Trong quá trình hình thành và phát triển của xã hội Việt Nam, đặc biệt là từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIX, các triều đại phong kiến Việt Nam đã tiếp nhận, sử dụng Nho giáo làm cơ sở cho hệ t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN THỊ THỦY
ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ
ĐỐI VỚI ĐẠO ĐỨC XÃ HỘI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2011
Trang 2MỞ ĐẦU 1
Chương 1 ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO 8
1.1 Điều kiện ra đời đạo đức Nho giáo 8
1.1.1 Cơ sở kinh tế - xã hội của sự hình thành đạo đức Nho giáo 9
1.1.2 Cơ sở tư tưởng của sự hình thành đạo đức Nho giáo 10
1.2 Nội dung đạo đức Nho giáo 13
1.2.1 Quan niệm của Nho giáo về đạo và đức 13
1.2.2 Nội dung cơ bản của đạo đức Nho giáo 18
Chương 2 ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO ĐỐI VỚI ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM 30
2.1 Đạo đức Nho giáo Việt Nam và đạo đức truyền thống Việt Nam 30
2.1.1 Đạo đức Nho giáo Việt Nam 30
2.1.2 Đạo đức truyền thống Việt Nam 41
2.2 Ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với đạo đức truyền thống Việt Nam 51
2.2.1 Những ảnh hưởng tích cực của đạo đức Nho giáo đối với đạo đức truyền thống Việt Nam 51
2.2.2 Những ảnh hưởng tiêu cực của đạo đức Nho giáo đối với đạo đức truyền thống Việt Nam 53
Chương 3 ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO ĐỐI VỚI ĐẠO ĐỨC MỚI VIỆT NAM 57
3.1 Đạo đức mới của xã hội Việt Nam 57
3.1.1 Đạo đức mới và vai trò của đạo đức mới 57
3.1.2 Một số chuẩn mực cơ bản của đạo đức mới 61
3.2 Ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với đạo đức mới Việt Nam 71
3.2.1 Những ảnh hưởng tích cực của đạo đức Nho giáo đối với đạo đức mới Việt Nam 71
3.2.2 Những ảnh hưởng tiêu cực của đạo đức Nho giáo đối với đạo đức mới Việt Nam 75
KẾT LUẬN 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nho giáo ra đời ở Trung Quốc thời cổ đại, do Khổng Tử (551 - 479 TCN) sáng lập Nho giáo du nhập vào Việt Nam từ trước công nguyên Trong quá trình hình thành và phát triển của xã hội Việt Nam, đặc biệt là từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIX, các triều đại phong kiến Việt Nam đã tiếp nhận, sử dụng Nho giáo làm cơ sở cho hệ tư tưởng, làm công cụ trị nước, giáo dục đào tạo con người cho phù hợp với yêu cầu, mục đích của giai cấp phong kiến thống trị
Với tính cách là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng xã hội, Nho giáo đã ảnh hưởng tới nhiều mặt, nhiều lĩnh vực chủ yếu của đời sống xã hội
và con người Việt Nam Trong đó có một lĩnh vực rất cơ bản là đạo đức Nho giáo Dấu ấn đạo đức Nho giáo ở Việt Nam được thể hiện trong lịch sử tư tưởng, trong lĩnh vực chính trị - đạo đức, trong lĩnh vực đào tạo và đánh giá con người
Từ khi đất nước bước vào công cuộc đổi mới (1986) đến nay, bên cạnh những thành tựu lớn về kinh tế, về đời sống, về nhận thức chủ nghĩa xã hội thời kì quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, chúng ta còn bộc lộ những yếu kém Trong các yếu kém ấy, có nhiều yếu kém về đạo đức Nguyên nhân sự yếu kém về đạo đức, đa số các nhà nghiên cứu cho rằng có nguyên nhân lịch
sử là do ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo
Có người cho rằng do ảnh hưởng tiêu cực của Nho giáo; có người cho rằng do chúng ta phê phán, bài xích Nho giáo; có người nêu lên giải pháp hiện nay ta cần áp dụng triệt để công thức công nghệ chủ nghĩa tư bản với mô hình quản lý xã hội của các nước phát triển có truyền thống Nho giáo Qua đó cho thấy việc đánh giá ảnh hưởng của Nho giáo nói chung, đặc biệt là đạo đức Nho giáo ở Việt Nam trong lịch sử và hiện nay có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách đối với sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước Có như vậy, chúng ta
Trang 4mới thực hiện được “quan điểm phát triển” [15, tr.98] kinh tế, văn hóa, xã hội như Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI đã nêu lên Để thực hiện nhiệm vụ ấy, việc có ý nghĩa quan trọng là phải nghiên cứu sự ảnh hưởng đạo đức Nho giáo đối với đạo đức xã hội Việt Nam
Xuất phát từ yêu cầu của lý luận cũng như của thực tiễn công cuộc đổi
mới, chúng tôi chọn vấn đề “Đạo đức Nho giáo và ảnh hưởng của nó đối với đạo đức xã hội Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Ảnh hưởng của Nho giáo nói chung và ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo nói riêng vào xã hội Việt Nam từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu Kết quả nghiên cứu rất phong phú, xin khái quát một số phương diện:
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu thông qua các tài liệu kinh điển của Nho giáo, tiêu biểu là các tác giả Phan Bội Châu, Trần Trọng Kim, Đào Duy Anh, Quang Đạm Khổng học đăng của Phan Bội Châu và Nho giáo của
Trần Trọng Kim là những cuốn trình bày khá hệ thống về Nho giáo và cho rằng Nho giáo là học thuyết chính trị - xã hội và học thuyết đạo đức, coi đạo đức của Nho giáo có vai trò to lớn trong việc giáo dục, hoàn thiện đạo đức
con người Khổng giáo phê bình tiểu luận của Đào Duy Anh cho rằng cần có
thái độ khách quan, toàn diện, khoa học khi nghiên cứu Nho giáo; không nên
có thái độ phủ định sạch trơn Nho giáo Nho giáo xưa và nay của Quang Đạm
là một công trình lớn nghiên cứu về Nho giáo Các tư tưởng lớn của Nho giáo
trong Ngũ Kinh, Tứ Thư đã được tác giả phân tích khá sâu sắc Riêng nội
dung đạo đức Nho giáo tác giả đã làm sáng tỏ một số vấn đề quan trọng, đó là quan niệm của Nho giáo về đạo và đức, quan điểm của Nho giáo về Ngũ luân, Ngũ thường
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã đem lại nhiều bổ ích cho những người quan tâm và nghiên cứu Nho giáo Tuy nhiên, do nhiều điều kiện chi phối, chưa có tác giả nào nghiên cứu một cách có hệ thống ảnh
Trang 5hưởng của đạo đức Nho giáo đến đạo đức xã hội Việt Nam Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu vấn đề trên là đòi hỏi của thực tiễn
Thứ hai, nghiên cứu ảnh hưởng của Nho giáo vào Việt Nam từ đầu công nguyên, đặc biệt là từ khi nước ta giành được độc lập dân tộc đến đầu thế kỷ XX Theo hướng này, các tác giả Đào Duy Anh, Cao Xuân Huy, Vũ
Khiêu, Phan Đại Doãn, Nguyễn Tài Thư, Trần Đình Hượu, Chương Thâu, Cao Huy Đỉnh, Lê Văn Lan, Đặng Thai Mai, Lê Sỹ Thắng, Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Đức Sự, Bùi Văn Nguyên, Nguyễn Đức Qùy, Chu Đình Xương, Nguyễn Thanh Bình… đã công bố các kết quả được viết thành sách hoặc bài đăng các tạp chí đem lại nhiều bổ ích cho những ai quan tâm, nghiên cứu Nho giáo Các tác giả cho rằng ảnh hưởng của Nho giáo vào Việt Nam từ đầu công nguyên, đặc biệt là từ thế kỉ XI đến thế kỷ XIX Nội dung ảnh hưởng bao gồm chính trị, đạo đức, giáo dục là đậm nét nhất Riêng ảnh hưởng của đạo đức
Nho giáo, cuốn Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu của
cố giáo sư Cao Xuân Huy cho rằng: “Nho giáo là hình thái ý thức của giai cấp thống trị trong xã hội phong kiến ở Trung Quốc và Việt Nam” Trong đó,
“ngũ luân, ngũ thường hay tam cương, ngũ thường là những cái tuyệt đối,
hằng tồn, phổ biến” [17, tr.203] Cuốn Bản sắc văn hóa Việt Nam, giáo sư
Phan Ngọc cho thấy các phạm trù chính trị - đạo đức cơ bản của Nho giáo như: Trung, hiếu, nhân, nghĩa, nhà, nước… khi vào Việt Nam đã bị khúc xạ,
đã được người Việt Nam tiếp và biến nó Vì vậy, các phạm trù này ở các nhà Nho Việt Nam có nội dung rộng, phong phú hơn, mang nhiều yếu tố nhân văn hơn Nhờ vậy, Nho giáo mới đóng một vai trò quan trọng đối với lịch sử của
dân tộc Cuốn Một số vấn đề về Nho giáo Việt Nam do giáo sư Phan Đại Doãn
chủ biên có nhận định rằng: “Nho giáo vào Việt Nam không còn nguyên vẹn như ở Trung Quốc, đã được Việt Nam hóa Các nhà Nho Việt Nam nặng về
tiếp thu luân lý đạo đức, chủ yếu về hiếu, nghĩa” Cuốn Nho học và Nho học Việt Nam của giáo sư Nguyễn Tài Thư đã nhận định rằng tư tưởng chính trị,
Trang 6tư tưởng đạo đức là những lĩnh vực tư tưởng phản ánh quyền lợi của giai cấp phong kiến nên những bộ phận này in đậm dấu ấn của Nho giáo so với Phật giáo Tuy vậy, trong hướng nghiên cứu này, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống, đầy đủ vấn đề ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với đạo đức xã hội Việt Nam Vì vậy, kế thừa những kết quả đã có để theo hướng đề tài luận văn đã xác định là cần thiết
Thứ ba, nghiên cứu đạo đức Nho giáo và ảnh hưởng của nó đối với đạo đức xã hội Việt Nam
Theo hướng này, các tác giả Vũ Khiêu, Trần Văn Giàu, Phan Đại Doãn, Đào Duy Anh, Hà Thúc Minh, Trần Văn Thụy, Nguyễn Thị Thanh Mai, Trần Thị Hồng Thúy, Trần Đình Thảo… đã nghiên cứu và đề cập
Cuốn Nho giáo và đạo đức của giáo sư Vũ Khiêu đã chỉ rõ chủ đích của
những người theo đạo Nho là biết đạo để hành Để biết đạo, phải tham gia vào công tác chính trị, giữ một chức trách nhất định trong bộ máy thống trị - nghĩa
là ra làm quan, làm quan để có cương vị mà hành đạo chứ không phải để làm giàu Nho giáo gắn với đạo đức, với chính trị, đem đạo đức phục vụ chính trị
Bài “Đạo đức Nho giáo và đạo đức truyền thống Việt Nam” của giáo sư Trần
Văn Giàu đã chỉ rõ đạo đức truyền thống Việt Nam có mối liên hệ mật thiết với đạo đức Nho giáo, nhưng đó là mối liên hệ kế thừa, lọc bỏ, phát triển Nội dung cơ bản của đạo đức Nho giáo là Ngũ luân và Ngũ thường Tiêu điểm của mọi tiêu điểm, giá trị của mọi giá trị của nền đạo đức truyền thống là chủ nghĩa yêu nước Đạo đức truyền thống là một trong những điều kiện cho đạo đức cách mạng phát triển Trong quá trình phát triển đạo đức cách mạng phải
gạt bỏ những yếu tố của đạo đức Nho giáo để lại Bài “Góp phần phê phán lễ giáo phong kiến” của giáo sư Hà Thúc Minh đã chỉ rõ thực chất của phạm trù
lễ là sự ràng buộc, đè nén, kìm hãm hoạt động và nhu cầu của con người; là
sự tượng trưng cho sự giáo điều, đẳng cấp; là phương tiện cứu cánh của Nho
giáo Tàn dư của lễ giáo ở Việt Nam vẫn còn, cần phải phê phán Bài “Cha
Trang 7ông ta đã tiếp thu những gì tích cực ở các ý thức hệ phong kiến của Trung Quốc” của Trương Chính đã gợi mở cho chúng ta một cách kế thừa những
yếu tố tích cực của Nho giáo về vấn đề con người, đạo làm người trên cơ sở thực tiễn xã hội Việt Nam Những tư tưởng Nho giáo vì dân, trọng dân cũng được cha ông ta kế thừa nhằm hạn chế quyền lực của giai cấp thống trị Bài
“Ảnh hưởng của Nho giáo đối với xã hội Việt Nam” của Đào Duy Anh đã giới
thiệu việc đánh giá về Khổng Tử của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời gợi
mở cho chúng ta phương châm tiếp thu, sử dụng tư tưởng đạo đức Nho giáo
của Nguyễn Trãi, Phan Bội Châu và Chủ tịch Hồ Chí Minh Bài “Vấn đề đạo đức trong triết học của Khổng Tử” của PGS.TS Trần Văn Thụy chỉ rõ quan
niệm của Nho giáo về phạm trù “đạo” và “đức”, những nội dung đạo đức
trong tư tưởng của Khổng Tử là Ngũ luân, Ngũ thường Công trình “Ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với đạo đức người cán bộ lãnh đạo, quản lý
ở Việt Nam hiện nay” của tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh Mai đã phần nào làm rõ
nội dung đạo đức Nho giáo, sự du nhập đạo đức Nho giáo vào Việt Nam trong thời kỳ phong kiến Trên cơ sở ấy, công trình đã chỉ ra những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đối với người lãnh đạo và quản lý ở Việt Nam hiện nay Tuy vậy, trong hướng nghiên cứu này, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với đạo đức xã hội Việt Nam Vì vậy, kế thừa các kết quả đã có, việc tiếp tục nghiên cứu theo hướng của đề tài luận văn xác định là cần thiết, góp phần cho xu hướng nghiên cứu này toàn diện hơn
Với tên đề tài đã được xác định, luận văn sẽ đi sâu trình bày hệ thống nội dung đạo đức Nho giáo, hệ thống đạo đức xã hội Việt Nam có đạo đức Nho giáo ở Việt Nam, đạo đức truyền thống Việt Nam và đạo đức mới Việt Nam Trên cơ sở ấy trình bày những ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với đạo đức truyền thống và đạo đức mới của xã hội Việt Nam
Trang 83 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Nhiệm vụ: Trên cơ sở mục đích nghiên cứu, luận văn nhằm làm rõ:
- Nội dung đạo đức Nho giáo
- Ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với đạo đức truyền thống Việt Nam
- Những ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với đạo đức mới Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
- Đạo đức Nho giáo
- Ảnh hưởng của nó đối với đạo đức xã hội Việt Nam
* Phạm vi nghiên cứu:
- Tư tưởng đạo đức Nho giáo thời Đông Chu
- Tư tưởng đạo đức Nho giáo từ thời nhà Hán về sau
- Đạo đức Nho giáo ở Việt Nam, đạo đức truyền thống và đạo đức mới của Việt Nam
- Những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của đạo đức Nho giáo đối với đạo đức truyền thống và đạo đức mới của Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn là phương pháp luận của triết học duy vật biện chứng, trong đó các nguyên tắc cơ bản được thực hiện là: thống nhất giữa quy nạp và diễn dịch; thống nhất giữa phân tích, tổng hợp; thống nhất giữa lịch sử - lôgic Đồng thời, luận văn sử dụng một số
Trang 9phương pháp khoa học khác như: đối chiếu, so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa…
6 Đóng góp của luận văn
- Nêu lên tương đối có hệ thống nội dung đạo đức Nho giáo, đạo đức Nho giáo ở Việt Nam, đạo đức truyền thống và đạo đức mới Việt Nam
- Nêu lên tương đối rõ những ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với đạo đức truyền thống và đạo đức mới của Việt Nam
- Luận văn dùng làm tài liệu tham khảo, phục vụ học tập, nghiên cứu, giảng dạy học tập Nho giáo cũng như triết học phương Đông và lịch sử tư tưởng Việt Nam
* Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
- Trên cơ sở làm rõ nội dung đạo đức Nho giáo, đạo đức Nho giáo ở Việt Nam, đạo đức truyền thống và đạo đức mới Việt Nam, luận văn làm rõ mối quan hệ giữa đạo đức Nho giáo với đạo đức xã hội Việt Nam, làm rõ sự khác biệt của đạo đức xã hội Việt Nam Chính sự khác biệt ấy là bản sắc đạo đức của dân tộc Việt Nam
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 6 tiết
Chương 1 Đạo đức Nho giáo
Chương 2 Ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với đạo đức truyền thống Việt Nam
Chương 3 Ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với đạo đức mới Việt Nam
Trang 10Chương 1 ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO
1.1 Điều kiện ra đời đạo đức Nho giáo
1.1.1 Cơ sở kinh tế - xã hội của sự hình thành đạo đức Nho giáo
Theo nhiều tài liệu lịch sử, thời cổ đại Trung Quốc đã trải qua các triều đại: Nhà Hạ, nhà Thương, nhà Chu Nhà Hạ khoảng thế kỷ XXII đến thế kỷ XVII TCN Nhà Thương khoảng tử thế kỷ XVIII đến thế kỷ XII TCN Nhà Chu từ 1135 đến năm 221 TCN Nhà Chu được chia thành hai thời kỳ: Tây
Chu, khoảng từ 1135 - 770 TCN và Đông Chu khoảng từ 770 - 221 TCN
Trong những năm đầu của nhà Chu, theo nhiều tài liệu lịch sử ghi lại,
xã hội Tây Chu là xã hội thịnh vượng về kinh tế, ổn định về chính trị - xã hội;
đạo đức, kỷ cương được giữ vững Thời Tây Chu có nhiều vị vua sáng suốt như Chu Văn Vương nổi tiếng trọng hiền tài, Chu Công có tài tổ chức việc nước, phong cho người trong họ giữ các nơi hiểm yếu để làm phên dậu cho mình, hình thành nên Lễ, Nhạc; chia ruộng đất cho nông dân theo phép tỉnh điền nhằm làm cho tài sản của nông dân không chênh lệch Những năm cuối của thời Tây Chu, đất nước suy vi, các nước xung quanh thường xâm chiếm
bờ cõi Khi U Vương lên ngôi, lo ăn chơi trụy lạc dẫn đến chế độ Tây Chu suy phải rời đô từ phía Tây sang phía Đông, lịch sử gọi là thời Đông Chu
Thời Đông Chu (hay còn gọi là thời Xuân Thu - Chiến Quốc) là thời kỳ
xã hội chiếm hữu nô lệ theo kiểu phương Đông bắt đầu suy tàn và chế độ phong kiến sơ kỳ đang hình thành, thể chế chính trị - xã hội và những quy tắc đạo đức xã hội lỗi thời, những thể chế và những quy tắc đạo đức xã hội mới còn manh nha Chính do sự giao thời giữa hai chế độ đó đã gây nên những đảo lộn, cản trở sự phát triển của xã hội
Về lĩnh vực kinh tế: Đầu Đông Chu (Xuân Thu), nền kinh tế chuyển từ
đồ đồng sang đồ sắt, đem lại nhiều tiến bộ trong việc cải tiến công cụ, kỹ
Trang 11thuật sản xuất Vì thế, nông nghiệp và thủ công nghiệp phát triển, hệ thống thủy nông phục vụ nông nghiệp hình thành, diện tích canh tác được mở rộng,
kỹ thuật canh tác được cải tiến, năng suất lao động trong nông nghiệp tăng lên
Do công cụ đồ sắt phổ biến nên phân công lao động xã hội phát triển, các ngành nghề thủ công ra đời Do nông nghiệp và thủ công nghiệp phát triển, việc trao đổi, mua bán hàng hóa giữa các vùng, các nước hình thành, ngành thương nghiệp ra đời
Về lĩnh vực chính trị - xã hội: Kinh tế phát triển đã tác động mạnh đến
lĩnh vực chính trị - xã hội Cục diện mới của xã hội xuất hiện, đó là “tình trạng xen kẽ lẫn nhau giữa hình thái chiếm hữu nô lệ cứ lùi dần và hình thái phong kiến cát cứ mới nảy sinh với xu thế hướng tới tập quyền ngày càng mạnh cũng chấm dứt” [16, tr.21] Sự tác động rõ rệt của kinh tế đối với chính trị - xã hội là các hình thức sở hữu ruộng đất và kết cấu giai cấp của xã hội
Hệ quả của sự tác động ấy là mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị bóc lột với giai cấp nông dân và các tầng lớp bị trị khác ngày càng gay gắt Thời Tây Chu, ruộng đất là của vua Thời Đông Chu, quyền sở hữu tối cao, tuyệt đối bị giai cấp địa chủ mới ra đời chiếm dụng, tình trạng thiên tử không nắm được “đất của vua” và “tôi của vua” đã làm cho giai cấp quý tộc nhà Chu suy yếu về địa
vị và vai trò chính trị đối với xã hội Gần như cả thời Xuân Thu “chư hầu trở thành lãnh chúa, các đức quân trong đó có những kẻ trội lên trở thành bá” [16, tr.20] Khắp thiên hạ, các nước chư hầu gây chiến tranh liên miên vô cùng tàn khốc nhằm thôn tính, tranh giành địa vị của nhau, khiến cho người thời đó than rằng: “Khắp thiên hạ đều loạn lạc như nước đổ cuồn cuộn Làm thế nào cho thiên hạ trị?” [28, XVIII, tr.6] Cảnh tôi giết vua, con hại cha, anh em vợ chồng chia lìa nhau thường xuyên xảy ra Thiên hạ trở nên “vô đạo”, trật tự lễ nghĩa, cương thường của xã hội bị đảo lộn
Hoàn cảnh lịch sử Đông Chu rối ren, loạn lạc, xáo trộn cái cũ với cái mới, cái tụt xuống với cái trồi lên như vậy chính là hoàn cảnh lịch sử thúc đẩy
Trang 12và chứng kiến sự ra đời của nhiều đạo lý xử thế, nhiều trường phái triết học và tôn giáo, trong đó có đạo lý triết học chính trị, đạo đức của Nho giáo Tìm hiểu hoàn cảnh lịch sử ra đời ấy là vấn đề cần thiết cho công việc đi sâu nghiên cứu vấn đề đạo đức của Nho giáo
1.1.2 Cơ sở tư tưởng của sự hình thành đạo đức Nho giáo
Sự ra đời tư tưởng Nho giáo về đạo đức còn bắt nguồn từ đời sống tư tưởng của Trung Quốc trước thời Đông Chu
Thời Tây Chu, tôn giáo, chính trị, đạo đức đã ra đời Về tôn giáo, thời
Tây Chu đề cao tư tưởng “kính trời”, “hợp mệnh trời”, “thờ thượng đế”, “trời người hợp nhất” Họ cho rằng “trời” là là lực lượng có nhân cách, có ý chí và
uy quyền tuyệt đối Về chính trị, các nhà tư tưởng Tây Chu dựa vào tư tưởng
tôn giáo xây dựng quan điểm chính trị phản động cho rằng triều đại nhà Chu
do biết làm theo “mệnh trời”, “trời” nên được “nhân dân” từ tay nhà Ân để
“hưởng dân” và “trị dân” Ai chống lại “mệnh trời”, “ý trời” thì nhà Chu sẽ trừng phạt Vua nhà Chu là thiên tử, thay trời thống trị thiên hạ, cai trị dân Vì
vậy, dân phải phục tùng vua Về đạo đức, các nhà tư tưởng Tây Chu lấy hai
chữ “đức” và “hiếu” làm cốt để tuyên truyền, củng cố sự tồn tại vĩnh viễn địa
vị thống trị của tầng lớp quý tộc nhà Chu Họ cho rằng các bậc tiên vương nhà Chu có đức nên thượng đế cho hưởng nước, hưởng dân Vì vậy, các vua sau phải kính cái đức ấy, phải bồi dưỡng cho con cháu phải thờ tổ tiên, nhớ công lao tổ tiên, giữ gìn phép tắc tổ tiên, đó là đức Hiếu Có được đức hiếu mới nhận được mệnh trời mà hưởng nước, hưởng dân mãi mãi Quan điểm đạo đức này là cơ sở góp phần hình thành đạo đức Nho giáo sau này Nho giáo ra đời tiếp nhận các tư tưởng trên của Tây Chu là tiếp nhận một phương thức
chính trị mà giai cấp thống trị Tây Chu đã thực hiện là sử dụng thần quyền để củng cố, sử dụng vương quyền trong việc cai trị đất nước Đến thời Đông Chu,
Nho giáo với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, liên hệ mật thiết với đời sống kinh tế, phản ánh đời sống kinh tế - xã hội thời bấy giờ Để khắc phục
Trang 13tình trạng xã hội rối loạn, nhằm đưa xã hội vào trạng thái ổn định, phát triển, Nho giáo một mặt thừa nhận, sử dụng thần quyền, đồng thời mặt chủ yếu là khẳng định địa vị vương quyền đứng trên thần quyền, khẳng định vai trò, vị trí của con người trong biến đổi lịch sử Vấn đề căn bản, cấp bách của điều kiện kinh tế - xã hội và tư tưởng của xã hội đặt ra cho các nhà tư tưởng và các
nhà cầm quyền Đông Chu là làm thế nào thiết lập lại trật tự kỷ cương và làm thế nào để đưa xã hội vào ổn định, phát triển? Giải đáp vấn đề trên, các nhà
tư tưởng thời kỳ này đã chọn mô hình xã hội lý tưởng cùng với phương pháp quản lý xã hội theo lập trường của giai cấp, của tầng lớp mình Chẳng hạn,
Mặc gia đưa ra một mô hình xã hội không có sự phân biệt sang - hèn, trên -
dưới, thương yêu nhau, làm lợi cho nhau Phương pháp quản lý xã hội là
“kiêm ái” (yêu thương lẫn nhau) Các nhà Pháp gia củng cố chế độ tập quyền
trung ương của nền chuyên chính quân chủ Phương pháp quản lý xã hội lấy
Pháp, thuật, thế làm nội dung căn bản Các nhà tư tưởng Đạo gia nêu lên xã
hội lý tưởng đó là “nước nhỏ, ít dân, có vũ khí mà không dùng, làm cho dân coi trọng cái chết mà không đi xa Dù có thuyền không ai đi Dù có áo giáp không biết để đâu Làm cho mọi người lại kết dây mà dùng Lấy cái mình ăn
mà vui, vui với cái mình mặc là đẹp, yên tâm với nơi mà mình ở, vui lòng với thói tục Các nước gần gũi nhau, có thể nghe tiếng gà, chó của nhau, dân cho đến chết già không qua lại” [Lão Tử, chương 80] Giải pháp tự mình của Đạo
gia ấy là vô vi, lấy vô vi mà xử sự, lấy bất ngôn mà dạy đời Vì vậy, Lão Tử
theo đuổi một thế giới vô vi, thanh tịnh, vô sự, vô dục
Khác với các trường phái trên, Nho giáo cũng đưa ra quan điểm xã hội
lý tưởng là xã hội ổn định, có trật tự kỷ cương, mọi cái trong xã hội đều là của chung, mọi người trong xã hội đều có quyền lợi, được chăm sóc bình đẳng, sống hòa mục, thân ái; đó là xã hội có đạo đức, có đời sống vật chất tương đối đầy đủ; đó là xã hội có giáo dục, giáo hóa [28, XIII, tr.9]
Trang 14Xã hội có lý tưởng Nho giáo nêu lên là xã hội theo chế độ lễ nghĩa thời Tây Chu mà Khổng Tử hoài vọng Khổng Tử nói: “Triều đại nhà Chu soi xét hai triều đại đã qua mà chế định lễ tiết Nhờ vậy, lễ tiết trở nên rực rỡ biết bao! Vậy, ta theo lễ nhà Chu” [28, III, tr.14] Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử biến đổi, Khổng Tử cho rằng “xây dựng một chế độ xã hội theo lễ nghĩa nhà Chu phải có một sự cải biến cho phù hợp với yêu cầu mới, không giữ nguyên xi” [28, II, tr.23]
Dựa trên cơ sở tư tưởng về bản tính thiện của con người, về đức “trung dung” là đạo lý của trời đất, vạn vật, Nho gia nêu lên chủ trương cơ bản để
quản lý xã hội này là đường lối trị nước "đức trị" “Đức trị” là tư tưởng về đường lối cai trị đất nước, quản lý xã hội trên cơ sở chuẩn mực đạo đức Vai trò của đạo đức trong quản lý xã hội lý tưởng Nho gia nêu lên là:
- Đạo đức là công cụ, là phương tiện chủ yếu nhất của giai cấp phong kiến trong việc trị nước và quản lý xã hội
- Đạo đức là tiền đề, điều kiện quan trọng nhất để hình thành và hoàn thiện đạo đức con người, góp phần vào việc củng cố, duy trì trật tự, kỷ cương,
ổn định xã hội
- Đạo đức và thực hành đạo đức đóng vai trò quyết định đối với việc tạo lập ra mẫu người lý tưởng và góp phần tạo lập xã hội lý tưởng Như vậy, xuất phát từ điều kiện kinh tế - xã hội, tư tưởng xã hội Đông Chu, vấn đề đạo đức được Nho gia coi là vấn đề căn bản nhất Vì thế, trong tư tưởng của Nho gia về vũ trụ, chung quy lại là chuyện đạo và đức; tư tưởng nhân sinh của Nho gia, đạo đức càng quan trọng, quyết định tất cả Có thể nói: “Vũ trụ quan, nhân sinh quan, nhận thức luận của Nho gia đều thấm đượm ý thức đạo đức, phiếm đạo đức luận (cái gì cũng lấy đạo đức làm chuẩn), trở thành một đặc điểm nổi bật của Nho gia”, “Nho gia xem thực hành đạo đức như là hoạt động thực tiễn lớn nhất của một đời người, đặt lên vị trí thứ nhất của sinh hoạt xã hội” [5, tr.76-77]
Trang 151.2 Nội dung đạo đức Nho giáo
Để có được những giải pháp định hướng phát huy, hạn chế những ảnh hưởng đạo đức Nho giáo đối với xã hội Việt Nam hiện nay, điều cần thiết là
cần làm rõ quan điểm của Nho giáo về đạo và đức, về nội dung cụ thể của đạo đức Nho giáo
1.2.1 Quan niệm của Nho giáo về đạo và đức
Ngày nay, trong ngôn ngữ thông thường, “đạo đức” là một từ có hai âm
tiết, thể hiện một khái niệm cụ thể Chẳng hạn: “Đạo đức là một hình thái ý
thức xã hội, là tập hợp những quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội” [19, tr.8]
Còn ngày xưa, thời Đông Chu, trong Tứ thư, Ngũ kinh của Nho giáo thì
“đạo” là một từ thể hiện một khái niệm; “đức” là một từ khác, thể hiện một khái niệm khác Khi đạo đức đi liền nhau đó là hai từ đi liền nhau hơn là một
từ có hai âm tiết như ngày nay Ví dụ: Kinh Lễ ghi “đạo đức, nhân nghĩa
không đúng lễ thì không thành”
Nho giáo có bàn đến trời đất, muôn vật Chung quy lại, quan trọng nhất của trời đất cũng là chuyện đạo và đức Nho giáo cho rằng trời có đạo, có đức của trời; đất có đạo, có đức của đất; muôn vật có đạo và đức của muôn vật
Đức của trời là sinh ra muôn vật “Trời sinh ra vật gì ắt tùy theo cái
chất của nó mà bồi dưỡng cho nó, cho nên cái gì đã vững thì vun đắp thêm, cái gì nghiêng ngả thì cho đổ xuống” [10, XVI, tr.163] Đức của trời cũng bao dung tất cả mọi đức nhỏ và đức lớn của muôn vật, muôn loài: “Đức nhỏ như sông ngòi, đức lớn bao dung đồng hóa Chính vì thế trời đất là lớn vậy” [10, XXX, tr.205]
Đạo của trời thể hiện đức của trời đất trong quá trình sinh ra, mất đi, tiến lên, lùi lại, sự biến hóa của muôn vật, muôn loài Kinh Truyện của Nho
Trang 16giáo quan niệm rằng sự vận động của trời đất, muôn vật không diễn ra một cách lộn xộn mà diễn ra một cách có đường đi lối lại cả trong không gian và thời gian, có nề nếp và phép tắc rõ ràng Đạo chính là đường đi lối lại có nề nếp, phép tắc ấy Theo nghĩa gốc, đạo là con đường đúng đắn từ nơi đi tới nơi đến Ứng dụng vào sự vận dụng của trời đất muôn vật, đạo có nghĩa là hệ thống những nguyên lý, những phép tắc, quy luật, là vốn có trong tự nhiên không phải do con người sinh ra “Trời nói gì đâu, bốn mùa cứ diễn ra, trăm vật cứ sinh ra, trời nói gì đâu” [28, XVII, tr.18] Con người có tâm hồn, ý thức,
có trí tuệ phải tìm hiểu đạo tự nhiên của trời đất, muôn vật và cần phải biết lập đạo của con người để sống cho đúng đắn, phù hợp với những nguyên lý, phép
tắc, những quy luật cơ bản, bao quát của tự nhiên và cuộc sống Trong Kinh Dịch, Thuyết quái truyện viết “lập đạo của trời là âm dương, lập đạo của đất
là nhu cương”
Về nhân sinh, con người là một vật, một loài, là bộ phận nhỏ của tự
nhiên Vì thế, cơ thể của con người luôn liên hệ mật thiết với giới tự nhiên, nhất luật tuân theo nguyên lý “âm dương biến hóa” của đạo trời và “cương nhu tương thôi” của đạo đất Con người là loài có tâm hồn, ý thức và trí tuệ, có cuộc sống xã hội, có hình thái kinh tế - xã hội quyết định tư tưởng con người
Vì vậy, dù Khổng Tử chưa hiểu đầy đủ như vậy nhưng đã nêu lên được một số
thuật ngữ như vậy trong Tứ thư, Ngũ kinh, đã nhận thấy được quan hệ giữa
người và người trong xã hội không giống quan hệ con người với tự nhiên
Chính vì vậy, Khổng Tử đã bàn tới "tính", "đạo", "đức" của con người
Tính của con người là vấn đề trung tâm của Nho giáo, được các nhà
nho tranh luận, bàn cãi nhiều trong lịch sử triết học Trung Quốc Trên cơ sở cách đặt vấn đề “tính là gần nhau, tập là xa nhau” [28, XVII, tr.2] của Khổng
Tử qua tranh luận ta thấy có bốn loại quan niệm:
Thứ nhất: Bản tính của con người là thiện, đại biểu cho quan niệm này
là Mạnh Tử
Trang 17Thứ hai: Bản tính con người là ác, đại biểu cho quan niệm này là Tuân Tử Thứ ba: Bản tính của con người không thiện, không ác, đại biểu cho
quan niệm này là Cáo Tử
Thứ tư: Bản tính con người có cả thiện và cả ác Đây là quan niệm của
các nhà Nho từ thời Hán về sau
Dù có nhiều quan niệm khác nhau nhưng họ nhất trí khẳng định cái tính
ấy có thể thay đổi, biến đổi do hoàn cảnh Khổng Tử cho rằng do “tập” mà làm cho tính ban đầu của con người thay đổi Cáo Tử cho rằng tính có thay đổi là do tu dưỡng học tập của con người Mạnh Tử cho rằng “tính thiện” có thể biến thành “tính ác” do con người không biết “tồn tâm thiện” Tuân Tử cho rằng tính có thể thay đổi do sự tu dưỡng, học tập của con người Đổng Trọng Thư cho rằng con người có tính thiện hay tính ác do sự giáo dục, học tập đạo đức của con người
Như vậy, theo quan điểm của Nho giáo, có “tính do trời phú” [10, I, tr.139] mà cứ buông lơi, thả lỏng trong cuộc sống thì tính không thể tránh được tình trạng biến chất theo muôn vàn cái “tập” và bị kéo theo lầm đường lạc lối
Trong hoàn cảnh ấy con người trở thành vô đạo, cuộc sống sẽ đi đến cả nước vô đạo rồi làm cho thiên hạ vô đạo Quan điểm của Khổng Tử về “tính cùng gần, tập cùng xa” là điểm xuất phát, là cơ sở để nêu lên sự cần thiết lập đạo cho con người
Đạo của con người, đó là con đường để con người trở thành người Chu Dịch, Thuyết quái truyện viết: “Lập đạo của người là nhân và nghĩa”, người với người có rất nhiều mối quan hệ Trung Dung đã khái quát “đạo của
con người gồm năm mối quan hệ: Vua - tôi, cha - con, chồng - vợ, anh - em,
bè bạn” [10, XX, tr.180] Con người phải xuất phát từ năm mối quan hệ đó, rồi từ đó mới yêu quý rộng ra người khác
Trang 18Nhân nghĩa với tính cách là đạo của con người không thể hiểu thông
thường Nhân là lòng thương người, nghĩa là dạ thủy chung và bất nhân là ác, bất nghĩa là bạc Hiểu theo cách đó, nhân nghĩa không đủ để là hai yếu tố cơ bản quyết định lớn nhất của đạo làm người Vì thế, nhân nghĩa theo cách nói
trong Kinh Dịch thì mọi đức của con người đều do nhân nghĩa mà ra, giống
như muôn vật, muôn loài trên trời, dưới đất đều do âm dương, nhu cương mà
ra Nhân và nghĩa là hai yếu tố đối nhau Đổng Trọng Thư thời nhà Hán đã
giải thích câu nói của Kinh Dịch rằng: Nhân là để yêu người, nghĩa là để
chính mình cho nên lấy nhân mà nói là nói người, lấy nghĩa mà nói là mình, phép tắc của nhân là yêu người, phép tắc của nghĩa là chính mình Nhân tạo người, nghĩa tạo ta
Đạo của con người có ý nghĩa rất lớn đối với tính của con người Trung Dung viết: “Trời mệnh cho gọi là tính, kèm cặp, dẫn dắt tính là đạo, tu
dưỡng đạo gọi là giáo” [10, I, tr.139] Tình trạng xã hội Đông Chu nhiều người không giữ được tính trời phú đã biến chất do muôn vàn cái tập cho nên con người, xã hội Đông Chu là “vô đạo” Lý tưởng của Nho giáo là làm cho mọi người, mọi nước và thiên hạ hữu đạo
Đạo của con người phù hợp với tính phú của con người do trời phú, do
con người sáng lập nên có chức năng dẫn dắt tính của con người, không để tính ác của con người do “tập” làm biến chất Đạo của con người gần gũi với con người, phù hợp với tính tự nhiên của con người, mọi người trong xã hội đều có ít nhiều đạo nhân nghĩa trong bản thân mình Còn việc mọi người có
hữu đạo hay không là việc cần có sự phân biệt Trung Dung cho rằng “có
người sinh ra mà biết, có người học mà biết, có người khó khăn, khốn khổ mà biết” [10, XX, tr.181] Trong ba hạng người trên, hạng thứ nhất không có, đông đảo nhất là hạng thứ hai và ba Với hai hạng người ấy, muốn họ hữu đạo phải có sự khuyên răn, dạy bảo, có nghĩa là phải giáo Giáo dục con người
Trang 19theo Nho giáo là dạy “đạo lý” để tạo ra những con người có đủ nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, trung, dũng, hiếu, đễ
Đức của con người liên hệ mật thiết với đạo
"Đức" hay “đạo đức" trong ngôn ngữ ngày nay được hiểu đại thể là đức
hạnh Cụ thể, đó là lòng nhân ái, lòng khoan dung độ lượng, có tinh thần trung thực, có nghĩa, có khí, có ý chí Khi ta nói giáo dục con người, chúng ta vạch ra ranh giới rõ ràng giáo dục đức dục và trí dục Khi đánh giá con người, chúng ta thường vạch ra ranh giới giữa đức và tài là cách làm phổ biến Như vậy, chúng ta không quan niệm đức bao gồm tài, trí Ngược lại, tài không phải
là đức
"Đức" trong Tứ thư, Ngũ kinh không rõ ràng, rành mạch về ranh giới
đức, tài, trí Chẳng hạn, nói tới người quân tử, người ta nêu lên Nhân, nghĩa,
lễ, trí Nói đến người phụ nữ, người ta kể chung cả công, dung, ngôn, hạnh Như vậy, từ “đức” của Nho giáo dùng để chỉ một cái gì thể hiện phẩm chất tốt đẹp của con người trong tâm hồn, ý thức cũng như trên hình thức, dáng điệu Suy rộng ra, người ta thường dùng từ đức để nói lên cái hay, cái tốt hoặc cái thịnh vượng trong trời đất muôn vật được nhân cách hóa Các nhà ngôn ngữ khi nhìn mặt từ nguyên và ngữ âm của từ đạo cho rằng: “Đức là cái do hành đạo mà được” Nói cách khác, đức là cái “sở đắc” trong công cuộc hành đạo
Cuốn Từ Nguyên của Trung Quốc ghi rằng: “Đức là cái do hành đạo mà có được trong tâm” Vào thời Đông Hán, triết gia Vương Bật giải thích rõ hơn:
“Đạo là cái mà vật noi theo, đức là cái vật có được, do noi theo mà có” [16, tr.116] Diễn đạt tư tưởng trên về mối quan hệ giữa người với người trong cuộc sống ta có thể thấy như sau: Ở trên đời, ai ai cũng sinh tồn, cũng hoạt động trong quan hệ nhất định với Trời, đất, muôn vật và những quan hệ tam cương, ngũ luân Các quan hệ ấy phù hợp với bản tính của con người, phù
hợp với đạo đức chung của trời đất sinh ra con người Đường đi lối lại đúng
Trang 20đắn phải noi theo để xây dựng quan hệ làmh mạnh gọi là đạo Noi theo đạo một cách đúng đắn trong cuộc sống thì có được đức quý báu ở trong tâm
Con đường đi từ đạo đến đức của Nho giáo không phải là con đường bằng phẳng, dễ dàng Vào thời Đông Chu, do thiên hạ mắc cảnh tượng vô đạo, Khổng Tử và các đệ tử của mình đã đem sức của mình ra dạy bảo thiên hạ, trau dồi rèn luyện cho đạo của thiên hạ, tức là dùng đức của mình tác động lại đạo của thiên hạ
Trên cơ sở quan niệm đạo và đức, Nho giáo đã nêu lên các mối quan hệ chặt chẽ, các đạo trong ba khuôn nhà - nước - thiên hạ
Đồng thời, Nho giáo đã xây dựng bậc thang tám bậc để đưa con người
có đức sáng đi từ chỗ khởi đầu đến đỉnh cao là: Cách vật - trí tri - thành ý - chính tâm - tu thân - tề gia - trị quốc - bình thiên hạ Năm bậc đầu đi từ cách vật đến tu thân là hành đạo đúng đắn đối với trời đất, muôn vật và đối với bản thân mình Ba khuôn khổ nhà, nước, thiên hạ và ba bậc thang tề - trị - bình, quan hệ người với người ràng buộc một cách chặt chẽ hơn
Bao quát các mối quan hệ, Nho giáo nêu lên 10 đức: Cha từ, con hiếu, anh lành, em đễ, chồng có nghĩa, vợ có nghĩa, trưởng có ân, ấu ngoan ngoãn, vua nhân, tôi trung
1.2.2 Nội dung cơ bản của đạo đức Nho giáo
1.2.2.1 Luân thường
Trong xã hội phong kiến, quan hệ giữa người với người được gọi là
nhân luân Các bậc vua chúa, giai cấp quý tộc và các nhà Nho trong xã hội
phong kiến gọi trật tự, thứ bậc và quan hệ giữa vua và tôi, cha và con, chồng
và vợ, anh em và bạn bè là ngũ luân; đồng thời họ cho rằng ngũ luân là biểu
hiện của lý trời trong đời sống xã hội con người, là đạo lý vĩnh hằng, không
thể biến đổi cho nên gọi là Luân thường
Trong xã hội, con người có nhiều mối quan hệ Việc phân chia các mối
quan hệ của con người, theo Nho giáo có nhiều phương diện: Từ phương diện
Trang 21đạo đức, Nho giáo đề cập đến mối quan hệ giữa người quân tử và tiểu nhân
Tiểu nhân chỉ người nhỏ mọn, tầm thường Quân tử chỉ người có tài đức, xuất chúng, có địa vị, tri thức, đạo đức và nhân cách Sự phân biệt ban đầu giữa quân tử và tiểu nhân dựa trên sự khác nhau giữa năng lực, trình độ học vấn, phẩm chất đạo đức, nhân cách và thái độ sống Về sau, sự phân chia gắn liền
với sự phân chia đẳng cấp, danh phận và địa vị xã hội Từ phương diện lao động xã hội, Nho giáo bàn tới mối quan hệ giữa lao động chân tay (lao lực) và
lao động trí óc (lao tâm) Nho giáo khinh miệt lao động chân tay, coi loại lao động ấy là của tiểu nhân Khi có người nói phục Phu Tử về việc làm được nhiều nghề, Phu Tử đã giải thích vì mình lúc nhỏ do nghèo nên biết nhiều
việc Từ phương diện chính trị, Nho giáo đề cập tới các mối quan hệ thống trị
và bị trị, vua và dân, quan và dân, vua và tôi Từ phương diện thiết chế xã hội, Nho giáo đưa ra các quan hệ trong gia đình, đó là quan hệ cha và con, chồng
và vợ, anh và em, trong xã hội đó là quan hệ bằng - hữu (bạn bè), trên - dưới, thiên tử - thiên hạ
Ngoài ra, trong từng mối quan hệ đã nêu trên, Nho giáo còn nêu lên nhiều mối quan hệ con Vì vậy, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng con người trong Nho giáo vướng mắc quá nhiều trong lưới đạo cổ truyền Ứng với từng mối quan hệ xã hội do Nho giáo đặt ra lại có những quy phạm, những chuẩn mực đạo đức để ràng buộc, cột chặt con người vào trong mối quan hệ này, định rõ trách nhiệm của con người với con người trong gia đình, ngoài xã hội Tất cả là những quy phạm, chuẩn mực đạo đức - chính trị đó gộp lại thành
đạo làm người Như vậy, vai trò của con người trong các mối quan hệ xã hội
theo Nho giáo được thể hiện qua các mối quan hệ đã nêu trên và qua những quy phạm, chuẩn mực đạo đức (đạo làm người) Tuy nhiên, vai trò của con người được Nho giáo đề cập trong ba mối quan hệ cơ bản (tam cương) và năm đức (ngũ thường)
Trang 22Trong xã hội (nhà nước, thiên hạ), Nho giáo chú ý nhiều nhất quan hệ vua - tôi (quân - thần), một trong những mối quan hệ cơ bản trong tam cương,
ngũ luân
Quan hệ vua - tôi, theo Nho giáo là quan hệ lý tưởng lấy nghĩa hòa hợp giữa vua và tôi Trong đó, vua phải huệ, tôi phải trung Trong quan hệ vua - tôi, nếu vua thực sự có lòng huệ, tôi có lòng trung thì vua - tôi đạt tới đức nhân, đức nghĩa bằng lễ và trí và như thế là chính danh
Từ thời Tần, Hán trở về sau, khi chế độ chuyên chế phong kiến được thiết lập, quan điểm về địa vị và quan hệ giữa vua và tôi được các nhà tư tưởng phong kiến lý giải nó theo khuynh hướng khắt khe, một chiều, khô cứng và mang màu sắc của tư tưởng chính trị thần quyền với các quan điểm
“quân tôn, thần ti”, “quân quý, thần tiện” Sau đây là một số tư tưởng cơ bản của quan hệ vua - tôi trong lịch sử Trung Quốc:
- Vua và tôi là quan hệ tương quan Khổng Tử viết: “Vua khiến bề tôi,
bề tôi thờ vua”, “vua sai khiến bề tôi bằng lễ, bề tôi thờ vua bằng lòng trung”
[28, III, tr.19] Mạnh Tử, thiên Ly lâu hạ, tiết 3 viết: “Vua mà coi bề tôi như
tay chân, ắt bề tôi sẽ coi vua như người tâm phúc Vua coi bề tôi như chó ngựa, ắt bề tôi coi vua như người trong nước Vua coi bề tôi như bùn rác, ắt
bề tôi coi vua như kẻ cướp giặc thù”
- Vua tôi lấy nghĩa mà hòa hợp Trang Tử, Nam Hoa Kinh, thiên Nhân gian thế viết: “Bề tôi tôn thờ vua là nghĩa vậy”
- Quan hệ giữa vua - tôi là quan hệ phục tùng Tuân Tử trong thiên Phú quốc viết: “Không có vua để chế ngự bề tôi, không có trên để chế ngự bên
dưới thì thiên hạ tai họa sinh ra đam mê nhục dục, trác táng”
Như vậy, quan niệm của các nhà sáng lập Nho giáo về mối quan hệ vua
- tôi có ít nhiều tính nhân văn sâu sắc Các ông đưa ra các quy phạm đạo đức nhân nghĩa, hiếu trung nhằm ràng buộc trách nhiệm, nghĩa vụ lẫn nhau giữa vua và tôi Từ thời Hán về sau, vua được coi là thiên tử, được thay trời trị dân,
Trang 23trị thiên hạ cho nên uy quyền của vua là uy quyền của trời, con người phải phục tùng vô điều kiện
Trong gia đình, Nho giáo đưa ra ba mối quan hệ: cha - con, chồng - vợ,
anh - em Tuy nhiên có hai mối quan hệ được Nho giáo tập trung lý giải là mối quan hệ cha - con, chồng - vợ
- Quan hệ cha - con là một trong ba mối quan hệ cơ bản của con người
Trong mối quan hệ này, Nho giáo đã đưa ra hai chuẩn mực đạo đức căn bản là
Từ và Hiếu để duy trì mối quan hệ cha - con, duy trì tôn ti trật tự trong gia
đình nhằm củng cố trật tự kỷ cương, ổn định xã hội và ràng buộc trách nhiệm giữa con người với con người Chuẩn mực trước hết trong mối quan hệ này là
cha phải Từ, tức phải thương yêu, dưỡng dục con cái Ngược lại, con cái phải
chăm sóc, kính trọng cha mẹ Trong mối quan hệ này, Nho giáo đề cao vị trí của người cha là bề trên của con cái, là người sinh ra con cái cho nên Nho giáo nhấn mạnh đức Hiếu, tức là nhấn mạnh nghĩa vụ của con cái đối với cha
mẹ Sách Mạnh Tử, thiên Ly Lâu hạ, tiết 19 viết: “Trong các việc phụng sự
của mình, việc nào là lớn? Việc phụng sự cha mẹ là lớn, phụng sự cha mẹ là gốc” Khổng Tử, Mạnh Tử và nhiều nhà Nho khác đã đưa ra nhiều tiêu chuẩn của con người có hiếu Đến thời Hán về sau, các nhà Nho đề cao vị trí, uy quyền của cha Đổng Trọng Thư gọi “cha là Trời của con”, là “giềng mối” của con cái Ngoài các nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, kính trọng, đức Hiếu của con người đối với cha là đòi hỏi người con phải phục tùng mệnh lệnh của cha Nho giáo cho rằng người con có đạt được đức Hiếu mới là người có nhân, nghĩa, lễ, trí Điều chủ yếu Nho giáo đề cao đức Hiếu, đức Từ trong mối quan
hệ cha - con là nhằm duy trì chế độ tông pháp và chủ yếu là địa vị thống trị
của nhà vua, của kẻ thống trị Sách Đại học ghi rõ: “Hiếu là để thờ vua, đễ là
để phụng sự bề trên, từ là để sai khiến dân chúng” [10, XIX, tr.109]
- Quan hệ chồng - vợ: Trong mối quan hệ chồng - vợ, Nho giáo đưa ra
phạm trù nghĩa - nghĩa (cũng có nghĩa là chồng có nghĩa, vợ vâng lời) là chuẩn
Trang 24mực đạo đức để ràng buộc trách nhiệm và nghĩa vụ giữa vợ và chồng với nhau Theo đó, vợ và chồng phải thương yêu và có trách nhiệm với nhau Tuy nhiên, trong quan niệm của Nho giáo địa vị xã hội và vai trò của người phụ nữ nói chung được nhìn nhận, đánh giá thấp hơn so với người đàn ông Đặc biệt, từ Đổng Trọng Thư trở đi, Nho giáo đòi hỏi người phụ nữ, người vợ trong gia đình phải tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh của người chồng, của cha mẹ chồng
Có như vậy, người vợ mới được coi là người có đạo đức, có tiết hạnh - những cái mà nhà Lý học thời Tống Nho cho là lớn hơn cả sự sống chết
1.2.2.2 Ngũ thường
"Ngũ thường" là năm đức cơ bản luôn luôn phải có của đạo làm người gồm: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín Các đức tính nằm trong ngũ thường đã được nói đến tản mạn trong Kinh thư, Kinh thi, đặc biệt là trong Luận ngữ của Khổng
Tử với các phạm trù nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, dũng, hiếu, trung, đễ và trong quan điểm của Mạnh Tử với tư tưởng nhân, nghĩa, lễ, trí, tín
Thuyết Ngũ thường chính thức được Đổng Trọng Thư (179 - 104 TCN)
đời Hán khái quát lại, cùng với Tam cương trở thành nguyên tắc đạo đức chính trị của chế độ phong kiến và được các nhà Nho về sau hệ thống lại
thành “Tam cương, ngũ thường”, gọi tắt là cương - thường
ĐỨC NHÂN
- Ý nghĩa luân lý của Nhân:
+ Nhân là đức ở tâm Khổng Tử viết: “Người mà không có lòng nhân
đức làm sao thi hành lễ tiết? Người mà chẳng có lòng nhân đức làm sao dùng
âm nhạc?” [28, III, tr.3]
+ Nhân là lòng yêu thương người Khổng Tử viết: “Nhân là thương
người” [28, XII, tr.21] Mạnh Tử viết: “Lòng trắc ẩn chính là nhân vậy”
[Mạnh Tử, Cáo Tử thượng, tiết 6]
Trang 25+ Nhân là lòng cung kính, là đức hiếu thuận Sách Lễ ký, thiên Tế thống viết: “Sự giữ gìn của con cháu với việc tông miếu, xã tắc, tổ tiên không
hoa mỹ mà hợp với với điều lễ, nghĩa là nhân vậy”
+ Nhân là gốc của nghĩa Sách Lễ ký, thiên Lễ vận viết: “Đức nhân là
gốc của nghĩa”
- Ý nghĩa bao quát của Nhân
Luận ngữ viết: “Tử Trương hỏi Khổng Tử về thực hiện đức nhân
Khổng Tử đáp rằng: “Có thể thi hành năm điều cho thiên hạ, đó là nhân” Tử Trương hỏi, xin thầy cho biết năm điều ấy Ông giải thích rằng: “Ấy là tự
mình phải cung, khoan, tín, mẫu, huệ; nếu mình cung kính thì mình không
khinh miệt ức hiếp người; nếu mình có lòng độ lượng thì sẽ thu phục được lòng mọi người; nếu mình có lòng tín thật thì người ta tin cậy mình; nếu mình cần mẫn siêng năng thì sẽ làm được công việc hữu ích; nếu mình thi ân bố đức thì có thể sai khiến được mọi người” [28, XVII, tr.6]
- Công dụng xã hội và chính trị của nhân
Luận ngữ viết: “Xóm có đức nhân là xóm tốt đẹp; người không chọn
xóm có đức nhân mà ở thì sao gọi là người có trí đức được” [IV, tr.1]
Luận ngữ viết: “Bậc quân tử nếu biết giữ trọn đạo của mình với cha mẹ,
bà con thì dân chúng sẽ hứng khởi lòng nhân” [28, XIII, tr.3]
Qua trình bày một số ý nghĩa của Nhân như trên, theo quan điểm của
Nho giáo ta thấy: Nhân là lòng yêu người hay là lòng trắc ẩn Nhân là cái bao hàm mọi đức Gắn với đạo đức nói chung, đức nhân thể hiện trong mọi
mối quan hệ xã hội giữa người với người Trong các mối quan hệ ấy, nếu có tình trạng sai hỏng một đức riêng thuộc một mối quan hệ trong các mối quan
hệ thì đồng thời là một tình trạng trái với đức nhân Chẳng hạn, bạn hữu không có đức tín với nhau cũng trái với đức nhân, không cung kính với bề trên, không trung thực với người khác, không cương trực, nghiêm khắc với kẻ sai trái, lầm lỗi đều trái với đức nhân [16, tr.134]
Trang 26ĐỨC NGHĨA
"Nghĩa" là việc nên làm hay điều ta phải làm đúng theo đạo lý, đúng bổn phận, không vì một cái gì hay việc theo đường lối phải và lòng hào hiệp
của con người
Quan điểm về “nghĩa” được đề cập đầu tiên, khá sâu sắc trong tư tưởng triết lý đạo đức, nhân sinh của Khổng Tử và Mạnh Tử Theo các ông, nghĩa được coi là một trong năm đức cơ bản nhất, luôn luôn phải có của con người, với tính cách là con người, đó là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín Nghĩa liên hệ mật thiết với các đức tính khác, thành một hệ thống chặt chẽ, tạo thành bản tính con người Người mở đầu dùng nghĩa mở rộng sự ứng dụng đến phạm vi chính trị, xã hội là Mặc Tử Trong sự phát triển về sau, nghĩa bao hàm trong
nó ý nghĩa sâu sắc và đầy đủ hơn Nó không chỉ là phạm trù có ý nghĩa về mặt đạo đức nhân sinh trong lĩnh vực triết học mà nó còn là chuẩn mực của đời sống, là văn hóa ứng xử và là một trong những bậc thang giá trị của con người
Nghĩa là tiêu chuẩn của hành vi
Luận ngữ viết: “Thấy việc nghĩa mà không làm không phải là người có
khí dũng” [28, XVII, tr.24] Mạnh Tử viết: “Nhân là ở chỗ yên ổn của con
người Nghĩa là con đường chính đại của con người” [Thiên Ly Lâu Thượng,
tiết 10]
- Nghĩa là kỷ cương của mọi việc
Sách Lã Thị Xuân Thu, thiên Luận y viết: “Nghĩa là kỷ cương của mọi
việc, vua tôi, trên dưới, thân sơ đều do nghĩa mà ra; trị loạn, yên nguy, thắng bại đều do nghĩa quyết định”
Nếu đức nhân thể hiện trong mối quan hệ với người khác thì đức nghĩa
thể hiện trong khi tự vấn lương tâm mình Theo Mạnh Tử, “lòng hổ thẹn là đầu mối của nghĩa” Nghĩa đen của từ nghĩa rất rộng, là điều nên nói, việc nên làm Nói điều gì đó, làm việc gì đó mà thấy thảnh thơi, thoải mái, hứng thú trong lương tâm thì điều nói, việc làm đó là điều nghĩa, việc nghĩa, không nói
Trang 27điều ấy, không làm việc ấy thì thấy bứt rứt trong lương tâm, như thế là có điều nghĩa không nói, có việc nghĩa không làm Ngược lại, có điều gì đó, việc gì
đó không nói, không làm thì thấy yên lòng, như thế là điều đó, việc đó vốn của bản thân nó là bất nghĩa hoặc phi nghĩa
ĐỨC LỄ
Lễ là một trong những phạm trù đạo đức có ý nghĩa rất phổ biến trong
đời sống văn hóa tinh thần của người Trung Quốc và cũng là một trong những
yếu tố cơ bản của con người trong thuyết “ngũ thường” của Nho giáo là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín
“Lễ” nguyên nghĩa là kính trời, thờ quỷ thần, tôn thờ tổ tiên, cầu phúc đức, một dạng văn hóa tinh thần mang màu sắc lễ nghi tôn giáo ở Trung Quốc
cổ đại Sau đó được mở rộng về nội dung và tính chất của nó và lễ được coi là
lễ nghi, nghi điển, là lề lối ứng xử, quy tắc, luật lệ, chuẩn mực quy định trật
tự quan hệ xã hội từ trong gia đình đến ngoài xã hội
Thời Xuân Thu là thời kỳ xã hội đầy biến động, đánh dấu sự suy tàn của chế độ Tây Chu, bước đầu hình thành chế độ phong kiến kiểu phương Đông Sự phản kháng của nhân dân lao động và sự phê phán của các nhà tư tưởng tiến bộ đối với quan điểm thiên mệnh, lễ trị đã làm cho trật tự xã hội thay đổi Do đó xuất hiện việc đề cao đức nhân - tức thông qua sự tu dưỡng nội tâm từng người mà hình thành đức nhân, một đức tính bao gồm tất cả đức tính tốt đẹp của con người để qua đó thực hiện lễ trị, khôi phục lễ trị nhà Chu,
có cải biến qua tư tưởng “khắc kỷ phục lễ vi nhân” của Khổng Tử
Sang thời Chiến Quốc, do xuất hiện các yếu tố của phương thức sản
xuất do giai cấp quý tộc địa chủ làm đại biểu, làm cho chế độ lễ nghĩa của giai cấp chủ nô lỗi thời và bị phá vỡ Để duy trì trật tự xã hội, giai cấp thống trị đã chế định lại chế độ lễ nhạc Các nhà tư tưởng tuy có phê phán lễ nhà Chu nhưng do vị trí xã hội khác nhau đã đưa ra các quan điểm biến đổi lễ nhà Chu khác nhau Trong đó đáng chú ý quan điểm của Tuân Tử, Thương Ưởng, Hàn
Trang 28Phi chủ trương pháp trị Từ đây, lễ không chỉ là ý nghĩa tôn giáo, đạo đức,
chính trị mà còn có ý nghĩa pháp luật
"Lễ" ra đời do hai nguyên nhân: Một là, lễ là sự thuận theo đạo của trời
đất trong đạo của con người, là sự biểu hiện trật tự của tự nhiên, trời đất trong
trật tự quan hệ xã hội của con người Sách Lễ ký, thiên Lễ vận viết: “Lễ là do
các tiên vương thuận theo đạo trời, lấy tình cảm để trị dân” Hai là, lễ ra đời còn do sự cần thiết của nhân tính Con người cần có lễ làm quy tắc, chuẩn mực để phân định giới hạn
Công dụng của Lễ về lĩnh vực đạo đức, Luận ngữ viết: “Không học lễ,
không lấy gì để đứng vững được”[28, XII, tr.1]
Công dụng của Lễ về lĩnh vực chính trị - xã hội: Luận ngữ viết: “Sửa
mình theo lễ là nhân Ngày nào cũng khắc kỷ phục lễ thì thiên hạ quy về đức nhân vậy” [28, XII, tr.1] “Nếu nhà cầm quyền biết dùng lễ trị nước thì cai trị khó gì? Nếu như không biết dùng lễ cai trị đất nước thì làm sao mà có lễ được” [28, IV, tr.13]
- Quan hệ của lễ với các đức khác
Luận ngữ viết: “Người ta mà không có đức nhân thì làm sao mà thi
hành lễ? Người ta mà không có đức nhân thì làm sao mà dùng nhạc được?” [3, tr.3]; “cung kính mà không có lễ thành ra vất vả Cẩn thận mà không có lễ thành ra phát gay, dũng cảm mà không có lễ thành ra phản loạn, ngay thẳng
mà không có lễ thành ra gắt gỏng” [28, III, tr.2]
Điểm qua về quá trình hình thành, nguyên nhân và công dụng của lễ, ta
thấy: Lễ gồm hai mặt gắn bó với nhau Lễ là tổ chức xã hội, tổ chức cuộc
sống, thể hiện thành lễ nghi, quy chế, kỷ cương, trật tự tôn ti Mặt khác, lễ là
về giáo dục đạo đức, thể hiện thành thái độ, ý thức, nếp nghĩ giữ gìn, tôn
trọng lễ nghi, kỷ cương và trật tự Lễ là một phần quan trọng của Nho giáo,
nêu lên những quy định về lễ rất nhiều, rất chặt chẽ cho gia đình, làng mạc, đất nước, thiên hạ, kể cả trời, đất, con người, trong đó có sự quy định về lễ
Trang 29đối với quan hệ giữa người và người là rạch ròi nhất Cái để lại của Nho giáo đối với các triều đại phong kiến Trung Hoa cũng như Việt Nam là lễ Nó là
đạo đức, là thể chế, cũng là quyền uy “Lễ trị của Nho giáo xiềng xích con người từ tấm bé đến khi chết, từ trong chiếc nôi ra đến nước và thiên hạ một cách có vẻ êm dịu nhẹ nhàng, vừa trang trọng vừa khoan hòa Cái chính là các thế lực thống trị từ nhà Hán về sau cũng như các triều đại Lý, Trần, Lê, Nguyễn ở Việt Nam cần có nó để gò chặt cả dân, cả nước trong những cái khung trật tự tôn ti, sai khiến cứ việc sai khiến, phụng sự cứ việc phụng sự” [16, tr.140]
ĐỨC TRÍ
Đức trí là một đức trong ngũ thường
Tri và trí là phạm trù thuộc lĩnh vực tri thức luận của triết học Trung Quốc, theo cách sử dụng và cách hiểu thông thường là giống nhau Tuy nhiên,
nó cũng có sự khác nhau một cách tương đối, trong đó “tri” nghĩa là biết, là tri
thức, là sự hiểu biết, còn “trí” là trí tuệ, trí thông minh, thông minh Tuân Tử trong thiên Chính danh đã chỉ ra sự khác nhau rằng: “Cái ở trong con người
và có khả năng hiểu biết thì gọi là tri, tri hợp với ngoại vật thì gọi là trí”
Trí theo nghĩa cơ bản trong ngôn ngữ của Khổng Tử và Mạnh Tử là sự
hiểu biết trên mọi quan hệ lớn nhỏ, rộng hẹp, cao thấp của con người với trời
đất, muôn vật với mọi người khác trong thiên hạ Nói cách khác, đức trí thể hiện ở chỗ biết được một cách đúng đắn rõ ràng điều phải, điều trái trong mọi vấn đề nảy ra về mặt đạo đức Mạnh Tử và một số danh Nho đời sau coi
trí là chuyện lương tâm, lương tri Đầu mối của trí, ở bên trong con người là lòng thị phi làm cho con người ta phân rõ phải trái, đúng sai trong các quan hệ của con người Có được đầu mối ấy đi vào học đạo, hành đạo con người tự khắc có được đức trí và các đức khác muốn có được thì phải học Khổng Tử nói: “Ham trí mà không ham học, cái che lấp mất trí là sự bừa bãi, lung tung” [28, XVII, tr.8] Tăng Sâm coi những bậc đầu tiên của cái thang “làm sáng
Trang 30trong thiên hạ là hai bậc trí tri” cũng là nhằm nhấn mạnh vào ý nghĩa phải học Những công việc hàng ngày ở ruộng vườn, Khổng Tử không coi là có giá trị với đức trí “Cách vật trí tri” hay “cùng thân tri hóa” rốt cuộc đều gắn chặt trong cái khung tu đạo, luyện đức Ai cũng biết rằng trong bất kỳ mối quan hệ nào cũng có phải trái cho nên có đức trí để phân rõ phải trái chính là điều cần thiết để xác định, trau dồi các đức khác
Nội dung trước hết của tín là thành thực Luận ngữ viết: “Bậc quốc
trưởng cai trị một nước có ngàn cỗ xe, làm việc gì cũng phải kính cẩn mà giữ chữ tín thật, của cải dùng tiết kiệm và thương yêu tất cả mọi người, khiến dân chúng phải đúng thời, đúng lúc” [28, I, tr.5]; “người mà không nói thật, không biết người ấy làm việc gì cho nhanh được” [28, I, tr.22]
Nội dung thứ hai, tín là gốc của lễ, là đầu mối của quan hệ bạn bè Luận ngữ viết: Tử Lộ nói: “Tôi muốn nghe chí của thầy”, Khổng Tử đáp: “Ta
muốn cho người già cả được yên vui, cho bạn bè có lòng tín nghĩa, muốn trẻ nhỏ được đùm bọc” [28, V, tr.25]; “trước kia nghe lời người ta nói mà tin tưởng vào việc làm của họ Nay, ta nghe lời người ta nói, ta phải quan sát hành động của họ” [28, V, tr.9]
Trong ngôn ngữ của Khổng Tử và Mạnh Tử, trung hay đi đôi với tín, thể hiện lòng thật thà hay là thành thực, là đức của đạo bằng hữu
Trang 31Tóm lại, quá trình hình thành và phát triển đạo đức Nho giáo gắn liền
với thời kỳ biến động của xã hội Đông Chu Đó là thời kỳ chế độ chiến hữu
nô lệ theo kiểu phương Đông nhà Chu đã suy tàn, chế độ phong kiến sơ kỳ đang hình thành Sự giao thời giữa hai chế độ đó đã gây nên sự đảo lộn căn bản về kinh tế, chính trị và suy đồi trật tự lễ nghĩa, đạo đức, luân lý trong xã hội Chính thời kỳ quá độ đặc biệt ấy là cơ sở cho sự ra đời tư tưởng đạo đức của Nho giáo Nội dung cơ bản của đạo đức Nho giáo là Ngũ luân và ngũ
thường, gọi tắt là luân thường
Luân: Có 5 điều chính gọi là Ngũ luân, đều là những quan hệ xã hội:
vua - tôi, cha - con, chồng - vợ, anh - em, bầu bạn Trong 5 điều đó có ba điều
lớn là vua tôi, cha con, chồng vợ, gọi là tam cương Trong ba điều này có hai
điều mấu chốt: quan hệ vua - tôi thể hiện bằng chữ trung và quan hệ cha - con thể hiện bằng chữ hiếu Giữa trung và hiếu thì trung đứng đầu ngũ luân
Thường: Có 5 điều chính gọi là ngũ thường, đều là những đức tính
được nói là trời phú cho mỗi người: Nhân, lễ, nghĩa, trí, tín Đứng đầu ngũ thường là nhân nghĩa Trong nhân nghĩa thì nhân là chủ đạo
Luân thường gắn bó với nhau Tuy vậy, trong lý thuyết và trong thực
tiễn, luân đứng trước thường
Trang 32Chương 2 ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO ĐỐI VỚI ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM
2.1 Đạo đức Nho giáo Việt Nam và đạo đức truyền thống Việt Nam
2.1.1 Đạo đức Nho giáo Việt Nam
Đạo đức Nho giáo Việt Nam gắn liền với chế độ phong kiến Việt Nam Theo nhiều tài liệu lịch sử Việt Nam, “chế độ Cộng sản nguyên thủy là hình thái kinh tế - xã hội đầu tiên trong lịch sử Việt Nam” [26, tr.400] Chế độ phong kiến Việt Nam thời Bắc thuộc không phải là chế độ phong kiến được nảy sinh từ yếu tố nội sinh mà do áp đặt từ bên ngoài Từ thế kỷ X, sau khi giành được quyền độc lập dân tộc trên toàn lãnh thổ, chế độ phong kiến Việt Nam ra đời Đạo đức Nho giáo Trung Quốc du nhập vào Việt Nam, chịu sự quy định của điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa Việt Nam suốt hơn hai ngàn năm lịch sử, tạo nên đạo đức Nho giáo Việt Nam có nhiều điểm khác với đạo đức Nho giáo Trung Quốc Điểm khác ấy chính là bản sắc đạo đức của dân tộc Việt Nam
2.1.1.1 Sự truyền bá đạo đức Nho giáo vào Việt Nam
Nho giáo du nhập vào nước ta từ thời Bắc thuộc (bắt đầu từ năm 179 TCN đến tận năm 905 SCN) thông qua đội quân xâm lược và sự áp đặt văn hóa của phương Bắc Nho giáo đã dùng tư tưởng đạo đức Tam cương, ngũ
thường, thiên mệnh như là công cụ chủ yếu để thống trị, nô dịch nhân dân ta nhằm biến nước ta thành quận, huyện của Trung Quốc, biến văn hóa nước ta phụ thuộc một phần của văn hóa Hán Qua một ngàn năm đô hộ, đội quân xâm lược không đem được học thuyết gì, đạo lý gì ở Trung Quốc sang bóp nghẹt và xóa bỏ tinh thần độc lập tự chủ của dân tộc ta Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo có tác động ít nhiều vào văn hóa nói chung, đạo đức Việt Nam nói riêng nhưng không nảy mầm, bén rễ được trên đất nước Việt Nam
Trang 33Khi nhân dân ta đã giành được độc lập dân tộc, do đã làm quen với
Nho giáo hơn một thế kỷ, nhân dân ta thời đó chắc thấy Nho giáo đáp ứng
được nhiều vấn đề mà đời sống đang đặt ra nên đã lấy Nho giáo làm nền tảng
lý luận để chỉ đạo tư duy và hành động của mình
- Dưới thời Ngô, Đinh, Tiền Lê
Sau chiến thắng Bạch Đằng năm 938, dân tộc ta vươn lên khi đã thoát khỏi ách nô dịch Tuy nhiên, trong thời kỳ này nhiệm vụ giữ gìn an ninh toàn vẹn đất nước rất nặng nề Đồng thời, các triều đại nói trên của nước ta mới giành độc lập tự chủ đều ngắn ngủi, chưa có thời gian để lập kỷ cương chặt chẽ, chưa có điều kiện phát triển văn hóa tinh thần Trong điều kiện ấy, Nho giáo chưa có điều kiện dựa vào triều đình để duy trì, phát triển quyền lực của
mình Vì vậy, dưới các triều đại trên, Nho - Phật - Đạo cùng tồn tại Ảnh hưởng của Nho giáo còn ít, Phật giáo được coi là quốc giáo
- Dưới thời đại Lý - Trần
Các triều đại Lý - Trần chọn hệ tư tưởng cho mình là Nho - Phật - Đạo song Nho giáo có vai trò to lớn hơn, hiệu quả hơn trong việc cai trị và quản lý
xã hội
Thời Lý, khả năng xây dựng nhà nước văn hiến là đòi hỏi cấp bách và
thuận lợi sau khi thủ đô được chuyển từ Hoa Lư về Thăng Long Có thể nói, việc củng cố, xây dựng chế độ phong kiến là xu thế tất yếu của lịch sử, phù hợp với nhu cầu của giai cấp phong kiến và dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước Để yên thần dân bên trong phạm vi bờ cõi, trong ba thành tố của hệ tư tưởng Nho, Phật, Đạo đang được tôn sùng, nhà Lý thấy sự đắc lực của Nho giáo với tư tưởng mệnh trời, tam cương, ngũ thường, đức trị
có trật tự, tôn ti chặt chẽ, rõ ràng Vì vậy, việc dựng Văn Miếu, lập Viện Hàn lâm, tổ chức thi cử được tiến hành dồn dập Sử sách ghi chép, trước tác khen chê người và việc, giảng giải đạo nghĩa cương thường theo quan điểm của
Trang 34Nho giáo, đáp ứng được nhu cầu về tổ chức, quản lý cuộc sống trong xã hội phong kiến
Nhà Trần thay thế nhà Lý bằng một diễn biến êm dịu Nhà Trần tăng
cường hơn nữa quyền lực nhà vua bằng cách kiêm vua cha, vua con cùng trị
vì và cách làm khác với Trung Quốc Nhưng trong quan hệ với thần dân bên dưới, sự ràng buộc, khống chế bằng lễ, bằng Tam cương, ngũ thường của Nho giáo theo trường phái Tống Nho là rất cần thiết
Sau khi thắng quân Nguyên - Mông, ngôi vàng vững chắc, vấn đề
cương - thường, luân lý, nhất là đạo nghĩa vua - tôi, trật tự trên dưới cũng được đề cập một cách thâm thúy, chặt chẽ Việc học, thi cử ngày càng có không khí hào hứng, tầng lớp Nho sĩ đông đảo dần lên
- Dưới thời Hậu Lê
Triều Hậu Lê từ 1428 - 1789 được chia làm hai thời kỳ là Lê Sơ và Lê Trung Hưng Đây là thời kỳ diễn ra nhiều biến động to lớn trên tất cả các mặt của đời sống xã hội, những bước thăng trầm của chế độ phong kiến
Sau khi cuộc kháng chiến chống quân Minh thắng lợi, Lê Lợi lên làm vua, mở ra một thời kỳ mới của xã hội phong kiến Việt Nam Lập xong triều đại của mình, Lê Lợi và các triều vua sau tiếp tục nắm Nho giáo làm kỷ cương để trị vì đất nước Công việc học tập, thi cử càng nhộn nhịp Cuộc sống tao đàn, ngâm vịnh thi ca lại càng say sưa Học thuyết và đạo lý của Khổng, Mạnh đã được các thầy nho thời Tống do Trình Hạo, Trình Di và Chu Hy trình bày, chú giải rườm rà, tỉ mỉ, bí ẩn, trở thành vô số khuôn vàng thước ngọc của một quốc giáo trên Phật giáo và Đạo giáo Dần dần Nho học một mặt dồn vào công việc dạy học để luyện thi, để học thi cho đậu, mặt khác dồn vào công việc tán tụng chữ “nhân” hoặc lối sống ẩn dật theo triết lý chán đời của một số trường phái không hợp với đạo lý Khổng - Mạnh
Trang 35- Dưới thời Tây Sơn
Ngọn cờ Tây Sơn đã tạo nên xu thế tập hợp mới Tuy chưa vượt ra khuôn khổ của hình thái kinh tế - xã hội phong kiến nhưng với bản chất “áo vải cờ đào” đã tỏ ra có khí thế phá vỡ cái khung cổ kính của Nho giáo Nhưng
sự đổi mới chưa có thời gian để được đề ra một cách cụ thể và cái chết của Nguyễn Huệ là sự kết thúc một sự nghiệp “giúp dân dựng nước”
- Dưới triều Nguyễn (nửa đầu thế kỷ XIX)
Đi theo vết xe đổ Lê Chiêu Thống “cõng rắn cắn gà nhà”, Nguyễn Ánh
đã “rước voi” về dày xéo đất nước Từ khi lên ngôi vua, con đường triều đại cuối cùng này hoàn toàn đi ngược lại truyền thống vẻ vang của dân tộc Họ cần lễ giáo của Khổng Mạnh để giữ được ngai vàng Các vua nhà Nguyễn triệt để khai thác đạo lý Nho giáo về Tam cương và Ngũ luân nhằm tăng cường sự ràng buộc giữa vua - tôi, cha - con, anh - em, bề trên - bên dưới Về trật tự tôn ti và vấn đề bảo vệ quyền lợi gia tộc, nhà Nguyễn đã đặt ra những thể chế chưa từng có ở một triều đại trước kia nhằm tách biệt hoàng đế, hoàng tộc lên cả “thần dân trăm họ”
Như vậy, từ chỗ bị chèn ép học Nho giáo, nhân dân ta đã tự nguyện học Nho giáo và ngày càng phổ biến Nho giáo một cách sâu rộng
Qua quá trình truyền bá đạo đức Nho giáo vào Việt Nam trong lịch sử,
ta thấy một số đặc điểm:
Thứ nhất, quá trình diễn ra sự truyền bá đạo đức Nho giáo gắn liền với
quá trình truyền bá đạo đức Phật giáo và Đạo giáo Căn cứ vào từng thời kỳ lịch sử, xuất phát từ yêu cầu xây dựng chế độ phong kiến Việt Nam, dân tộc
ta đã chọn lọc hoặc đạo đức Nho giáo, hoặc Phật giáo, hoặc Đạo giáo, hoặc
“tam giáo đồng nguyên” để làm cơ sở đạo đức cho mình
Thứ hai, sự truyền bá đạo đức Nho giáo phát triển chủ yếu ở thời kỳ
đất nước giành được độc lập dân tộc Sự truyền bá đạo đức Nho giáo không diễn ra một chiều mà thông qua sự đấu tranh với nền đạo đức truyền thống
Trang 36của dân tộc, cho nên dân tộc ta chủ động lựa chọn những mặt tích cực của đạo đức Nho giáo để kế thừa Do đó, đạo đức Nho giáo khi vào Việt Nam đã trở
thành đạo đức Nho giáo ở Việt Nam
2.1.1.2 Nội dung đạo đức Nho giáo Việt Nam qua các thời kì lịch sử và đặc điểm của nó
Để xác định nội dung đạo đức Nho giáo trong các thời kỳ lịch sử của chế độ phong kiến Việt Nam, chúng ta phải đi sâu vào nội dung giáo dục của dân tộc đó trong từng giai đoạn lịch sử Bởi vì, với nội dung, chương trình
học, người ta đã dạy cho con người suy nghĩ và hành động theo một cách nhất định, đã nhào nặn nên trí tuệ, tình cảm con người
Mỗi chúng ta đều thừa nhận, từ khi nhà Lý và các triều đại sau đó tổ chức hệ thống nhà trường, tổ chức trường đại học, tổ chức những kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình để chọn người tài gánh vác việc nước thì các sách Nho giáo là sách giáo khoa bắt buộc của nhà trường Tất cả các trí thức Việt
Nam thời phong kiến đều đọc Tứ thư, Ngũ kinh và các sách của những tín đồ
xuất sắc của Nho giáo viết Mọi đề thi đều lấy những gì mà người ta coi là chân lý, là cao cả của Nho giáo Những người dạy học là những ông Nghè, ông Cử, ông Tú, ông Đồ, ông Khóa đã tự nhồi nhét vào đầu óc mình những gì
mà họ cho là chân lý muôn đời chứa đựng trong sách Nho Họ coi nhiệm vụ của mình là đang nhồi nhét vào đầu óc lớp “hậu sinh” là nhiệm vụ cao cả Những người ra đề thi, rồi chấm thi đều phải thế
Nếu những người có trách nhiệm chèo chống con thuyền quốc gia được nhào nặn, khuôn đúc như vậy thì nhất định các vấn đề quốc kế, dân sinh không thể không dựa vào điều đã học, đã tin cho nên gặp bất cứ vấn đề gì họ đều trở về với quá khứ, xem các “đại hiền” nói gì về vấn đề ấy Xét các chiếu
dụ của vua, các sớ, biểu của các cơ quan trong triều đình ta thấy đã trích dẫn
rất nhiều điều của Tứ thư, Ngũ kinh làm cơ sở lý luận cho các quyết định về
chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa Họ coi những lời phát biểu của các “đại
Trang 37hiền” là chân lý Họ ít dựa vào các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa đương thời của Việt Nam
- Nội dung đạo đức Nho giáo Việt Nam
Nội dung của đạo đức Nho giáo là Ngũ luân và Ngũ thường Trong suốt hơn hai ngàn năm lịch sử, các triều đại phong kiến Việt Nam đã tiếp nhận, bổ sung các nội dung sau của đạo đức Nho giáo:
Thứ nhất, cha ông ta rập khuôn ngũ luân và ngũ thường của Nho giáo
để làm khuôn phép cho các mối quan hệ xã hội
Nho giáo đã tổng kết và đặt ra khuôn phép cho các mối quan hệ xã hội vua - tôi, cha - con, chồng - vợ, anh em, bầu bạn
Ở Việt Nam, ngót hàng ngàn năm lịch sử đều rập khuôn theo các nguyên tắc đạo đức của Nho giáo Việc phê phán, đánh giá thái độ, hành vi của mỗi người trong ngũ luân đều lấy “khuôn vàng thước ngọc” của Nho giáo làm mẫu
Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế - xã hội quy định, do dân tộc Việt Nam vốn đã có nền đạo đức truyền thống của mình, cho nên việc tiếp nhận và sử dụng ngũ luân và ngũ thường của Nho giáo đã tạo nên những nét riêng của đạo đức Nho giáo Việt Nam so với đạo đức Nho giáo Trung Quốc
Ví dụ: Trong quan hệ vua - tôi, phải tin tưởng tuyệt đối, phục tùng
tuyệt đối nhà vua là nội dung trung tâm trong học thuyết nhân nghĩa của Nho giáo Trung Quốc Ở Việt Nam, trong thời kỳ dựng nước, quan hệ vua - tôi là quan hệ giữa quần chúng nhân dân với người lãnh đạo, chiến đấu của mình, cùng chung lý tưởng yêu nước Các vua Hùng dựng nước chỉ là các tù trưởng gắn bó chặt chẽ với các bộ lạc của mình Trưng Vương, Lý Nam Đế, Ngô Quyền, Lê Đại Hành đều bám sát nhân dân, cùng nhân dân chiến đấu Tình cảm của nhân dân ta hướng về các vua Lý, Trần trong những năm dựng nước,
về Lê Lợi mười lăm năm gian khổ với nhân dân, hướng về Quang Trung áo vải cờ đào Đó là những tình cảm lành mạnh được xây dựng trên tinh thần yêu
Trang 38nước sâu sắc của nhân dân ta Tình cảm ấy xa lạ với thái độ sợ hãi, tôn sùng một vị hoàng đế được thần thánh hóa, đối lập với nhân dân Trong quan hệ với nhà vua, nhân dân ta vẫn duy trì nếp sống cổ truyền của dân tộc, duy trì những quan hệ bình đẳng, dân chủ phong kiến với công việc trong làng, bảo
vệ những quy tắc tốt đẹp do chính mình đặt ra Uy quyền của nhà vua nhiều khi không phá được phong tục tập quán lâu đời ấy “Phép vua thua lệ làng” là như thế
Theo tinh thần ấy, nhân dân ta không mù quáng trung với những tên vua tàn bạo, nhất là các tên vua nước ngoài tự xưng là “Thiên tử” kéo quân sang xâm lược nước ta Ngược lại, nhân dân ta chống lại quân xâm lược từ triều đại nhà Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh Đồng thời, theo tinh thần ấy, nhân dân ta đã không mù quáng trung với bọn vua chúa đã thoái hóa như những tên vua ngọa triều thời Tiền Lê, những tên vua bất lực cuối đời Lý
- Trần, những tên vua xa hoa đồi trụy thời Hậu Lê - Nguyễn Nhân dân ta cũng không thừa nhận “con vua lại làm vua”, “con sãi ở chùa lại quét lá đa” Nếu bọn vua chúa theo giặc, bán nước, nhân dân ta lên án chúng
Trong quan hệ cha - con, chồng - vợ
Dân tộc ta từ lâu đã xây dựng tình cảm sâu sắc, thủy chung giữa cha mẹ với con cái và tình nghĩa chồng - vợ, anh - em, bầu bạn Đó là những tình cảm
tự nhiên, bình đẳng, lành mạnh Vì vậy, tình cảm ấy khác với chữ Hiếu của Nho giáo Hiếu của Nho giáo là sự phục tùng tuyệt đối của con cháu đối với cha ông Nho giáo đòi hỏi phải học theo đời xưa Ngược lại, nhân dân ta với sức sống mãnh liệt của mình, luôn luôn hướng về phía trước, tin tưởng tuyệt đối vào ngày mai, luôn luôn đòi hỏi xã hội phát triển đi lên, “con hơn cha thì nhà có phúc”
Tư tưởng coi khinh phụ nữ là tư tưởng nổi bật của Nho giáo Nho giáo coi người phụ nữ là khó dạy nên buộc phụ nữ phải tuân theo tam tòng, tứ đức Ngược lại, Nho giáo đề cao người đàn ông, dù người ấy là cha, chồng hay là
Trang 39con Nho giáo khuyến khích một quan hệ bất bình đẳng giữa nam và nữ Nhân dân ta không tiếp nhận, sử dụng tư tưởng đó mà đánh giá phụ nữ theo tiêu chuẩn khác Phẩm chất người phụ nữ là ở khí phách anh hùng trong dựng nước, luôn luôn giành tình cảm của mình hướng về Bà Trưng, Bà Triệu Nhân dân ta đánh giá người phụ nữ ở “cái nết đánh chết cái đẹp” Khác với Nho giáo, quan hệ vợ - chồng ở Việt Nam là quan hệ bình đẳng: “Thuận vợ, thuận chồng tát biển Đông cũng cạn”, chung sức hợp tác nhau trong sản xuất, luôn đảm đang trong mọi việc cho chồng con giữ nước
Thứ hai, dân tộc ta đã tiếp nhận, vận dụng quan điểm nhân nghĩa của Nho giáo làm nguyên tắc xử thế
Khái niệm “nhân nghĩa” có từ thời Khổng Mạnh Đến thời Hán, Đổng Trọng Thư đưa nhân nghĩa vào ngũ thường Tam cương, ngũ thường trở thành giềng mối, trụ cột của lễ giáo phong kiến Đến thời Tống Nho, chữ “nhân nghĩa” càng bị trừu tượng hóa Các nhà Tống Nho căn cứ vào thuyết “thiên nhân hợp nhất” khoác cho hai chữ “nhân nghĩa” một màu sắc thần bí, siêu hình Trời có “lý”, người có “tính” bẩm thụ ở trời Đức của trời có bốn điều: nguyên, hanh, lợi, trinh; đức của người có nhân, lễ, nghĩa, trí Bốn đức của người tương cảm với đức của trời Trong bốn đức của trời thì “nguyên” đứng đầu, trong bốn đức của người thì “nhân” là bao trùm Áp dụng vào quan hệ quân thần thì hai chữ “nhân nghĩa” mang tính đẳng cấp và quan hệ nhân quả với nhau “Nhân” là đức của vua, “nghĩa” là đức của bề tôi Vua có nhân thì bề tôi
có nghĩa Vua có nhân thì yêu dưới, bề tôi có nhân thì trung với trên
Như vậy, nhân nghĩa của Nho giáo là khái niệm thuộc phạm trù đạo lý Trong từng thời kỳ lịch sử, nội dung của nó có thêm bớt nhưng căn bản vẫn là
lễ giáo phong kiến nhằm ràng buộc con người vào khuôn khổ luân lý Nho giáo, phục vụ quyền lợi cho giai cấp phong kiến
Ở nước ta dưới thời phong kiến, tư tưởng nhân nghĩa của Nho giáo có hai cách tiếp thu khác nhau Một số nhà nho bảo thủ, lạc hậu trung thành với
Trang 40đạo lý thánh hiền, định hướng cho một bộ phận nhân dân quanh quẩn với đạo đức nhân nghĩa một cách cố chấp, giáo điều Một số nhà nho có tinh thần dân tộc đã vận dụng tư tưởng nhân nghĩa của Nho giáo làm nguyên tắc xử thế
Xử thế theo quan điểm của dân tộc ta gồm hai quan hệ: giữa người với
người và giữa dân tộc với dân tộc trong đời sống hàng ngày Điều trái với nhân nghĩa là những việc hại đến tính mạng, tài sản, danh dự, tình cảm cá nhân Đồng thời, trái nhân nghĩa còn là sự xúc phạm đến độc lập, tự do của một dân tộc, tức là làm hại đến tính mạng, danh dự, tình cảm của mọi người trong dân tộc
Theo tinh thần trên của dân tộc, trong Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi đã coi bọn xâm lược nhà Minh là bọn “bại nghĩa, thương luân” cho nên
Lê Lợi lãnh đạo nhân dân ta khởi nghĩa chống bọn xâm lược là “lấy đại nghĩa thắng hung tàn”, “lấy chí nhân thay cường bạo” Nguyễn Huệ trước khi đem quân từ Nghệ An ra đánh Tôn Sĩ Nghị cũng kêu gọi quân sĩ dấy binh, bởi
“chúng cướp bóc nước ta, giết hại nhân dân, vơ vét của cải, làm điều tàn bạo
nên ta thuận lòng người, dấy nghĩa quân” Cũng theo nghĩa đó, bao nhiêu trí
thức lớn theo đạo Nho đã lập được nhiều công lao với đất nước bằng võ công hay bằng văn trị Gặp lúc vận nước hiểm nghèo, những trí thức lớn ấy đã coi cái chết nhẹ tựa lông hồng
Tư tưởng nhân nghĩa thấm vào các tầng lớp, cho nên mỗi khi định làm việc nhỏ, việc lớn, người ta thường tính toán, cân nhắc xem có hại đến nhân nghĩa không và luôn luôn đem nhân nghĩa ra kêu gọi người ta tham gia và ủng
hộ Quan điểm đạo đức dám hy sinh thân mình vì nhân nghĩa, vì chính nghĩa
và không làm điều bất nhân để được giàu sang đã giúp nhiều người giữ vững khí tiết trong những tình thế khó khăn, “phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”
Thứ ba, lễ giáo phong kiến Việt Nam