1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu nghệ thuật hát xẩm phục vụ phát triển du lịch trên địa bàn hà nội (đào tạo thí điểm)

126 83 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Nghệ Thuật Hát Xẩm Phục Vụ Phát Triển Du Lịch Trên Địa Bàn Hà Nội
Tác giả Trần Thị Giang
Người hướng dẫn PGS.TS Triệu Thế Việt
Trường học Đại học quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Du lịch
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp và quy trình khai thác thị trường khách du lịch quốc tế nhằm phát triển du lịch văn hóa, trong đó có loại hình Nghệ thuật biểu diễn truyền thống hát Xẩm Hà Nội .... Những năm

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

***

TRẦN THỊ GIANG

NGHIÊN CỨU NGHỆ THUẬT HÁT XẨM PHỤC VỤ PHÁT

TRIỂN DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH DU LỊCH

Hà Nội, 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

***

TRẦN THỊ GIANG

NGHIÊN CỨU NGHỆ THUẬT HÁT XẨM PHỤC VỤ PHÁT

TRIỂN DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH DU LỊCH

Mã số: Thí điểm

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRIỆU THẾ VIỆT

Hà Nội, 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả cam đoan luận văn “Nghiên cứu nghệ thuật hát Xẩm phục vụ phát triển du lịch trên địa bàn Hà

Nội” là công trình nghiên cứu của chính tác giả

Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào

Hà Nội, tháng 12 năm 2017

Học viên thực hiện

Trần Thị Giang

Trang 4

Mục lục

1 Lý do lựa chọn đề tài 10

2 Lịch sử nghiên cứu 12

3 Mục tiêu nghiên cứu 16

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 16

5 Những vấn đề mới được nghiên cứu của luận văn 18

6 Phương pháp nghiên cứu 18

7 Bố cục luận văn 19

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NGHỆ THUẬT HÁT XẨM TẠI HÀ NỘI 20

1.1 Khái niệm, đặc điểm khách du lịch, khách du lịch quốc tế 20

1.1.1 Khái niệm khách du lịch 20

1.1.2 Đặc điểm khách du lịch quốc tế 22

1.1.3 Đặc điểm tâm lý, thị hiếu, tiêu dùng khách du lịch quốc tế 25

1.2 Giá trị văn hóa truyền thống và những giá trị phi vật thể của các loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống 26

1.2.1 Những giá trị văn hóa truyền thống 26

1.2.1.1 Văn hóa và bản sắc văn hóa truyền thống 26

1.2.1.2 Văn hóa truyền thống Việt Nam 28

1.2.2 Giá trị văn hóa phi vật thể của các loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống Việt Nam 29

1.2.2.1 Văn hóa vật thể và phi vật thể 29

1.2.2.2 Văn hóa phi vật thể và những loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống Việt nam 30

1.3 Khái lược về sự hình thành và phát triển của nghệ thuật hát Xẩm 31

1.3.1 Nguồn gốc xuất xứ của hát Xẩm 31

1.3.2 Những bước thăng trầm của nghệ thuật hát Xẩm 33

1.4 Sự phát triển của nghệ thuật hát Xẩm ở Hà Nội 34

Trang 5

1.4.1 Sự ra đời nghệ thuật hát Xẩm ở Hà Nội 34

1.4.2 Sự phát triển của hát Xẩm ở Hà Nội 37

1.4.2.1 Môi trường diễn xướng 38

1.4.2.2 Tổ chức dàn nhạc và nhạc cụ Xẩm 38

1.4.2.3 Hệ thống làn điệu và lời ca 42

1.4.2.4 Kỹ thuật trình diễn 45

1.4.3 Giá trị của nghệ thuật hát Xẩm đối với sự phát triển du lịch 46

1.4.3.1 Gía trị văn hóa – nghệ thuật 46

1.4.3.2 Giá trị của nghệ thuật hát Xẩm đối với sự phát triển du lịch Hà Nội 46

Tiểu kết chương 1 49

Chương 2 THỰC TRẠNG KHAI THÁC LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT BIỂU DIỄN TRUYỀN THỐNG HÁT XẨM HÀ NỘI TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH 50

2.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của du lịch Hà Nội 50

2.1.1 Khái quát về ngành du lịch Hà Nội 50

2.1.2 Mục tiêu phát triển du lịch Hà Nội đến 2020 53

2.1.2.1 Điểm mạnh 54

2.1.2.2 Điểm yếu cần khắc phục 55

2.1.3 Tình hình thị trường khách du lịch quốc tế đến Hà Nội giai đoạn 2011 – 2016 56

2.2 Hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển du lịch và vấn đề gìn giữ bản sắc văn hóa, trong đó có việc giữ gìn các giá trị văn hóa phi vật thể 60

2.2.1 Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế tới hoạt động biểu diễn nghệ thuật truyền thống 60

2.2.2 Hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển du lịch và vấn đề gìn giữ các giá trị văn hoá phi vật thể 61

2.3 Thực trạng hoạt động biểu diễn truyền thống tại Hà Nội trong thời gian qua và hiện nay 62

2.3.1 Khái quát chung về thực trạng biểu diễn nghệ thuật truyền thống phục vụ du lịch 62

2.3.2 Thực trạng tổ chức hoạt động nghệ thuật Hát xẩm phục vụ phát triển du lịch tại Hà Nội 65

2.3.2.1 Những khó khăn 65

Trang 6

2.3.2.2 Những thuận lợi 74

Tiểu kết chương 2 77

Chương 3 CÁC GIẢI PHÁP KHAI THÁC LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT BIỂU DIỄN TRUYỀN THỐNG NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÁT TRIỂN DU LỊCH HÀ NỘI 79

3.1 Phương hướng mục tiêu của du lịch Hà Nội 2015 - 2020 79

3.2 Phương pháp và quy trình khai thác thị trường khách du lịch quốc tế nhằm phát triển du lịch văn hóa, trong đó có loại hình Nghệ thuật biểu diễn truyền thống hát Xẩm Hà Nội 82

3.2.1 Phương pháp 82

3.2.1.1 Phương pháp tạo dựng thị trường thông qua mạng lưới bán sản phẩm rộng khắp 82

3.2.1.2 Tiếp thị trực tiếp thông qua đội ngũ nhân viên tiếp thị 83

3.2.1.3 Phương pháp khai thác triển khai thị trường du lịch quốc tế thông qua các mối quan hệ và hệ thống bạn hàng truyền thông 84

3.2.1.4 Phương pháp thu hút khách hàng bằng thương hiệu 84

3.2.1.5 Phương pháp khai thác thị trường bằng sản phẩm đa dạng và độc đáo 85

3.2.1.6 Phương pháp khai thác thị qua mạng 85

3.2.2 uy tr nh hai thác thị trường hách du ịch quốc tế trong phát triển loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống hát xẩm Hà Nội 86

3.2.2.1 ác định thị trường khách mục tiêu và nhu cầu của h 86

3.2.2.2 ây dựng chương tr nh tour du lịch có sản phẩm du lịch đ c trưng là các loại h nh nghệ thuật biểu diễn truyền thống theo mong muốn của khách 87

3.2.2.3 em xét khả năng đáp ứng của các nhà cung cấp dịch vụ biểu diễn truyền thống 87

3.2.2.4 Đánh giá lại chất lượng sản phẩm đ cung cấp cho khách sau khi kết thúc một chương tr nh du lịch 88 3.3 Các giải pháp khai thác hiệu quả loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống hát Xẩm trong phát triển du lịch Hà Nội 88

3.3.1 Đề xuất với các cấp quản lý 88

3.3.2 Tổ chức các câu lạc bộ hát xẩm 95

Trang 7

3.3.3 Tổ chức các chương tr nh biểu diễn hát Xẩm kết hợp với một số loại hình nghệ thuật truyền

thống khác ở Hà Nội 100

3.3.4 Đưa nghệ thuật hát Xẩm vào các chương tr nh tour du ịch 101

3.3.5 Liên kết với các khách sạn, nhà hàng đưa hát Xẩm đến với du lich một cách linh hoạt 103

3.3.6 Chuyên môn hóa các sản phẩm du lịch nghệ thuật biểu diễn trên địa bàn hiện nay 105

3.3.7 Quảng bá trong và nước ngoài về nghệ thuật hát Xẩm truyền thống 107

Tiểu kết chương 3 109

KẾT LUẬN 110

PHỤ LỤC 114

Phụ lục 1 114

Phụ lục 2 120

TÀI LIỆU THAM KHẢO 124

Trang 8

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

ASEM Diễn đàn hợp tác Á - ÂU

APEC Diễn đàn Hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương UNESCO Ủy ban Văn hóa, Khoa học, giáo dục của Liên hợp quốc

Bộ VHTTDL Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch

Sở VTTDL Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 2.1 Loại hình nghệ thuật truyền thống đã từng xem

Bảng 2.2 Loại hình nghệ thuật được ưa thích nhất

Bảng 2.3 Những không gian hay hình thức xem, nghe nghệ thuật truyền thống mà giới trẻ lựa chọn

Bảng 3.2 Các biện pháp để hát Xẩm được các bạn trẻ biết đến nhiều hơn

Trang 10

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Những năm gần đây, được sự quan tâm của Đảng và nhà nước, sự đổi mới về chính sách đối ngoại, với xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, ngành du lịch Hà Nội cũng đã có những bước phát triển mạnh mẽ và ngày càng tác động tích cực hơn đến nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội Du lịch đã được coi là một ngành kinh tế mũi nhọn trong phát triển kinh tế của đất nước và đang hội nhập với khu vực và trên thế giới Khách du lịch quốc tế đến với Hà Nội ngày một tăng

Trong những năm gần đây, du lịch Hà Nội đã đạt được nhiều thành tựu khả quan, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế để phát triển theo hướng bền vững, hiện đại, nâng cao vị thế trong khu vực và quốc tế Xác định vị trí quan trọng của ngành du lịch đối với sự phát triển kinh tế xã hội và khai thác hợp lý tiềm năng du lịch phong phú

Những năm qua, du lịch Hà Nội đã tập trung khai thác các loại hình du lịch văn hóa phi vật thể, trong đó tập trung vào các lễ hội truyền thống, phát triển du lịch làng nghề và đặc biệt hơn nữa là khai thác các giá trị nghệ thuật biểu diễn truyền thống như múa rối nước, chèo, ca trù hay các giá trị văn hóa dân gian

Các loai hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống được tạo dựng trên nền tảng văn hóa dân tộc với bề dày hàng mấy nghìn năm Trong đó, có sự chắt lọc, tạo nên nét tinh túy của nghệ thuật biểu diễn truyền thống Chính vì vậy, việc khai thác đầy đủ và hợp lý các giá trị văn hóa phi vật thể với các loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống sẽ góp phần thúc đẩy du lịch Việt Nam phát triển tương xứng với tiềm năng sẵn có, đồng thời bảo tồn, duy trì và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc

Trang 11

Bên cạnh đó, dù đã đạt được nhiều những thành quả khích lệ trong việc phát triển du lịch Hà Nội thông qua việc khai thác các loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống như múa rối nước, ca trù, chèo, chầu văn,…, nhưng trên thực

tế du lịch Hà Nội chưa khai thác được các lợi thế của mình đang có về các loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống

Tất nhiên, trong mối quan hệ bảo tồn và phát huy có những mâu thuẫn có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của nghệ thuật này Có những tác động tốt, nhưng cũng sẽ có những mặt trái làm ảnh hưởng đến phát triển bền vững di sản Thực tế cho thấy, trong mối quan hệ với du lịch, hát xẩm, mặc dù đã và đang được trình lên UNESCO công nhận là di sản thế giới, nhưng vẫn chưa được các cấp, các ngành, các doanh nghiệp du lịch quan tâm đúng mức Hát xẩm vẫn là lựa chọn sau múa rối nước, quan họ, ca trù hay biểu diễn âm nhạc dân tộc trong các tour du lịch, trong các hoạt động giải trí, giao lưu văn hóa dân tộc, mà các công ty du lịch xây dựng để quảng bá và đón khách trong nước và quốc tế Bên cạnh đó, thực tế hoạt động của các CLB, giáo phường hát xẩm tại Hà Nội trong phạm vi nội, ngoại thành vẫn còn manh mún, chưa được quan tâm đầu tư bài bản, có định hướng phát triển rõ ràng

Nhìn chung, vấn đề bảo tồn, phát huy giá trị di sản hát Xẩm và mối quan

hệ của nó với sự biến đổi về văn hóa, nghệ thuật hát Xẩm ở mỗi cộng đồng làng, thôn, CLB, giáo phường tại Hà Nội hiện nay so với các giai đoạn trước đây, sẽ khiến cho chúng ta phải nghiên cứu để tìm ra lời giải cho một số câu hỏi

Hơn nữa, dù có nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống song việc sử dụng nó để phát triển du lịch vẫn còn nhiều hạn chế Ngoài múa rối nước, ca trù được coi là một trong những giá trị văn hóa tinh thần vô cùng quan trọng, độc đáo thì khách du lịch đến Việt Nam không biết thêm bất kì loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống nào khác

Trang 12

Do đó, luận văn xin đề cập đến khía cạnh văn hóa phi vật thể của Việt Nam nói chung và trong đó tâp trung khai khía cạnh nghệ thuật hát Xẩm, loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống ở Việt Nam nói riêng để đánh giá thực trạng, đề ra các giải pháp phát triển hợp lý, hiệu quả nhằm khai thác triệt để khía cạnh đấy trong quảng bá, khuếch trương cho các loại hình du lịch văn hóa ở Hà Nội nhằm thu hút khách du lịch

2 Lịch sử nghiên cứu

Trong những năm gần đây, đã có nhiều nhà nghiên cứu có các bài viết nghiên cứu về hát xẩm nói chung, về ca từ, làn điệu Xẩm nói riêng Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu sâu sắc về hát Xẩm mà chỉ đề cập sơ qua, còn chủ yếu là nghiên cứu về các làn điệu Xẩm Tiêu biểu như các tác giả: nhạc

sĩ Thao Giang, tác giả Khương Văn Cường (Nghệ thuật hát Xẩm, Xuất bản 2009), Trần Việt Ngữ ( Hát Xẩm, Nxb Âm nhạc Hà Nội, 2002), Bùi Đình Thảo (Hát Xẩm, Sở VHTT Ninh Bình, NB 1995), là những nghệ sĩ, tác giả đã dành

nhiều tâm huyết với loại hình nghệ thuật này Hay một số các bài báo viết đăng trên các báo và tạp chí như : Hát Xẩm - “Nghệ thuật của cội nguồn dân gian” (Phương Lan, baomoi.com), “Nghệ thuật hát Xẩm” (Thanh Ngoan, 2009, 12/3/2013), “Nghệ thuật hát Xẩm - di sản văn hoá Ninh Bình” (Trần Hữu Bình, ninhbinh.gov.vn, 12/6/2012)… và bài viết“Một số tương đồng và dị biệt giữa hát Xẩm và âm nhạc nhân thanh truyền thống Huế” (tạp chí sáng tác phê bình nghiên cứu văn học nghệ thuật - văn hoá, 27/08/2012), đặc biệt là sự ra mắt của album hát Xẩm mang phong cách Hà Nội chào đón đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội của 3 NSƯT Thanh Ngoan, Mai Tuyết Hoa và nhạc sĩ Nguyễn Quang Long Trong đó đáng chú ý nhất là hai công trình “Hát Xẩm,

1000 năm Âm nhạc Thăng Long - Hà Nội” (Nxb Âm nhạc, 2002) của tác giả Bùi Trọng Hiền và tác phẩm “Hát Xẩm” (Nxb Âm nhạc, 2002 ) của tác giả Trần Việt Ngữ Ngoài ra còn có tác phẩm “Nghệ thuật hát Xẩm” (Xb 2009) của tác

Trang 13

giả Khương Văn Cường Trong cuốn “Hát Xẩm, 1000 năm Âm nhạc Thăng Long - Hà Nội” tác giả Bùi Trọng Hiền đã khái quát về lịch sử của hát Xẩm nói chung (từ lịch sử cho đến nội dung nghệ thuật ca từ trong hát Xẩm) Ông cũng

có sự tìm tòi nghiên cứu các loại nhạc khí độc đáo được sử dụng trong loại hình nghệ thuật này Với tác phẩm “Hát Xẩm” của tác giả Trần Việt Ngữ Ngoài việc giới thiệu khái quát về hát Xẩm, tác giả còn đi sâu vào nghiên cứu về những làn điệu Xẩm cổ, trong đó tác giả có sưu tầm, trích dẫn rất nhiều lời của các bài hát Xẩm thuộc các làn điệu cổ theo các điệu Xẩm Ba bậc, Huê tình, Phồn huê, Thập ân như: “Dạt nước cánh bèo” (trích bài Xẩm theo điệu Hà Liễu

- lời cổ), “Công cha nghĩa mẹ sinh thành” (bài hát Xẩm theo điệu Thập ân - lời

cổ ), “Nước chảy đôi dòng” (bài hát Xẩm theo điệu Huê tình trong Ca trù - lời

cổ )… Ngoài còn một số nhạc sĩ rất nổi tiếng với nhiều lời nhận xét, đánh giá có giá trị về hát xẩm như nhạc sĩ Thao Giang, nhạc sĩ Quang Long… Trong đó, nghệ sĩ Quang Long được biết đến với cái tên “Người của “thế giới” Xẩm Hà Nội” Mặc dù mới ngoài 30 tuổi nhưng nhạc sĩ Nguyễn Quang Long đã là một trong những nhà nghiên cứu, lý luận âm nhạc trẻ được nhiều người biết đến Nhiều bài viết về âm nhạc truyền thống của anh mang thiên hướng lý luận, nghiên cứu đã được đăng tải trên tạp chí và được độc giả đón nhận Những năm gần đây, anh còn được biết tới là một trong những nghệ sĩ góp công phục hồi nghệ thuật Xẩm và dòng Xẩm Hà Nội Một sự kiện đáng chú ý nhất trong thời gian gần đây là sự ra mắt công chúng bộ phim “Xẩm đỏ” - một bộ phim tài liệu tái dựng lại chân dung nghệ nhân Hà Thị Cầu cùng những thăng trầm của nghệ thuật hát Xẩm trong dòng chảy cuộc sống đương đại của Đạo diễn Lương Đình Dũng Phim lấy bối cảnh quay tại Yên Mô (Ninh Bình) với nhân vật chính là nghệ nhân hát Xẩm Hà Thị Cầu cùng cây đàn nhị truân chuyên đã gắn bó với bà hơn 60 năm Câu chuyện kể về cuộc đời long đong của lão nghệ nhân được ví là người hát xẩm cuối cùng của thế kỷ, là “báu vật sống” của loại hình di sản văn

Trang 14

hoá dân gian này, được kể lại bằng những câu hát Xẩm ngân lên theo từng nhịp Sênh, tiếng Phách, xen lẫn đó là nỗi niềm trăn trở và luyến tiếc của người trong cuộc về một loại hình nghệ thuật truyền thống đang dần bị mai một Nhiều tư liệu chỉ đề cập chuyên biệt về thể cách, nghệ thuật hát Xẩm, trong khi mục đích nghiên cứu của học viên không đi sâu vào nghiên cứu hát Xẩm ở góc độ nghệ thuật mà là nghiên cứu vấn đề bảo tồn, phát huy giá trị di sản hát Xẩm nhằm thu hút khách du lịch Ngoài những phần thuộc về biểu diễn, một số tư liệu cũng có trình bày những hiểu biết về âm nhạc hát Xẩm theo lối hiểu cổ truyền Những kiến thức như vậy là cứ liệu cho nhà nghiên cứu về âm nhạc đời sau tìm hiểu âm nhạc trong quá khứ Nhìn chung, đây là những công trình nghiên cứu kỹ lưỡng

về nghệ thuật hát xẩm trên nhiều phương diện, từ nghệ thuật biểu diễn, giá trị văn học, văn hóa, đến đặc trưng vùng miền

Đối với nhóm các công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa di sản nói chung và du lịch riêng, có không nhiều các nghiên cứu mang tính hệ thống và chuyên sâu về mối liên hệ giữa văn hóa, di sản văn hóa và phát triển du lịch, đặc biệt là di sản văn hóa phi vật thể trong đó có các loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống Đặc biệt, mối quan hệ giữa hát Xẩm và phát triển du lịch thì hầu như vắng bóng

Đa số các công trình, hội thảo chỉ dừng lại ở một số quan điểm, bài báo, bài chuyên đề viết về vấn đề cảm nhận của du khách khi đi xem, nghe hát xẩm hay những cảm nhận chủ quan của du khách Trong một số các nghiên cứu về di sản, du lịch văn hóa hoặc các vấn đề có liên quan, các học giả trong và ngoài nước ít nhiều cũng đã có đề cập và xem xét đến mối quan hệ này nhưng chủ yếu

là làm rõ các vấn đề như: tác động qua lại giữa hai ngành như các tác động tích cực và tiêu cực của du lịch lên cộng đồng, di sản, môi trường; tiềm năng di sản văn hóa trong phát triển du lịch; định hướng phát triển nhằm hạn chế các tác

Trang 15

động của du lịch; Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu này đều chưa xem xét đến thực tế năng động và phức tạp của mối quan hệ này ở các điểm di sản của nước ta, khiến cho những nhận định khoa học và đề xuất chính sách quản lý trong các nghiên cứu này thiếu tính thuyết phục liên quan đến thực tế năng động của mối quan hệ này

Trang 16

3 Mục tiêu nghiên cứu

- Thứ nhất: Xây dựng một công trình khoa học vừa có cơ sở lý luận, vừa có giá trị áp dụng vào thực tiễn, góp phần cùng các cấp, các ngành, các chuyên gia, các nghệ nhân, các CLB, giáo phường đưa ra những vấn đề trọng tâm cần bàn luận

và hướng phát triển các giá trị di sản hát Xẩm một cách bền vững tại Hà Nội

- Thứ hai: Nghiên cứu thực trạng hoạt động khai thác nghê thuật hát Xẩm - loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống trong việc phát triển du lịch Hà Nội Những tác động của việc khai thác này trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống

- Thứ ba: Đề ra các kiến nghị, giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển du lịch Hà Nội

thông qua hát Xẩm Qua đó, đưa ra những giải pháp nhằm khai thác hiệu quả

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

+ Nghiên cứu đối tượng chính là nghệ thuật hát Xẩm – một thể loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống phục vụ cho hoạt động du lịch tại Hà Nội

+ Nghiên cứu đối tượng khách du lịch chủ yếu là khách du lịch quốc tế thông thường, khách du lịch quốc tế Việt Kiều đang sinh sống và làm việc nước ngoài

có nhu cầu tìm hiểu bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung:

+ Luận văn nghiên khía cạnh giá trị văn hóa của nghệ thuật biểu diễn truyền

thống hát Xẩm và bảo tồn phát huy giá trị di sản hát Xẩm

+ Luận văn tập trung nghiên cứu những giá trị độc đáo, đặc sắc của nghệ thuật

hát Xẩm nói chung và hát Xẩm Hà Nội nói riêng

+ Tiếp đến, tập trung nghiên cứu đặc điểm, tâm lý khách du lịch quốc tế ( có cả

khách Việt Kiều) trong đó khai thác các thị trường trọng điểm có số lượng khách du lịch đến Việt Nam lớn nhất như Pháp, Mỹ, Hàn Quốc, Trung Quốc,

Trang 17

Nhật Bản,… sở dĩ luận văn không đề cập dến khách nội đia do đa phần khách nội địa đã có hiểu biết cơ bản về loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống nên nhìn chung khách du lịch nội địa không có nhu cầu tìm hiều vấn đề này trong chương trình du lịch đến Hà Nội Thực trạng khảo sát cho thấy khách du lịch nội địa không có nhu cầu thực sự khi đến du lịch Hà Nội về xem, tham quan, nghe nhìn các loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống

+ Nghiên cứu tác động qua lại giữa phát triển du lịch Việt Nam với phát triển,

bảo tồn giữ gìn nghệ thuật hát Xẩm tại Hà Nội

+ Bên cạnh đó, nghiên cứu, đánh giá những nội dung sau:

 Nghiên cứu đánh giá của cộng đồng, khách du lịch về các hoạt động trình diễn, giới thiệu hát Xẩm của các CLB, giáo phường tại nội thành Hà Nội

 Nghiên cứu đánh giá của chính các nghệ nhân dân gian, nghệ sĩ hát Xẩm, các nhà quản lý CLB, giáo phường, một số nhà nghiên cứu về hát Xẩm và nghệ thuật âm nhạc truyền thống

+ Cuối cùng, đề xuất giải pháp hiệu quả nhằm phát triển du lịch

- Về không gian:

+ Do giới hạn của luận văn tập trung nghiên cứu trong phạm vi thủ đô Hà Nội, trong đó tập trung vào khu vực nội thành, các điểm du lịch, các điểm biểu diễn truyền thống nhiều khách du lịch quốc tế

- Về thời gian:

+ Tập trung nghiên cứu thực trạng khai thác nghệ thuật hát Xẩm trong việc phát triển du lịch Hà Nội và định hướng nghiên cứu theo mục tiêu phát triển, định hướng xây dụng nghệ thuật hát Xẩm trở thành một sản phẩm du lịch hấp dẫn + Trong quá trình nghiên cứu, luận văn cũng sẽ tìm tòi và tổng hợp tư liệu cũng như dùng phương pháp phỏng vấn hồi cố để có được cái nhìn tổng thể về hát Xẩm giai đoạn trước

Trang 18

5 Những vấn đề mới được nghiên cứu của luận văn

- Phân tích rõ các đặc điểm của thị trường khách du lịch quốc tế trong việc thụ hưởng các giá trị văn hóa phi vật thể nói chung và các giá trị văn hóa phi vật thể nói chung và các giá trị văn hóa nghệ thuật biểu diễn truyền thống nói riêng

- Phân tích thực trạng các giá trị văn hóa phi vật thể nghệ thuật biểu diễn truyền thống trong việc phát triển du lịch Việt Nam

- Chỉ ra những thách thức từ việc hội nhập kinh tế quốc tế trong việc phát triển văn hóa và tác động của nó tới việc bảo tồn, giữ gìn các giá trị truyền thống

- Đề xuất các giải pháp nhằm năng cao hiệu quả khai thác phát triển loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống hát Xẩm, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển du lịch Hà Nội

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập tài liệu

+ Tài liệu sơ cấp: Thu thập các tài liệu liên quan tới các nghệ thuật truyền thống của Việt Nam, các tài liệu nghiên cứu về di sản, giá trị di sản hát Xẩm, văn hóa - nghệ thuật hát Xẩm, những vấn đề về CLB, giáo phường, quá trình bảo tồn, phát huy giá trị di sản và những biến đổi có liên quan…

+ Tài liệu thứ cấp: Thu thập các tài liệu, các công trình nghiên cứu ở nhiều cấp

độ, góc độ về các hoạt động biểu diễn hát xẩm hiện nay, thu thập, điều tra đánh giá của du khách, nghệ nhân, chuyên gia, nhà quản lý,…

- Phương pháp phân tích và tổng hợp dữ liệu: Sau khi thu thập các tài liệu sơ

cấp và thứ cấp liên quan đến luận án, sẽ thực hiện phương pháp tổng hợp tài liệu, dữ liệu đã có, đặc biệt đối với các dữ liệu quan trọng, liên quan trực tiếp đến luận án thì phải vừa tổng hợp vừa phân tích cho phù hợp

- Phương pháp tổng hợp phân tích số liệu: Kế thừa tài liệu, sách báo, tạp chí,

internet, báo cáo hội thảo khoa học… nghiên cứu về hát Xẩm nói chung và các vấn đề khác như bảo tồn, phát huy giá trị di sản hát Xẩm, đánh giá của nghệ

Trang 19

nhân, nhà quản lý, chính quyền địa phương, từ đó bổ sung, hoàn thiện nội dung luận văn

- Phương pháp khảo sát thực tế, quan sát tham dự: Do thời gian và khả năng

của bản thân có hạn nên tập trung chủ yếu cho công tác khảo sát thực tế tại một

số điểm biểu diễn hát xẩm nhằm phục vụ phát triển thu hút du khách trong phạm

vi khu vực Hà Nội, trong đó tập trung chuyên sâu ở các CLB, giáo phường hát Xẩm tại nội thành Hà Nội để có cái nhìn tổng thể, có thể đưa ra được những đối chiếu, so sánh khách quan

- Phương pháp chuyên gia: Nghệ nhân, nghệ sĩ hát Xẩm, nhà quản lý CLB, giáo

phường hát Xẩm; nhà nghiên cứu văn hóa và âm nhạc truyền thống, đại diện lãnh đạo quản lý nhà nước về văn hóa, du lịch,

- Phương pháp điều tra xã hội h c: Trong quá trình khảo sát thực tế, ngoài việc

quan sát tác giả còn sử dụng phương pháp:

+ Phỏng vấn bằng bảng hỏi với các đối tượng khách: Khách du lịch quốc tế và trong nước (200 phiếu); Người Việt Nam (đối tượng đại diện là các sinh viên đang học tập tại Hà Nội: 300 phiếu);

Trang 20

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NGHỆ THUẬT HÁT XẨM TẠI HÀ NỘI 1.1 Khái niệm, đặc điểm khách du lịch, khách du lịch quốc tế

1.1.1 Khái niệm khách du lịch

Về cơ bản, khách du lịch là những người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên trong một thời gian nhất định, sử dụng các dịch vụ du lịch và có khả năng thanh toán các khoản tiêu dùng đó Khách du lịch không phải là những người đi học tập, đi làm việc tại điểm đến du lịch với mục đích kiếm thu nhập cho cá nhân Như vậy, để được coi là khách du lịch thì phải đạt được các yếu tố sau: Rời khỏi nơi cư trú thường xuyên, có thể rời xa hàng nghìn km nhưng cũng có thể chỉ trong một phạm vi bán kính là vài chục km

Sử dụng các dịch vụ du lịch tại điểm đến du lịch mà khách định đến

Có khả năng thanh toán, chi trả cho các dịch vụ du lịch khách sử dụng trong chuyến du lịch

Không mưu cầu mục đích kiếm thu nhập cho cá nhân

Khách du lịch bao gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế, trong

đó, khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người trong một quốc gia định cư

ở nước ngoài vào quốc gia đó du lịch; công dân của quốc gia đó, người nước ngoài thường trú tại đó ra nước ngoài du lịch Như vậy, khách du lịch quốc tế sẽ được chia thành hai đối tượng cơ bản:

- Khách là người nước ngoài, người trong nước định cư ở nước ngoài đi du lịch trong nước

- Khách là người trong nước, người nước ngoài định cư ở trong nước đi du lịch nước ngoài

Ở Việt Nam, khách du lịch quốc tế được định nghĩa theo Luật Du lịch Việt

Nam là: hách du ịch quốc tế à người nước ngoài, người iệt am định cư

Trang 21

ở nước ngoài vào iệt am du ịch à người iệt am, người nước ngoài thường tr ở iệt am ra nước ngoài du ịch

Có thể thấy, định nghĩa trong Luật Du lịch của Việt Nam đã bao trùm được

cả hai đối tượng khách quốc tế cơ bản, đó là khách quốc tế In-bound (khách quốc tế chủ động hay còn gọi là khách quốc tế vào du lịch tại Việt Nam và Out-bound (khách quốc tế bị động hay còn gọi là khách quốc tế đi ra ngoài Việt Nam

du lịch)

Tuy vậy, ở nhiều quốc gia, đối tượng khách du lịch quốc tế đầu tiên luôn được khuyến khích phát triển tăng cả về lượng và chất Thu nhập xã hội từ du lịch tăng cao, xuất khẩu thu ngoại tệ tại chỗ là giải pháp tốt nhất Còn đối tượng khách thứ hai thì ít được khuyến khích bởi nếu như số lượng khách du lịch là người trong nước đi du lịch quá đông thì sẽ dẫn đến tình trạng chảy máu ngoại

tệ

Trong khi đó, khách du lịch nội địa cũng luôn đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát triển du lịch của bất kỳ quốc gia nào Quốc gia nào càng phát triển, dân số đông và lượng khách du lịch nội địa đi du lịch có khả năng thanh toán chi trả cao thì quốc gia đó sẽ rất phát triển du lịch nội địa

Theo uật Du lịch Việt Nam thì khách du lịch nội địa được định nghĩa như

sau: hách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi l nh thổ Việt Nam

Như vậy, khách du lịch nội địa nói chung sẽ là những người công dân của một quốc gia hay những người nước ngoài đang thường trú, công tác và làm việc tại quốc gia đó, đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ quốc gia Khách du lịch nội địa thường được coi là những khách du lịch có địa bàn di chuyển không lớn như khách du lịch quốc tế Tuy nhiên, nếu như quốc gia nào có diện tích rộng lớn như Canada, Mỹ, Trung Quốc, Nga, ấn Độ, thì việc di chuyển trong lãnh thổ quốc gia đó sẽ là một phạm vi lớn

Trang 22

1.1.2 Đặc điểm khách du lịch quốc tế

Khai thác thị trường khách du lịch quốc tế hoàn toàn không dễ dàng Nhiều công ty lữ hành quốc tế có kinh nghiệm gặp không ít khó khăn và lúng túng khi tham gia vào khai thác mảng thị trường này Nhiều công ty đã không đạt được

kế quả như mong muốn Lý do là vì mảng thị trường khách du lịch quốc tế dù đã được khai thác từ lâu, trong đó chủ yếu là mảng du lịch In-bound, nhưng mỗi thị trường lại có những đặc thù riêng của nó, tính cạnh tranh trên thị trường lại rất lớn, đòi hỏi cả ở cấp độ vĩ mô quản lý Nhà nước về du lịch và vi mô ở cấp độ doanh nghiệp có cách tiếp cận riêng

Nhìn chung, khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế đều khá tương đồng nhau về mặt động cơ, mục đích, nhu cầu, mong muốn đi du lịch Cả hai đều rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình và đến một nơi khác với mong muốn được thưởng thức, thưởng lãm các danh lam thắng cảnh, các dịch vụ và các nét đặc trưng văn hoá của điểm đến Nhưng cả hai vẫn có những đặc điểm riêng mà khách du lịch quốc tế có những đặc điểm nổi bật như sau:

• Về phạm vi, khoảng cách, di chuyển và l nh thổ:

- Khách du lịch quốc tế di chuyển trong một phạm vi lãnh thổ lớn, ra khỏi quốc gia mình là công dân sinh sống

- Bán kính di chuyển thường rất rộng và có khi ở mức độ toàn cầu chứ không chỉ ở mức độ khu vực, châu lục

- Các phương tiện vận chuyển trong chuyến đi du lịch sẽ rất đang dạng và hiện đại, chủ yếu là di chuyển bằng máy bay

• Về đ c trưng tâm l , sở thích, tiêu d ng của khách du lịch quốc tế:

- Khách du lịch quốc tế ngoài việc thường có tâm lý đi du lịch theo mùa, vụ thì họ còn có thói quen đi du lịch trong bất kỳ thời điểm nào cho phép Ở đây là cho phép cả về thời gian lẫn tiền bạc Vào các dịp nghỉ hè, nghỉ đông, ngày lễ

Trang 23

lớn của đất nước họ, khách du lịch quốc tế sẽ đi du lịch trong nước và rất nhiều người sẽ chọn cho mình các chuyến du lịch nước ngoài

- Khách nội quốc tế thích lựa chọn những loại hình du lịch đặc trưng là du lịch biển, du lịch nghỉ núi và du lịch văn hoá - tín ngưỡng – lễ hội để họ có thể khám phá một vùng đất mới thông qua phong tục tập quán, tín ngưỡng, văn hoá

và cản quan của đất nước đó

- Khách du lịch quốc tế ở quốc gia có thu nhập bình quân đầu người GDP cao thì thường có khả năng chi trả cao và ngược lại Tuy vậy, đã là khách du lịch

đi du lịch quốc tế thì mức độ chi trả cũng phải đạt được tiêu chuẩn và mức độ phù hợp khi đi du lịch nước ngoài

- Khách du lịch quốc tế thường phải mất nhiều thời gian cho việc chuẩn bị thủ tục, giấy tờ hợp lệ để đi du lịch Khách sẽ phải làm hộ chiếu, visa hay chuẩn

bị đổi ngoại tệ, thẻ tín dụng quốc tế, hoá đơn thanh toán trả trước Voucher, ,

- Khách du lịch quốc tế khi đi du lịch thường chuẩn bị đầy đủ các dụng cụ cần thiết để đảm bảo cho chuyến du lịch của họ thành công nhất

• Về mục đích đi du lịch

Mục đích đi du lịch của khách du lịch quốc tế rất đa dạng và khó có thể tóm lược được trong một, hai vấn đề Khách du lịch quốc tế thường đi theo nhiều loại hình du lịch khác nhau đáp ứng cho đối tượng khách này như : Du lịch tham quan, tìm hiểu; du lịch nghỉ dưỡng; du lịch công vụ; du lịch lễ hội; du lịch Sinh thái và mua sắm Tuy nhiên nhu cầu hưởng thụ trong các chuyến đi của họ là rất lớn và bao trùm Nhu cầu này được thể hiện trong hầu hết các loại hình du lịch phổ biến, với hầu hết các đối tượng du khách không phân biệt tuổi tác, nghề nghiệp, giới tính

• Về xuất xứ ngu n khách:

Theo mục đích chuyến đi và chủ yếu là họ đi cá nhân tập hợp lại thành một đoàn lớn Khách cao cấp đi theo tour trọn gói cao cấp, còn khách Tây Balô

Trang 24

thì đi theo tour du lịch đơn lẻ và sử dụng các dịch vụ đơn lẻ Thường khách quốc tế rất đa dạng và đến Việt Nam với nhiều quốc tịch khác nhau

• Về thời điểm và độ dài của chuyến đi

- Thời điểm tổ chức các chuyến đi cho khách du lịch quốc tế cũng không phải trải đều trong năm Mùa hè và kỳ nghỉ đông là những dịp khách du lịch quốc tế đi du lịch nhiều nhất Có những thời điểm, họ lưu lại tại một quốc gia tới hàng tuần, thậm chí hàng tháng

- Những dịp nghỉ lễ, tết và nghỉ chính thức trong năm với qui định rất phù hợp cho hoạt động du lịch là được nghỉ bù vào ngày liền kề nếu ngày nghỉ chính thức trùng vào ngày chủ nhật đã hình thành những đợt nghỉ 3, 4, thậm chí một tuần tạo nên những thời điểm bùng nổ khách du lịch quốc tế

- Tuy vậy, nhìn chung, độ dài chuyến đi của khách du lịch quốc tế thường không nhiều do nhiều yếu tố tác động, trong đó đáng kể nhất là thời gian và chi phí cho chuyến đi khá lớn

• Về yêu cầu về h nh thức tổ chức chương tr nh du lịch

Tổ chức một chương trình du lịch cho khách quốc tế thông thường bao gồm 2 nội dung chính :

- Phần nội dung chính đáp ứng nhu cầu chủ yếu của du khách được thể hiện

cụ thể trong loại hình du lịch Ví du : Du lịch lễ hội thì phần nội dung chính sẽ

là tham dự lễ hội Hay Du lịch hội nghị sẽ là chương trình nghị sự của hội nghị

đó và khả năng tổ chức hoàn hảo cuộc hội nghị đó

- Phần nội dung thứ 2, tuy không phải là mục đích chính của chuyến đi song

sẽ góp phần không nhỏ vào kết quả của nó Đó là tổ chức các hoạt động tập thể ngoài giờ cho đoàn Những công ty lữ hành có kinh nghiệm tổ chức những hoạt động này và có đội ngũ hướng dẫn viên có khả năng tạo nên bầu không khi vui

vẻ cho khách trong chuyến đi và tạo cho khách được biết đến các dịch vụ vui

Trang 25

chơi giải trí hấp dẫn, độc đáo Về vấn đề này thì các laọi hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống được coi là rất quan trọng để phát triển du lịch

1.1.3 Đặc điểm tâm lý, thị hiếu, tiêu dùng khách du lịch quốc tế

Hình thức đi du lịch thường theo kiểu mua tour in - bound rồi sau đó đến nơi sẽ tự tổ chức hoặc nếu không thì khách du lịch quốc tế sẽ lựa chọn các tour

du lịch cao cấp với dịch vụ đắt tiền Tuy nhiên, xu thế sử dụng các chương trình

du lịch trọn gói của các doanh nghiệp lữ hành đang có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây Nếu khách du lịch quốc tế đã sử dụng và hài lòng với sản phẩm của một doanh nghiệp lữ hành thì họ sẽ có xu hướng sẽ trung thành với các sản phẩm của doanh nghiệp đó bởi họ rất tin tưởng vào việc làm ăn nghiêm túc của các doanh nghiệp bán tour

Thể lực của khách du lịch quốc tế thường là tốt nên họ có khả năng đi du lịch dài ngày, di chuyển liên tục và ít nghỉ ngơi Tất nhiên, khách du lịch quốc tế thích được thưởng thức các món ăn ngon và lạ, nhất là các món ăn đặc sản tại địa phương họ đến Tuy vậy, dù như thế nào đi chăng nữa thì họ vẫn thích các món ăn có chất lượng, đảm bảo vệ sinh.Thời gian lưu lại ở mỗi điểm du lịch thường ngắn bởi họ muốn tận dụng khoảng thời gian tối đa để có thể biết được nhiều nơi Khi đi du lịch, khách quốc tế quan tâm đến cả giá cả, nội dung, chất lượng của sản phẩm du lịch

Do đi du lịch rất nhiều nên họ thường không “sành” về du lịch, họ luôn đòi hỏi chất lượng dịch vụ cao và có khá nhiều khách kỹ tính, yêu cầu chất lượng cao khi sử dụng các dịch vụ du lịch Cơ sở lưu trú được lựa chọn thường

là các khách sạn từ 3* trở lên hoặc loại hình cơ sở lưu trú khác có mức chất lượng tương đương Dịch vụ họ rất quan tâm trong các chuyến du lịch là mua sắm và vui chơi giải trí

Chi tiêu có kế hoạch và không theo cảm xúc, không có chuyện chạy theo tâm lý lây lan đám đông hay tâm lý bầy đàn Một người mua kéo theo nhiều

Trang 26

người mua như Việt Nam, mà họ đã dự tính sẵn sàng các chi phí tài chính trước khi đi Tuy vậy, họ đã có kế hoạch thì sẽ chi tiêu khá nhiều cho việc mua sắm

Trên đây là một số đặc điểm về tâm lý, thị hiếu của khách du lịch quốc tế

và nói chung là mang tính chất định tính Trên thực tế, tâm lý thị hiếu của khách

du lịch là yếu tố luôn có sự vận động theo những biến đổi của môi trường kinh

tế xã hội Để có thể nắm bắt một cách cụ thể, chính xác nhu cầu của thị trường khách du lịch cần phải có những nghiên cứu thực nghiệm cụ thể tiếp theo mang tính định lượng trong những điều kiện cụ thể, gắn với không gian và thời gian nhất định

1.2 Giá trị văn hóa truyền thống và những giá trị phi vật thể của các loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống

1.2.1 Những giá trị văn hóa truyền thống

1.2.1.1 Văn hóa và bản sắc văn hóa truyền thống

Trong hoàn cảnh hiện nay của một thế giới mở cửa, của sự toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế, dẫn đến những tác động về nhiều mặt về văn hoá, xã hội, văn hoá truyền thống, cốt cách dân tộc được mọi người chú ý và đến đâu, ngừi

ta cũng thấy tầm quan trọng của văn hoá được đặt lên hàng đầu UNESCO thừa nhận văn hoá là cội nguồn trực tiếp của phát triển xã hội, có vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết xã hội Trong những nước tiên tiến, sự chi tiêu cho phục hưng, bảo tồn, duy trì và phát huy bản sắc văn hoá một dân tộc ngày càng cao Vậy thì tại Việt Nam, văn hoá đã được đề cập như thế nào?

Gần đây, UNESCO đã đưa ra một định nghĩa chính thức về văn hoá: "Văn hoá phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động m i m t của cuộc sống (của mỗi cá nhân và các cộng đ ng) đ diễn ra trong quá khứ, cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đ cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó, từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình"

Trang 27

"Văn hoá là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đ bị cá nhân này hay tộc người này mô hình hoá theo cái mô hình t n tại trong biểu tượng Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hoá dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa ch n riêng của cá nhân hay tộc người, khác với các

kiểu lựa ch n của các cá nhân hay tộc người", định nghĩa về văn hoá của tác

giả Phan Ngọc - Bản sắc văn hoá Việt Nam 2002

Trong khi đó, bản sắc văn hoá lại là sự nói đến cái mặt bất biến của văn hoá trong quá trình phát triển của lịch sử Văn hoá là một hệ thống các quan hệ, không phải là những vật cụ thể Các hệ thống quan hệ này mang những tên gọi riêng, có thể chưa đựng những cách lý giải khác nhau trong cách biểu hiện qua các thời đại Cái tạo thành tính bất biến của các mối quan hệ này là những nhu cầu tâm thức con người từng dân tộc

Nói đến bản sắc văn hoá Việt Nam là nói đến tính ổn định, bất biến trong văn hoá Việt Nam Nhưng cái phần ổn định này không nhìn thấy bắng mắt thường được do là sự đan xen, chống chéo của các quan hệ Văn hoá Việt Nam cũng vậy, nó có thể thay đổi theo nhiều cách mà ta khó đoán biết hết được, nhưng phải duy trì một mối quan hệ kiểu trọng tâm Duy trì bản sắc văn hoá, hiểu theo cách nhìn này không có nghĩa là đóng cửa lại, mà phải chấp nhận mọi tiếp xúc, mọi quan hệ Không có văn hoá tự lực cánh sinh, tự túc, mà phải biết gìn giữ, phát huy nhưng vẫn học tập, giao thoa để cùng tiến bộ

Như vậy, ngoài khái niệm văn hoá nói chung đưa ra được những vấn đề liên quan đến sự hình thành nên khái niệm đó thì bản sắc văn hoá mỗi dân tộc cũng được đề cập đến là cái mặt bất biến của văn hoá trong quá trình phát triển lịch

sử Mỗi tộc người, mỗi dân tộc đều có mặt bất biến đó và dù quá trình phát triển lịch sử có tác động như thế nào chăng nữa thì nó vẫn mang bản sắc riêng

Trang 28

1.2.1.2 ăn hóa truyền thống Việt Nam

Với bề dày truyền thống hàng nghìn năm, với lịch sử gắn liền với nền văn minh lúa nước, văn minh Văn Lang, - Âu Lạc hay văn minh sông Hồng, văn hoá Việt Nam truyền thống là thứ văn hoá cội rễ xuất phát từ hoạt động của cư dân nông nghiệp lúa nước

Trong phạm vi hẹp, đất nước Việt Nam nằm trên địa bàn cư trú của người Bách Việt Có thể hình dung khu vực này như một hình tam giác với cạnh đáy là sông Dương Tử (Trung Quốc) và đỉnh là vùng Bắc Trung Bộ của Việt Nam ngày nay Ở phạm vi rộng hơn, văn hoá Việt Nam nằm trong khu vực cư trú của người Indonesia lục địa Có thể hình dung đây là một tam giác có cạnh đáy vẫn

là sông Dương Tử, còn đỉnh đã đưcợ kéo dài tới tận đồng bằng sông Mê Kông Như vậy, kể từ trước khi nhà Nguyễn mở đất phía Nam, vẽ lên bản đồ hình chữ

S hoàn chỉnh, thì văn hoá Việt Nam vcũng đã nằm trong khu vực tam giác có hình thù như trên Dù rộng hay hẹp thì đặc trưng địa lý cố hữu của khu vực này vẫn là nhiệt độ cao, độ ẩm cao (lượng mưa hàng năm lớn) và có gió mùa

Điều kiện tự nhiên quy định cho khu vực này laọi hình văn hoá gắn với nông nghiệp với đặc trưng sau:

+ Trống lúa nước, khác với văn hoá khô mạch của Trung Quốc ở phía Bắc sông Dương Tử

+ Sống định cư và hoà hợp với thiên nhiên, khác với văn hoá du mục

Đề cao vai trò của phụ nữ (một đặc trưng của văn hoá thực vật, nơi chế độ mẫu hệ dựa trên nền kinh tế hái lượm, trồng trọt là hình thái thống trị)

+ Sùng bái mùa màng, sinh nở - văn hoá phồn thực, nông nghiệp

Do nằm trong vùng địa lý này nên văn hoá Việt Nam có được đẩy đủ các đặc trưng nêu trên, sau đó cấu thành các yếu tố đặc thù (mang tính khu vực) trong nội dung văn hoá Việt Nam Bên cạnh đó, văn hoá Việt Nam cũng đã tạo nên sự khác biệt:

Trang 29

+ Ứng xử mềm dẻo, khả năng thích nghi và chịu đựng cao (ảnh hưởng của môi trường nước)

+ Tính dung chấp cao do là đầu mối giao thông đường bộ, đường thuỷ chính nên người dân thường xuyên giao lưu với các khu vực bên ngoài và tiếp thu nhiều kiến thức từ hoạt động giao lưu đó

+ Không có các công trình kiến trúc đồ sộ (ngoại trừ hệ thống đê điều và thuỷ lợi) do là vùng đất trẻ lấn dần ra biển nên không có kết cấu bền vững và cư dân của khu vực này thường phải sống chung với nước

+ Tồn tại nhiều loại hình nghệ thuật gắn với sông nước (chèo, rối nước, đua thuyền, làng nghề thủ công truyền thống ven các dòng sông, )

Văn hoá truyền thống Việt Nam là nền văn hoá thống nhất trong tính đa dạng Tính đa dạng của văn hoá là kết quả của sự đa dạng tộc người Do vậy, dù

đa dạng, nhưng văn hoá Việt Nam vẫn hướng tâm vào văn hoá Việt

Tuy vậy, xét một cách toàn diện, dù chứa đựng tính hỗn dung lớn, nhưng do bản chất xuất phát từ nền văn minh lúa nước, nông nghiệp, nên văn hoá Việt Nam vẫn có bản sắc rất đặc trưng, mang dáng dấp riêng của văn hoá nông nghiệp lúa nước, điển hình là sự ra đời, tồn tại và phát triển của hàng loạt các loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống, lễ hội nông nghiệp, các nghệ thuật thủ công nông nghiệp,

Các loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống Việt Nam ra đời và tồn tại cho đến ngày nay nhờ ý thức bảo tồn và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc của cha ông ta qua ngàn đời

1.2.2 Giá trị văn hóa phi vật thể của các loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống Việt Nam

1.2.2.1 Văn hóa vật thể và phi vật thể

Văn hoá vật chất (văn hoá vật thể, hữu hình) là khái niệm dùng để chỉ các

đồ vật, sản phẩm hiện hữu và màn tính hình thể, do con người tạo ra, được sử

Trang 30

dụng để thoả mãn nhu cầu của họ Đây là văn hoá đã đưcợ khách thể hoá, hay nói cách khác là văn hoá vật chất, không phải văn hoá tinh thần

Nhưng văn hoá tinh thần (văn hoá phi vật chất vật thể) là khái niệm dùng để chỉ hệ thống các giá trị tồn tại dưới dạng các ý niệm văn hoá, các hành vi biểu đạt các ý niệm ấy Nó cấu thành đời sống tinh thần của chủ thể văn hoá Những hành vi ấy chỉ có thể được nắm bắt bằng trực quan, kinh nghiệm sống hay bằng cảm nhận của mỗi người

Như vậy, trong khối văn hoá nói chung, có hai nhánh hoà quyện, tạo dựng nên văn hoá Việt Nam Đó là khối các di sản văn hoá vật thể truyền từ đời này sang đời khác qua nhiều thế hệ như hệ thống lăng tẩm, đền đài, công trình kiến trúc, đình, đền, chùa, miếu mạo, di tích lịch sử, di tích cách mạng, được hiển thị như những vật chất cụ thể Văn Miếu Quốc Tử Giám, Chùa Một Cột, Kinh thành Huế, Hoàng Thành Thăng Long, là những giá trị văn hoá vật thể tiêu biểu nhất

Tuy vậy, do tính chất của luận văn, người viết xin chỉ đề cập sơ qua đến vấn

đề văn hoá vật thể hay các tài nguyên du lịch nhân văn vật thể ở mức độ ngắn gọn như vậy, mà hầu hết sẽ tập trung khai thác tối đa các giá trị văn hoá phi vật thể - văn hoá tinh thần của dân tộc, trong đó điển hình là các loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống

1.2.2.2 Văn hóa phi vật thể và những loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống Việt nam

Văn hoá phi vật thể đưcợ coi là những giá trị văn hoá tinh thần mà không ở đâu giống ở đâu, không dân tộc nào giống dân tộc nào Đời sống, tín ngưỡng, phong tục tập quán, nghệ thuật diễn xướng, ca nhạc, âm nhạc, nhạc cụ, lễ hội, phong cách ăn mạc, ở, đi lại, nhà cửa, nghề thủ công, là tất cả các giá trị văn hoá mang tính phi vật thể hay còn gọi là văn hoá tinh thần

Trang 31

Văn hoá phi vật thể được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau, trong đó

có văn hoá phi vật thể ở dạng tự nhiên do điều kiện tự nhiên, điều kiện sống đem lại ngay từ thời sơ khai, và văn hoá phi vật thể có được do chính con người Việt Nam tạo nên sau từng thế hệ sống và đúc kết, chắt lọc để tạo nên những thứ văn hoá tinh thần vô giá

Xét ở dưới góc độ du lịch thì có thể coi các giá trị văn hoá phi vật thể ấy chính là các tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể, có tác dụng khai thác phát triển du lịch văn hoá nói chung

Tại Hà Nội, nơi được coi là mảnh đất nghìn năm văn vật, nơi hội tụ đầy đủ các nét tinh hoa văn hoá dân tộc và được coi là sự hội tụ với đầy đủ các nét tinh

vi, độc đáo, đặc sắc và có phần quý phái nhất, để tạo nên các tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể như nghệ thuật múa rối nước, nghệ thuật hát ca trù (ả đào), nghệ thuật hát chầu văn, nghệ thuật chèo, tuồng, cải lương và có thể là hát xẩm, hát xoan, hát ghẹo,

Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn đã đề cập ở phần trên, luận văn xin chỉ giới hạn trong phạm vi nghiên cứu loại hình nghệ thuật biểu diễn hát Xẩm có khả năng thu hút khách du lịch trong nước cũng như quốc tế Do vậy, luận văn

sẽ chỉ tập trung nghiên cứu việc khai thác các loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống hát Xẩm trong phát triển du lịch Hà Nội Trong đó, luận văn sẽ cố gắng chỉ ra tác động của việc phát triển du lịch Hà Nội đến loại hình nghệ thuật hát Xẩm và ngược lại, nghệ thuật hát Xẩm sẽ giúp du lịch Hà Nội phát triển du lịch văn hoá như thế nào

1.3 Khái lược về sự hình thành và phát triển của nghệ thuật hát Xẩm

1.3.1 Nguồn gốc xuất xứ của hát Xẩm

Trong dòng mạch nguồn âm nhạc dân gian, gắn liền với đời sống con người Việt Nam Đặc biệt là cuộc sống dân dã, thị thành và kẻ chợ, đó là hát xẩm Xẩm là một loại hình dân ca của miền Bắc Việt Nam, phổ biến ở đồng bằng và

Trang 32

trung du Bắc Bộ "Xẩm" cũng còn được dùng để gọi những người hát xẩm - thường là người khiếm thị đi hát rong kiếm sống và do đó hát Xẩm còn có thể coi là một nghề

Theo các nghệ nhân, hát xẩm khởi phát vào khoảng thế kỷ thứ 14 Từ khi ra đời đến khoảng đầu thế kỷ 20, hát Xẩm được gọi với những tên gọi khách nhau như hát rong, hát dạo,…

Theo truyền thuyết, đời nhà Trần, vua cha Trần Thánh Tông có hai hoàng tử

là Trần Quốc Toán và Trần Quốc Đĩnh Do tranh giành quyền lực nên Trần Quốc Đĩnh bị Trần Quốc Toán hãm hại, chọc mù mắt rồi đem bỏ giữa rừng sâu Tỉnh dậy, hai mắt mù loà nên Trần Quốc Đĩnh chỉ biết than khóc rồi thiếp đi Trong mơ bụt hiện ra dạy cho ông cách làm một cây đàn với dây đàn làm bằng dây rừng và gẩy bằng que nứa Tỉnh dậy, ông mò mẫm làm cây đàn và thật lạ

kỳ, cây đàn vang lên những âm thanh rất hay khiến chim muông sà xuống nghe

và mang hoa quả đến cho ông ăn Sau đó, những người đi rừng nghe tiếng đàn

đã tìm thấy và đưa ông về Trần Quốc Đĩnh dạy đàn cho những người nghèo, người khiếm thị Tiếng đồn về những khúc nhạc của ông lan đến tận hoàng cung, vua vời ông vào hát và nhận ra con mình Trở lại đời sống cung đình nhưng Trần Quốc Đĩnh vẫn tiếp tục mang tiếng đàn, lời ca dạy cho người dân để

họ có nghề kiếm sống.[1,76] Hát xẩm đã ra đời từ đó và Trần Quốc Đĩnh được suy tôn là ông tổ nghề hát xẩm nói riêng cũng như hát xướng dân gian Việt Nam nói chung Người dân lấy ngày 22 tháng 2 và 22 tháng 8 âm lịch làm ngày giỗ của ông Trung tâm Phát triển Nghệ thuật Âm nhạc Việt Nam thuộc Hội Nhạc sĩ Việt Nam đã lập ra một giải thưởng mang tên Trần Quốc Đĩnh nhằm tôn vinh,

hỗ trợ các nghệ nhân, nghệ sĩ, nhà sưu tầm, nghiên cứu, nhà báo có công lao, đóng góp cho lĩnh vực âm nhạc truyền thống và trao giải lần đầu tiên năm 2008 Theo chính sử thì vua Trần Thánh Tông không có hoàng tử tên Đĩnh hay Toán Thái tử con vua Thánh Tông tên là Khảm, sau lên ngôi là vua Nhân Tông;

Trang 33

một người con nữa là Tả Thiên vương Vì vậy nguồn gốc hát Xẩm là dựa trên thánh tích chứ không truy được ra trong chính sử.[2]

1.3.2 Những bước thăng trầm của nghệ thuật hát Xẩm

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là thời gian thịnh đạt nhất của hát Xẩm Lúc này, không còn đơn thuần là loại hình giải trí lúc nông nhàn, Xẩm đã phát triển thành một nghề kiếm sống của người nghèo nơi thành thị và được truyền dạy từ thế hệ này qua thế hệ khác

Trong quá trình phổ biến lối hát Xẩm, có những người mù hoặc nghèo khổ nhưng rất có năng khiếu về âm nhạc đã vận dụng hát Xẩm làm phương tiện kiếm sống, vô hình trung, đưa hát xẩm trở thành "đặc sản" của những người ăn xin Lượng người hát Xẩm đông nhất là thời kỳ Pháp thuộc và những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp

Có thể nói, một thời gian dài, hát Xẩm đã là món ăn tinh thần của quần chúng lao động Nó đề cập đến nhiều vấn đề ở mọi khía cạnh, trong mọi tình huống của cuộc sống, từ công cha nghĩa mẹ, tình yêu, tình vợ chồng, tình huynh

đệ cho đến những tình cảm riêng tư của mỗi con người, hay những vấn đề mang tính thời sự cập nhật, đả kích và phê phán những thói hư tật xấu của xã hội đương thời… Không chỉ phục vụ cho đám đông ngoài xã hội, người nghệ sĩ xẩm còn sẵn sàng phục vụ theo yêu cầu như trong dịp cưới xin, ma chay, giỗ kỵ và thậm chí nhiều khi chỉ đơn giản là “nhờ bác xẩm đánh tiếng dùm” với

cô nàng thôn nữ đang đứng bên đàng

Một trong những chức năng vô cùng độc đáo của nghệ thuật hát Xẩm là một kênh truyền thông bằng tiếng hát rất hữu hiệu Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và cả trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Xẩm địch vận đã xuất hiện và phát huy vai trò tích cực của mình Để động viên tinh thần đấu tranh anh dũng của các chiến sĩ trong trận tuyến quyết giữ mạch máu lưu thông cầu Hàm Rồng, nghệ nhân Xẩm Minh Sen (Thanh Hoá) đã ôm cây đàn nhị đi khắp mọi

Trang 34

nơi trên mặt trận để mang những lời ca hóm hỉnh, mang lại tiếng cười sảng khoái cho các chiến sĩ Rồi nghệ nhân Xẩm đất Ninh Bình là bà Hà Thị Cầu, người được mệnh danh là người đàn bà hát Xẩm cuối cùng của thế kỷ XX, tuy không hề biết đến mặt chữ, nhưng cách đây hơn nửa thế kỷ đã sáng tác ra bài Xẩm “Theo Đảng trọn đời” theo điệu thập ân với những câu thơ: “Vững tâm theo Đảng nghe con/ Đạp bằng sóng gió sắt son lời thề” Hay nghệ nhân Vũ Ðức Sắc với bài “Tiễu trừ giặc dốt” hưởng ứng Phong trào Bình dân học vụ do Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động

Tới giữa thế kỷ XX, nghề hát Xẩm vẫn còn với các tên tuổi nghệ nhân tài ba, như: Nguyễn Văn Nguyên - tức cụ Trùm Nguyên, Vũ Đức Sắc (Hà Nội); Thân Đức Chinh (Bắc Giang); Nguyễn Phong Sắc (Hải Dương), cụ Trùm Khoản (Sơn Tây), cụ Chánh Trương Mậu (Ninh Bình); cụ Đào Thị Mận (Hưng Yên); cụ Trần Thị Nhớn (Nam Định); Trần Thị Thìn, Nguyễn Văn Khôi (Hà Đông) và nhiều nghệ nhân khuyết danh khác Tuy nhiên, đến nay, nghệ nhân hát Xẩm chỉ còn đếm trên đầu ngón tay, đặc biệt những người coi hát Xẩm như một nghề kiếm sống giờ chỉ còn duy nhất nghệ nhân Hà Thị Cầu (vợ út của ông Chánh Trương Mậu - trùm Xẩm đất Ninh Bình khi xưa)

Từ thập niên 60 trở lại đây, vì nhiều nguyên nhân khác nhau do điều kiện môi trường và xã hội, đặc biệt là do những quan niệm sai lầm nên các phường Xẩm dần tan rã và không hoạt động nữa Các nghệ nhân Xẩm tài danh bước dần vào tuổi xế chiều, rồi lần lượt ra đi, vĩnh viễn đem theo những giá trị nghệ thuật đặc sắc mà họ đã từng lưu giữ và thực hành Đời sống xã hội của nghệ sĩ Xẩm không còn, nghệ thuật hát Xẩm đã bị lãng quên, tưởng như đã thất truyền

1.4 Sự phát triển của nghệ thuật hát Xẩm ở Hà Nội

1.4.1 Sự ra đời nghệ thuật hát Xẩm ở Hà Nội

Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, trên lưu vực châu thổ sông Hồng thịnh hành một loại hình diễn xướng dân gian đặc sắc đó là hát Xẩm Với sự lan truyền

Trang 35

mạnh mẽ, môi trường diễn xướng rộng rãi và đối tượng khán giả đa dạng, từ một loại hình giải trí lúc nông nhàn, hát xẩm đã phát triển thành một nghề kiếm sống của người nghèo nơi thành thị và được truyền dạy từ thế hệ này đến thế hệ khác Theo chân những nhà tiểu thương về đất kinh kỳ, Xẩm đã nhanh chóng thích nghi, và dần trở thành một loại hình văn hóa dân gian đặc sắc ở Hà Nội Những năm đầu thế kỷ XX, giai đoạn thực dân nửa phong kiến, thời kỳ chiến tranh chống Pháp, những người hát Xẩm ở các vùng quê “đùm to, đùm nhỏ” cùng nhau lên chốn thị thành như Hà Nội để hành nghề kiếm sống Mùa màng thất bát, thời chiến loạn lạc, gánh Xẩm ở thôn làng xưa buộc phải tìm môi trường mới để sống và hát Những chuyến tàu điện hành trình ngắn, tiếng leng keng báo hiệu tàu đi tàu đến, đông đúc người qua lại và dễ dàng thu hút người xem đã là không gian diễn xướng lý tưởng cho loại hình nghệ thuật độc đáo này Bến xe điện Bờ Hồ nằm ngay đầu đại lộ Francis Garnier ngày ấy (ngày nay là phố Đinh Tiên Hoàng ), đều đều chở khách ngược xuôi quanh Hà Nội, đã trở thành địa chỉ quen thuộc đặc trưng văn hóa của người dân Hà Thành Tàu điện

là phương tiện giao thông công cộng được tầng lớp thị dân ưa chuộng vì giá vé

rẻ và rất tiện dụng nên lúc nào cũng đông khách Dù chỉ tối đa có 3 toa, nhưng liên tục leng keng chuyến đi, chuyến về, khách lên, khách xuống và khách đi tàu bao giờ cũng có dăm ba xu lẻ trong túi, đó là cơ hội tốt để các nhóm hát Xẩm kiếm ăn Họ hát cho khách nghe trước khi tàu chuyển bánh, khi chuyến tàu đó chạy, họ lại chuyển sang chuyến khác, hát cho đến khi nhà tàu nghỉ Nhưng có khi đang hát thì tàu chạy nên cả nhóm không kịp xuống thế là đành theo và xuống bến gần nhất để lên tàu khác quay lại Bờ Hồ Song tại sao các nhóm hát Xẩm không chọn ga Hàng Cỏ cũng là bến tàu và còn đông đúc người đưa, kẻ đón hơn bến tàu điện? Ga Hàng Cỏ tuy đông nhưng lại không có chuyến đi chuyến về liên tục như tàu điện, hơn nữa khách xuống ga là họ về nhà hay đến ngay đến nơi cần đến Còn khách chờ tàu thì cũng chỉ có từng đấy, vả lại mua

Trang 36

vé xong sợ mất cắp nên họ giấu tiền vào trong người, muốn cho họ lại phải móc hầu bao ra nên nhiều người ngại Người hát Xẩm hiểu điều ấy nên họ không ra bến tàu hỏa là vì thế Hát Xẩm thường đi theo nhóm, có khi là hai, có khi là ba người Một người kéo nhị, một người hát Có nhóm người vừa kéo nhị vừa hát còn người kia chìa nón Những bài họ hát chủ yếu ca ngợi Hà Nội, ít hát các bài

về thân phận, nỗi khổ như ở bến đò, chợ quê

Khi bước chân từ chốn thôn quê ra Hà Nội, Xẩm chợ đã trở nên chuyên nghiệp hơn Vẫn là lối hát đồng nội ấy, nhưng tiết tấu nhanh và bóng bẩy hơn, trang phục biểu diễn cầu kỳ hơn Nhịp sống nơi đây vốn đã sôi động, nhiều người tri thức cao, vốn am hiểu sâu, nên nhu cầu thẩm mỹ trong ca từ Xẩm cũng được người nghệ sĩ khéo léo vận dụng Những bài thơ mới của các thi sĩ nổi tiếng như Nguyễn Bính, Nguyễn Khuyến, Á Nam Trần Quang Khải…cũng được đưa vào làm phong phú thêm những câu hát trong các làn điệu Xẩm Ngược xuôi 36 phố phường, tàu điện mang niềm vui ca hát cho phố hội Thăng Long, đưa Xẩm trở thành loại hình âm nhạc đường phố vô cùng độc đáo, gắn bó thân thiết với bước chân già trẻ gái trai nơi đây Để rồi khúc ca Xẩm vang lên, làm cuộc sống ồn ào thị thành như có chốn dừng chân, đó chính là Xẩm Hà Nội hay còn gọi là Xẩm tàu điện

“ Bắc Kỳ vui nhất Hà thành Phố phường sầm uất văn minh rợp trời

Thanh tao lịch sự đủ mùi Cao lâu rạp hát vui chơi đủ đầy Đâu đâu khắp hết đông tây Thăng Long thắng địa xưa nay tiếng đ n

Cũ thời băm sáu phố phường Ngày nay mở rộng đến hàng vài trăm

Người đi xe chạy ầm ầm

Trang 37

Đua chen thương mại bội phần hơn xưa

Nhất vui là cảnh Bờ H Hàng Đào, Hàng Bạc, Hàng B , Hàng Ngang”

1.4.2 Sự phát triển của hát Xẩm ở Hà Nội

Hát Xẩm hình thành, phát triển mạnh mẽ ở Hà Nội cuối thế kỷ XIX, đầu thế

kỷ XX, trở thành một loại hình văn hóa dân gian đặc sắc của Hà Nội

Thông thường, một nhóm Xẩm chính là một gia đình Xẩm, có bố, mẹ và các con Trong đó, bố hoặc mẹ, hoặc cả bố và mẹ bị khiếm thị, các con sáng mắt đi theo, vừa để đỡ đần bố mẹ, vừa học nghề Tuy hoàn cảnh khốn khó nhưng những nghệ nhân hát xẩm luôn có lòng tự trọng cao Họ không than thân trách phận mà trái lại luôn lạc quan Họ tôn trọng nghề nghiệp của mình và coi đó là một công việc cao quý

Sau những năm tháng chiến tranh khốc liệt, tiếp đó là những khó khăn thời bao cấp đã khiến Xẩm Hà Nội có lúc tưởng mai một, thậm chí đứng trước bờ vực của sự lãng quên và thất truyền Cho đến gần đây, khi xu hướng hội nhập quốc tế ngày càng mạnh mẽ thì nhu cầu lưu giữ những giá trị truyền thống, bản sắc dân tộc được đặt ra như một yêu cầu bức thiết Nhận thức được vấn đề đó, với phương tiện, điều kiện hiện đại, cùng đội ngũ những người làm nghề tâm huyết, có chuyên môn, công việc sưu tầm, bảo tồn và làm sống lại những giá trị văn hóa nghệ thuật xưa đạt được một số thành tựu Xẩm Hà Nội mới "sống" lại trong không gian phố cổ vài năm trở lại đây nhưng chưa đủ khiến người yêu Xẩm thỏa "cơn nghiền" Thi thoảng lắm người ta mới thấy những nghệ sĩ mặc

đồ nâu thẫm, đeo kính đen, kéo nhị, gõ phách ở cổng chợ Đồng Xuân hay đình Hào Nam

Nhóm các nhà nghiên cứu trong đó đi đầu là Gs Phạm Minh Khang, nhạc sỹ Thao Giang cùng các nghệ sỹ của Trung tâm Phát triển âm nhạc Việt Nam đã dày công tìm kiếm, sưu tầm, nghiên cứu tư liệu, tham khảo các nghệ nhân, với

Trang 38

mong muốn làm sống lại loại hình nghệ thuật này Cùng với những biến chuyển của xã hội, không còn là một nhóm người nhỏ lẻ đứng hát nơi góc phố, Xẩm ngày nay được trình diễn trên sân khấu trang trọng, với đội ngũ nghệ sỹ trình diễn được đào tạo bài bản, chuyên nghiệp

1.4.2.1 Môi trường diễn xướng

Xẩm hoạt động theo từng gia đình đơn lẻ Trong những dịp hội làng, họ cũng thường hay kết nhóm để tăng cường khả năng phối hợp nghệ thuật giữa chốn đông người Trong từng vùng, các nhóm Xẩm lại kết thành phường hội với sự sắp đặt trên dưới rất có tổ chức Họ cũng rất có ý thức trong việc tổ chức truyền nghề cho thế hệ sau “Lá lành đùm lá rách, lá rách ít đùm lá rách nhiều” là cái nết ăn, nết ở không thể thiếu để các nghệ sĩ có thể dựa dẫm, đùm bọc lẫn nhau trên mọi nẻo đường sinh nhai

Nhìn trên diện rộng, người hát Xẩm cũng giống như tất cả mọi nghệ sĩ chuyên nghiệp, chỉ khác ở chỗ, sân khấu của họ chính là đường phố, là gốc đa, bến nước, sân đình hoặc đơn giản chỉ là một góc chợ quê nghèo

1.4.2.2 Tổ chức dàn nhạc và nhạc cụ Xẩm

Hát Xẩm là hình thức hát rong có địa bàn hoạt động khắp cả nước Nhưng chỉ trong hát xẩm cổ vùng đồng bằng Bắc bộ mới có làn điệu riêng Khi biểu diễn, người hát Xẩm thường vừa hát vừa đánh đàn bầu (còn gọi là đàn Xẩm) hoặc kéo nhị, phối hợp với người đánh sênh, vỗ trống mảnh - đây là những nhạc

cụ thường sử dụng trong dàn nhạc Xẩm Đôi khi có thêm cả trống đế, mõ hoặc một số nhạc cụ khác

Nói về nhạc khí của Xẩm, trước nhất phải kể đến vị trí của cây đàn bầu Nếu căn cứ vào truyền thuyết Tổ nghề, cây đàn này được xem như gắn liền với sự ra đời của nghề hát xẩm, nên còn gọi là đàn Xẩm Hẳn vì thế mà kiểu dạng đàn bầu khá phổ biến ở các nhóm Xẩm cho đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX vẫn được gọi là “đàn song” Cây đàn bầu dạng này vẫn bảo lưu cái vòi đàn (cần đàn)

Trang 39

dạng hình cây song với dây đàn được mắc khá cao so với mặt đàn Bên cạnh đó, kiểu dạng đàn bầu có quả bầu cộng hưởng với lối mắc dây ở sát mặt đàn cũng dần được xẩm sử dụng, lưu hành đến tận ngày nay Trên thực tế, đàn bầu vốn là nhạc cụ khó sử dụng Thế nên một nhóm Xẩm được xem là mẫu mực thường không thể thiếu nhạc cụ này Người đứng đầu nhóm vừa chơi đàn bầu vừa hát Bên cạnh đàn bầu, đàn nhị cũng là nhạc cụ quan trọng Cũng như đàn bầu, đàn nhị thuộc hệ nhạc cụ dây không phím, nhờ thế có thể uốn lượn theo mọi cung bậc âm điệu tinh tế, rất gần với nguyên tắc phát âm của giọng người Trong nhiều nhóm xẩm, người chơi đàn nhị thường đóng vai trò phụ trợ cho người hát chính Nhưng cũng không ít nhóm xẩm do không chơi được đàn bầu nên đàn nhị đảm nhiệm vai trò chính trong dàn nhạc xẩm Trong việc mang vác

di chuyển, đàn nhị gọn nhẹ hơn đàn bầu, lại không chiếm nhiều chỗ trên chiếu diễn như đàn bầu Mặt khác, giữa đám đông người, âm lượng cung vĩ kéo của nhị lại vượt trội so với đàn bầu Có thể vì thế nên nhiều trường hợp, đàn nhị được ưa dùng hơn đàn bầu Xẩm chơi 2 loại nhị: loại âm khu cao (còn gọi đàn Líu) hợp với giọng nữ và loại âm khu thấp (còn gọi đàn Hồ) hợp với giọng nam Bên cạnh đàn bầu và đàn nhị, trong những dịp hợp tác làm ăn ở hội làng, nhiều nhóm xẩm còn sử dụng thêm tiêu, sáo các loại, tạo sự phong phú cho dàn nhạc xẩm Trong đó, sự góp mặt của cây sáo mạng là một hiện tượng độc đáo Đây là một loại sáo có cấu trúc khá đặc biệt Ở giữa khoảng cách từ lỗ thổi đến

lỗ bấm, người ta khoét thủng một lỗ khác rồi đắp một núm bằng sáp ong tạo thành một lỗ núm Trên miệng lỗ núm gắn miếng cật măng mỏng để khi thổi, tạo ra âm sắc rè rè, nghe khá ấn tượng Trong nội bộ các thể loại âm nhạc của người Kinh, sáo mạng là nhạc cụ chỉ thấy có ở nghệ thuật Xẩm

Như thế, nhạc cụ của Xẩm thiên về những nhạc khí có âm sắc gần với nguyên tắc phát âm của giọng người - là đàn bầu và đàn nhị; hay loại âm sắc độc đáo như sáo mạng Ở đây, không thấy sự góp mặt của các nhạc cụ họ dây

Trang 40

gắn phím Chắc hẳn Xẩm có chủ ý muốn tìm cho mình một sự nổi trội nhất định nhằm tạo sức hấp dẫn riêng, những mong gây được ấn tượng cho người nghe, giúp ích cho cuộc mưu sinh thường nhật

Về các nhạc cụ tiết tấu, Xẩm thường xuyên sử dụng đôi sênh, một cặp trống mảnh (loại trống tang mỏng một mặt) và khi cần, thêm cỗ phách phụ trợ Trong

đó, sênh (còn gọi sênh cặp kè hay cặp kè) là nhạc cụ của riêng xẩm, không thấy

có ở bất cứ thể loại âm nhạc nào khác Sênh là 2 mảnh tre già (hoặc gỗ cứng) được đẽo gọt thành 2 mặt phiến hình thoi cân xứng, một mặt phẳng, một mặt lưng cong như đáy thuyền dài chừng 20 cm, rộng chừng 5-7 cm Khi chơi đặt trong lòng bàn tay, hai mặt phẳng úp vào nhau (thế nên mới gọi là cặp kè), kích

âm bằng cách nắm - mở, khiến 2 mảnh va đập tạo âm hình tiết tấu giữ nhịp, đệm cho lời ca Điểm đáng chú ý, tiếng sênh nghe thanh mảnh và sắc nét, khác hẳn với tiếng phách, mõ, vốn cũng là những nhạc cụ toàn thân vang bằng tre, gỗ nhưng được kích âm bằng dùi Thường người ta chỉ chơi một cặp sênh, nhưng cũng có khi chơi hai tay hai cặp để tạo độ dày của tiết tấu Sênh của xẩm khiến người ta liên tưởng đến huyền tích Tổ nghề Khi lần mò trong rừng sâu, đức ngài Trần Thánh sư cũng nhặt được 2 mảnh tre già gõ vào nhau, coi như đó là tiền thân của nhạc cụ độc đáo này Ở đây, sẽ thấy sự tích Tổ nghề dù chỉ là một huyền thoại do giới nghề dựng lên nhưng rõ ràng, nghệ thuật xẩm đã đóng góp vào kho tàng nhạc cụ Việt Nam 3 nhạc cụ thật độc đáo là đàn bầu, sênh và cây sáo mạng Tài năng của những nghệ sĩ khiếm thị Việt Nam là điều đáng khâm phục

Về cặp trống mảnh trong hát Xẩm, theo thư tịch cổ cũng như các hình chạm khắc, nhạc cụ này (đan diện cổ) đã từng xuất hiện ở nghệ thuật hát Ả Đào người Việt Trong Vũ trung tùy bút, Phạm Đình Hổ viết: “đan diện cổ là trống mảnh một mặt, tang trống nhỏ và mỏng, sơn son thếp vàng, khi ả đào mới lên chiếu hát hay lúc uốn éo múa may, thì đánh trống ấy, tiếng kêu lung bung, bập bùng

Ngày đăng: 02/07/2022, 09:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Việt Ngữ (1992) "Hát Xẩm, loại ca nhạc đ c biệt của người mù Việt Nam". Di sản văn hóa dân gian. Hà Nội: Hội văn nghệ dân gian Việt Nam, 1992, tr 76 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hát Xẩm, loại ca nhạc đ c biệt của người mù Việt Nam
4. Nguyễn Bính 1986 Tuyển tập Nguyễn Bính, Nxb Văn học 5. Xuân Hoạch ( 2007), Vui nhất có chợ Đồng Xuân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Nguyễn Bính
Nhà XB: Nxb Văn học 5. Xuân Hoạch ( 2007)
8. Nguyễn Thị Hồng Ngân ( 2011) “ Tìm hiểu về công tác bảo t n và phát triển nghệ thuật Hát Xẩm tại Trung tâm phát triển nghệ thuật âm nhạc Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu về công tác bảo t n và phát triển nghệ thuật Hát Xẩm tại Trung tâm phát triển nghệ thuật âm nhạc Việt Nam
9. Trần Việt Ngữ “ Hát ẩm, loại ca nhạc đ c biệt của người mù Việt Nam” Di sản văn hóa dân gian. Hà Nội: Hội văn nghệ dân gian Việt Nam, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Hát ẩm, loại ca nhạc đ c biệt của người mù Việt Nam” Di sản văn hóa dân gian
11. Tổng cục Du lịch Việt Nam (2011), Non nước Việt Nam, nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Non nước Việt Nam
Tác giả: Tổng cục Du lịch Việt Nam
Nhà XB: nxb Hà Nội
Năm: 2011
12. BKT HN-1: Bách khoa thư Hà Nội, Tập 1: Lịch sử. - NXB Văn hóa - Thông tin, Viện NC và phổ biến kiến thức bách khoa, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bách khoa thư Hà Nội, Tập 1: Lịch sử
Nhà XB: NXB Văn hóa - Thông tin
13. Nguyễn Khải 1995: Một người Hà Nội (truyện ngắn). - Trong tập: “Hà Nội trong mắt tôi”, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một người Hà Nội (truyện ngắn). - Trong tập: “Hà Nội trong mắt tôi”
Nhà XB: NXB Hà Nội
14. Nguyễn Chí Bền (2004), “Bảo tàng với việc bảo t n và phát huy các di sản văn hóa phi vật thể”, Tạp chí Di sản văn hóa, số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bảo tàng với việc bảo t n và phát huy các di sản văn hóa phi vật thể”
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Năm: 2004
15. Nguyễn Chí Bền (2005), “Bảo t n di sản văn hóa vật thể Thăng Long - Hà Nội, những vấn đề phương pháp luận”, Tạp chí Di sản văn hóa, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bảo t n di sản văn hóa vật thể Thăng Long - Hà Nội, những vấn đề phương pháp luận”
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Năm: 2005
16. Phạm Duy (1972), Đ c khảo về dân nhạc ở Việt Nam, Nxb Hiện đại, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đ c khảo về dân nhạc ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Duy
Nhà XB: Nxb Hiện đại
Năm: 1972
17. Trần Đình Hượu (1996), Đến hiện đại từ truyền thống, Nxb Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đến hiện đại từ truyền thống
Tác giả: Trần Đình Hượu
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 1996
18. Nguyễn Thụy Loan (1993), Lược sử âm nhạc Việt Nam, Nxb Âm nhạc, Nhạc viện Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược sử âm nhạc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thụy Loan
Nhà XB: Nxb Âm nhạc
Năm: 1993
19. Trần Ngọc Thêm (1999), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
20. Trần Ngọc Thêm (2001), Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb TP.HCM, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: Nxb TP.HCM
Năm: 2001
21. Ngô Đức Thịnh (2010), Bảo t n, làm giàu và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trong đổi mới và hội nhập, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo t n, làm giàu và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trong đổi mới và hội nhập
Tác giả: Ngô Đức Thịnh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2010
22. Võ Quang Trọng (2010), Bảo t n và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể ở Thăng Long - Hà Nội, Nxb Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo t n và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể ở Thăng Long - Hà Nội
Tác giả: Võ Quang Trọng
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2010
23. Trần Quốc Vượng, Nguyễn Vĩnh Phúc, Lê Văn Lan (1994), Tìm hiểu di sản văn hóa dân gian Hà Nội, Nxb Khoa học xã hội, Hà NộiB. Báo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu di sản văn hóa dân gian Hà Nội
Tác giả: Trần Quốc Vượng, Nguyễn Vĩnh Phúc, Lê Văn Lan
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1994

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Với người Việt Nam: Tác giả đã tập trung khảo sát thông qua bảng hỏi với những câu hỏi đóng, câu hỏi mở và phỏng vấn trực tiếp 300 khán giả gián tiếp  để đưa ra được kết quả điều tra khảo sát như sau: - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu nghệ thuật hát xẩm phục vụ phát triển du lịch trên địa bàn hà nội   (đào tạo thí điểm)
i người Việt Nam: Tác giả đã tập trung khảo sát thông qua bảng hỏi với những câu hỏi đóng, câu hỏi mở và phỏng vấn trực tiếp 300 khán giả gián tiếp để đưa ra được kết quả điều tra khảo sát như sau: (Trang 68)
Bảng 2.1. oại hình nghệ thuật truyền thống đã từng xem - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu nghệ thuật hát xẩm phục vụ phát triển du lịch trên địa bàn hà nội   (đào tạo thí điểm)
Bảng 2.1. oại hình nghệ thuật truyền thống đã từng xem (Trang 68)
Bảng 2.2. oại hình nghệ thuật được ưa thích nhất - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu nghệ thuật hát xẩm phục vụ phát triển du lịch trên địa bàn hà nội   (đào tạo thí điểm)
Bảng 2.2. oại hình nghệ thuật được ưa thích nhất (Trang 69)
oại hình địa điểm - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu nghệ thuật hát xẩm phục vụ phát triển du lịch trên địa bàn hà nội   (đào tạo thí điểm)
o ại hình địa điểm (Trang 70)
Bảng 3.2. Các biện pháp để hát Xẩm được các bạn trẻ biết đến nhiều hơn ở Hà Nội - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu nghệ thuật hát xẩm phục vụ phát triển du lịch trên địa bàn hà nội   (đào tạo thí điểm)
Bảng 3.2. Các biện pháp để hát Xẩm được các bạn trẻ biết đến nhiều hơn ở Hà Nội (Trang 94)
Phụ lụ c2 - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu nghệ thuật hát xẩm phục vụ phát triển du lịch trên địa bàn hà nội   (đào tạo thí điểm)
h ụ lụ c2 (Trang 120)
MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH HỌA CHO LUẬN VĂN - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu nghệ thuật hát xẩm phục vụ phát triển du lịch trên địa bàn hà nội   (đào tạo thí điểm)
MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH HỌA CHO LUẬN VĂN (Trang 120)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w