1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) phát huy vai trò của hệ thống chính trị cấp cơ sở trong công tác dồn điền đổi thửa ở tỉnh hải dương giai đoạn hiện nay

124 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát Huy Vai Trò Của Hệ Thống Chính Trị Cấp Cơ Sở Trong Công Tác Dồn Điền Đổi Thửa Ở Tỉnh Hải Dương Giai Đoạn Hiện Nay
Tác giả Nguyễn Thị Huế
Người hướng dẫn TS. Vũ Tiến Dũng
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Chính Trị Học
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- NGUYỄN THỊ HUẾ PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP CƠ SỞ TRONG CÔNG TÁC DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA Ở TỈNH HẢI DƯƠ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ HUẾ

PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP CƠ SỞ TRONG CÔNG TÁC DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA Ở TỈNH HẢI

DƯƠNG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Chính trị học

Mã số: 60 31 02 01

Người hướng dẫn khoa học: TS Vũ Tiến Dũng

Hà Nội-2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS Vũ Tiến Dũng Các kết quả trong luận văn đều có nguồn gốc rõ ràng, tin cậy

Hà Nội, tháng 12 năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Huế

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng gửi đến các quý thầy cô giáo Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Khoa Khoa học chính trị lời cảm ơn và lòng biết ơn sâu sắc về quá trình đào tạo trong 2 năm học Cao học vừa qua

Tôi xin chân thành cảm ơn sự chỉ bảo tận tình và chu đáo của thầy giáo hướng dẫn TS Vũ Tiến Dũng; sự hỗ trợ, động viên của gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp thạc sĩ

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến cơ quan: Trường Cao đẳng Hải Dương, Ủy ban Nhân dân tỉnh Hải Dương, Ủy ban Nhân dân huyện Kim Thành, Ủy ban Nhân dân

xã Việt Hưng, xã Tuấn Hưng, xã Cổ Dũng ( huyện Kim Thành), Ủy ban Nhân dân huyện Nam Sách, Ủy ban Nhân dân huyện Gia Lộc, Ủy ban nhân dân huyện Thanh

Hà, Ủy ban Nhân dân huyện Kinh Môn đã cung cấp những tài liệu quan trọng để tôi hoàn thành luận văn

Nguyễn Thị Huế

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu 3

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 5

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

5 Phương pháp nghiên cứu 8

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 8

7 Kết cấu của luận văn 9

Chương 1: NHẬN THỨC VỀ VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP CƠ SỞ TRONG CÔNG TÁC DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA 10

1.1 Những khái niệm cơ bản 10

1.1.1 Hệ thống chính trị và hệ thống chính trị cơ sở 10

1.1.2 Dồn điền đổi thửa và cơ sở lý luận của dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp 15

1.2 Vai trò của hệ thống chính trị cấp cơ sở trong công tác dồn điền đổi thửa 21

1.2.1 Vai trò của Đảng bộ cơ sở trong công tác dồn điền đổi thửa 21

1.2.2 Vai trò của chính quyền cơ sở trong công tác dồn điền đổi thửa 23

1.2.3 Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở trong công tác dồn điền đổi thửa 25

Tiểu kết chương 1 28

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP CƠ SỞ TRONG CÔNG TÁC DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA Ở TỈNH HẢI DƯƠNG 29

2.1 Tình hình thực hiện vai trò của hệ thống chính trị cấp cơ sở trong công tác dồn điền đổi thửa ở tỉnh Hải Dương 29

2.1.1 Khái quát chung về tỉnh Hải Dương và hệ thống chính trị cơ sở ở tỉnh Hải Dương 29

2.1.2 Tình hình thực hiện vai trò của hệ thống chính trị cấp cơ sở trong công tác dồn điền đổi thửa ở tỉnh Hải Dương 33

Trang 7

2.2 Đánh giá về vai trò của hệ thống chính trị cấp cơ sở trong công tác dồn điền đổi

thửa ở tỉnh Hải Dương 45

2.2.1 Những ưu điểm của hệ thống chính trị cấp cơ sở trong công tác dồn điền đổi thửa ở tỉnh Hải Dương 45

2.2.2 Những hạn chế của hệ thống chính trị cấp cơ sở trong công tác dồn điền đổi thửa ở tỉnh Hải Dương 63

2.2.3 Nguyên nhân hạn chế, yếu kém của hệ thống chính trị cơ sở trong công tác DĐĐT ở tỉnh Hải Dương thời gian qua 72

Tiểu kết chương 2 75

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP CƠ SỞ TRONG CÔNG TÁC DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA Ở TỈNH HẢI DƯƠNG THỜI GIAN TỚI 77

3.1 Định hướng nhằm phát huy vai trò của hệ thống chính trị cấp cơ sở trong công tác dồn điền đổi thửa ở tỉnh Hải Dương thời gian tới 77

3.1.1 Định hướng đối với Đảng bộ cơ s3ở 77

3.1.2 Định hướng đối với chính quyền cơ sở 81

3.1.3 Định hướng đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở 87

3.2 Một số giải pháp phát huy vai trò của hệ thống chính trị cấp cơ sở trong công tác dồn điền đổi thửa ở tỉnh Hải Dương thời gian tới 90

3.2.1 Giải pháp đối với Đảng bộ cơ sở 90

3.2.2 Giải pháp đối với chính quyền cơ sở 96

3.2.3 Giải pháp đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị- xã hội ở cơ sở 102

Tiểu kết chương 3 108

KẾT LUẬN 110

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 113

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu

Đất đai là một trong những tư liệu sản xuất quan trọng và có giá trị nhất trong sản xuất nông nghiệp Trong lịch sử phát triển của ngành nông nghiệp, cải cách ruộng đất luôn là khâu quyết định mọi quan hệ sản xuất và ảnh hưởng to lớn đến quá trình phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia

Công cuộc cải cách kinh tế nông nghiệp, nông thôn những năm trước đây, Đảng và Nhà nước ta đã có hàng loạt những chính sách về đất đai nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, giải quyết vấn đề lương thực của cả nước, trong đó điển hình

là Luật Đất đai năm 1993 Theo đó, ruộng đất được chia đến tận tay người nông dân, làm thay đổi hoàn toàn quan hệ sản xuất ở nông thôn, người nông dân đã thực

sự trở thành người chủ mảnh đất của riêng mình, đó là động lực cho sự phát triển mạnh mẽ của nền nông nghiệp nước ta sau giải phóng miền Nam Sự nổ lực của Đảng và Nhà nước đã đưa Việt Nam từ một nước hàng năm phải nhập khẩu một lượng lớn lương thực, vươn lên thành nước xuất khẩu nông sản đứng thứ 2 trên thế giới, sau Thái Lan Mặt khác, các mặt hàng nông sản như: cà phê, chè, tiêu, thuỷ sản… tham gia xuất khẩu ngày càng nhiều, làm cho thu nhập của người nông dân

ổn định và đời sống của họ không ngừng được cải thiện… Vai trò to lớn của sự giao khoán ruộng đất cho hộ nông dân như nói trên là không thể phủ nhận Song với bối cảnh ngày nay, đất nước đang trên đà phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trong môi trường hội nhập kinh tế quốc tế, ngành nông nghiệp không những có nhiệm vụ quan trọng là đảm bảo an ninh lương thực quốc gia mà còn phải đảm bảo tối

đa nguyên liệu cho ngành công nghiệp, tăng khối lượng nông sản xuất khẩu

Tuy nhiên trên thực tế, khi chia ruộng đất cho nông dân theo tinh thần của Nghị định 64/CP ngày 27 tháng 9 năm 1993 của Chính Phủ đã dẫn đến tình trạng ruộng đất bị phân tán, manh mún không đáp ứng được nhu cầu phát triển của nền nông nghiệp trong thời kỳ đổi mới Sự manh mún ruộng đất đã dẫn đến tình trạng chung là hiệu quả sản xuất thấp, hạn chế khả năng đổi mới và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Ngoài ra, tình trạng manh mún ruộng đất còn gây

Trang 9

nên những khó khăn trong quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên đất Để khắc phục tình trạng manh mún ruộng đất như đã nói trên thì việc dồn đổi ruộng đất

từ nhiều ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn là việc làm rất cần thiết Nắm bắt được tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra chủ trương dồn đổi ruộng đất mà chúng ta quen gọi là dồn điền đổi thửa để việc sử dụng đất có hiệu quả hơn Trên thực tế khi triển khai làm điểm, công tác dồn điền đổi thửa đã thành công ở nhiều tỉnh thành, nhưng cũng có những địa phương không thành công Mặt khác, mức độ thành công

ở mỗi địa phương là khác nhau, có nơi công việc chỉ diễn ra nhanh chóng trong một vài tháng là xong, nhưng có nơi kéo dài hàng năm, gây tốn kém sức người và tiền của

Góp phần vào sự thành công của công tác dồn điền đổi thửa, không thể không đề cập đến vai trò to lớn của cả hệ thống chính trị cấp cơ sở Nhiều cấp chính quyền đã chủ động, sáng tạo và vận động nhân dân thực hiện tốt công tác này Là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, vùng tiềm năng phát triển kinh tế của vùng đồng bằng sông Hồng, trong những năm qua, tỉnh Hải Dương nói chung, nông thôn Hải Dương nói riêng đã có bước phát triển nhanh chóng Mặc dù đã đạt những kết quả tích cực song vẫn còn tồn tại một số bất cập, khó khăn, đặc biệt là những vướng mắc liên quan trực tiếp đến công tác triển khai, tuyên truyền, phối hợp thực hiện của các cấp chính quyền địa phương Những tồn tại đó đang đòi hỏi có những giải pháp khắc phục để công tác này có những thành tựu to lớn hơn Trong

xu thế mới, để tiến tới xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại sánh ngang hàng với các quốc gia phát triển trong khu vực và trên thế giới, công tác dồn điền đổi thửa của cả nước nói chung, tỉnh Hải Dương nói riêng cần phải được tiếp tục nâng lên một tầm cao mới, trong đó vai trò của hệ thống chính trị cấp cơ sở là một trong những nhân tố có tính chất quyết định

Vì những lý do trên, học viên chọn đề tài “Phát huy vai trò của hệ thống chính trị cấp cơ sở trong công tác tác dồn điền đổi thửa ở tỉnh Hải Dương giai đoạn hiện nay” nhằm đánh giá và tổng kết kinh nghiệm mà các cấp chính quyền

địa phương đã sử dụng để thực hiện thành công công tác dồn điền đổi thửa, những

Trang 10

khó khăn và nguyên nhân của nó; trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp mang tính phương hướng nhằm phát huy hiệu quả công tác này trong thời gian tới

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Từ trước đến nay đã có nhiều đề tài nghiên cứu về công tác dồn điền đổi thửa nói chung, về vai trò của hệ thống chính trị cấp cơ sở trong công tác dồn điền đổi thửa nói riêng Các đề tài đã đề cập đến thực trạng của công tác dồn điền đổi thửa, những thành tựu và khó khăn Đó là các công trình bảo vệ luận văn Tiến sĩ

và Thạc sỹ hay các tài liệu, các đề án, kế hoạch cụ thể về công tác dồn điền đổi thửa của các địa phương trong cả nước Cụ thể:

Đề tài: Chuyển đổi ruộng đất từ ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn ở tỉnh Hải Dương Chủ nhiệm đề tài là Tiến sĩ Nguyễn Hữu Cát, Trưởng ban Kinh tế Tỉnh

uỷ Hải Dương Thời gian nghiên cứu 1997 – 1998 Công trình đã làm rõ sự cần thiết phải chuyển đổi ruộng đất ở tỉnh Hải Dương Từ đó giúp sử dụng hiệu quả nguồn quỹ đất của tỉnh, mang lại giá trị sản xuất đạt hiệu quả cao

Đề tài: Đánh giá kết quả thực hiện dồn điền, đổi thửa và đề xuất các giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ thực hiện dồn điền, đổi thửa trên địa bàn tỉnh Hải Dương giai đoạn 2015-2020 do trường Đại học Hải Dương xây dựng nhằm lý giải

các vấn đề thực tiễn đang đặt ra tại Hải Dương

Đề tài: Đánh giá tác động của dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp đến sản xuất của nông hộ ở huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang Đây là đề tài luận văn Thạc

sỹ của Nguyễn Văn Tuân, trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên Thời gian nghiên cứu là năm 2003- 2005 Đề tài này đã đi sâu vào phân tích những tác động tích cực của công tác giao ruộng đất tập trung cho các nông hộ ở huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang

Với đặc thù là huyện miền núi trung du nên có được những thành quả từ việc chuyển đổi đem lại giá trị hiệu quả kinh tế cao là một bài học to lớn cho các địa phương khác trên toàn quốc

Trang 11

Cũng phải kể đến tác giả Nguyễn Trọng Kim (2007), Đánh giá ảnh hưởng công tác dồn điền đổi thửa đến hiệu quả sử dụng đất của nông dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ Luận văn Thạc sỹ trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Năm 2014,

tác giả Nguyễn Trí Tài cũng thực hiện luận văn thạc sỹ chuyên ngành quản lý đất

đai: Đánh giá ảnh hưởng của công tác dồn điền đổi thửa đến sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh Hai đề tài trên chủ yếu tập trung

nghiên cứu hiệu quả trước và sau khi chuyển đổi ruộng đất ở địa phương

Gần đây nhất, tiến sĩ Võ Tòng Sông, trường Đại học Hải Dương có công

trình đăng trên Tạp chí Cộng sản tháng 4 năm 2016: Dồn điền, đổi thửa và chỉnh trang đồng ruộng ở Hải Dương: thực tiễn và bài học kinh nghiệm Ở công trình

này, tác giả khái quát tình hình thực hiện công tác dồn điền đổi thửa ở Hải Dương thời gian vừa qua và rút ra một số bài học kinh nghiệm cần thiết cho chính quyền địa phương

Hay các đề án cụ thể cho hoạt động của từng địa phương khi xây dựng

kế hoạch dồn điền đổi thửa cho địa phương mình như Báo cáo tổng kết đề tài

“Nghiên cứu thực tiễn dồn điền đổi thửa ở một số tỉnh và đề xuất chính sách khuyến khích dồn điền đổi thửa nâng cao hiệu quả sử dụng đất ở Đồng bằng sông Hồng”

của Tiến sĩ Đào Thế Anh, Bộ môn hệ thống nông nghiệp - Viện Khoa học Kĩ thuật Nông nghiệp Việt Nam, Hà Nội ( tháng 8/2004)

Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về vấn đề này như:

- Phùng Hữu Phú - Nguyễn Viết Thông- Bùi Văn Hưng (2008), Vấn đề nông nghiệp - nông dân - nông thôn - kinh nghiệm Việt Nam, kinh nghiệm Trung Quốc, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

- Nguyễn Xuân Nguyên (1995), Khuynh hướng phân hóa hộ nông dân trong phát triển hàng hóa, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

- Nguyễn Văn Bích và Chu Tiến Quang (1996), Chính sách kinh tế và vai trò của nó đối với phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn Việt Nam, Nxb Chính trị

Quốc gia, Hà Nội

Trang 12

- Vũ Oanh (1998), Nông nghiệp, nông thôn trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

- Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam (1998), Phát triển nông thôn theo hướng CNH - HĐH, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

- Hồng Vinh (1998), Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn- một số vấn

đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

Các công trình nêu trên nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau về đất đai, quản lý đất đai, xu hướng biến động của các quan hệ ruộng đất trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các chính sách về ruộng đất và quyền lợi của người dân… Đồng thời các công trình cũng đề xuất phương hướng và giải pháp để giải quyết các quan hệ ruộng đất trong sản xuất nông nghiệp nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc để phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH - HĐH Tuy nhiên, nhìn nhận một cách tổng thể về thực trạng và đề xuất một hệ thống giải pháp khoa học để tạo bước đột phá trong hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, vận động, phối hợp trong công tác dồn điền đổi thửa ở một tỉnh đang trên đà phát triển cả về công nghiệp và nông nghiệp thì chưa có nghiên cứu nào

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu thực trạng phát huy vai trò của hệ thống chính trị cấp cơ sở trong công tác dồn điền đổi thửa ở tỉnh Hải Dương giai đoạn 2010 - 2017

- Đưa ra định hướng nhằm phát huy vai trò của Đảng bộ cơ sở, chính quyền

cơ sở, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong công tác dồn điền đổi thửa tỉnh Hải Dương thời gian tới

Trang 13

- Đề xuất giải pháp nhằm phát huy vai trò của hệ thống chính trị cấp cơ sở trong công tác dồn điền đổi thửa ở tỉnh Hải Dương thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu về việc phát huy vai trò của hệ thống chính trị cấp cơ sở trong công tác dồn điền đổi thửa ở tỉnh Hải Dương

5 Phương pháp nghiên cứu

- Dựa trên phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác

- Đồng thời, đề tài sử dụng các phương pháp cơ bản như: phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp logic - lịch sử, phương pháp điều tra khảo sát thực tế, phương pháp thống kê, phân tích - tổng hợp, so sánh, phỏng vấn…

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Đề tài góp phần làm sáng tỏ hơn những nhận thức cơ bản về công tác dồn điền đổi thửa và vai trò của hệ thống chính trị cấp cơ sở trong công tác dồn điền đổi thửa

Trên cơ sở phân tích tình hình thực hiện vai trò của hệ thống chính trị cấp cơ

sở trong công tác dồn điền đổi thửa, qua đó đánh giá thực trạng vai trò của Đảng cơ

sở, chính quyền cơ sở, Mặt trận và các tổ chức chính trị xã hội cấp cơ sở để thấy những kết quả đạt được, đồng thời đề tài tìm ra những khó khăn và nguyên nhân khó khăn để từ đó kiến nghị các giải pháp nhằm định hướng và phát huy vai trò của

hệ thống chính trị cấp cơ sở trong công tác dồn điền đổi thửa ở tỉnh Hải Dương

Trang 14

Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho chính quyền các địa phương trong công tác dồn điền đổi thửa

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm

Trang 15

Chương 1: NHẬN THỨC VỀ VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP

CƠ SỞ TRONG CÔNG TÁC DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA 1.1 Những khái niệm cơ bản

1.1.1 Hệ thống chính trị và hệ thống chính trị cơ sở

 Khái niệm hệ thống chính trị

Hệ thống chính trị là khái niệm hiện đại của chính trị học Trong lịch sử tư tưởng chính trị phương Đông và cả phương Tây, không có khái niệm hệ thống chính trị Chính trị hiện đại, nói đúng hơn là chính trị từ thời kỳ tư bản chủ nghĩa,

đã khác một cách căn bản, xét từ góc độ thể thức cai trị Việc xuất hiện các đảng chính trị đại diện cho các giai cấp, các lực lượng xã hội khác nhau, xuất hiện các nhóm lợi ích, các tổ chức chính trị xã hội… đấu tranh giành quyền lực nhà nước hoặc tham gia vào các quyết định chính trị của quốc gia đã làm cho nền chính trị mang tính dân chủ hơn Các quyết định chính trị giờ đây là sản phẩm của hệ thống,

là kết quả của một chu trình có tính thể chế, bắt buộc, không tùy thuộc riêng vào ý chí chủ quan của một cá nhân nào dù là người đứng đầu nhà nước Do vậy, khi nghiên cứu chính trị hiện đại không thể dừng lại ở việc nghiên cứu hoạt động của nhà nước nói chung, của một cơ quan nhà nước nào đó nói riêng, lại càng không thể chỉ dừng lại ở một cá nhân, mà phải nghiên cứu vai trò, vị trí hay nói rộng hơn là nghiên cứu mối quan hệ của một hệ thống các chủ thể tham gia vào quá trình chính trị Do vậy, có thể nói khái niệm hệ thống chính trị là sự phản ánh thực tiễn chính trị hiện đại

Mục đích của việc đưa ra khái niệm hệ thống chính trị là vạch ra hệ thống các chủ thể (các tổ chức, các thiết chế) có quan hệ với nhau trong việc giành, giữ, thực thi quyền lực chính trị… Nói cách khác, nghiên cứu hệ thống chính trị thực chất là nghiên cứu hệ thống các tổ chức, thiết chế có quyền lực chính trị, hoặc tham gia vào quyền lực chính trị Hệ thống chính trị là khái niệm của khoa học chính trị đương đại - là một trong những khái niệm phản ánh đặc trưng của những quan hệ quyền lực chính trị; cũng như các bộ phận, các nhân tố tham gia vào các quá trình,

Trang 16

nghĩa, dân chủ tư bản chủ nghĩa) Liên quan đến vấn đề này có nhiều quan niệm khác nhau Trên quan điểm hệ thống cấu trúc, có thể xem hệ thống chính trị là khái niệm dùng để chỉ một chỉnh thể bao gồm các tổ chức như đảng chính trị, nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội (hợp pháp), với những quan hệ tác động qua lại giữa các nhân tố đó trong việc tham gia vào các quá trình hoạch định và thực thi các quyết sách chính trị nhằm bảo đảm quyền thống trị của giai cấp, lực lượng cầm

quyền, đồng thời đáp ứng nhu cầu ổn định và phát triển xã hội

Như vậy, “hệ thống chính trị là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng xã hội, bao gồm các tổ chức, các thiết chế có quan hệ với nhau về mặt mục đích, chức năng trong việc thực hiện hoặc tham gia thực hiện quyền lực chính trị, trong việc đưa ra các quyết định chính trị” [63; 289]

Ở phần lớn các nước tư bản chủ nghĩa trên thế giới hiện nay, hệ thống chính trị gồm hai thành phần cơ bản là nhà nước và các chính đảng ( đảng chính trị) Khác với hệ thống chính trị ở các nước tư bản chủ nghĩa, hệ thống chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây và hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay, ngoài nhà nước

và các chính đảng còn có một số tổ chức chính trị - xã hội đặc biệt khác được thành lập để thực hiện các hoạt động chính trị đặc biệt Các tổ chức chính trị đặc biệt này ngoài các hoạt động chính trị là chủ yếu còn thực hiện các chức năng xã hội khác nhưng đó không phải là chức năng chủ yếu

Cấu trúc của hệ thống chính trị không chỉ là hệ thống các tổ chức và các quan hệ về tổ chức mà còn là hệ thống các cấp độ và các quan hệ về cấp độ nhìn theo hai chiều vận động từ dưới lên và từ trên xuống Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị xã hội (5 đoàn thể chính trị xã hội: Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Tổng Liên Đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam Các bộ phận này được kết nối với nhau theo những quan hệ, những cơ chế và nguyên tắc vận hành nhất định, trong một môi trường văn hóa chính trị đặc thù Chính vì vậy hệ thống chính trị của nước ta có đặc điểm như sau:

Trang 17

Thứ nhất, hệ thống chính trị nước ta do duy nhất một Đảng Cộng sản Việt

Nam lãnh đạo Đặc điểm này vừa mang tính phổ biến đối với các nước xã hội chủ nghĩa, vừa mang tính đặc thù Tính đặc thù đó được quy định bởi vai trò, vị trí, khả năng lãnh đạo, uy tín lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi thành lập đến nay trong quá trình tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, chống ách thực dân, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đổi mới xã hội…

Thứ hai, hệ thống chính trị nước ta là hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa

được xây dựng theo mô hình Xô viết, mặc dù đang trong quá trình đổi mới, hoàn thiện nhưng ảnh hưởng của chế độ tập trung quan liêu, bao cấp trong mô hình ấy đang còn khá nặng nề cả trong cách nghĩ, cách làm của đảng viên và nhân dân, cũng như trong tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước Những khuyết tật của mô hình

Xô viết lại được bồi đắp thêm bởi các cuộc chiến tranh, kháng chiến… Tuy chiến tranh đã kết thúc từ gần ba chục năm qua, nhưng những thói quen xử lý công việc, quản lý xã hội, ứng xử theo kiểu thời chiến vẫn còn ảnh hưởng khá năng trong các thế hệ cán bộ, đặc biệt là thế hệ trưởng thành trong chiến tranh

Thứ ba, nền hành chính nhà nước, một bộ phận quan trọng của nhà nước ta

còn non trẻ, lại hầu như không được thừa kế gì từ quá khứ (chế độ thực dân phong kiến) bị ảnh hưởng nặng nề bởi mô hình tập trung quan liêu cao độ, nhưng phải thực hiện một loạt nhiệm vụ mới mẻ và to lớn, đó là: đưa nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ là chủ yếu đi lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, thực hiện công nghiệp hóa, đồng thời với hiện đại hóa đất nước, xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân… Tất cả những nhiệm vụ đó đều nhằm mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; hội nhập và rút ngắn khoảng cách phát triển với các nước trong khu vực và trên thế giới

Những đặc điểm này vừa quy định kết cấu tổ chức, vận hành và các mối quan hệ vừa cho thấy những khó khăn, thách thức mà chúng ta phải giải quyết…

Trang 18

vừa đặt ra những yêu cầu đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị nước ta Những yêu cầu đó khác nhiều so với các hệ thống chính trị khác

 Khái niệm hệ thống chính trị cơ sở

Hệ thống 4 cấp của quản lý hành chính nhà nước của nước ta hiện nay gồm: Trung ương - tỉnh, thành phố - quận, huyện và xã Bốn cấp quản lý này được tổ chức theo một hệ thống dọc từ trên xuống (trung ương - địa phương và cơ sở) Nếu nhìn từ dưới lên sẽ là cơ sở - địa phương và toàn quốc Cơ sở, xét về quy mô và tổ chức là cấp thấp nhất, cấp cuối cùng Nếu trung ương và toàn quốc được xem là một chỉnh thể, hệ thống vĩ mô, đứng đầu là nhà nước trung ương thì cơ sở được xem là cái vi mô, là một tế bào, một phần tử hợp thành của cái vĩ mô - cả nước và toàn quốc như một cơ thể sống

Như vậy, hệ thống chính trị cấp cơ sở là một chỉnh thể gồm Đảng bộ cơ sở, chính quyền cơ sở, các tổ chức chính trị - xã hội hoạt động trong một cơ chế nhất định nhằm thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cấp cơ sở Cơ sở được lấy làm đối tượng nghiên cứu ở đây không phải là một đơn vị cơ sở bất kỳ (gia đình, cơ quan, công sở, trường học, bệnh viện, doanh nghiệp hay viện nghiên cứu…) mà là cơ sở với tư cách là một cấp quản lý nhà nước trong hệ thống quản lý hành chính nhà nước bốn cấp hiện hành Cơ sở đó chính là xã - phường - thị trấn, là cấp cơ sở của quản lý nhà nước Phường, thị trấn là cấp cơ sở ở đô thị, được đặc trưng bởi quản lý

đô thị Xã là cấp cơ sở ở khu vực nông thôn - địa bàn rộng lớn, chiếm đa số trong tổng số đơn vị cơ sở nước ta

Như vậy, hệ thống chính trị cấp cơ sở cũng bao gồm 3 bộ phận cấu thành: Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân ở cơ sở Mỗi bộ phận tồn tại với vai trò, chức năng riêng và có quan hệ mật thiết với nhau, tạo thành hệ thống, quản lý và điều hành mọi hoạt động ở cấp xã

Trang 19

- Cơ cấu và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị cấp cơ sở

Về tổ chức bộ máy:

+ Đảng bộ cơ sở giữ vị trí hạt nhân lãnh đạo chính quyền, đoàn thể và nhân dân nhằm thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh

+ Chính quyền địa phương giữ vị trí trung tâm, trụ cột của hệ thống chính trị trực tiếp tổ chức, điều hành, quản lý xã hội đúng với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước, Nghị quyết của Đảng bộ cơ sở và nguyện vọng của nhân dân của địa phương

+ Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội đại diện và thay mặt nhân dân tham gia quản lý xã hội, quản lý nhà nước ở cơ sở và giám sát hoạt động của chính quyền địa phương trong việc thực hiện chính sách, pháp luật và phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở

- Nguyên tắc hoạt động của hệ thống chính trị cấp cơ sở

+ Đảng bộ cơ sở, Đảng ủy thay mặt đảng bộ cơ sở lãnh đạo toàn diện bằng nghị quyết, định hướng nhiệm vụ trọng tâm, lựa chọn nhân sự, kiểm tra giám sát quá trình triển khai thực hiện nghị quyết của Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân, kiểm tra chính quyền, cán bộ, công chức thực hiện chính sách, pháp luật của nhà nước

+ Chính quyền địa phương (Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân), thực thi chính sách pháp luật của Nhà nước theo thẩm quyền luật định Trực tiếp điều hành, quản lý xã hội duy trì trật tự, an ninh, ổn định chính trị, tổ chức thực hiện kinh tế -

xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân

+ Mặt trận, các đoàn thể nhân dân thay mặt nhân dân tham gia quản lý Nhà nước ở địa phương và giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, cán bộ, đảng viên, công chức ở địa phương Tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước

Trang 20

 Khái niệm phát huy vai trò của hệ thống chính trị cấp cơ sở trong công tác

dồn điền đổi thửa

- Phát huy vai trò của hệ thống chính trị cấp cơ sở:

Hệ thống chính trị cấp cơ sở bao gồm xã, phường, thị trấn Cấp cơ sở là cấp trực tiếp nhất trong hệ thống bốn cấp của quản lý hành chính ở nước ta hiện nay

Phát huy vai trò của hệ thống chính trị cấp cơ sở là tiếp tục phát triển thêm vị trí, vai trò quan trọng của hệ thống chính trị cấp cơ sở trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo và giữ vừng ổn định chính trị - xã hội để thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

- Phát huy vai trò của hệ thống chính trị cấp cơ sở trong công tác dồn điền đổi thửa:

Phát huy vai trò của hệ thống chính trị cấp cơ sở trong công tác dồn điền đổi thửa là đẩy mạnh một cách có hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của các tổ chức chính trị - xã hội trong công tác tổ chức lại tư liệu sản xuất cho người nông dân

1.1.2 Dồn điền đổi thửa và cơ sở lý luận của dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp

 Khái niệm dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp

- Đất nông nghiệp:

Đất đai là tài sản quý giá, là nguồn lực quan trọng của mỗi quốc gia, là nơi sinh tồn và diễn ra mọi hoạt động của cộng đồng dân cư Trong sản xuất, đất đai là mặt bằng để xây dựng nhà xưởng, máy móc, là địa bàn tổ chức sản xuất kinh doanh Trong sản xuất nông nghiệp thì đất đai là môi trường sống của cây trồng, vật nuôi,

là tư liệu sản xuất không gì thay thế được Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường,

đất đai được xem là một yếu tố quan trọng của lực lượng sản xuất

Trang 21

Cũng như các loại đất khác nói chung và đất nông nghiệp nói riêng chúng đều là sản phẩm của tự nhiên Ban đầu chúng chỉ là sản phẩm sơ khai, trải qua quá trình chinh phục của con người đã tác động vào đất đai thông qua lao động nhằm mục đích phục vụ lợi ích của con người Theo thời gian sức lao động của con người đã được kết tinh vào đất đai trong quá trình cải tạo, khai thác, sử dụng do đó đất đai có

giá trị và giá trị sử dụng Bởi vậy, đất nông nghiệp có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, là sản phẩm của tự nhiên và có sự kết tinh giá trị sức lao động của con người Thứ hai, không đồng nhất về mặt chất lượng, được phân bố ở nhiều nơi, nhiều

vùng khác nhau về vị trí địa lý, khí hậu, điều kiện tự nhiên khác như chất đất, độ dày tầng canh tác, độ dốc, tính chất lý, hóa… Đây chính là nguyên nhân hình thành địa tô chênh lệch I

Thứ ba, chỉ là hữu hạn, có vị trí cố định và phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên của

- Khái niệm dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp

Đất nông nghiệp là TLSX đặc biệt duy nhất, là nơi sản xuất ra lương thực thực

phẩm nuôi sống con người và xã hội Từ xa xưa, ông cha ta có câu “phi nông bất ổn”, còn ở Trung Quốc dưới thời Xuân Thu - Chiến Quốc, Khổng Tử đã nói rằng

“Dân dĩ thực vi thiên” ( Dân lấy ăn làm trời) Con người muốn tồn tại phải có cái

Trang 22

ăn, muốn có cái ăn không thể chỉ dựa vào những sản vật sẵn có trong tự nhiên do thiên nhiên ban tặng mà phải lao động sản xuất ra của cải vật chất là lương thực, thực phẩm để nuôi sống con người và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội

Và nơi duy nhất sản xuất ra của cải vật chất chính là đất nông nghiệp

Nông nghiệp là một ngành kinh tế lâu đời, quan trọng của Việt Nam, với 70% dân số hoạt động trong lĩnh vực này, trong đó trồng trọt chiếm tỷ trọng lớn nhất Tuy nhiên, đất nông nghiệp Việt Nam hiện nay đang gặp tình trạng phi tập trung thể hiện ở hai tiêu chí chính sau: số lượng thửa ruộng trên một hộ gia đình quá lớn (>7)

và diện tích mỗi thửa ruộng quá bé (< 200m2) Hiện tượng chia quá nhiều ruộng xuất phát từ việc thực hiện Nghị định 64/CP về việc giao ruộng phải có tốt, xấu, gần, xa, cao, thấp để đảm bảo sự công bằng cho người dân

Rất nhiều khó khăn gây ra từ hiện tượng chia quá nhỏ đất nông nghiệp như: cản trở quá trình cơ giới hóa hoạt động sản xuất, tăng chi phí canh tác, lãng phí đất đai

do việc làm bờ ngăn cách giữa các thửa ruộng, không thể tập trung thâm canh, quy hoạch vùng đặc khu cây trồng Các dự án hiện đại hóa nông thôn vì thế mà thường không đạt hiệu quả như mong muốn Nhận thức rất rõ những khó khăn gây ra từ hiện trạng đất nông nghiệp phi tập trung, chính phủ đã ban hành các chính sách nhằm khuyến khích “ dồn điền đổi thửa” trong các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật đất đai và việc ban hành Nghị quyết số 03/2000NQ-CP về kinh tế trang trại Vậy dồn điền đổi thửa là gì?

Dồn điền đổi thửa (DĐĐT) là việc chuyển đổi ruộng đất từ ô thửa nhỏ thành lớn giữa các hộ nông dân, đẩy mạnh quá trình tích tụ ruộng đất để đưa nền nông nghiệp vốn manh mún, nhỏ lẻ phát triển thành những ô thửa ruộng lớn Hay theo cách hiểu đơn giản, dồn điển đổi thửa (land consolidation) là một giải pháp cho những vấn đề nảy sinh từ sự manh mún của ruộng đất DĐĐT là quá trình mà ở đó những người sở hữu đất trao đổi những mảnh đất để nhận lại mảnh khác tương đương về giá trị hoặc diện tích nhưng ít hơn về số lượng mảnh đất và diện tích từng mảnh lớn hơn

Trang 23

DĐĐT là hoạt động gồm 2 giai đoạn Giai đoạn 1 là dồn những thửa ruộng

có diện tích nhỏ thành các cánh đồng lớn bằng cách phá bỏ các bờ chia giữa các thửa ruộng Giai đoạn 2 là chia lại các cách đồng diện tích lớn thu được từ giai đoạn

1 cho các hộ gia đình với mục đích giảm số lượng các thửa ruộng, đồng nghĩa với việc tăng diện tích các thửa ruộng nhưng vẫn đảm bảo quyền lợi của người dân

Có 2 cơ chế chủ yếu để thực hiện DĐĐT:

Một là, để cho thị trường ruộng đất, và các nhân tố phi tập trung tham gia

vào, Nhà nước chỉ hỗ trợ sao cho cơ chế này vận hành tốt hơn

Hai là, thực hiện các biện pháp can thiệp hành chính, tổ chức phân chia lại

ruộng đất, thực hiện các quy hoạch có chủ định Theo cách này, các địa phương đều xác định là DĐĐT sẽ không làm thay đổi các quyền của nông hộ đối với ruộng đất

đã được quy định trong pháp luật Tuy nhiên, việc thực hiện quá trình này có thể làm thay đổi khả năng tiếp cận ruộng đất của các nhóm nông dân hưởng lợi khác nhau dẫn đến thay đổi bình quân ruộng đất ở các nhóm xã hội khác nhau

- Các hình thức triển khai DĐĐT:

+ Phương pháp 1: Vận động hướng dẫn các hộ nông dân tự chuyển đổi

ruộng đất cho nhau Phương pháp này áp dụng đối với các xã ruộng đất ít manh mún, và quy hoạch thủy lợi giao thông đồng ruộng đã cơ bản hoàn thành, hợp lý Các hộ tự chuyển đổi những thửa ruộng liền nhau thành thửa, ruộng lớn Trong quá trình chuyển đổi các hộ tự nguyện thỏa thuận với nhau về diện tích, hạng đất, hệ số đổi nhất định và các loại hoa lợi khác nếu có Xã có thể xây dựng hệ số trao đổi giữa các loại đất để dân tham khảo khi trao đổi Phương pháp này còn gọi là phương pháp “rút bù”

+Phương pháp 2: Chuyển đổi ruộng đất gắn với quy hoạch kiến thiết lại

đồng ruộng Phương pháp này áp dụng với các xã ruộng đất manh mún, quy hoạch giao thông thủy lợi đồng ruộng chưa được khoa học, hoàn chỉnh Việc chuyển đổi ruộng đất gắn với quy hoạch lại đồng ruộng thực tế là điều chỉnh, bổ sung quy hoạch giao thông thủy lợi nội đồng, quy hoạch đất công điền tập trung một vùng,

Trang 24

quy hoạch các vùng chuyển đổi cơ cấu cây trồng và định hướng chuyển đổi ruộng đất cho các thôn, gọi là phương pháp “rũ rối chia lại”

Sau DĐĐT, người nông dân có thêm điều kiện cơ giới hóa sản xuất, giảm thời gian, số lượng và tăng năng suất lao động… Từ đó thúc đẩy phân công lao động, tạo điều kiện dịch chuyển lao động từ sản xuất nông nghiệp thuần túy sang các lĩnh vực phi nông nghiệp DĐĐT là tiền đề để tích tụ ruộng đất, phát triển lĩnh vực nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, tạo nên những vùng chuyên canh lớn

Cơ sở lý luận của dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp

Vấn đề đất đai được nghiên cứu dưới góc độ lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin chính là việc nghiên cứu mối quan hệ giữa người với người trong việc chiếm hữu, sử dụng, khai thác đất đai tạo ra lợi ích nhằm phục vụ con người và mối quan

hệ đó được gọi là quan hệ đất đai

Trong lý luận của C.Mác, yếu tố thể hiện sự khác nhau về vị trí, độ phì nhiêu, màu mỡ của đất đai, sự thuận lợi hay khó khăn trong quá trình sản xuất được xem là yếu tố cơ bản sinh ra địa tô chênh lệch trong sản xuất nông nghiệp Do nghiên cứu về DĐĐT đất nông nghiệp, bởi vậy dưới góc nhìn lý luận khi xem xét

về quan hệ đất đai, luận văn đề cập đến vấn đề lý luận địa tô - địa tô chênh lệch dưới góc độ vị trí, độ phì nhiêu, màu mỡ của đất đai để từ đó chỉ ra cơ sở cho việc tại sao phải thực hiện DĐĐT đất nông nghiệp

Địa tô là hình thái dưới đó quyền sở hữu ruộng đất được thực hiện về mặt kinh tế, tức là đem lại thu nhập Địa tô phản ánh quan hệ thống nhất, đối lập giữa ba giai cấp cấu thành cái bộ xương sống của xã hội cận đại - người công nhân làm thuê, nhà tư bản công nghiệp và địa chủ

Theo C.Mác có 2 loại địa tô:

Địa tô chênh lệch I (hình thái thứ nhất của địa tô chênh lệch) là địa tô thu

được trên cơ sở ruộng đất màu mỡ Ngoài ra, ruộng đất có vị trí thuận lợi như ở gần nơi tiêu thụ hay đường giao thông thuận tiện sẽ tiết kiệm được phần lớn chi phí lưu thông khi bán cùng một giá, những người phải chi phí vận tải ít hơn đương nhiên

Trang 25

được hưởng một khoản lợi siêu ngạch so với những người phải chi phí vận tải nhiều hơn, do đó mà có địa tô chênh lệch

Địa tô chênh lệch II là địa tô thu được nhờ thâm canh tăng năng suất, là kết

quả của việc đầu tư thêm vào những khoảnh đất có diện tích bằng nhau nhưng ở vị trí khác nhau, có độ phì khác nhau Nó là kết quả khác nhau của những lần đầu tư tư bản nối tiếp nhau trên cùng diện tích của một mảnh ruộng

Địa tô tuyệt đối là số địa tô mà các nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp tuyệt đối phải nộp cho địa chủ dù ruộng đất tốt hay xấu, ở gần hay ở xa Trên những ruộng đất tốt và trung bình, địa chủ còn thu thêm địa tô chênh lệch I và địa tô chênh lệch II

Dưới chế độ tư bản, sự độc quyền tư hữu ruộng đất đã cản trở sự phát triển của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp Do vậy, nông nghiệp thường lạc hậu hơn công nghiệp về kinh tế và kĩ thuật, và cấu tạo hữu cơ trong nông nghiệp thấp hơn trong công nghiệp

Sản xuất nông nghiệp ở nước ta nhân dân không phải nộp thuế đất nông nghiệp, nghĩa là không có “tô”, nhưng khi DĐĐT đất nông nghiệp về mặt hình thức chính là sự thay đổi vị trí diện tích, hạng đất Về thực chất, quan hệ đất đai bên trong đó ẩn chứa “địa tô chênh lệch” giữa những thửa ruộng có độ màu mỡ khác nhau, vị trí khác nhau, mức độ canh tác thuận lợi, khó khăn khác nhau Nên việc DĐĐT muốn thực hiện thành công phải giải quyết tốt mối quan hệ bên trong cho phù hợp với đặc điểm, điều kiện thực tế của từng địa phương thông qua việc xây dựng hệ số quy đổi giữa các hạng đất, diện tích với nhau Và xét cho cùng đó chính

là quan hệ lợi ích kinh tế giữa những người sử dụng đất với nhau Bên cạnh đó cần phải xem xét đến vị trí xa - gần, thuận lợi hay khó khăn trong canh tác một cách cụ thể Chú ý làm tốt những vấn đề trên thì việc DĐĐT mới thành công và mang lại hiệu quả trong phát triển nông nghiệp hàng hóa, tạo nên những vùng chuyên canh lớn Mặt khác, để phát triển sản xuất nông nghiệp thì phải tập trung ruộng đất để sản xuất lớn nhằm phát huy hiệu quả quỹ đất nông nghiệp trong điều kiện hiện nay

Trang 26

1.2 Vai trò của hệ thống chính trị cấp cơ sở trong công tác dồn điền đổi thửa

1.2.1 Vai trò của Đảng bộ cơ sở trong công tác dồn điền đổi thửa

Một trong những kinh nghiệm của công tác triển khai DĐĐT đạt kết quả cao

là có sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát của cấp ủy Đảng cơ sở Nơi nào cấp ủy Đảng cơ

sở thực hiện tốt nhiệm vụ, bộ mặt “tam nông” mới có những chuyến biến tích cực

Thứ nhất, Đảng ủy cơ sở có vai trò xây dựng Nghị quyết để triển khai công tác DĐĐT

Để tiến hành DĐĐT, Đảng cơ sở phải xây dựng Nghị quyết về công tác DĐĐT trên cơ sở các nghị quyết, chỉ thị của cấp ủy cấp trên Từ đó, Đảng ủy cơ sở chỉ đạo giao quyền, trách nhiệm cho từng tổ chức, cá nhân để tiến hành các công việc cụ thể theo đúng quy trình Hiện nay ở nước ta, về cơ bản các tổ chức chính trị

- xã hội ở cơ sở cũng như các cán bộ, đảng viên tại các địa phương đã nhận thức được vị trí, vai trò của mình trong công tác DĐĐT Những nhiệm vụ mà Đảng ủy địa phương ưu tiên thực hiện là tăng cường tuyên truyền để người dân hiểu và đồng thuận trong công tác DĐĐT, đầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng, kinh tế - kỹ thuật ngày càng hoàn thiện, xây dựng cơ cấu kinh tế phù hợp và không ngừng nâng cao đời sống của người dân địa phương… Để thực hiện được những chủ trương đó, Đảng

ủy cơ sở đã xác định việc tạo ra sự đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng bộ với

người dân là yếu tố then chốt

Thứ hai, Đảng ủy cơ sở có vai trò lãnh đạo, chỉ đạo điều hành việc thực hiện công tác DĐĐT

DĐĐT là một chủ trương có tính chiến lược của Đảng và Nhà nước ta nhằm xây dựng nông nghiệp, nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường, đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp CNH - HĐH đất nước và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc

Trang 27

Phát triển nông nghiệp, nông thôn là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, được triển khai trên phạm vi cả nước dưới sự lãnh đạo của Đảng mà trực tiếp là sự lãnh đạo của cấp ủy địa phương Nắm vững tinh thần đó, Đảng ủy cơ sở phải tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo các tổ chức chính trị - xã hội thực hiện công tác DĐĐT theo đúng chỉ thị của cấp trên Đảng ủy cơ sở cần phải tập trung chỉ đạo làm tốt công tác tư tưởng để mọi người dân nhận thức được sự cần thiết, tính tất yếu khách quan phải tiến hành chuyển đổi ruộng đất

Để công tác DĐĐT thành công, tập thể ban chấp hành Đảng bộ cơ sở phải đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động, mạnh dạn và quyết tâm đổi mới phương thức lãnh đạo cho phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương

Thứ ba, phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ, Đảng viên trong công tác DĐĐT

Đảng ủy đã chỉ đạo từng nhiệm vụ cụ thể trong hệ thống chính trị, mỗi chỉ tiêu, kế hoạch phải được triển khai một cách hiệu quả nhất Mỗi cán bộ, đảng viên trong thôn nhận thức rõ vai trò, trách nhiệm của mình, thông suốt các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, gương mẫu đi đầu trong công tác DĐĐT, nhất là trong công tác giải phóng mặt bằng, hiến đất làm đường giao thông, đóng góp ngày công Những việc làm thiết thực, cụ thể của cán bộ, đảng viên đã tác động trực tiếp đến người dân, giúp họ nhận thức rõ DĐĐT là nhiệm vụ quan trọng của địa phương

Hiện nay, cán bộ, đảng viên tại địa phương đã nhận thức sâu sắc vai trò của mình, tích cực tham gia Trong đó, việc quan trọng là tuyên truyền, để người dân hiểu ý nghĩa, đồng thuận và ủng hộ chương trình Cán bộ, đảng viên và nhân dân đã thực sự là một khối thống nhất, cùng hướng về một mục tiêu là sớm hoàn thành nhiệm vụ DĐĐT

Thực hiện tốt quy chế dân chủ, tất cả mọi việc phải công khai trước dân, để nhân dân được bàn bạc, được tham gia xây dựng, đặc biệt phải phát huy tối đa vai trò của cán bộ, đảng viên, đây là lực lượng ít hơn nhưng phải mạnh hơn và luôn tiên phong đi đầu

Trang 28

1.2.2 Vai trò của chính quyền cơ sở trong công tác dồn điền đổi thửa

DĐĐT là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và của cả toàn dân Trong đó, chính quyền cơ sở có vai trò đặc biệt quan trọng, là cấp trực tiếp tổ chức, quản lý quá trình DĐĐT ở địa phương

Thứ nhất, chính quyền cơ sở có vai trò xây dựng phương án DĐĐT phù hợp với điều kiện của từng địa phương

Thời gian vừa qua ở nước ta, quy trình triển khai công tác DĐĐT thường được các cấp chính quyền cơ sở thực hiện trên các bước cơ bản sau:

Bước 1: Lập dự án DĐĐT ở địa phương

Để triển khai thực hiện DĐĐT hiệu quả, việc đầu tiên của mỗi chính quyền địa phương phải thực hiện là xây dựng kế hoạch thực hiện của từng giai đoạn và từng năm Trong đó, chính quyền xã phải đặt ra mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể của từng giai đoạn, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của từng địa phương

Bước 2: Tổ chức thực hiện quá trình DĐĐT ở địa phương

Sau khi đã xác định những công việc cần phải thực hiện của các tổ chức, cá nhân, chính quyền cơ sở phải tổ chức thực hiện theo đúng quy trình

Bước 3: Kiểm tra đánh giá quá trình DĐĐT ở địa phương

Công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá có vai trò đặc biệt quan trọng đối với

sự lãnh đạo, tổ chức, thực hiện DĐĐT Nội dung kiểm tra, thanh tra, giám sát cần được chính quyền thực hiện toàn diện, trong quy hoạch, đầu tư, áp dụng chính sách

hỗ trợ, tiến độ thực hiện, Cần phải tiến hành kiểm tra về việc thực hiện theo các tiêu chí, tốc độ thực hiện DĐĐT, đồng thời kiểm tra về việc thực hiện chủ trương chính sách DĐĐT, kiểm tra đội ngũ cán bộ xem có thực hiện đúng nhiệm vụ của mình không, cuối cùng là kiểm tra về quá trình phân bổ và sử dụng nguồn lực

Chính quyền cấp xã với vị trí là một trong bốn cấp quản lý của hệ thống chính trị ở nước ta và là cấp quản lý trực tiếp con người và sự vụ xảy ra ở nông thôn, là một trong những chủ thể quan trọng trong thực hiện nhiệm vụ này Nghiên cứu vai trò cụ thể của chính quyền cấp xã trong công tác DĐĐT để thấy được

Trang 29

những đóng góp tích cực và hạn chế của chính quyền cấp xã để từ đó có những giải pháp hữu hiệu nhằm thực hiện thành công công tác DĐĐT

Thứ hai, chính quyền cơ sở có vai trò vận động, thuyết phục cán bộ, đảng viên và nhân dân tự nguyện và đồng thuận trong công tác DĐĐT

Phát huy tối đa vai trò, chức năng, nhiệm vụ của cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, vai trò tiên phong gương mẫu của cán bộ đảng viên trong quá trình tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương Chính quyền cơ sở chủ động phối hợp với Mặt trận Tổ quốc thực hiện có hiệu quả việc tổ chức các hội nghị tiếp xúc cử tri, trao đổi thông tin, nắm bắt tâm tư nguyện vọng chính đáng của cử tri và nhân dân xung quanh vấn đề DĐĐT; thông qua các cuộc tiếp xúc với cử tri và nhân dân, các vấn đề nổi cộm trong việc DĐĐT đều được phát hiện và giải quyết kịp thời

Thứ ba, chính quyền cơ sở có vai trò phối hợp chặt chẽ với các cấp ủy Đảng, Mặt trận Tổ quốc ở địa phương để thực hiện tốt các nhiệm vụ trước, trong và sau DĐĐT

Cấp ủy, chính quyền cơ sở đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến với các hình thức phong phú, thiết thực, phù hợp đối với cán bộ, đảng viên, các tổ chức, cá nhân và các tầng lớp nhân dân nâng cao nhận thức, ý thức, trách nhiệm, thực hiện tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước về các công tác trước, trong và sau DĐĐT Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, rà soát và hoàn thiện quy trình cấp giấy chứng nhận sát thực tế, dễ thực hiện, đảm bảo công khai, minh bạch Phân công, xác định cụ thể cơ quan chịu trách nhiệm chủ trì và các cơ quan phối hợp thực hiện Phát huy vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền và thủ trưởng các cơ quan, đơn vị Xử lý nghiêm các trường hợp cán bộ, công chức, viên chức nhũng nhiễu, gây phiền hà đối với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khi thực hiện các thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất

Trang 30

1.2.3 Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở

cơ sở trong công tác dồn điền đổi thửa

Thứ nhất, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ

sở có vai trò tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân tham gia DĐĐT

Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhưng không thể thoát ly vai trò lãnh đạo của Đảng, sự tuyên truyền vận động giác ngộ của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng nhân dân Ngoài việc tập trung chỉ đạo của ban chấp hành Đảng ủy thì tất cả các tổ chức đoàn thể trong hệ thống chính trị xã phải làm tốt công tác tuyên truyền vận động, đi sâu nắm bắt tâm tư nguyện vọng của quần chúng nhân dân, kịp thời giải đáp những vướng mắc của quần chúng nhằm tạo nên sự thống nhất cao trong mọi tầng lớp nhân dân, mọi đối tượng quần chúng để có cơ sở tạo điều kiện triển khai nhanh và đúng tiến độ

Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cơ sở như: Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đã tích cực tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân tham gia DĐĐT Nhiều hình thức tuyên truyền đã được vận dụng linh hoạt và sáng tạo như thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua hội họp Để công tác tuyên truyền có hiệu quả, các tổ chức Mặt trận cơ

sở đều thành lập các Ban Công tác Mặt trận tại các thôn xóm, kết hợp vói Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ cơ sở tuyên truyền, vận động hội viên, đoàn viên của mình trực tiếp hoặc qua các tờ rơi nhằm giúp cho nhân dân hiểu rõ hơn về chủ trương của Đảng và Nhà nước trong phong trào DĐĐT

Cán bộ Mặt trận Tổ quốc các xã phối hợp với cán bộ cấp ủy Đảng, chính quyền hướng dẫn việc thành lập Ban Giám sát đầu tư cộng đồng; kiện toàn Ban Thanh tra nhân dân ở các xã; đào tạo, tập huấn cho nhân dân; tích cực tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân ở xã thấy được tầm quan trọng và trách nhiệm của mình trong việc chung tay cùng xây dựng quê hương đổi mới

Trang 31

Thứ hai, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở

có vai trò giám sát quá trình thực hiện DĐĐT

Thực tiễn lịch sử dân tộc ta đặc biệt từ khi Đảng ra đời và lãnh đạo đất nước, thời chiến cũng như thời bình, cái gốc của thắng lợi chính là ở “dân chủ” và “đồng thuận” Muốn có sức mạnh phải “đồng thuận” Muốn có “đồng thuận” phải “dân chủ” Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội toàn quốc lần thứ XII của Đảng chỉ rõ:

“Tiếp tục thể chế hoá, cụ thể hoá mối quan hệ “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, nhất là nội dung nhân dân làm chủ và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát” Nhân dân thông qua Mặt trận, thực hiện quyền giám sát quá trình tiến hành DĐĐT để giúp Đảng và Nhà nước thực hiện thành công nhiệm vụ chính trị này”

Thứ ba, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở

có vai trò góp ý điều chỉnh các vấn đề liên quan đến công tác DĐĐT

Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội cần sơ kết, tổng kết việc Mặt trận tham gia DĐĐT để rút kinh nghiệm các xã làm điểm, làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc trong việc phối hợp với chính quyền, đoàn thể chỉ đạo thực hiện những vấn đề trọng tâm, như xây dựng hệ thống giao thông thủy lợi nội đồng, vấn đề huy động và

sử dụng vốn cho công tác DĐĐT Mỗi vấn đề đều đánh giá làm rõ kết quả, rút kinh nghiệm và đề ra kế hoạch thực hiện các bước tiếp theo Đây là một trong những hoạt động cần thiết nhằm tăng tính hiệu quả trong hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong công tác DĐĐT

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở phát huy tính chủ động, sáng tạo, xây dựng kế hoạch tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân hiểu rõ về quyền lợi và nghĩa vụ của người sử dụng đất, chấp hành nghiêm quy định của Nhà nước về kê khai, đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận Đồng thời, thực hiện tốt chức năng giám sát, phối hợp với các cơ quan chức năng giải quyết kịp thời, có hiệu quả các vụ việc khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn

Trang 32

Như vậy, việc DĐĐT đất nông nghiệp là một trong những chủ trương lớn, là một “cuộc cách mạng” đối với nông dân nhằm gắn kết và liên minh giữa giai cấp công nhân và nông dân, rút ngắn khoảng cách giữa nông thôn và thành thị Thực chất DĐĐT đáp ứng ngày một tốt hơn về nhu cầu vật chất cũng như giá trị cho mỗi

một người dân Hay nói theo phép duy vật biện chứng là chính là “Tạo ra một lực lượng sản xuất mới dựa trên quan hệ sản xuất tiến bộ” Việc DĐĐT là một cuộc

cách mạng toàn dân và toàn diện và liên tục, xuyên suốt và triệt để đối với đời sống nông dân

Việc tiến hành DĐĐT đất nông nghiệp là trách nhiệm và nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, trước hết phải thể hiện sự xuyên suốt, nhất quán và đồng bộ từ chủ trương, đường lối đến cơ chế, chính sách về mặt lý luận, từ mỗi một việc làm ngay

trong hệ thống chính trị đến mỗi một người dân “Cha nói con nghe, trên nói thì dưới chấp hành, dưới phản hồi thì trên ghi nhận và chắt lọc” Sự đồng thuận giữa

các thành tố của hệ thống chính trị cơ sở là hệ quả từ vai trò của cấp ủy Đảng trong việc chọn bước đi đến tuyên truyền và vấn đề tư tưởng trong Đảng, trong quần chúng nhân dân Đó là hành động cách mạng đến vai trò gương mẫu tiên phong của cấp ủy đến mỗi một cán bộ đảng viên nên đã tạo ra sự đồng thuận trong quần chúng nhân dân

Đồng thuận “là động lực, là nguồn lực, là nội lực” để công tác triển khai công

tác DĐĐT thành công Sự đồng thuận của hệ thống chính trị cơ sở trong DĐĐT

mang ý nghĩa nhân văn cao đẹp Đó là biểu hiện cụ thể của bài học dân là gốc: “Lật thuyền mới biết sức dân như nước”

Tóm lại, mỗi một kết quả đạt được là tổng hòa của các mối quan hệ trong hệ thống chính trị cơ sở, sự thể hiện trong vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý điều hành của bộ máy Nhà nước và các đoàn thể quần chúng nhân dân

Trang 33

Tiểu kết chương 1

Dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp (DĐĐT) là chủ trương của chính quyền Việt Nam tiến hành xây dựng nông thôn mới, quy hoạch lại đồng ruộng theo hướng quy vùng sản xuất hàng hoá Dồn điền đổi thửa giúp tăng diện tích trên một thửa ruộng, tạo thuận lợi cho hộ canh tác, áp dụng cơ giới hóa nông nghiệp Biện pháp thực hiện còn có quy hoạch lại giao thông, thuỷ lợi nội đồng, đưa cơ giới hoá

và ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến vào sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; từng bước phân công lao động trong từng địa bàn, nhằm tăng năng suất lao động, tăng giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích sản xuất Theo chủ trương này, các hộ nông dân được chia lại đất, đồng thời nhà nước cấp mới cho họ Giấy chứng nhận quyền sở hữu đất để có thể vay vốn ngân hàng, ngoài ra họ còn được nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí

Theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 7 khóa X về nông nghiệp, nông dân và nông thôn, để tiến hành DĐĐT, điều quan trọng là phải quy hoạch lại đồng ruộng theo hướng quy vùng sản xuất hàng hoá, quy hoạch giao thông, thuỷ lợi nội đồng đáp ứng yêu cầu đưa cơ giới hoá và ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến vào sản xuất, làm tăng năng suất lao động

Đảng, Nhà Nước ta đã xác định DĐĐT là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị

và của toàn xã xã hội, cấp ủy Đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo điều hành trong quá trình xây dựng quy hoạch, kế hoạch, tổ chức thực hiện, do Mặt trận Tổ quốc chủ trì cùng các tổ chức chính trị vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong việc DĐĐT và phải coi đây là việc làm thường xuyên và mang tính lâu dài của cả hệ thống chính trị, chứ không phải một việc làm mang tính phong trào, hay mang tính thời sự trong một giai đoạn nhất định

Trang 34

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG

CHÍNH TRỊ CẤP CƠ SỞ TRONG CÔNG TÁC DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA Ở TỈNH

HẢI DƯƠNG

2.1 Tình hình thực hiện vai trò của hệ thống chính trị cấp cơ sở trong công tác dồn điền đổi thửa ở tỉnh Hải Dương

2.1.1 Khái quát chung về tỉnh Hải Dương và hệ thống chính trị cơ sở ở tỉnh Hải Dương

 Khái quát chung về tỉnh Hải Dương:

Hải Dương là một tỉnh nằm ở đồng bằng sông Hồng, thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Diện tích: 1662 km2 Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Hải Dương , hiện là đô thị loại 2, nằm cách thủ đô Hà Nội 57km về phía Đông, cách thành phố Hải Phòng 45km về phía tây Lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc đã

để lại cho vùng đất này một tài sản vô giá với hàng trăm di tích lịch sử văn hóa Vùng đất này gắn bó với tên tuổi và sự nghiệp của nhiều danh nhân như Trần Nguyên Đán, Nguyễn Trãi, Mạc Đĩnh Chi, Phạm Sư Mạnh, nơi sinh ra và lớn lên của đại danh y Tuệ Tĩnh

+ Vị trí địa lý: Hải Dương là một trong 7 tỉnh, thành thuộc vùng kinh tế trọng

điểm phía Bắc, tiếp giáp với các vùng sau: Phía Tây Bắc giáp tỉnh Bắc Ninh, phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang, phía Đông Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Đông giáp thành phố Hải Phòng, phía Nam giáp tỉnh Thái Bình và phía Tây giáp tỉnh Hưng Yên

+ Khí hậu: Hải Dương nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình

hàng năm là 23,30C, nhiệt độ cao nhất ở mùa hè không quá 24°C, giờ nắng trung bình hàng năm là 1524 giờ, lượng mưa trung bình hàng năm 1.300 - 1.700 mm, độ

ẩm trung bình là 85 - 87%

+ Địa hình: Hải Dương được chia làm 2 vùng: vùng đồi núi và vùng đồng bằng

Vùng đồi núi nằm ở phía bắc tỉnh, chiếm 11% diện tích tự nhiên gồm 13 xã thuộc huyện Chí Linh và 18 xã thuộc huyện Kinh Môn; là vùng đồi núi thấp, phù hợp với việc trồng cây ăn quả, cây lấy gỗ và cây công nghiệp ngắn ngày Vùng đồng bằng

Trang 35

còn lại chiếm 89% diện tích tự nhiên do phù sa sông Thái Bình bồi đắp, đất màu

mỡ, thích hợp với nhiều loại cây trồng, sản xuất được nhiều vụ trong năm

+ Dân số: Hải Dương có 2.463.890 người với mật độ dân số 1.488 người/km² (

Năm 2006)

Tính đến năm 2017, tỉnh Hải Dương có 1 Thành Phố trung tâm, 1 Thị xã và 10 Huyện trực thuộc gồm: Thành phố Hải Dương, Thị xã Chí Linh, Huyện Nam Sách, Kinh Môn, Kim Thành, Thanh Hà, Gia Lộc, Cẩm Giàng, Bình Giang, Tứ Kỳ, Ninh Giang, Thanh Miện

- Cơ cấu tổ chức hệ thống chính trị của tỉnh Hải Dương:

Bộ máy cơ quan Đảng cấp tỉnh gồm có:

- Văn phòng Tỉnh ủy: Có 2 phòng, và 2 bộ phận Biên chế có 23 người

- Ban Tổ chức Tỉnh ủy: Gồm có văn phòng ban và 3 phòng chuyên môn giúp

việc cho lãnh đạo Biên chế có 25 người, trong đó số người tham gia công tác ngành dưới 5 năm là 20%, còn lại đều đã từng công tác từ 10 năm trở lên

- Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy: Mô hình tổ chức bộ máy gồm có lãnh đạo ban,

gồm: 01 trưởng ban, 03 phó ban, văn phòng và 4 phòng chuyên môn Biên chế có

21 người với trình độ chuyên môn trên 5 năm

- Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy: Thực hiện theo mô hình tổ chức bộ máy gồm có

Văn phòng và 2 bộ phận, 5 tỉnh ủy viên chuyên trách Biên chế toàn cơ quan là 21 người

- Ban Dân vận Tỉnh ủy: Có 01 Trưởng ban là Tỉnh ủy viên, 04 chuyên viên

được phân công theo dõi các huyện và đoàn thể dưới sự chỉ đạo trực tiếp của lãnh đạo

- Báo Hải Dương: Gồm 01 Tổng biên tập, 1 Phó Tổng biên tập, 6 Ban

chuyên môn là những bộ phận tham mưu và trực tiếp xử lý công việc

- Trường Chính trị Tỉnh: Gồm 7 khoa, 03 phòng với 75 cán bộ, công nhân

viên, trong đó, 38% là giáo viên

Trang 36

- Ban Kinh tế Tỉnh ủy: Trước khi giải thể có 11 người, cơ cấu tổ chức gồm 3

phòng Ban Kinh tế Tỉnh ủy đã thực hiện chức năng tham mưu cho Tỉnh ủy trong việc xây dựng đề án, chương trình Nghị quyết quan trọng về kinh tế - xã hội; tham gia vào công tác kiểm tra việc thực hiện những Nghị quyết lớn về kinh tế

- Ban Nội chính Tỉnh ủy: Biên chế trước khi giải thể có 5 người, tổ chức bộ

máy theo mô hình chuyên viên theo dõi, tổng hợp tham mưu trực tuyến cho lãnh đạo

- Bộ máy các cơ quan Đảng ở cấp huyện, thành phố:

Trong toàn tỉnh, các cơ quan Đảng ở cấp huyện, thành phố được tổ chức theo một mô hình thống nhất: Gồm Văn phòng cấp ủy, Ban Tổ chức, Ủy ban Kiểm tra, Ban tuyên giáo, Trung tâm bồi dưỡng Chính trị

Nhìn chung mô hình như vậy là hợp lý, đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị cấp ủy Các cơ quan đã phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, không có sự chồng chéo Tuy nhiên, về cơ chế hoạt động hiện nay, các huyện và thành phố còn vướng mắc về tổ chức hoạt động, về tổ chức hoạt động của Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị chưa phát huy và thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ

 Hệ thống chính trị cấp cơ sở ở tỉnh Hải Dương:

Hải Dương là một tỉnh đồng bằng sông Hồng, với nhiều thuận lợi về vị trí địa lý, tự nhiên, xã hội, Hải Dương đang chuyển mình mạnh mẽ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn đấu sớm trở thành tỉnh công nghiệp Toàn tỉnh

có 265 đơn vị xã, phường, thị trấn (trong đó có 227 xã, 25 phường và 13 thị trấn)

Đội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) hiện có 2.702 người với 11 chức danh, trong đó có 402 cán bộ được bố trí kiêm nhiệm chức danh không chuyên trách cấp xã Đội ngũ công chức cấp xã có tổng số 2.389 người với

07 chức danh theo quy định tại nghị định 92/2009/NĐ-CP (Theo số liệu thống kê của Ban Tổ chức Tỉnh ủy tính đến 15-6-2016)

Đội ngũ cán bộ cấp xã, hầu hết trưởng thành ở cơ sở, đã trải qua nhiều cương

vị công tác ở địa phương; có phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống tốt; có năng lực,

Trang 37

kinh nghiệm công tác; cơ bản đáp ứng tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn, trình độ

lý luận chính trị (trong đó có 47,5% có trình độ chuyên môn đại học; 82,1% có trình

độ lý luận trung cấp trở lên) Đa số cán bộ cấp xã phát huy được tính tiền phong gương mẫu, nhiệt tình trách nhiệm với công việc và nỗ lực hoàn thành chức trách Cán bộ được phân công kiêm nhiệm thêm các chức danh, hầu hết đều hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, của quá trình cải cách hành chính hiện nay, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở Hải Dương còn một số hạn chế

Số lượng cán bộ, công chức cấp xã có xu hướng ngày càng tăng, tạo nên tình trạng vừa thừa vừa thiếu Một bộ phận công chức cấp xã chưa được bố trí, sử dụng

có hiệu quả (các chức danh tài chính - kế toán, tư pháp - hộ tịch, văn hóa - xã hội

bố trí 2 người dẫn đến lãng phí nhân lực)

Đội ngũ cán bộ, công chức nhiều người trưởng thành từ thực tiễn nhưng chưa được đào tạo cơ bản; một số có tư tưởng bảo thủ, trì trệ; tác phong, lề lối làm việc chậm đổi mới Một số cán bộ, công chức tinh thần trách nhiệm trong thực thi công vụ chưa cao, thái độ phục vụ nhân dân chưa tốt; trình độ, năng lực còn hạn chế, ngại học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ

Một bộ phận cán bộ, công chức có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống; thiếu gương mẫu trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ; không trung thực, thẳng thắn trong tự phê bình và phê bình; buông lỏng quản lý dẫn dến xảy ra vi phạm pháp luật về quản lý đất đai, tài chính tại địa phương Một số cán bộ, công chức xã còn nhũng nhiễu, tiêu cực, gây phiền hà cho tổ chức và công dân

Trang 38

2.1.2 Tình hình thực hiện vai trò của hệ thống chính trị cấp cơ sở trong công tác dồn điền đổi thửa ở tỉnh Hải Dương

Thời gian qua, công tác DĐĐT đã được tỉnh Hải Dương xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của tỉnh, nhằm phát triển nông thôn theo hướng

bền vững Với phương châm “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra và dân hưởng lợi”,

phong trào DĐĐT ở Hải Dương đã được nhân dân trong tỉnh hưởng ứng sâu rộng Nhân dân hiến đất, đóng góp công sức tiền của cùng với nhà nước tiến hành DĐĐT, xây dựng nông thôn mới

Công tác DĐĐT được xác định là nhiệm vụ trọng tâm trước mắt cũng như lâu dài của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, do đó vai trò của hệ thống chính trị trong công tác DĐĐT rất quan trọng và cấp thiết

 Vai trò của Đảng cơ sở trong công tác dồn điền đổi thửa ở tỉnh Hải Dương Khi lựa chọn DĐĐT là bước đi đầu tiên trong xây dựng nông thôn mới, các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương xác định đây là một nhiệm vụ rất khó khăn

Vì nó đụng chạm đến đất đai, tư liệu sản xuất chủ yếu của người nông dân Đây là vấn đề nhạy cảm và phức tạp Nếu tiến hành không thành công thậm chí sẽ rất dễ dẫn đến mất ổn định chính trị ở địa phương Tư tưởng của đa số người dân không muốn có sự xáo trộn, nhất là đối với những hộ đang canh tác ở những thửa ruộng tốt, ruộng gần nên đó cũng là một lực cản rất lớn trong quá trình thực hiện Một khó khăn nữa là năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ ở cơ sở còn nhiều hạn chế, một bộ phận ngại khó, ngại khổ, ngại va chạm nên sẽ dẫn đến tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào cấp trên, không muốn triển khai DĐĐT

Đảng và chính quyền địa phương xác định DĐĐT chính là bố trí, sắp xếp lại ruộng đất theo quy hoạch, góp phần tổ chức lại sản xuất, bố trí các vùng sản xuất để khai thác tiềm năng, thế mạnh của đất đai và điều kiện tự nhiên Thông qua DĐĐT cũng giúp cho việc quy hoạch lại hệ thống giao thông nội đồng, bố trí sắp xếp lại hệ thống kênh mương Có thể nói, DĐĐT tuy không phải là một tiêu chí bắt buộc, nhưng nó lại là yếu tố rất quan trọng để thực hiện nhiều tiêu chí khác trong bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới

Trang 39

Thứ nhất, vai trò của Đảng được thể hiện tập trung nhất trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo thông qua đường lối, chủ trương, chính sách về công tác DĐĐT ở tỉnh Hải Dương

Trước khi Luật Đất đai năm 1993 ra đời, Tỉnh ủy Hải Hưng ( từ ngày 1/1/1997, tỉnh Hải Hưng được chia tách thành hai tỉnh là Hải Dương và Hưng Yên)

đã có Nghị quyết 03- NQ/TU ngày 28/4/1992 về việc giao ruộng đất cho nông dân

và UBND tỉnh Hải Hưng cũng đã có Quyết định số 721- QĐ/UB, ngày 17/9/1992 cho làm thí điểm giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho hộ nông dân Sau khi thí điểm đạt kết quả tốt, ngày 25/2/1993 UBND tỉnh Hải Hưng ra Quyết định số 235- QĐ/UB để thực hiện việc giao quyền sử dụng đất cho hộ nông dân trong toàn tỉnh Đến nay, Đảng cơ sở ở Hải Dương tiếp tục thực hiện theo Nghị quyết số 14- NQ/TU, ngày 24/9/2013 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Hải Dương về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới đến năm 2020; Kế hoạch số 1704/ KH-UBND ngày 13/9/2013 của UBND tỉnh Hải Dương “Về việc thực hiện dồn điền, đổi thửa, gắn với chỉnh trang đồng ruộng trên địa bàn tỉnh Hải Dương giai đoạn 2013-2015”, Hướng dẫn số 761- HD/LN ngày 03/11/2013 của Liên ngành Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn - Tài nguyên và Môi trường

Căn cứ quy định của pháp luật, các văn bản của tỉnh, huyện, thành phố và điều kiện thực tế của địa phương, Đảng uỷ, UBND cấp xã cụ thể hóa thành các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo như: Đảng ủy họp ban hành Nghị quyết chuyên đề về DĐĐT

và chỉnh trang đồng ruộng giai đoạn 2013-2015; phân công nhiệm vụ và địa bàn phụ trách cho từng cấp uỷ viên Ban Quản lý DĐĐT, đồng thời thực hiện nhiệm vụ DĐĐT của địa phương; thành lập Tổ công tác giúp việc Ban quản lý; xây dựng phương án, lập

kế hoạch thực hiện và hướng dẫn Tiểu ban ở thôn thực hiện phương án

Thứ hai, Đảng lãnh đạo xây dựng trình tự xây dựng và tổ chức thực hiện phương án DĐĐT

Để thực hiện thắng lợi chủ trương DĐĐT, Đảng cấp cơ sở ở các xã đã đề ra

Trang 40

hành chặt chẽ, đồng bộ, đảm bảo công khai dân chủ và đúng luật, tạo sự đồng thuận trong cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân ngay từ bước khởi đầu Đảng

ủy các xã đã đề ra Nghị quyết lãnh đạo và được thảo luận rộng rãi tới các chi bộ Đảng Đồng thời các xã đã kiện toàn Ban chỉ đạo, Ban quản lý xã và các ban phát triển thôn, tiến hành DĐĐT

UBND các cấp tham mưu với Ban chấp hành Đảng bộ ban hành Nghị quyết

về DĐĐT, chỉnh trang đồng ruộng để làm cơ sở cho các chi bộ lãnh đạo triển khai thực hiện Đảng ủy chỉ ra nghị quyết lãnh đạo khi mà chủ trương, kế hoạch đó nhận được sự đồng thuận từ phía người dân Có như vậy mới bảo đảm chắc chắn rằng nghị quyết sẽ sớm đi vào cuộc sống và thực hiện thắng lợi

Dưới sự chỉ đạo của Đảng ủy các xã, ngay sau khi thành lập, các tổ chức này

đã tiến hành họp phân công nhiệm vụ cụ thể cho mỗi thành viên, khẩn trương triển khai các kế hoạch, các nội dung phần việc phải làm Khối dân vận cơ sở ở các xã trên địa bàn toàn tỉnh cũng vào cuộc, cùng các tổ dân vận ở các thôn, xóm tích cực vận động, tuyên truyền nhân dân hưởng ứng thực hiện các phong trào thi đua phát triển kinh tế, xã hội tại địa phương, trọng tâm là phong trào chung tay cùng cả nước xây dựng nông thôn mới Điển hình trong phong trào này là các đơn vị như: xã Ninh Thành, Hồng Thái, Tân Hưng thuộc huyện Ninh Giang, xã Đoàn Kết ( Thanh Miện), Cổ Dũng, Kim Anh ( Kim Thành)…

Thứ ba, sự lãnh đạo của Đảng cơ sở trong công tác DĐĐT thể hiện qua công tác tuyên truyền, vận động mọi tầng lớp nhân dân triển khai nhanh và đúng tiến độ

Đảng ta đã xác định công tác tuyên truyền, vận động phải được đặt lên hàng đầu, phải đi trước một bước và phải được triển khai theo lộ trình, xác định từng nội dung, cách thức triển khai cụ thể trong từng thời điểm, giai đoạn cụ thể Cần đi sâu nắm bắt tâm tư nguyện vọng của quần chúng nhân dân, kịp thời giải đáp những vướng mắc của quần chúng nhằm tạo nên sự thống nhất cao trong mọi tầng lớp

Ngày đăng: 02/07/2022, 09:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. TS. Đào Thế Anh (2014), Nghiên cứu thực tiễn dồn điền đổi thửa ở một số tỉnh và đề xuất chính sách khuyến khích dồn điền đổi thửa nâng cao hiệu quả sử dụng đất ở Đồng bằng sông Hồng, Bộ môn hệ thống nông nghiệp- Viện Khoa học Kĩ thuật Nông nghiệp Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực tiễn dồn điền đổi thửa ở một số tỉnh và đề xuất chính sách khuyến khích dồn điền đổi thửa nâng cao hiệu quả sử dụng đất ở Đồng bằng sông Hồng
Tác giả: TS. Đào Thế Anh
Nhà XB: Bộ môn hệ thống nông nghiệp- Viện Khoa học Kĩ thuật Nông nghiệp Việt Nam
Năm: 2014
3. Ban chỉ đạo huyện Nam Sách 2014, Báo cáo kết quả chỉ đạo điểm dồn điền đổi thửa tại xã Quốc Tuấn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả chỉ đạo điểm dồn điền đổi thửa tại xã Quốc Tuấn
Tác giả: Ban chỉ đạo huyện Nam Sách
Năm: 2014
4. Báo cáo Nghiên cứu đề xuất các giải pháp khắc phục tình trạng manh mún đất đai trong nông nghiệp ở ĐBSH (Phần thực trạng và các giải pháp chủ yếu) của Viện quy hoạch và phát triển nông nghiệp- Bộ NN và PTNT tháng 1/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đề xuất các giải pháp khắc phục tình trạng manh mún đất đai trong nông nghiệp ở ĐBSH (Phần thực trạng và các giải pháp chủ yếu)
5. Báo cáo kết quả thống kê đất đai năm 2013 - UBND tỉnh Hải Dương ngày 22 tháng 1 năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thống kê đất đai năm 2013
6. Báo cáo của UBND huyện Gia Lộc về “Kết quả triển khai thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM và công tác dồn điền, đổi thửa gắn với chỉnh trang đồng ruộng, ngày 5 tháng 5 năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả triển khai thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM và công tác dồn điền, đổi thửa gắn với chỉnh trang đồng ruộng
7. Báo cáo số 02/BC- BCĐ ngày 10-4-2015 về “Kết quả công tác dồn điền đổi thửa gắn với chỉnh trang ruộng đồng năm 2014, nhiệm vụ năm 2015” của Ban chỉ đạo huyện Ninh Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kết quả công tác dồn điền đổi thửa gắn với chỉnh trang ruộng đồng năm 2014, nhiệm vụ năm 2015
8. Nguyễn Văn Bích và Chu Tiến Quang (1996), Chính sách kinh tế và vai trò của nó đối với phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách kinh tế và vai trò của nó đối với phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Bích, Chu Tiến Quang
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
10. TS. Nguyễn Hữu Cát, Chuyển đổi ruộng đất từ ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn ở tỉnh Hải Dương, 1997 – 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển đổi ruộng đất từ ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn ở tỉnh Hải Dương
14. Cổngthông tin điện tử tỉnh Hải Dương, Điều kiện tự nhiên- xã hội, ( 22/8/2013) 15. PGS.TS Trần Thị Minh Châu ( 2011), Chính sách đất nông nghiệp ở Việt Nam,Tạp chí Cộng sản điện tử, ( 26/7/2011) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách đất nông nghiệp ở Việt Nam
Tác giả: PGS.TS Trần Thị Minh Châu
Nhà XB: Tạp chí Cộng sản điện tử
Năm: 2011
16. Chỉ thị số 16CT/HU ngày 2/4/2002 của Ban thường vụ Huyện ủy Nam Sách “V/v: Tập trung chỉ đạo hướng dẫn nông dân chuyển đổi ruộng đất từ ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn” Sách, tạp chí
Tiêu đề: V/v: "Tập trung chỉ đạo hướng dẫn nông dân chuyển đổi ruộng đất từ ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn
18. Nguyễn Duyên (2015), Hải Dương đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới, Báo Công thương, (01/10/2015) http://baocongthuong.com.vn/hai-duong-day-manh-xay-dung-nong-thon-moi.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hải Dương đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới
Tác giả: Nguyễn Duyên
Nhà XB: Báo Công thương
Năm: 2015
19. Đảng cộng sản Việt Nam (1993), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1993
20. Đảng cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
21. Đảng cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
22. Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
23. Đảng cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa X
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
24. Đảng cộng sản Việt Nam (2008), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa X
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2008
25. Đảng cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa XI
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
26. Đảng cộng sản Việt Nam (2011), Điều lệ Đảng cộng sản Việt Nam ( khóa XI), Tạp chí xây dựng Đảng, ngày 19 tháng 01 năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí xây dựng Đảng
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Năm: 2011
27. Đảng cộng sản Việt Nam ( 2011), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w