthường người ta tìm hiểu tư tưởng của Người về kinh tế, về từng vấn đề kinh tế

cụ thể hay từng ngành, từng địa phương cụ thể thông qua các bài viết, các bàinói của Người

Thế nhưng, nếu chỉ dừng lại ở đó không thôi thì chưa đủ, không nói lênđược chiều sâu tư tưởng, lý luận và quy mô tác động của các quan điểm kinh tếcủa Hồ Chí Minh

Trên bình diện lý luận, cách tốt nhất là phải từ những tư liệu cụ thể đó màkhái quát thành những quan điểm cơ bản có tính chất nguyên lý, chỉ đạo hoạtđộng kinh tế của đất nước

- Bốn là: Làm sáng tỏ những quan điểm mà Hồ Chí Minh gợi ý nhưng chưa có dịp phân tích, làm rõ

Hiện nay, khi nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng kinh tế

Hồ Chí Minh nói riêng, người ta chỉ thường trích dẫn và luận giải những điều đã rõ,

Trang 21

đã được chính Hồ Chí Minh diễn đạt rành mạch và cụ thể Đây mới chỉ là mộtphần, mặc dù là phần trọng yếu nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế

Trong nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế, còn có một số luận điểmchưa rõ cần phải được phân tích, nghiên cứu Bởi vì, chúng rất quan trọng và có ýnghĩa chỉ đạo xây dựng nền kinh tế Việt Nam hiện đại, chẳng hạn như quan điểm

Hồ Chí Minh về khuyến nông; chia lãi cho công nhân trong xí nghiệp; quan điểmlàm cho công nghiệp xã hội hóa, quan điểm làm cho nông nghiệp xã hội hóa v v…

II Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế

Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế có nội dung phong phú, rất rộng, chođến nay đang ít được đề cập đến Vì thế, nghiên cứu một cách nghiêm túc tưtưởng kinh tế của Hồ Chí Minh trong mối liên hệ với những vấn đề kinh tế đangđặt ra là một nhiệm vụ cấp thiết, có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn, thiết thực

Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế có thể khái quát đềcập trên những vấn đề cơ bản sau:

1 Quan điểm về mục tiêu phát triển kinh tế

a) Mục tiêu xây dựng, phát triển kinh tế

Không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống nhân dân, cả về đời sống vật chất và đời sống tinh thần Đây là tiêu chí cơ bản để đánh giá tính hiệu quả, đúng đắn của các chính sách kinh tế, biện pháp phát triển kinh tế.

- Nghiên cứu đời sống xã hội, Hồ Chí Minh hoàn toàn đứng trên quanđiểm duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin Người quan niệm đời sống xãhội, quá trình lịch sử là sự thống nhất của các mặt kinh tế, chính trị, xã hội, vănhóa Các mặt này thường đan xen, xâm nhập, làm tiền đề, cơ sở thúc đẩy và hỗtrợ lẫn nhau, sự tách biệt giữa chúng chỉ có ý nghĩa tương đối

- Sự thống nhất của các nhân tố kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội theo HồChí Minh được chế định bởi chủ thể đích thực của quá trình lịch sử: con ngườivới hoạt động sống của nó Chính vì vậy, nét đặc sắc về mặt phương pháp tiếpcận xã hội của Hồ Chí Minh là từ những nghiên cứu về kinh tế bao giờ Người

Trang 22

cũng rút ra các kết luận chính trị - xã hội nhằm hoạch định đường lối, chính sáchkhoa học đúng đắn chỉ đạo và cải tạo thực tiễn khách quan

- Khi xác định nhiệm vụ xây dựng một mặt nào đó thuộc đời sống xã hội,

Hồ Chí Minh không tách biệt, cô lập riêng từng lĩnh vực, mà thường đặt nótrong một tổng thể chung, bên cạnh các mặt khác

Quan điểm có tính chất phương pháp luận này được Hồ Chí Minh quántriệt nghiêm ngặt khi xây dựng chiến lược phát triển các mặt đời sống của chế

độ mới Đề cập đến xây dựng đời sống văn hóa, Người xác định: “Năm điểm lớnxây dựng nền văn hoá dân tộc

1- Xây dựng tâm lý: tinh thần độc lập tự cường

2- Xây dựng luân lý: biết hy sinh mình, làm lợi cho quần chúng

3- Xây dựng xã hội: mọi sự nghiệp có liên quan đến phúc lợi của nhândân trong xã hội

4- Xây dựng chính trị: dân quyền

độ xã hội

Tất nhiên, hệ thống quan hệ sản xuất này bao giờ cũng được Hồ Chí Minhgắn liền với một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất, trình độ xã hội hóasản xuất Trong điều kiện nước ta, khi lực lượng sản xuất non yếu, phân tán vàlạc hậu, thì trước hết phải có các loại hình sở hữu, tổ chức tương ứng mới pháthuy được hiệu quả Hai mặt lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất thống nhất

biện chứng trong nội tại bất kỳ một phương thức sản xuất xã hội nào Hai là, Hồ

Chí Minh quan niệm kinh tế cụ thể là nền kinh tế quốc dân Việt Nam, mới thoát

Trang 23

ra từ nền kinh tế phong kiến thuộc địa với các ngành, lĩnh vực và các hình thứcsản xuất của nó Đấy chính là đối tượng chủ yếu của tư tưởng kinh tế Hồ ChíMinh.

Theo cả hai nghĩa đó, kinh tế được Người đặc biệt chú ý, xem nó như làxương sống của đời sống xã hội, cơ sở hình thành các quan hệ xã hội – giai cấp,thiết lập các thể chế chính trị, dân chủ, đời sống tinh thần, thỏa mãn các nhu cầutồn tại của con người và là lĩnh vực hoạt động sống cơ bản nhất Trong tất cả cácchế độ xã hội, công nhân, nông dân và những người lao động nói chung là độnglực quan trọng nhất, họ trực tiếp tham gia vào quá trình hoạt động sản xuất vậtchất, duy trì sự tồn tại và phát triển của xã hội Nói về vai trò của kinh tế khi so

sánh với các lĩnh vực khác, Hồ Chí Minh cho rằng “Muốn tiến lên chủ nghĩa xã

hội thì phải phát triển kinh tế và văn hóa Vì sao không nói phát triển văn hóa

và kinh tế? Tục ngữ ta có câu: Có thực mới vực được đạo, vì thế kinh tế phải đi trước” 9

- Ý thức vai trò quyết định của kinh tế, Hồ Chí Minh vận dụng vào xâydựng chủ nghĩa xã hội xác định rõ, nhất quán “nhiệm vụ quan trọng nhất củachúng ta là phải xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội” và

“trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải cải tạo nền kinh tế

cũ và xây dựng nền kinh tế mới, mà xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt và lâudài”10 Đây cũng là nhiệm vụ khó khăn, phức tạp nhất nhưng nếu giải quyếtđược sẽ tạo điều kiện vật chất cần thiết, vững chắc đảm bảo cho sự thắng lợi củachế độ xã hội chủ nghĩa

- Quan điểm xem kinh tế là nền tảng vật chất, quyết định sự tồn tại của xãhội được xuyên suốt trong thực tiễn lãnh đạo cách mạng của Hồ Chí Minh, đặcbiệt rõ nhất khi nghiên cứu các nhân tố và quy luật khách quan tác động đến quátrình phát triển của cách mạng Việt Nam từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dântiến lên chủ nghĩa xã hội, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội và lựa

Trang 24

chọn mô hình chế độ xã hội có thể đảm bảo đời sống no ấm, hạnh phúc cho nhândân lao động.

b) Giải pháp cải thiện, nâng cao đời sống nhân dân.

Theo Hồ Chí Minh, con đường cách mạng Việt Nam là con đường cáchmạng vô sản, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, là con đường tiến từ chế độdân chủ nhân dân lên chủ nghĩa xã hội Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước

ta bị chi phối, chế định bởi các điều kiện, nhân tố kinh tế của đất nước và thời đại.Nói tổng quát, ở Việt Nam, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa là một tấtyếu kinh tế Kết luận này của Hồ Chí Minh có cơ sở lý luận, thực tiễn, được tiếpcận từ cái chung, phổ biến đến cái riêng, đặc thù

Vận dụng và quán triệt quan điểm duy vật về lịch sử của học thuyết mác –xít, Hồ Chí Minh quan niệm lịch sử xã hội loài người là một quá trình tự nhiêncủa sự thay thế lần lượt các phương thức sản xuất Quy luật phổ quát, tiến hóachung này là một “tất yếu thép” được quyết định bởi sự vận động không ngừngcủa lực lượng sản xuất xã hội Tinh thần của học thuyết mác – xít về hình tháikinh tế - xã hội được Hồ Chí Minh diễn giải một cách giản lược, hết sức dễ hiểu

Theo Hồ Chí Minh “Cách sản xuất và sức sản xuất phát triển và biến đổi mãi,

do đó mà tư tưởng của người, chế độ xã hội, v.v., cũng phát triển và biến đổi Chúng ta đều biết từ đời xưa đến đời nay, cách sản xuất từ chỗ dùng cành cây, búa đá phát triển dần đến máy móc, sức điện, sức nguyên tử Chế độ xã hội cũng phát triển từ cộng sản nguyên thuỷ đến chế độ nô lệ, đến chế độ phong kiến, đến chế độ tư bản chủ nghĩa và ngày nay gần một nửa loài người đang tiến lên chế độ xã hội chủ nghĩa và chế độ cộng sản chủ nghĩa

Sự phát triển và tiến bộ đó không ai ngăn cản được” 11

Xã hội loài người phát triển theo xu hướng đi lên, các xã hội trước tạo tiền

đề để bước lên một hình thái cao hơn về chất lượng Nếu chủ nghĩa tư bản tấtyếu ra đời từ chế độ phong kiến thì chính chủ nghĩa tư bản cũng sẽ xác lập cáctiền đề khách quan để tự phủ định chính nó Theo Hồ Chí Minh, lôgic phát triển

xã hội cho thấy đã đến lúc chủ nghĩa tư bản mở đường cho sự ra đời một chế độ

Trang 25

mới – chế độ xã hội chủ nghĩa Tiến lên chủ nghĩa xã hội là quy luật vận độngkhách quan của lịch sử trên phạm vi toàn thế giới Kết luận này của Hồ ChíMinh hoàn toàn tuân thủ các nguyên lý phổ biến của học thuyết Mác - Lênin vềhình thái kinh tế - xã hội.

Hồ Chí Minh, một người xuất thân từ nước thuộc địa - đã tiếp nhận ánhsáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, coi đó là “chiếc cẩm nang thần kỳ” vạch đườngchỉ lối cho cách mạng Việt Nam Nhưng khi so sánh hai con đường phát triểnchủ nghĩa cộng sản - con đường phương Tây và con đường phương Đông,

Người đã đi đến một nhận định khái quát hết sức mới lạ và táo bạo “Chế độ

cộng sản có áp dụng được ở châu Á nói chung và ở Đông Dương nói riêng không? Đấy là vấn đề mà chúng ta đang quan tâm hiện nay… Bây giờ hãy xét những lý do lịch sử cho phép chủ nghĩa cộng sản thâm nhập dễ dàng vào châu

Á, dễ dàng hơn là ở châu Âu” 12

Ngoài các lý do truyền thống tư tưởng, đạo đức, văn hóa, sự thích ứng dễdàng của chủ nghĩa cộng sản ở châu Á, phương Đông còn có lý do kinh tế: đó là

sự tồn tại của phương thức sản xuất châu Á

Các dân tộc châu Á tồn tại và phát triển trong điều kiện sản xuất đặc thù, màsau này Mác gọi là “phương thức sản xuất châu Á” Nét điển hình của phương thứcsản xuất này là sự tồn tại và duy trì hình thức sở hữu công và nhà nước đối vớiruộng đất Nó tất yếu sản sinh ra những hiện tượng tương ứng trong cơ cấu xã hội,trong chính trị và ý thức xã hội Phân tích phương thức sản xuất châu Á cần chú ý

cả hai mặt Một mặt, hình thức kinh tế khép kín là một trong những nguyên nhântạo nên sự lạc hậu, kém phát triển của các dân tộc phương Đông Mặt khác, phải

thấy rằng “tất cả các hình thức công xã thị tộc có trước sự xuất hiện sản xuất hàng

hóa và trao đổi tư nhân đều giống với xã hội xã hội chủ nghĩa ở một điểm: một số vận dụng nhất định, những tư liệu sản xuất mới, là thừa kế quyền sở hữu chung và

sử dụng chung của một nhóm nhất định” 13

Trang 26

Tất nhiên, hình thức sở hữu công xã và hình thức sở hữu cộng sản tương

lai phản ánh hai trình độ khác nhau của sức sản xuất Muốn quá độ từ hình thức

nọ sang hình thức kia phải có những điều kiện nhất định Những điều kiện đóvào những năm 20 của thế kỉ XX đã tồn tại hiện thực: cách mạng xã hội chủnghĩa đã thắng lợi ở một nước và các dân tộc châu Á có thể nhận được sự giúp

đỡ của phe dân chủ đang ngày càng lớn mạnh Trong bối cảnh đó, theo quanđiểm của Hồ Chí Minh, chế độ sở hữu ruộng đất truyền thống của các nước châu

Á “có thể trở thành khởi điểm của một sự phát triển chủ nghĩa cộng sản”

Tác động của nhân tố kinh tế quốc tế đối với con đường đi lên chủ nghĩa

xã hội ở Việt Nam rất được Hồ Chí Minh coi trọng Theo Người “ta có điều

kiện thuận lợi để xây dựng chủ nghĩa xã hội…ta được các nước anh em giúp đỡ” 14 Sự giúp đỡ của các nước anh em trước hết là về công nghệ, kỹ thuật hiện

đại, kinh nghiệm tổ chức quản lý sản xuất…Với sự giúp đỡ này, trong điều kiệndiễn ra cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật, quốc tế hóa đời sống xã hội, cácdân tộc lạc hậu có thể tiến đến một trình độ phát triển cao (chủ nghĩa xã hội) bỏqua một hoặc vài giai đoạn trong quá trình phát triển tuần tự

Tất nhiên, tính tất yếu đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta, cơ bản vàquyết định là do các nhân tố kinh tế bên trong chi phối Theo Hồ Chí Minh,

trong điều kiện thuộc địa: “Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất

rồi: chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi” 15

Sau thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc, ngoài các tiền đề chínhtrị - xã hội, chúng ta xác lập các cơ sở kinh tế để từng bước tiến lên chủ nghĩa xãhội Điều quan trọng nhất là Việt Nam có hội đủ các điều kiện cho công cuộc

xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nước ta: ở về xứ

nóng, khí hậu tốt,

Rừng vàng biển bạc, đất phì nhiêu.

Nhân dân dũng cảm và cần kiệm,

Trang 27

Các nước anh em giúp đỡ nhiều.

Thế là chúng ta có đủ cả ba điều kiện thuận lợi - thiên thời, địa lợi và nhân hoà - để xây dựng chủ nghĩa xã hội, tức là xây dựng đời sống ấm no sung sướng cho nhân dân ta.

Việc mà toàn Đảng, toàn dân ta cần phải làm, là ra sức kết hợp và vận dụng thật khéo ba điều kiện đó vào công cuộc xây dựng kinh tế của miền Bắc nước ta.” 16

Như vậy, tính tất yếu của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên

chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam được Hồ Chí Minh luận giải, làm sáng rõ trên tất

cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, chứ không phải là sự lựa chọnngẫu hứng, áp đặt chủ quan như có một số kẻ vẫn xuyên tạc Chính xuất phát từcác cơ sở, tiền đề kinh tế, Hồ Chí Minh đã cung cấp cơ sở khoa học, thực tiễncủa con đường gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội ở nước ta

b) Bản chất kinh tế của chủ nghĩa thực dân Pháp và những đặc điểm của nó ở Việt Nam

Nghiên cứu chủ nghĩa thực dân, hệ thống thuộc địa là một công trình lýluận vĩ đại của Hồ Chí Minh, là sự bổ sung kịp thời, hoàn thiện và phát triếnsáng tạo học thuyết Mác-Lênin về chủ nghĩa tư bản trên phạm vi quốc tế Mác

và Ăngghen nghiên cứu, phát hiện bản chất và quy luật vận động của chủ nghĩa

tư bản ở giai đoạn tự do cạnh tranh V.I Lênin nghiên cứu và phát hiện bản chấtđặc trưng, quy luật vận động và vai trò lịch sử của chủ nghĩa đế quốc – giai đoạntột cùng của chủ nghĩa tư bản; còn Hồ Chí Minh đã tập trung nghiên cứu, khảosát chủ nghĩa thực dân, từ đó vạch ra bản chất, quy luật vận động của nó trongthời đại ngày nay

Trang 28

Những nghiên cứu chủ nghĩa thực dân của Hồ Chí Minh có sức thuyếtphục, chiều sâu khoa học, toàn diện trên cơ sở một vốn hiểu biết, tích lũy tườngtận và một dung lượng tư liệu phong phú, đồ sộ Từ “thánh địa” của chủ nghĩa

đế quốc, Người nhận thức được rằng, chủ nghĩa thực dân và hệ thống thuộc địathế giới là sản phẩm tất yếu, cả về kinh tế và chính trị của chủ nghĩa tư bản thếgiới Dù tồn tại nhiều hình thức khác nhau, chủ nghĩa thực dân đều có một bảnchất kinh tế chung: xâm chiếm thuộc địa, vơ vét tài nguyên khoáng sản, bóc lộtnhân công rẻ mạt, cho vay nặng lãi và mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa củachính quốc Trong khi mở rộng ách thống trị tư bản theo kiểu thực dân, đế quốcPháp vẫn duy trì phương thức bóc lột kinh tế phong kiến ở nông thôn với ý đồ

sử dụng giai cấp địa chủ làm tay sai cho chúng Vì thế, xã hội Việt Nam đã từchế độ phong kiến độc lập chuyển thành chế độ thuộc địa nửa phong kiến Vớichế độ đó, nền kinh tế Việt Nam bị kìm hãm nặng nề, phát triển chậm chạp, mấtcân đối nghiêm trọng, què quặt Mọi tầng lớp nhân dân vô cùng cực khổ

Hồ Chí Minh, thông qua nghiên cứu thực tiễn đã vạch trần những tội ác

vô cùng man rợ của chủ nghĩa thực dân đối với nhân dân các nước thuộc địa ởcác nước châu Á, châu Phi trong đó có Việt Nam Đó là bản cáo trạng đanh thép,hùng hồn, kết tội, tuyên án chế độ thực dân tàn khốc, vô nhân tính, kìm hãm conđường phát triển của các dân tộc Hồ Chí Minh đã khái quát những nghiên cứucủa mình thành các luận điểm sâu sắc, có giá trị phát hiện lý luận về chủ nghĩathực dân nói chung, về bản chất, phương pháp và những thủ đoạn bóc lột kinh

tế, tước đoạt man rợ, tàn bạo, đậm màu sắc trong thế kỷ của những kẻ mệnhdanh mình là người đi khai hóa, phát tán văn minh Có thể xem đây là sự bổsung cho những trang viết của Mác về những thủ đoạn đẫm máu mà bọn tư bản

áp dụng để thực hiện tích lũy ban đầu này được diễn lại tàn bạo, tinh vi, nhamhiểm hơn ở cả thời đại đế quốc chủ nghĩa

Đối với Việt Nam, hậu quả trực tiếp mà chủ nghĩa thực dân Pháp đem lại

là “Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tuỷ, khiến cho dân ta nghèo nàn,

Trang 29

thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ,nguyên liệu

Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng

Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày vàdân buôn, trở nên bần cùng

Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên Chúng bóc lột côngnhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.”17

Chính sách khai thác bóc lột của thực dân Pháp “để lại cho ta một nềnkinh tế rất nghèo nàn Trong nông nghiệp thì sản xuất nhỏ chiếm đại bộ phận, kỹthuật vô cùng lạc hậu Công nghiệp thì rất nhỏ bé và lẻ tẻ Nông nghiệp và côngnghiệp lại bị tàn phá nặng nề trong mười lăm năm chiến tranh”18 Trên thực tế,thực dân Pháp đã phá hoại nền kinh tế đất nước, bần cùng hóa nhân dân ViệtNam, tước đoạt mọi cơ hội và điều kiện kinh tế để dân tộc ta phát triển, tiến kịpcác nước tiên tiến

Khảo sát chế độ thực dân, Hồ Chí Minh đã vạch rõ nguồn gốc sâu xa của cácmâu thuẫn đối kháng trong xã hội Việt Nam, chỉ rõ tiềm lực kinh tế tồn tại và pháttriển của chủ nghĩa đế quốc - đó là hệ thống thuộc địa giàu có và rộng lớn Chính từphát hiện những mâu thuẫn về kinh tế, Hồ Chí Minh đã tìm ra những mâu thuẫngiai cấp đan chéo, phức tạp trong lòng các nước thuộc địa, từ đó xác định hai nhiệm

vụ cơ bản của cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới ở các nước thuộc địa là giảiphóng dân tộc và người cày có ruộng Cũng từ những khảo sát về sự bóc lột củachủ nghĩa thực dân đối với lao động ở chính quốc và thuộc địa, Hồ Chí Minh đã đitới luận điểm nổi tiếng về chủ nghĩa đế quốc là “con đỉa hai vòi”, về sự tất yếu phảikết hợp giữa cách mạng ở thuộc địa với cách mạng ở chính quốc, đi tới chủ nghĩaquốc tế vô sản, về tính chủ động và khả năng thắng lợi trước của cách mạng giảiphóng dân tộc ở các nước thuộc địa

Xét về thực chất, các luận điểm lý luận vừa nêu là các kết luận tổng kết,khái quát có ý nghĩa khai phá, mang tính chất chính trị, nhưng được rút ra từ

Trang 30

hàng loạt khảo sát và nghiên cứu kinh tế Điều này càng chứng tỏ sự gắn kếtchặt chẽ hữu cơ giữa mặt kinh tế và mặt chính trị - xã hội trong tư tưởng kinh tế

Hồ Chí Minh Và đây là một đặc trưng nổi bật trong tư tưởng kinh tế của Người

c) Tính tất yếu kinh tế của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Theo Hồ Chí Minh, con đường cách mạng Việt Nam là con đường cáchmạng vô sản, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, là con đường tiến từ chế độdân chủ nhân dân lên chủ nghĩa xã hội Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước

ta bị chi phối, chế định bởi các điều kiện, nhân tố kinh tế của đất nước và thời đại.Nói tổng quát, ở Việt Nam, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa là một tấtyếu kinh tế Kết luận này của Hồ Chí Minh có cơ sở lý luận, thực tiễn, được tiếpcận từ cái chung, phổ biến đến cái riêng, đặc thù

Vận dụng và quán triệt quan điểm duy vật về lịch sử của học thuyết mác –xít, Hồ Chí Minh quan niệm lịch sử xã hội loài người là một quá trình tự nhiêncủa sự thay thế lần lượt các phương thức sản xuất Quy luật phổ quát, tiến hóachung này là một “tất yếu thép” được quyết định bởi sự vận động không ngừngcủa lực lượng sản xuất xã hội Tinh thần của học thuyết mác – xít về hình tháikinh tế - xã hội được Hồ Chí Minh diễn giải một cách giản lược, hết sức dễ hiểu

Theo Hồ Chí Minh “Cách sản xuất và sức sản xuất phát triển và biến đổi mãi,

do đó mà tư tưởng của người, chế độ xã hội, v.v., cũng phát triển và biến đổi Chúng ta đều biết từ đời xưa đến đời nay, cách sản xuất từ chỗ dùng cành cây, búa đá phát triển dần đến máy móc, sức điện, sức nguyên tử Chế độ xã hội cũng phát triển từ cộng sản nguyên thuỷ đến chế độ nô lệ, đến chế độ phong kiến, đến chế độ tư bản chủ nghĩa và ngày nay gần một nửa loài người đang tiến lên chế độ xã hội chủ nghĩa và chế độ cộng sản chủ nghĩa

Sự phát triển và tiến bộ đó không ai ngăn cản được” 19

Xã hội loài người phát triển theo xu hướng đi lên, các xã hội trước tạo tiền

đề để bước lên một hình thái cao hơn về chất lượng Nếu chủ nghĩa tư bản tấtyếu ra đời từ chế độ phong kiến thì chính chủ nghĩa tư bản cũng sẽ xác lập các

Trang 31

tiền đề khách quan để tự phủ định chính nó Theo Hồ Chí Minh, lôgic phát triển

xã hội cho thấy đã đến lúc chủ nghĩa tư bản mở đường cho sự ra đời một chế độmới – chế độ xã hội chủ nghĩa Tiến lên chủ nghĩa xã hội là quy luật vận độngkhách quan của lịch sử trên phạm vi toàn thế giới Kết luận này của Hồ ChíMinh hoàn toàn tuân thủ các nguyên lý phổ biến của học thuyết Mác - Lênin vềhình thái kinh tế - xã hội

Hồ Chí Minh, một người xuất thân từ nước thuộc địa - đã tiếp nhận ánhsáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, coi đó là “chiếc cẩm nang thần kỳ” vạch đườngchỉ lối cho cách mạng Việt Nam Nhưng khi so sánh hai con đường phát triểnchủ nghĩa cộng sản - con đường phương Tây và con đường phương Đông,

Người đã đi đến một nhận định khái quát hết sức mới lạ và táo bạo “Chế độ

cộng sản có áp dụng được ở châu Á nói chung và ở Đông Dương nói riêng không? Đấy là vấn đề mà chúng ta đang quan tâm hiện nay… Bây giờ hãy xét những lý do lịch sử cho phép chủ nghĩa cộng sản thâm nhập dễ dàng vào châu

Á, dễ dàng hơn là ở châu Âu” 20

Ngoài các lý do truyền thống tư tưởng, đạo đức, văn hóa, sự thích ứng dễdàng của chủ nghĩa cộng sản ở châu Á, phương Đông còn có lý do kinh tế: đó là

sự tồn tại của phương thức sản xuất châu Á

Các dân tộc châu Á tồn tại và phát triển trong điều kiện sản xuất đặc thù, màsau này Mác gọi là “phương thức sản xuất châu Á” Nét điển hình của phương thứcsản xuất này là sự tồn tại và duy trì hình thức sở hữu công và nhà nước đối vớiruộng đất Nó tất yếu sản sinh ra những hiện tượng tương ứng trong cơ cấu xã hội,trong chính trị và ý thức xã hội Phân tích phương thức sản xuất châu Á cần chú ý

cả hai mặt Một mặt, hình thức kinh tế khép kín là một trong những nguyên nhântạo nên sự lạc hậu, kém phát triển của các dân tộc phương Đông Mặt khác, phải

thấy rằng “tất cả các hình thức công xã thị tộc có trước sự xuất hiện sản xuất hàng

hóa và trao đổi tư nhân đều giống với xã hội xã hội chủ nghĩa ở một điểm: một số

Trang 32

vận dụng nhất định, những tư liệu sản xuất mới, là thừa kế quyền sở hữu chung và

sử dụng chung của một nhóm nhất định” 21

Tất nhiên, hình thức sở hữu công xã và hình thức sở hữu cộng sản tương

lai phản ánh hai trình độ khác nhau của sức sản xuất Muốn quá độ từ hình thức

nọ sang hình thức kia phải có những điều kiện nhất định Những điều kiện đóvào những năm 20 của thế kỉ XX đã tồn tại hiện thực: cách mạng xã hội chủnghĩa đã thắng lợi ở một nước và các dân tộc châu Á có thể nhận được sự giúp

đỡ của phe dân chủ đang ngày càng lớn mạnh Trong bối cảnh đó, theo quanđiểm của Hồ Chí Minh, chế độ sở hữu ruộng đất truyền thống của các nước châu

Á “có thể trở thành khởi điểm của một sự phát triển chủ nghĩa cộng sản”

Tác động của nhân tố kinh tế quốc tế đối với con đường đi lên chủ nghĩa

xã hội ở Việt Nam rất được Hồ Chí Minh coi trọng Theo Người “ta có điều

kiện thuận lợi để xây dựng chủ nghĩa xã hội…ta được các nước anh em giúp đỡ” 22 Sự giúp đỡ của các nước anh em trước hết là về công nghệ, kỹ thuật hiện

đại, kinh nghiệm tổ chức quản lý sản xuất…Với sự giúp đỡ này, trong điều kiệndiễn ra cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật, quốc tế hóa đời sống xã hội, cácdân tộc lạc hậu có thể tiến đến một trình độ phát triển cao (chủ nghĩa xã hội) bỏqua một hoặc vài giai đoạn trong quá trình phát triển tuần tự

Tất nhiên, tính tất yếu đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta, cơ bản vàquyết định là do các nhân tố kinh tế bên trong chi phối Theo Hồ Chí Minh,

trong điều kiện thuộc địa: “Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất

rồi: chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi” 23

Sau thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc, ngoài các tiền đề chínhtrị - xã hội, chúng ta xác lập các cơ sở kinh tế để từng bước tiến lên chủ nghĩa xãhội Điều quan trọng nhất là Việt Nam có hội đủ các điều kiện cho công cuộc

xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nước ta: ở về xứ

nóng, khí hậu tốt,

21 Mác - Ăng ghen: Tuyển tập, Nxb ST, H, 1983, tập 1, tr 452.

Ngày đăng: 02/07/2022, 10:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

I. Quá trình hình thành, phát triển, đặc điểm và bản chất tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế - Chuyên đề Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế
u á trình hình thành, phát triển, đặc điểm và bản chất tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế (Trang 4)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w