Có những bài thơ quyết liệt của Phạm Thái nói lên tiếng nói bất bình, làm nên một trận bút chiến, người khen, kẻ chê nhưng đa phần là chê trách vì ông đã đi ngược với thời đại, đi ngược
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TRỊNH THU HƯƠNG
PHẠM THÁI – NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VÀ ĐÓNG GÓP TRONG SÁNG TÁC VĂN CHƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Hà Nội - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TRỊNH THU HƯƠNG
PHẠM THÁI – NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VÀ ĐÓNG GÓP TRONG SÁNG TÁC VĂN CHƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Trần Ngọc Vương
Hà Nội - 2015
Trang 3bước đi để hoàn thành tốt khóa luận của mình
Các thầy, các cô trong khoa Văn học trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện tốt khóa luận của mình
Do hạn chế về thời gian cũng như kinh nghiệm của bản thân nên đề tài của tôi chắc chắn sẽ không tránh khỏi những vấn đề cần bổ sung và hoàn thiện Vì vậy, tôi hy vọng nhận được sự góp ý của các thầy giáo, cô giáo và các bạn học viên
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15/11/2015
Học viên
TRỊNH THU HƯƠNG
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
4 Phương pháp nghiên cứu 9
5 Những đóng góp của luận văn 10
6 Cấu trúc của luận văn 11
CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH THỜI ĐẠI, TIỂU SỬ, MÔ HÌNH NHÂN CÁCH , QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC VÀ HÌNH ẢNH XÃ HỘI THỜI TAO LOẠN QUA SÁNG TÁC PHẠM THÁI 13
1.1 Bối cảnh thời đại, tiểu sử, mô hình nhân cách, quá trình sáng tác 13
1.1.1 Bối cảnh thời đại 13
1.1.2 Tiểu sử, mô hình nhân cách 15
1.1.3 Quá trình sáng tác 25
1.2 Hiện thực xã hội đương thời trong sáng tác Phạm Thái 27
1.2.1 Hình ảnh xã hội thời tao loạn và cuộc sống của người dân 27
1.2.2 Giai cấp thống trị, bộ máy quan lại 38
CHƯƠNG 2: CHÂN DUNG NGƯỜI ANH HÙNG THỜI LOẠN VÀ KHUÔN HÌNH TÀI TỬ PHONG LƯU QUA SÁNG TÁC PHẠM THÁI 44
2.1 Chân dung người anh hùng thời loạn qua sáng tác Phạm Thái 44
Trang 52.1.1 Phạm Thái là một nhà nho chính thống, được hưởng chế độ giáo
dục phong kiến 44
2.1.2 Con người ngông nghênh, kiêu ngạo, khinh bạc, thể hiện tư tưởng lớn nhưng thường cực đoan 47
2.1.3 Người anh hùng bị thất bại trên con đường chính trị nên gay gắt, hằn học, thở than, trách móc 49
2.2 Khuôn hình tài tử phong lưu qua ngòi bút Phạm Thái 53
2.2.1 Lối sống “ngao du sơn thủy” tự do, phóng khoáng 54
2.2.2 Các thú vui tao nhã “bầu rượu túi thơ”, “cầm kỳ thi họa” 59
2.2.3 Con người đa tình và tự do trong tình yêu 65
Tiểu kết 73
CHƯƠNG 3: NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VÀ ĐÓNG GÓP VỀ MẶT NGHỆ THUẬT THƠ VĂN PHẠM THÁI 75
3.1 Một trong những người đi đầu trong việc cách tân thể thơ trữ tình tiếng Việt, đưa thể thơ này lên một cung bậc mới 75
3.2 Người đầu tiên viết truyện Thơ Nôm về chính cuộc đời mình Truyện thơ này đã đạt tới thành công xuất sắc về mặt nội dung cũng như nghệ thuật 79
3.3 Xem xét lại tác phẩm Chiến tụng Tây Hồ phú như một danh tác của Phạm Thái 85
KẾT LUẬN 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX là một giai đoạn đầy biến động của lịch sử Việt Nam Nhiều mâu thuẫn trở nên gay gắt, xã hội Việt Nam trở nên rối ren, chiến tranh loạn lạc giữa các phe phái xảy ra liên tiếp Nhà nho phải đối mặt với những thử thách nghiệt ngã của lịch sử Các thế lực thống trị thay nhau lên cầm quyền, đặc biệt lần đầu tiên trong lịch sử xảy ra một hoàn cảnh chưa từng có, đó là sự lên ngôi của những “anh hùng nông dân áo vải”
Sự xa lạ đó khiến nhà nho bối rối trên con đường hành đạo, và đã có nhiều hành xử cho một vấn đề, tùy vào hoàn cảnh và nhân cách của mỗi con người
Từ đó, xảy ra nhiều những thái độ chính trị khác nhau và những nhân cách cá nhân của mỗi nhà nho dần dần được bộc lộ rõ ràng
Đây cũng là giai đoạn mà văn học Việt Nam nở rộ về thành tựu cả về mặt nội dung cũng như thể loại Những cây bút lớn đã khẳng định những dấu ấn
cá nhân riêng như Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Phạm Thái,
Hồ Xuân Hương,…và sau này đã trở thành những cây đại thụ của nền văn học trung đại Trong đó, Phạm Thái là một tác giả ít được nhắc đến nhất Cho đến nay, không có nhiều công trình nghiên cứu về nhà nho này bởi vì những “bảo
thủ”, “phản động” trong thiên kiến chính trị của ông Trong Văn học Việt Nam
(1969), Nxb Tân Việt, Phạm Văn Diêu đã khái quát nền văn học Việt đời Lê mạt - Nguyễn sơ nhưng ông không hề nhắc đến cái tên Phạm Thái trong tác
phẩm của mình Ngay cả trong tác phẩm Phú Việt Nam cổ và kim (2002), Nxb
Văn hóa thông tin do Phong Châu và Nguyễn Văn Phú giới thiệu, sưu tầm, chú thích, cũng không hề có tác phẩm của Phạm Thái Trong phần cước chú của sách này có ghi rõ ràng: “nội dung thể hiện tư tưởng phản động chống cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, nên bỏ không in” [6, tr.203] Nguyễn Nghiệp cũng
Trang 7đã khái quát về sự nghiệp thơ văn của nhà nho này như sau: “Xét về toàn bộ tác
phẩm mà nói, thử hỏi tác dụng giáo dục của Sơ kính tân trang đối với thế hệ
chúng ta phỏng được bao nhiêu Một con người với tư tưởng căn bản là phản động
và tiêu cực như Phạm Thái thì làm sao có thể tạo ra những giá trị nhân đạo cao cả,
có tác dụng cho thế hệ được” [26]
Trong khi đó, nhìn nhận một cách công bằng, Phạm Thái là một trong những cây bút có một sự nghiệp tác phẩm khá đồ sộ Ông là cây bút đã trải nghiệm trên nhiều thể loại khác nhau từ văn xuôi, đến các thể loại thơ khác nhau và đặc biệt là thể phú Đặc biệt, cùng với Nguyễn Du, ông cũng là người
có đóng góp lớn trong việc có ý thức sử dụng chữ Nôm trong sáng tác của mình Điều đó góp phần thể hiện ý thức tự hào dân tộc của Phạm Thái Thêm vào đó, nhà nho cũng đã có sự sáng tạo trong việc phá vỡ tính quy phạm của thơ văn trung đại và có những lúc thơ của ông đã đạt tới trình độ điêu luyện
về nghệ thuật Ở bất cứ thể loại nào, Phạm Thái cũng có những tác phẩm đạt được nhiều thành công về mặt nội dung cũng như nghệ thuật Về mặt nội dung, tác phẩm của ông đã có những tiếng nói tiến bộ, rất riêng và điều đặc biệt nó thể hiện cái tôi cá tính, một nhân cách trong sạch và nhất quán trong cách hành xử của mình Có những bài thơ quyết liệt của Phạm Thái nói lên tiếng nói bất bình, làm nên một trận bút chiến, người khen, kẻ chê nhưng đa phần là chê trách vì ông đã đi ngược với thời đại, đi ngược với triều đại mà thời điểm đó tất cả lòng dân đang hào hứng với những chuyển biến tích cực Còn ông thì không chỉ quay lưng lại với thời cuộc mà còn chống lại nó một cách dữ dội và quyết liệt
Tuy nhiên, trải qua thời gian, chúng ta cần phải có một sự nhìn nhận đúng đắn và công bằng hơn về hiện tượng Phạm Thái Những nỗ lực mà ông đóng góp cho nền văn học dân tộc cần phải được khẳng định Bởi lịch sử còn có những trang khuất và trước đó, nghiên cứu xã hội học đã ăn sâu bám rễ vào
Trang 8nghiên cứu văn học Việt Nam Phương pháp luận xã hội học có cội nguồn từ phương pháp văn hóa - lịch sử của H Taine, xem văn học là biểu hiện của chủng tộc, hoàn cảnh, thời đại, coi trọng cơ sở kinh tế xã hội, đấu tranh giai cấp, văn học hầu như là biểu hiện trực tiếp của đời sống chính trị Nghiên cứu văn học hầu như là nghiên cứu thái độ chính trị đối với đời sống, không xem xét đặc trưng văn học, bản tính thẩm mĩ, tính phức tạp và toàn bộ cấu trúc bên trong của nó cũng như cá tính sáng tạo của nhà văn hầu như không được quan tâm đến Bên cạnh đó, một số vấn đề của lịch sử cũng phải được nhìn nhận lại trên quan điểm của đời sống hiện đại
Cho nên khẳng định lại nhân cách cũng như cá tính sáng tạo của Phạm Thái là một công việc cần thiết và do đó người viết đã chọn đề tài này cho luận văn của mình Cho đến nay, mặc dù đã có sự chú ý nhất định đến Phạm Thái, tuy nhiên, chưa có những bài viết, công trình nghiên cứu chuyên sâu nào dành cho hiện tượng văn học đặc biệt này Từ đó mà chưa đưa ra được sự đánh giá tổng quát, toàn diện và chân thực về những đóng góp và thành tựu thơ văn của ông Vì vậy công việc nghiên cứu khái quát toàn bộ về thơ văn Phạm Thái trong văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối XVIII - nửa đầu XIX
là việc cần thiết và có giá trị, không chỉ trên bình diện lý luận, phê bình mà còn giúp ích cho thực tiễn dạy và học tác giả Phạm Thái trong nhà trường phổ thông cũng như đại học
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Có thể tìm hiểu những bài viết, công trình, viết về Phạm Thái thành từ hai nguồn Nguồn thứ nhất là những công trình nghiên cứu, biên khảo, sưu tầm, hiệu đính, chú giải, trích dẫn, giới thiệu thơ văn Phạm Thái Nguồn thứ hai là những giáo trình, công trình khoa học, bài viết về thơ văn Phạm Thái hoặc ít nhất đề cập đến vấn đề liên quan đến thơ văn Phạm Thái
Trang 92.1 Những công trình nghiên cứu, biên khảo, sưu tầm, hiệu đính, chú giải, trích dẫn, giới thiệu thơ văn Phạm Thái
Văn đàn bảo giám (1926) - Trần Trung Viên; Phổ chiếu thiền sư thi tập
(1932) - Sở Cuồng (Lê Dư); Việt Nam thi văn hợp tuyển (1943) và Việt Nam
văn học sử yếu (1944) - Dương Quảng Hàm; Lịch sử văn học Việt Nam
(1962) của Lê Trí Viên - Phan Côn - Đặng Thanh Lê - Phạm Văn Luận - Lê
Hoài Nam đồng biên soạn; Bảng đồ lược văn học Việt Nam (1967); Hợp tuyển
thơ văn Việt Nam thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX (Nxb Văn học Việt Nam); Thơ văn Việt Nam thơ Đường luật từ thế kỷ XV đến hết thế kỷ XIX - Hà Xuân
Liêm sưu tầm và biên soạn; Trần Đình Sử - Những công trình thi pháp học (2005) - tuyển tập 1 - Nguyễn Đăng Điệp giới thiệu và tuyển chọn; Tổng tập
văn học Việt Nam (1997) do Nguyễn Quảng Tuân biên soạn; Giai thoại làng nho - Lãng Nhân; Việt Nam văn học giảng minh (1974) - Vũ Tiến Phúc
Những công trình trên, các tác giả có dẫn một số tác phẩm tiêu biểu của
Phạm Thái đặc biệt là bài Sơ kính tân trang và Chiến tụng Tây Hồ phú Ngoài
ra, các tác giả cũng sơ lược giới thiệu, khái quát một số nét về tiểu sử của
Phạm Thái Trong đó, có công trình Chiêu - Lỳ Phạm - Thái thi tập (1959) do
Hoàng Xuân sưu tầm, giới thiệu đã có những chú dẫn, phẩm bình một cách sơ
lược về thơ văn Phạm Thái Kiều Thu Hoạch trong tác phẩm Truyện Nôm -
Lịch sử phát triển và thi pháp thể loại (2007) đã tóm tắt truyện Sơ kính tân trang Tuy không đưa ra những lý luận, nghiên cứu về truyện thơ này nhưng
phần nào đã coi đây là một trong những tác phẩm tiêu biểu của thể loại này
Ngoài ra, có những tác phẩm bên cạnh việc giới thiệu tiểu sử, tác phẩm, trích dẫn một vài tác phẩm thơ văn Phạm Thái còn có bước đầu nhận xét về
nội dung, nghệ thuật, thể tài trong thơ văn ông như Việt Nam văn học sử giản
ước tân biên (tập 2), Phạm Thế Ngũ cũng có nhận định chung về nội dung thơ
Trang 10văn Phạm Thái, nhận xét sơ lược về Chiến tụng Tây Hồ phú, tóm tắt Sơ kính
tân trang, đề cập sơ lược thể từ Hay Lược khảo văn học Việt Nam từ khởi thủy đến thế kỷ XX (2005), Bùi Đức Tịnh cũng có nêu hoàn cảnh sáng tác bài Chiến tụng Tây Hồ phú và tóm tắt truyện Sơ kính tân trang
2.2 Nguồn thứ hai : Những bài viết, công trình có tính lý luận về Phạm Thái
Có thể kể đến như Phạm Thái, Sơ kính tân trang (1960) là công trình khảo
dị và hiệu đính rất công phu về tác phẩm Sơ kính tân trang Công trình này đã
nêu ra được những thành công và hạn chế của tác phẩm này
Trong Từ điển văn học nguồn gốc đến hết thể kỷ XIX, Nxb Đại học Quốc
gia Hà Nội, Lại Nguyên Ân giới thiệu tiểu sử, tên tác phẩm chính và nhận định thơ văn Phạm Thái
Trong Văn học Việt Nam - nửa cuối thế kỷ XVIII - hết thế kỷ XIX (1999) ở
chương IV, Nguyễn Lộc có viết về tiểu sử Phạm Thái và tìm hiểu nội dung và
giá trị nghệ thuật tác phẩm Sơ kính tân trang
Trong Nhà văn và tác phẩm trong nhà trường Phạm Thái - Nguyễn Công
Trứ - Cao Bá Quát (1999), (tuyển chọn và biên soạn), Nxb Giáo dục Vũ
Dương Quý có nêu tiểu sử, giới thiệu các tác phẩm tiêu biểu, giới thiệu nét lớn về nội dung và nghệ thuật thơ văn Phạm Thái Trong đó có gợi ý phân
tích Cảnh chùa chiền (trong Sơ kính tân trang)
Tạp chí Văn học số 8 - 2000, Nguyễn Thị Nhàn có viết về Mô hình kết cấu truyện Sơ kính tân trang Nguyễn Huệ Chi viết Nguyễn Huy Lượng và Phạm Thái xung quanh bài phú Tụng Tây Hồ, in trong Gương mặt văn học Thăng Long, Trung tâm hoạt động khoa học Văn miếu Quốc Tử Giám, Nxb H 1994
Trên Tạp chí văn học cũng có đăng bài của Đặng Thị Hảo bàn về Phạm Thái -
nhà thơ của mỗi thể loại, một tác phẩm tuyệt bút
Trang 11Trong Tự sự học (2003), Nxb Đại học Sư phạm, Trần Đình Sử chủ biên có bài viết Kết cấu truyện Nôm của Đinh Thị Khang Tác giả chỉ ra những ngoại
lệ của Sơ kính tân trang như lắp ghép hai truyện về hai cuộc tình trong một
cấu trúc tác phẩm, sử dụng mô típ “tái thế tương phùng” của dân gian để gắn kết mối hận tình của cuộc đời thực và một mối tính trong mộng
Về những công trình luận văn, nghiên cứu khoa học, có luận văn của thạc
sĩ Hồ Thị Kiều Chinh (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn) với đề
tài Phạm Thái trong dòng nhà nho tài tử Ngoài ra còn có luận văn của thạc sĩ Trần Văn Đúng bàn về: Những đóng góp của Phạm Thái trong văn học Việt
Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX Hai luận văn này
đã nghiên cứu một cách khá kỹ lưỡng về những mảng đề tài trong sáng tác văn chương của Phạm Thái Đồng thời, Trần Văn Đúng cũng chỉ ra những đóng góp lớn của tác gia này ở hình thức thể hiện chia theo thể loại, từ ngữ và giọng điệu
Một cách khái quát có thể thấy, ở loại thứ nhất, chưa có bất cứ một tổng tập nào về Phạm Thái Mà nếu như chúng ta làm phép liệt kê về mặt số lượng tác phẩm thì Phạm Thái để lại cũng không ít Ở loại thứ hai, các nhà nghiên
cứu gần như chỉ đi sâu vào phân tích hai tác phẩm tiêu biểu là Sơ kính tân
trang và Chiến tụng Tây Hồ phú mà bỏ qua những bài khác của ông Những
tác phẩm còn lại ít được đề cập, ít được nghiên cứu đặc biệt là nghiên cứu trong sự đối sánh với các tác giả viết cùng thể tài Và hơn nữa là xâu chuỗi các tác phẩm để làm rõ được con người và đóng góp cũng như xác lập được vị trí của Phạm Thái Hơn nữa, các nhà nghiên cứu, phê bình cũng chưa đi sâu phân tích để nhìn nhận được tài hoa của Phạm Thái ở nhiều thể loại khác nhau
Trang 12Tất cả những tài liệu nêu trên là nguồn tài liệu hữu ích giúp cho người viết bắt đầu quá trình tiếp cận và tìm hiểu đề tài của mình về Phạm Thái Hướng triển khai của luận văn sẽ kế thừa những phần của tác giả đi trước, đồng thời
sẽ đi sâu hơn điều chưa được nói tới, hoặc chưa được đề cập một cách sâu sắc
và toàn diện
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng mà chúng tôi quan tâm nghiên cứu là thơ văn Phạm Thái và đặc điểm thơ văn của ông trong giai đoạn văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX Bên cạnh đó, việc đưa ra những tư liệu lịch sử trong hướng nhìn đa chiều về triều đại Tây Sơn để lý giải cách ứng xử của Phạm Thái là điều cần thiết Trong đó, chúng tôi cũng cố gắng tập trung đưa
ra những đối sánh với những nhà nho cùng thời của Phạm Thái như Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn Huy Lượng, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Từ đó, để đưa ra một cách nhìn nhận mới hơn so với những nhận định trước đó về phương thức ứng xử và nhân cách đạo đức của tác gia này Sau đó, chúng tôi
sẽ đi sâu vào tất cả những tác phẩm của ông để thấy được những đặc điểm nổi bật về nội dung và hình thức Tất cả những nghiên cứu này sẽ ở thế so sánh, đối chiếu với những nhà thơ cùng thời, trong cùng một thể loại để thấy được những điểm mới và sự tài hoa trong sáng tác của Phạm Thái
4 Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi vận dụng hướng tiếp cận văn hóa học cùng với các phương pháp thống kê, miêu tả, so sánh, phân tích, mong có được cái nhìn hệ thống và toàn diện nhất về Phạm Thái
Trong quá trình nghiên cứu lịch sử vấn đề, chúng tôi nhận thấy rằng văn chương nhà nho nói chung, đặc biệt là thơ Nôm Phạm Thái có mối liên hệ khá mật thiết với văn học và văn hóa dân gian Chính vì thế, việc áp dụng phương
Trang 13pháp nghiên cứu văn chương dưới góc nhìn văn hóa tỏ ra khá hữu ích Chúng tôi nhận thấy đây là phương pháp đã được nhiều nhà nghiên cứu áp dụng trong văn học trung đại Vì thế chúng tôi cũng áp dụng phương pháp này cho công trình nghiên cứu của mình
Để giải quyết vấn đề đặt ra một cách toàn diện, chúng tôi cũng áp dụng phương pháp nghiên cứu xã hội học Bởi đặc thù của văn học nhà nho trong thời điểm này, phần lớn phản ánh thực tế xã hội thay đổi Hơn nữa muốn tìm
ra quy luật vận động của văn học nhà nho, chúng ta bắt buộc phải căn cứ vào các yếu tố lịch sử, văn hóa, xã hội đương thời Hiện tượng này được các nhà nghiên cứu rất chú trọng Bởi thế chúng tôi áp dụng cả phương pháp nghiên cứu xã hội học để thực hiện công việc của mình
Ngoài ra chúng tôi cũng kết hợp thi pháp học trong quá trình nghiên cứu
để khảo sát hệ thống thơ văn Phạm Thái Nhìn chung tất cả những phương pháp trên đều tập trung vào việc tìm hiểu, phát hiện quy luật của tồn tại và phát triển văn học qua một tác gia tiêu biểu đặt trong dòng chảy của lịch sử văn học dân tộc
5 Những đóng góp của luận văn
Qua luận văn này, chúng tôi mong muốn đưa ra một sự nhìn nhận đúng đắn và xác đáng về con người, nhân cách của nhà nho Phạm Thái trong xã hội thời đó Đồng thời, luận văn sẽ hệ thống hóa những quan điểm, đánh giá, phê bình thơ văn Phạm Thái sau đó sẽ chỉ ra những đóng góp mới của ông cả về mặt nội dung lẫn hình thức nghệ thuật Từ đây, chúng tôi mong muốn sẽ góp phần mang lại giá trí đích thực của thơ văn Phạm Thái và xác định lại vị trí xứng đáng của tác giả trong nền văn học nước nhà
Trang 146 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, luận văn gồm nội dung chính có tất cả ba chương Trong
đó gồm:
Chương 1: Bối cảnh thời đại, tiểu sử, mô hình nhân cách, quá trình sáng tác và hình ảnh xã hội thời tao loạn qua sáng tác Phạm Thái
1.1 Bối cảnh thời đại, tiểu sử, mô hình nhân cách, quá trình sáng tác
1.1.1 Bối cảnh thời đại
1.1.2 Tiểu sử, mô hình nhân cách
1.1.3 Quá trình sáng tác
1.2 Hiện thực xã hội đương thời trong sáng tác Phạm Thái
1.2.1 Hình ảnh xã hội thời tao loạn và cuộc sống của người dân
1.2.2 Giai cấp thống trị, bộ máy quan lại
Chương 2: Chân dung người anh hùng thời loạn và khuôn hình tài tử phong lưu qua sáng tác của Phạm Thái
2.1 Chân dung người anh hùng thời loạn qua sáng tác Phạm Thái
2.1.1 Phạm Thái là một nhà nho chính thống, được hưởng chế độ giáo dục phong kiến
2.1.2 Con người ngông nghênh, kiêu ngạo, khinh bạc, thể hiện tư tưởng lớn nhưng thường cực đoan
2.1.3 Người anh hùng bị thất bại trên con đường chính trị nên gay gắt, hằn học, thở than, trách móc
2.2 Khuôn hình tài tử phong lưu qua ngòi bút Phạm Thái
2.2.1 Lối sống “ngao du sơn thủy” tự do, phóng khoáng
Trang 152.2.2 Các thú vui tao nhã “bầu rượu túi thơ”, “cầm kỳ thi họa”
2.2.3 Con người đa tình và tự do trong tình yêu
Tiểu kết: Thơ văn Phạm Thái có những màu sắc tôn giáo khác nhau
Chương 3: Những đặc điểm và đóng góp về mặt nghệ thuật thơ văn Phạm Thái
3.1 Một trong những người đi đầu trong việc cách tân thể thơ trữ tình tiếng Việt, đưa thể thơ này lên một cung bậc mới
3.2 Người đầu tiên viết truyện Nôm từ chính chất liệu của cuộc đời mình Truyện thơ này đã đạt tới thành công xuất sắc về mặt nội dung cũng như nghệ thuật
3.3 Xem xét lại tác phẩm Chiến tụng Tây Hồ phú như một danh tác của
Phạm Thái
Cuối cùng là Kết luận và Tài liệu tham khảo
Trang 16CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH THỜI ĐẠI, TIỂU SỬ, MÔ HÌNH NHÂN CÁCH, QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC VÀ HÌNH ẢNH XÃ HỘI THỜI TAO
LOẠN QUA SÁNG TÁC PHẠM THÁI 1.1 Bối cảnh thời đại, tiểu sử, mô hình nhân cách, quá trình sáng tác
1.1.1 Bối cảnh thời đại
Hậu bán thế kỷ XVIII là một trong những giai đoạn rối ren nhất và cũng là một trong những giai đoạn hiếm hoi mà người Việt sau khi chịu đựng những thay đổi lớn lao, thấy đất nước lớn mạnh hơn, dồi dào sinh lực hơn ngày trước Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, biến cố tàn Lê, mạt Trịnh, sự phục hồi của họ Nguyễn, tất cả đầy biến động chỉ trong một thời gian ngắn Ở nửa đầu thế kỷ XVIII, khi nhà nước quân chủ của Lê - Trịnh ở Đàng Ngoài đã suy thoái, thì ở Đàng Trong nền thống trị của họ Nguyễn vẫn còn tương đối ổn định Họ Nguyễn tiếp tục đẩy mạnh việc khai khẩn vùng đất phía Nam nhằm củng cố cơ sở cát cứ và làm dịu bớt những mâu thuẫn xã hội Nhưng từ giữa thế kỷ XVIII trở đi, do sự phát triển của những mâu thuẫn nội tại, nhà nước quân chủ ở Đàng Trong cũng mau chóng suy yếu Nạn chiếm đoạt và tập trung ruộng đất diễn ra khá mạnh ở Đàng Trong Tình hình ngày càng nghiêm trọng khi quan lại, địa chủ đua nhau tranh đoạt những thành quả khẩn hoang của nông dân hoặc dùng uy thế chiếm ruộng tư của họ và lấn chiếm của ruộng công làng xã
Thêm vào đó, chế độ thuế khóa của chính quyền họ Nguyễn vốn đã rất phức tạp Các chúa Nguyễn thêm nhiều loại thuế để thỏa mãn nhu cầu xa xỉ của tầng lớp quý tộc và bộ máy quan liêu cồng kềnh Hàng năm có trăm thứ thuế mà trưng thu thì phiền phức gian lận, nhân dân thống khổ về nỗi một cổ hai tròng Một khi địa vị thống trị đã được củng cố, tầng lớp quý tộc ở Đàng
Trang 17Trong ngày càng sống xa hoa, trụy lạc do của cải tích lũy được trong quá trình bóc lột nông dân Đến đời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738 - 1765) thì đời sống xa hoa của tầng lớp thống trị lên đến cực độ Sự thối nát của tầng lớp thống trị ở Đàng Trong cùng với bộ máy quan liêu phình ra khủng khiếp từ những năm 60 của thế kỷ XVIII Chỉ trong một xã có vô số chức sắc làm nạn mua quán bán tước phổ biến, số quan lại ngày một tăng thêm Sức sản xuất bị kìm hãm, đời sống nhân dân lầm than cơ cực Thêm vào đó là nạn mất mùa đói kém từ năm 1769, trong khoảng 5 năm liền, nạn đói xảy ra liên tiếp
Với ý đồ biến Đàng Trong thành một quốc gia riêng biệt, đối lập hẳn với Đàng Ngoài, năm 1774, Nguyễn Phúc Khoát tự xưng vương, tự tổ chức chính quyền theo quy cách một triều đình và gọi thành Phú Xuân là “đô thành” Họ Nguyễn còn bắt dân Đàng Trong phải thay đổi phong tục tập quán,
ăn mặc theo lối nhà Thanh, mưu tính việc cát cứ lâu dài Sang nửa sau thế kỷ XVIII, những mâu thuẫn chứa chất trong xã hội Đàng Trong ngày một gay gắt dẫn đến những cuộc nổi dậy của nông dân và các dân tộc thiểu số, kể cả thương nhân Trước khi nổ ra cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, nhân dân các dân tộc dọc Trường sơn và vùng Tây Nguyên đã nhiều lần nổi dậy Ở miền xuôi cũng
đã xuất hiện nhiều cuộc khởi nghĩa lẻ tẻ mà cuộc khởi nghĩa của Lía ở Quy Nhơn có quy mô to hơn cả, ảnh hưởng sâu rộng trong nhân dân Những cuộc đấu tranh lẻ tẻ trên chỉ mới là phần giáo đầu, chuẩn bị cho một cuộc khởi nghĩa nông dân to lớn và mãnh liệt là khởi nghĩa Tây Sơn Cuộc khởi nghĩa bắt đầu nổ ra ở ấp Tây Sơn năm 1771 do ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ lãnh đạo Sau 17 năm (1771 - 1788) kể từ ngày bùng lên ở Quy Nhơn, cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn đã nhanh chóng tiêu diệt các thế lực thống trị Nguyễn, Trịnh, Lê chia cắt đất nước gây nội chiến tương tàn Một chiến công hiển hách nữa của triều đại Tây Sơn là đại phá quân Thanh Sau sự kiện này, Quang Trung nhìn thấy vấn đề cấp thiết trước mắt là phải
Trang 18nhanh chóng giải quyết tình trạng ruộng đất bỏ hoang, tận dụng sức lao động vào sản xuất nông nghiệp Trên cơ sở đó mà bước đầu phục hồi nền kinh tế tiểu nông đang bị phá hoại nghiêm trọng
Như vậy, chỉ trong vài năm đã thay đổi đến bảy đời vua, trong vòng hai mươi năm đã có biết bao thăng trầm, hưng phế chớp nhoáng của bao nhiêu triều đại, vọng tộc, thôn xóm, thị thành, thân phận con người Giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX là giai đoạn mà con đường chính trị của các tầng lớp nho sĩ có sự phân hóa chưa từng có trong lịch sử trung đại Việt Nam Họ phải đắn đo lựa chọn xem theo Tây Sơn hay trung thành với vua Lê - chúa Trịnh, chúa Nguyễn Đến khi Nguyễn Ánh thắng lợi một lần nữa họ phải lựa chọn con đường chính trị cho riêng mình
1.1.2 Tiểu sử, mô hình nhân cách
Phạm Đan Phượng còn gọi Phạm Thái, Phạm Phượng Sinh, hiệu Chiêu
Lì (hoặc Chiêu Lỳ); là một danh sĩ trong lịch sử Việt Nam Ông sinh ngày 19 tháng Giêng năm Đinh Dậu (26 tháng 2 năm 1777)trong gia đình quý tộc, tại làng Yên Thị, xã Yên Thường, huyện Đông Ngàn, trấn Kinh Bắc (nay thuộc Gia Lâm, Hà Nội) Cha ông là Trạch Trung hầu Phạm Đạt, một võ tướng cao cấp đời Cảnh Hưng Khi Tây Sơn tiến ra bắc, Trạch Trung hầu mộ binh chống lại Nhưng trước khí thế mạnh như nước vỡ bờ của quân đội Tây Sơn, “nghĩa binh” của Trạch Trung hầu đã hoàn toàn bại trận Trạch Trung hầu qua đời khi Phạm Thái 20 tuổi Gia đình Phạm Thái do việc thất trận của Thạch Trung hầu mà ly tán Sự kiện này đã ảnh hưởng rất nhiều tới tâm lý Phạm Thái Đồng thời chính những sự kiện này cũng đã quyết định những cách cư xử về con đường chính trị cũng như ảnh hưởng đến nhân cách của Phạm Thái về sau
Trang 19Nối chí cha, năm 20 tuổi, Phạm Thái đi ngao du nhiều nơi để tìm và kết giao với người cùng chí hướng Ông gặp Nguyễn Đoàn rồi cùng nhau chống Tây Sơn, nhưng không thành công Tương truyền Phạm Thái có soạn bài
Quân yếu bàn luận thế đánh Khi Nguyễn Đoàn bị giết thì Phạm Thái phải
trốn đi Bị truy nã, ông cắt tóc, đội lốt nhà sư, vào tu ở chùa Tiêu Sơn (tức chùa Thiên Tâm nằm trên lưng chừng núi Tiêu, nay thuộc xã Tương Giang, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh), đặt đạo hiệu là Phổ Chiếu Thiền sư Trong thời gian này, Phạm Thái đã soạn mấy bài văn phả khuyên giáo lấy tiền, gạo sửa chữa chùa Đồng thời cùng với trụ trì, ông tiếp tục lên kế sách về việc phù
Lê
Đi tu được mấy năm, thì bạn ông là Thanh Xuyên hầu Trương Đăng Thụ (người làng Thanh Nê, thuộc huyện Kiến Xương, trấn Sơn Nam, nay thuộc tỉnh Thái Bình), đang làm quan ở Lạng Sơn, cho người đón ông lên đấy, tính chuyện chống Tây Sơn Một năm sau, khi ông trở về Kinh Bắc thăm nhà, thì được tin Trương Đăng Thụ bị đại thần Vũ Văn Dũng đầu độc chết, và đang được đem về chôn cất ở quê nhà Phạm Thái liền đến làng Thanh Nê điếu tang bạn Ở đây, ông đã giúp nàng Long Cơ (vợ Thanh Xuyên hầu) soạn
Văn triệu linh gọi hồn chồng, làm Văn bia mộ Thanh Xuyên hầu và viết Lời
đề nhà Nghĩa lư
Vì yêu nết, trọng tài, Kiến Xương hầu Trương Đăng Quỹ (cha Thanh Xuyên hầu) đã mời Phạm Thái ở lại để làm gia sư dạy trẻ Nhờ vậy, Phạm Thái quen được em gái bạn là Trương Quỳnh Như Họ cùng xướng họa thơ văn, rồi thầm yêu nhau Cảm phục tài thơ của Phạm Thái, Kiến Xương hầu định gả con cho ông, nhưng người mẹ không bằng lòng, vì muốn gả cho một người khác Bị ép gả, Quỳnh Như tự tử, còn Phạm Thái cũng vì quá đau xót,
đã rời bỏ nơi đó đi lang bạt Quãng đời cuối của ông là những trận rượu say li
bì, là những bài thơ văn bi quan và yếm thế Năm 1802, chính quyền Tây Sơn
Trang 20bị diệt vong trước sự phản công của Gia Long Giấc mơ phù Lê của Phạm Thái từ đây chính thức không thực hiện được Ông ngậm ngùi mà nói về cuộc đời mình:
Ngày tháng trôi như bóng thoảng nhanh Công lao, sự nghiệp phú tan tành
Phạm Thái mất khi tuổi đời chưa qua hết lúc 37 tuổi tại Thanh Hóa (1813) chôn vùi cả giấc mơ lớn còn chưa thực hiện được, bao uất ức và cả một nỗi niềm tiếc thương khuôn nguôi vì tình yêu không thành
Nhìn chung chưa có một giai đoạn nào rối ren và phức tạp như giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVI - nửa đầu thế kỷ XIX Trong thế kỷ nông dân khởi nghĩa, thế kỷ mà bao điều chủ chốt của Nho giáo đã bị gỡ bỏ Trước hiện thực vĩ đại khắc nghiệt, Phạm Thái cũng như bao kẻ sĩ đồng thời hoang mang, lúng túng trước con đường chính trị đồng thời nhiều lúc cũng dao động, bế tắc cùng đường Như phần đầu người viết đã nói đến có rất nhiều ý kiến tiêu cực về thái độ chính trị của Phạm Thái chỉ vì trước sau như một ông đã ôm lấy cái ước mơ phù Lê, chống Tây Sơn của mình Trong khi đó lịch sử đã đánh giá Tây Sơn là triều đại tiến bộ và xác lập được vị thế của mình Xuất phát từ một loạt sự kiện gọi là “công thần” của Tây Sơn đối với việc thống nhất đất nước, dẹp giặc ngoại xâm và những chính sách của vua Quang Trung nhằm phát triển kinh tế, khôi phục đất nước
Do đó những sự nghiệp về văn học của Phạm Thái cũng bị phủ nhận bởi
“nội dụng thể hiện tư tưởng phản động chống cuộc khởi nghĩa Tây Sơn” [6,
tr.203] Nhưng chúng ta cần phải nhìn nhận lại về nhân cách cũng như thái độ ứng xử của Phạm Thái khi mà đến nay lịch sử đã một sang trang mới Cùng với đó chúng ta cũng nên có một sự ngoái lại công bằng mà không có định kiến chính trị Cái đáng quý ở Phạm Thái là trong lúc những người khác có
Trang 21thể nhanh chóng thay thầy đổi chủ thì ông vẫn trung với vua hết mực dù đã qua hai triều đại kế tiếp nhau là Tây Sơn và nhà Nguyễn (Gia Long)
Trước hết, có thể thấy Phạm Thái sinh ra trong một gia đình quý tộc, thuần Nho Từ nhỏ ông đã được giáo dục những tư tưởng cốt yếu của Nho giáo đặc biệt là tư tưởng trung quân “trung thần bất nhị quân” Nền giáo dục Nho giáo bộc lộ nhiều sự bảo thủ và cứng nhắc đã ảnh hưởng nhiều tới con người Phạm Thái Việc Nho giáo được lựa chọn và trở nên học thuyết ý thức
hệ độc tôn kéo dài hơn hai ngàn năm trong lịch sử chính trị Trung Quốc, hàng nghìn năm trong lịch sử chính trị Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam đã tạo ra áp lực khổng lồ, đe nén và ngăn chặn có hiệu quả mọi định hướng dân chủ hóa chứ đừng nói đi ngược lại cả một triều đại Một mẫu nhà nho truyền thống đã hằn sâu tư tưởng này là điều dễ hiểu và lý giải cho những ứng xử của Phạm Thái Điều đó chứng minh nhân cách đáng quý, trong sạch hơn là bị gọi là bảo thủ, lạc hậu và phản động Hơn hết trong xã hội loạn lạc, khi tuổi đời còn mới đôi mươi ông đã chứng kiến cảnh người nông dân Nguyễn Huệ phá tan mộng công danh sự nghiệp của mình và nhìn thấy rất rõ sự thất bại thảm hại của cha mình và hệ quả là gia đình tan nát Cho nên những tổn thương về mặt tâm lý đó đã hằn lên tư tưởng chống Tây Sơn của Phạm Thái dù thời thế đã thay đổi Tây Sơn đã trở thành ngọn cờ đầu của phong trào nông dân, lập nên một triều đại mới Khi một vương triều phong kiến cắm rễ bao năm qua đã đi vào hoài niệm, tâm thế của con người ấy vẫn còn nuối tiếc và thiết tha phục hồi nó
Cho nên từng có rất nhiều ý kiến, công trình nghiên cứu về nhân vật lịch
sử này, nhưng thủy chung, lời giải đáp rốt ráo, phẩm bình về Phạm Thái, về lập trường chính trị - xã hội của Phạm Thái vẫn là phản động Đa số cho rằng Phạm Thái không có được cái nhìn thức thời và tiến bộ như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Huy Lượng vì đã thuận theo lịch sử Nhưng sự hưng
Trang 22phế của một triều đại và sự đánh giá “tiến bộ” thì còn được xem xét ở thế đa diện Khoảng mươi lăm năm trở lại đây, trong khoa học xã hội ở ta, tuy chưa xuất hiện những công trình nghiên cứu ghi dấu những bước đột phá, nhưng nhiều vấn đề phong phú, phức tạp đã được đặt lại một cách nghiêm túc, khách quan hơn, nhiều vấn đề mới cũng được đặt ra để suy nghĩ Giữa những vấn đề thuộc lịch sử Việt Nam, được nêu ra hoặc được đặt lại ấy, có việc xem xét, đánh giá lại vai trò của một số vương triều hay thế lực chính trị
Theo Giáo Sư Trần Ngọc Vương trong Thực thể Vệt nhìn từ các tọa độ
chữ: “Hệ quả lớn thứ ba của lưỡng đầu chế Lê Trịnh như phần trên ít nhiều đã
nghị bàn, là sự xuất hiện liên miên không dứt của những cuộc nổi loạn “trên mọi miền Tổ quốc” Cả một thời kỳ dài trước đây, giới sử học định danh cho phần lớn những cuộc nổi loạn này là “khởi nghĩa nông dân”, gắn cho chúng những ý nghĩa to tát về đấu tranh giai cấp, thậm chí là cách mạng xã hội Chúng tôi cũng chưa có điều kiện bàn sâu về loại hiện tượng này ở đây, chỉ xin nêu ngắn gọn rằng thật khó mà chia sẻ cái lịch sử quan đó, bởi phần lớn những cuộc “khởi nghĩa” này đều có quá trình hình thành rất giống với sự hình thành của những ổ nhóm tội phạm trong mọi thời đại, con đường chung
mà các thủ lĩnh của các tập hợp này trải qua - nếu họ may mắn tiến xa được trên quỹ đạo đó - đó là từ đại ca thành đại vương, và cục diện phổ biến mà họ tạo ra chính là thứ mà sử gia gọi là “loạn thế”, sử gia nay gọi là “thế kỷ bão táp của cuộc khởi nghĩa nông dân” [57, tr 135] Từ đây, người viết sẽ đi theo định hướng này để chỉ ra nếu như đánh giá Tây Sơn là một triều đại tiến bộ và Phạm Thái là người phản động thì sẽ tạo ra oan ức biết bao cho nhân cách ấy
Sự kiện quan trọng nhất xảy ra trong lịch sử Đại Việt vào giữa hậu bán thế kỷ XVIII là “loạn Tây Sơn” Từ trước không phải không có những người thường dân lên làm vua, dựng nên một triều đại mới, nhưng họ lập nghiệp bằng cách đánh đuổi giặc ngoại xâm, hoặc bằng cách phụ tá triều đại trước,
Trang 23mang quan tước của dòng họ này rồi tìm cách soán đoạt (Trần, Mạc) Chỉ riêng có anh em Tây Sơn truất quyền các triều đại có mặt bằng mưu mô binh lực, đem vào lịch sử những tên người nông dân và cả những kẻ sống ở ngoài vòng pháp luật Tây Sơn là vùng đất thuộc phủ Quy Nhơn, dinh Quảng Nam Thời các chúa Nguyễn, dinh Quảng Nam vốn là một miền trù phú nhưng cũng
là khu vực chịu tô thuế hà khắc Nạn chiếm đoạt ruộng đất cùng với thuế khóa nặng nề là nguyên nhân quan trọng làm cho dinh Quảng Nam từ một trung tâm kinh tế giàu có vào bậc nhất ở Đàng Trong sớm trở thành trung tâm của phong trào nổi dậy chống áp bức cường quyền Cuộc khởi nghĩa bắt đầu nổ ra
ở ấp Tây Sơn năm 1771 do ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn
Lữ lãnh đạo Thuở nhỏ, ba anh em Nhạc, Huệ, Lữ có theo học ông giáo Hiến, một nho sĩ bất mãn với chế độ họ Nguyễn, về mở trường dạy học Riêng Nguyễn Nhạc đã từng đi buôn trầu ở miền núi mang về xuôi bán Có nhiều tài liệu trong sử sách còn ghi Nguyễn Nhạc đã từng làm biện lại ở đất Vân Đồn,
gá bạc, tiêu lạm tiền thuế, bị Đốc trưng Đằng đòi hỏi gắt gao mới trốn vào rừng tụ đảng ăn cướp Nguyễn Nhạc có lực lượng phối hợp lớn lao là chúng ta căn cứ vào tính chất cư dân trong vùng Nguyễn Nhạc nhanh chóng tập hợp lực lượng này khi nêu cao khẩu hiệu “Lấy của nhà giàu chia cho người nghèo” và ban đầu khi phản kháng thì chỉ tụ tập được đám người Thượng trên một vùng núi Vùng này còn khối di dân Trung Hoa sinh sống như một tập thể tự trị, nhưng vẫn chịu dưới quyền nhà Nguyễn Chính quyền tập hợp họ thành từng “thuộc” Họ sống bên lề một ít trong đất nước thu nhận họ, phần lớn là dân lưu vong nằm trong các tổ chức hội kín ít chịu dung hợp với chính quyền Nhưng ngay cả tập thể người Việt cũng có một phần lớn thoát ra ngoài
kỷ cương của triều đình: những người lên rừng, xuống biển trao đổi phẩm vật, những người làm thuê, gặt hái theo vụ mùa khác nhau của lúa núi, lúa đồng, những kẻ trốn xâu lậu thuế… Vào những lúc rảnh rỗi, tất cả đều tụ tập quanh
Trang 24chiếu bạc, nơi đám hát Triều đình không thể nào kiểm soát được đám dân
“vong mạng, vô lại” này Cho nên dưới triều Nguyễn Nhạc có bọn cướp Nhưng Huy, Tứ Linh ở nguồn An Tượng Không ngạc nhiên với đám quân của Tập Đình, Lý Tài “người cao lớn, gọt đầu kết tóc, giả làm người Thanh, khi đánh giặc, uống rượu say ở trần, đeo giấy vàng bạc xung trận liều mình”
(Thực lục tiền biên)
Về sau, khi phong trào Tây Sơn lớn mạnh hơn thì lại xảy ra những cuộc tranh chấp “nồi da nấu thịt” giữa anh em Nguyễn Huệ và Nguyễn Nhạc Trong đám binh lính Tây Sơn có kẻ ngả về phe này, có kẻ ngả về phe kia, nên ngoài chiến tranh chính thức, Nhạc và Huệ còn lo thanh toán nội bộ Nhiều
phe phái khác nhau, trong cuốn Lịch sử nội chiến Việt Nam từ 1771 đến 1802,
tác giả có viết: “ Đó là tập hợp hỗn độn những người Mường, Man di và các người mọi khác như Cao Miên, Cambien, và Xiêm Quân tướng chui rúc ở các chùa, vứt lăn lóc các tượng thần Phật không ngại ngùng gì hết, bởi vì không phải thần của họ” [49, tr.51] Tây Sơn, cả Nhạc lẫn Huệ đều cần tiền Nhạc đòi vàng đất Bắc, Huệ cố giữ và nhân đã có mâu thuẫn cũng muốn chiếm luôn kho vàng ở Quy Nhơn Nguyễn Huệ kéo quân ra Quy Nhơn với số lượng quân lớn “Ông bắt tất cả mọi người phải ra trận”, tức là tất cả mọi người “từ 15 đến 60 tuổi” Cho nên vùng Thuận hóa, nhà thờ biến thành trại lính, tượng thần Phật bị lấy ra đúc súng, đại bác, đúc nồi Có nhiều sử sách ghi lại và điều không thể phủ nhận là nước Việt cũng đã bị tổn hại rất nhiều những giá trị văn hóa tinh thần, những di sản bằng vật chất ở triều đại Tây Sơn
Lịch sử Tây Sơn rốt cuộc lại là những cuộc chiến liên tiếp và những chiến thắng vang dội Mọi công tích có vẻ như dễ dàng giải thích bằng cách trút cho Nguyễn Huệ tài ba của các trận chiếm đất Bắc, chống xâm lược sau này Đến thời bình, Nguyễn Huệ được đánh giá cao bởi những chính sách ông
Trang 25đưa ra nhằm cải thiện đời sống của nhân dân, phát triển kinh tế đất nước Không thể phủ nhận, đây là những chính sách vô cùng tiến bộ và có hiệu quả tuy nhiên không phải là không có hạn chế Giáo sư Phan Huy Lê trong cuốn
Tìm về cội nguồn đã nhận xét: “Trên lĩnh vực xây dựng, Quang Trung cũng
gặp nhiều khó khăn và hạn chế Thời gian thực hiện quá ngắn ngủi Các thế lực cũ chống đối điên cuồng Trong nhận thức và chính sách cụ thể, nói chung Quang Trung cũng chưa vượt ra được những khuôn mẫu cũ Quang Trung vẫn muốn củng cố chế độ ruộng đất công của làng xã, buộc nông dân trở về nguyên quán, chưa mạnh dạn phát triển chế độ tư hữu ruộng đất và mở rộng quan hệ giao thương với nước ngoài, tiếp nhận thành tựu khoa học tiên tiến của thế giới Về văn hóa giáo dục, vẫn trói buộc trong khuôn mẫu Nho giáo
đã lỗi thời Vì vậy những chính sách kinh tế, xã hội, văn hóa của Quang Trung khó có cơ sở để coi là những cải cách theo hướng đầy đủ của nó và chưa có khả năng đưa đất nước đến những thay đổi căn bản hay mở đường một cuộc duy tân kiểu Minh Trị mà có người đã nêu lên” [22, tr.655] Những
ý kiến này có thể thấy tác giả đặt cho Quang Trung những yêu cầu vượt quá hiện thực của bối cảnh lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XVIII Tuy nhiên không thể phủ nhận những chính sách này của Quang Trung chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn, ở một phạm vi hẹp và chỉ ở một bộ phận người dân
Từ những viện dẫn ở trên, có thể thấy triều đại Tây Sơn không thể hoàn toàn trọn vẹn là một cuộc tổng khởi nghĩa nông dân vĩ đại, lý tưởng, gắn cho chúng những ý nghĩa to tát về đấu tranh giai cấp, thậm chí là cách mạng xã hội Cho nên khó có thể nói nếu Phạm Thái không theo Tây Sơn là bảo thủ và không tiến bộ Chỉ sống ở thời đại đó, mới thấy hết những cảm quan thời đại
và những lối ứng xử chính trị - xã hội chỉ nói lên định hình nhân cách mà không thể quy chụp về lối tư tưởng, sai lầm như lịch sử quy kết Xã hội Phạm Thái sống bị hỗn loạn tận gốc rễ, nhất là về ý thức hệ Hồi đó trí thức nho sĩ
Trang 26đương thời còn bối rối đến mức nào trước các thế lực chính trị phức tạp, mà thế lực nào cũng tự xem mình là chính nghĩa, chính thống Nói về những trường hợp như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Huy Lượng
Nói về những trường hợp như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Huy Lượng Ngô Thì Nhậm, thi đỗ giải nguyên năm 1768, rồi tiến sĩ tam giáp năm 1775 Sau khi đỗ đạt, ông được bổ làm quan ở bộ Hộ dưới triều Lê -Trịnh, được chúa Trịnh Sâm rất quý mến Năm 1778, làm Đốc đồng Kinh Bắc
và Thái Nguyên Khi đó cha ông làm Đốc đồng Lạng Sơn Sau vụ án năm Canh Tý (1780), ông bị nghi ngờ là người tố giác Trịnh Khải nên phải bỏ trốn
về quê vợ ở Thái Bình lánh nạn Năm 1788, Nguyễn Huệ ra Bắc lần hai, xuống lệnh “cầu hiền” tìm kiếm quan lại của triều cũ Tuy vậy, tới thời điểm này thì cả vua Lê lẫn chúa Trịnh đều đã đổ Ngô Thì Nhậm và một số thân sĩ Bắc Hà khác như Phan Huy Ích, Nguyễn Huy Lượng…lần lượt ra làm quan cho nhà Tây Sơn Sử cũ viết khi được Thì Nhậm, Nguyễn Huệ mừng mà rằng:
"Thật là trời để dành ông cho ta vậy", và phong cho ông chức Tả thị lang bộ Lại, sau lại thăng làm thượng thư bộ Lại- chức vụ cao cấp nhất trong Lục bộ
Cuối năm Mậu Thân (1788) do vua Lê Chiêu Thống cầu viện, 29 vạn quân Thanh kéo sang Đại Việt, với chiêu bài diệt Tây Sơn dựng lại nhà
Lê Ngô Thì Nhậm đã có kế lui binh về giữ phòng tuyến Tam Điệp - Biện Sơn (Ninh Bình) góp phần làm nên chiến thắng của nhà Tây Sơn Năm 1790, vua Quang Trung đã giao cho Ngô Thì Nhậm giữ chức Binh bộ thượng thư Tuy làm ở bộ Binh, nhưng Thì Nhậm chính là người chủ trì về các chính sách
và giao dịch ngoại giao với Trung Hoa Ông là người đứng đầu một trong những sứ bộ ngoại giao sang Trung Hoa Sau khi Gia Long tiêu diệt nhà Tây Sơn, Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Thế Lịch và một số viên quan triều Tây Sơn thì bị đánh bằng roi tại Văn Miếu năm 1803 Còn đối với Nguyễn Huy Lượng, Sau khi nhà Tây Sơn bị diệt, triều Nguyễn (Gia Long)
Trang 27triệu tập ông, bổ làm tri phủ Xuân Trường (Nam Định) Khi vua Gia Long đi
tuần du, ông được đi theo Nhờ vậy, ông soạn được bài Ngự đạo hành cung
nhật trình (Con đường từng ngày của nhà vua qua các hành cung)
Những danh sĩ này được liệt vào những người tiến bộ vì ủng hộ Tây Sơn thế nhưng cũng phải thấy rằng họ cũng đã thay đổi lập trường quan điểm chính trị của mình Thậm chí đến Nguyễn Huy Lượng đã phụng tới ba đấng quân chủ của ba triều đại khác nhau Như trên đã nói giữa một xã hội loạn lạc, khi mà triều đại nào cũng coi mình là chính thống thì việc ứng xử đã khó khăn rồi Việc lựa chọn con đường trong lịch sử phụ thuộc vào nhãn quan chính trị khác nhau, không thể đánh giá là tiến bộ hay lạc hậu Lịch sử đã chứng minh rốt cuộc Tây Sơn cuối cùng cũng chỉ là một triều đại thất bại dù đã tạo ra dấu
ấn thế nào Cho nên Phạm Thái nổi bật lên ở một nhân cách trước sau như một, lập trường kiên định dù thời thế thay đổi thế nào Nhân cách ấy mới đang quý biết bao, chưa kể đến những đóng góp của ông trong lĩnh vực văn học Mà người đời sau cố lờ nó đi chỉ vì cách chọn con đường đi của Phạm Thái không thuộc quỹ đạo của các danh sĩ đương thời Cho đến nay chúng ta cần phải nhìn nhận lại vấn đề đó
“Gặp thời thế thế thời phải thế”, lịch sử - nhất là lịch sử của những giai đoạn xã hội đầy biến động, phức tạp như cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX
có những bước đi ngoắt ngoéo và có những cách áp đặt riêng của nó trên từng
cá nhân cụ thể, vì thế không nên phán quyết một cách vội vã về sự đúng hay sai trong hành xử của các nhà nho đương thời, mà ở đây là Phạm Thái
Trang 281.1.3 Quá trình sáng tác
Phạm Thái là một nhân vật tài hoa và ngang tàng Thơ văn ông đã thể hiện khá chân thật đôi điều ấy Đôi khi ngòi bút tài hoa ấy chuyển thành ngông nghênh, chỉ biết chống lại những điều mà lý tưởng của ông không thừa nhận Nhưng một phần rất quan trọng trong thơ văn ông, là nhằm diễn tả một tâm hồn khao khát yêu đương, bất chấp mọi khuôn phép lễ giáo của mình Về mặt này, ngòi bút “trữ tình, táo bạo, phóng túng, bén nhạy trước mọi vẻ đẹp (nhất là vẻ đẹp bên trong của con người)” của ông đã bắt gặp môi trường thuận lợi để phát huy tác dụng Bởi vào thế kỷ 18, những yêu cầu về quyền sống, quyền được hưởng hạnh phúc, đang dâng lên như một cơn sóng ngầm trong đời sống tinh thần của dân tộc Việt Về mặt nghệ thuật, Phạm Thái là một trong những người đi đầu trong việc cách tân thể thơ trữ tình tiếng Việt, đưa thể thơ này lên một cung bậc mới: nói tiếng nói yêu đương đầy sức giao cảm giữa nam và nữ Tác phẩm của Phạm Thái khá đa dạng về mặt thể loại bao gồm truyện thơ, văn xuôi, phú, thơ trữ tình
Tác phẩm Sơ kính tân trang của Phạm Thái sáng tác năm Giáp
Tý (1804), tức năm Phạm Thái 21 tuổi Đây là một truyện thơ Nôm gồm hơn nghìn câu, chủ yếu là thơ lục bát, có xen một ít bài thơ Đường luật, thơ cổ phong và thơ song thất lục bát Nội dung truyện kể lại một câu chuyện tình duyên lãng mạn và trắc trở, hư cấu trên cơ sở mối tình cay đắng của chính tác
giả Về văn xuôi, có Văn tế Trường Quỳnh Như được đánh giá là bài văn khóc
người yêu duy nhất trên thi đàn đương đại và cũng là tác phẩm đặc sắc về thể
loại này Ngoài ra còn có Tờ phả khuyên của chùa Nghiêm Xá, Tờ phả khuyến
làm tam quan chùa Tam Thanh, Tờ phả khuyến lễ kết hạ, Bài văn khao thần
ôn dịch Những tác phẩm này được sáng tác trong khoảng thời gian Phạm thái
mưu việc chống Tây Sơn thất bại, bị truy nã gay gắt nên phải nương nhờ cửa
Trang 29Phật Lúc này ông đã viết một số tờ phả khuyến để kêu gọi góp tiền, gạo sửa chữa cho chùa
Ở thể loại phú, Chiến tụng Tây Hồ phú là bài phú nổi tiếng của Phạm
Thái trong cuộc “bút chiến” với Nguyễn Huy Lƣợng đã tốn bao giấy mực của các nhà nghiên cứu, tích cực có, tiêu cực có Nhƣng tựu chung lại đây vẫn là một tác phẩm tiêu biểu với những giá trị về mặt nghệ thuật không thể phủ nhận, chứng tỏ sự tài hoa và phong cách viết đến đỉnh cao của Phạm Thái
Bên cạnh đó, ông còn sáng tác khá nhiều thơ, có thể kể ra nhƣ: Tự trào, Tự
thuật, Đề chùa Tiêu Sơn, Núi con voi, Non nước tức cảnh, Đề nhà Nghĩa Lư, Gửi cô Trường Quỳnh Như, Họa thơ Trường Quỳnh Như, Con lươn, Than nỗi chồng con, Họa thơ mừng tiệc Thanh Xuyên hầu,…
Nhìn chung, Phạm Thái khá đa dạng về mặt thể loại và nhiều tác phẩm đạt đến đỉnh cao của giai đoạn văn học cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX
Trang 301.2 Hiện thực xã hội đương thời trong sáng tác Phạm Thái
1.2.1 Hình ảnh xã hội thời tao loạn và cuộc sống của người dân
Thế giới lí tưởng của Phạm Thái, trước tiên phải là mộng về cựu triều (Lê triều) Nói mộng vì thời điểm sống của ông 1777 - 1813, là khi những ba động của lịch sử đang đi vào quỹ đạo khác, mà mỗi một “vẫy vùng” có nguy
cơ trở nên bi đát Nhưng “giấc mộng phù Lê” với Phạm là cả một nghĩa cử sống còn (lí tưởng trung quân) Thực ra, trong thời gian từ thế kỉ XVI đến XVIII, thể chế chính trị Việt đi vào danh nghĩa kì lạ bậc nhất, là một thực thể
“lưỡng đầu chế”, nghĩa là từ rất sớm, từ 1527, nó đã không còn “chính danh” nữa (nói theo Trần Ngọc Vương) Hậu bán thế kỷ XVIII là một trong những giai đoạn phức tạp nhất của lịch sử Việt Nam Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, biến
cố tàn Lê, mạt Trịnh, sự phục hồi của nhà Nguyễn, các biến chuyển liên tiếp xảy ra chỉ trong một thời gian ngắn Những nhà nho như Phạm Thái phân vân lựa chọn trước vận mệnh quá khắc nghiệt của lịch sử Do đó, những gì ông thể hiện trong văn chương góp phần thể hiện tâm thức của ông trước hiện thực xã hội Nhưng trong thơ văn Phạm Thái đó là hiện thực gì? Nó có phần khác với những gì mà lịch sử trước đó đã ghi nhận và trong thơ văn của các tác gia đương thời?
Phạm Thái cũng đã nhận thức được thời khắc phức tạp đó: “Mã đầu
xẩy động can qua” (Sơ kính tân trang) Tất cả đã không còn ở trật tự bình
thường nữa mà đã “đổi dời” (Văn bia mộ Thanh Xuyên hầu), hay “Biến
dời…” (Sơ kính tân trang) Thời tao loạn còn được Phạm Thái xem là “vận truân chuyên” (Sơ kính tân trang), là “loạn thế”
Người loạn thế biết bao nhiêu cơ cận…
(Chiến tụng Tây Hồ phú)
Là sự thay vua đổi chủ:
Trang 31Người đến buổi quan hà về kẻ khác (Chiến tụng Tây Hồ phú)
Là sự xáo trộn:
Làm ra bãi bể nương dâu khéo là
(Sơ kính tân trang)
Đó là sự ý thức đầy cay đắng và xót xa của Phạm Thái trước hiện thực xã hội đương thời, về người cầm quyền, kẻ thống trị đã không còn là vương triều phong kiến mà cả đời cha ông phụng sự và cả cuộc đời ông theo đuổi nữa Về đời sống, mọi sinh hoạt cũng đã bị đảo lộn trong buổi biến thiên Có thể thấy tiếng thở dài trước thời cuộc của người chí sĩ, có chút nào đó bất lực Và thực
tế đã chứng tỏ, ông đã loay hoay nhằm thay đổi thực tại này nhưng cuối cùng mọi giấc mơ, hoài bão cũng đã vỡ tan
Chính cuộc đời Phạm Thái cũng đã trải qua những sự mất mát, chia lìa
do chiến tranh, loạn lạc gây nên Đầu tiên là cái chết của cha ông đã gây một
cú sốc tinh thần quá lớn Cả gia đình ông chia lìa, tan nát Trong Sơ kính tân
trang, Phạm Kim phải xa quê hương, xa gia đình Hai gia đình Trương Công,
Phạm Công phải ly tán Phạm Kim từ một chàng công tử quý tộc, con nhà
“danh gia vọng tộc” có cha làm quan to trong triều Điều đầu tiên là niềm tự hào về gia thế, xuất thân mình không thể không có:
Nền trâm hốt, nếp hào hoa dõi thường
(Sơ kính tân trang)
Con người ấy cũng thêu dệt cho mình nhiều ước mơ hoài bão được phụng sự triều đình Nhưng nay trở thành con người đầy mặc cảm:
Và người hoàn tố mà mình lũ lam
Trang 32(Sơ kính tân trang)
Không chỉ thể hiện ở những nỗi đau của cá nhân trước sự biến thiên mà ông còn khái quát cả thực trạng xã hội Thời tao loạn trong thơ Phạm Thái được nhìn trong tương quan giữa cuộc sống thời hiện tại và quá khứ, giữa xã hội cũ và xã hội mới Đó là cái nhìn từ ngày hôm nay ngoái lại quá khứ đầy hoài niệm, xót xa, cay đắng Nó còn là sự đối lập giữa hai tác gia cùng thời là Nguyễn Huy Lượng và Phạm Thái
Nguyễn Quang Toản sau thất bại ở Phú Xuân, dời ra đóng đô mới ở Thăng Long, có tổ chức một lễ tế giao ở một địa điểm gần hồ Tây, Nguyễn
Huy Lượng được giao làm bài phú Tụng Tây hồ để đọc trong dịp này, nội
dung ca ngợi cảnh trí hồ Tây nói riêng, Thăng Long nói chung, luôn thể ca ngợi chính sự đương thời Bài phú xây dựng một bức tranh toàn cảnh về hồ Tây - một góc Thăng Long - được dựng lên qua con mắt của Nguyễn Huy Lượng:
Sắc rờn rờn nhuộm thức lam xanh, ngỡ động
Hình lượn lượn uốn vòng câu bạc, tưởng vầng
ngân rơi xuống mảnh nhò nhò (nho nhỏ)
Dư nghìn mẫu nước trời lẫn sắc, Trải bốn bên hoa cỏ chiều mùa
Trang 33bóng trong từ lũ cá đàn cò
Những bức tranh đầy màu sắc tươi tắn miêu tả cảnh trí mây hồ, sông nước nơi đây Nhưng hồ Tây không những đẹp mà còn mang trong mình trầm tích văn hóa với những di tích anh hùng, những nét phong tục, tập quán văn hóa đẹp đẽ, với những đền, chùa, miếu mạo Từ cái tên ấy mà gợi ra trong lòng người biết bao hoài niệm xen lẫn niềm tự hào sâu xa:
Đền Mục Lang hương lửa chẳng rời, tay lưới
phép còn ghi công bắt hổ;
Quán Trấn Vũ nắng mưa nào chuyển, lưỡi gươm
thiêng còn để tích giam rùa
Kể bên nọ quán Thiên Niên lớp lớp;
Cách ngàn kia ghềnh Vạn Bảo nhấp nhô
Tòa Kim Liên sóng nổi mùi hương, chùa Trấn
Quốc tưởng in vùng Tĩnh phạn;
Hàng cổ thụ gió rung bóng lục, tràng Phụng Thiên nhận sẵn thú Nghi, Vu
(Tụng Tây Hồ phú)
Ở nơi đây có không khí, âm vang, hoạt động; nói chung là có tất cả bộ mặt của một xã hội đang độ phát triển, cái xã hội mà có lẽ những chính sách kinh tế của Tây Sơn đã đem lại làm cho những lò đúc đồng lóe lửa, lò gạch tuôn khói; làm tăng thêm vẻ phồn thịnh của các nghề nghiệp cổ xưa như dệt gấm, ươm tơ, làm giấy; cũng như làm rộn thêm cái khung cảnh nườm nượp của những đoàn thuyền buôn ra vào bến Nhị Hà Một cuộc sống yên bình hiện lên từ cái ấn tượng vắng lặng của chùa Bà Đanh đến cái tấp nập của một bến sông chật kín thuyền bè; từ một tiếng chim “chích chích”, tiếng gà “o o”, tiếng chày Yên Thái nện “trong sương chểnh choảng”, đến một ánh lửa lò,
Trang 34một mùi hương, cho đến tiếng ca trong trẻo của các chú mục đồng “áo tơi lớp lớp trong mưa” Tất cả đã tái hiện lại một cuộc sống yêm đềm, bình yên, no
đủ của những người dân chốn thị thành Đó còn là nếp sống sinh hoạt rất đặc biệt, mang đậm những dấu ấn văn hóa, không nơi nào có được
Dấu Bố Cái rêu in nền phủ;
Cảnh Bà Đanh hoa khép cửa chùa Trông mơ màng đường đỉnh Thứu nơi kia, vài
tổ thước cuối làng kêu chích chích;
Nghe phảng phất ngỡ động Đào mái nọ, mấy
tiếng gà trong trại gáy o o
Lò Thạch Khối khói tuôn nghi ngút;
Ghềnh Nhật Chiêu sóng giật ỳ ồ”
Nguyễn Hữu Lượng không tiếc lời để tả những thay đổi tốt đẹp lớn lao
mà sự có mặt của triều Tây Sơn đã mang tới cho cảnh Tây Hồ:
“Tới Mậu Thân (1788) từ rỡ vẻ tường vân, sông núi khắp nhờ công đãng địch
Qua Canh Tuất (1790) lại tưới cơn thời vũ, cỏ cây đều gội đức triêm nhu Vũng trì chiểu nước dần dần lặng
Nơi đình đài hoa phới phới đua
Chốn bảy cây còn mấy gốc lăng vân, chẳng tùng bách cũng khoe hình thương lão
Nơi một bến đã đông đoàn hý thủy, tới uyên ương đều thỏa tính trầm phù
Vẻ hoa thạch châu thêu gấm dệt
Tiếng trùng cầm ngọc gõ vàng khua”
Trang 35Ông cũng không quên ca ngợi, một cách trực tiếp, ơn đức của nhà Tây Sơn, và đặc biệt là ông nhấn mạnh vào phẩm chất khoan dung, sự độ lượng của tân triều trước những kẻ bất hợp tác với chính quyền:
“Bãi cỏ non, trâu thả ngựa buông, nội Chu đã lắm người ca ngợi
Làn nước phẳng, kình trầm ngạc lặn, ao Hoàng nào mấy trẻ reo hò
Mặt đất đùn này thóc này rau, dầu lòng Cô Trúc
Làn nước chảy nọ dòng nọ bến, mặc chí Sào Do”
Trái lại, trong mắt Phạm Thái, sự có mặt của nhà Tây Sơn mang đến một kết quả khác hẳn Và bức tranh mà ông phác ra đã không phải miêu tả cảnh trí Tây Hồ đẹp thế nào mà nó là sự đối lập khủng khiếp, đầy sự tang thương:
“Quỷ dạ xoa quấy Bụt xuống chi đây, người bách nghệ đến đâu đều khổ não
Thần hạn bạt nát ai ra đấy tá, kẻ tam nông mong chẳng được tô nhu
Cơn binh hỏa trải mấy tao dời đổi
Buổi phong trần thêm mấy dịp tranh đua
Lớp tang thương rơi rụng tựa hoa tàn, ngẫm thiên tạo cũng vui thay cảnh thú Cuộc Nam Bắc được chăng dường chớp giật, nghĩ thời cơ thêm ngán nỗi khuông phù”
Nếu Nguyễn Huy Lượng bảo rằng dưới triều Tây Sơn thiên hạ đã yên, thì Phạm Thái lại chỉ ra những con sóng ngầm đang chực trồi lên cuốn phăng tất cả cơ đồ mà Nguyễn Huệ một tay gây dựng:
“Đông châu mấy kẻ múa gươm trung, buồm cần vương quất ngược ngọn nam
phong, thù khấu tặc chí còn chưa thỏa
Trang 36Bắc khổn những người đem việc nghĩa, cờ chính khí phất tàn lò hạ hỏa, nợ quân vương lòng chẳng ứng phu”
Phạm Thái không chỉ dừng lại để nói về một quy mô nhỏ hẹp như hồ
Tây mà ông dụng ý nói cả xã hội mới, tất cả đều: “Tan tành phong cảnh, Nát
bét quy mô”
Những dấu tích văn hóa nay không còn nữa mà thay bằng:
“Lưới Mục lang âu nát mất cả diềng…
Gươm Trấn Võ chỉ còn trơ những sống”
Đến ngay cả những tòa tháp thiêng cũng đều bị phát nát hết cả:
“Tòa thạch tháp đã tan bình xá lị
Đống thổ đôi đà nát dấu linh phù”
Ông bàn về vận mệnh của nhà Tây Sơn:
“Thuở bán thiên dồn đến lại thêm phiền, Canh Thân ấy nghĩ còn bền tựa đá
Quẻ lục hợp bói ra thì cũng phải, Nhâm Tuất kia âu hẳn nát ra tro”
Có thể nói, đây là hai cái nhìn, hai lập trường đối nhau Không chỉ đích danh triều đại Tây Sơn, nhưng rõ ràng ở đây ông Phạm Thái không chỉ hoài nghi mà còn thể hiện một thái độ rõ ràng với xã hội triều đại Tây Sơn với
những từ ngữ “Quỷ dạ xoa”, “Thần hạn bạt”
Đứng trước tình cảnh thời thế thay đổi như vậy, lòng người không khỏi:
“Nghĩ thời cơ thêm ám ảnh thay”
“Ngẫm thế sự mới càng ngao ngán nhẽ”
“Khóc khí vận tối căm”
(Chiến tụng Tây Hồ phú)
Trang 37Vậy tại sao lại có hai quan điểm khác hẳn nhau đến mức đối lập về cùng một đối tượng, của hai tác giả đương thời Có phải tất cả là ở nhãn quan chính trị, một người đi theo Tây Sơn, còn một người thì ngược lại phản đối cực lực triều đình Tây Sơn đến mức “phản động” Thạc sĩ Trần Văn Đúng
trong luận văn Đóng góp của Phạm Thái trong văn học Việt Nam giai đoạn
nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa cuối thế kỷ XIX cho rằng: “Vì xuất thân trong một
gia đình thuộc bề tôi trung tính của vua Lê chúa Trịnh nên góc nhìn của Phạm
Thái đối với Tây Sơn có phần lệch lạc, bôi đen” [13, tr 64] Hay trong bài nghiên cứu “Thưởng thức danh tác Tụng Tây Hồ Phú – Nguyễn Huy Lượng,
thạc sĩ Phùng Hoài Ngọc có viết: “Nếu chúng ta vận dụng quan điểm lịch sử
cụ thể thì có thể khẳng định được “sự đúng sai của tiền nhân” chứ không đến nỗi “ba phải” về quan điểm lịch sử Phong trào Tây Sơn đã là một trang sử hào hùng sáng chói của dân tộc cuối thế kỷ XIX, với những thành tựu đối nội, đối ngoại rõ ràng, vậy chúng ta còn gì băn khoăn về thái độ của Nguyễn Huy Lượng” [34]
Bên cạnh đó, GS Nguyễn Huệ Chi cũng đưa ra một tác giả cùng thời với Nguyễn Huy Lượng với cách nhìn tương tự “Niềm sung sướng buột thốt
ra một cách hồn nhiên, khiến ta liên tưởng tới bài thơ Long thành quang phục
kỷ thực của một danh sĩ khác là Ngô Ngọc Du, sáng tác ngay trong những
ngày lịch sử oanh liệt đó của Thăng Long, cũng với niềm xúc động hồn nhiên như thế:
Mãnh thành dân chúng câu hoan nhan,
Ma kiến bả tý quần tương ngữ:
Cố đô hoàn thị ngã hà san
(Đầy thành già trẻ mặt như hoa, Chen vai khoác cánh cùng nhau nói:
Trang 38Kinh đô vẫn thuộc núi sông ta!)
Chỗ thống nhất quan trọng giữa Nguyễn Huy Lượng và Ngô Ngọc Du, theo chúng tôi, chính là cách nhìn nhận của họ đối với cái giá trị của Thăng Long
mà chiến thắng Tây Sơn mang lại” [7, tr 491-420]
Và cũng theo Giáo sư, chỉ cần đọc có thế thôi, dù người không tinh ý, cũng phải thoáng một mối ngờ vực: không hiểu những điều Phạm Thái nói thật giả đến mức nào? Nhưng rồi càng đọc thêm nữa thì từ nghi ngờ, một cảm giác sẽ trở thành khẳng định: họ Phạm thật ra không hề đếm xỉa gì đến một Thăng Long đang tồn tại trong thực tế Mượn đề tài Thăng Long của Nguyễn Huy Lượng, Phạm chỉ nhằm tạo nên một “bức ảnh trái” vốn chỉ có trong tâm trạng bực dọc của mình Tuy nhiên, không thể bỏ qua được một sai lầm có thể nói là nghiêm trọng nhất ở bài chiến phú; đó là thái độ của tác giả trước vấn
đề xâm lăng và chống xâm lăng Quá uất ức với Tây Sơn làm cho tầng lớp mình mất địa vị thống trị, Phạm Thái đâm thù ghét cả chiến công của Quang Trung đánh tan hai mươi vạn quân Tôn Sĩ Nghị, cũng thù ghét luôn cả những cuộc kháng chiến chống xâm lăng trong lịch sử
Cũng như ở phần đầu, người viết đã bày tỏ quan điểm cần nhìn nhận lại thái độ chính trị của Phạm Thái với chính quyền Tây Sơn Thực ra những điều Phạm Thái viết không phải không có cơ sở Nó chỉ là góc nhìn của tác giả, và phải khẳng định rằng nó hoàn toàn có thực Thực tế, sử sách đã chép lại theo
bức thư của một giáo sĩ Le Roy 6-10- 1786: quân lính Tây Sơn trong một trận
đánh ở Thanh Hóa trên đường về nhà mà “cướp đoạt hai bên bờ sông, bắt cóc đàn bà, con nít, làm nhiều điều nhơ uế” [ 49, tr.134] Thành phần đội quân Tây Sơn bao gồm nhiều lực lượng nên không tránh khỏi những hành động vô
tổ chức, vô kỷ luật Thêm vào đó, Phạm Thái cũng có viết về những giá trị linh thiêng bị Tây Sơn phá hủy:
Trang 39Tòa thạch tháp đã tan bình xá lị Đống thổ đôi đà nát dấu linh phù”
(Chiến tụng Tây Hồ phú)
Thực tế đã xảy ra điều này, khi mà để huy động cho các trận đánh, Quang Trung đã bắt quân lính lấy tượng thần Phật ra đúc súng đại bác, đúc
nồi Và cả khi Nguyễn Nhạc rút về Huế thì sách Hoàng Lê nhất thống chí
mượn lời Nguyễn Hữu Chỉnh tâu với Chiêu Thống mà nói rõ mối biến loạn này:
“Vua Tây từ khi kéo về Nam thì kéo luôn quốc thành, còn Thượng công thì ở Phú Xuân, nghỉ quân mua vui, hoặc ban bố mệnh lệnh, sửa sang thành lũy Bao nhiêu quân tướng, khí giới, các vật quý báu lấy được ở Bắc đem về” [49, tr.130]
Vậy thì đúng như Phạm Thái đã miêu tả lại, nhiều giá trị tinh thần của dân tộc cũng bị triều đình Tây Sơn hủy hoại Cho nên không thể nói, tất cả những gì Phạm Thái viết ra đều là bịa đặt do một nhãn quan chính trị hạn chế Ông không chịu thừa nhận những điều mà Tây Sơn mang lại, thậm chí còn có thái độ khinh miệt và căm giận Tuy nhiên có thể Phạm Thái đã đưa lại một góc nhìn khác để làm toàn diện hơn sự phản ánh của lịch sử mà thôi Do đó không thể phủ nhận hoàn toàn những gì mà ông ghi chép lại chỉ vì định kiến
xã hội của ông với Tây Sơn hay là lên án cố tình lấy xã hội cũ để nói về thời đại mới
Trong thơ văn Phạm Thái có tâm sự chua chát của một người chiến bại
đi về nẻo cũ để tìm lại:
Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo (Thăng Long thành hoài cổ - Bà Huyện Thanh Quan)
Trang 40Tìm lại cảnh sinh hoạt vui tươi ngày nào:
Thưởng nghiên trà cho cá lội hạc bay
(Chiến tụng Tây Hồ phú)
Nhưng khi trở lại thực tại, con người ấy mang bao nỗi uất hận, chán chường trước thực tại:
Dầu Tiên cũng khó lòng gây hóa
Còn tự huyễn hoặc sự chiến bại của mình là do “ý trời”, chỉ là cơn tam qua:
Nào hay trời hẹp Nam thiên
(Văn bia mộ Thanh Xuyên hầu)
Tiếng nói ấy đầy hoang mang, thất vọng của những phần tử nho sĩ thất thế trước sự chuyển biến mạnh mẽ, khốc liệt vừa qua Thơ văn Phạm Thái phản ánh được một xã hội đầy biến động, trong đó đề cập được nỗi thống khổ của con người trong chiến tranh loạn lạc Đó là một cách nhìn khác hơn, mới hơn về lịch sử Tuy nhiên, cũng cần khẳng định rằng nó mang nhiều màu sắc chủ quan do những ấn tượng, nhận thức về thời thế của một nhà nho thất thế
Dù thế nào, chúng ta cũng phải ghi nhận những đóng góp trong sự phản ánh của Phạm Thái về bức tranh xã hội đương thời Đó là một khủng hoảng kịch liệt nhưng chưa có lối thoát của chế độ xã hội trong đó vận mạng của tất cả các tầng lớp đều phải trải qua một cơn thử lửa ghê gớm, trong đó có cả nước mắt của những tâm hồn đầy đau đớn, hãi hùng trước thực tại như Phạm Thái