1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) quan hệ hợp tác giữa CHDCND triều tiên và hàn quốc thời kỳ sau chiến tranh lạnh

94 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan Hệ Hợp Tác Giữa CHDCND Triều Tiên Và Hàn Quốc Thời Kỳ Sau Chiến Tranh Lạnh
Tác giả Nguyễn Thị Nga
Người hướng dẫn TS. Trần Thị Nhung
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Quan hệ quốc tế
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Phân tích những thuận lợi và khó khăn trong quan hệ giữa hai miền từ đó đánh giá triển vọng hợp tác giữa hai miền về các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội cũng như đánh giá k

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ NGA

QUAN HỆ HỢP TÁC GIỮA CHDCND TRIỀU TIÊN

VÀ HÀN QUỐC THỜI KỲ SAU CHIẾN TRANH LẠNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Quan hệ quốc tế

HÀ NỘI – 2011

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ NGA

QUAN HỆ HỢP TÁC GIỮA CHDCND TRIỀU TIÊN

VÀ HÀN QUỐC THỜI KỲ SAU CHIẾN TRANH LẠNH

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quan hệ quốc tế

Mã số: 60.31.40

Người hướng dẫn khoa khoa học: TS TRẦN THỊ NHUNG

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG 3

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 4

MỞ ĐẦU 6

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH HAI MIỀN TRIỀU TIÊN SAU CHIẾN TRANH LẠNH 11

1.1 Tình hình quốc tế và khu vực sau Chiến tranh Lạnh 11

1.2 Chính sách của hai miền Triều Tiên sau Chiến tranh Lạnh 15

1.2.1 Chính sách của Triều Tiên đối với Hàn Quốc 15

1.2.2 Chính sách của Hàn Quốc đối với Triều Tiên 20

Tiểu kết 28

CHƯƠNG 2: QUAN HỆ HỢP TÁC GIỮA TRIỀU TIÊN VÀ HÀN QUỐC TỪ SAU CHIẾN TRANH LẠNH 29

2.1 Quan hệ chính trị ngoại giao 29

2.1.1 Thời kỳ 1988 – 1998 29

2.1.2 Thời kỳ 1998 – 2003 30

2.1.3 Thời kỳ 2003-2008 35

2.1.4 Thời kỳ 2008 đến nay 37

2.2 Quan hệ hợp tác phát triển kinh tế 43

2.2.1 Quan hệ thương mại 43

2.2.2 Sự phát triển của Tổ hợp công nghiệp Kaeseong 47

2.2.3 Dự án khu du lịch núi Kim Cương 53

2.2.4 Dự án nối lại tuyến đường sắt Nam – Bắc và đường bộ 55

2.3 Quan hệ hợp tác văn hóa, xã hội 57

2.3.1 Hoạt động của Hội chữ thập đỏ 58

2.3.2 Hoạt động thi đấu thể thao 59

2.3.3 Trợ giúp lương thực 60

2.3.4 Đoàn tụ các gia đình ly tán do chiến tranh 64

Tiểu kết 68

CHƯƠNG 3: TRIỂN VỌNG QUAN HỆ HỢP TÁC GIỮA HAI MIỀN TRIỀU TIÊN 69

Trang 4

3.1 Đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong quan hệ giữa hai

miền Triều Tiên 69

3.1.1 Những thuận lợi 69

3.1.2 Những khó khăn 70

3.2 Triển vọng hợp tác hai bên trên một số lĩnh vực chủ yếu 73

3.2.1 Lĩnh vực chính trị - ngoại giao 73

3.2.2 Lĩnh vực kinh tế 76

3.2.3 Lĩnh vực văn hóa – xã hội 78

3.3 Một số kiến nghị 79

Tiểu kết 84

KẾT LUẬN 86

TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Trang

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Hiệp ước Chống tên lửa đạn đạo

Diễn đàn khu vực ASEAN

Khu phi quân sự

Liên minh Châu Âu

Hàn Quốc Republic of Korea

Đại Hàn dân quốc

Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế

Tổ hợp công nghiệp Kaeseong

Hợp chủng quốc Hoa Kỳ

Nước công nghiệp mới

Đường giới tuyến phía Bắc

Hiệp ước cấm phổ biến vũ khí hạt nhân

Hệ thống phòng thủ tên lửa chiến trường

Triều Tiên People Democratic Republic of Korea

Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên

Trang 7

UNICEF United Nations Children's Fund

Quỹ Nhi đồng Liên hợp Quốc

Chương trình lương thực thế giới

Xã hội chủ nghĩa

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tình hình bán đảo Triều Tiên được nhân dân Triều Tiên cũng như cả thế giới quan tâm, theo dõi Đây là điểm hội tụ, đan xen và tranh giành ảnh hưởng cũng như lợi ích của các nước lớn Sau chiến tranh thế giới thứ hai, bán đảo Triều Tiên bị chia cắt làm hai miền, dẫn đến sự hình thành hai nhà nước có chế độ chính trị khác nhau Miền Bắc đi theo chế độ cộng sản và miền Nam đi theo chế độ dân chủ phương Tây, gây nên sự xung đột về hệ tư tưởng, dẫn đến cuộc chiến tranh năm 1950 và chỉ kết thúc bằng một Hiệp định ngừng bắn năm 1953 Sau chiến tranh lạnh bán đảo Triều Tiên luôn ở trong tình trạng căng thẳng, xung đột, có nguy cơ tái diễn chiến tranh

Thời gian qua, với sự nỗ lực của cả hai bên, quan hệ giữa hai miền đã được cải thiện nhờ những chính sách được đưa ra trong hai cuộc họp thượng đỉnh liên Triều năm 2000 và năm 2007 Thông qua hợp tác với nhau trên các lĩnh vực kinh tế, an ninh chính trị và văn hoá xã hội, hai miền Triều Tiên đã thúc đẩy hợp tác phát triển Tuy nhiên những căng thẳng trong mối quan hệ của hai nước vẫn có những sóng gió và luôn là mối quan tâm của rất nhiều người

Là một nước nằm trong khu vực Đông Á, Việt Nam chịu tác động từ chính quá trình vận động của các mối quan hệ trong khu vực Để giúp Việt Nam mở rộng quan hệ với hai nước Hàn Quốc và Triều Tiên, nâng cao vai trò

và vị thế của mình trong khu vực và trên thế giới Đề tài: “Quan hệ hợp tác

giữa Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên và Hàn Quốc thời kỳ sau Chiến tranh Lạnh” là hết sức cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu

sắc Đề tài cố gắng làm rõ bức tranh toàn cảnh về quan hệ hợp tác giữa hai miền Triều Tiên từ sau Chiến Tranh Lạnh đến nay thông qua các lĩnh vực hợp

Trang 9

tác cơ bản, từ đó đánh giá hiệu quả, những thuận lợi, khó khăn, triển vọng và đưa ra những khuyến nghị để phát triển quan hệ Việt Nam với hai miền Triều Tiên, nâng cao vai trò và vị thế của mình trong khu vực và trên thế giới, thực hiện cơ chế hợp tác toàn diện nhằm phát huy cao độ những lợi thế vốn có của đất nước và đẩy nhanh quá trình hội nhập khu vực và quốc tế

2 Tình hình nghiên cứu

Trên thực tế, trong và ngoài nước đã có nhiều bài báo, công trình viết

về tình hình bán đảo Triều Tiên và đề cập đến ảnh hưởng của quan hệ giữa hai miền đến vấn đề an ninh khu vực Đông Bắc Á như cuốn sách “Inter-Korean Relations: Problems and Prospects” và cuốn “North Korean Foreign Relations in the post-Cold War Era” của Samuel S.Kim, hay cuốn “The future of US-Korea-Japan Relations: Balancing Values and Interests” của Tae-Hyo Kim & Brad Glosserman.v v Tuy nhiên, những công trình này hầu như chỉ dừng lại ở góc độ miêu tả tình hình hơn là sự nghiên cứu một cách khách quan, nhìn nhận tổng thể vấn đề về tác động của tình hình bán đảo Triều Tiên đến an ninh khu vực Đông Bắc Á Hơn thế nữa, khi phân tích, người nghiên cứu thường dựa trên lợi ích của nước mình để đánh giá, nhìn nhận vấn đề nên khó có thể nói phù hợp với lợi ích của Việt Nam

Ở trong nước, các hãng thông tấn báo chí, các tạp chí của Viện nghiên cứu Đông Bắc Á, Viện Quan hệ quốc tế của Bộ Ngoại giao đã đăng tải nhiều bài viết về tình hình bán đảo Triều Triên và an ninh khu vực Đông Bắc Á Ví

dụ bài “ Bán đảo Triều Tiên trong quan hệ Đông Bắc Á sau chiến tranh lạnh” của tác giả Nguyễn Văn Lịch đăng trên tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản, số 3-

2000, Bài “Tiến tới cộng đồng Đông Á” của Trần Bá Khoa (tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á số 1-2007), hay cuốn sách “ Về một số vấn đề sau thống nhất của bán đảo Triều Tiên Góc nhìn từ Việt Nam” do tác giả Ngô Xuân Bình và Phạm Quý Long chủ biên.v.v Tuy nhiên, mỗi công trình chỉ đề cập

Trang 10

đến một vấn đề nhỏ, lẻ hay một vài khía cạnh nhất định, chưa có công trình nào trực tiếp bàn luận về quan hệ hợp tác hai miền Triều Tiên một cách sâu sắc và toàn diện Các nghiên cứu trước đây thường tập trung nghiên cứu về Hàn Quốc, đề cập đến tình hình quan hệ kinh tế, an ninh hai miền nhưng mới chỉ dừng lại ở mức miêu tả thực trạng chung chung, chưa đi vào chi tiết, cụ thể

Đề tài “Quan hệ hợp tác giữa Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên

và Hàn Quốc thời kỳ sau Chiến tranh Lạnh” đề cập một cách toàn diện quan

hệ giữa hai miền Triều Tiên trên góc độ, quan điểm của người Việt Nam, phục vụ mục đích, lợi ích của Việt Nam và vì lợi ích hoà bình của cả khu vực

- Phân tích và tổng hợp tình hình quan hệ hợp tác giữa hai miền Triều Tiên trên các mặt chính trị - ngoại giao, kinh tế, văn hóa xã hội theo tiến trình lịch sử cụ thể

- Phân tích những thuận lợi và khó khăn trong quan hệ giữa hai miền từ

đó đánh giá triển vọng hợp tác giữa hai miền về các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội cũng như đánh giá khả năng thống nhất thành một quốc gia như trước đây, đồng thời đưa ra một số khuyến nghị để phát triển quan hệ của Việt Nam với Hàn Quốc và Triều Tiên

Trang 11

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Quan hệ hợp tác giữa Triều Tiên và Hàn Quốc

thông qua các lĩnh vực: chính trị ngoại giao qua các thời kỳ: 1988-1998, 2000-2003, 2003-2008, 2008-đến nay; lĩnh vực kinh tế: Quan hệ thương mại,

sự phát triển của Tổ hợp kinh tế Kaeseong, Dự án khu du lịch núi Kim Cương, Dự án nối lại tuyến đường sắt Nam – Bắc và đường bộ; lĩnh vực văn hóa - xã hội: Hoạt động của Hội chữ thập đỏ, hoạt động thi đấu thể thao, trợ giúp lương thực và đoàn tụ các gia đình ly tán

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung vào phân tích khái quát tình

hình hai miền Triều Tiên; Tình hình hợp tác giữa hai bên thông qua các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội; Đánh giá thuận lợi và khó khăn của sự hợp tác này

Về phạm vi thời gian, luận văn tập trung nghiên cứu giai đoạn từ sau Chiến tranh Lạnh đến nay, khi quan hệ hai bên được cải thiện đáng kể, bắt đầu có những thỏa thuận về hòa giải, đặc biệt là việc hai miền ký “Hiệp định

cơ bản về hòa giải, không xâm lược, trao đổi và hợp tác” năm 1991, đánh dấu mốc chuyển biến mới trong quan hệ hai miền sau nhiều thập kỷ đối đầu

5 Phương pháp nghiên cứu

Ngoài các phương pháp cơ bản và mang tính truyền thống như duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và nghiên cứu lịch sử, luận văn còn áp dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, đánh giá và dự báo để làm sáng tỏ các vấn đề cần được nghiên cứu trong phạm vi đề tài

6 Dự kiến những đóng góp mới của luận văn

- Đưa ra những phân tích, đánh giá về tình hình quốc tế và khu vực; phân tích chính sách của Hàn Quốc đối với Triều Tiên và ngược lại

Trang 12

- Phân tích, đánh giá một cách hệ thống về quan hệ hợp tác Hàn Quốc – Triều Tiên và đề xuất một số ý kiến để phát triển quan hệ của Việt Nam với Hàn Quốc và Triều Tiên, nâng cao vai trò và vị thế của mình trong khu vực và trên thế giới

- Cung cấp, bổ sung các thông tin và dữ liệu cần thiết về quan hệ hợp tác Hàn Quốc – Triều Tiên cho các đối tượng quan tâm đến vấn đề này ở Việt

Nam hiện nay

7 Kết cấu luận văn

Ngoài các phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được sắp xếp thành 3 chương

Chương 1: Khái quát tình hình hai miền Triều Tiên sau Chiến tranh Lạnh Chương này sẽ tập trung phân tích khái quát tình hình quốc tế và khu

vực và chính sách của hai nước đối với nhau

Chương 2: Quan hệ hợp tác giữa Hàn Quốc – Triều Tiên từ sau Chiến tranh Lạnh Tổng hợp và phân tích tình hình quan hệ hợp tác Hàn Quốc –

Triều Tiên từ sau Chiến tranh Lạnh đến nay thông qua các lĩnh vực hợp tác chính trị ngoại giao, kinh tế và văn hóa xã hôi

Chương 3: Triển vọng quan hệ hợp tác giữa hai miền Triều Tiên Đánh

giá những thuận lợi và khó khăn trong hợp tác, qua đó dự báo triển vọng hợp tác trên một số lĩnh vực và đưa ra những kiến nghị nhằm phát triển quan hệ của Việt Nam với Hàn Quốc và Triều Tiên trong thời gian tới

Trang 13

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH HAI MIỀN TRIỀU TIÊN SAU CHIẾN TRANH LẠNH 1.1 Tình hình quốc tế và khu vực sau Chiến tranh Lạnh

Chiến tranh Lạnh kết thúc kéo theo những biến chuyển sâu sắc của tình hình thế giới và khu vực kể từ đầu thập niên những năm 90 đến nay và đã có ảnh hưởng lớn đến mối quan hệ giữa Hàn Quốc và Triều Tiên

Thứ nhất, thế giới đang trong thời kỳ quá độ từ Trật tự cũ để tiến tới

một Trật tự mới với sự phát triển nhanh chóng theo hướng đa cực với sự trỗi dậy của một loạt các trung tâm quyền lực mới có ảnh hưởng lớn đến đời sống chính trị quốc tế Sau khi Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ, Mỹ đã trở thành siêu cường duy nhất với sức mạnh vượt trội, nhưng không còn giữ địa vị chi phối về mọi mặt như trước đây Trong khi đó, các trung tâm kinh tế quốc tế và các cường quốc khu vực như Nhật Bản, Tây Âu (EU), Trung Quốc, Nga đều đang cố gắng vươn lên tạo cho mình một vị thế

có lợi hơn để chia sẻ quyền lực chi phối đời sống chính trị quốc tế Có thể nói, bán đảo Triều Tiên, được biết đến như “Balkan của Châu Á”, là nơi tập trung, đan xen lợi ích của các nước lớn đã trở thành một khu vực cạnh tranh quyết liệt giữa các cường quốc này Vì vậy, khi tương quan lực lượng giữa các cường quốc thay đổi không tránh khỏi có ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình trên bán đảo Triều Tiên hay cụ thể là đến mối quan hệ hai nước Nếu như trước đây, cục diện trên bán đảo tương đối cân bằng và xoay quanh hai trục chính, một bên là Xô-Trung-Triều và bên kia là Mỹ-Nhật-Hàn, thì sau Chiến tranh Lạnh những dàn xếp an ninh đó đã mất dần ý nghĩa Liên Xô không còn, Nga và Trung Quốc chuyển hướng sang thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ với Hàn Quốc, trong khi Mỹ, Nhật Bản và các nước phương Tây vẫn tiếp tục

Trang 14

cô lập Triều Tiên Mối quan hệ giữa Hàn Quốc và Triều Tiên cũng đã thăng trầm lên xuống dưới ảnh hưởng của những thay đổi này

Thứ hai, sự kết thúc của cuộc Chiến tranh Lạnh đã tạo ra một xu thế

hòa bình, hợp tác và phát triển, nguy cơ chiến tranh thế giới bị đẩy lùi rõ rệt, góp phần thúc đẩy quan hệ giữa Hàn Quốc và Triều Tiên Mặc dù, hòa bình ở nhiều khu vực bị đe dọa, thậm chí ở nhiều nơi xung đột quân sự, nội chiến diễn ra ác liệt nhưng không khí hòa bình và hợp tác giữa các quốc gia khắp mọi nơi đã tác động không nhỏ đến mối quan hệ giữa Hàn Quốc và Triều Tiên Hòa vào xu thế chung, các nước trên thế giới đều điều chỉnh quan hệ với nhau theo chiều hướng xây dựng quan hệ bạn bè hữu nghị, giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp thông qua đối thoại, thỏa hiệp và tránh xung đột Các hoạt động trao đổi hợp tác giữa Hàn Quốc và Triều Tiên diễn ra nhiều hơn, góp phần đưa hai nước xích lại gần nhau để tiến tới thống nhất đất nước Tháng 6-2000, thế giới đã được chứng kiến Hội nghị thượng đỉnh đáng nhớ nhất trong lịch sử quan hệ hai bên từ trước đến nay Lần đầu tiên, hai nhà lãnh đạo cấp cao nhất của Hàn Quốc và Triều Tiên đã ngồi vào đối thoại trực tiếp,

mở ra một giai đoạn phát triển mới trong quan hệ giữa hai miền, giai đoạn cùng tồn tại hòa bình, đối thoại và hợp tác

Thứ ba, xu thế toàn cầu hóa kinh tế, lấy kinh tế làm trọng cũng có tác

động thúc đẩy quan hệ giữa Hàn Quốc và Triều Tiên Bài học của thời kỳ chiến tranh lạnh đã chứng tỏ phương pháp quan hệ quốc tế lấy đối đầu chính trị - quân sự là chủ yếu không còn phù hợp, phải chịu nhiều tổn thất hoặc thất bại như hai nước Mỹ - Xô Trong khi đó, phương thức lấy hợp tác và cạnh tranh về kinh tế - chính trị là chính lại thu được nhiều tiến bộ, kết quả như các nước Đức, Nhật và NIC Sự hưng thịnh hay suy vong của một quốc gia được quyết định bởi sức mạnh tổng hợp của quốc gia đó, mà chủ yếu là thực lực kinh tế và khoa học - kỹ thuật

Trang 15

Vì vậy, sau chiến tranh lạnh, tất cả các quốc gia đều đang ra sức điều chỉnh chiến lược phát triển và tập trung mọi sức lực vào ưu tiên phát triển kinh tế Trong thời điểm hiện nay, kinh tế trở thành trọng điểm trong quan hệ quốc tế Cạnh tranh sức mạnh tổng hợp quốc gia thay thế cho chạy đua vũ trang đã trở thành hình thức chủ yếu trong đọ sức giữa các cường quốc Các nước ngày càng nhận thức sâu sắc rằng, sức mạnh của mỗi quốc gia là một nền sản xuất phồn vinh, một nền tài chính lành mạnh và một nền công nghệ

có trình độ cao và đó mới là cơ sở để xây dựng sức mạnh thật sự của mỗi quốc gia Bước sang thập kỷ 90, thế giới đã chứng kiến một tốc độ đổi mới nhanh chóng công nghệ cùng với sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng về công nghệ thông tin làm “đảo lộn cả thế giới” Thế giới dần trở thành một thị trường chung bất kể sự khác biệt về thể chế chính trị và trình độ phát triển của mỗi quốc gia Sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, các khu vực theo đó ngày một tăng lên Trong bối cảnh như vậy, các quốc gia buộc phải tham gia hội nhập để tồn tại và phát triển Hàn Quốc và Triều Tiên cũng không ngoại lệ, đặc biệt là Triều Tiên Sau một thời gian dài đóng cửa, những năm gần đây, Triều Tiên đã bắt đầu tham gia và hội nhập với cộng đồng quốc

tế Ở trong nước, chính phủ đã đề ra những tư tưởng, chính sách mới, đồng thời thực hiện cải cách kinh tế, nâng cao mức sống người dân.v.v, còn về mặt đối ngoại, cũng đã chủ trương mở rộng và phát triển toàn diện quan hệ đối ngoại với tất cả các nước trên thế giới

Kể từ sau Chiến tranh Lạnh đến nay, cùng với những chuyển biến nhanh chóng trên thế giới, khu vực Đông Bắc Á nơi bán đảo Triều Tiên tồn tại cũng có nhiều thay đổi đáng kể, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển trong quan hệ giữa hai quốc gia trên bán đảo Mặc dù vẫn còn tại những bất

ổn tiềm tàng nhưng Đông Bắc Á cũng hòa chung vào dòng chảy hòa bình, ổn định và ưu tiên phát triển kinh tế

Trang 16

Sau sự kiện nước Mỹ bị tấn công ngày 11/9/2001, môi trường an ninh trở nên báp bênh, khó dự đoán khiến các cường quốc trong khu vực, bên cạnh việc tăng cường thiết lập các quan hệ đối tác, hợp tác chiến lược, bắt đầu cạnh tranh mở rộng ảnh hưởng trong khu vực và hiện đại hóa lực lượng quốc phòng Trong khi Mỹ rút khỏi Hiệp ước Chống tên lửa đạn đạo ABM và triển khai hệ thống phòng chống tên lửa gây ra làn sóng phản đối của các nước trong khu vực thì các cường quốc khác như Trung Quốc, cùng với việc mở rộng ảnh hưởng quốc tế và khu vực của mình thông qua các biện pháp kinh tế, cũng đồng thời không ngừng tái cơ cấu lực lượng không quân và hải quân của mình theo hướng hiện đại hóa và tinh nhuệ hơn Nga trong khi tập trung vào

ổn định kinh tế và chính trị cũng đang tìm cách xác lập vị thế của một cường quốc bằng cách cải cách, hiện đại hóa quân đội và cải thiện quan hệ với các nước trong khu vực Nhật Bản ngày càng coi trọng hiện đại hóa khả năng phòng thủ cvà coi đó là một trong những ưu tiên chiến lược và đang tìm cách trở thành “quốc gia bình thường” thông qua viện trợ quân sự cho cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ Có thể nói, những thay đổi trong môi trường an ninh khu vực đang tạo ra những tập hợp lực lượng mới khiến mối quan hệ Hàn – Triều ngày càng trở nên phức tạp do bị chi phối bởi sự tranh giành ảnh hưởng của các cường quốc lớn

Trong lĩnh vực kinh tế, hòa chung với xu thế tập trung ưu tiên phát triển kinh tế, bước sang thập niên 90, khu vực Đông Bắc Á nổi lên thành một trong những khu vực tập trung những nền kinh tế phát triển năng động trên thế giới Ngoài Nhật Bản là nền kinh tế đứng thứ hai thế giới, Trung Quốc và Hàn Quốc cũng đang nổi lên là những “con rồng”, “con hổ” kinh tế trong khu vực, trong đó đặc biệt là Trung Quốc, khi đó đang được coi là nền kinh tế lớn thứ tư trên thế giới với tốc độ tăng trưởng trong nhiều năm liền đạt mức cao nhất thế giới Mặc dù vào cuối thập niên 90, khu vực Đông Bắc Á lâm vào

Trang 17

cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ nghiêm trọng khiến cho tốc độ phát triển kinh tế bị ảnh hưởng đáng kể Tuy nhiên, tiềm năng còn rất mạnh của mình, khu vực Đông Bắc Á vẫn hiện đang là một trong những trung tâm kinh tế năng động, có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển của nền kinh tế thế giới Trào lưu phát triển kinh tế của khu vực đã có ảnh hưởng ít nhiều đến sự mở cửa hội nhập của Triều Tiên nhưng cũng tạo ra khoảng cách kinh tế ngày càng lớn giữa hai miền Trong khi Hàn Quốc trở thành một trong bốn “con rồng Châu Á” thì Triều Tiên vẫn đang trong tình trạng thiếu thốn và kém phát triển Điều này vô hình chung đã khiến quan hệ Hàn – Triều bị hạn chế phần nào trong lĩnh vực hợp tác kinh tế cũng như giao lưu văn hóa, xã hội

1.2 Chính sách của hai miền Triều Tiên sau Chiến tranh Lạnh

1.2.1 Chính sách của Triều Tiên đối với Hàn Quốc

Có thể thấy rằng kể từ sau khi hai nhà nước Triều Tiên và Hàn Quốc ra đời cho đến khi Chiến tranh lạnh kết thúc Triều Tiên thi hành một chính sách đối đầu, thù địch với Hàn Quốc Chưa bao giờ Bình Nhưỡng chấp nhận sự tồn tại của Seoul như một thể chế chính trị trên Bán đảo, cho dù trong những thập niên 1970-1980, phía Hàn Quốc đã có nhiều dấu hiệu tích cực đối với việc phát triển quan hệ với Triều Tiên

Chiến tranh lạnh kết thúc cũng là lúc hầu hết các nước trên thế giới đều

có sự điều chỉnh chính sách đối ngoại cho phù hợp với tình hình mới, nhưng Bình Nhưỡng hầu như không có thay đổi nào đáng kể Tuy nhiên,khi hai nước phe xã hội chủ nghĩa thân thiết nhất là Liên Xô và Trung Quốc đi đến bình thường hóa với Hàn Quốc đã khiến Triều Tiên phải thay đổi quan điểm và dần từng bước điều chỉnh chính sách đối ngoại, trong đó có chính sách đối với Seoul Năm vòng đàm phán lần lượt đã được tổ chức ở Seoul và Bình Nhưỡng trước khi Hiệp ước hòa giải, không xâm lược, giao lưu và hợp tác giữa hai miền được kí kết vào 13/12/1991 Khi đó, Thủ tướng Triều Tiên là

Trang 18

Yon Hyong-Muk đã gọi thỏa thuận này là “thành tựu giá trị nhất từng có giữa hai chính phủ Hàn Quốc và Triều Tiên”1 Và đây cũng là lần đầu tiên Bình Nhưỡng chính thức công nhận sự tồn tại của chính phủ Seoul Tuy nhiên, về

cơ bản, chính sách của Triều Tiên đối với Hàn Quốc vẫn không có nhiều thay đổi so với trước đây, mặc dù có bớt thù địch nhưng vẫn thận trọng và cảnh giác đối với mọi hành động của Seoul Chính sách đối ngoại của Triều Tiên lúc này là vẫn đóng cửa đối với quốc tế, trong khi ở trong nước thực hiện đường lối “quân sự trên hết”, quân sự hóa toàn bộ đời sống xã hội, bất chấp tình trạng kinh tế khó khăn của đất nước, luôn dành 30%/năm ngân sách để phát triển các vũ khí hiện đại, kể cả chương trình vũ khí hạt nhân, tên lửa, vũ khí sinh học, hóa học

Nhìn chung, đời sống chính trị ở Triều Tiên mang nặng màu sắc quân

sự, tất cả mọi quyền lực đều tập trung vào Hội đồng Quốc phòng do Kim Jong-il làm chủ tịch và nhà lãnh đạo này tiếp tục đóng cửa với bên ngoài, thực hiện mạnh mẽ và kiên quyết đường lối ưu tiên số một cho việc xây dựng lực lượng quân sự, bất chấp khủng hoảng kinh tế và tình trạng thiếu lương thực trầm trọng Với chính sách này, trong thập kỉ 1990, Triều Tiên đã gây ra hai cuộc khủng hoảng lớn trên bán đảo: khủng hoảng hạt nhân năm 1994 và khủng hoảng tên lửa năm 1998, khiến cho quan hệ Nam-Bắc khó có điều kiện phát triển

Vào cuối thập niên 1990, sau cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở Đông Á, Bình Nhưỡng bắt đầu có những dấu hiệu thay đổi về đường lối đối ngoại nói chung cũng như chính sách đối với Seoul nói riêng Cuối năm 1998, sau hơn 17 năm với 17 kì hội nghị Trung ương, cuối cùng, quá trình chuyển giao quyền lực cho Kim Jong-il đã hoàn thành Kim Jong-il được bầu làm Chủ tịch Hội đồng quốc phòng, cơ quan lãnh đạo quân sự cao cấp nhất và

Trang 19

chính thức nắm giữ toàn bộ quyền lãnh đạo cả về Đảng, Nhà nước và quân đội Lần đầu tiên, chính quyền Bình Nhưỡng thực hiện sửa đổi Hiến pháp, ghi nhận một số khái niệm kinh tế thị trường, cho mở rộng quyền sở hữu và nới rộng phạm vi sở hữu cá nhân; coi trọng tính kinh tế của hoạt động kinh doanh; mở rộng phạm vi hoạt động thương mại, khuyến khích thành lập nhiều loại hình xí nghiệp trong các đặc khu kinh tế.v.v

Trong đường lối đối ngoại với Hàn Quốc, Kim Jong-il nêu ra chính sách 5 điểm trong tác phẩm “Chúng ta hãy thống nhất nhà nước một cách độc lập và hòa bình thông qua đại đoàn kết toàn thể dân tộc” bao gồm: (1) Đại đoàn kết dân tộc phải triệt để dựa trên nguyên tắc độc lập dân tộc; (2) Toàn thể dân tộc phải đoàn kết dưới ngọn cờ của chủ nghĩa yêu nước, ngọn cờ tái thống nhất dân tộc; (3) Miền Bắc và miền Nam phải cải thiện quan hệ với nhau; (4) Chúng ta phải bác bỏ sự thống trị và can thiệp của các lực lượng bên ngoài; (5) Tất cả người Triều Tiên ở miền Bắc, miền Nam và ở bên ngoài cần thăm viếng lẫn nhau, tổ chức tiếp xúc, xúc tiến đối thoại và tăng cường đoàn kết Điều gì đã khiến chính quyền Bình Nhưỡng vốn rất bảo thủ và thù địch, không muốn tiếp xúc với bên ngoài lại có những thay đổi đáng kể như vậy

Có thể thấy, lý do hàng đầu ở đây chính là vấn đề kinh tế Ở Triều Tiên, trong khi khoảng cách về sức mạnh quân sự thu hẹp lại với Hàn Quốc, thì kinh tế Triều Tiên rơi vào cạn kiệt cùng với khủng hoảng lương thực ngày càng nghiêm trọng Trước nguy cơ chính thể Bình Nhưỡng có thể sụp đổ trong khi Seoul thể hiện thiện chí nối lại quan hệ hai miền với nhiều khoản viện trợ kinh tế và lương thực đáng kể đã khiến nhà lãnh đạo Kim Jong-il thấy cần phải thay đổi chính sách để cứu vãn nền kinh tế, lấy đó để tiếp tục phục

vụ mục tiêu lâu dài là phát triển vũ khí quân sự hạt nhân Chính sự đáp lại tích cực của phía Triều Tiên là một nhân tố quan trọng để tạo nên sự thành công

Trang 20

của “chính sách Ánh dương”, đưa đến đỉnh cao của sự hòa giải giữa hai miền vào năm 2000

Bình Nhưỡng đã có nhiều dấu hiệu tích cực cải thiện quan hệ với Hàn Quốc đang ngày càng căng thẳng sau vụ đụng độ hải quân trên biển ngày 29/06/2002 làm 4 thủy thủ thiệt mạng và 19 người Hàn Quốc bị thương Phía Triều Tiên đã bày tỏ ý “lấy làm tiếc” về sự cố trên và cho rằng hai bên cần có

nỗ lực chung để tránh tái diễn sự cố như vậy, đồng thời đưa ra đề nghị tiến hành cuộc hội đàm cấp Bộ trưởng lần thứ 7 tại Seoul Điều này đã phản ánh

sự thay đổi lập trường của Triều Tiên với chiều hướng tích cực hơn vì đây là lần thứ ba nước này tỏ ý hối tiếc sau vụ sát hại binh lính Mỹ ở làng đình chiến Bàn Môn Điếm năm 1976 và vụ tàu ngầm xâm nhập phía đông bờ biển Hàn Quốc năm 1996 Trong cuộc gặp với Ngoại trưởng Nga Ivanov từ ngày 28 đến 30/07, Bình Nhưỡng khẳng định quyết tâm thúc đẩy quan hệ với Hàn Quốc trên cơ sở tuyên bố chung Nam-Bắc tháng 02/2000 Có thể nói, tất cả những điều này có ảnh hưởng hết sức tích cực, đưa đến một sự hợp tác, hòa giải đáng kể trong quan hệ giữa hai miền Nam-Bắc trên Bán đảo

Tuy nhiên, kể từ năm 2003 trở đi, Triều Tiên dường như lại quay trở lại chính sách hiếu chiến cực đoan của thời kì Chiến tranh lạnh với việc tuyên bố bác bỏ yêu cầu thanh tra của Cơ quan năng lược nguyên tử quốc tế (IAEA), chính thức rút khỏi Hiệp ước cấm phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT) và ngày càng leo thang trong vấn đề phát triển vũ khí hạt nhân Quan hệ Nam-Bắc ngày càng xấu đi cho dù phía Hàn Quốc dưới chính quyền của tổng thống Roh Moo Huyn vẫn kiên trì chính sách cam kết với Bình Nhưỡng

Sự chỉ trích gay gắt của dư luận quốc tế cùng những biện pháp trừng phạt của các nước dường như không thể làm Bình Nhưỡng suy chuyển Seoul sau khi chính quyền Lee Myung-Bak lên nắm quyền cũng bắt đầu có phản ứng gay gắt và thực hiện đường lối cứng rắn đối với Bình Nhưỡng Nhiều câu

Trang 21

hỏi đặt ra là tại sao lãnh đạo Triều Tiên lại có sự thay đổi đột ngột như vậy về đường lối đối ngoại trong khi kinh tế Triều Tiên vẫn chưa có bước phát triển đột phá nào, thậm chí vẫn còn đang trong tình trạng khủng hoảng lương thực trầm trọng Thực chất không phải chính thể Kim Jong-il không còn quan tâm đến phát triển kinh tế mà hoàn toàn chạy theo việc phát triển vũ khí hạt nhân

để chống khủng bố thế giới Việc làm thế nào để phát triển kinh tế đất nước vẫn luôn là tham vọng của lãnh đạo Triều Tiên nhưng chính quyền Bình Nhưỡng nhận ra rằng nếu chỉ trông chờ vào những khoản trợ giúp hảo tâm của Hàn Quốc và các nước láng giềng thì kinh tế Triều Tiên sẽ khó có được bước đột phá đáng kể, nhất là khi chính quyền hiện tại của Lee Myung-Bak đang ngày càng chú trọng quan hệ với Mỹ hơn là quan tâm phát triển quan hệ với Bình Nhưỡng Đồng thời, Hàn Quốc đã đưa nhiều điều kiện với những trợ giúp kinh tế của Seoul Như vậy, “lá bài hạt nhân” là phương sách cuối cùng của Bình Nhưỡng để kéo lại sự chú ý của Hàn Quốc cũng như quốc tế, giúp Triều Tiên có được nhiều hơn qua các cuộc mặc cả

Mặc dù việc thực hiện chính sách hạt nhân này có phần nguy hiểm, bởi một mặt Triều Tiên sẽ bị sức ép, phản đối từ bên ngoài, thậm chí là khả năng

bị Mỹ tấn công như Iraq, còn mặt khác, sự suy kiệt trong nước do việc phát triển hạt nhân có thể dẫn đến sự sụp đổ của chính quyền Tuy nhiên, Bình Nhưỡng vẫn quyết định thực hiện Đó là vì Triều Tiên hiểu rõ, trong tình hình khu vực hiện nay, các nước láng giềng như Trung Quốc, Nhật Bản, Nga với những lợi ích riêng chắc chắn sẽ không chấp nhận để Mỹ tấn công Triều Tiên cũng như sự sụp đổ kinh tế của Bình Nhưỡng là điều mà Trung Quốc và ngay bản thân Hàn Quốc không bao giờ muốn Nếu thực sự Bình Nhưỡng thành công trong việc sử dụng con bài này của mình thì điều chắc chắn là một khi chính phủ Kim Jong-il còn tồn tại thì sẽ vẫn kiên trì theo đuổi để đạt được tham vọng của mình

Trang 22

1.2.2 Chính sách của Hàn Quốc đối với Triều Tiên

Thời kỳ đầu Chiến tranh Lạnh, khi quan hệ hai miền đang ở hai chiến tuyến khốc liệt, có thể thấy chính sách của Hàn Quốc đối với Triều Tiên lúc này chỉ có một mục tiêu thống nhất và xuyên suốt là phải đi đến thống nhất đất nước bằng mọi cách, kể cả gây chiến tranh quân sự Điều này thể hiện qua chủ trương “Bắc tiến và thống nhất” của Lý Thừa Vãn hay chủ trương không đối thoại với Triều Tiên của chính quyền Chang Myon kế tiếp Tuy nhiên, trong giai đoạn sau đó, chính sách của Hàn Quốc bắt đầu có sự thay đổi, bớt cứng rắn và thù địch với Triều Tiên giúp quan hệ hai miền có nhiều tiến triển tích cực Người mở đầu cho sự điều chỉnh chính sách Triều Tiên của Hàn Quốc là Tổng thống Pak Chung Hee Sau khi đạt được sự phát triển mạnh mẽ

về kinh tế nhờ “chính sách đệ nhất kinh tế”, trong bối cảnh tình hình quan hệ quốc tế và khu vực những năm 1970 có nhiều biến đổi sâu sắc, chính quyền Pak đã có sự điều chỉnh chính sách chuyển sang thực hiện chính sách đối ngoại mở rộng, tích cực can dự với Triều Tiên và bắt đầu thừa nhận sự tồn tại hai chính thể trên Bán đảo Trong diễn văn kỷ niệm 25 năm ngày giải phóng Triều Tiên khỏi ách thống trị của Nhật Bản, lần đầu tiên Tổng thống Pak Chung Hee đã tuyên bố rằng Hàn Quốc sẵn sang cùng tồn tại hòa bình và chuẩn bị đưa ra các biện pháp thực tế nhằm mục đích tháo bỏ những rào chắn giả tạo giữa hai miền, đồng thời cũng đề nghị Triều Tiên nên thay đổi sự đối đầu quân sự thù địch bằng cạnh tranh kinh tế-xã hội Có thể nói, chính sách mới của chính quyền Pak Chung Hee mặc dù chưa tạo ra được bước đột phá trong quan hệ Nam - Bắc nhưng nó đã mở ra một hướng đi mới cho các chính quyền sau đó

Những diễn biến mới của tình hình thế giới và khu vực Đông Bắc Á trong những thập niên cuối của thời kỳ Chiến tranh Lạnh khiến cho khả năng thống nhất hai miền bằng bạo lực ngày càng trở nên khó thực hiện Hơn nữa,

Trang 23

sự đối lập về ý thức hệ, về chế độ, về con đường phát triển.v.v khó có thể thúc đẩy hai miền Nam - Bắc đi nhanh đến thống nhất về mặt chính trị Vì vậy, trước hết, cùng giao lưu, thống nhất về kinh tế, xã hội, văn hóa sau đó thống nhất về chính trị đã trở thành cách tiếp cận thực tế nhất của chính phủ Hàn Quốc Năm 1982, Tổng thống Chun Đô Hoan công bố “Công thức thống nhất hòa bình mới” hay còn gọi là “Công thức hòa giải dân tộc và thống nhất dân chủ” Đối với Triều Tiên, Tổng thống Chun cho rằng “quan hệ không bình thường” giữa hai miền Nam – Bắc sẽ chấm dứt và được thay thế bằng

“các cuộc tiếp xúc bình thường nhằm thúc đẩy sự thịnh vượng quốc gia” Các cuộc tiếp xúc này dựa trên các quan hệ bình thường hóa một cách đầy đủ và nên mở rộng phạm vi trao đổi và hợp tác Nam – Bắc bao gồm các lĩnh vực thương mại, giao thông, viễn thông và các lĩnh vực khác Và trên thực tế, chính phủ Hàn Quốc đã đưa ra một loạt đề nghị với Triều Tiên về việc tiến hành trao đổi các phái đoàn cấp cao chuẩn bị cho cuộc gặp thượng đỉnh giữa các nhà lãnh đạo hai nước Mặc dù kết quả đạt được trong giai đoạn này còn hạn chế nhưng bước đầu đã có được sự đồng ý và hợp tác của phía Triều Tiên

Cuối thập niên 1980, cơ cấu Chiến tranh Lạnh bắt đầu rạn nứt và xu hướng hòa giải, hợp tác ngày càng nổi trội Điều này đã tạo ra môi trường thuận lợi cho quá trình thống nhất Triều Tiên và Hàn Quốc cũng nhận thấy rằng sự đối đầu căng thẳng giữa hai miền cần phải chấm dứt hoàn toàn Tiếp tục mở rộng chính sách của Tổng thống Chun Đô Hoan, người kế nhiệm là Rô

Tê U đã đưa ra chính sách “ngoại giao phương Bắc” với nội dung chủ yếu nhằm cải thiện quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy hòa giải, hợp tác với Triều Tiên trong khi vẫn duy trì liên minh an ninh với Mỹ Trong tuyên bố đặc biệt về quyền dân tộc tự quyết, thống nhất và thịnh vượng ngày 7/7/1988, Tổng thống Rô đã gắn vấn đề chia cắt bán đảo không phải với “bản

Trang 24

chất của hệ thống chính trị Triều Tiên và chính sách hiếu chiến của các nhà lãnh đạo Triều Tiên mà là gắn với thực tế là cả hai miền Nam và Bắc đều coi nhau như kẻ thù” Đồng thời, ông cũng cho rằng, Hàn Quốc cần phải nghĩ đến quan hệ Nam – Bắc không chỉ đơn giản là một quan hệ đối tác bình thường để

có thể tiến tới sự thịnh vượng chung Trên cơ sở nhận thức như vậy, chính phủ Hàn Quốc đã đưa ra chính sách 6 điểm đối với Triều Tiên, trong đó, điểm quan trọng nhất là Hàn Quốc không chỉ công nhận mà còn không xem chế độ Triều Tiên là kẻ thù, mà còn, coi Triều Tiên là thành viên trong cộng đồng dân tộc Triều Tiên, một “đối tác chân thành”, quan trọng của Hàn Quốc trong việc giải quyết vấn đề Triều Tiên Đây có thể nói là một bước ngoặt quan trọng trong việc nhìn nhận về chế độ ở miền Bắc của Chính phủ Hàn Quốc Với cách tiếp cận này, chính phủ Hàn Quốc đã thành công trong việc khiến Bình Nhưỡng thay đổi thái độ và điều chỉnh chính sách của mình đối với Hàn Quốc Cuộc đối thoại giữa Hàn Quốc và Triều Tiên ở cấp bộ trưởng và sau này được nâng lên cấp Thủ tướng đã được nối lại bắt đầu từ năm 1990

Thập kỷ hậu Chiến tranh Lạnh đánh dấu sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của nhiều quốc gia, trong đó có Hàn Quốc Sự phát triển trong quan hệ Hàn – Triều do đó lại tiếp tục chịu ảnh hưởng từ những thay đổi trong chính sách Triều Tiên của Hàn Quốc Tổng thống Hàn Quốc đầu tiên của thời kì hậu Chiến tranh Lạnh là Kim Young Sam trong chính sách Triều Tiên của mình

đã đưa ra mục tiêu cơ bản là nhằm chuyển hóa chế độ cộng sản ở miền Bắc, thực hiện thống nhất đất nước Dưới chính quyền Kim Young Sam, lợi ích của Hàn Quốc là phải chuyển hóa quan hệ đối đầu, căng thẳng giữa hai miền sang đối thoại hòa bình; khuyến khích Triều Tiên cải cách và mở cửa, từ đó từ

bỏ chính sách thù địch “cộng sản hóa” miền Nam và tích cực tham gia vào các phong trào chung của thế giới Trong diễn văn kỉ niệm ngày giải phóng 15/08/1994, Tổng thống Kim đã đề nghị Triều Tiên từ bỏ chiến lược cộng sản

Trang 25

hóa miền Nam và đề nghị Triều Tiên tiến hành cải cách, kể cả việc cải thiện nhân quyền Hàn Quốc cũng hứa sẽ ra sức giúp đỡ và hợp tác với miền Bắc thực hiện cải cách Đây có thể nói là một sự điều chỉnh khá tích cực của chính quyền dân sự mới lên cầm quyền ở Hàn Quốc Điều đó chỉ ra rằng, con đường

để đi đến thống nhất hai miền phải bằng con đường hòa bình và hợp tác Điều này hoàn toàn phù hợp với xu thế chung trên thế giới đang chuyển từ hình thức đối đầu sang đối thoại và hợp tác, đã có tác động không nhỏ đến quan hệ hai miền Nam – Bắc

Tuy nhiên, sau đó, trước những thách thức do Triều Tiên gây ra (khủng hoảng hạt nhân, đụng độ trên biển…) chính quyền Kim Young Sam chuyển hướng cho rằng Triều Tiên là kẻ thù nguy hiểm, chính vì thế đã điều chỉnh chính sách của mình với nhiệm vụ hàng đầu là phải đảm bảo an ninh tối đa, giảm căng thẳng, ngăn chặn một cuộc chiến tranh có thể bùng nổ trên bán đảo Mặt khác, Hàn Quốc cũng thực hiện chính sách can dự với Triều Tiên để thực hiện thống nhất, tức là khuyến khích sự thay đổi trong chế độ Triều Tiên Chính quyền Seoul cho rằng, nếu sự thay đổi đó diễn ra nhanh chóng và hòa bình thì có thể mọi việc sẽ tốt đẹp Nhưng ngược lại, mọi cố gắng muốn cô lập Triều Tiên và chờ đợi sự sụp đổ bất ngờ sẽ là vô cùng nguy hiểm Sự rối loạn ở miền Bắc có thể đem đến nguy cơ một cuộc xung đột vũ trang Vì vậy, Seoul vừa trực tiếp, vừa gián tiếp lôi kéo Triều Tiên tham gia đối thoại để giải quyết các vấn đề của cả hai bên Sáng kiến thiết lập cơ chế đàm phán bốn bên (Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Triều Tiên) được đánh giá có ý nghĩa tích cực nhằm cải thiện tình hình quan hệ hai miền đang căng thằng, bế tắc

Có thể nói, sự cải thiện quan trọng nhất trong quan hệ giữa hai miền đó

là cuộc gặp thượng đỉnh năm 2000 Đây là kết quả của chính sách Triều Tiên tích cực dưới chính quyền Kim Dea Jung Rõ ràng việc Hàn Quốc nhấn mạnh khía cạnh an ninh quân sự trong chính sách đối với Triều Tiên ngày càng trở

Trang 26

nên không phù hợp với xu thế hòa bình, ổn định, hợp tác trên thế giới và khu vực Bởi vậy, khi lên cầm quyền, tổng thống Kim Dea Jung đã có sự điều chỉnh sang một chính sách mới cải thiện quan hệ với Triều Tiên với tên gọi

“Chính sách Ánh dương” Trong đó nêu rõ: mục tiêu của chính quyền của ông

là cùng tồn tại hòa bình, hòa giải và hợp tác với Triều Tiên chứ không phải là thống nhất ngay lập tức Thống nhất là mục tiêu lâu dài và là nhiệm vụ của các thế hệ sau này Để đạt được các mục tiêu trên, chính quyền Seoul đã đưa

ra ba nguyên tắc cơ bản là không tha thứ bất cứ hành vi khiêu khích vũ trang nào từ phía Triều Tiên, không có ý định thống nhất bằng cách gây phương hại hoặc sát nhập Triều Tiên và tích cực thúc đẩy hòa giải và hợp tác giữa hai miền Có thể nói rằng, chính sách hòa giải và hợp tác của Kim Dea Jung là một trong những nhân tố tích cực đã làm thay đổi tư duy của chính thể Bình Nhưỡng Triều Tiên sau một thời gian dài đóng cửa đã bắt đầu mở cửa với cộng đồng quốc tế Điều này đã có tác động tích cực đến tiến trình hòa giải quan hệ hai miền với việc làm giảm đáng kể các xung đột Nam-Bắc Mặc dù trong Tuyên bố chung giữa hai miền không đề cập trực tiếp đến các vấn đề như giảm căng thẳng về đối đầu quân sự nhưng hai bên đã ngừng tuyên truyền chống phá khiêu khích nhau dọc theo giới tuyến quân sự Tiếp đó, hai bên đã tiến hành các cuộc đàm phán cấp Bộ trưởng quốc phòng và cấp chuyên viên bàn về hợp tác trong lĩnh vực quân sự và đưa ra các biện pháp cụ thể nhằm giảm bớt căng thẳng như thiết lập một “Khu vực kiểm soát chung Nam-Bắc” tạo cơ sở pháp lý cho việc sử dụng hòa bình khu vực giới tuyến phi quân

sự Như vậy, có thể nói “Chính sách Ánh dương” của tổng thống Kim Dea Jung đã đạt được kết quả vô cùng to lớn là đã tạo ra một không khí hòa giải chưa từng có trên Bán đảo kể từ trước tới nay

Dựa trên những thành quả đạt được của chính quyền Kim Dea Jung, bất chấp việc Triều Tiên gây ra cuộc khủng hoảng hạt nhân thứ hai trên bán đảo,

Trang 27

Tổng thống kế nhiệm Roh Moo Hyun vẫn tiếp tục mở rộng “Chính sách Ánh dương” đối với Bình Nhưỡng Ông cho rằng dự hợp tác Nam-Bắc có thể làm giảm căng thẳng trên bán đảo và đem lại những thay đổi ở Bình Nhưỡng Do vậy, “vì sự thịnh vượng và tồn tại của quốc gia, chính sách Ánh dương là cần thiết và phải được tiếp tục”2 Thực vậy, Hàn Quốc dưới thời Roh Moo Hyun

đã luôn coi việc thực hiện sự hòa giải với Bình Nhưỡng là ưu tiên hàng đầu

“Chính sách hòa bình và thình vượng” mà Tổng thống Roh Moo Hyun đưa ra không chỉ là một sự mở rộng phạm vi “Chính sách Ánh dương” mà còn thể hiện mong muốn tăng cường trao đổi và hợp tác hai miền Mục tiêu của chính sách là làm sao “củng cố hòa bình trên bán đảo và tìm kiếm sự thịnh vượng chung của cả hai miền để xây dựng một nền tảng cho sự thống nhất hòa bình

và cơ sở cho Hàn Quốc trở thành trung tâm kinh tế của Đông Bắc Á”3

Nó cũng ám chỉ rằng Seoul sẽ cố gắng không chỉ tìm kiếm hòa bình và thịnh vượng từ sự hòa giải và hợp tác Nam-Bắc mà còn thúc đẩy hợp tác kinh tế và

an ninh với các quốc gia trong khu vực, đặc biệt là Trung Quốc và Nga Seoul luôn bày tỏ mong muốn hai miền kí kết hiệp ước hòa bình để đảm bảo ổn định trên Bán đảo Theo Tổng thống Roh Moo Hyun, sự thống nhất Triều Tiên là điều tất nhiên, có lẽ chỉ thực hiện trong vòng một hoặc hai thập kỉ tới và Hàn Quốc càng đưa nền kinh tế và cơ sở hạ tầng của miền Bắc ra khỏi vị trí của thế giới thứ ba nhanh bao nhiêu thì sự thống nhất về mặt kĩ thuật càng dễ bấy nhiêu Ông từng nói rằng, ông sẽ không quan tâm đến sự thất bại của tất cả các chính sách khác với điều kiện chính sách Triều Tiên thành công4

Có thể nói, với “Chính sách hòa bình và thịnh vượng” đối với Triều Tiên, Seoul cũng đã đạt được những kết quả nhất định trong việc phát triển quan hệ giữa hai miền Các hội nghị Bộ trưởng và hợp tác kinh tế giữa Hàn

of Korean studies, Fall/Winter 2005, Vol.IX, No.2, tr 12

4

Choong Nam Kim, Sđd tr.14

Trang 28

Quốc và Triều Tiên đã đưa đến một loạt các thỏa thuận mở rộng hợp tác Nam-Bắc Hai hành lang đường bộ và đường sắt xuyên qua khu phi quân sự vốn bị đóng kín trong một thời gian dài đã tạo điều kiện cho các chuyến thăm của hàng nghìn khách du lịch từ Hàn Quốc đến khu nghỉ núi Kim cương ở Triều Tiên Các nhà quản lý lái xe hàng ngày từ Seoul sang khu công nghiệp Keasong ở phía Bắc khu phi quân sự Mậu dịch của Hàn Quốc và Triều Tiên trong thời gian này tăng lên đáng kể đưa Hàn Quốc trở thành đối tác mậu dịch lớn thứ hai của Triều Tiên Việc chú trọng vào ưu tiên hòa giải với Bình Nhưỡng đã khiến Seoul giảm quan hệ với Mỹ và tảng lờ sự phát triển hạt nhân của Triều Tiên Vài lần Washington đã gợi ý về việc thi hành trừng phạt đối với Bình Nhưỡng nhưng chính quyền Roh Moo Hyun phản đối Trong đàm phán sáu bên về chương trình hạt nhân của Triều Tiên, Seoul có xu hướng chia sẻ quan điểm chung với Trung Quốc và chỉ trích quan điểm cứng rắn của Mỹ Tổng thống Roh Moo Hyun đã đưa ra bài phát biểu ở Los Angeles và châu Âu vào tháng 11/2004 chỉ trích chính quyền Bush và từ chối gây sức ép với Triều Tiên, bảo vệ yêu cầu của Triều Tiên về việc cần một

“rào cản hạt nhân” do nhận thức về mối đe dọa từ phía Mỹ Bất chấp cuộc khủng hoảng hạt nhân, chính quyền Seoul vẫn đẩy nhanh các dự án hợp tác kinh tế chủ yếu với Triều Tiên, bao gồm xây dựng khu công nghiệp Kaeseong, nối các đường sắt, đường bộ và phát triển dự án du lịch núi Kim cương

Tuy nhiên, sự leo thang của vấn đề hạt nhân ở Triều Tiên ngày càng khiến chính sách của chính quyền Roh Moo Hyun bị chỉ trích Do Seoul đã phải góp quá nhiều tiền vào miền Bắc mà không có tiến bộ đột phá nào trong việc giảm căng thẳng trên Bán đảo Rõ ràng đây là một chính sách tốt về mặt dài hạn nhưng không có lợi cho việc giải quyết một vấn đề hạt nhân Triều Tiên đang đe dọa trước mắt

Trang 29

Năm 2008, Tổng thống mới Lee Myung Bak lên nắm quyền đánh dấu một sự trượt dốc trong quan hệ Nam-Bắc Bằng sự điều chỉnh sang một chính sách có phần cứng rắn đối với Triều Tiên, chính quyền mới của Seoul đã đẩy quan hệ hai miền rơi vào bế tắc và căng thẳng, phủ nhận toàn bộ 10 năm công sức thực hiện “Chính sách cam kết” với Bình Nhưỡng của hai Tổng thống tiền nhiệm là Kim Dea Jung và Roh Moo Hyun

Có thể thấy sau khi chỉ trích chính sách Ánh dương và chính sách Hòa bình và thịnh vượng, chính quyền Lee Myung Bak đã đưa ra một chính sách mang đậm màu sắc thực dụng, tăng cường quan hệ với các cường quốc chủ chốt trong khu vực, đặc biệt là quan hệ với Mỹ trong khi hạ thấp quan hệ với Triều Tiên Tổng thống Lee không chấp nhận những cam kết và hỗ trợ kinh tế

vô điều kiện của các chính quyền trước đây để đổi lấy kết quả là không có tiến triển gì trong việc làm giảm căng thẳng trên bán đảo Đề nghị “phi hạt nhân hóa và mở cửa, 3000” mà ông đưa ra đã đánh dấu việc bắt đầu nỗ lực đưa thỏa hiệp có điều kiện vào quan hệ Nam-Bắc

Như vậy, nếu Bình Nhưỡng chấp nhận thực hiện phi hạt nhân hóa và theo đuổi chính sách cải cách, mở cửa thì sẽ nhận được sự trợ giúp và hợp tác kinh tế của Hàn Quốc đảm bảo Triều Tiên sẽ đạt được mức thu nhập 3000 USD trên đầu người mỗi năm Tuy nhiên, Hàn Quốc cũng hiểu rằng đây là một điều kiện khó đối với Triều Tiên vì Bình Nhưỡng coi việc cải cách và mở cửa như là những nhân tố chủ chốt có thể phá vỡ hệ thống xã hội miền Bắc

Về mối quan hệ hai miền, do chính sách của Seoul dựa trên “hệ thống trợ giúp lẫn nhau với Mỹ” vốn không thừa nhận Triều Tiên như là một đối tác đối thoại nên đã dẫn đến kết quả là sự phát triển mối quan hệ Nam-Bắc bị hạn chế với khuân khổ chính trị quốc tế và chiến lược quân sự của Mỹ Không chỉ có vậy, khi Triều Tiên có xu hướng gia tăng việc phát triển hạt nhân trên bán đảo, Seoul bắt đầu thể hiện những đường lối cứng rắn của mình qua việc đề ra

Trang 30

khả năng Hàn Quốc sẽ tấn công các cơ sở hạt nhân của Triều Tiên hay ngừng trợ giúp nhân đạo về lương thực cho Bình Nhưỡng Kết quả là căng thẳng trên bán đảo ngày càng gia tăng cũng như quan hệ Nam-Bắc hoàn toàn đi vào bế tắc

Tiểu kết

Tình hình quốc tế và khu vực có ảnh hưởng lớn tới mối quan hệ Hàn Quốc – Triều Tiên Tình hình quốc tế hiện nay chuyển biến theo chiều hướng tích cực: Hòa bình, hợp tác, ưu tiên phát triển kinh tế Xu hướng chung là giảm sự đối đầu, căng thẳng về an ninh sang đối thoại giải quyết các vấn đề thông qua đàm phán, thương lượng hòa bình

Chính sách của hai miền đối với nhau chịu sự chi phối và tác động của tình hình quốc tế và khu vực Chính sách của Hàn Quốc đối với Triều Tiên trong chiến tranh lạnh là thống nhất đất nước bằng mọi cách, kể cả dùng biện pháp quân sự Sau đó chuyển sang chính sách đối ngoại mở rộng, công nhận

sự tồn tại hai chính thể trên bán đảo, chủ trương giao lưu, hợp tác trên các lĩnh vực văn hóa – xã hội, kinh tế - chính trị để tiến tới sự thịnh vượng chung Sau chiến tranh lạnh Hàn Quốc thay đổi chính sách, hướng vào việc chuyển hóa chế độ cộng sản ở miền Bắc, khuyến khích Triều Tiên mở rộng cửa, lôi kéo Triều Tiên tham gia đối thoại để giải quyết các mâu thuẫn tồn tại để thực hiện mục tiêu hòa bình, hòa giải và hợp tác từng bước đi đến thống nhất

Chính sách của Triều Tiên đối với Hàn Quốc không có nhiều thay đổi

so với trước đây, đó là Triều Tiên thi hành một chính sách đối đầu, thù địch với Hàn Quốc Mặc dù, có lúc Triều Tiên điều chỉnh chính sách bớt thù địch nhưng vẫn thận trọng và cảnh giác đối với mọi hành động của Hàn Quốc

Trang 31

CHƯƠNG 2: QUAN HỆ HỢP TÁC GIỮA TRIỀU TIÊN VÀ

HÀN QUỐC TỪ SAU CHIẾN TRANH LẠNH

2.1 Quan hệ chính trị ngoại giao

Quan hệ hợp tác giữa Hàn Quốc và Triều Tiên trên lĩnh vực chính trị ngoại giao được phân chia theo nhiệm kỳ của các đời Tổng thống Hàn Quốc,

vì mối quan hệ giữa hai nước thăng trầm, thay đổi theo chính sách của các Tổng thống Hàn Quốc đối với Triều Tiên

2.1.1 Thời kỳ 1988 – 1998

Sau khi bán đảo bị chia tách thành hai quốc gia Triều Tiên và Hàn Quốc, thế giới bước vào thời kì Chiến tranh Lạnh Sau Hiệp định đình chiến ngăn chặn cuộc xung đột quốc tế trên quy mô lớn được kí ở Panmunchem (Bàn Môn Điếm) ngày 27/07/1953, vĩ tuyến 38 được lấy làm ranh giới quân

sự giữa hai miền Nam – Bắc và tình trạng nghi kỵ, thù địch lẫn nhau ngày càng tăng, gây trở ngại lớn cho việc tổ chức đối thoại và hòa giải

Vào ngày 25/02/1988, ông Roh Tae-Woo bắt đầu lên làm tổng thống Hàn Quốc, kế nhiệm ông Chun Doo-Hwan đã giữ chức vụ này suốt tám năm Tuyên bố ngày 7/7/1988, đã nhấn mạnh rằng, Hàn Quốc sẽ đẩy mạnh trao đổi nhân sự thuộc mọi tầng lớp ở cả hai miền, cho phép người Triều Tiên ở cả trong nước và nước ngoài được tự do thăm viếng lẫn nhau, ủng hộ việc trao đổi và thăm viếng của các thành viên những gia đình bị ly tán, mở rộng việc buôn bán hai miền, loại bỏ ngoại giao đối đầu Chính quyền Roh Tae-Woo đã tiến hành nhiều biện pháp để thúc đẩy giao lưu giữa hai miền Vì vậy, những cuộc họp của quan chức chính phủ hai miền bắt đầu diễn ra

Trong xu thế vận động chung của thế giới sau Chiến tranh Lạnh là hòa bình, ổn định, hợp tác để phát triển, cả hai miền đều nhận thấy rằng tăng cường trao đổi hợp tác kinh tế sẽ có lợi cho sự phát triển đất nước, Triều Tiên

Trang 32

và Hàn Quốc đều xúc tiến cải thiện quan hệ để thiết lập một nền hòa bình vững chắc cho toàn bán đảo Sau cuộc họp của Thủ tướng hai miền, Hiệp định

cơ bản Bắc – Nam đã được ký kết, mở ra một giai đoạn mới trong tiến trình hòa bình trên bán đảo nhờ thỏa thuận về trao đổi hợp tác trên các lĩnh vực, đặc biệt về vấn đề liên quan đến vũ khí hạt nhân

Như vậy, trong thời kỳ này, do tình hình thế giới có những biến đổi sâu sắc, quan hệ Nam – Bắc đã có những chuyển biến theo hướng tích cực Một

số hiệp định, thỏa thuận quan trọng đã được ký kết, góp phần thúc đẩy quan

hệ ngoại giao giữa hai nước

2.1.2 Thời kỳ 1998 – 2003

Ngày 25/02/1998, Kim Dae-Jung chính thức bắt đầu nhiệm kì tổng thống mới ở Hàn Quốc, mở ra một trang sử mới trong quan hệ giữa hai nước Sau khi lên cầm quyền, Tổng thống Kim Dae-Jung muốn cải thiện quan hệ hai miền thông qua “Hội nghị 4 bên” (Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Triều Tiên), nhằm làm dịu tình hình căng thẳng, đối đầu trên bán đảo Ông đưa ra

chính sách 3 điểm về Triều Tiên: Thứ nhất, duy trì một tư thế an ninh mạnh,

Hàn Quốc không dung thứ bất cứ mưu toan phá hoại hòa bình nào từ phía

Bắc; Thứ hai, Hàn Quốc không có ý định thống nhất đất nước bằng cách sát

nhập miền Bắc, mà thay vào đó, sẽ tìm cách cùng tồn tại và cùng phát triển

thịnh vượng với miền Bắc; Thứ ba, Hàn Quốc sẽ tiếp tục cải thiện và phát

triển quan hệ hai bên bằng cách đẩy mạnh trao đổi và hợp tác trong nhiều lĩnh vực Triết lý thống nhất của ông Kim Dae-Jung bao gồm 3 nguyên tắc cơ bản:

đó là độc lập, hòa bình và dân chủ Theo đó, tất cả những vấn đề có liên quan đến bán đảo, kể cả vấn đề thống nhất cần phải được giải quyết theo tinh thần

tự quyết dân tộc, thông qua đàm phán hòa bình và dân chủ

Trên cơ sở đó, Tổng thống Kim Dae-Jung đã nêu ra “Chính sách Ánh dương” đối với miền Bắc Chính sách này được thực hiện theo nguyên tắc

Trang 33

tách kinh tế ra khỏi chính trị Theo đó Hàn Quốc tiến hành đơn giản hóa các thủ tục kinh doanh, nới lỏng các hạn chế đầu tư vào miền Bắc (giải tỏa hoàn toàn lệnh cấm vận đầu tư, sửa đổi khung trần giới hạn vốn đầu tư.v.v.), công

bố các kế hoạch cung cấp viện trợ nhằm hợp tác kinh tế với Triều Tiên

Về phía mình Triều Tiên cũng áp dụng một số chính sách linh hoạt hơn Sự sụp đổ của hệ thống XHCN ở Liên Xô và Đông Âu là một cú sốc nặng nề giáng vào chế độ chính trị ở miền Bắc Nga và Trung Quốc sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao với Hàn Quốc đã không còn là liên minh chiến lược của Triều Tiên Quan hệ đồng minh Bắc Kinh – Bình Nhưỡng xấu đi và liên minh quân sự Nga – Triều Tiên trên thực tế đã mất đi hiệu lực sau khi Liên Xô tan rã, nhất là vào tháng 9/1995, Nga tuyên bố hủy bỏ Hiệp ước quân

sự mà Liên Xô đã ký với Triều Tiên

Một sự kiện chính trị đặc biệt có ý nghĩa lịch sử trong quan hệ hai miền

là vào trung tuần tháng 6/2000, lần đầu tiên, nguyên thủ quốc gia của Hàn Quốc và Triều Tiên đã tiến hành Hội nghị thượng đỉnh tại Bình Nhưỡng Nội dung của cuộc gặp này là tập trung bàn bạc về khả năng thống nhất trên 3 nguyên tắc độc lập, hòa bình và đại đoàn kết dân tộc; khẳng định lại nguyện vọng phi hạt nhân hóa trên bán đảo Triều Tiên; đoàn tụ những gia đình ly tán

để tiến tới sự hòa hợp và đồng nhất dân tộc; bàn các vấn đề hợp tác kinh tế song phương, vấn đề giải trừ vũ khí hạt nhân cùng các vấn đề liên quan đến lợi ích dân tộc như đã nêu trong Hiệp định cơ bản Bắc – Nam năm 1991.v.v

Cuộc gặp cấp cao lịch sử này đã tạo đà cho hai bên hàn gắn vết thương chia cắt, hướng tới sự thịnh vượng trong hòa bình và thống nhất Tuy nhiên, nhiều thập kỉ nghi kỵ và đối đầu giữa hai miền không thể xóa tan trong một sớm một chiều Giữa hai bên còn tồn tại nhiều vấn đề cơ bản khó có thể giải quyết Khi mà cả hai bên vẫn giữ lập trường cứng rắn đối với nhau và có những hành động mang tính quân sự, đối đầu như: Triều Tiên vẫn sản xuất và

Trang 34

thử vũ khí hạt nhân; Hàn Quốc vẫn tập trận chung với Mỹ; 37.000 lính còn đang đóng ở miền Nam và Hàn Quốc tích cực tham gia vào Hệ thống phòng thủ tên lửa chiến trường (TMD) của Mỹ…thì hai bên khó có thể tìm kiếm được một sự thống nhất chung để tiến tới hợp tác hoàn toàn Dẫu sao, đó cũng

là bước khởi đầu hết sức tích cực thúc đẩy quá trình hòa bình và tái thống nhất bán đảo Nó đã đem lại một sức sống mới cho những cố gắng nhằm đảm bảo hòa bình một cách lâu dài và bền vững ở khu vực trong thế kỷ XXI

Kể từ cuộc họp thượng đỉnh giữa hai bên lần thứ nhất vào ngày 15/06/2000, mối quan hệ hai miền được cải thiện đáng kể Về chính trị, các cuộc hội đàm song phương diễn ra liên tục, nhất là sau khi ông Roh Moo Huyn đắc cử tổng thống vào tháng 12-2002, Hàn Quốc đã từng bước tiến tới hội đàm hai bên và thúc đẩy việc thống nhất Chỉ tính đến tháng 10-2005 đã

có tất cả 159 cuộc hội đàm Trong giai đoạn đó, Triều Tiên và Hàn Quốc đã tổ chức các cuộc họp về các lĩnh vực kinh tế, quân sự, thể thao cũng như các cuộc họp của Hội chữ thập đỏ và 16 vòng đàm phán cấp bộ Trong các cuộc hội đàm, miền Bắc đã nhân cơ hội đàm phán để nhận viện trợ từ phía Hàn Quốc và Mỹ, giảm bới khó khăn về kinh tế

Mục đích của các cuộc họp cấp bộ gồm 2 phần Thứ nhất là Triều Tiên nhận viện trợ kinh tế từ Hàn Quốc (hỗ trợ thường xuyên 40.000 tấn gạo và 300.000 tấn phân bón mỗi năm); Thứ hai là Mỹ sẽ đảm bảo về an ninh cả bán đảo do đã duy trì các cuộc hội đàm cấp bộ với Hàn Quốc dưới hình thức “Hợp tác Nam – Bắc”

Theo tuần tự, miền Bắc trước hết tận dụng cơ hội trong các cuộc hội đàm để đem lại lợi ích về kinh tế, nhấn mạnh vào mối quan hệ hai miền để chống lại Mỹ như là một cách đề cập đến vấn đề khủng hoảng hạt nhân từ giai đoạn giữa (cuộc họp lần thứ 8) và tạo cơ sở cho việc hợp tác và trao đổi trong giai đoạn tiếp theo (cuộc họp lần thứ 10, có chính phủ tham dự)

Trang 35

Hội nghị thượng đỉnh lần này đã đề ra Tuyên bố chung trong đó nêu rõ: miền Bắc chủ động hưởng ứng các hoạt động riêng lẻ bao gồm các sự kiện thể thao và các sự kiện văn hóa; Tổ chức ủng hộ người Triều Tiên thăm thành phố quê hương của họ và thể hiện sự mong muốn giải quyết các vấn đề tù nhân chiến tranh và những người Hàn Quốc bị Triều Tiên bắt cóc Triều Tiên đồng ý cho phép các gia đình ly tán được gặp nhau, được trao đổi thư từ cũng như lập địa điểm để đoàn tụ, cho phép các gia đình ly tán được gặp gỡ nhau qua cầu truyền hình; Thống nhất thúc đẩy kinh tế của cả hai miền, trao đổi và hợp tác, cùng nhất trí tạo các điều kiện về thể chế cho việc hợp tác kinh tế, bắt đầu hợp tác đánh cá, thực hiện trao đổi du lịch, ký hiệp định hàng hải; Miền Bắc sẵn sàng tham gia vào các cuộc hội đàm theo trình tự về chính trị, kinh tế,

xã hội, văn hóa và quân sự

Trên cơ sở thành tích đã đạt được, hai bên đã cùng nhau xây dựng

“Hiệp ước hòa bình” với mục đích tương tự như “Hiệp ước không xâm lược” của bản thỏa thuận cơ bản, nhấn mạnh đến sự thay đổi trật tự thế giới và mối quan hệ song phương Nhiệm vụ cụ thể là ngăn chặn chiến tranh và xây dựng hòa bình trên bán đảo vốn đã được thực thi

Mặc dù vấn đề xây dựng lòng tin, giảm bớt căng thẳng và vì hòa bình không có trong Tuyên bố chung, Triều Tiên và Hàn Quốc đã tổ chức các cuộc hội đàm quân sự, trong đó có một cuộc hội đàm cấp Bộ trưởng Cả hai bên đều nhất trí đảm bảo nguyên tắc an ninh trong việc thực hiện các thỏa thuận trong bản Tuyên bố chung và trong các cuộc hội đàm cấp bộ trưởng lần thứ nhất (26-26 tháng 9-2000) đã nói cùng cố gắng ngăn chặn không để xẩy ra cuộc chiến tranh khác trên bán đảo Cả hai phía cùng nhất trí chú trọng đến các vấn đề quân sự sau vấn đề trao đổi công dân, hợp tác trong tương lai, an ninh, các dự án nối đường sắt và xây dựng đường bộ Bên cạnh đó, các cuộc hội đàm quân sự nhằm hỗ trợ việc hợp tác kinh tế hai miền cũng được tiến

Trang 36

hành dựa trên các thỏa thuận của vòng một Cả hai phía đều nhất trí những thỏa thuận về việc quản lý chung khu phi quân sự và đẩy nhanh dự án đường sắt Gyeongui, nhất trí một thoả thuận quân sự cho việc đi lại qua các tuyến đường tạm thời ở các vùng biển Đông và phía Tây dưới sự giám sát của cả hai bên Những thỏa thuận này đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc khôi phục lại các tuyến đường sắt và đường bộ, tăng cường hợp tác kinh tế hai miền

Tuy vậy, đối với các vấn đề quân sự nhạy cảm, Triều Tiên vẫn tỏ ra ít thay đổi lập trường, không đả động đến các can dự quân sự vòng 2 ở vùng biển phía Tây năm 2002 trong các cuộc hội đàm năm 2003, trì hoãn các cuộc tiếp xúc giữa các quan chức hai bên ở Panmunjom, đe dọa đưa ra các biện pháp quan trọng mới về hiệp định đình chiến Trong lịch sử, Triều Tiên đã liên tục bãi bỏ hiệp ước đình chiến và loại bỏ Hàn Quốc như một biện pháp trả đũa

Trong lúc Triều Tiên nhất trí xây dựng sự tin tưởng về quân sự bằng việc nhất trí Bản thỏa thuận 4 điểm tại các cuộc hội đàm chung về các biện pháp ngăn chặn can dự quân sự dọc ranh giới hai bên đường phân chia ranh giới biển phía Tây giữa Triều Tiên và Hàn Quốc; ngừng việc tuyên truyền về đường ranh giới quân sự Tuy nhiên, từ đó, Triều Tiên đã liên tục vi phạm đường giới hạn phía Bắc (NLL) Triều Tiên đã giải thích rằng, họ muốn chủ động về mặt trận quân sự trong các mối quan hệ hai bên và tăng hay giảm căng thẳng bất cứ khi nào họ muốn

Triều Tiên chỉ tham dự một cuộc hội đàm cấp bộ trưởng, hai cuộc họp cấp bình thường và chỉ một vài cuộc họp nếu thấy cần thiết Điều này chứng

tỏ rằng, Triều Tiên chỉ đồng ý tham gia các cuộc họp quân sự khi muốn làm giảm bớt khó khăn về kinh tế trong khi tránh thảo luận về các vấn đề an ninh trên bán đảo

Trang 37

Nhìn chung, Triều Tiên đã đưa ra chiến lược để đạt được mục đích thu lợi về kinh tế qua hợp tác với Hàn Quốc; giải quyết mối lo ngại về an ninh qua việc tạo ra lập trường chống lại Mỹ; cộng tác với Hàn Quốc trong việc thống nhất bán đảo Mối quan hệ Hàn Quốc – Triều Tiên thực sự được khởi sắc từ năm 2000, sau cuộc họp thượng đỉnh hai nước lần thứ nhất, chuyển từ đối đầu sang cùng tồn tại hòa bình và mở ra con đường giải quyết các vấn đề thông qua đối thoại và hợp tác

2.1.3 Thời kỳ 2003-2008

Năm 2003, Roh Moo-Huyn lên làm tổng thống Hàn Quốc, tiếp tục theo đuổi chính sách hòa giải, hòa hợp dân tộc Cuộc họp thượng đỉnh hai nước lần thứ hai đánh dấu bước ngoặt lịch sử, mở ra triển vọng tốt đẹp cho quan hệ giữa hai miền

Sau sự đón tiếp nồng hậu của nhân dân Triều Tiên đối với phái đoàn của tổng thống Hàn Quốc, tại cuộc gặp cấp cao, Chủ tịch Triều Tiên Kim Jong Il và Tổng thống Hàn Quốc Roh Moo-Huyn đã tập trung thảo luận về các biện pháp thúc đẩy hòa bình trên bán đảo, viện trợ và đầu tư của Hàn Quốc cho Triều Tiên; vấn đề biên giới, đoàn tụ các gia đình ly tán, du lịch, khai thác mỏ và đẩy mạnh hoạt động của hệ thống đường sắt hai miền Những chủ đề nhạy cảm và các vấn đề tồn tại, như vấn đề bắt cóc, tù nhân chiến tranh…không được đưa ra thảo luận và đã ký “Tuyên bố về việc phát triển quan hệ hai miền, hòa bình và thịnh vượng” Bản Tuyên bố chung này bao gồm 8 điểm chính, đặt nền móng cho việc tái lập hòa bình, hòa giải giữa hai miền Nam – Bắc Quan trọng nhất trong Bản Tuyên bố là việc hai bên đồng ý với quan điểm nên kết thúc Hiệp định ngừng bắn sau cuộc Chiến tranh Triều Tiên 1950-1953 và thay bằng một Hiệp ước hòa bình lâu dài Hai nhà lãnh đạo đề nghị các nước liên quan tới cuộc chiến này nhóm họp lại để bàn về một hiệp ước chính thức Bản tuyên bố chung cũng nêu rõ, hai miền Nam –

Trang 38

Bắc nhất trí chấm dứt các hoạt động quân sự thù địch và mở rộng đáng kể việc hợp tác hai bên về chính trị, kinh tế, phi hạt nhân và nhiều vấn đề khác

Hai nước sẽ tiến tới việc ký một Hiệp ước hòa bình, thay thế Hiệp định đình chiến năm 1953, nhằm chính thức chấm dứt cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950-1953) Hai nước cũng sẽ mở tuyến vận tải đường sắt; tăng cường hợp tác kinh tế; xây dựng một tổ hợp đóng tàu biển chung và một khu công nghiệp

ở Triều Tiên, gần khu phi quân sự chia cắt hai miền hiện nay

Nhìn chung, Hội nghị thượng đỉnh lần thứ 2 đã mang tới hàng loạt thỏa thuận hợp tác song phương và hòa giải giữa hai quốc gia Nội dung chính trong cuộc hội đàm giữa Tổng thống Roh Moo-huyn và Chủ tịch Kim Jong-il chủ yếu thảo luận xoay quanh việc thúc đẩy hòa bình trên bán đảo và hợp tác kinh tế xuyên quốc gia

Hội nghị thượng đỉnh này đã đánh dấu “một kỷ nguyên hòa bình mới”,

là một cơ hội thúc đẩy hòa bình và an ninh trên bán đảo đầy sóng gió trong suốt hơn nửa thế kỉ qua, là cơ hội để thúc đẩy tiến trình giải giáp hạt nhân của Triều Tiên

Sau Hội nghị thượng đỉnh lần thứ hai một tháng, Thủ tướng Triều Tiên Kim Jong-il đã tới Hàn Quốc, đánh dấu lần đầu tiên hai bên hội đàm cấp thủ tướng trong 15 năm qua Cuộc gặp này nhằm tập trung thảo luận về các biện pháp chi tiết để thực thi những thỏa thuận trong tuyên bố chung do Tổng thống Hàn Quốc Roh Moo-huyn và Chủ tịch Kim Jong-il đã ký trong cuộc gặp thượng đỉnh hai bên lần thứ hai ở Bình Nhưỡng, trong đó, kêu gọi hòa bình và sự hợp tác mạnh mẽ hơn giữa hai miền về kinh tế Hai miền đã tổ chức cuộc gặp cấp Thủ tướng lần gần nhất vào năm 1992, nhưng hoạt động này sau đó bị đình trệ do nổ ra căng thẳng xung quanh chương trình vũ khí hạt nhân của Bình Nhưỡng

Trang 39

Cũng sau Hội nghị thượng đỉnh lần thứ 2, vào tháng 12, các quan chức quân đội hàng đầu của Hàn Quốc và Triều Tiên đã tới làng Panmumjom thuộc vùng phi quân sự để hội đàm về khu vực đanh bắt cá chung, nơi đã từng có những trận đụng độ đẫm máu, lẻ tẻ vào năm 1999 và 2002 nhằm cải thiện quan hệ song phương Ngày 25/1, hai bên đã bắt đầu nối lại các cuộc đàm phán quân sự Đây là cuộc đối thọai lần đầu tiên giữa hai nước trong năm

2008 Tuy nhiên, tại cuộc hội đàm, hai bên đã không thể đạt được thỏa thuận

về vùng đánh bắt cá chung và vấn đề phân chia lãnh thổ

2.1.4 Thời kỳ 2008 đến nay

Sau khi nắm quyền vào tháng 2-2008, tổng thống Lee Myung-bak tiếp tục theo đuổi đường lối, chính sách hòa bình và hòa giải nhưng tuyên bố gắn vấn đề giải trừ vữ khí hạt nhân với viện trợ nhân đạo Để thực hiện mục tiêu, ông đã đề ra kế hoạch “tầm nhìn 3000: giải trừ vũ khí hạt nhân và mở cửa” trong đó nói rõ rằng nếu Triều Tiên chấp nhận từ bỏ hoàn toàn vũ khí hạt nhân và mở cửa với bên ngoài, Hàn Quốc sẽ cùng với cộng đồng thế giới giúp Triều Tiên cải thiện tình hình kinh tế, giáo dục, tài chính và hệ thống phúc lợi

xã hội để nâng cao thu nhập quốc dân bình quân theo đầu người của Triều Tiên lên mức 3000 USD trong vòng 10 năm

Triều Tiên đã vô cùng thất vọng khi tổng thống Lee Myung-bak tuyên

bố vấn đề giải trừ vũ khí hạt nhân phải đạt được trước khi có bất kì một sự hợp tác tích cực nào giữa hai miền Triều Tiên đã phẫn nộ trước sự can thiệp của Hàn Quốc vào vấn đề này, cho rằng đây là vấn đề phải đàm phán với Mỹ

Rõ ràng sự thành công trong việc giải quyết vấn đề hạt nhân chủ yếu phụ thuộc vào quá trình đàm phán giữa Mỹ với Triều Tiên cũng như cộng đồng quốc tế, không phụ thuộc vào các hành động hay tuyên bố nào của Hàn Quốc, mặc dù Hàn Quốc cũng là một trong những thành phần tham dự trong các cụộc đàm phán 6 bên Chính vì vậy, chính sách gây áp lực của Hàn Quốc thực

Trang 40

tế đã gây tác động ngược Hàn Quốc không thể thuyết phục hay bắt buộc Bình Nhưỡng từ bỏ vũ khí hạt nhân Việc tạo nên một vùng không có vũ khí hạt nhân chỉ có thể đạt được một vấn đề an ninh của Triều Tiên được đảm bảo và đồng thời, Triều Tiên phải nhận được viện trợ của cộng đồng quốc tế

Hàn Quốc đã vội vã khi nghĩ rằng việc ngừng giúp đỡ sẽ làm cho Triều Tiên từ bỏ vũ khí hạt nhân và kêu gọi viện trợ Trái lại, điều đó đã làm cho Bình Nhưỡng càng tức giận hơn và mối quan hệ hợp tác song phương gần như bị chấm dứt hoàn toàn

Khi nhận chức, ông Lee Myung-bak đã tuyên bố sẽ cải thiện quan hệ với Mỹ và gắn bó hợp tác kinh tế với tiến trình khủng hoảng hạt nhân ở Triều Tiên Ông cũng đã tuyên bố sẽ xem xét lại tất cả những bản thỏa thuận đã đạt được trong cuộc họp thượng đỉnh giữa tổng thống Roh Moo-huyn với nhà lãnh đạo Kim Jong-il vào ngày 3-10-2007 tại Bình Nhưỡng Trước những tuyên bố của Hàn Quốc, Triều Tiên đã lên tiếng rằng tổng thống Lee Myung-bak là “kẻ theo đuôi Mỹ” và chống lại các chính sách của Triều Tiên

Vấn đề càng trở nên nghiêm trọng khi một tướng lĩnh cấp cao của Hàn Quốc tuyên bố rằng Hàn Quốc sẵn sàng tấn công vào các cơ sở hạt nhân của Triều Tiên nếu thấy có dấu hiệu đe dọa đến quân đội Hàn Quốc Tuyên bố đó

đã làm cho Bình Nhưỡng nổi giận và phản ứng quyết liệt Ngay ngày 8 tháng

3, sau một hôm nghe tuyên bố, Triều Tiên đã cho thử tên lửa ở bờ biển phía Đông để thể hiện sức mạnh quân sự của mình Đồng thời, cho máy bay phản lực tuần tiễu gần không phận của Hàn Quốc, tuyên bố ngừng mọi đối thoại hai bên, ngừng việc dỡ bỏ các lò phản ứng hạt nhân theo thỏa thuận 6 bên đã đạt được từ năm trước và đe dọa “sẽ biến Seoul thành tro bụi” nếu bị tấn công Tiếp theo đó, Bình Nhưỡng lần lượt trục xuất hầu hết người Hàn Quốc đang làm việc tại Tổ hợp công nghiệp Kaeseong về nước,cắt đứt mọi liên lạc với Hàn Quốc, chỉ trích tổng thống Lee Myung-bak là “kẻ lòe bịp chính trị”

Ngày đăng: 02/07/2022, 02:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ngô Xuân Bình-Phạm Quý Long (chủ biên), Về một số vấn đề sau thống nhất của bán đảo Triều Tiên. Góc nhìn từ Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà nội 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một số vấn đề sau thống nhất của bán đảo Triều Tiên. Góc nhìn từ Việt Nam
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
2. Ngô Xuân Bình-Phạm Quý Long (chủ biên), Hàn Quốc trên đường phát triển, NXB Thống kê, Hà nội 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàn Quốc trên đường phát triển
Nhà XB: NXB Thống kê
3. Ngô Xuân Bình-Hồ Việt Hạnh (chủ biên), Tìm hiểu nhà nước pháp quyền Hàn Quốc, NXB Thống kê, Hà nội 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu nhà nước pháp quyền Hàn Quốc
Nhà XB: NXB Thống kê
4. Nguyễn Hữu Đức (chủ biên), Đảng Cộng sản Việt Nam với công cuộc đổi mới, NXB Quân đội nhân dân, Hà nội 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam với công cuộc đổi mới
Nhà XB: NXB Quân đội nhân dân
5. Dương Phú Hiệp-Ngô Xuân Bình (chủ biên), Hàn Quốc trước thềm thế kỷ XXI, NXB Thống kê, Hà nội 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàn Quốc trước thềm thế kỷ XXI
Nhà XB: NXB Thống kê
6. Nguyễn Văn Lịch, Bán đảo Triều Tiên trong quan hệ Đông Bắc Á sau chiến tranh lạnh, Nghiên cứu Nhật Bản, số 3-2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bán đảo Triều Tiên trong quan hệ Đông Bắc Á sau chiến tranh lạnh
12. Alexandre Y. Mansourov, The Time of Reckoning: US. Vital Interests on the Korea Peninsula and Respond to the Escalation of the North Korea Nuclear Crisis, trên Website: http://www.nautilus.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Time of Reckoning: US. Vital Interests on the Korea Peninsula and Respond to the Escalation of the North Korea Nuclear Crisis
13. Chae-jin Lee, China and Korea: Dynamic Relations, Hoover Press, Korea Sách, tạp chí
Tiêu đề: China and Korea: Dynamic Relations
15. Choong Nam Kim, “The Roh Moo Hyun Gorverment’s Policy toward North Korea”, International Journal of Korean Studies, Fall/Winter 2005, Vol.IX, No.2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “The Roh Moo Hyun Gorverment’s Policy toward North Korea”
16. Chon, H,J., “Characteristics of North Korean Policy”, KINU Research Abstracts’02, Korea Institute for National Unification, Abstract series 03-1, pp 39-45, Seoul, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Characteristics of North Korean Policy”
17. Christoppher Hale, North Korea in Evolution: The Correlation Between the Legal Framework and the Changing Dynamic of politic and the Economy, Korea Observer, Vol-No3/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: North Korea in Evolution: The Correlation Between the Legal Framework and the Changing Dynamic of politic and the Economy
22. Horishi Kimura, Putin’s policy Towards the Korean Peninsula: Why has Russia Been Losing its influences? Paper for the International Conference “Comeparing Different Approaches to Conflict Prevention and Management: Korean Peninsula and the Taiwan Strait” was held Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Comeparing Different Approaches to Conflict Prevention and Management: Korean Peninsula and the Taiwan Strait”
31. Kim, S.H, “North Korean Policy of Lee Myung-bak Goverment”, KINU Insignt, No 4, 2008, pp 1-12, Korea Institute for National Unification, Seoul, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “North Korean Policy of Lee Myung-bak Goverment”
32. Keith Partt and Richard Rutt, Korea – A Historical Dictionary, Curzon Press, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Korea – A Historical Dictionary
33. Larry A. Niksch, “Korea: US-South Korea relation – Issue for Congress”, CRS Issue Brief for Congress December 6, 2001, Congressional Research Service-Library of Congress Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Korea: US-South Korea relation – Issue for Congress”
34. Ministry of Unification, Current Status of Operation in Industrial Complex, Seoul 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Current Status of Operation in Industrial Complex
35. Nakato, S., “South Korea’s Paradigm Shift in North Korea Policy and Trilateral Cooperation among the US, Japan and Korea”, International Journal of Korea Unification Studies, Vol 17, No 1, 2008, pp 41-61, Korea Institude for National Unification, Seoul 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: South Korea’s Paradigm Shift in North Korea Policy and Trilateral Cooperation among the US, Japan and Korea
36. Park, JC., “Paradigm Change of North Korea Policy from Engagement to Preagmatism: Focusing on Seven Points”, KINU Insignht, No 7, 2008, pp 8-10, Korea Institute for National Unification, Seoul, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Paradigm Change of North Korea Policy from Engagement to Preagmatism: Focusing on Seven Points”
11. Hai miền Triều Tiên tiến tới thỏa thuận đoàn tụ gia đình. http://www6.vnmedia.vn Tiếng Anh Link
25. James Palais, Problems with Bush’s North Korea policy, 8/2/2003 trên website http://www.asck.org Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

DANH MỤC BẢNG - (LUẬN văn THẠC sĩ) quan hệ hợp tác giữa CHDCND triều tiên và hàn quốc thời kỳ sau chiến tranh lạnh
DANH MỤC BẢNG (Trang 5)
Bảng 2.2: Các mặt hàng sản xuất tại KIC - (LUẬN văn THẠC sĩ) quan hệ hợp tác giữa CHDCND triều tiên và hàn quốc thời kỳ sau chiến tranh lạnh
Bảng 2.2 Các mặt hàng sản xuất tại KIC (Trang 53)
Bảng 2.4: Trao đổi giữa các gia đình ly tán - (LUẬN văn THẠC sĩ) quan hệ hợp tác giữa CHDCND triều tiên và hàn quốc thời kỳ sau chiến tranh lạnh
Bảng 2.4 Trao đổi giữa các gia đình ly tán (Trang 66)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w