1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) hình thành trung tâm kết nối doanh nghiệp nhằm xúc tiến thương mại hóa kết quả nghiên cứu (nghiên cứu trường hợp kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực nông nghiệp)

99 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hình Thành Trung Tâm Kết Nối Doanh Nghiệp Nhằm Xúc Tiến Thương Mại Hóa Kết Quả Nghiên Cứu (Nghiên Cứu Trường Hợp Kết Quả Nghiên Cứu Trong Lĩnh Vực Nông Nghiệp)
Tác giả Mai Nam Hải
Người hướng dẫn TS. Trịnh Ngọc Thạch
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để góp phần phát triển thị trường KH&CN, tạo môi trường thuận lợi cho các thành phần tham gia thị trường, các hoạt động xúc tiến phát triển thị trường KH&CN để thúc đẩy các hoạt động thư

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

MAI NAM HẢI

HÌNH THÀNH TRUNG TÂM KẾT NỐI DOANH NGHIỆP NHẰM XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI HÓA

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP)

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành Quản lý Khoa Học và Công Nghệ

Hà Nội-2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

MAI NAM HẢI

HÌNH THÀNH TRUNG TÂM KẾT NỐI DOANH NGHIỆP NHẰM XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI HÓA

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP)

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành Quản lý Khoa Học và Công Nghệ

Mã số: 834041201

Người hướng dẫn khoa học: TS Trịnh Ngọc Thạch

Hà Nội-2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ: “Hình thành trung tâm kết

nối doanh nghiệp nhằm xúc tiến thương mại hóa kết quả nghiên cứu (Nghiên cứu trường hợp kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực nông nghiệp)”, tôi đã nhận

được sự hướng dẫn, giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể Tôi xin được bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc tới tất cả các cá nhân, tập thể đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu viết luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, phòng Quản lý Đào tạo trường đại học khoa học xã hội và nhân văn đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi về mọi mặt trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng dẫn Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ, đóng góp nhiều ý kiến quý báu của các nhà khoa học, các thầy, cô giáo trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại trường

Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi còn được sự giúp đỡ và cộng tác của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã tạo điều kiện về mọi mặt để tôi có thể hoàn thành nghiên cứu này

Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đối với mọi sự giúp đỡ quý báu đó./

Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2019

Tác giả luận văn

Mai Nam Hải

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2

3 Mục tiêu nghiên cứu 7

4 Phạm vi nghiên cứu 8

5 Câu hỏi nghiên cứu 8

6 Giả thuyết nghiên cứu 8

7 Phương pháp nghiên cứu 8

8 Kết cấu luận văn 9

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA MÔ HÌNH LIÊN KẾT GIỮA NGHIÊN CỨU KHOA HỌC – SẢN XUẤT – DỊCH VỤ NHẰM THƯƠNG MẠI HÓA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 10

1.1 Các khái niệm cơ bản của đề tài 10

1.1.1 Khái niệm cơ chế, chính sách 10

1.1.2 Liên kết giữa nghiên cứu – sản xuất – dich vụ 11

1.1.3 Kết nối giữa nhà Khoa học và Doanh nghiệp 16

1.1.4 Thương mại hóa kết quả nghiên cứu 18

1.1.5 Nghiên cứu và triển khai 20

1.1.6 Chuyển giao công nghệ 21

1.2 Mô hình liên kết 4 nhà 22

1.3 Vai trò của trung tâm kết nối nhằm thương mại hóa kết quả nghiên cứu 25

Tiểu kết chương 1 29

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG MỐI LIÊN KẾT GIỮA NHÀ KHOA HỌC NHÀ NÔNG VÀ DOANH NGHIỆP TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP NHẰM HƯỚNG TỚI MỤC TIÊU THƯƠNG MẠI HÓA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30

Trang 5

2.1 Khái quát và mối liên kết giữa nhà nghiên cứu khoa học – sản xuất – dịch vụ trong lĩnh vực nông nghiệp 30 2.1.1 Tình hình nghiên cứu 30 2.1.2 Mốt số kết quả nghiên cứu 32 2.1.3 Cơ chế, chính sách ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học vào sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp 37 2.1.4 Một số kết quả, sản phẩm nghiên cứu nổi bật đã được thương mại hóa và áp dụng trong thực tiễn 38 2.2 Khảo sát và đánh giá thực trạng mối liên kết giữa nhà khoa học – nhà nông – nhà doanh nghiệp 50 2.2.1 Thực trạng mối liên kết giữa nhà khoa học – nhà nông – nhà doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp 50 2.2.2 Đánh giá thực trạng mối liên kết giữa nhà khoa học – nhà nông – nhà doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp 62 Tiều kết chương 2 67 CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HÌNH THÀNH TRUNG TÂM LIÊN KẾT DOANH NGHIỆP NHẰM XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI HÓA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP 68 3.1 Cơ sở để đề xuất giải pháp 68 3.1.1 Căn cứ pháp lý: luật lệ, chủ trương, chính sách về “tam nông”: nông nghiệp, nông dân, nông thôn 68 3.1.2 Điều kiện thể chế: vai trò nhà nước là “bà đỡ” cho sự hình thành mô hình liên kết 69 3.1.3 Nhu cầu của mối liên kết ba nhà: Nhà Khoa học - Nhà Nông - Nhà Doanh nghiệp 71 3.1.4 Thực tiễn sản xuất nông nghiệp trong bối cảnh công nghiệp hóa nông nghiệp 72 3.2 Giải pháp hình thành trung tâm kết nối doanh nghiệp nhằm xúc tiến thương mại hóa kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực nông nghiệp 77

Trang 6

3.2.1 Xây dựng đề án thành lập trung tâm kết nối doanh nghiệp 77

3.2.2 Xây dựng mô hình trung tâm và cơ chế vận hành gồm: 79

3.2.3 Các nguồn lực để vận hành trung tâm 84

Tiểu kết chương 3 86

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 87

1 Kết luận 87

2 Khuyến nghị 87

2.1 Đối với cấp Bộ, cấp tỉnh 87

2.2 Đối với cấp Sở, ngành/ huyện thành phố 87

TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Business

incubator Các vườn ươm doanh nghiệp

DN Doanh nghiệp

DNVVN Doanh nghiệp vừa và nhỏ

GCR The Global Competitiveness Report

Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu

ILO International Labour Organization

Các văn phòng liên kết công nghiệp

IPP Innovation Partnership Program

Chương trình đối tác đổi mới sáng tạo KH&CN Khoa học và công nghệ

NC&TK Nghiên cứu và triển khai

NKH Nhà Khoa học

OTC Office of Technology Commercialize

Văn phòng thương mại hóa

OTD Office of Technology Development

Văn phòng phát triển

OTL Office of Technology Licensing

Văn phòng li-xăng công nghệ PoC Proof of concept

Các trung tâm hỗ trợ chứng minh khái niệm

Trang 8

R&D Research and Development

Nghiên cứu và phát triển SHTT Sở hữu trí tuệ

TCTG Tổ chức trung gian

TTO Technology Transfer Office

Các văn phòng chuyển giao công nghệ VAST Việt Nam Academy Of Science And Technology

Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong 5 năm trở lại đây, công tác phát triển hệ thống các tổ chức trung gian của thị trường KH&CN đã đạt được những kết quả nhất định Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang diễn ra với vai trò trung tâm của công nghệ số đặt ra cho chúng ta nhiều câu hỏi về phát triển các tổ chức trung gian và thương mại hóa kết quả nghiên cứu bằng siêu kết nối thông minh

Để góp phần phát triển thị trường KH&CN, tạo môi trường thuận lợi cho các thành phần tham gia thị trường, các hoạt động xúc tiến phát triển thị trường KH&CN để thúc đẩy các hoạt động thương mại hóa công nghệ, tài sản trí tuệ, về cơ bản môi trường pháp lý cho thị trường KH&CN đã đầy đủ nhưng chưa thực sự hoàn thiện xuất phát từ một số nguyên nhân như: Một số chủ trương, chính sách, biện pháp thúc đẩy thương mại hóa công nghệ, hỗ trợ phát triển các tổ chức trung gian của thị trường công nghệ đang trong giai đoạn sửa đổi, bổ sung vì vậy cần thêm thời gian để có thể phát huy hiệu quả trên thực tế; Sự kết nối giữa các Viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp KH&CN với các doanh nghiệp sản xuất, phân phối, thương mại còn hạn chế Các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa không có tiềm lực về nhân lực, vốn, trình độ quản lý, năng lực nghiên cứu… dẫn đến tình trạng đầu tư ứng dụng và phát triển KH&CN trong sản xuất hạn chế; Thiếu các tổ chức trung gian đủ mạnh để cung cấp các dịch vụ kết nối, hỗ trợ bên cung, bên cầu và các bên khác trong các giao dịch liên quan đến công nghệ, tài sản trí tuệ Các Sàn giao dịch công nghệ hoạt động chưa thực sự hiệu quả, chưa khẳng định được vai trò là đầu mối trong việc thu hút, tập hợp công nghệ trong nước và quốc tế

Công nghệ có thể chuyển giao trực tiếp từ bên cung sang bên cầu mà không cần có sự can thiệp của tổ chức trung gian Tuy nhiên sẽ rất rủi ro cho cả bên cung

và cầu công nghệ nếu giao dịch không có bên thứ ba đảm bảo Với vai trò của tổ chức trung gian là sử dụng uy tín của bên thứ ba để hỗ trợ tạo thuận lợi và đảm bảo

Trang 10

cho giao dịch công nghệ hoặc tài sản trí tuệ một cách công khai minh bạch, khách quan Đồng thời, tổ chức trung gian còn có những chức năng khác như: hỗ trợ định giá công nghệ, tư vấn kỹ thuật, nhằm đảm bảo quyền lợi cho bên cung và cầu công nghệ

Thực tế cho thấy, tổ chức trung gian góp phần tăng tỉ trọng giao dịch công nghệ của quốc gia, tạo môi trường hoạt động sáng tạo, đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực KH&CN quốc gia, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, góp phần bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân và tổ chức tham gia thị trường công nghệ Một lợi ích khác của tổ chức trung gian là giúp cho

cơ quan quản lý nắm bắt được các số liệu và giao dịch công nghệ qua sàn, kiểm soát, chọn lọc được công nghệ tốt, loại bỏ các công nghệ lạc hậu không có lợi Cũng thông qua số liệu của tổ chức trung gian, có thể đánh giá được xu thế của công nghệ để từ đó có định hướng cho nghiên cứu và phát triển sản xuất

Với ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành và phát triển trung gian trên đang tạo nên những cơ hội để các nhà đầu tư tìm kiếm các sáng chế, kết quả nghiên cứu có tiềm năng thương mại hóa trên nhiều lĩnh vực nói chung và trong lĩnh vực nông nghiệp nói riêng để ứng dụng phục vụ cho mục đích phát triển kinh tế, xã hội

Việc nghiên cứu việc kết nối nhà khoa học với doanh nghiệp nhằm xúc tiến thương mại hóa nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực nông nghiệp, qua đó phát hiện

ra hạn chế, tồn tại, bất cập để từ đó đề xuất những phương hướng, giải pháp đổi mới, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của các cơ quan quản lý, tổ chức trung gian, trung tâm xúc tiến thương mại là hết sức cần thiết nhằm thương mại hóa kết quả

nghiên cứu Từ những vấn đề cấp thiết nên trên tác giả chọn đề tài: “Hình thành

trung tâm kết nối doanh nghiệp nhằm xúc tiến thương mại hóa kết quả nghiên cứu (Nghiên cứu trường hợp kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực nông nghiệp)”

làm đề tài nghiên cứu tốt nghiệp của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Qua nghiên cứu tác giả đã tìm hiểu một số đề tài nghiên cứu khoa học và

Trang 11

luận văn thạc sĩ về vấn đề thương mại hóa kết quả nghiên cứu, tiêu biểu như:

2.1 Nghiên cứu ở trong nước

- Vũ Thùy Liên (2008), “Hình thành doanh nghiệp spin-off trong các tổ

chức NC&TK góp phần thúc đẩy thương mại hóa các kết quả nghiên cứu (trường hợp ngành dược)”, Luận văn ThS Chính sách khoa học và công nghệ Trường

Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Đại học Quốc gia Hà Nội [7] Đề tài đã tổng quan cơ sở lý luận về đổi mới, doanh nghiệp SPIN-OFF: các khái niệm cơ bản, mối quan hệ giữa nghiên cứu & triển khai (NC&TK), hoạt động đổi mới công nghệ, vai trò của NC&TK và hoạt động đổi mới, chính sách đổi mới, hệ thống đổi mới và

cơ sở hạ tầng của hệ thống đổi mới Nghiên cứu thực trạng hình thành, phát triển và

tổ chức hoạt động của các doanh nghiệp SPIN-OFF trong các tổ chức NC&TK ở Việt Nam nói chung và ở ngành Dược nói riêng Nêu bật vai trò của các doanh nghiệp này trong việc trực tiếp thúc đẩy quá trình thương mại hóa kết quả NC&TK cũng như giới thiệu các yếu tố ảnh hưởng chủ yếu đến việc thành lập hoạt động và các doanh nghiệp SPIN-OFF ở Việt Nam Đề xuất một số giải pháp như: lựa chọn

ưu tiên – các lĩnh vực khuyến khích thành lập, nhóm các giải pháp đảm bảo thành lập doanh nghiệp SPIN-OFF (nâng cao năng lực NC&TK và chất lượng sản phẩm NC&TK của các tổ chức NC&TK theo hướng đổi mới tổ chức và cơ chế hoạt động, đáp ứng mục tiêu của chính sách đổi mới; nâng cao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức NC&TK trong tổ chức hoạt động sử dụng và phát triển nhân lực khoa học và công nghệ; tăng cường sự gắn kết giữa tổ chức mẹ và doanh nghiệp SPIN-OFF trên cơ sở giải quyết thỏa đáng quyền sở hữu trí tuệ và tài sản, cũng như cán bộ khoa học và công nghệ) nhằm thúc đẩy thương mại hóa kết quả NC&TK trong các Viện NC&TK

- Nguyễn Thị Kha (2014), “Chính sách đổi mới thúc đẩy thương mại hóa kết

quả nghiên cứu từ trường đại học vào doanh nghiệp” Luận văn ThS Quản lý khoa

học và công nghệ Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Đại học Quốc gia Hà Nội [3]

Trang 12

- Phạm Nguyệt Minh (2015), “Nhận diện rào cản trong hoạt động thương

mại hóa kết quả nghiên cứu tại Viện Hàn Lâm khoa học và Công nghệ Việt Nam”

Luận văn ThS Quản lý khoa học và công nghệ Trường Đại học Khoa học Xã hội

và Nhân văn Đại học Quốc gia Hà Nội [7]

- Lê Thị Hải Yến (2015), “Nghiên cứu giải pháp chính sách thúc đẩy thương

mại hóa kết quả nghiên cứu của các viện trong lĩnh vực cơ điện nông nghiệp”

Luận văn ThS Chính sách khoa học và công nghệ Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Đại học Quốc gia Hà Nội [1]

- Ba “lỗ hổng” trong thương mại hoá kết quả nghiên cứu, tại diễn đàn "Kết nối đào tạo, nghiên cứu khoa học và hỗ trợ khởi nghiệp" của Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam (VAST) tổ chức cuối năm 2018 Tại diễn đàn đã có nhiều diễn giả là người quản lý khoa học, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp chỉ rõ những điểm còn yếu và những giải pháp cụ thể để phát triển thị trường KH&CN theo Luật Chuyển giao công nghệ 2017

- Trong diễn đàn "Làm thế nào để thương mại hóa các kết quả nghiên cứu", anh Lê Vũ Hồng Nhật, làm việc tại công ty về công nghệ ở Hà Nội đưa ra một vài yếu tố quyết định đến sự thành bại của việc thương mại hóa nghiên cứu khoa học, trong đó anh nhấn mạnh đến kiểm soát rủi ro, một yếu tố mang tính chất quyết định

- Bài học thương mại hóa nghiên cứu của Đại học Stanford Tiến sĩ Phan Toàn Thắng, thuộc Bộ Môn Ngoại, Đại học Y Khoa Yong Loo Lin, thuộc Đại học Quốc gia Singapore trong diễn đàn "Làm thế nào để thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học" đưa ra một mô hình thực hiện thương mại hóa thành công ở một trường Đại học ở Mỹ

PGS.TS Trần Văn Hải với một số nghiên cứu như

- Sách

Tổ chức và hoạt động chuyển giao công nghệ (chủ biên), Nxb Thế giới,

2016 [8]

Trang 13

- Chương sách

“Bảo hộ sở hữu trí tuệ, một trong các yếu tố tác động trực tiếp đến sự phát

triển của khoa học và công nghệ”, trong Chính sách khoa học và giáo dục ở Việt

Nam trong thời kỳ đổi mới, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội, 2004, tr 32-38 [9]

“Một số vấn đề về thực thi quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ đối với sự phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam trong quá trình hội

nhập kinh tế quốc tế”, trong Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế

- kinh nghiệm trong nước và quốc tế (viết chung), Nxb bản Thế giới, Hà Nội 2005,

tr.241-258 [10]

- Bài báo

“Một số phân tích về tình trạng xâm phạm và tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ

ở Việt Nam trong”, Tạp chí Thông tin và dự báo Kinh tế - Xã hội, số 31-7/2008,

ISSN 1859-0764, tr 24-31

“Bàn về thuật ngữ “Bản quyền công nghệ”, Tạp chí Hoạt động khoa học, số

601, tháng 6/2009, ISSN 1859-4794, tr.41-44

“Các yếu tố sở hữu công nghiệp tác động đến hiệu quả kinh tế của hợp đồng

chuyển giao công nghệ”, Tạp chí Hoạt động khoa học, số 612, 5/2010, ISSN

1859-4794, tr 17-20

“Thương mại hóa kết quả nghiên cứu - Tiếp cận từ quyền sở hữu trí tuệ”,

Tạp chí Hoạt động khoa học, số tháng 4/2011 (623), ISSN 1859-4794, tr 36-40

- Đề tài KH&CN các cấp

Nghiên cứu kinh nghiệm về tổ chức và hoạt động chuyển giao công nghệ của Australia, đề xuất mô hình tổ chức và hoạt động chuyển giao công nghệ phù hợp cho Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế, đề tài Nghị định thư hợp

tác với Australia, đề tài cấp Nhà nước, 2014-2016 [16]

2.2 Nghiên cứu ở nước ngoài

Trang 14

- Darrell M West (2012), “Improving University Technology Transfer and

Commercialization” [18] Trong bài báo này, Darrell West kiểm tra ROI thấp và

cho rằng một phần của vấn đề là sự tập trung vào các bằng sáng chế, giấy phép và các công ty khởi nghiệp chú trọng quá nhiều vào kết quả đầu ra trái ngược với kết quả Các chỉ số này thể hiện các biện pháp ủy nhiệm để đưa nguyên liệu vào thị trường trái ngược với việc liệu các ý tưởng nghiên cứu cụ thể có thực sự có tác động và thành công trên thị trường hay không Nếu bằng sáng chế được trao, giấy phép được cấp hoặc doanh nghiệp khởi nghiệp được thành lập, nó không đảm bảo rằng sản phẩm được sử dụng hoặc tạo doanh thu

- OECD Publication (2013) "Commercialising Public Research: New Trends

and Strategies" [20] Báo cáo này mô tả các xu hướng gần đây trong chính sách của

chính phủ và trường đại học để tăng cường chuyển giao và khai thác nghiên cứu công cộng và đánh giá các hoạt động cấp bằng sáng chế và cấp phép của các PRI và trường đại học ở một số quốc gia và khu vực của OECD, bao gồm EU, Úc, Canada

và Mỹ Cuối cùng, nó cũng giới thiệu, dựa trên nghiên cứu trường hợp của các tổ chức hàng đầu ở Phần Lan (Trung tâm khởi nghiệp Aalto), Đức (Viện Fraunhofer), Cộng hòa Séc (Văn phòng chuyển giao công nghệ của Đại học kỹ thuật Séc), Nhật Bản (đổi mới mở trong các công ty), Nhật Bản Hoa Kỳ (Viện Y tế Quốc gia) một số thực tiễn tốt để tăng số lượng công bố sáng chế đại học, đẩy nhanh hợp đồng cấp phép và thúc đẩy thực tiễn đổi mới mở hơn giữa các trường đại học và công ty

- Wendy H.Schacht (2012), “Đạo luật Bayh-Dole: Các vấn đề được lựa

chọn trong Bằng sáng chế và chính sách và Thương mại hóa Công nghệ” [21] Các

nghiên cứu chỉ ra rằng tài trợ nghiên cứu chiếm khoảng một phần tư về các chi phí liên quan đến việc đưa một sản phẩm mới ra thị trường Sở hữu bằng sáng chế được coi là một cách để khuyến khích đầu tư bổ sung và thường xuyên cần thiết để tạo ra hàng hóa mới và dịch vụ trong khu vực tư nhân Trong một môi trường học thuật, việc sở hữu danh hiệu cho các phát minh là dự kiến sẽ cung cấp động lực cho các trường đại học cấp phép công nghệ cho các công ty cho thương mại hóa trong kỳ vọng thanh toán tiền bản quyền Đạo luật Bayh-Dole đã được coi là đặc biệt thành

Trang 15

công trong việc đáp ứng các mục tiêu của nó Tuy nhiên, trong khi luật pháp cung cấp một khuôn khổ chung để thúc đẩy việc sử dụng kết quả mở rộng về nghiên cứu

và phát triển được liên bang tài trợ, các câu hỏi đã được đặt ra về tính thỏa đáng của sắp xếp hiện tại Hầu hết đều đồng ý rằng hợp tác chặt chẽ hơn giữa ngành công nghiệp, chính phủ và Học viện có thể gia tăng các nguồn tài trợ (cả trong khu vực

tư nhân và công cộng), tăng chuyển giao công nghệ, kích thích nhiều sự đổi mới (ngoài sáng chế), dẫn đến các sản phẩm mới và quy trình, và mở rộng thị trường Tuy nhiên, những người khác chỉ ra rằng sự hợp tác có thể cung cấp tăng cơ hội cho xung đột lợi ích, chuyển hướng nghiên cứu, ít cởi mở hơn trong việc chia sẻ về khám phá khoa học, và nhấn mạnh hơn vào ứng dụng hơn là nghiên cứu cơ bản

Các công trình nêu trên đều đưa ra rất nhiều luận điểm lý thuyết về đề mô hình liên kết, mối quan hệ nhà khoa học với doanh nghiệp thông qua trung gian liên quan đến nội dung đề tài tác giả đã lựa chọn, tuy nhiên chưa có bài nghiên cứu nào viết về lĩnh vực nông nghiệp Các nghiên cứu trên hầu như chỉ xem xét mối quan hệ giữa nhà nghiên cứu và doanh nghiệp ứng dụng chứ chưa đề cao vai trò của các tổ chức trung gian

Đây là khoảng trống để tác giả tiến hành nghiên cứu của mình, không trùng lặp với các kết quả nghiên cứu trước đây Dự kiến trong nghiên cứu của mình tác giả sẽ nghiên cứu đầy đủ hơn về cả 3 nhân tố là giữa nhà nghiên cứu (nhà khoa học), doanh nghiệp và quan trọng nhất theo tác giả là các tổ chức trung gian một cách hoàn chỉnh nhất trong lĩnh vực nông nghiệp góp phần ứng dụng trong thực tiễn thời gian tới

3 Mục tiêu nghiên cứu

3.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu và đề xuất giải pháp hình thành trung tâm kết nối doanh nghiệp nhằm xúc tiền thương mại hóa kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực nông nghiệp

Trang 16

Phạm vi không gian: Trong lĩnh vực nông nghiệp ở Việt Nam

Phạm vi thời gian: Từ năm 2008-2018

5 Câu hỏi nghiên cứu

Hình thành trung tâm kết nối doanh nghiệp nhằm xúc tiến thương mại hóa kết quả nghiên cứu ngành nông nghiệp như thế nào?

Phác họa ra mô hình trung tâm kết nối như thế nào?

6 Giả thuyết nghiên cứu

Việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu ngành nông nghiệp hiện nay chưa thực hiện tốt

Các trung tâm kết nối chưa thể hiện hết vai trò của mình

7 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp chủ yếu được sử dụng trong quá trình nghiên cứu luận văn

là phương pháp khảo sát, thống kê, đối chiếu - so sánh, phân tích - tổng hợp và một

số phương pháp khác

Phương pháp thống kê: Số liệu của đề tài được thống kê từ các báo cáo của

cơ quan liên quan từ đó phân tích và thống kê nghiên cứu

Trang 17

Phương pháp so sánh: So sánh theo thời gian và không gian đối với từng nội dung nghiên cứu

Phương pháp tổng hợp: tổng hợp, phân tích và đánh giá để tìm ra được diễn biến cũng như những hạn chế và từ đó tìm ra giải pháp

Số liệu thứ cấp được thu thập từ sách, tạp chí, đề tài, luận án, luận văn, báo cáo như:

+ Luật và các văn bản dưới luật

+ Tài liệu chuyên ngành của các chuyên gia

+ Thu thập thông tin từ việc điều tra thực tế về lĩnh vực nghiên cứu

8 Kết cấu luận văn

Ngoài phần giới thiệu, danh mục các bảng hình ảnh, mục lục, phụ lục, tài liệu tham khảo luận văn được chia thành 3 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận của mô hình liên kết giữa nghiên cứu khoa học –

sản xuất – dịch vụ nhằm thương mại hóa kết quả nghiên cứu

Chương 2: Thực trạng mối liên kết giữa nhà khoa học nhà nông và doanh

nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp nhằm hướng hới mục tiêu thương mại hóa kết

quả nghiên cứu

Chương 3: Giải pháp hình thành trung tâm liên kết doanh nghiệp nhằm xúc

tiến thương mại hóa kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực nông nghiệp

Trang 18

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA MÔ HÌNH LIÊN KẾT GIỮA NGHIÊN CỨU KHOA HỌC – SẢN XUẤT – DỊCH VỤ NHẰM THƯƠNG MẠI HÓA

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1.1 Các khái niệm cơ bản của đề tài

1.1.1 Khái niệm cơ chế, chính sách

Chính sách là một hệ thống nguyên tắc có chủ ý hướng dẫn các quyết định

và đạt được các kết quả hợp lý Một chính sách là một tuyên bố về ý định, và được thực hiện như một thủ tục hoặc giao thức Các chính sách thường được cơ quan quản trị thông qua trong một tổ chức Chính sách có thể hỗ trợ cả việc đưa ra quyết định chủ quan và khách quan Các chính sách hỗ trợ trong việc ra quyết định chủ quan thường hỗ trợ quản lý cấp cao với các quyết định phải dựa trên thành tích tương đối của một số yếu tố và do đó thường khó kiểm tra khách quan, ví dụ: chính sách cân bằng giữa công việc và cuộc sống Các chính sách tương phản để hỗ trợ việc ra quyết định khách quan thường hoạt động trong tự nhiên và có thể được kiểm tra khách quan, ví dụ: chính sách mật khẩu

Thuật ngữ này có thể áp dụng cho chính phủ, các tổ chức và nhóm tư nhân, cũng như các cá nhân Các lệnh điều hành của tổng thống, chính sách quyền riêng

tư của công ty và các quy tắc của quốc hội về trật tự là các ví dụ về chính sách Chính sách khác với các quy tắc hoặc luật pháp Mặc dù luật pháp có thể buộc hoặc cấm hành vi (ví dụ: luật yêu cầu nộp thuế đối với thu nhập), chính sách chỉ hướng

Trang 19

dẫn hành động đối với những hành vi có nhiều khả năng đạt được kết quả mong muốn nhất

Khái niệm cơ chế

Về mặt pháp lý và chính thống thì không có khái niệm “cơ chế.” Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học biên soạn và xuất bản năm 2000 thì “cơ chế là cách thức mà theo đó một quá trình được thực hiện.” Như vậy, khi nói đến trách nhiệm quản lý của bộ, ngành và của người đứng đầu bộ, ngành là nói đến cách thức mà theo đó việc quản lý, điều hành của bộ, ngành đó, của người đứng đầu thực hiện việc quản lý, điều hành, là mối quan hệ, điều phối, phối hợp giữa các bộ, ngành liên quan, giữa bộ, ngành đó với Chính phủ và các cơ quan công quyền cũng như với người dân

Từ điển Le Petit Larousse (1999) giảng nghĩa "mécanisme" là "cách thức hoạt động của một tập hợp các yếu tố phụ thuộc vào nhau" Còn Từ điển Tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học 1996) giảng nghĩa cơ chế là "cách thức theo đó một quá trình thực hiện" Từ "cơ chế" được dùng rộng rãi trong lĩnh vực quản lý từ khoảng cuối những năm 1970, khi chúng ta bắt đầu chú ý nghiên cứu về quản lý và cải tiến quản

lý kinh tế, với nghĩa như là những qui định về quản lý Cách hiểu đơn giản này dẫn tới cách hiểu tách rời cơ chế với con người như nêu trên

1.1.2 Liên kết giữa nghiên cứu – sản xuất – dich vụ

Trong bối cảnh tốc độ phát triển công nghệ mới và toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, dưới áp lực ghê gớm từ các doanh nghiệp nước ngoài đổ bộ vào Việt Nam, khối tư nhân trong nước ngày càng phải tập trung vào Nghiên cứu và phát triển (R&D) để tạo ra lợi thế cạnh tranh Nhưng làm thế nào để đạt được điều đó, khi từ trước đến nay, các doanh nghiệp không có “truyền thống” quan tâm đến công nghệ, còn các nghiên cứu của viện, trường vẫn còn một khoảng cách rất xa so với đích đến ứng dụng

Điều 2.4 Luật KH&CN quy định: “Nghiên cứu khoa học là hoạt động phát

hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng

Trang 20

tạo các giải phápnhằm ứng dụng vào thực tiễn Nghiên cứu khoa học bao gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng”

Cách định nghĩa nghiên cứu khoa học trên đây của Luật KH&CN là chưa đầy đủ, theo quan niệm của UNESCO, thì nghiên cứu khoa học bao gồm: nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai (toàn bộ chuỗi R&D)

Theo Vũ Cao Đàm [12] thì nghiên cứu cơ bản là những nghiên cứu nhằm phát hiện thuộc tính, cấu trúc, động thái của sự vật Kết quả nghiên cứu cơ bản có thể là các khám phá, phát hiện, phát minh, dẫn tới hình thành một hệ thống lý thuyết mới

Nội dung của kết quả nghiên cứu cơ bản không được bảo hộ theo pháp luật

về sáng chế, nhưng bản viết về nó lại là tác phẩm khoa học và được bảo hộ theo quy định tại điều 14.1.a Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT) và điều 2.1 Công ước Berne

về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật [17]

Các tổ chức khoa học và công nghệ (KH&CN) công lập và doanh nghiệp là hai chủ thể đóng vai trò quan trọng trong hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia Một bên là chủ thể tạo ra tri thức và công nghệ rồi sau đó phổ biến, chuyển giao và một bên là nơi tiếp nhận các tri thức và công nghệ để tạo ra sản phẩm, quy trình và dịch

vụ mới theo nhu cầu của khách hàng Để thúc đẩy sự sáng tạo tri thức trong các tổ chức KH&CN và đẩy nhanh ứng dụng nó trong các ngành công nghiệp, hai chủ thể này phải liên kết và hợp tác với nhau Sự liên kết, hợp tác này được thực hiện dưới nhiều hình thức: đối tác nghiên cứu (cùng thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu), cung cấp các dịch vụ nghiên cứu (tư vấn kỹ thuật, đo lường, kiểm định chất lượng, phát triển sản phẩm mẫu,…), chia sẻ cơ sở hạ tầng (phòng thí nghiệm, trung tâm ươm tạo, công viên công nghệ…), đào tạo và chuyển giao nguồn nhân lực (đào tạo nhân lực cho các doanh nghiệp, triển khai các chương trình đào tạo chuyên sâu, cử cán bộ từ tổ chức KH&CN sang làm biệt phái tại các doanh nghiệp…), thương mại hóa các kết quả R&D (chuyển giao kết quả nghiên cứu từ tổ chức KH&CN cho

Trang 21

doanh nghiệp, cấp phép công nghệ…), hình thành các mối quan hệ xã hội (hội nghị, hội thảo…)

Ở các quốc gia đã chuyển đổi thành công từ nước đang phát triển thành nước

có nền công nghiệp hiện đại (ví dụ như Hàn Quốc, Đài Loan), các tổ chức KH&CN công lập thường liên kết và hợp tác chặt chẽ với khu vực doanh nghiệp vì trong quá trình đổi mới sản phẩm, doanh nghiệp thường xuyên sử dụng các thông tin sáng chế, hợp tác với các trường đại học, các viện nghiên cứu, các phòng thí nghiệm để thực thi các ý tưởng đổi mới sản phẩm/dịch vụ Đồng thời, chính bản thân các đối tượng trên cũng thường xuyên hướng vào phục vụ các doanh nghiệp để tồn tại và phát triển Như vậy, các hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) được gắn kết với nhu cầu sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp và thông qua doanh nghiệp

Theo Báo cáo xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu (The Global Competitiveness Report - GCR) năm 2016-2017 của Diễn đàn Kinh tế Thế giới [19], Việt Nam đứng thứ 79 trong số 138 quốc gia về sự hợp tác giữa khu vực nghiên cứu và doanh nghiệp, yếu hơn Indonesia (28), Thái Lan (41) và Philipine (61) Riêng về chất lượng nghiên cứu Việt Nam xếp thứ 98 trong số 138 quốc gia

về chất lượng của các tổ chức nghiên cứu khoa học, yếu hơn so với Indonesia (41), Thái Lan (56) và Philipine (72) Sự liên kết giữa doanh nghiệp và nghiên cứu còn yếu vì những nguyên nhân sau:

Các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân nhìn chung có ít động lực và kinh nghiệm để tiến hành các hoạt động nghiên cứu và đổi mới công nghệ Họ thường

ưu tiên đầu tư vào những hoạt động thu hồi vốn nhanh và mang lại lợi nhuận trước mắt, vì đầu tư vào đổi mới sáng tạo đòi hỏi phải có thời gian và tính rủi ro cao Theo kết quả điều tra năm 2013 về “Năng lực cạnh tranh và công nghệ ở cấp độ doanh nghiệp tại Việt Nam”, chỉ có 8% trong số 8010 doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu, cải tiến công nghệ và trên 90% doanh nghiệp chưa có chiến lược cải tiến công nghệ [22]

Trang 22

So với nguồn lực (kinh phí dành cho nghiên cứu và số lượng cán bộ nghiên cứu) số lượng các tổ chức KH&CN của Việt Nam khá lớn, do đó các tổ chức KH&CN có quy mô nhỏ và manh mún, hệ quả là rất ít tổ chức KH&CN có được năng lực tới hạn cần thiết để tạo ra các kết quả nghiên cứu có thể đáp ứng yêu cầu thực tiễn từ khu vực doanh nghiệp Các trường đại học tập trung nhiều vào công tác giảng dạy và đào tạo, hoạt động nghiên cứu khoa học còn khiêm tốn và chủ yếu là nghiên cứu cơ bản

Mô hình quản trị của các tổ chức KH&CN nhìn chung mang tính hành chính

và bao cấp, thiếu các hệ thống quản lý chuyên nghiệp như: hệ thống quản lý tài chính, quản lý hợp đồng, quản lý nguồn nhân lực, quản lý cơ sở vật chất và quản lý chất lượng Kinh phí hoạt động của các tổ chức KH&CN công lập chủ yếu là từ nguồn ngân sách, các nhiệm vụ nghiên cứu thường là từ đặt hàng của nhà nước, một số tổ chức KH&CN đã nhận thấy được tầm quan trọng của việc liên kết và hợp tác với các doanh nghiệp và một số đang có những tiến bộ đáng kể về khía cạnh này Tuy nhiên đa phần các tổ chức KH&CN thiếu kinh nghiệm, kỹ năng và nguồn lực để xây dựng và duy trì các mối quan hệ quan trọng này

Thiếu chính sách và chương trình hành động cụ thể khuyến khích sự liên kết, hợp tác giữa tổ chức KH&CN công lập với khu vực doanh nghiệp Mặc dù chính phủ đã xây dựng các cơ sở hạ tầng và các tổ chức trung gian cần thiết như các văn phòng chuyển giao công nghệ, các khu công nghệ cao và các vườn ươm doanh nghiệp để khuyến khích sự hợp tác giữa tổ chức KH&CN công lập với khu vực doanh nghiệp, tuy nhiên vẫn thiếu chính sách, cơ chế kích thích sự hợp tác theo các hình thức như cùng thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu, chia sẻ cơ sở hạ tầng, hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực, cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong việc tìm kiếm đối tác và tiến hành các hoạt động đổi mới và nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của sự hợp tác Gần đây, có một số sáng kiến tài trợ cho các nhóm liên kết, hợp tác nghiên cứu giữa tổ chức KH&CN và khu vực doanh nghiệp như:

Dự án IPP [23], Dự án FIRST [24], nhưng kinh phí của các dự án này chủ yếu là từ Chính phủ Phần Lan và Ngân hàng Thế giới và chỉ mang tính chất thử nghiệm

Trang 23

Để khắc phục những tồn tại nêu trên nhằm đẩy mạnh sự liên kết, hợp tác giữa tổ chức KH&CN công lập với doanh nghiệp xin kiến nghị các giải pháp sau:

Chính phủ tạo động lực thông qua việc khuyến khích sự cạnh tranh và tạo điều kiện tiếp cận nguồn tài chính cho các doanh nghiệp chú trọng vào đổi mới sáng tạo Cần đặt các doanh nghiệp theo đuổi việc đổi mới sáng tạo và ứng dụng kết quả R&D của các trường đại học và các cơ quan nghiên cứu nhà nước vào trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng và phát triển Các doanh nghiệp phải nhận thức được việc nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo là vấn đề cấp thiết để doanh nghiệp có thể nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu Nếu các doanh nghiệp chú trọng vào đổi mới sáng tạo, họ sẽ đầu tư nhiều hơn vào hoạt động này, từ đó thu hút thêm nguồn vốn đầu tư cho KH&CN

Cấu trúc lại hệ thống tổ chức KH&CN công lập, đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu trong các trường đại học và tập trung đầu tư để các tổ chức KH&CN đạt được năng lực tới hạn lớn hơn và tập trung nhiều hơn vào việc phát triển các sản phẩm và dịch vụ mới có giá trị phục vụ cho khu vực doanh nghiệp Việc cấp kinh phí cho các tổ chức KH&CN nên gắn với kết quả thực hiện Nếu một tổ chức không có đủ năng lực KH&CN cần thiết, họ không thể giành được các đề tài, dự án do đó không thể tồn tại lâu dài, như vậy là tạo động lực mạnh mẽ đối với các tổ chức nghiên cứu

để họ liên tục nâng cao hiệu quả hoạt động của mình

Các tổ chức KH&CN cần đổi mới mô hình quản trị Ngày nay, mô hình quản trị và quản lý của các tổ chức nghiên cứu ngày càng giống với các mô hình thường thấy trong khu vực doanh nghiệp, với trọng tâm là tạo ra giá trị, tăng doanh thu và quản lý chi phí hơn là một đơn vị hành chính bao cấp Họ phải xác định rõ sứ mạng

và đối tượng sử dụng kết quả nghiên cứu của mình để có chiến lược phát triển tổ chức mình bền vững, phải chủ động tìm nguồn kinh phí cho các đề tài, dự án từ các chương trình tài trợ cạnh tranh và dành được các hợp đồng nghiên cứu từ khu vực doanh nghiệp để bổ sung vào nguồn kinh phí được cấp từ ngân sách Việc áp dụng

mô hình kinh doanh sẽ tạo điều kiện cho các lãnh đạo tổ chức KH&CN tăng quyền

Trang 24

tự chủ và quyền quyết định đồng thời cũng đòi hỏi họ phải chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của tổ chức mình

Ban hành cơ chế, chính sách, khởi động chương trình tài trợ khuyến khích sự liên kết, hợp tác giữa tổ chức KH&CN công lập với doanh nghiệp (có thể rút kinh nghiệm từ các dự án IPP, FIRST ) Chương trình nên mang tính định hướng thị trường - tập trung tạo giá trị kinh tế cho khu vực doanh nghiệp Chương trình cần được thiết kế căn cứ vào nhu cầu và các lĩnh vực ưu tiên của khu vực doanh nghiệp

Để xác định được những nhu cầu này cần có sự đối thoại nghiêm túc giữa khu vực doanh nghiệp và các tổ chức KH&CN, vì khu vực doanh nghiệp thường không nắm bắt được tính khả thi về mặt kỹ thuật còn tổ chức KH&CN thì thường không hiểu công việc kinh doanh cũng như các yêu cầu phi kỹ thuật để thực hiện thành công

Sự đối thoại này được thể hiện qua nhiều lần tương tác giữa khu vực doanh nghiệp

và tổ chức KH&CN, từ đó sẽ hình thành sự tin tưởng và hiểu biết về các cơ hội hợp tác giữa họ Thông qua chương trình này, các doanh nghiệp và tổ chức KH&CN cùng nhau phát triển các năng lực R&D phục vụ cho các khách hàng hiện tại và tương lai và hình thành các ngành kinh tế mới

1.1.3 Kết nối giữa nhà Khoa học và Doanh nghiệp

Việc phát triển thị trường khoahọc công nghệ sẽ tạo điều kiện ứng dụng các thành tựu nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ vào sản xuất; thúc đẩy chuyển giao, đổi mới công nghệ, thiết bị… Để làm được điều này, theo các nhà khoa học, cần đẩy mạnh kết nối giữa nhà khoa học và doanh nghiệp

Việc kết nối cung cầu công nghệ là mục tiêu và biện pháp để giải quyết vấn

đề này Khi đã có thị trường công nghệ, có hoạt động kết nối cung cầu mạnh thì các kết quả nghiên cứu sẽ được chuyển giao

Trong bối cảnh cả thế giới chuẩn bị bước vào kỉ nguyên mới, hầu hết các nhà làm khoa học đều mong muốn tạo ra một bước đột phá trong hoạt động mang tính khoa học kỹ thuật, từ các công trình nghiên cứu sáng tạo ra được những sản phẩm mang tính ứng dụng cao Để làm được điều này, cần có sự bắt tay giữa nhà khoa

Trang 25

học và doanh nghiệp, đây được xem là con đường tốt nhất để đưa các công trình khoa học vào cuộc sống

Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, các kết quả nghiên cứu KHCN được ứng dụng triển khai vào thực tiễn còn hạn chế, thiếu kết nối giữa nhà khoa học và DN, nhiều sản phẩm nghiên cứu hữu ích, có giá trị thực tiễn cao nhưng không được chuyển giao

Trong thời gian qua, hoạt động kết nối cung cầu công nghệ của Việt Nam được đánh giá chưa đạt nhiều hiệu quả, mặc dù Bộ Khoa học và Công nghệ cũng đã triển khai tổ chức nhiều hoạt động như: Chợ công nghệ Techmart tại các vùng - nơi gặp gỡ của những nhà khoa học cung cấp công nghệ và những doanh nghiệp tìm kiếm công nghệ; tổ chức hội nghị tại Trung ương và địa phương nhằm tạo cơ hội giúp các nhà cung cầu kết nối với nhau… Bởi vậy, Bộ đang xây dựng và trình Thủ tướng Đề án về thị trường công nghệ Đồng thời, tích cực triển khai và xây dựng một số văn bản hướng dẫn trong quá trình hình thành và phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam

Với chủ trương trên, trong thời gian tới, các nhà khoa học sẽ được đặt hàng nghiên cứu những vấn đề đang được cộng đồng và doanh nghiệp quan tâm Từ đó các kết quả nghiên cứu này sẽ được đưa vào ứng dụng và chuyển giao ngay nhằm giải quyết bài toán của kinh tế và xã hội Điều này sẽ đáp ứng cho việc đầu tư đúng chỗ, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội

Hiện nay đang có nhiều dự án hỗ trợ cho hoạt động phát triển thị trường khoa học và công nghệ Những dự án này đã, đang và sẽ hình thành được những tổ chức khoa học và công nghệ mạnh, ngang tầm các nước trong khu vực và quốc tế, minh bạch đổi mới sáng tạo để đưa ra được nhiều công nghệ mới, công nghệ hiện đại phù hợp với Việt Nam, phát huy được nguồn năng lực của Việt Nam

Bên cạnh đó, Bộ Khoa học và Công nghệ đang triển khai dự án phát triển tài sản trí tuệ nhằm đẩy mạnh việc đưa các sáng chế, đưa các kết quả nghiên cứu từ thế giới và Việt Nam vào ứng dụng trong nền kinh tế - xã hội, là cơ sở tạo ra những sản

Trang 26

phẩm có chất lượng, có hiệu quả, có khả năng cạnh tranh Từ đó nhiều doanh nghiệp khoa học và công nghệ được ra đời và có hiệu quả kinh tế cao

Luật Khoa học và Công nghệ sửa đổi được Quốc hội thông qua vào năm

2013 đã có hiệu lực, quy định các doanh nghiệp nhà nước bắt buộc phải trích một phần lợi nhuận cho hoạt động nghiên cứu, phát triển khoa học và công nghệ Với quy định trên, các doanh nghiệp nhà nước bắt buộc phải trích một phần lợi nhuận

để đầu tư vào phát triển khoa học và công nghệ Đối với các doanh nghiệp ngoài nhà nước thì khuyến khích việc trích nguồn kinh phí đó để đầu tư phát triển

Bộ Khoa học và Công nghệ đang xây dựng Nghị định về đầu tư và cơ chế tài chính cho khoa học và công nghệ Nghị định này đang được trình Chính phủ để xem xét thông qua Khi có những quy định như vậy, chắc chắn việc huy động kinh phí từ xã hội cho hoạt động phát triển khoa học công nghệ tại các doanh nghiệp sẽ tăng lên Từ đó sẽ giải quyết được bài toán về kinh phí khi không chỉ có Nhà nước đầu tư cho khoa học và công nghệ mà cả xã hội cũng đầu tư Bộ luôn mong muốn phấn đấu để làm sao tiền của Nhà nước bỏ ra chỉ khoảng 1/3, còn 2/3 là từ các lực lượng xã hội Có như vậy, khoa học và công nghệ của Việt Nam mới có điều kiện phát triển được

1.1.4 Thương mại hóa kết quả nghiên cứu

Trong khi có hàng loạt kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ được cất vào

tủ, thì các doanh nghiệp đang đau đáu đi tìm những công trình nghiên cứu có thể biến thành sản phẩm mang lại giá trị cho cộng đồng Đây là trách nhiệm của không chỉ các trường đại học và viện nghiên cứu, không chỉ của doanh nghiệp, và không riêng của cơ quan chức năng, mà phải là một sự phối hợp toàn diện từ tất cả các bên Nói cách khác, cần một sự hợp tác để xây dựng mối quan hệ chặt chẽ giữa 3 nhà: Nhà nước - nhà doanh nghiệp - nhà khoa học Đó cũng là "công thức" phát triển mang tính quốc tế [27]

Trên thực tế, ở Việt Nam, việc chuyển đổi những kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ trở thành những sản phẩm có thể thương mại hóa còn rất gian nan

Trang 27

Thậm chí, quá trình này được ví như việc vượt qua một “thung lũng tử thần” Có thể khái quát hóa thách thức của quá trình này gọi là ba lỗ hổng: (1) Lỗ hổng khám phá công nghệ; (2) Lỗ hổng thương mại hóa; và (3) Lỗ hổng thành lập doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo

Việc khắc phục những lỗ hổng trên đòi hỏi sự liên kết chặt chẽ giữa nhiệm

vụ thương mại hóa công nghệ với các nhiệm vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học truyền thống Một công nghệ do trường đại học/viện nghiên cứu phát triển cần khắc phục ba lỗ hổng trên mới có thể tiếp cận được thị trường thương mại

Lỗ hổng khám phá công nghệ cản trở việc đánh giá tính khả thi thương mại của những khám phá khoa học tiên tiến Để khắc phục được lỗ hổng này, các trường đại học/viện nghiên cứu cần chuyển đổi các khái niệm và thuật ngữ khoa học thành ngôn ngữ thông thường, chứng minh khái niệm và phát triển các nguyên mẫu sẵn sàng tung ra thị trường cũng như nghiên cứu các bằng sáng chế có liên quan Việc thúc đẩy các nhà khoa học tiết lộ và thương mại hoá những khám phá của họ cũng là một thách thức đối với nhiều trường đại học/viện nghiên cứu do một loạt các yếu tố nghề nghiệp, tổ chức và văn hóa

Lỗ hổng thương mại hóa nằm giữa một cơ hội kinh doanh khả thi và một doanh nghiệp sẵn sàng nhận đầu tư Để khắc phục được lỗ hổng này, các trường đại học/viện nghiên cứu cần phát triển một cơ chế để tạo ra giá trị, xây dựng một mô hình kinh doanh có thể nắm bắt được một phần giá trị đó và xác định thị trường mục tiêu Các công nghệ được trường đại học/viện nghiên cứu phát triển ở giai đoạn đầu ít khi có sẵn các yếu tố trên, tạo ra một lỗ hổng thương mại hóa giữa các nhà sáng chế và doanh nhân khởi nghiệp

Cuối cùng, việc khởi động một doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo tại một trường đại học/viện nghiên cứu tạo ra một loạt các thách thức liên quan đến việc thành lập và tài trợ của doanh nghiệp Lỗ hổng thành lập doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo chỉ có thể được khắc phục khi quyền sở hữu công nghệ được bảo hộ, một đội ngũ quản lý dày dặn kinh nghiệm cam kết khởi nghiệp và nguồn tài trợ hạt

Trang 28

giống được bảo đảm Nếu không có tất cả ba yếu tố trên, các nhà đầu tư chuyên nghiệp sẽ không thể cảm kết tài trợ cho sự ra đời của doanh nghiệp khởi nghiệp

1.1.5 Nghiên cứu và triển khai

Kinh nghiệm từ CVI

CVI là một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực dược phẩm Với định hướng chiến lược áp dụng KH&CN để nâng cao giá trị các sản phẩm dược liệu thế mạnh, truyền thống của Việt Nam nhằm phát triển các dòng sản phẩm dược phẩm có giá trị cao [28]

Từ công trình nghiên cứu khoa học ứng dụng công nghệ nano trong sản xuất dược phẩm được chuyển giao từ Viện Hóa học - Viện Hàn Lâm KH&CN Việt Nam, CVI đã tạo ra được những dòng sản phẩm đột phá về hiệu quả sử dụng chứa nano curcumin từ cây nghệ vàng của Việt Nam, mang đến niềm hy vọng cho các bệnh nhân ung thư và người đang bị đau dạ dày

Tiếp nối thành công đó, CVI không chỉ tìm kiếm sự hợp tác chuyển giao từ các đề tài nghiên cứu khoa học có sẵn mà còn chủ động đặt hàng nghiên cứu với các nhà khoa học nhằm giải quyết những vấn đề khoa học kỹ thuật từ thực tiễn

Ngoài ra, CVI cũng phối hợp với UBND tỉnh Quảng Ninh, tận dụng một phần ngân sách hỗ trợ của tỉnh để cùng các nhà khoa học từ ba trung tâm nghiên cứu lớn thực hiện một nhóm các đề tài nghiên cứu khoa học tổng thể về cây dược liệu Ba Kích nhằm đưa ra thị trường một dòng sản phẩm được nghiên cứu khoa học bài bản từ cây ba kích tím

Sự thành công và định hướng phát triển của CVI ngày hôm nay gắn liền với

sự thành công của mô hình hợp tác giữa doanh nghiệp với các nhà khoa học và các đơn vị nghiên cứu khoa học

Tuy nhiên, cũng từ thực tiễn triển khai việc hợp tác, không phải doanh nghiệp nào cũng có được cơ hội tiếp cận với các nhà khoa học và hình thành nên được một sự hợp tác hai bên cùng phát triển như CVI Từ góc nhìn của một doanh

Trang 29

nghiệp vừa và nhỏ, đang tồn tại một số rào cản, khó khăn và mấu chốt nằm ở việc hợp tác giữa nhà khoa học, các tổ chức nghiên cứu khoa học với doanh nghiệp

Muốn có thị trường thì phải có các quy định về trách nhiệm của người mua (doanh nghiệp) và người bán (các tổ chức nghiên cứu khoa học, các nhà khoa học)

và cơ quan điều tiết thị trường (cơ quan quản lý bằng các cơ chế) Cơ chế phải được luật hóa thành những quy định rõ ràng, đặc biệt là trong những vấn đề cốt tử như: minh bạch thông tin (về các kết quả của các đề tài nghiên cứu khoa học bao gồm: khả năng ứng dụng, mức độ hoàn thành, chi phí để hoàn thiện thành sản phẩm hoàn chỉnh, khả năng phát triển và cải tiến, năng lực của các nhà khoa học hoặc các tổ chức nghiên cứu khoa học, cơ sở vật chất kỹ thuật có thể tham gia hợp tác ); cơ chế định giá các kết quả nghiên cứu (sản phẩm) khi chuyển giao; cơ chế hợp tác chuyển giao; vấn đề sở hữu trí tuệ; vấn đề truyền thông, quảng bá các sản phẩm

KH&CN

1.1.6 Chuyển giao công nghệ

Trong những năm qua, việc triển khai các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, ứng dụng kết quả nghiên cứu đã góp phần tạo ra sự chuyển biến rõ rệt về năng suất, chất lượng và hiệu quả trong sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá Tuy nhiên, một vấn đề lớn đang được đặt ra hiện nay là làm thế nào để nâng cao chất lượng nghiên cứu và hiệu quả ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ [29]

Trong thời gian qua, việc áp dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ là một trong những đóng góp quan trọng bảo đảm cho công nghiệp tăng trưởng liên tục ở mức 14%/năm

Trong sản xuất nông nghiệp, khoa học và công nghệ đã tạo ra hàng trăm giống cây trồng mới có chất lượng và năng suất cao trong 5 năm gần đây Chương trình giống đã mang lại hiệu quả lớn: trên 90% diện tích lúa, 80% diện tích ngô, 60% diện tích mía, 100% diện tích điều trồng mới được sử dụng giống mới Riêng

69 giống lúa mới được gieo trồng trên diện tích 1,63 triệu héc-ta đất canh tác ở

Trang 30

vùng đồng bằng sông Cửu Long có năng suất tăng hơn các giống cũ 10%, đạt 4,86 tấn/ha, đã làm tăng sản lượng thêm 500.000 - 790.000 tấn, làm lợi cho bà con nông dân khoảng 1.200 - 1.900 tỷ đồng Trong khi đó, tổng đầu tư để nghiên cứu lai tạo các loại giống cây lương thực (trong đó có lúa) chưa đến 30 tỷ đồng Ngoài ra, việc

áp dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ đã đem lại những thành tựu to lớn trong các ngành thủy sản, giao thông vận tải, xây dựng, y tế và các ngành kinh tế khác

Tuy nhiên, theo kết quả quan sát một cách khá toàn diện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ ở nước ta cho thấy việc áp dụng kết quả nghiên cứu và phát triển của các tổ chức khoa học và công nghệ vào sản xuất, kinh doanh còn nhiều hạn

chế

1.2 Mô hình liên kết 4 nhà

Liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp là giải pháp mang tính căn bản để đảm bảo phát triển bền vững, để người nông dân không lâm vào tình cảnh “được mùa mất giá”, hướng đến mục tiêu đảm bảo đủ lương thực cho người dân và xa hơn là đưa Việt Nam trở thành quốc gia xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới [30]

Hình 1.1: Mô hình liên kết 4 nhà

(Nguồn: http://www.vacvina.org.vn)

Trang 31

Liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm sẽ giúp ngành nông nghiệp hướng đến sự bền vững và chuyên nghiệp “Liên kết bốn nhà” là cụm từ đã có từ vài thập kỷ nay Liên kết giữa nhà nông - nhà nước - nhà khoa học - doanh nghiệp

để tạo ra một chuỗi khép kín trong sản xuất đến tiêu thụ là điều cần thiết, hướng vào nhiều mục tiêu Đó là nhà khoa học nghiên cứu để tăng năng suất và chất lượng sản phẩm, người nông dân đảm bảo việc trồng cấy đúng kỹ thuật, doanh nghiệp lo bao tiêu sản phẩm và Nhà nước giữ vai trò điều phối, hỗ trợ tạo đòn bẩy

Thực tế, nhiều mô hình liên kết 4 nhà đã thành công, nhất là tại vựa lúa đồng bằng sông Cửu Long Tuy nhiên, mô hình chưa thực sự bền vững Sự phân chia lợi ích trong chuỗi liên kết thiếu minh bạch, hình thành mối quan hệ kèo trên áp đặt kèo dưới.Có thể kể đến tình trạng doanh nghiệp ép giá nông dân khi được mùa, người nông dân “bội tín” khi được giá…

Mới đây, Chính phủ đã đưa chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp [2] kỳ vọng sẽ đưa việc hợp tác, liên kết này trở về đúng vị trí, đem lại lợi ích bền vững cho các bên

Theo đó, bên chủ trì liên kết sẽ được ngân sách nhà nước hỗ trợ 100% chi phí tư vấn xây dựng liên kết, tối đa không quá 300 triệu đồng, bao gồm tư vấn, nghiên cứu để xây dựng hợp đồng liên kết, dự án liên kết, phương án, kế hoạch sản xuất kinh doanh, phát triển thị trường

Dự án liên kết được ngân sách nhà nước hỗ trợ 30% vốn đầu tư máy móc trang thiết bị; xây dựng các công trình hạ tầng phục vụ liên kết bao gồm: nhà xưởng, bến bãi, kho tàng phục vụ sản xuất, sơ chế, bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp Tổng mức hỗ trợ không quá 10 tỷ đồng

Ngoài phần hỗ trợ vốn đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng phục vụ liên kết, các bên tham gia liên kết được ngân sách nhà nước hỗ trợ để xây dựng mô hình khuyến nông; Đào tạo nghề, tập huấn kỹ thuật, nâng cao nghiệp vụ quản lý, kỹ thuật sản xuất, năng lực quản lý hợp đồng, quản lý chuỗi và phát triển thị trường;

Hỗ trợ giống, vật tư, bao bì, nhãn mác sản phẩm tối đa không quá 03 vụ hoặc 03

Trang 32

chu kỳ sản xuất, khai thác sản phẩm thông qua các dịch vụ tập trung của hợp tác xã; Ngân sách hỗ trợ tối đa 40% chi phí chuyển giao, ứng dụng khoa học kỹ thuật mới,

áp dụng quy trình kỹ thuật và quản lý chất lượng đồng bộ theo chuỗi

Vai trò của doanh nghiệp trong việc chuyển giao và thương mại hóa kết quả nghiên cứu

Để hoạt động nghiên cứu khoa học thực sự hiệu quả thì rất cần sự đồng hành từ phía cộng đồng doanh nghiệp, và hơn hết là các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực KHCN cần trở thành cầu nối quan trọng, khẳng định vai trò định hướng cho sự phát triển của nền kinh tế tri thức

Hiện nay, hoạt động khoa học và công nghệ phần lớn được đầu tư từ ngân sách nhà nước Bình quân hằng năm, đầu tư ngân sách nhà nước cho hoạt động khoa học và công nghệ với mức kinh phí vào khoảng 1,4-1,85% tổng chi ngân sách nhà nước, chiếm khoảng 0,4-0,6% GDP

Trong tổng đầu tư quốc gia cho nghiên cứu và phát triển khoa học và công nghệ là 13.390,6 tỷ đồng thì đầu tư từ ngân sách nhà nước chiếm hơn một nửa: 7.591,6 tỷ đồng (tương đương 56,7%), trong khi nguồn đầu tư từ doanh nghiệp là 5.597,3 tỷ đồng đạt 41,8%, còn lại chỉ có 201,7 tỷ đồng (tương đương 1,5%) là từ nguồn vốn nước ngoài

Nhìn chung, đầu tư từ ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ đóng vai trò hết sức quan trọng, và trong tổng đầu tư cho khoa học và công nghệ chủ yếu đầu tư tập trung vào: Đầu tư cho hoạt động nghiên cứu khoa học, ứng dụng kỹ thuật, các nhiệm vụ Nhà nước ở mức 50%; Con người chiếm - 25%; Đầu tư để hỗ trợ đề tài cấp Bộ, ngành - 15%; Đầu tư để tăng cường cơ sở vật chất - 15%

Theo báo cáo của Bộ KHCN thì ngân sách trung ương thường chiếm tỷ trọng

từ 70-75% và ngân sách địa phương chiếm tỷ trọng 25- 30%

Cần có sự tham gia, đồng hành sâu hơn nữa của các doanh nghiệp trong hoạt động nghiên cứu phát triển và đổi mới sáng tạo Các doanh nghiệp không chỉ đặt

Trang 33

hàng với các nhà khoa học mà còn cần góp vốn, đồng hành với nhóm nghiên cứu trong cả quá trình

Nhiều doanh nghiệp được giới thiệu bởi Sở KHCN đánh giá về đề tài KHCN của các nhà nghiên cứu rất hay nhưng sản phẩm họ mang đến thì doanh nghiệp không thể sử dụng được Các nhà nghiên cứu đang thiếu một quy trình hoàn thiện sản phẩm thương mại, từ tính năng cho đến thiết kế

Hiện nay, các nhà khoa học có thể lựa chọn một đề tài thực sự cụ thể, xác định tính trọng tâm rồi cùng kết hợp nhau để phát triển thành ứng dụng, sản phẩm thực tế Điều này không chỉ mang đến tính gắn kết mà còn hiệu quả trong việc tiết kiệm nguồn lực, tăng hiệu quả trong nghiên cứu Điều này còn giúp doanh nghiệp

dễ dàng tiếp cận khi có nhu cầu về nghiên cứu, phát triển sản phẩm

Điều này cũng chỉ ra một vấn đề thực tế hiện nay là doanh nghiệp và nhà khoa học chưa có một ngôi nhà chung để giới thiệu về ý tưởng cũng như đưa ra những yêu cầu cụ thể

Cần tập trung mọi điều kiện từ nội lực, tức là từ các kết quả nghiên cứu phục

vụ cho đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất và sức cạnh tranh, vào 4 nhóm đối

tượng Một là nhóm doanh nghiệp dẫn dắt công nghệ, tạo điều kiện để có cơ sở để triển khai nghiên cứu công nghệ Hai là đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, phải nhanh chóng nhận chuyển giao khoa học công nghệ để ứng dụng Ba là nhóm

doanh nghiệp chưa tiếp nhận chuyển biến kết quả nghiên cứu chuyển giao công

nghệ Bốn là các doanh nghiệp khởi điểm sáng tạo, hiện số lượng này đang tăng

Trang 34

tâm hỗ trợ chứng minh khái niệm (PoC), hay ngay cả các thư viện hay những nơi phổ biến các kết quả nghiên cứu [26]

Bảng 1.1: Phân loại tổ chức trung gian/cầu nối cho hoạt động chuyển giao tri thức và thương mại hóa kết quà nghiên cứu công

và li-xăng

Mức độ tập trung phát triển vùng

Trung tâm

CGCN (TTO)

Hỗ trợ những người làm việc trong khu vực hàn lâm xác định và quản lý tài sản trí tuệ của tổ chức, bao gồm việc bảo vệ SHTT và chuyển giao hoặc li-xăng các quyền cho các bên khác

Cao Thấp

Vườn ươm

doanh nghiệp

Thúc đẩy tăng trưởng và sự thành công của các công ty khởi nghiệp thông qua hàng loạt các biện pháp hỗ trợ về các nguồn lực và dịch vụ (như địa điểm, vốn, đào tạo, các dịch vụ chung, kết nối mạng lưới - thông qua hiệp hội)

Thấp Cao

Trang 35

Công viên khoa

học và trung

tâm công nghệ

Thúc đẩy phát triển kinh tế và tính cạnh tranh vùng và thành phố thông qua việc tạo ra các cơ hội kinh doanh

và giá trị gia tăng cho các công ty;

thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp kinh doanh và ươm tạo các công ty mới đổi mới sáng tạo; tạo ra việc làm thâm dụng tri thức; tạo dựng không gian hấp dẫn cho đội ngũ trí thức mới; tăng cường mối liên kết giữa trường đại học và doanh nghiệp

marketing và xây dựng mạng lưới đối tác

Thấp Thấp

Trang 36

(PoC) vấn và đào tạo; tài trợ cho công ty

khởi nghiệp hay sản phẩm đã được chứng minh khả thi

Thư viện /trung

tâm lưu trữ

Phổ biến thông tin, dữ liệu từ các kết quả nghiên cứu Các trường đại học đang phát triển trung tâm lưu trữ của mình (có thể trực thuộc thư viện) nhằm lưu trữ và phổ biến kết quả nghiên cứu

Thấp Thấp

(Nguồn: www.vista.vn)

Trong số các tổ chức tổ chức trung gian/cầu nối cho hoạt động chuyển giao công nghệ và thương mại hóa kết quà nghiên cứu, các TTO là phổ biến nhất và có vai trò đặc biệt quan trọng Hầu hết các trường đại học Hoa Kỳ đều có TTO của mình, hoặc có những văn phòng tương tự như: văn phòng phát triển (OTD), văn phòng cấp li-xăng (OTL), văn phòng thương mại hóa (OTC), với những chính sách

và đặc điểm khác nhau

Trang 37

Tiểu kết chương 1

Chương 1 tác giả đã tổng hợp tương đối đầy đủ cơ sở lý thuyết về Mô hình liên kết giữa nghiên cứu khoa học – sản xuất – dịch vụ như: Kết nối giữa nhà Khoa học và Doanh nghiệp; Thương mại hóa kết quả nghiên cứu; Nghiên cứu và triển khai; Chuyển giao công nghệ

Trong khi nhà nghiên cứu thì không biết được doanh nghiệp và thị trường đang thực sự cần gì nên các kết quả nghiên cứu hay nhưng thiếu tính thực tế, thiếu kinh phí hoàn thiện các sản phẩm nên còn chậm một nhịp với guồng quay thương mại; nhà doanh nghiệp thì lại chưa đủ tin tưởng vào năng lực của các nhà khoa học

Về phía các doanh nghiệp, do thiếu thông tin về khả năng chế tạo của các nhà khoa học trong nước, thiếu sự tin cậy đối với các sản phẩm còn mang tính

"nghiên cứu"

Về phía nhà khoa học, do thiếu điều kiện để triển khai các ý tưởng khoa học, triển khai thực nghiệm, hoàn thiện công nghệ từ các đề tài nghiên cứu và thiếu kinh phí để triển khai, thiếu thông tin về nhu cầu của doanh nghiệp, nên hoạt động nghiên cứu chưa sát với nhu cầu của thực tế sản xuất, chưa tạo được lòng tin đối với các doanh nghiệp Vì vậy, những kết quả nghiên cứu chưa được thương mại hóa

Bên cạnh đó tác giả cũng trình bày mô hình cơ bản mối liên kết giữa nghiên cứu khoa học – sản xuất – dịch vụ; Vai trò của doanh nghiệp trong việc chuyển giao

và thương mại hóa kết quả nghiên cứu; Vai trò của tổ chức trung gian nhằm thương mại hóa kết quả nghiên cứu

Đây là cơ sở lý luận vững chắc để tác giả tiến hành phân tích thực trạng torng chương 2 mà cụ thể là thực trạng trong lĩnh vực nông nghiệp Việt Nam hiện nay

Trang 38

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG MỐI LIÊN KẾT GIỮA NHÀ KHOA HỌC NHÀ NÔNG VÀ DOANH NGHIỆP TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP NHẰM HƯỚNG TỚI MỤC TIÊU THƯƠNG MẠI HÓA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

2.1 Khái quát và mối liên kết giữa nhà nghiên cứu khoa học – sản xuất – dịch vụ trong lĩnh vực nông nghiệp

2.1.1 Tình hình nghiên cứu

Theo đánh giá của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, khoa học và công nghệ đã đóng góp trên 30% giá trị gia tăng trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất giống cây trồng và vật nuôi với giá trị gia tăng đạt đến 38%

Theo kết quả nghiên cứu của Bộ Khoa học và Công nghệ, sau gần 30 năm thực hiện đường lối đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn và khá toàn diện Nông nghiệp tiếp tục phát triển vượt bậc theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia Từ một nước phải nhập khẩu lương thực đến nay chúng ta đã trở thành nước xuất khẩu nông sản lớn nhất trên thế giới

Đặc biệt, trong 10 năm kể từ khi thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X

về nông nghiệp, nông dân, nông thôn được ban hành, mặc dù gặp nhiều khó khăn trong điều kiện thời tiết diễn biến phức tạp, thị trường xuất khẩu nông sản còn hạn chế, sức mua giảm nhưng ngành nông nghiệp đã có sự tăng trưởng ngoạn mục

Từ năm 2008 đến năm 2017, kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm nông sản đạt 261,2 tỷ USD, tăng bình quân 9,24%/năm Riêng năm 2017 kim ngạch xuất khẩu đạt 36,6 tỷ USD, tăng 20,05 tỷ USD so với năm 2008 Thu nhập hộ gia đình ở nông thôn tăng từ 75,8 triệu đồng (năm 2012) lên 130 triệu đồng (năm 2017) Về cơ

Trang 39

cấu, từ chỗ trên 90% dân số sống và sản xuất dựa vào nông nghiệp, đến nay con số này chỉ còn trên 60%

Năm 2008, Việt Nam mới có 5 nhóm mặt hàng về nông sản có giá trị xuất khẩu trên 1 tỷ USD/năm với hai nhóm mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 3 tỷ USD đến nay chúng ta có 10 nhóm mặt hàng về nông sản đạt giá trị xuất khẩu trên

1 tỷ USD/năm, gấp hai lần so với năm 2008 trong đó có 5 mặt hàng (tôm, trái cây, hạt điều, cà phê và đồ gỗ) đạt kim ngạch xuất khẩu trên 3 tỷ USD/năm Nông sản Việt Nam hiện có mặt trên 180 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Xuất khẩu nông sản Việt Nam đứng thứ 2 khu vực Đông Nam Á và thứ 15 thế giới

Trong thành công đó, khoa học và công nghệ đã thực sự là một trong các giải pháp quan trọng đã đóng góp có hiệu quả, tạo ra chuyển biến mang tính đột phá trong phát triển sản xuất nông nghiệp như nâng cao năng suất, chất lượng, sức cạnh trang của sản phẩm, hàng hóa nông sản trên thị trường trong nước và quốc tế, giải quyết bài toán cực đoan về biến đổi khí hậu… phục vụ tái cơ cấu nền nông nghiệp, nâng cao đời sống của nông dân

KH&CN được xem là giải pháp tác động trực tiếp đến năng suất, chất lượng sản phẩm nông nghiệp trong thời gian qua

Với sự đóng góp to lớn của cộng đồng các nhà khoa học, sự vào cuộc của các doanh nghiệp, KH&CN đã đóng góp có hiệu quả vào phát triển sản xuất nông nghiệp, bảo đảm nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa nông sản và dịch vụ trên thị trường trong nước và quốc tế

Nhiều kết quả nghiên cứu khoa học đã được chuyển giao, ứng dụng vào sản xuất nông nghiệp như giống mới, quy trình công nghệ, tiến bộ kỹ thuật mới đã góp phần giảm chi phí đầu tư, tăng lợi nhuận và mang lại hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất nông nghiệp

Thông qua các chương trình khoa học công nghệ cấp quốc gia và cấp bộ, nhiều kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực nông nghiệp đã được chuyển giao Nông

Trang 40

sản của Việt Nam ngày càng đạt chất lượng cao, có mặt ở các thị trường khó tính trên thế giới

Tuy nhiên cũng cần nhìn nhận trình độ khoa học và công nghệ nông nghiệp trong nhiều lĩnh vực còn thấp và chậm phát triển so với các nước trên thế giới, khu vực và chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế Thành tựu mới chỉ đạt đối với một số sản phẩm chủ lực như tôm, cá tra, lúa, ngô, tiêu, cà phê, cao su Trong bảo quản chế biến, chăm nuôi thú y, hàm lượng khoa học và công nghệ của sản phẩm chưa cao

Các Bộ cần phối hợp thực hiện chính sách ưu đãi, thu hút nhân tài trong nghiên cứu khoa học nông nghiệp, nhất là với nông nghiệp công nghệ cao thuộc các lĩnh vực nông nghiệp Việt Nam có ưu thế để khai thác nhiều hơn đóng góp của khoa học với nền kinh tế nông nghiệp

2.1.2 Mốt số kết quả nghiên cứu

Một số kết quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ của Viện cơ điện nông nghiệp và Công ghệ sau thu hoạch [25]

Viện Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch được thành lập theo Quyết định số 57/2003/QĐ/BNN/TCCB ngày 11/4/2003 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT trên cơ sở hợp nhất Viện Cơ điện nông nghiệp và Viện Công nghệ sau thu hoạch Viện Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch là cơ quan nghiên cứu khoa học đầu ngành, có nhiệm vụ nghiên cứu phát triển công nghệ và các loại trang thiết bị máy móc phục vụ quá trình sản xuất nông nghiệp, bảo quản

và chế biến nông sản, thúc đẩy sản xuất theo hướng thâm canh, tăng năng suất, giảm chi phí lao động, tăng giá trị nông sản hàng hoá, góp phần vào sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn

Với chức năng nhiệm vụ của mình, đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học của Viện đã có nhiều cố gắng, khắc phục khó khăn, tích cực lao động sáng tạo nên đã hoàn thành tốt hàng trăm đề tài cấp Nhà nước và cấp Bộ, thực hiện nhiều hợp đồng với cơ sở, tạo ra hàng trăm mẫu máy, dây chuyền thiết bị và công nghệ, ứng dụng

Ngày đăng: 02/07/2022, 09:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Cao Đàm, Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
2. Trần Văn Hải, “Bảo hộ sở hữu trí tuệ, một trong các yếu tố tác động trực tiếp đến sự phát triển của khoa học và công nghệ”, trong Chính sách khoa học và giáo dục ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội, 2004, tr. 32-38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hộ sở hữu trí tuệ, một trong các yếu tố tác động trực tiếp đến sự phát triển của khoa học và công nghệ”, trong "Chính sách khoa học và giáo dục ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
Nhà XB: Nxb Lao động - Xã hội
4. Trần Văn Hải , “Một số phân tích về tình trạng xâm phạm và tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam trong”, Tạp chí Thông tin và dự báo Kinh tế - Xã hội, số 31-7/2008, ISSN 1859-0764, tr. 24-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số phân tích về tình trạng xâm phạm và tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam trong”, "Tạp chí Thông tin và dự báo Kinh tế - Xã hội
5. Trần Văn Hải, “Bàn về thuật ngữ “Bản quyền công nghệ”, Tạp chí Hoạt động khoa học, số 601, tháng 6/2009, ISSN 1859-4794, tr.41-44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về thuật ngữ “Bản quyền công nghệ”, "Tạp chí Hoạt động khoa học
6. Trần Văn Hải, Bàn về các thuật ngữ “phát minh”, “phát hiện”, “sáng chế”. Tạp chí Hoạt động khoa học, số 6.2007 (577), tr. 26 – 28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về các thuật ngữ “phát minh”, “phát hiện”, “sáng chế”. "Tạp chí "Hoạt động khoa học
7. Trần Văn Hải, “Các yếu tố sở hữu công nghiệp tác động đến hiệu quả kinh tế của hợp đồng chuyển giao công nghệ”, Tạp chí Hoạt động khoa học, số 612, 5/2010, ISSN 1859-4794, tr. 17-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tố sở hữu công nghiệp tác động đến hiệu quả kinh tế của hợp đồng chuyển giao công nghệ”," Tạp chí Hoạt động khoa học
8. Trần Văn Hải, “Thương mại hóa kết quả nghiên cứu - Tiếp cận từ quyền sở hữu trí tuệ”, Tạp chí Hoạt động khoa học, số tháng 4/2011 (623), ISSN 1859-4794, tr. 36-40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thương mại hóa kết quả nghiên cứu - Tiếp cận từ quyền sở hữu trí tuệ”", Tạp chí Hoạt động khoa học
9. Nguyễn Thị Kha (2014), “Chính sách đổi mới thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu từ trường đại học vào doanh nghiệp”. Luận văn ThS.Quản lý khoa học và công nghệ -- Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Chính sách đổi mới thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu từ trường đại học vào doanh nghiệp”
Tác giả: Nguyễn Thị Kha
Năm: 2014
10. Vũ Thùy Liên (2008), “Hình thành doanh nghiệp spin-off trong các tổ chức NC&TK góp phần thúc đẩy thương mại hóa các kết quả nghiên cứu (trường hợp ngành dược)”, Luận văn ThS. Chính sách khoa học và công nghệ -- Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hình thành doanh nghiệp spin-off trong các tổ chức NC&TK góp phần thúc đẩy thương mại hóa các kết quả nghiên cứu (trường hợp ngành dược)”
Tác giả: Vũ Thùy Liên
Năm: 2008
11. Phạm Nguyệt Minh (2015), “Nhận diện rào cản trong hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại Viện Hàn Lâm khoa học và Công nghệ Việt Nam”. Luận văn ThS. Quản lý khoa học và công nghệ -- Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nhận diện rào cản trong hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại Viện Hàn Lâm khoa học và Công nghệ Việt Nam”
Tác giả: Phạm Nguyệt Minh
Năm: 2015
12. Lê Thị Hải Yến (2015), “Nghiên cứu giải pháp chính sách thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu của các viện trong lĩnh vực cơ điện nông nghiệp”. Luận văn ThS. Chính sách khoa học và công nghệ -- Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu giải pháp chính sách thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu của các viện trong lĩnh vực cơ điện nông nghiệp”
Tác giả: Lê Thị Hải Yến
Năm: 2015
13. Nghị định số 98/2018/NĐ-CP “ Về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp” ngày 5/7/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp
14. Tổ chức và hoạt động chuyển giao công nghệ (chủ biên), Nxb Thế giới, 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức và hoạt động chuyển giao công nghệ
Nhà XB: Nxb Thế giới
15. Nghiên cứu kinh nghiệm về tổ chức và hoạt động chuyển giao công nghệ của Australia, đề xuất mô hình tổ chức và hoạt động chuyển giao công nghệ phù hợp cho Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế, đề tài Nghị định thư hợp tác với Australia, đề tài cấp Nhà nước, 2014-2016.Nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu kinh nghiệm về tổ chức và hoạt động chuyển giao công nghệ của Australia, đề xuất mô hình tổ chức và hoạt động chuyển giao công nghệ phù hợp cho Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế
17. "Global Competitiveness Report (2016-2017)" (PDF). Diễn đàn Kinh tế Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Global Competitiveness Report (2016-2017)
22. Dự án FIRST (http://first-most.vn/) 23. http://www.vacvina.org.vn24. www.vista.vn Link
18. OECD Publication (2013) - "Commercialising Public Research: New Trends and Strategies&#34 Khác
19. Wendy H.Schacht (2012) - The Bayh-Dole Act: Selected Issues in Patent and policy and the Commercialization of Technology, Congressional Research Service,Website Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

HÌNH THÀNH TRUNG TÂM KẾT NỐI DOANH NGHIỆP NHẰM XÚC TIẾN THƢƠNG MẠI HÓA - (LUẬN văn THẠC sĩ) hình thành trung tâm kết nối doanh nghiệp nhằm xúc tiến thương mại hóa kết quả nghiên cứu (nghiên cứu trường hợp kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực nông nghiệp)
HÌNH THÀNH TRUNG TÂM KẾT NỐI DOANH NGHIỆP NHẰM XÚC TIẾN THƢƠNG MẠI HÓA (Trang 1)
HÌNH THÀNH TRUNG TÂM KẾT NỐI DOANH NGHIỆP NHẰM XÚC TIẾN THƢƠNG MẠI HÓA - (LUẬN văn THẠC sĩ) hình thành trung tâm kết nối doanh nghiệp nhằm xúc tiến thương mại hóa kết quả nghiên cứu (nghiên cứu trường hợp kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực nông nghiệp)
HÌNH THÀNH TRUNG TÂM KẾT NỐI DOANH NGHIỆP NHẰM XÚC TIẾN THƢƠNG MẠI HÓA (Trang 2)
1.2. Mô hình liên kết 4 nhà - (LUẬN văn THẠC sĩ) hình thành trung tâm kết nối doanh nghiệp nhằm xúc tiến thương mại hóa kết quả nghiên cứu (nghiên cứu trường hợp kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực nông nghiệp)
1.2. Mô hình liên kết 4 nhà (Trang 30)
Bảng 1.1: Phân loại tổ chức trung gian/cầu nối cho hoạt động chuyển giao tri thức và thƣơng mại hóa kết quà nghiên cứu công - (LUẬN văn THẠC sĩ) hình thành trung tâm kết nối doanh nghiệp nhằm xúc tiến thương mại hóa kết quả nghiên cứu (nghiên cứu trường hợp kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực nông nghiệp)
Bảng 1.1 Phân loại tổ chức trung gian/cầu nối cho hoạt động chuyển giao tri thức và thƣơng mại hóa kết quà nghiên cứu công (Trang 34)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w