Lịch sử nghiên cứu vấn đề Nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của giáo dục - đào tạo trong sự phát triển hưng thịnh của đất nước, trong những năm gần đây đã có rất nhiều công trình
Trang 1MỤC LỤC
Chương 1: ĐẢNG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC PHỔ
THÔNG TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU ĐẨY MẠNH CÔNG
NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ 1996 - 2000
9
1.1 Vài nét về quá trình Đảng lãnh đạo phát triển giáo dục phổ
thông trong những năm đầu tiến hành đổi mới 1986 - 1996 9 1.2 Chủ trương phát triển giáo dục phổ thông của Đảng trong
những năm đầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
1996 - 2000
15
1.3 Quá trình Đảng chỉ đạo phát triển giáo dục phổ thông trong
Chương 2: ĐẢNG LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN
GIÁO DỤC PHỔ THÔNG NHẰM TẠO BƯỚC CHUYỂN BIẾN
CƠ BẢN, TOÀN DIỆN TRONG NHỮNG NĂM 2001 - 2006 46 2.1 Chủ trương phát triển giáo dục phổ thông nhằm tạo bước
chuyển cơ bản, toàn diện trong những năm 2001 - 2006 46 2.2 Quá trình Đảng chỉ đạo phát triển giáo dục phổ thông trong
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Trong mọi thời đại, giáo dục - đào tạo luôn đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ và nền kinh tế tri thức, yếu tố con người được coi là động lực chính của sự phát triển mà giáo dục - đào tạo chính là điều kiện tiên quyết để phát triển nguồn lực con người Cho nên, đại bộ phận quốc gia trên thế giới đều tiến hành đổi mới, cải cách
giáo dục nhằm đáp ứng yêu cầu của sự phát triển
Ở Việt Nam, sau 10 năm đổi mới (1986 - 1996), nước ta đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội nhưng một số mặt còn phát triển chưa vững chắc Đại hội lần thứ VIII của Đảng (1996) đã quyết định đưa nước ta vào một thời
kì mới - “thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” - trong đó, đặc biệt chú trọng đến phát triển nguồn lực con người và đặt giáo dục - đào tạo
ở vị trí “quốc sách hàng đầu”, yếu tố then chốt để phát huy nguồn lực con người, làm chìa khoá cho sự phát triển
Trong chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo của Đảng, giáo dục phổ thông là một bộ phận trọng yếu, cơ bản của nền giáo dục quốc dân, bao gồm hai bậc học là tiểu học và trung học; ở bậc trung học có hai cấp là trung học cơ
sở và trung học phổ thông Giáo dục phổ thông đóng một vai trò quan trọng, bởi đó là quá trình “có sự gặp nhau hài hòa giữa ba nhân tố: giáo dục phổ thông, tuổi trẻ và triển vọng nghề nghiệp”, là “quá trình chuẩn bị vào đời của mọi người” [30, tr.33] Mục tiêu của giáo dục phổ thông là: “giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân
Trang 3cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [58, tr.25] Như vậy, giáo dục phổ thông
chính là nền tảng văn hóa, là cánh cửa đầu tiên để mỗi người tiếp cận với tri thức; đồng thời cũng là phương tiện quan trọng nhất để hình thành nhân cách
và trí tuệ con người Do vậy, phát triển giáo dục phổ thông là vấn đề được quan tâm và chú trọng hàng đầu
Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, giáo dục - đào tạo nói chung, giáo dục phổ thông nói riêng đang đứng trước tồn tại và vướng mắc chưa được tháo
gỡ, được coi là một trong những nguyên nhân làm trì trệ sự phát triển của đất nước Không phải ngẫu nhiên, trước yêu cầu đổi mới để phát triển, giáo dục - đào tạo đang trở thành chủ đề lớn được quan tâm, cũng là nỗi “nhức nhối” cần giải quyết của toàn Đảng, toàn nhân dân Thực tế đó đã yêu cầu phải định hình lại giáo dục, phải có một “cuộc cách mạng trong giáo dục”, phải đổi mới tư duy về giáo dục, cũng như cách làm cho giáo dục thực sự là “quốc sách hàng đầu”, làm cho con người phát triển toàn diện và việc học trở thành công việc suốt đời để tồn tại, chung sống và đi lên cùng với xã hội
Nền giáo dục cách mạng Việt Nam, kể năm 1945 đến nay, đã trải qua chặng đường 65 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, vượt lên rất nhiều khó khăn, thử thách và đạt được nhiều thành tựu đáng tự hào Phát huy những thành quả
đã đạt được, trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước
từ năm 1996 đến năm 2006, Đảng ta đã có sự lãnh đạo, quan tâm đặc biệt đến phát triển giáo dục - đào tạo và quán triệt hơn nữa yêu cầu là “quốc sách hàng đầu” Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong 10 năm (1996 - 2006), giáo dục phổ thông nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, có ý nghĩa hết sức to lớn, là cơ sở, điều kiện để phát triển nguồn lực con người, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Bên cạnh những
Trang 4thành tựu đã đạt được, giáo dục phổ thông cũng không tránh khỏi những tồn tại, hạn chế và vướng mắc cần được tháo gỡ
Tìm hiểu và nghiên cứu về những chủ trương, biện pháp chỉ đạo phát triển giáo dục phổ thông của Đảng trong những năm 1996 - 2006 không chỉ là vấn đề mang tính lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn quan trọng; qua đó góp phần tổng kết một chặng đường phát triển giáo dục phổ thông của cả nước; làm rõ hơn vai trò lãnh đạo của Đảng trên mặt trận văn hoá - giáo dục Đồng thời, góp phần làm sáng tỏ thêm những ưu, khuyết điểm; bước đầu rút ra những bài học kinh nghiệm về phát triển giáo dục phổ thông Do vậy, chúng
tôi quyết định lựa chọn đề tài Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo phát triển
giáo dục phổ thông trong những năm 1996 - 2006 làm luận văn thạc sĩ
chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của giáo dục - đào tạo trong sự
phát triển hưng thịnh của đất nước, trong những năm gần đây đã có rất nhiều
công trình nghiên cứu, điển hình là các tác phẩm như: Về vấn đề giáo dục - đào tạo (1999) của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng; Toàn cảnh giáo dục - đào tạo Việt Nam của Nguyễn Quang Hưng, Trịnh Văn Chung và Vũ Thị Hương Giang; Nền kinh tế tri thức và yêu cầu đổi mới giáo dục Việt Nam (2001) của Trần Văn Tung; Giáo dục và đào tạo trong thời kỳ đổi mới - Chủ trương, thực hiện, đánh giá (2002) của Ban Tuyên giáo Trung ương; Tìm hiểu công tác khoa giáo trong tình hình mới (2003) của Đặng Hữu; Phát triển giáo dục và đào tạo nhân tài (2004) của Nghiêm Đình Vỳ và Nguyễn Đắc Hưng; Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai - Vấn đề và giải pháp (2004) của Đặng Quốc Bảo và Nguyễn Đắc Hưng; Chiến lược phát triển giáo dục trong thế kỷ XXI - Kinh nghiệm của các quốc gia (2005) của Viện Nghiên cứu phát triển giáo dục - Bộ Giáo dục và Đào tạo; Toàn cảnh giáo dục - đào tạo Việt Nam
Trang 5(2005) của Trung tâm thông tin - Bộ Giáo dục và Đào tạo; Lịch sử giáo dục Việt Nam (2005) của Bùi Minh Hiền, v.v
Trong những nghiên cứu về giáo dục - đào tạo nước ta, phải kể đến
công trình Giáo dục Việt Nam 1945 - 2005, gồm 2 tập của Hội Khoa học Kinh
tế Việt Nam và Trung tâm Thông tin và Tư vấn phát triển, được Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 2005 Đây là một công trình nghiên cứu công phu, có nội dung phong phú, khái quát những chặng đường lịch sử của quá trình phát triển nền giáo dục Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2005 và sự nghiệp giáo dục - đào tạo của các tỉnh, thành phố trong cả nước
Đặc biệt, phải kể đến sự đóng góp khá nhiều các nghiên cứu của
GS,VS Phạm Minh Hạc, như: Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa của thế
kỷ XXI (1999); Về phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (2001); Tổng kết 10 năm (1990 - 2000) xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học (2001); Nhân tố mới về giáo dục - đào tạo trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (2002); v.v Các ấn phẩm này đã dày
công nghiên cứu về các bước phát triển của giáo dục - đào tạo Việt Nam trong những năm đầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhấn mạnh quan điểm giáo dục là “quốc sách hàng đầu”, những thành tựu, các hạn chế và
đề xuất các giải pháp để phát triển giáo dục - đào tạo nói chung…
Ngoài ra, còn khá nhiều bài viết trên các tạp chí Cộng sản, tạp chí Lịch
sử Đảng, tạp chí Tia sáng, báo Giáo dục và thời đại; trên các diễn đàn trao
đổi và một số luận án, luận văn… nghiên cứu về giáo dục - đào tạo
Nhìn chung, các nghiên cứu trên đều nhấn mạnh vai trò quan trọng, quyết định của giáo dục - đào tạo trong sự phát triển kinh tế - xã hội và yêu cầu phải tập trung phát triển giáo dục, coi đây là chìa khóa thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; tìm hiểu, phân tích thực trạng
Trang 6giáo dục nước ta, đề ra những giải pháp, những vấn đề cần phải tháo gỡ… Song, đề cập cụ thể đến các chủ trương, biện pháp chỉ đạo của Đảng về phát triển giáo dục phổ thông, đặc biệt là trong những năm đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước 1996 - 2006, thì còn thiếu vắng các công trình nghiên cứu
Như vậy, liên quan đến đề tài đã có rất nhiều công trình khoa học nhìn nhận dưới nhiều góc độ và đạt được những kết quả nhất định Tuy nhiên, đề
cập cụ thể về sự lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực giáo dục phổ thông Việt Nam trong những năm 1996 - 2006 lại chưa có một công trình nào tìm hiểu,
nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc Vì thế, đề tài này mong muốn được góp phần nhỏ trong bước đầu tìm hiểu về các chủ trương, biện pháp chỉ đạo của Đảng trên lĩnh vực quan trọng này của nền giáo dục quốc dân
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Mục đích nghiên cứu: Làm rõ các chủ trương, biện pháp chỉ đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm phát triển giáo dục phổ thông trong những
năm 1996 - 2006
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Với mục đích nghiên cứu trên, luận văn có nhiệm
vụ kế thừa thành quả của những người đi trước; thu thập, xử lý tư liệu mới về các chủ trương, biện pháp chỉ đạo của Đảng nhằm phát triển giáo dục phổ thông; trên cơ sở đó, trình bày, phân tích, đánh giá quá trình Đảng lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông trong những năm 1996 - 2006; bước đầu rút ra những ưu điểm, hạn chế, một số bài học kinh nghiệm
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các chủ trương, biện pháp chỉ đạo của Đảng
về phát triển giáo dục phổ thông trong những năm 1996 - 2006
- Phạm vi nghiên cứu:
Trang 7Về nội dung: Các vấn đề liên quan đến hoạt động giáo dục phổ thông
ở Việt Nam trong những năm 1996 - 2006, trong đó chú trọng tới các chủ trương, biện pháp chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm phát triển giáo dục phổ thông
Về thời gian: Từ năm 1996 đến năm 2006, là những năm Việt Nam đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và tiến hành hội nhập quốc tế
5 Cơ sở lí luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
- Cơ sở lí luận: Những quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh về phát triển giáo dục - đào tạo, giáo dục phổ thông
- Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp lịch sử và lôgíc; phương pháp
phân tích - tổng hợp; phương pháp so sánh, hệ thống hoá, đối chiếu, thống kê
- Nguồn tư liệu: Các văn kiện của Đảng và Nhà nước liên quan đến
giáo dục - đào tạo nói chung và giáo dục phổ thông nói riêng; các báo cáo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tổng cục Thống kê về giáo dục phổ thông trong những năm 1996 - 2006; các công trình nghiên cứu của một số tác giả về giáo dục - đào tạo, v.v
6 Đóng góp của luận văn
- Trình bày một cách tương đối toàn diện, cụ thể các chủ trương, biện pháp chỉ đạo của Đảng về phát triển giáo dục phổ thông (1996 - 2006)
- Phân tích và làm sáng tỏ một số nội dung cơ bản, những chuyển biến
và đổi mới trong chủ trương, biện pháp chỉ đạo của Đảng về phát triển giáo dục phổ thông (1996- 2006)
- Rút ra nhận xét về ưu điểm, hạn chế trong phát triển giáo dục phổ thông (1996 - 2006); ý nghĩa của các chủ trương, biện pháp phát triển giáo dục phổ thông mà Đảng đã đề ra; bước đầu rút ra một số bài học kinh nghiệm
7 Cấu trúc luận văn
Trang 8Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn được kết cấu thành ba chương:
Chương 1: Đảng lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông trong những
năm đầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa 1996 - 2000
Chương 2: Đảng lãnh đạo đẩy mạnh phát triển giáo dục phổ thông
nhằm tạo bước chuyển cơ bản và toàn diện trong những năm 2001 - 2006
Chương 3: Một số nhận xét và bài học kinh nghiệm
Trang 9Chương 1 ĐẢNG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ 1996 - 2000
1.1 Vài nét về quá trình Đảng lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông trong những năm đầu đổi mới 1986 - 1996
Thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước, trong đó có đổi mới nền giáo dục quốc dân, Đại hội lần thứ VI của Đảng (1986) đã xác định mục tiêu phát triển giáo dục: “Giáo dục nhằm mục tiêu hình thành và phát triển toàn diện nhân cách xã hội chủ nghĩa của thế hệ trẻ, đào tạo đội ngũ lao động
có kĩ thuật, đồng bộ về ngành nghề phù hợp với yêu cầu phân công lao động của xã hội” [14, tr.94]
Đại hội lần thứ VII cña Đảng (1991) nhấn mạnh hơn nữa quyết tâm
phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo với nỗ lực “tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục - đào tạo”, trong đó vấn đề giáo dục và con người được đặt ở vị trí trung tâm và quan trọng hơn Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000 của Đảng đã đặt con người vào vị trí trung tâm và coi sự nghiệp giáo dục là “quốc sách hàng đầu”; xác định rõ: “khoa học và giáo dục đóng vai trò then chốt trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, là động lực đưa đất nước thoát ra khỏi nghèo nàn, lạc hậu, vươn lên trình độ tiên tiến thế giới” [25, tr.285] Đối với giáo dục phổ thông,
Đại hội nhấn mạnh: “Các trường phổ thông phải dạy kiến thức phổ thông cơ bản, lao động kĩ thuật tổng hợp, hướng nghiệp và dạy nghề phổ thông” [25, tr.95]
Cụ thể hóa các quan điểm mà Đại hội lần thứ VII đề ra, Hội nghị lần
thứ tư Ban Chấp hành Trung ương đã ra Nghị quyết số 04-NQ/TW về “Tiếp
Trang 10tục đổi mới sự nghiệp giáo dục - đào tạo” Hội nghị này được coi là một mốc
mới trong quá trình phát triển giáo dục ViÖt Nam Đây cũng là Hội nghị Trung ương đầu tiên trong lịch sử Đảng ta, đã ra một nghị quyết về đổi mới
sự nghiệp giáo dục - đào tạo với bốn quan điểm chủ đạo:
1- Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực thúc đẩy và điều kiện cơ bản bảo đảm cho các mục tiêu kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo
vệ đất nước Từ đó, phải coi đầu tư giáo dục và đào tạo là một hướng chính cho đầu tư phát triển
2- Mục tiêu của giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đào tạo những con người có kiến thức văn hóa, khoa
học, có kĩ năng nghề nghiệp… Phải mở rộng quy mô, đồng thời chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục, gắn học với hành, tài với đức
3- Giáo dục và đào tạo phải gắn chặt với yêu cầu phát triển đất nước và phù hợp với xu thế tiến bộ của thời đại
4- Giáo dục và đào tạo phải được đa dạng hoá các hình thức đào tạo và phải thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục
Về mục tiêu và nhiệm vụ của giáo dục, Nghị quyết Trung ương 4 khóa
VII cũng nêu rõ:
- Mục tiêu tổng quát: Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân
tài, tức là tạo ra nền tảng dân trí, chuẩn bị một thế hệ lao động mới có trình độ cao hơn, với mũi nhọn là đội ngũ người tài, thực hiện công bằng xã hội
- Mục tiêu phát triển con người: Con người phát triển cao về trí tuệ,
cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức, có khả năng lao động, có tính tích cực chính trị - xã hội Nhà trường đào tạo thế
hệ trẻ theo hướng toàn diện và có năng lực chuyên môn sâu, có ý thức tự tạo việc làm trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần
Trang 11- Đối với giáo dục phổ thông, trong 5 năm 1991 - 1995 phải “tiếp tục đổi mới, ổn định phát triển và nâng cao chất lượng”, trong đó nhấn mạnh các
nhiệm vụ: tập trung thực hiện chương trình phổ cập giáo dục cấp I và chống
mù chữ; phát triển cấp II, cấp III phù hợp với yêu cầu và điều kiện của nền kinh tế; củng cố và phát triển trường phổ thông cho trẻ em khuyết tật; tăng cường đầu tư cho giáo dục miền núi và vùng dân tộc thiểu số, mở rộng các trường dân tộc nội trú, quy hoạch đào tạo cán bộ và tri thức người dân tộc Bên cạnh đó, cần đánh giá cải cách giáo dục phổ thông trong thời gian qua để
có chủ trương phù hợp với định hướng chiến lược, phải làm sao chuẩn bị thật tốt cho thế hệ trẻ Việt Nam bước vào thế kỷ XXI [21, tr.20]
Để thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ trên, Nghị quyết Trung ương 4
khóa VII cũng chỉ ra các biện pháp cần thực hiện là: Tăng kinh phí cho giáo
dục và đào tạo bằng vốn ngân sách và các nguồn khác; chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xây dựng đội ngũ giáo viên; củng cố các trường sư phạm, tôn vinh nghề dạy học và các giáo viên giỏi, mẫu mực; xây dựng và tu bổ trường sở, bảo đảm chất lượng và số lượng sách giáo khoa, tăng thêm phương tiện dạy và học…
Đại hội lần thứ VII, đặc biệt là Hội nghị Trung ương 4 (khóa VII) “Về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục - đào tạo” đã đánh dấu một mốc phát
triển mới của giáo dục Việt Nam, trong đó thể hiện cách nhìn và quan niệm mới về giáo dục Giáo dục - đào tạo giữ một vị trí trọng yếu đối với toàn bộ công cuộc phát triển đất nước và từ năm 1991, giáo dục - đào tạo cùng với
khoa học - công nghệ được coi là “quốc sách hàng đầu” Đầu tư cho giáo dục
là đầu tư cho phát triển, đầu tư cơ bản cho chiến lược kinh tế - xã hội, chứ không phải là một thứ phúc lợi đơn thuần Khâu đột phá đổi mới giáo dục được xác định phải bắt đầu từ các trường học, các trường phổ thông phải dạy học theo hướng kết hợp học tập với lao động sản xuất, truyền thụ và lĩnh hội
Trang 12tri thức phổ thông với các hiểu biết, kỹ năng, thái độ lao động… Toàn bộ đổi mới tư duy giáo dục phải bám sát mục tiêu giáo dục là hình thành và phát triển toàn diện nhân cách, lý tưởng, sức khỏe, trí tuệ con người; trong đó, nhấn mạnh tới vai trò của đội ngũ giáo viên đối với sự phát triển của giáo dục
và nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục
Như vậy, đuờng lối đổi mới, trong đó có đổi mới giáo dục, đã đưa đất nước đi vào thời kỳ phát triển mới Nhờ chính sách đổi mới giáo dục, đặc biệt
là những quan điểm chỉ đạo và những biện pháp lớn được đề ra trong các nghị quyết Đại hội lần thứ VI, VII và Hội nghị Trung ương 4 khóa VII, sau 10 năm phấn đấu (1986 - 1996), vượt qua rất nhiều khó khăn, thiếu thốn của những
năm đầu đổi mới, lĩnh vực giáo dục tiếp tục thu được những thành tựu quan trọng như:
- Mạng lưới trường học phát triển rộng khắp Hầu hết các xã trong cả
nước, kể cả các xã vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo đã có trường, lớp tiểu học Phần lớn các xã ở vùng đồng bằng có trường trung học
cơ sở, hầu hết cả huyện có trường trung học phổ thông Các tỉnh và huyện có nhiều đồng bào dân tộc nội trú đã có hệ thống trường dân tộc nội trú Ngoài
ra, việc đổi mới cơ cấu và hệ thống giáo dục có nhiều chuyển biến: tách hệ thống giáo dục tiểu học ra khỏi hệ thống trung học cơ sở ở những nơi có điều kiện; thí điểm những trường bán công, dân lập ở những nơi có điều kiện, xây dựng các lớp chọn và hệ thống trường chuyên, trường trọng điểm, xây dựng các trường trung học nội trú ở các tỉnh và huyện miền núi
- Ngành giáo dục phổ thông đã ngăn chặn được sự giảm sút quy mô và
có bước tăng trưởng khá Đối với công tác giáo dục phổ cập tiểu học và xóa
mù chữ, toàn ngành giáo dục phổ thông đã thực hiện các biện pháp tuyên
truyền Luật giáo dục phổ cập tiểu học sâu rộng cho toàn dân, huy động tối đa
trẻ đến trường bằng các phương tiện tuyên truyền giáo dục và các hình thức
Trang 13bắt buộc Công cụ cơ bản để thực hiện công tác này là nhà trường tiểu học với nhiệm vụ xây dựng một nền giáo dục tiểu học phát triển cao, trong đó mấu chốt là huy động được 100% trẻ đến trường đúng độ tuổi, bảo đảm chất lượng, khắc phục triệt để hiện tượng bỏ học và lưu ban nhiều Quán triệt đến từng cơ sở, trước hết là các cấp ủy, chính quyền về tư tưởng và nội dung của
Luật phổ cập giáo dục tiểu học, về những chủ trương và biện pháp cần làm tốt
việc phổ cập giáo dục tiểu học
- Chất lượng giáo dục phổ thông đã có những tiến bộ bước đầu Ngành giáo dục phổ thông đã đề ra nhiều biện pháp để nâng cao chất lượng như: thực hiện nghiêm túc chương trình và quy chế chuyên môn; bồi dưỡng học sinh giỏi, kèm cặp, phụ đạo các học sinh yếu kém Số học sinh khá giỏi, đạt giải trong các kỳ thi quốc gia và quốc tế ngày càng tăng Nhà trường đã có những
cố gắng trong việc gắn trí dục với giáo dục lao động, hướng nghiệp; giáo dục đạo đức, tư tưởng, chính trị được chú ý hơn…
- Đối với công tác giáo dục miền núi, đã tăng cường công tác cử tuyển tạo nguồn cán bộ, huy động con em các đồng bào dân tộc đến trường; đảm bảo số lượng giáo viên cần thiết cho các lớp học, đồng thời không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, có chính sách thu hút sinh viên ra trường lên miền núi dạy học; kết hợp dạy tiếng dân tộc và dạy kiến thức về y
tế cộng đồng cho học sinh và giáo viên công tác ở miền núi Một hệ thống trường dân tộc nội trú được xây dựng mới, số học sinh dân tộc nội trú tăng vọt lên gấp 5-7 lần
- Xuất hiện một số nhân tố mới, nhiều nơi đã hình thành phong trào học tập sôi nổi; các loại hình trường lớp phổ thông đa dạng hơn, tạo thêm nhiều
cơ hội học tập cho nhân dân Đã huy động thêm các nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước; xây dựng các chuyên mục phục vụ giáo dục phổ thông trên các phương tiện thông tin đại chúng…
Trang 14Đạt được những thành tựu trên là do có đường lối, chính sách đổi mới đúng đắn của Đảng và Nhà nước, trực tiếp là chính sách đổi mới được thể hiện tập trung trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII; truyền thống hiếu học và sự đóng góp công sức của nhân dân; tinh thần, trí tuệ, tâm huyết của đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục, v.v
Tuy nhiên, giáo dục phổ thông giai đoạn này vẫn còn nhiều tồn tại, yếu kém, bất cập cả về quy mô, cơ cấu, nhất là chất lượng và hiệu quả thấp, chưa đáp ứng kịp những đòi hỏi của công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội Cụ thể là:
- Đầu tư cho giáo dục còn hạn chế, nhất là ở những tỉnh nghèo; cho nên, cơ sở vật chất trường lớp, trang thiết bị dạy học còn nhiều thiếu thốn, vẫn còn phổ biến tình trạng trường lớp bằng nhà tranh tạm bợ ở một số vùng cao, vùng sâu Cả nước vẫn chưa phổ cập được giáo dục tiểu học, số người mù chữ còn nhiều, chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao về dân trí, nguồn nhân lực của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước
- Điều đáng lo ngại nhất là chất lượng và hiệu quả giáo dục còn thấp Trình độ kiến thức, kỹ năng thực hành, phương pháp tư duy khoa học, trình
độ ngoại ngữ và thể lực của đa số học sinh còn yếu Chất lượng đại trà chuyển biến chậm, càng lên lớp trên tỷ lệ học sinh khá và giỏi giảm, yếu kém tăng Các mặt giáo dục lý tưởng, niềm tin, đạo đức, lối sống chưa được quan tâm đúng mức và chưa đạt hiệu quả cần thiết; trong khi đó, nhiều mặt của cơ chế thị trường và văn hóa ngoại lai không lành mạnh đã có những tác động xấu đến sự phát triển giáo dục
- Những biểu hiện tiêu cực, thiếu kỷ cương trong giáo dục đang có chiều hướng gia tăng; chưa thực hiện tốt công bằng xã hội trong giáo dục; đội ngũ giáo viên vừa thiếu, vừa yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển giáo dục - đào tạo trong giai đoạn mới Một bộ phận giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục thiếu gương mẫu về đạo đức và lối sống
Trang 15Nguyên nhân của những yếu kém đó là do công tác quản lý giáo dục có những mặt yếu kém, bất cập, cơ chế quản lý của ngành giáo dục chưa hợp lý; nội dung giáo dục vừa thừa lại vừa thiếu, nhiều phần chưa gắn với cuộc sống; chưa kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục nhà trường với giáo dục gia đình và xã hội; chưa có những quyết định đủ mạnh về chính sách, cơ chế và biện pháp để thể hiện đầy đủ quan điểm giáo dục là “quốc sách hàng đầu”; các chính sách ban hành chưa đủ khuyến khích nghề dạy học; đầu tư cho giáo dục còn thấp…
Tóm lại, nền giáo dục phổ thông nước ta trước năm 1996 đang đứng trước mâu thuẫn lớn giữa yêu cầu vừa phải phát triển nhanh chóng quy mô giáo dục vừa phải gấp rút nâng cao chất lượng, trong khi khả năng và điều kiện còn hạn chế Đó chính là mâu thuẫn trong quá trình phát triển mà chúng
ta cần phải giải quyết Do vậy, định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo nói chung và giáo dục phổ thông nói riêng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đặc biệt là những chủ trương, giải pháp từ năm 1996 đến năm 2000 đòi hỏi phải được thực hiện với tinh thần cách mạng sâu sắc để giải quyết có hiệu quả mâu thuẫn trên
1.2 Chủ trương phát triển giáo dục phổ thông của Đảng trong những năm đầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
1996 - 2000
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (1996) đã quyết định
“đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội Và giai đoạn 1996 - 2000 được Đại hội lần thứ VIII coi là “một bước rất quan trọng trong thời kì mới - thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Nhiệm vụ của nhân dân ta là tập trung mọi lực lượng, tranh thủ thời cơ, vượt qua khó khăn, thử thách, đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách toàn diện và
Trang 16đồng bộ” [24,tr.468]; trong đó “lấy việc phát triển nguồn lực con người làm
yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững” [25,tr.471]
Bên cạnh đó, sau 10 năm thực hiện đường lối đổi mới (1986 - 1996), đất nước ta đã có chuyển biến tích cực trong đời sống kinh tế - xã hội, là tiền
đề cho những chuyển biến mạnh mẽ hơn trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá Một số định hướng, chính sách quan trọng của Đảng
và Nhà nước ta cũng đã được xác lập để tiếp tục duy trì, ổn định, đổi mới và phát triển đất nước Đảng ta quyết định chọn giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ làm “khâu đột phá” của thời kỳ mới, khẳng định tầm quan trọng:
“Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Coi trọng cả ba mặt: mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả Phương hướng chung của lĩnh vực giáo dục trong 5 năm tới là phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tạo điều kiện cho nhân dân, đặc biệt là thanh niên có việc làm; khắc phục những tiêu cực, yếu kém trong giáo dục và đào tạo” [25,tr.490- 491]
Là “khâu đột phá”, nên giáo dục phải đi trước một bước Việc giải quyết thành công hay không thành công “khâu đột phá” này sẽ chi phối toàn
bộ kết quả của cả thời kỳ mới của cách mạng nước ta Do vậy, ngay sau Đại hội lần thứ VIII, từ ngày 16 đến ngày 24-12-1996, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ hai - hội nghị mở đầu chương trình toàn khóa - bàn về giáo dục và đào tạo và khoa học và công nghệ với quyết tâm tìm được những giải pháp có tính cách mạng huy động được sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội để đầu tư cho giáo dục và khoa học
Hội nghị Trung ương 2 khóa VIII đã làm việc một cách khoa học và
tâm huyết, ra một nghị quyết quan trọng và thiết thực cho giáo dục và đào tạo,
Nghị quyết số 02-NQ/HNTW “Về định hướng chiến lược phát triển giáo dục
Trang 17- đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhiệm vụ đến năm 2000”, đánh dấu một mốc quan trọng trong sự nghiệp phát triển giáo dục
nước nhà Sự phát triển của giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ sẽ quyết định sự thành bại của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Và thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước bằng giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ là tư tưởng của thời đại
Để định hướng đúng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời
kì mới, Hội nghị đã đánh giá thực trạng giáo dục - đào tạo của cả nước, vạch
ra nguyên nhân khách quan, chủ quan và nhận định: “Hiện nay sự nghiệp giáo dục - đào tạo đang đứng trước những mâu thuẫn lớn, giữa yêu cầu phải phát triển nhanh quy mô giáo dục - đào tạo vừa phải gấp rút nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, trong khi khả năng và điều kiện đáp ứng yêu cầu còn nhiều hạn chế” [22,tr.28]
Từ đó, Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII đã xác định những tư tưởng chỉ đạo về phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện
đại hóa như sau:
Một là, nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục - đào tạo, trong đó có
giáo dục phổ thông là nhằm xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn
bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có
ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức và kỷ luật; có sức khỏe,
là những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên” như lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Trang 18Như vậy, nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục Việt Nam là nhằm xây
dựng những con người và thế hệ phát triển toàn diện Điều này thống nhất với đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, được khẳng định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991), trong đó
nhấn mạnh một trong những đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa là phải “có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân” Phát triển toàn diện con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói riêng và xây dựng Tổ quốc xã hội chủ nghĩa nói chung
Hai là, phải thực sự coi giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu
Nhận thức sâu sắc vai trò của giáo dục - đào tạo cùng với khoa học - công nghệ là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII đã khẳng định đầu tư cho giáo dục là đầu tư cơ bản, quan trọng nhất, “đầu tư cho phát triển”, không chỉ về tài chính mà là về mọi mặt Sự ưu tiên cho giáo dục phải thể hiện ở các mặt chính sách, đội ngũ cán bộ và công tác quản lý Thực hiện những ưu tiên đó thì giáo dục mới đúng
là “quốc sách hàng đầu” và quốc sách này mới được thực hiện thành công
Ba là, giáo dục - đào tạo là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và toàn dân Mọi người phải học thường xuyên, học suốt đời Mọi người chăm lo cho
giáo dục Các cấp ủy, chính quyền, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức kinh tế
- xã hội, gia đình và cá nhân đều có trách nhiệm tích cực góp phần phát triển
sự nghiệp giáo dục - đào tạo Kết hợp giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình
và giáo dục xã hội, tạo nên một môi trường giáo dục lành mạnh
Bốn là, phát triển giáo dục - đào tạo gắn với nhu cầu phát triển kinh tế
- xã hội, những tiến bộ khoa học - công nghệ và củng cố quốc phòng, an ninh
Coi trọng cả ba mặt: mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả Thực hiện giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nghiên cứu khoa học, giáo dục gắn liền với gia đình và xã hội
Trang 19Năm là, thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục - đào tạo Tạo
điều kiện để ai cũng được học hành Người nghèo được Nhà nước và cộng đồng giúp đỡ để học tập Đảm bảo điều kiện cho những người học giỏi phát triển tài năng
Sáu là, giữ vai trò nòng cốt của các trường công lập đi đôi với đa dạng hóa các loại hình giáo dục - đào tạo trên cơ sở Nhà nước thống nhất quản lý,
từ nội dung chương trình, quy chế học, thi cử, văn bằng, tiêu chuẩn giáo viên, tạo cơ hội cho mọi người có thể lựa chọn cách học phù hợp với nhu cầu và hoàn cảnh của mình Phát triển các trường bán công, dân lập ở những nơi có điều kiện, từng bước mở các trường tư thục ở một số bậc học, trong đó có bậc phổ thông trung học…
Với tư tưởng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trên, đối với giáo dục phổ thông, trong những năm 1996 - 2000 phải đạt được mục tiêu về nâng cao chất lượng toàn diện bậc tiểu học; hoàn thành phổ cập trung học cơ sở vào năm 2010 và trung học phổ thông vào năm 2020; phát triển giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số và các vùng khó khăn, phấn đấu giảm chênh lệch về phát triển giữa các vùng, miền Nâng cao chất lượng và bảo đảm đủ số lượng giáo viên cho toàn bộ hệ thống giáo dục phổ thông; tiêu chuẩn hóa và hiện đại hóa các điều kiện dạy và học…
Cùng với việc xác định định hướng chiến lược và nhiệm vụ cơ bản của giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nghị quyết
Trung ương 2 khóa VIII nhấn mạnh những việc làm cụ thể của giáo dục - đào
tạo, trong đó có giáo dục phổ thông những năm 1996 - 2000 là: “Phát huy
những thành tựu đã đạt được, khắc phục các mặt yếu kém theo hướng: chấn
chỉnh công tác quản lý, khẩn trương lập lại trật tự, kỷ cương, kiên quyết đẩy
lùi tiêu cực; sắp xếp và củng cố hệ thống giáo dục - đào tạo và mạng lưới trường lớp; nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông; phát triển quy mô giáo dục - đào tạo, chuẩn bị tiền đề cho những bước phát triển
Trang 20mạnh vào đầu thế kỷ XXI” [22, tr.37] Như vậy, nhiệm vụ và mục tiêu phát
triển giáo dục phổ thông trong những năm 1996 - 2000 được định hướng tập trung vào 10 chữ: “chấn chỉnh”, “sắp xếp”, “củng cố”, “nâng cao”, “phát
triển” và thực hiện các mục tiêu cụ thể đến năm 2000 như sau:
- Phổ cập giáo dục bậc tiểu học được học đủ 9 môn theo chương trình quy định Thực hiện tốt 5 điều dạy của Bác Hồ Phổ cập trung học cơ sở ở các thành phố, đô thị, các vùng kinh tế trọng điểm và những nơi có điều kiện
- Tính chung cả nước có khoảng 60% trẻ em độ tuổi 11-15 học trung học cơ sở Mở rộng và nâng cao chất lượng dạy kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp, ngoại ngữ, tin học ở trường trung học Nâng cao năng lực tự học và thực hành cho học sinh
- Thanh toán nạn mù chữ cho những người trong độ tuổi 15-35, thu hẹp diện mù chữ ở độ tuổi khác, đặc biệt chú ý vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, để tất cả các tỉnh đều đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổ cập tiểu học trước khi bước vào thế kỷ XXI
- Đối với miền núi, vùng sâu, vùng khó khăn, xóa “điểm trắng” về giáo dục ở bản, ấp Mở thêm trường dân tộc nội trú và bán trú ở cụm xã, các huyện…
Để thực hiện những mục tiêu và nhiệm vụ trên, Nghị quyết Trung
ương 2 khóa VIII đã đề ra bốn nhóm giải pháp chủ yếu sau:
Thứ nhất, tăng cường các nguồn lực cho giáo dục phổ thông Đây được
coi là một trong những biện pháp chính tạo điều kiện, cơ sở, nền tảng để phát triển giáo dục phổ thông; thể hiện một phần quan điểm đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, đầu tư cơ bản, quan trọng nhất Đầu tư cho giáo dục phổ thông lấy từ nguồn chi thường xuyên và nguồn chi phát triển trong ngân sách nhà nước và ngân sách nhà nước giữ vai trò chủ yếu Các nguồn thu ngoài ngân sách nhà nước được huy động tích cực bằng các biện pháp như: thu học phí; lập quỹ khuyến học; lập quỹ giáo dục quốc gia; phát triển các trường dân
Trang 21lập ở tất cả các bậc học; sử dụng vốn vay và viện trợ của nước ngoài để xây dựng cơ sở vật chất, trường lớp
Thứ hai, xây dựng đội ngũ giáo viên, tạo động lực cho người dạy, người học Đây là một trong những biện pháp quan trọng hàng đầu trong việc đảm bảo
và nâng cao chất lượng giáo dục Để xây dựng đội ngũ giáo viên, trước hết cần củng cố và tập trung đầu tư nâng cấp các trường sư phạm; xây dựng một số trường sư phạm trọng điểm; không thu học phí và thực hiện chế độ ưu đãi đối với học sinh, sinh viên ngành sư phạm Bên cạnh đó, đào tạo giáo viên phải gắn với địa chỉ và có chính sách sử dụng hợp lý để khắc phục nhanh chóng tình trạng thiếu giáo viên Thực hiện chương trình bồi dưỡng thường xuyên, bồi dưỡng chuẩn hóa, nâng cao phẩm chất và năng lực cho đội ngũ giáo viên để đến năm
2000 có ít nhất 50% giáo viên phổ thông đạt chuẩn quy định Lương giáo viên được xếp cao nhất trong hệ thống thang bậc lương hành chính sự nghiệp và có thêm chế độ phụ cấp tùy theo tính chất công việc, theo vùng công tác…
Thứ ba, tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục và tăng cường cơ sở vật chất các trường học Rà soát lại và đổi mới một bước sách
giáo khoa, loại bỏ những nội dung không thiết thực, bổ sung những nội dung cần thiết, tăng cường nội dung khoa học - công nghệ ứng dụng, giáo dục kỹ thuật tổng hợp và năng lực thực hành Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo; từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến, phương tiện hiện đại và tăng thời
gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh Chấm dứt tình trạng lớp học 3 ca
Bảo đảm diện tích đất đai và sân chơi, bãi tập cho các trường theo đúng quy định của Nhà nước Ban hành chuẩn quốc gia về trường học Tất cả các trường phổ thông đều có tủ sách, thư viện và các trang bị tối thiểu để thực
hiện các thí nghiệm trong chương trình; chấm dứt tình trạng “dạy chay”,…
Thứ tư, đổi mới công tác quản lý giáo dục Tăng cường công tác dự báo
và kế hoạch hóa sự phát triển giáo dục Có chính sách điều tiết quy mô và cơ
Trang 22cấu đào tạo cho phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội Khuyến khích thành lập các tổ chức thông tin tư vấn, hướng nghiệp cho học sinh chọn ngành nghề và tìm việc làm sau khi tốt nghiệp Nhanh chóng cải tiến hình thức thi và đánh giá Sớm có kết luận về một số chủ trương như phân ban ở bậc phổ thông
trung học Xử lý các hiện tượng tiêu cực trong ngành giáo dục…
Như vậy, Đại hội lần thứ VIII của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII đã khẳng định vai trò “quốc sách hàng đầu” của giáo dục - đào tạo; chỉ ra phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, biện pháp để ngành giáo dục phổ thông Việt Nam có hướng đi rõ ràng, cụ thể; nhấn mạnh yếu tố con người và giáo dục phát triển toàn diện con người, nhằm giải quyết những vấn
đề nóng bỏng của sự nghiệp giáo dục - đào tạo nói chung và giáo dục phổ thông nói riêng vừa nhằm phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vừa nhằm chuẩn bị hành trang cho đất nước bước vào thế kỷ mới Định hướng quan trọng đó đã tạo một động lực lớn để huy động các nguồn sức mạnh đầu tư vào phát triển giáo dục phổ thông
Có thể khẳng định rằng, Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII đã mở
ra một thời kỳ mới cho sự phát triển của giáo dục nước ta nói chung và giáo dục phổ thông nói riêng, mở đầu một giai đoạn chấn hưng nền giáo dục nước nhà, làm dấy lên một cao trào mới của truyền thống hiếu học, làm cho mọi người Việt Nam đều yêu thích học tập, say mê giảng dạy Sau khi
có Nghị quyết Trung ương 2, ngày 10-1-1997, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 12-CT/TW chỉ đạo việc quán triệt và tổ chức thực hiện sâu rộng Nghị quyết này trong toàn Đảng, toàn dân, trước hết là trong các cấp ủy, chính quyền và đội ngũ cán bộ, đảng viên, giáo viên Các cấp ủy và chính quyền từ trung ương tới địa phương đều sớm tổ chức quán triệt, xây dựng chương trình hành động; thường xuyên đôn đốc, kiểm tra định kỳ đánh giá việc triển khai chương trình hành động và kế hoạch tổ chức thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII
Trang 231.3 Quá trình Đảng chỉ đạo phát triển giáo dục phổ thông trong những năm 1996 - 2000
1.3.1 Phát triển quy mô giáo dục; thanh toán nạn mù chữ, hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và bước đầu phổ cập trung học cơ sở
- Phát triển quy mô giáo dục:
Thực hiện đường lối phát triển giáo dục mà Đảng đã đề ra, các địa phương trong cả nước đã chủ trương phát triển mạng lưới trường lớp, học sinh của các bậc học tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông
Trong 5 năm 1996 - 2000, quy mô học sinh các cấp học nhìn chung đều tăng, trừ số lượng học sinh tiểu học giảm qua các năm học 1998 - 1999 và
Chỉ số phát triển (Năm trước = 100%)
Trung học cơ sở 117,9 112,2 107,5 106,0 103,3 Trung học phổ thông 120,9 113,3 119,6 119,6 118,4
(Nguồn: http://gso.gov.vn của Tổng cục Thống kê)
Trang 24Đến năm 2000, số học sinh tiểu học dần dần đi vào thế ổn định và giảm sút khoảng 2,2% so với năm học trước Lý giải hiện tượng này là do đã huy động hết số trẻ trong độ tuổi đi học và nhờ thực hiện tốt kế hoạch hoá gia đình nên dân số trong độ tuổi đi học giảm dần
Học sinh trung học cơ sở, trung học phổ thông tăng nhiều, trong đó học sinh trung học phổ thông tăng nhanh, khoảng 8-10% Điều này xuất phát từ nhu cầu nâng cao dân trí trong nhân dân ở khắp mọi địa bàn; cuộc vận động “Ngày toàn dân đưa trẻ đến trường” có tác dụng vận động, nhắc nhở các tầng lớp nhân dân cho con em đi học Mặt khác, đời sống nhân dân được cải thiện, chất lượng giáo dục có chuyển biến nên học sinh bỏ học, lưu ban giảm dần
Cùng với sự gia tăng về số lượng học sinh ở các cấp, mạng lưới trường lớp cũng được mở rộng và sắp xếp lại hợp lý hơn, đáp ứng cơ bản nhu cầu
học tập của con em nhân dân:
Bảng 1.2: Số lượng trường phổ thông các cấp cả nước
Trang 25Chỉ số phát triển (Năm trước = 100%)
Trung học cơ sở 111,9 107,4 98,7 114,4 103,6 Trung học phổ thông 104,7 109,2 127,7 107,6 114,4 Phổ thông cơ sở 82,3 87,3 111,6 65,9 97,6
(Nguồn: http://gso.gov.vn của Tổng cục Thống kê)
Đối với hệ thống trường phổ thông, hiện tồn tại 5 loại hình trường lớp: trường tiểu học (lớp 1 đến lớp 5); trường trung học cơ sở (lớp 6 đến lớp 9); trường trung học phổ thông (lớp 10 đến lớp 12); trường phổ thông cơ sở (lớp
1 đến lớp 9); trường trung học (lớp 6 đến lớp 12) Việc tổ chức, sắp xếp các loại hình trường lớp này tùy thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội và quy hoạch mạng lưới trường lớp của từng địa phương
Trong giai đoạn 1996 - 2000, số lượng trường học các cấp đều tăng
Năm học 1999 - 2000, tổng số trường phổ thông lên đến 24.012, trung bình mỗi năm tăng 3-4%; trong đó, tăng mạnh nhất là các trường trung học phổ thông, trung học cơ sở Đó cũng chính là kết quả của việc thực hiện phổ cập tiểu học, xóa mù chữ và đáp ứng ngày càng cao nhu cầu học tập của con em nhân dân
Bên cạnh việc mở rộng quy mô, việc sắp xếp lại hệ thống trường học cũng được tiến hành hợp lý hơn Đối với hệ thống trường tiểu học, các địa phương trong cả nước thực hiện chủ trương tách trường tiểu học ra khỏi trường phổ thông cơ sở Đây được coi là một nội dung quan trọng trong việc
sắp xếp lại mạng lưới trường lớp, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, hoàn thành tốt công tác phổ cập giáo dục tiểu học, xóa mù chữ và bước đầu tiến
Trang 26hành phổ cập trung học cơ sở Năm học 1995 - 1996, cả nước có đến 2.101 trường phổ thông cơ sở thì đến năm học 1999 - 2000 còn lại 1.316 trường
Đối với giáo dục trung học, thực hiện chủ trương tách trường trung học
cơ sở ra khỏi trường trung học, mạng lưới trường trung học trong cả nước được
sắp xếp một cách hợp lý, phù hợp với điều kiện của từng nơi Từ năm 1997 đến năm 2000, số lượng trường trung học bình quân mỗi năm giảm 4-5% Đến năm học 1999 - 2000, cả nước còn 661 trường trung học, phần lớn tập trung ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn Công tác sắp xếp lại mạng lưới các trường trung học này tiếp tục được đẩy mạnh trong các năm học tiếp theo
Nhìn chung, trong giai đoạn 1996 - 2000, mạng lưới trường phổ thông
đã được mở rộng, sắp xếp tương đối ổn định trên cơ sở phù hợp với đặc điểm của từng địa phương; góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục; đáp
ứng nhu cầu học tập ngày càng cao của con em nhân dân Lớp tiểu học được đưa về tận thôn bản, đã xóa được phần lớn tình trạng điểm “trắng” về giáo dục; trường trung học cơ sở đã được đưa về tận xã và cụm xã; các trường trung học phổ thông đưa về đến tận huyện
Bên cạnh việc mở rộng, sắp xếp lại mạng lưới trường lớp, việc đa dạng hoá hình thức và tổ chức giáo dục cũng được tiến hành Chủ trương này bắt
đầu được triển khai rộng rãi và có tác dụng thiết thực trong các cấp học, bậc học; tạo điều kiện cho nhà trường thích ứng thuận lợi hơn với những đổi mới kinh tế - xã hội Mọi người có thể lựa chọn những con đường và cách thức phù hợp với mục đích học tập, khả năng tiếp thu và điều kiện tài chính, sinh sống của mình
Theo đó, các trường bán công, dân lập, tư thục được mở nhiều hơn, làm phong phú thêm cách tổ chức giáo dục và cách quản lý nhà trường; huy động thêm nguồn lực cho giáo dục; tạo điều kiện so sánh hiệu quả, rút kinh
Trang 27nghiệm giữa cách làm ăn của các trường công lập và các trường ngoài công lập, từ đó góp phần đẩy mạnh quá trình đổi mới giáo dục - đào tạo
Đối với hệ thống trường tiểu học, phong trào xây dựng lớp, trường chất lượng cao theo phương thức tự đầu tư đã được phát huy mạnh mẽ Thực tế ở nhiều địa phương trong cả nước, nhất là ở vùng nông thôn, tuy chưa có những trường bán công, dân lập, những lớp tiểu học gia đình, nhưng đã xuất hiện những bộ phận dân cư có nhu cầu và điều kiện chăm lo ở mức tương đối cao cho việc học của con cái Trước tình hình đó, trên cơ sở điều kiện cụ thể, các cấp, ngành ở các địa phương đã chỉ đạo và thực hiện từng bước việc xây dựng những trường, lớp tiểu học học 2 buổi/ngày, tổ chức theo hình thức bán trú hoặc nội trú Việc hình thành, xây dựng các trường, lớp kiểu này không phải lựa chọn theo trình độ học sinh mà được hình thành một cách tự nhiên theo thôn xóm, cộng đồng và sự tự nguyện, thoả thuận, đề xuất của phụ huynh học sinh Loại hình này được Nhà nước đầu tư một cách bình thường và ngang với mức đầu tư của các trường, lớp tiểu học công lập khác; phần đầu tư thêm
là do sự tự nguyện và quy định của tập thể phụ huynh học sinh
Đối với hệ thống trường trung học cơ sở, trong giai đoạn 1996 - 2000 cũng bước đầu tiến hành xây dựng các trường bán công, dân lập; đến năm học
1999 - 2000, cả nước có 86 trường trung học cơ sở ngoài công lập với 202.617 học sinh [88] Tuy nhiên, để đẩy mạnh công tác phổ cập trung học cơ sở, trong giai đoạn sau đó, ngành giáo dục đã thực hiện công lập hoá các lớp bán công
Đối với hệ thống trường trung học phổ thông, một mặt duy trì hệ thống các trường công lập hiện có, giữ vững số lượng tuyển sinh vào lớp 10 phù hợp với ngân sách giáo dục của từng địa phương; mặt khác, khuyến khích mở các trường dân lập, chuyển các trường công lập thành các trường bán công nhằm đáp ứng nhu cầu nâng cao dân trí ngày càng cao của nhân dân Đến năm học
Trang 281999 - 2000, cả nước có 262 trường phổ thông trung học ngoài công lập với 672.654 học sinh [88]
Tuy nhiên, đối với vùng cao, vùng sâu, điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, chưa đặt ra vấn đề phát triển trường bán công, dân lập Chủ trương này được khuyến khích và tạo điều kiện phát triển tại thành phố và vùng có điều kiện kinh tế thuận lợi
- Thanh toán nạn mù chữ, hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và bước đầu phổ cập giáo dục trung học cơ sở
Đây là một nội dung trọng tâm trong chiến lược nâng cao dân trí của Đảng, đã được đề ra từ giai đoạn trước Từ tháng 8-1991, Quốc hội nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại kỳ họp thứ chín khóa VIII, đã thông qua Luật phổ cập giáo dục tiểu học Lần đầu tiên, một bộ luật của Nhà nước ta về giáo
dục, đặc biệt lại dành cho bậc học cơ sở được ban hành Điều 1 của Luật này quy định: “Nhà nước thực hiện chính sách phổ cập giáo dục tiểu học bắt buộc từ lớp
1 đến lớp 5 đối với tất cả trẻ em Việt Nam trong độ tuổi từ 6 đến 14” [47, tr.5]
Năm 1998, Luật giáo dục được ban hành, Điều 22 về giáo dục phổ thông có quy
định: “Giáo dục tiểu học là bậc học bắt buộc đối với mọi trẻ em từ 6 đến 14 tuổi, được thực hiện trong 5 năm học từ lớp 1 đến lớp 5…” [48, tr.7]
Phổ cập giáo dục tiểu học và xóa mù chữ đã trở thành một chương trình quốc gia lớn, được kiên trì thực hiện trong nhiều năm Trong những năm 1996
- 2000, nhiệm vụ đó được đặt ở cấp độ cao hơn và quyết liệt hơn, phải “thanh toán nạn mù chữ ở những người trong độ tuổi từ 15 đến 35, thu hẹp diện người mù chữ ở độ tuổi khác; cơ bản hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học
trong cả nước, trước hết là đối với trẻ em trong độ tuổi từ 6 đến 14” [24, tr.495] Những địa phương vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn được đặc biệt quan tâm để tất cả các tỉnh đều đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học trước khi bước sang thế kỉ XXI
Trang 29Thực hiện chủ trương trên, trong 5 năm 1996 - 2000, dưới sự chỉ đạo của các cấp ủy đảng, các địa phương trong cả nước đã tập trung sức thực hiện các mục tiêu đã đề ra với một kết quả tương đối vững chắc và ổn định Cuộc vận động toàn dân kiên quyết xóa mù chữ và chống nạn thất học được mở rộng trên toàn quốc Đối với miền núi, vùng sâu, vùng khó khăn, đã tập trung xóa “điểm trắng” về giáo dục ở ấp, bản; mở thêm các trường dân tộc nội trú
và các trường bán trú ở cụm xã, các huyện Đến giữa năm 2000, nước ta đã thu được những kết quả tốt đẹp: “Đến cuối tháng 6-2000, cả nước có 61 tỉnh, thành với 587 quận huyện (trong tổng số 609 quận, huyện), 10.339 xã, phường (trong tổng 10.994 xã, phường) tức 100% số tỉnh thành và 98% số quận, huyện, 98,53% số xã, phường đã được công nhận đạt chuẩn quốc gia về chống mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học Bảo đảm tỷ lệ 90% trẻ em 14 tuổi tốt nghiệp tiểu học” [38, tr.214]
Đối với những địa phương đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học, công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở được tiến hành Thành phố Hà Nội
là địa phương đầu tiên trong cả nước được công nhận đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở vào tháng 11-1999, mở đầu quá trình phấn đấu của cả nước hoàn thành chỉ tiêu phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào năm 2010
Như vậy, có thể khẳng định rằng, việc hoàn thành trong cả nước về xóa nạn mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học là kết quả nổi bật nhất của giáo dục phổ thông trong những năm 1996 - 2000; là một thành tựu lớn mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã kiên trì, nỗ lực phấn đấu trong nhiều năm; là cơ sở trong chiến lược nâng cao dân trí, phát huy nguồn lực con người Việt Nam để bước vào thế kỷ XXI Trong giai đoạn tiếp theo, nhiệm vụ này tiếp tục được đề
ra với yêu cầu cao hơn là củng cố vững chắc kết quả xóa nạn mù chữ, thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và đẩy mạnh phổ cập trung học cơ sở
Trang 301.3.2 Thực hiện giáo dục toàn diện, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông
Thực hiện chủ trương giáo dục toàn diện và hết sức coi trọng giáo dục chính trị, tư tưởng, nhân cách, tư duy sáng tạo, có kĩ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có sức khỏe, “vừa hồng vừa chuyên” để phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa được nhấn
mạnh trong các nghị quyết của Đảng, ngành giáo dục phổ thông trong cả nước đã tích cực xây dựng và thực hiện chương trình giáo dục toàn diện đối với học sinh các cấp
Giáo dục tiểu học được xác định với mục tiêu “giúp học sinh hình
thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở” [48,tr.15] Trong những năm 1996 - 2000, Bộ Giáo dục và Đào tạo
đã chỉ đạo các địa phương trong cả nước tiếp tục hoàn thiện chương trình cải cách giáo dục lần thứ ba (được thực hiện từ năm 1981); giảng dạy toàn diện các môn tự nhiên, xã hội, vui chơi giải trí, nhạc, họa, thể dục thể thao Đối với các lớp bán trú, các trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia, do có đủ giáo viên, thời gian và cơ sở vật chất, phương tiện dạy - học, nên việc giảng dạy đủ 9 môn đạt hiệu quả cao Riêng đối với các huyện miền núi, vùng xa xôi hẻo lánh, việc giảng dạy đủ 9 môn còn gặp nhiều khó khăn do trình độ giáo viên còn yếu và điều kiện phục vụ cho giảng dạy còn thiếu thốn Công tác chỉ đạo học 2 buổi/ngày cũng được nhấn mạnh, coi đây là một trong những biện pháp
để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho các em… Nhìn chung, tuy còn nhiều hạn chế, nhưng chất lượng giáo dục toàn diện đối với bậc tiểu học có những chuyển biến vững chắc và tương đối đồng đều, từng bước đi vào thế ổn định, nhiều trường dạy đủ 9 môn và học 2 buổi/ngày
Giáo dục trung học cơ sở thực hiện mục tiêu: “giúp học sinh củng cố
và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở
Trang 31trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động” [48, tr.15] Trong những năm 1996 - 2000, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo các địa phương tiến hành xóa bỏ lớp chọn, trường chuyên, thực hiện sắp xếp học sinh theo nguyên tắc “phân bố đều trình độ học sinh”; chú trọng chất lượng đại trà và thực hiện chương trình giáo dục toàn diện Ngày 8-8-
1997, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 624/TTg về việc phê duyệt Dự án phát triển giáo dục trung học cơ sở; theo đó chương trình mới
cho bậc học này được tiến hành xây dựng cho phù hợp với yêu cầu của toàn
bộ hệ thống giáo dục phổ thông
Giáo dục trung học phổ thông thực hiện mục tiêu: “giúp học sinh củng
cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp,
có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động” [48,tr.16] Trong giai đoạn này, giáo dục trung học phổ thông thực hiện hai chương trình: trung học phổ thông không phân ban và trung học phổ thông phân ban Chương trình trung học phổ thông chuyên ban bắt đầu được thí điểm từ năm học 1989 - 1990 (ở Trường Hoàn Kiếm (Hà Nội) và Trường Lê Hồng Phong (Nam Định)), đến năm 1996, bắt đầu có học sinh tốt nghiệp Tuy nhiên, quá trình triển khai hệ trung học phân ban đã đặt ra nhiều vấn đề tranh luận và không được dư luận xã hội đồng tình Do vậy, Chính phủ đã xem xét lại chủ trương này, cụ thể từ năm học 1998 - 1999 không có lớp 10 phân ban, chỉ còn lớp 11, 12 ở trường trung học phổ thông chuyên ban theo chương trình và kế hoạch dạy học phân ban
Để nâng cao chất lượng mũi nhọn và đào tạo nhân tài, hệ thống trường phổ thông trung học chuyên được phát triển ở các tỉnh trong cả nước “Đến
năm 2000, cả nước có 62 trường chuyên phổ thông trung học, trong đó có 53
Trang 32tỉnh có loại hình trường này, số khác thuộc các trường đại học” [33,tr.159] Phần lớn học sinh các trường chuyên thực sự là học sinh giỏi Ở các trường này, hầu hết đạt 100% học sinh tốt nghiệp phổ thông với kết quả cao, 70-80%, thậm chí 100% học sinh đỗ vào đại học Phần lớn các giải quốc gia, quốc tế
về các môn học đều là học sinh thuộc các trường chuyên Tuy nhiên, do hướng tới chất lượng mũi nhọn, các học sinh trường chuyên thường học lệch
về môn chuyên và yếu về tư duy thực nghiệm Do đó, bên cạnh việc nâng cao chất lượng mũi nhọn, cần giáo dục toàn diện, chú trọng rèn luyện kỹ năng thực hành, hướng nghiệp… cho các học sinh
Công tác giáo dục chính trị, pháp luật, đạo đức, xây dựng nền nếp, kỉ cương được toàn ngành quan tâm đúng mức hơn với tầm quan trọng của nó Các trường đã tích cực ngăn chặn hiện tượng quậy phá, vi phạm trật tự an ninh trong trường học; đồng thời chỉ đạo thực hiện nghiêm chỉnh Nghị định số 36/CP của Chính phủ về an toàn giao thông, Chỉ thị số 814/TTg của Thủ tướng Chính phủ
về thiết lập trật tự kỉ cương trong hoạt động văn hóa bài trừ tệ nạn xã hội Nhiều cuộc thi tìm hiểu về an toàn giao thông, chống tệ nạn xã hội, về lực lượng vũ trang nhân dân, về Đảng, về Bác Hồ, về gia đình, về “người công dân tý hon”,… được tổ chức nhằm nâng cao nhận thức chính trị, tư tưởng, pháp luật cho học sinh Về giáo dục quốc phòng, mặc dù còn thiếu giáo viên và cơ sở vật chất, song các địa phương, các trường đã phối hợp với các cơ quan quân sự địa phương để thực hiện tốt chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định
Giáo dục lao động sản xuất, hướng nghiệp, dạy nghề cho học sinh cũng
là một trong những nội dung được quan tâm nhấn mạnh trong giai đoạn này; nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Các trường phổ thông đã tổ chức các buổi tọa đàm hướng nghiệp cho học sinh, thực hiện học tập đi đôi với thực hành sản xuất… Các trung tâm kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp được phát triển ở các địa phương với chức năng giáo dục nghề nghiệp cho học
Trang 33sinh phổ thông, đã góp phần khắc phục tính trừu tượng của các kiến thức, nguyên lý kỹ thuật; giúp học sinh thấy được những đòi hỏi của nghề đối với người lao động về phẩm chất và năng lực để có sự lựa chọn nghề và định hướng học tập phù hợp nhất
Giáo dục nhà trường, giáo dục xã hội và giáo dục gia đình đã được tăng cường kết hợp chặt chẽ hơn nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo Hầu hết các trường đã tổ chức hội nghị phụ huynh học sinh 2 kỳ/năm để giúp phụ huynh
có thể nắm được hoạt động của nhà trường và tình hình học tập của con cái mình; qua đó tạo sự phối hợp giáo dục hiệu quả Ngoài hội nghị phụ huynh, hầu hết các giáo viên chủ nhiệm lớp luôn gần gũi và nắm hoàn cảnh gia đình từng học sinh, nhất là học sinh cá biệt, từ đó nhà trường có biện pháp giáo dục, giúp
đỡ phù hợp Nhờ vậy, nhiều học sinh bị xếp loại cá biệt đã nhanh chóng tiến bộ, hòa nhập vào cộng đồng
Thực hiện giáo dục toàn diện và các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, nhìn chung ở các cấp học, tỷ lệ lưu ban và bỏ học
đã giảm và tỷ lệ lên lớp tăng Năm học 1999 - 2000, ở bậc tiểu học, tỷ lệ lên lớp đạt 92,54%, tỷ lệ lưu ban là 2,79%, tỷ lệ bỏ học là 4,67%; tỷ lệ tương ứng
ở cấp trung học cơ sở là: 89,56% - 1,93% - 8,51%; ở cấp trung học phổ thông là: 91% - 1,32% - 7,68% Chất lượng mũi nhọn cũng được chú trọng, đến năm học 1999 - 2000 có 2.022 học sinh giỏi quốc gia các môn; 6 học sinh giỏi quốc tế môn toán, 4 học sinh giỏi quốc tế môn vật lý, 2 học sinh giỏi quốc tế môn sinh học, 4 học sinh giỏi quốc tế môn tin [88]
Tuy đạt được những tiến bộ trên, song chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông còn thấp so với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Học sinh tốt nghiệp phổ thông còn hạn chế về tư duy sáng tạo và năng lực thực hành Nội dung, chương trình giáo dục phổ thông còn thiên về lý thuyết, ít gắn với thực tiễn, cũ kĩ và chưa tiếp cận được những tri thức mới của thời đại Phương pháp dạy và học còn lạc hậu, nặng về truyền thụ một chiều, chưa phát
Trang 34huy được tính chủ động, suy nghĩ độc lập, sáng tạo của học sinh Các mặt giáo dục thể chất, thẩm mỹ, tư tưởng, chính trị còn nặng về hình thức, chưa đi vào chiều sâu và phát huy tính tự giác; điều đó đã làm ảnh hưởng đến mục tiêu giáo dục toàn diện,… Tất cả những điều đó đã đặt ra vấn đề phải đổi mới chương trình, nội dung sách giáo khoa, phương pháp dạy - học đối với tất cả các cấp nhằm tạo bước chuyển cơ bản và toàn diện trong giai đoạn tiếp theo
1.3.3 Xây dựng đội ngũ giáo viên và đổi mới công tác quản lý nhà nước về giáo dục
- Xây dựng đội ngũ giáo viên:
Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục và được xã hội tôn vinh Giáo viên phải có đủ đức, tài mới có thể đảm đương được nhiệm vụ
“trồng người” cao cả Do đó, xây dựng đội ngũ giáo viên là một trong những biện pháp quan trọng hàng đầu trong việc đảm bảo và nâng cao chất lượng
giáo dục: “Khâu then chốt để thực hiện chiến lược phát triển giáo dục là phải đặc biệt chăm lo đào tạo, bồi dưỡng và chuẩn hóa đội ngũ giáo viên… cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức và năng lực chuyên môn, nghiệp vụ” [22, tr.13]
Để xây dựng đội ngũ giáo viên, trước hết cần củng cố và tập trung đầu tư nâng cấp các trường sư phạm; xây dựng một số trường sư phạm trọng điểm; không thu học phí và thực hiện chế độ ưu đãi đối với học sinh, sinh viên ngành
sư phạm Bên cạnh đó, đào tạo giáo viên phải gắn với địa chỉ và có chính sách
sử dụng hợp lý để khắc phục nhanh chóng tình trạng thiếu giáo viên Lương giáo viên được xếp cao nhất trong hệ thống thang bậc lương hành chính sự nghiệp và có thêm chế độ phụ cấp tùy theo tính chất công việc, vùng công tác
Thực hiện các chính sách này, số lượng giáo viên phổ thông qua các năm trong giai đoạn 1996 - 2000 tăng, tuy nhiên ở mỗi cấp, sự gia tăng này khác nhau,
trong đó tỷ lệ gia tăng cao nhất ở cấp trung học cơ sở:
Trang 35Bảng 1.3: Số lượng giáo viên phổ thông các cấp cả nước
Chỉ số phát triển (Năm trước = 100%)
Trung học cơ sở 108,6 108,2 110,3 110,0 106,7 Trung học phổ thông 106,2 107,9 113,6 115,5 115,1
(Nguồn: http://gso.gov.vn của Tổng cục Thống kê) Không những tăng cường về số lượng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ giáo viên cũng được đặc biệt chú trọng Để nâng cao chất lượng
đội ngũ giáo viên, Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII nhấn mạnh biện pháp:
“Thực hiện chương trình bồi dưỡng thường xuyên, bồi dưỡng chuẩn hóa, nâng cao phẩm chất và năng lực cho đội ngũ giáo viên để đến năm 2000 có ít nhất 50% giáo viên phổ thông… đạt chuẩn quy định” [22,tr.39] Theo đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành các chương trình bồi dưỡng thường xuyên
chu kỳ 1997 - 2000 cho giáo viên tiểu học theo Quyết định số
1737/QĐ-GT-ĐT ngày 27-5-1997; cho giáo viên trung học cơ sở theo Quyết định số 1733/QĐ-GT-ĐT ngày 27-5-1997; cho giáo viên trung học phổ thông theo Quyết định số 1732/QĐ-GT-ĐT ngày 27-5-1997 Qua các chương trình tập
huấn, bồi dưỡng, “tỷ lệ giáo viên phổ thông đạt chuẩn tăng lên Hệ thống đào
Trang 36tạo, bồi dưỡng giáo viên được cải tiến, hằng năm trên 80% giáo viên được đào tạo và chuẩn hóa” [42,tr.283] Đến năm học 1999 - 2000, tỷ lệ giáo viên đào tạo đạt chuẩn ở bậc tiểu học là 80,04%; ở cấp trung học cơ sở là 86,32%;
ở cấp trung học phổ thông là 95,56% [88]
Trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, đổi mới phương pháp giảng dạy là một trong những điểm nút được tập trung chỉ đạo Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII chỉ rõ: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh” [22,tr.41] Để làm tốt công tác này, Bộ Giáo dục và Đào tạo và ngành giáo dục phổ thông đã
tổ chức nhiều chuyên đề về đổi mới phương pháp dạy, triển khai sâu rộng đến từng giáo viên Các cấp học đã xây dựng mạng lưới chuyên môn nhằm chỉ đạo công tác chuyên môn, đổi mới phương pháp giảng dạy Các nhà trường đều tập trung chỉ đạo đổi mới phương pháp giảng dạy trong các hoạt động thăm lớp, dự giờ, thao giảng, thi giáo viên dạy giỏi
Bên cạnh bồi dưỡng, đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ, công tác chính trị, tư tưởng đối với đội ngũ giáo viên cũng được tăng cường Trước thực
trạng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, rèn luyện đạo đức ở không ít nhà trường còn bị coi nhẹ; công tác xây dựng tổ chức đảng và các đoàn thể còn nhiều mặt yếu kém, nhất là ở các trường tiểu học, trung học cơ sở và ở các tỉnh, thành phố phía Nam, Tây Nguyên, vùng miền núi, ven biển, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo, ngày 30-5-1998, Ban Chấp hành Trung ương
khóa VIII ra Chỉ thị số 34-CT/TW về tăng cường công tác chính trị tư tưởng; củng cố tổ chức đảng, đoàn thể quần chúng và công tác phát triển đảng viên trong các trường học Chỉ thị nêu rõ một số điểm quan trọng về xây dựng đội
ngũ giáo viên như sau:
Trang 37- Xây dựng đội ngũ giáo viên thực sự là những chiến sĩ trên mặt trận giáo dục, là tấm gương sáng về đạo đức nhân cách cho học sinh, sinh viên noi theo Bồi dưỡng ý thức tự giác của học sinh trong học tập, hoạt động xã hội, rèn luyện phẩm chất chính trị và nhân cách Kiên quyết khắc phục tư tưởng chuyên môn đơn thuần, xem nhẹ các mặt công tác chính trị tư tưởng
- Làm tốt việc đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ giáo viên chính trị, giáo dục công dân Thường xuyên cung cấp thông tin thời sự, chính sách cho giáo viên, học sinh , làm cho nhà trường luôn bám sát nhiệm vụ chính trị và thực tiễn cuộc sống
- Trên cơ sở đảm bảo chất lượng, đổi mới công tác giáo dục, nâng cao ý thức tự giác phấn đấu của quần chúng, thông qua phong trào thi đua dạy, học
và lao động sáng tạo ở các trường để tạo nguồn bổ sung nhân tố mới cho Đảng, nhất là ở những cơ sở còn ít hoặc chưa có đảng viên
Chỉ thị số 34-CT/TW đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của công tác chính trị tư tưởng, về vai trò lãnh đạo của các chi bộ đảng ở các trường học, tinh thần tiên phong gương mẫu của đảng viên Đây cũng được coi là một nhiệm vụ quan trọng để thực hiện tốt định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo; chiến lược cán bộ của Đảng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Thực hiện Chỉ thị số 34-CT/TW, các cấp ủy địa phương và cấp ủy, chi
bộ ở các trường trong cả nước đã tiến hành sơ kết đánh giá rút kinh nghiệm về công tác chính trị tư tưởng, xây dựng, củng cố tổ chức đảng và đoàn thể, tạo nguồn phát triển đảng viên trong các trường học từ khi có Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII Trên cơ sở đó, xây dựng chương trình hành động cụ thể đến năm 2000, định rõ mục tiêu phấn đấu từng năm và trọng điểm chỉ đạo phù hợp với đặc điểm cụ thể của mỗi trường
Trang 38- Đổi mới công tác quản lý nhà nước về giáo dục:
Trước hết, để phát triển sự nghiệp giáo dục, tăng cường hiệu lực quản
lý nhà nước về giáo dục, ngày 2-12-1998, Quốc hội ban hành Luật giáo dục, quy định về tổ chức và hoạt động giáo dục Sự ra đời của Luật giáo dục đã
đánh dấu một bước tiến quan trọng trong thực tiễn quản lý giáo dục ở nước ta,
là hành lang pháp lý cho tổ chức, hoạt động giáo dục và sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan nhà nước trong quản lý giáo dục
Công tác dự báo và kế hoạch hóa sự phát triển giáo dục cũng được tăng cường, đưa giáo dục vào quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và từng địa phương Trên cơ sở thực tế và nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của cả nước nói chung và từng địa phương nói riêng, các cấp ủy, chính quyền, ban, ngành đã đề ra các chính sách điều tiết quy mô và cơ cấu phù hợp, khắc phục tình trạng mất cân đối Các tổ chức thông tin tư vấn, hướng nghiệp cho học sinh chọn ngành nghề và tìm việc làm sau khi tốt nghiệp được khuyến khích thành lập
Các cơ quan quản lý giáo dục - đào tạo được quy định lại chức năng, nhiệm vụ theo hướng tập trung làm tốt chức năng quản lý nhà nước; xây dựng và hoàn thiện các chính sách, cơ chế về giáo dục - đào tạo; kiểm soát chặt chẽ việc thực hiện chương trình và chất lượng giáo dục Phân cấp cho ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quản lý toàn diện giáo dục phổ thông
Một trong những nét nổi bật trong công tác quản lý giáo dục giai đoạn
này là đổi mới công tác quản lý thi cử, giải quyết tình trạng tiêu cực trong thi, tuyển sinh Ngày 1-11-1997, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có Quyết định số 3480/1997/QĐ-BGD&ĐT về việc ban hành "Quy chế tạm thời về xét tuyển học sinh vào trường phổ thông trung học, trung học chuyên ban" Quy
chế quy định việc tuyển sinh vào trường phổ thông trung học, trung học chuyên ban nhằm chọn những học sinh có đủ phẩm chất và năng lực tiếp nhận một nội dung và chương trình của cấp học cao hơn, sau trung học cơ sở; trong
Trang 39đó nhấn mạnh việc xét tuyển phải thật sự nghiêm túc, trung thực, công bằng, qua đó ngay từ đầu đã tạo được nền nếp, kỷ cương trong trường học
Tiếp đó, ngày 27-2-1999, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có
Quyết định số 08/1999/QĐ-BGD&ĐT về việc ban hành “Quy chế tuyển sinh vào các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông” Quy chế này đã xác
định những nguyên tắc chung trong việc tuyển sinh vào lớp 6 (trung học cơ sở) và lớp 10 (trung học phổ thông) là những học sinh có đủ phẩm chất và năng lực tiếp nhận nội dung và chương trình của cấp học; phải đảm bảo tính trung thực, công bằng Quy chế cũng quy định cụ thể về hai hình thức tuyển: thi tuyển và xét tuyển Trên cơ sở những quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, sở giáo dục và đào tạo các tỉnh trong cả nước đã lập phương án, kế hoạch xét tuyển, địa bàn và chỉ tiêu tuyển sinh của mỗi trường, số lượng trường mà học sinh được phép đăng ký dự tuyển, nguyên tắc điều hòa học sinh giữa các trường trong khu vực, phân cấp xét duyệt danh sách trúng tuyển vào lớp 6 và lớp 10 [59]…
Như vậy, việc ban hành quy chế tuyển sinh đã tạo sự thống nhất và hạn chế những tiêu cực trong thi cử, góp phần xây dựng nền nếp, kỷ cương trường học… Các ban, ngành, địa phương trong cả nước đã chỉ đạo quán triệt đổi mới thi cử và làm cho toàn xã hội đồng tình Với nhiều biện pháp sáng tạo, các kỳ thi đã diễn ra nghiêm túc, phản ánh đúng thực chất chất lượng học sinh, tạo động lực dạy và học Công việc ra đề, in ấn, bảo quản đề thi cũng được cải tiến, các kỳ thi tổ chức gọn nhẹ, nghiêm túc Công tác thanh tra, kiểm tra thi được tăng cường Các hiện tượng tiêu cực khác trong ngành giáo dục cũng được tập trung giải quyết như: chấm dứt tình trạng thu tiền của học sinh không chính thức, không công khai và tình trạng dạy thêm, học thêm tràn lan…
Ngày 14-1-1998, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 06/1998/QĐ/TTg về việc thành lập Hội đồng Quốc gia giáo dục, giúp Thủ
tướng Chính phủ chỉ đạo thực hiện chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo
Trang 40trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Hội đồng Quốc gia giáo dục được thành lập với những nhiệm vụ và quyền hạn như: 1- Chỉ đạo tổng kết công cuộc đổi mới về giáo dục và soạn thảo chiến lược giáo dục - đào tạo (bao gồm mục tiêu, kế hoạch dài hạn, các đề án lớn về giáo dục - đào tạo, cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân ); 2- Thẩm định để Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định các chính sách quan trọng về phát triển giáo dục - đào tạo; 3- Được ủy quyền quyết định những chủ trương, biện pháp chỉ đạo công tác giáo dục, đào tạo thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ; 4- Chỉ đạo việc xây dựng ngân sách dành cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo để trình Quốc hội thông qua
Tuy đã có những bước chuyển tích cực trong đổi mới công tác quản lý nhà nước về giáo dục, nhưng phải khẳng định rằng, công tác này còn rất nhiều yếu kém và được coi là nguyên nhân của nhiều hạn chế, tiêu cực khác trong phát triển giáo dục Chính vì vậy, trong giai đoạn tiếp theo, đổi mới công tác quản lý nhà nước về giáo dục được coi là một khâu then chốt, đột phá, có ý nghĩa quyết định, tác động vào toàn bộ quá trình phát triển của hệ thống giáo dục quốc dân nói chung và giáo dục phổ thông nói riêng, nhằm từng bước đưa nền giáo dục thoát khỏi tình trạng lạc hậu, trì trệ
1.3.4 Tăng cường các nguồn lực, đảm bảo cơ sở vật chất trường lớp
và thực hiện xã hội hóa giáo dục
- Tăng cường các nguồn lực, đảm bảo cơ sở vật chất trường lớp:
Nhận thức vai trò quan trọng của giáo dục trong sự phát triển của đất nước, các nguồn ngân sách dành cho giáo dục không ngừng được tăng cường; trong đó, “ngân sách nhà nước giữ vai trò chủ yếu trong tổng nguồn lực cho giáo dục - đào tạo và phải được sử dụng tập trung, ưu tiên cho việc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, đào tạo cán bộ cho một số ngành trọng điểm, bồi dưỡng nhân tài, trợ giúp cho giáo dục ở những vùng khó khăn và diện chính sách” [22,tr.35] Đây được coi là một trong những biện pháp chính tạo điều kiện, cơ