Do vậy việc nghiên cứu về mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam – Canada từ 1973 đến 2008 sẽ góp phần đưa ra những đánh giá đúng đắn về bản chất, cũng như xu hướng của mối quan hệ này để
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THÚY QUỲNH
QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT NAM - CANADA
TỪ NĂM 1973 ĐẾN 2008
LUẬN VĂN THẠC SĨ
(Chuyên ngành: Châu Á học)
Hà Nội – 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THÚY QUỲNH
QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT NAM - CANADA
Trang 31.1 Nhìn lại quan hệ Việt Nam - Canada tr-ớc 1973 8
1.2 Bối cảnh quốc tế và cỏc nhõn tố của quan hệ Việt Nam -
Canada từ 1973 – 2008
12
2.1 Chớnh sỏch đối ngoại của Việt Nam và chớnh sỏch đối ngoại
của Canada trong quan hệ hai nước
26
2.1.1 Chớnh sỏch đối ngoại của Việt Nam với Canada 26
2.1.2 Chớnh sỏch đối ngoại của Canada với Việt Nam 29
2.2 Thực trạng quan hệ Việt Nam – Canada 1973 - 2008 33
Chương 3 đánh giá chung và Triển vọng của quan hệ
ngoại giao Việt nam – Canada
Trang 4PHỤ LỤC 80
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
APEC Asian Pacific Economic Cooperation
Tổ chức Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương
ARF ASEAN region Forum
Diễn đàn khu vực ASEAN
ASEAN Association of South East Asian Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
CIDA Cơ quan phát triển quốc tế Canada
FIPA Hiệp định Bảo hộ đầu tư nước ngoài
IMF International Monetary Fund
Quỹ Tiền tệ quốc tế
NAFTA North American Free Trade Area
Khu vực Mậu dịch tự do Bắc Mỹ
NATO North Atlantic Treaty Organization
Hiệp ước Quân sự Bắc Đại Tây Dương
NGO Non Government Organization
Tổ chức phi chính phủ
OECD: Oganization for Economic Co-operation and Development
T ổ chức Hợp tác & Phát triển kinh tế
WB: World Bank
Ngân hàng Thế giới
WTO: World trade Organization
Tổ chức thương mại thế giới
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Canada là một quốc gia có chính sách đối ngoại rộng mở và cũng là một trong số rất ít các quốc gia không có lịch sử xâm chiếm thuộc địa, mà lại
có truyền thống lịch sử hoạt động tích cực, mang tính xây dựng trong các diễn đàn đa phương quốc tế cũng như vai trò trung gian hòa giải các tranh chấp quốc tế, thúc đẩy hòa bình và thịnh vượng trên toàn thế giới Các mối quan tâm đặc biệt, các mục tiêu cụ thể trong chính sách đối ngoại của Canada cũng như các cách thức để theo đuổi mục tiêu phù hợp với nhiều quốc gia trên thế giới Trong nhiều thập kỷ qua, Canada đã phát huy và sử dụng hợp lý những yếu tố nội lực và ngoại lực để phục vụ các mục tiêu phát triển đất nước và hợp tác quốc tế
Đối với Việt Nam, Canada đã sớm có mặt tại Việt Nam trong vai trò là thành viên của Ủy ban Giám sát và Kiểm soát Quốc tế (ICCS) sau hiệp định Geneva về Đông Dương năm 1954 Tuy nhiên tại thời điểm đó quan hệ giữa hai nước còn mờ nhạt, chủ yếu là quan hệ giữa Canada và chính quyền miền Nam Việt Nam Đến năm 1973, quan hệ giữa Việt Nam Dân chủ cộng hòa với Canada mới chính thức được thiết lập Kể từ đó đến nay, quan hệ giữa hai nước đã không ngừng phát triển, Canada đã ủng hộ quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam Canada và Việt Nam là đối tác quan trọng của nhau trên các diễn đàn đa phương như Cộng đồng các nước nói tiếng Pháp, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương (APEC)…Với mục tiêu hướng về Châu Á của Canada, Việt Nam hiện
Trang 7được coi như đối tác quan trọng, là cầu nối giúp Canada gắn kết với khu vực Châu Á
Trên thực tế quan hệ ngoại giao Việt Nam – Canada đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau, có những giai đoạn đã phát triển như sau khi Việt Nam mở cửa, đổi mới đất nước nhưng cũng có những giai đoạn quan hệ chỉ mang tính chất duy trì Nhưng nhìn chung quan hệ ngoại giao Việt Nam – Canada đang ngày càng được củng cố và phát triển hơn
Để có thể hiểu rõ hơn chính sách đối ngoại của Canada nói chung cũng như chính sách đối ngoại của Canada với Việt Nam cũng như với khu ASEAN nói riêng, cần phải hiểu rõ hơn một số vấn đề cơ bản đặt ra khi nghiên cứu quan hệ ngoại giao Việt Nam – Canada như là nhân tố tác động đến chính sách đối ngoại của Việt Nam với Canada và ngược lại, đặc điểm cơ bản của chính sách đối ngoại của Việt Nam và Canada Do vậy việc nghiên cứu về mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam – Canada từ 1973 đến 2008 sẽ góp phần đưa ra những đánh giá đúng đắn về bản chất, cũng như xu hướng của mối quan hệ này để từ đó có những đóng góp cho việc hoạch định và thực thi chính sách đối ngoại của Việt Nam với Canada cũng như của Việt Nam với các nước trên thế giới có hiệu quả
Trong điều kiện quan hệ quốc tế ngày càng phát triển, việc nghiên cứu quan hệ giữa Việt Nam và Canada là cần thiết, đáp ứng nhu cầu mở rộng quan
hệ quốc tế, đặc biệt là trên lĩnh vực kinh tế nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước ta hiện nay Theo cách xem xét đó, đề tài “Quan hệ ngoại giao Việt Nam – Canada từ 1973 đến 2008” được tôi lựa chọn cho luận văn của mình
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Cho đến nay, chưa có nhiều công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài này ở Việt Nam, nhất là những công trình nghiên cứu qui mô quan hệ Việt Nam và Canada Phần lớn các nghiên cứu là những bài báo được đăng tải trên
Trang 8một số tạp chí như Châu Mỹ ngày nay, tạp chí Nghiên cứu Quốc tế Như:
“Vài nét về quan hệ kinh tế Việt Nam – Canada” cuả tác giả Vũ Đăng Hinh trên tạp chí Châu Mỹ ngày nay số 5/1998, “Quan hệ Việt Nam – Canada phát triển vững chắc trong thế kỷ mới”, của tác giả Nguyễn Thiết Sơn đăng trên tạp chí Châu Mỹ ngày nay, số 6/2008 phân tích chính sách của Canada với Việt Nam trên khía cạnh chính trị, kinh tế, thương mại, hay “Hợp tác kinh tế
và viện trợ phát triển của Canada đối với Việt Nam” có trong Kỷ yếu hội thảo
“Việt Nam – Canada hướng tới hợp tác và phát triển” do Viện Nghiên cứu Châu Mỹ- Viện Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức, trong đó đáng chú ý là bài viết “Quan hệ Việt Nam – Canada 1954-2008 lịch sử và triển vọng” của PGS,TS Trần Thị Vinh Một số nghiên cứu của một số cơ quan nghiên cứu có liên quan đến đề tài nhưng cũng chỉ điểm qua chính sách của Canada với Việt Nam như: nghiên cứu “Quan hệ Canada – Mỹ, những bài học kinh nghiêm” của Đại sứ Việt Nam tại Canada Nguyễn Đức Hùng do Vụ Châu Mỹ, Bộ Ngoại giao chủ biên năm 2006, hay “Canada thanh bình và thịnh vượng” của tác giả Phạm Hoàng Hải do Nhà xuất bản Thế giới chủ biên Ngoài những công trình của tác giả Việt Nam còn có một số công trình khác của tác giả nước ngoài được dịch sang tiếng Việt như: “Giá trị Canada trong chính sách đối ngoại” của Steve Lee đăng trên tạp chí Châu Mỹ ngày nay số 5/2003
Như vậy có thế thấy nghiên cứu về quan hệ ngoại giao giữa Việt nam – Canada ở Việt Nam còn rất hạn chế Tuy nhiên, các bài viết trên đã giúp người viết có thể hoàn thành bài luận văn của mình
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài là nghiên cứu, làm sáng tỏ chính sách ngoại giao của Việt Nam với Canada và ngược lại đã làm rõ và phân tích quan hệ Việt Nam – Canada
Trang 9* Giới hạn nghiên cứu:
Về nội dung: Chủ yếu trên lĩnh vực ngoại giao giữa Việt Nam – Canada
Về thời gian: Từ năm 2003 đến 2008
* Nội dung nghiên cứu:
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, trên cơ sở giới hạn về phạm vi nghiên cứu, luận văn tập trung nghiên cứu những vẫn đề sau:
- Những nhân tố cơ bản tác động đến quan hệ giữa Việt Nam – Canada
- Chính sách đối ngoại của Việt Nam và Canada
- Chính sách đối ngoại của Canada và Việt Nam
- Thực trạng quan hệ Việt Nam – Canada và đánh giá triển vọng quan
hệ giữa hai nước
4 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là “Quan hệ ngoại giao Việt Nam - Canada từ năm 1973 đến 2008”, trên các bình diện chính trị, kinh tế thương mại và văn hóa giáo dục Từ đó, luận văn nêu lên những đánh giá chung và
triển vọng quan hệ hai nước trong những năm tới
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin làm phương pháp nghiên cứu chủ đạo Các phương pháp khoa học xã hội liên ngành, như phương pháp lịch sử, logich, so sánh đã được sử dụng làm sáng tỏ thêm các vấn đề nghiên cứu
Trang 106 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, đề tài có 3 chương:
Chương 1: Các nhân tố của mối quan hệ Việt Nam - Canada
Chương 2: Quan hệ Việt Nam – Canada từ 1973 - 2008
Chương 3: Đánh giá chung và triển vọng của quan hệ Việt Nam -
Canada
Trang 11Chương 1
CÁC NHÂN TỐ CHỦ YẾU CHI PHỐI MỐI QUAN HỆ VIỆT NAM –
CANADA 1.1 Nhìn lại quan hệ Việt Nam - Canada trước 1973
Việt Nam và Canada chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm
1973, nhưng trên thực tế hai nước đã có những mối quan hệ bước đầu từ giữa thập niên 50 của thế kỷ trước Canada đã tham gia vào các hoạt động quốc tế
có liên quan đến việc giải quyết các vấn đề về chính trị và hòa bình ở Việt Nam Năm 1954, Canada cùng với Ấn Độ, Ba Lan tham gia Uỷ ban quốc tế kiểm soát và giám sát đối với việc thực hiện Hiệp định Geneva về lập lại hòa bình ở Đông Dương Gần 20 năm sau, Canada lại một lần nữa tham gia vào
Uỷ ban quốc tế kiểm soát và giám sát cho việc thực hiện hiệp định Paris năm
1973 về chấm dứt chiến tranh và lập lại hoà bình ở Việt Nam Quan hệ Việt Nam – Canada thời kỳ đầu vẫn chưa có nhiều dấu ấn quan trọng nhưng Canada đã bắt đầu có những tín hiệu quan tâm đến Việt Nam Trong chiến tranh lạnh mặc dù Canada là đồng minh của Mỹ nhưng trên thực tế, Canada không trực tiếp gửi quân tham chiến và thực hiện chính sách không can dự vào chiến tranh Việt Nam Các chính phủ cầm quyền ở Canada trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, ở những mức độ khác nhau đã phản đối việc Mỹ leo thang và kéo dài cuộc chiến Các nhà ngoại giao Canada đã có những cố gắng trong vai trò làm trung gian trong đàm phán giữa Washington và Hà Nội, nhằm tìm kiếm giải pháp kết thúc chiến tranh và sự rút lui trong danh dự của
Mỹ Để thực hiện điều này, nhà ngoại giao Canada Jaimes B.Seaborn, nguyên thành viên Uỷ ban Giám sát quốc tế lúc bây giờ đã đến Việt Nam 5 lần để thực hiện sứ mệnh này[6]
Vào những năm 60 thế kỷ trước , phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam đã diễn ra rộng khắp trên cả nước Mỹ Hàng ngàn thanh niên Mỹ lúc đó
Trang 12trốn quân dịch đã di cư sang Canada và coi đây là nơi trú ẩn an toàn nhất Theo số liệu thông kê của Bộ Di trú Canada, có khoảng 20 ngàn đến 30 ngàn thanh niên Mỹ trốn quân dịch và 12 ngàn lính Mỹ đào ngũ xin nhập cư vào Canada[28] Bên cạnh đó, Canada cũng đưa ra chính sách nhập cư hết sức thuận lợi, tạo điều kiện cho những người nhập cư được vào Canada một cách
dễ dàng Phần lớn họ được định cư tại các thành phố lớn như Montreal, Toronto, Vancouver, đồng thời tham gia vào Liên hiệp Sinh viên vì hoà bình, một tổ chức chống chiến tranh ở Canada và tổ chức này có liên hệ với Tổ chức Sinh viên dân chủ Mỹ Bên cạnh đó, số lượng công dân Mỹ, những người chống chiến tranh Việt Nam nhập cư vào Canada cũng ngày càng tăng, khoảng từ 50 ngàn đến 120 ngàn người Vào năm 1971 -1972, lượng người
Mỹ nhập cư vào Canada nhiều hơn so với lượng người nhập cư từ các nước khác Điều này đã tạo nên làn sóng di cư vì lí do chính trị lớn nhất trong lịch
sử nước Mỹ kể từ sau cách mạng Mỹ[13] Lượng người Mỹ di cư sang Canada nhiều đã khiến cho phong trào chống chiến tranh ở Canada ngày càng lan rộng, đặc biệt trong các trường đại học và cao đẳng với sự tham gia của các nhóm sinh viên phản chiến
Tuy nhiên, đấy là mới chỉ nhìn ở mặt tích cực và nó mới chỉ phản ánh được một phần sự thật Trên thực tế Canada đã can dự sâu vào chiến tranh Việt nam Theo hãng truyền hình quốc gia Canada CBC cho thấy, đã có “cuộc chiến tranh bí mật của Canada”[9] Canada là một trong những nhà cung cấp chính về vũ khí, thiết bị quân sự chính cho Mỹ Theo Hiệp định về trao đổi sản phẩm quốc phòng ký với Mỹ năm 1958, Canada đã bán cho Mỹ tổng giá trị vũ khí, đạn dược, bom napalm và hoá chất có trị giá lên đến 2,5 tỷ USD trong những năm 1965 – 1973 Bên cạnh đó, cũng trong thời gian này, Canada xuất khẩu sang Mỹ khoảng 10 tỷ USD các sản phẩm đồ uống, quân trang quân dụng, vật liệu chiến tranh Bộ Quốc phòng Canada đã hợp tác với
Trang 13Mỹ trong các dự án thử nghiệm chất diệt cỏ để sử dụng trong chiến tranh Việt Nam Đồng thời, với tư cách là thành viên của NATO, Canada đã cho phép NATO tiến hành các hoạt động thử vũ khí, tập trận trên lãnh thổ nước mình
Vì vậy, một số tỉnh của Canada sau này đã phải gánh chịu những hậu quả của việc thử nghiệm chất độc màu da cam Ngoài ra, có khoảng 10 ngàn người Canada tham gia quân đội Mỹ với tư cách là lính đánh thuê cho quân đội Mỹ trong thời gian chiến tranh tại Việt Nam[28] Điều này đã gây ảnh hưởng đến mối quan hệ trước đây giữa Việt Nam và Canada
Vào những năm giữa của thập niên 60, kinh tế Canada giảm sút đến mức thấp nhất kể từ sau Thế chiến thứ hai Trong khi đó kinh tế Mỹ lại tăng nhanh, đó là thời điểm thuận lợi cho các công ty Mỹ mở rộng dự án đầu tư vào Canada, đặc biệt là trong ngành công nghiệp và khai thác kim loại Một trong những nguyên nhân của sự tăng trưởng này là do những đơn đặt hàng có nguồn gốc từ cuộc chiến tranh của Mỹ Bộ truởng Bộ Lao động Canada , Jean Marchand, khi trả lời phỏng vấn phóng viên ở Montreal về vấn đề này đã lý giải rằng, khoảng 150 ngàn công nhân Canada sẽ mất việc nếu chúng ta ngừng sản xuất các thiết bị và vật liệu chiến tranh theo đơn đặt hàng của Mỹ[26]
Trong suốt thời gian diễn ra chiến tranh Việt Nam, Canada một mặt muốn giữ quan hệ với Mỹ do đang có nhiều phụ thuộc vào kinh tế Mỹ, mặt khác lại viện trợ giúp đỡ để duy trì quan hệ với Việt Nam Trong khoảng thời gian từ năm 1950 - 1975, Canada đã viện trợ nhân đạo cho các nạn nhân chiến tranh Việt Nam thông qua Hội Chữ Thập Đỏ Canada và tổ chức Colombo lên tới 29 triệu USD Tuy nhiên, số tiền này lại được chuyển cho chính quyền Nam Việt Nam, còn Bắc Việt nam thì hoàn toàn không nhận được chút nào
Để giải thích cho vấn đề này, Gordon Lonmier, một thành viên của Uỷ ban Giám sát quốc tế Canada vào tháng 3/1968 đã nói rằng “Chương trình viện trợ
Trang 14của chúng ta chỉ mang ý nghiã nhân đạo một nửa, còn một nửa mang tính chính trị”[27]
Sau Hiệp định Paris về Việt Nam được ký kết, từ ngày 28/1 đến ngày 31/7/1973, Canada đã gửi 240 người thuộc Lực lượng gìn giữ hoà bình tham gia vào Uỷ ban Giám sát quốc tế (ICCS) cùng với Hungary, Indonesia và Ba lan Tháng 4/1975, sau khi miền Nam Việt Nam hoàn toàn giải phóng, chính phủ Canada tiếp nhận hàng chục ngàn người Việt Nam tị nạn sang Canada và đây là dòng người nhập cư lớn nhất trong lịch sử Canada và chủ yếu sống tập trung ở thành phố Vancouver, Toronto và Montreal
Như vậy, chiến tranh Việt Nam đã tác động không nhỏ đến Canada trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị – xã hội và văn hoá Nhiều người Canada có thể cho rằng Canada là nước trung lập, trợ giúp cho cả Việt Nam và Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam Tuy nhiên trên thực tế thì cả Mỹ và Canada đều là nước tư bản nên Canada đã đứng về phía Mỹ trong chiến lược ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản và tạo lợi ích chiến lược trong cuộc đối đầu Đông Tây Do vậy chính sách của Canada vào thời điểm đó là “Chính sách của một nước phương Tây đối với một nước cộng sản”[6, tr5] Đó là lí do lý giải vì sao Canada không thể hoàn toàn đóng vai trò trung lập mà vẫn gián tiếp can dự vào chiến tranh Việt Nam
Hơn nữa, vào thập niên 50 của thế kỷ trước, trong bối cảnh của trật tự thế giới hai cực và sự mở rộng ảnh hưởng sức mạnh của nước Mỹ, Canada thực hiện chiến lược liên minh toàn diện với Mỹ và là một trong số những nước phương Tây công nhận chính quyền Việt Nam Cộng hoà từ cuối năm
1955
Đến cuối thập niên 50, Canada đã có sự điều chỉnh chính sách đối ngoại theo hướng giảm dần sự lệ thuộc vào Mỹ bằng chính sách đa phương hoá quan hệ quốc tế, bắt đầu từ chính phủ của Thủ tướng Diefenbaker (1957-
Trang 151963), tiếp theo là chính phủ của Thủ tướng Pearson (1963-1968) và được đẩy mạnh dưới thời của Thủ tướng Trudeau (1968- 1979) (1980 -1984) Sự điều chỉnh chính sách này đã tác động lớn đến quan điểm của Canada đối với cuộc chiến ở Việt Nam Ngày 2/4/1965, trước việc Mỹ ném bom đánh phá miền Bắc Việt Nam, Thủ tướng Pearson, trong chuyến thăm Mỹ đã công khai phê phán chính sách chiến tranh của Mỹ Dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế, Chính phủ Canada đã kêu gọi Chính phủ Mỹ chấm dứt ném bom ở Bắc Việt Nam Tháng 1-1973, chính phủ của Thủ tướng Trudeau đã trình lên Quốc hội Canada một nghị quyết lên án cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam.[6,tr 8] Năm 1973, sau khi Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, Canada đã tham gia vào Uỷ ban Giám sát và Kiểm soát quốc tế việc thi hành Hiệp định này Cũng trong năm 1973, Canada
đã chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Tháng 9-1976, Việt Nam mở Đại sứ quán ở Ottawa, thủ đô Canada Thời điểm này Mỹ bắt đầu tiến hành bao vây cấm vận với Việt Nam do đó mối quan hệ giữa Canada với Việt Nam từ năm 1973 đến 1976 không có nhiều biến chuyển Sau đó, Canada cũng đi trước Mỹ trong việc mở Phái đoàn ngoại giao của Canada ở Hà Nội tháng 7-1991 và chính thức khai trương Đại sứ quán của Canada ở Hà Nội tháng 8-1994 Kể từ thời điểm này, quan hệ Việt Nam - Canada không ngừng phát triển và đạt được nhiều kết quả hợp tác trên các lĩnh vực khác nhau
1.2 Bối cảnh quốc tế và các nhân tố của quan hệ Việt Nam - Canada từ
1973 – 2008
Canada là một đất nước rộng lớn, diện tích lớn thứ hai trên thế giới (sau Liên bang Nga), nằm ở lục địa Bắc Mỹ, phía Nam giáp Hoa Kỳ, phía Bắc giáp Alaska (Hoa Kỳ) và Bắc Cực, phía Đông giáp Đại Tây Dương, phía Tây giáp Thái Bình Dương và là đất nước đa dạng về thiên nhiên, sắc tộc và văn
Trang 16hóa Thêm nữa, Canada cũng là một đất nước yêu chuộng hoà bình, phấn đấu vì hoà bình và trong lịch sử Canada chưa bao giờ tham gia chiến tranh hay gây chiến tranh để giành thuộc địa Điều này càng làm tăng vị thế của Canada trên trường quốc tế
Canada là một trong những nền kinh tế lớn trên thế giới, một quốc gia phát triển hàng đầu thế giới về kinh tế và xã hội có thu nhập tính theo đầu người lên tới 40.000 USD với nhiều tài nguyên, khoáng sản như: quặng sắt, niken, kẽm, đồng, vàng, chì, potat, bạc, dầu mỏ, than, thuỷ lực, thuỷ sản… Có nền khoa học công nghệ phát triển Các ngành công nghiệp chính của Canada gồm: khai mỏ, chế biến gỗ, giấy, thực phẩm, thiết bị vận tải, hoá chất, dầu khí, điện năng, công nghệ viễn thông, sinh học và dược phẩm… Sản phẩm nông nghiệp gồm: lúa mỳ, hạt có dầu, hoa quả, thịt gia súc, đồ uống, rượu… Bạn hàng chính: Mỹ, Nhật, Anh, Liên minh Châu Âu Canada là một thành viên trong nhóm các nước công nghiệp phát triển G7, và G20 cũng là thành viên tích cực trong hầu hết các tổ chức quốc tế quan trọng trên thế giới như: Liên hợp quốc, Khối Liên hiệp Anh, Francophonie, WTO, IMF, WB, OECD, NATO, NAFTA, APEC Canada cũng là nước đối thoại tích cực với hầu hết các tổ chức khu vực và diễn đàn trên thế giới trong đó có ASEAN và diễn đàn ARF
Về điều kiện xã hội, là một quốc gia có diện tích lãnh thổ rộng lớn nhưng dân số của Canada khá ít, do đó, nguồn nhân lực của Canada khá hạn chế Thành phần cư dân của Canada khá đa dạng với hơn 200 nhóm sắc tộc khác nhau, đa số là dân nhập cư từ khắp nơi trên thế giới Do đó, xã hội Canada là một xã hội đa sắc tộc, đa văn hóa Với thành phần dân cư phức tạp như vậy nhưng về cơ bản Canada không có những cuộc xung đột sắc tộc Mọi công dân đều được hưởng quyền bình đẳng trong đời sống chính trị, kinh tế,
xã hội Các cộng đồng cư dân nhập cư mặc dù vẫn giữ bản sắc văn hóa và
Trang 17phong tục tập quán riêng của họ nhưng đã hòa nhập vào đời sống xã hội Canada, cùng chung sức tạo ra những thành tựu phát triển kinh tế – xã hội ở trình độ cao Trong lĩnh vực kinh tế, Canada có mức thu nhập tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trên 1.000 tỷ USD/năm, bình quân thu nhập tính theo đầu người trên 40.000 USD/năm Do đó, chính phủ Canada có điều kiện dành ngân sách lớn cho các lĩnh vực giáo dục và phúc lợi xã hội Canada là nước có nền giáo dục rất phát triển với chất lượng đạt tiêu chuẩn quốc tế, trong khi đó chi phí sinh hoạt và học phí thường thấp hơn so với một số nước khác như Mỹ
và Anh Theo đánh giá của Liên hợp quốc, Canada là “một trong những nơi tốt nhất trên thế giới để sinh sống”[21] Canada cũng là nước có trình độ khoa học công nghệ phát triển cao Đất nước này có tới 18 công dân được nhận giải thưởng Nobel cao quí trong các lĩnh vực vật lý, hóa học và y học Canada còn
là một trong những cường quốc hàng đầu thế giới về công nghệ thông tin và máy tính, đứng thứ 12 trên thế giới về số người sử dụng internet, với 84,3% tổng dân số cả nước Canada cũng là một cường quốc trong nhiều lĩnh vực khác như viễn thông, vận tải và cơ khí, hàng không vũ trụ, giao thông đô thị,
vi điện tử, công nghệ sinh học, laser và quang điện tử, v.v Có thể tóm tắt những thành tựu chính về kinh tế – xã hội của Canada là: 1) có trình độ phát triển kinh tế và khoa học kỹ thuật thuộc nhóm nước phát triển hàng đầu thế giới; 2) có đời sống văn hóa xã hội cao trong môi trường hòa bình và thịnh vượng và một nền dân chủ nghị viện ổn định
Những thành tựu về phát triển kinh tế – xã hội của Canada sẽ có nhiều
ý nghĩa hơn khi so sánh với một số nước công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới khác Mặc dù với số dân khiêm tốn nhưng trên một số lĩnh vực Canada thậm chí vượt qua một số nước trong nhóm này, được thể hiện qua bảng số liệu so sánh dưới đây
Trang 18Sản xuất năng lượng
(tương đương với
triệu tấn dầu, năm
của nam (số năm) 78,4 75,4 77,5 77,2 78,4 77,1 79,2 Tuổi thọ trung bình
Trang 19cao hơn các nước này Mức tăng trưởng GDP trung bình hàng năm của Canada từ năm 1998 đến năm 2008 cao hơn mức của tất cả các nước trong nhóm G7 Bình quân tính theo đầu người năm 2008 của Canada cao hơn Pháp, Đức, Anh, Italia và Nhật Bản Với mức thu nhập tính theo đầu người cao như vậy, đời sống của người dân Canada được đảm bảo với mức sống cao Do đó, tỷ lệ phần trăm GDP năm 2006 đầu tư cho giáo dục của Canada cao hơn mức của Pháp, Đức, Anh, Italia và Nhật Bản; và tỷ lệ phần trăm GDP năm 2007 dành cho y tế của Canada cao hơn Anh, Italia và Nhật Bản Cũng theo số liệu của bảng trên, tuổi thọ trung bình của người Canada cao hơn tuổi thọ trung bình của người Mỹ mặc dù Mỹ là nước có mức thu nhập bình quân đầu người cao hơn mức của Canada Đặc biệt, về sản xuất năng lượng, bao gồm thủy điện, nhiệt điện và điện hạt nhân, Canada chỉ đứng sau Mỹ và cao hơn hẳn mức sản xuất năng lượng của các nước Pháp, Đức, Anh, Italia và Nhật Bản
Mặc dù những số liệu trên đây chưa thật đầy đủ về bức tranh kinh tế –
xã hội của Canada nhưng nó đã cho thấy Canada là một đất nước có trình độ phát triển cao trên nhiều lĩnh vực Sự phát triển này phần lớn phụ thuộc vào những chính sách đúng đắn trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội của Canada Canada đã đưa ra được những chính sách nhằm phát huy được mọi nguồn lực trong nước, tạo ra những thành tựu đáng khâm phục cho Canada Ngoài chính sách đối ngoại, những nguồn lực mạnh mẽ trong nước chính là
cơ sở quan trọng cho chính phủ hoạch định và thực thi chính sách đối ngoại của mình một cách có hiệu quả Điều này cũng hoàn toàn đúng với trường hợp của Canada
Tương ứng với vị thế về kinh tế, văn hóa, chính trị, Canada đã tham gia
và là thành viên của rất nhiều các tổ chức quốc tế như: Liên hợp quốc, Khối
Trang 20Liên hiệp Anh, Francophonie, WTO, IMF, WB, OECD, NATO, NAFTA, APEC, bên đối thoại ARF…
Còn Việt Nam là một nước ở Đông Nam Á với 85 triệu dân Dân số Việt Nam là một dân số trẻ, một thế mạnh đáng kể Phát biểu nhân dịp 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam – Canada, Đại sứ Richard Lecoq đánh giá cao năng lực và sức sống đa dạng của Việt Nam, thể hiện rõ nhất ở giới trẻ Việt Nam Theo ông, sức trẻ Việt Nam là một thế mạnh sẽ tạo nên những thay đổi lớn[16]
Hiện nay, Việt Nam là một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất trên thế giới Trong những năm gần đây, Việt Nam đang trở thành điểm đến hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài Các công ty nước ngoài đang đến Việt Nam đầu tư và lượng vốn FDI đổ vào đây được dự báo là sẽ tăng lên 13
tỷ USD trong năm 2007, so với mức 10 tỷ USD trong 2006 Tập đoàn Intel đã xây dựng một nhà máy 1 tỷ USD tại Thành phố Hồ Chí Minh Đồng thời với
sự phát triển mạnh về kinh tế, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc
tế cũng ngày càng được nâng cao Việt Nam đã tích tham gia cực ngày càng nhiều vào các vấn đề khu vực và toàn cầu và có vai trò ngày càng quan trọng trong ASEAN, là thành viên mới của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO),
Hơn nữa, Cộng đồng người Việt Nam ở Canada có khoảng hơn 250.000 người Người Việt ở Canada có tiềm năng tri thức khá lớn, nhiều người có trình độ khoa học cao đang làm việc, giảng dạy tại một số trường đại học lớn như: Laval, Quebec, Montreal, Waterloo, Toronto, British Colombia… Nhiều trí thức làm việc trong các lĩnh vực mũi nhọn như: viễn thông, tin học, điện tử, môi trường, sinh học… Do vậy, cộng đồng người Việt Nam tại Canada có ảnh hưởng quan trọng trong xã hội và đóng góp đáng kể vào sự phát triển của đất nước Canada Họ sẽ trở thành nhịp cầu nối giữa hai nước
Trang 21Dựa vào những tiềm năng của hai nước cùng với xu thế chung hội nhập quốc tế trên tất cả các mặt của cuộc sống là một điều kiện tiên quyết cho phát triển, một xu thế tất yếu mà không một quốc gia nào có thể đứng ngoài, đó cũng chính là những nhân tố quyết định thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng quan hệ hai nước Việt Nam – Canada trong những năm qua
Bên cạnh đó, Chính phủ Canada đã điều chỉnh chính sách đối ngoại,
mở rộng quan hệ với nhiều khu vực, nhiều nước khác nhau trên thế giới, đặc biệt chú trọng phát triển và mở rộng quan hệ với các nước châu Á, trong đó
có Việt Nam
Bối cảnh quốc tế hiện nay cũng tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi hơn cho Canada trong quan hệ quốc tế Với sự phát triển vượt bậc của toàn cầu hoá về mọi mặt của đời sống quốc tế, với sự chấm dứt của chiến tranh lạnh làm cho thế giới trở nên đa cực hơn và với xu hướng cởi mở hơn trong quan hệ quốc tế của hầu hết tất cả các quốc gia cũng như các tổ chức quốc tế, Canada ngày càng có điều kiện tốt hơn để hoạch định và thực hiện chính sách đối ngoại của mình Canada có thể đối thoại trực tiếp và cởi mở với các nước, với các tổ chức quốc tế và ngược lại trong việc xây dựng, hoạch định và thực hiện chính sách đối ngoại của mình
Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, nhất là bước vào thập niên đầu của thế kỷ XXI, xu thế hòa bình phát triển trở thành xu thế chủ đạo trên thế giới Các nước đều tập trung phát triển đất nước, phát triển kinh tế trở thành nhiệm
vụ hàng đầu của các quốc gia
Quá trình toàn cầu hóa, khu vực hóa ngày càng đi vào chiều sâu và tốc
độ phát triển như vũ bão của khoa học – công nghệ không chỉ làm cho mức độ tùy thuộc lẫn nhau giữa các nước ngày càng tăng mà còn thúc đẩy mạnh mẽ
sự phát triển của tri thức con người Toàn cầu hóa làm cho thị trường của mỗi quốc gia được mở rộng ra phạm vi quốc tế, nhờ đó quan hệ mua bán hàng hóa
Trang 22và dịch vụ được tăng lên nhanh chóng Thêm vào đó, vốn tri thức to lớn của nhân loại ngày càng được xã hội hoá, quốc tế hóa và toàn cầu hóa cao độ cũng tác động tới mọi mặt của đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của từng quốc gia Thông tin, tri thức được phổ biến rộng rãi trên phạm vi toàn thế giới và do đó gắn kết con người với nhau, kết quả là các quốc gia tác động qua lại lẫn nhau, chịu ảnh hưởng của nhau ngày càng sâu sắc Có thể nói, chưa bao giờ mối quan hệ của các quốc gia được mở rộng như trong bối quốc
tế cảnh hiện nay và sự phát triển của mỗi quốc gia gắn liền với các quốc gia khác vì lợi ích chung của tất cả các bên
Hiện nay với xu hướng cởi mở hơn trong quan hệ quốc tế giữa các nước và các tổ chức quốc tế đã khiến Canada ngày càng có điều kiện tốt hơn trong việc hoạch định chính sách đối ngoại của mình Canada trước hết chịu nhiều ảnh hưởng của Mỹ trong suốt chiều dài lịch sử của mình bởi Canada là một nước láng giềng của Mỹ và có nhiều tương đồng về lịch sử, văn hóa và chính trị Năm 1867 Canada trở thành quốc gia bán độc lập[2, tr25] Kể từ đó, quan hệ của Canada với Mỹ luôn có sự gắn bó, về cơ bản là mối quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện với Mỹ Canada ủng hộ Mỹ trong nhiều vấn đề quốc
tế, phục vụ lợi ích quốc gia của Canada Tuy nhiên, Canada luôn phải chịu nhiều sức ép của chủ nghĩa cường quyền Mỹ Mặc dù vậy, Canada trong nhiều trường hợp đã thể hiện tính tự chủ trong chính sách đối ngoại của mình, thậm chí có những khác biệt về quan điểm trong một số vấn đề quốc tế quan trọng, từng bước thoát ra khỏi sự ràng buộc và thao túng của Mỹ nhằm giữ vững độc lập và chủ quyền dân tộc của Canada[2] Thực tế này được một nhà quan sát phương Tây mô tả là “Canada đã lịch sự tách mình ra khỏi Mỹ theo
những cách nhất định”[12]
Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Canada là đồng minh của Mỹ và là một thành viên của khối NATO do Mỹ lãnh đạo nhưng Canada không hoàn
Trang 23toàn chống lại các nước trong phe xã hội chủ nghĩa Điều này thể hiện rõ qua hai trường hợp tiêu biểu là Cuba và Trung Quốc Đối với Cuba, trong khi Mỹ thi hành chính sách thù địch chống Cuba, đặc biệt từ sau cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba năm 1962, Canada tiếp tục duy trì quan hệ với quốc gia xã hội chủ nghĩa duy nhất ở Tây bán cầu Canada phản đối lệnh cấm vận của Mỹ với Cuba, thể hiện rõ qua tuyên bố của Ngoại trưởng Canada Howard Green năm
1962 rằng: “Nếu chúng ta (Canada) theo Mỹ lúc này thì chúng ta sẽ mãi mãi
là chư hầu của Mỹ”[6, tr25] Bất chấp lệnh cấm vận của Mỹ đối với Cuba, Canada tăng cường quan hệ với Cuba trên nhiều lĩnh vực Canada là đối tác thương mại lớn thứ ba của Cuba Cho đến nay, Canada đã cung cấp hàng chục triệu USD viện trợ phát triển chính thức cho Cuba[6,tr 28] Đối với Trung Quốc, Canada đã sớm thực hiện tiến trình bình thường hóa quan hệ với cường quốc xã hội chủ nghĩa này trong những thập niên cẳng thẳng của cuộc Chiến tranh Lạnh Năm 1960, Canada ký hiệp định mua bán lúa mì đầu tiên với Trung Quốc Năm 1970, Canada thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc Năm 1973, Thủ tướng Canada Pierre E Trudeau thăm Trung Quốc, chuyến thăm đầu tiên của một nguyên thủ Canada đến Trung Quốc Từ năm 1984-
1989, Canada và Trung Quốc đã trao đổi năm chuyến thăm cấp nguyên thủ quốc gia, Chính phủ và Quốc hội
Ngoài sự khác biệt về chính sách đối với các nước xã hội chủ nghĩa, Canada cũng có những khác biệt trong chính sách đối với một số vấn đề khác như việc Mỹ rút khỏi Hiệp ước ABM (ký với Liên Xô năm 1972) và Tòa án hình sự quốc tế, vấn đề Iraq, vấn đề phòng thủ tên lửa, chi phí quân sự Canada cũng có một số bất đồng lớn trong quan hệ song phương với Mỹ về thương mại và chủ quyền lãnh thổ[29] Tuy nhiên, Canada không để cho những khác biệt về quan điểm và chính sách giữa hai nước làm phương hại đến quan hệ với Mỹ và lợi ích quốc gia của Canada Điều này thể hiện rõ
Trang 24trong một phát biểu năm 1994 của Thủ tướng Canada Jean Chrétien nói rằng:
“Chúng tôi (Canada và Mỹ) yêu quí nhau Nhưng tôi chỉ không muốn thấy Canada bị coi là bang thứ 51 của nước Mỹ”[29,tr1] Trên thực tế, những bất đồng giữa hai nước không cản trở mối quan hệ tốt đẹp giữa Canada và Mỹ Trong một cuộc thăm dò công luận tháng 1-2009,có tới 86% người Canada ủng hộ Tổng thống Mỹ B Obama và chuyến thăm nước ngoài chính thức đầu tiên của Tổng thống Obama là Canada (tháng 2-2009) Như vậy, hai nước vẫn thực sự “yêu quí nhau” theo cách nói của Thủ tướng Canada Jean Chrétien và đều quan trọng đối với nhau Đây cũng là một kinh nghiệm của Canada trong việc ứng xử quan hệ với siêu cường Mỹ mà nhiều nước trong đó có Việt Nam
Ngoài việc coi trọng quan hệ với Mỹ, Canada thực hiện chính sách đa phương hóa quan hệ quốc tế, mở rộng mạng lưới quan hệ ngoại giao song phương nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp từ hệ thống quốc tế pháp quyền cũng như dư luận chung của các nước để làm đối trọng với sức ép của siêu cường
Mỹ đối với Canada Đồng thời, thông qua việc mở rộng quan hệ quốc tế sẽ làm giảm sự phụ thuộc của Canada vào Mỹ trên một số lĩnh vực và nâng cao
vị thế quốc tế của Canada Cho đến nay, Canada thiết lập quan hệ ngoại giao với 224 quốc gia và lãnh thổ trên thế giới Đồng thời, Canada là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế và khu vực Có thể hiểu thêm về chính sách đối ngoại cũng như vị thế quốc tế của Canada thông qua việc tìm hiểu sự tham gia của Canada trong một số tổ chức quốc tế và khu vực sau Do những di sản lịch sử để lại, Canada tham gia hai tổ chức do Anh và Pháp đứng đầu là Khối Liên hiệp Anh (Commonwealth) và Khối Pháp ngữ (Francophonie) Trong Khối Liên hiệp Anh, Canada là nước đóng góp tài chính lớn thứ hai với hơn
23 triệu đô la Canada cho các chương trình khác nhau của khối này trong năm tài chính 2009-2010 Trong Khối Pháp ngữ, Canada cũng là nước đóng góp
Trang 25tài chính lớn thứ hai với khoảng 40 triệu đô la Canada hàng năm Tại Châu
Mỹ, Canada là thành viên của Tổ chức các nước châu Mỹ (OAS) và cũng là nước đóng tài chính lớn thứ hai trong tổ chức này với 11,4 triệu đô la Canada năm 2010 Theo quan điểm của chính phủ Canada, Canada coi các tổ chức Commonwealth, Francophonie và OAS là những diễn đàn đa phương cho sự đối thoại và hợp tác, thông qua đó “Canada có nhiều cơ hội hơn để đóng một vai trò quốc tế quan trọng trong các lĩnh vực ngôn ngữ, văn hóa, chính trị, kinh tế và công nghệ mới” và xúc tiến lợi ích quốc gia của Canada trong hợp tác với các quốc gia trên thế giới Đồng thời, những đóng góp quan trọng của Canada đối với các tổ chức này sẽ được các nước công nhận như là những đóng góp cho sự phát triển của các cộng đồng khác nhau trên thế giới, qua đó nâng cao vị thế quốc tế của Canada[8] Ngoài ra, Canada cũng tham gia các tổ chức kinh tế khác như Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), nhóm G8 (tám nước công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới), nhóm G20 (gồm 20 nước có nền kinh tế đang phát triển mạnh trên thế giới), Hiệp định Tự do Thương mại Bắc Mỹ (NAFTA, gồm Mỹ Canada và Mexico), để thúc đẩy các hoạt động hợp tác kinh tế, xúc tiến đầu tư và thương mại với các nền kinh tế phát triển trên thế giới Như vậy, chỉ riêng với việc tham gia vào hai loại tổ chức quốc tế và khu vực này, Canada đã có quy mô hợp tác rộng rãi trên toàn thế giới
Trong các hoạt động quốc tế khác, Canada là nước tích cực tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc ngay từ khi sứ mệnh gìn giữ hòa bình đầu tiên được tổ chức năm 1956 trong việc giải quyết cuộc khủng hoảng Kênh đào Suez Tính đến năm 2009, Canada đã tham gia 32 sứ mệnh gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc ở nhiều nơi trên thế giới như Trung Đông, Nam Âu, Đông Nam Á, và châu Phi Ngoài ra, Canada tự hào là nước
có nhiều người được cử giữ những chức vụ quan trọng của các tổ chức quốc
Trang 26tế Nhà ngoại giao Canada Louise Frechtte được cử làm Phó Tổng thư ký Liên hợp quốc trong thời gian 1998-2006; ông Donald Johnston người Canada được bầu làm Tổng thư ký của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) từ năm 1996 đến 2006; vị quan tòa người Canada ông Philippe Kirsch được bầu làm Chủ tịch Tòa án Hình sự quốc tế (ICC) nhiệm kỳ 2003-2009; người đầu tiên đảm nhiệm chức Chủ tịch Tòa án Tội phạm chiến tranh của Liên hợp quốc cũng là một người Canada ông Louise Arbour; Tướng không quân người Canada Ray Henauld được chỉ định làm người đứng đầu
Ủy ban quân sự của NATO trong thời gian 2005-2008 Sự tham gia tích cực của chính phủ và công dân Canada trong các hoạt động quốc tế và các tổ chức quốc tế đã góp phần nâng cao uy tín và vị thế quốc tế của Canada Ngoài ra Canada còn tham gia vào các hoạt động của khối ASEAN Canada đã có quan
hệ từ rất sớm với một số nước trong khu vực Đông Nam Á, nó được thiết lập
từ trước khi hình thành Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) năm 1967
và sau đó Canada trở thành thành viên không chính thức của tổ chức này Hội nghị chính thức đầu tiên giữa ASEAN và Canada được tổ chức vào tháng 2/1977 Tại hội nghị này, Bộ trưởng ngoại giao Canada đã tuyên bố sẽ tăng cường hỗ trợ phát triển cho ASEAN Kế hoạch này được chính thức hoá vào năm 1981 thông qua việc ký Hiệp định Hợp tác Kinh tế ASEAN – Canada (ACECA) và Hiệp định này có hiệu lực từ ngày 1/6/1982 Hiệp định CAECA ngoài hợp tác trong lĩnh vực kỹ thuật còn bao gồm cả hợp tác về công nghiệp
và thương mại Đến tháng 7/1993, Hiệp định ACECA sửa đổi được ký kết và
có hiệu lực từ ngày 1/4/1994 Hiệp định sửa đổi này đã bổ sung thêm một số lĩnh vực mới như hợp tác về khoa học công nghệ và mạng lưới hợp tác về chính sách môi trường, các chương trình xây dựng thể chế, phát triển tổ chức
và quản lý, các chương trình khuyến khích hợp tác giữa khu vực tư nhân, phát triển thị trường và hợp tác kinh doanh song phương Tiếp sau đó hàng năm các cuộc đối thoại cấp Bộ trưởng đã được diễn ra thông qua Hội nghị Bộ
Trang 27trưởng Ngoại giao ASEAN (PMC) 9 +1 và 9 +10 rồi đến Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Uỷ ban Kế hoạch và giám sát (JPMC) và Hội nghị
Uỷ ban Quản lý Dự án (PSC) Trong số đó Hội nghị Ngoại giao ASEAN diễn
ra hàng năm được coi là đỉnh cao của quá trình hợp tác đối thoại Hội nghị này đã tạo điều kiện cho các Bộ trưởng Ngoại giao của các nước ASEAN và Canada có cơ hội trao đổi các vấn đề chính trị, an ninh, hợp tác kinh tế và quan hệ đối thoại giữa hai bên
Trong khuôn khổ các hoạt động nhân dịp Hội nghị Bộ trưởng ngoại giao ASEAN lần thứ 40 tại Manila, Philippin ngày 1-8-2007, Canada đã nhất trí thông qua Kế hoạch hợp tác chung ASEAN – Canada giai đoạn 2007 –
2010, làm cơ cở cho việc thúc đẩy hợp tác trong thời gian tới
Với các điều kiện thuận lợi và tiềm lực hùng mạnh, cùng với việc tham gia vào giải quyết các vấn đề quốc tế như gìn giữ hòa bình và an ninh quốc tế, chống bệnh tật, thiên tai, bảo vệ môi trường, phát triển thương mại, đầu tư quốc tế, viện trợ phát triển …cũng như hoạt động trong lĩnh vực chống chủ nghĩa khủng bố, Canada có một vị thế cao, có uy tín lớn trên trường quốc tế
Sự hợp tác giữa hai nước ngày càng tăng Hai nước ngày càng hợp tác thông qua nhiều tổ chức và diễn đàn khu vực và quốc tế, sự hợp tác ngày càng
cụ thể và có chiều sâu hơn Canada và Việt Nam cùng nỗ lực vì các mục tiêu
vì sự an ninh thịnh vượng trên diễn đàn của Liên hợp quốc, kể từ khi Việt Nam chính thức gia nhập Liên hợp quốc từ tháng 9/1977 Hội nghị thượng đỉnh APEC 11/1997 do Canada làm chủ tịch ở Vancuvo đã quyết định kết nạp Việt Nam vào APEC trong năm 1998 Từ đó đến nay, hai nước luôn tích cực hợp tác trong diễn đàn này Tổ chức các nước có sử dụng tiếng Pháp cũng là một diễn đàn đa phương quan trọng thể hiện sự hợp tác rõ nét giữa hai nước Đây là diễn đàn quan trọng mà hai nước đã hợp tác nhiều mặt để thúc đẩy
Trang 28mục tiêu và lợi ích chung Canada là một trong những nước giúp đỡ và ủng hộ mạnh mẽ Việt Nam trong lĩnh vực thương mại đa phương nói chung và gia nhập WTO nói riêng Canada là một trong những nước thành viên WTO đầu tiên ủng hộ và giúp đỡ thiết thực nhất cho việc gia nhập tổ chức này của Việt Nam
Chính trong xu thế chung của thời đại đó, trong chiến lược phát triển của các quốc gia, đa phương hóa quan hệ và tăng cường hội nhập kinh tế quốc
tế là những mục tiêu cơ bản nhất Hai nước Canada và Việt Nam cũng không
nằm ngoài xu thế chung của thời đại
Canada và Việt Nam đã có quan hệ từ trước khi chính thức thiết lập quan hệ năm 1973 Tuy nhiên thời điểm đó, quan hệ giữa hai nước vẫn chưa
có nhiều dấu ấn, chủ yếu là quan hệ với chính quyền miền Nam Việt Nam Sau khi quan hệ hai nước được chính thức thiết lập, quan hệ Việt Nam - Canada mới được mở rộng Hơn nữa với mục tiêu hướng đến các nước khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, việc duy trì và nâng cao quan hệ với Việt Nam được Canada chú trọng Việt Nam và Canada đã cùng nhau tham gia vào các tổ chức đa phương, điều đó đã đưa quan hệ giữa hai nước ngày càng gắn
bó
Vậy, Việt Nam và Canada đã có quan hệ từ rất sớm từ năm 1954, bằng việc Canada đã có những đóng góp trong việc giải quyết vấn đề lập lại hòa bình ở Việt Nam Tuy nhiên, thời điểm đó quan hệ giữa hai nước vẫn chưa có nhiều dấu ấn, nhưng từ sau khi quan hệ hai nước chính thức được thiết lập năm 1973 thì quan hệ giữa hai nước ngày càng phát triển Canada đã ủng hộ
và giúp đỡ Việt Nam trong việc tham gia vào các tổ chức quốc tế cũng như đã cùng đồng hành với Việt Nam trong các diễn đàn đa phương
Trang 29Chương 2
QUAN HỆ VIỆT NAM – CANADA 1973-2008
2 1 Chính sách đối ngoại của Việt Nam và chính sách đối ngoại của Canada trong quan hệ hai nước
2.1.1 Chính sách đối ngoại của Việt Nam với Canada
Việt Nam nằm ở Châu Á - Thái Bình Dương, là khu vực có tầm quan trọng đặc biệt đối với Canada không chỉ về vị trí địa lí mà còn bởi các mối quan hệ quốc tế ngày càng sâu rộng, các mối quan tâm chung về chính trị, ngoại giao cũng như sự giao thoa văn hóa Việt Nam tiếp tục đổi mới, nhất quán thực hiện chính sách mở cửa, đa dạng hóa và đa phương hóa các quan hệ quốc tế, trong đó chủ động hội nhập quốc tế là trọng tâm hàng đầu nhằm góp phần thực hiện nhiệm vụ chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Quan trọng hơn cả Việt Nam và Canada cùng chia sẻ quan điểm tôn trọng độc lập, chủ quyền quốc gia, cùng phấn đấu cho hòa bình, ổn định và thịnh vượng
ở khu vực và trên thế giới Để thực hiện được điều đó, Việt Nam chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực Việt Nam chủ trương giữ vững môi trường hòa bình, tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc đổi mới, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội
Để tạo được mối quan hệ bền vững, Việt Nam đã đưa các quan hệ quốc
tế đã được thiết lập vào chiều sâu, ổn định, bền vững Phát triển quan hệ với tất cả các nước, các vùng lãnh thổ trên thế giới và các tổ chức quốc tế Đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại, hội nhập sâu hơn và đầy đủ hơn với các thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực và song phương, lấy phục vụ lợi ích đất nước
Trang 30làm mục tiêu cao nhất Với sự tham gia trong các tổ chức quốc tế, Canada đã
có những ảnh hưởng không nhỏ đến việc hội nhập phát triển của Việt Nam Thúc đẩy quan hệ hợp tác toàn diện và có hiệu quả với các nước ASEAN, các nước châu Á – Thái Bình Dương… Củng cố và phát triển quan hệ hợp tác song phương tin cậy với các đối tác chiến lược; khai thác có hiệu quả các cơ hội và giảm tối đa những thách thức, rủi ro khi nước ta là thành viên Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)
Đối với Việt Nam, quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới và tạo lập quan hệ với các nước sẽ tạo cơ hội cho Việt Nam phát triển nhanh chóng
và rút ngắn khoảng cách với các nền kinh tế trong khu vực và quốc tế Ngoài các nước ASEAN, các nước khác cũng luôn tạo ra sức ép cho Việt Nam phải xúc tiến việc hội nhập Quá trình này sẽ thúc đẩy Việt Nam chuyển đổi nền kinh tế mạnh mẽ hơn sang cơ chế thị trường với định hướng vào xuất khẩu, cải thiện hơn nữa mạng lưới buôn bán Chiều hướng này sẽ có lợi là đưa nền kinh tế lên một quy mô lớn hơn, có sự liên kết chặt chẽ hơn với nền kinh tế thế giới, thay thế cho chính sách nhập khẩu trước đây đã bị lạc hậu Đồng thời quá trình này cũng giúp các doanh nghiệp Việt Nam có thêm cơ hội tìm hiểu
và xâm nhập vào thị trường mới, nhiều tiềm năng như thị trường Canada Thị trường Canada là một thị trường lớn, đời sống nhân dân cao, kinh tế phát triển
do đó sức mua đối với những mặt hàng mà chúng ta có thế mạnh rất lớn Nhưng bên cạnh đó cũng đòi hỏi ở người cung cấp một chất lượng cao tương xứng Do đó nó đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam phải tự nâng cao trình độ nghiệp vụ trong kinh doanh và chất lượng hàng hoá của mình để có thể khai thác hiệu quả, tương xứng với tầm vóc của thị trường này Cũng từ thị trường này, chúng ta có thể nhập khẩu những loại máy móc thiết bị kỹ thuật cao, những hàng hoá cần thiết cho sản xuất công nghiệp ở Việt Nam Từ đó sẽ
Trang 31thúc đẩy nền công nghiệp phát triển hơn nữa, tạo thêm nhiều công ăn việc làm, giảm tỉ lệ thất nghiệp và dần nâng cao đời sống nhân dân
Canada có ảnh hưởng lớn đến Việt Nam, là một trong 20 nước thuộc diện ưu tiên, Canada có chương trình hỗ trợ phát triển năng động ở Việt nam với mục tiêu khuyến khích tăng trưởng kinh tế bền vững, đồng thời góp phần đảm bảo an ninh lương thực
Hơn nữa để tạo cơ sở vững chắc cho mối quan hệ giữa hai nước, ngày 5/8/2009, tại Việt Nam đã diễn ra hội thảo về cải cách pháp luật và tư pháp, hội thảo này đã nhằm tạo hành lang pháp lý cho hoạt động doanh nghiệp và ngoại giao giữa cả hai bên Việt Nam và Canada
Đối với Việt Nam, từ cuối những năm 80 của thế kỷ XX, Chính phủ Việt Nam đã bắt đầu thực hiện chính sách đổi mới Chính phủ Việt Nam quan tâm đến việc mở rộng quan hệ với tất cả các nước các khu vực trên thế giới với phương châm “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước, các khu vực của cộng đồng quốc tế” Thể hiện quyết tâm thực thi chính sách đối ngoại mới của Việt Nam, trong buổi gặp mặt với Thủ tướng Canada Stephen Harper nhân dịp ông sang Việt Nam tham dự Hội nghị Cấp cao APEC năm 2006, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã khẳng định: “Lãnh đạo Việt Nam quyết tâm đẩy mạnh công cuộc Đổi mới, xây dựng nhà nước pháp quyền, triển khai mạnh mẽ chính sách đối ngoại hòa bình, độc lập, tự chủ, hợp tác, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế”[35] Hơn nữa, Việt Nam nằm ở vị trí thuận lợi, tiếp giáp với các nước Đông Nam Á như Singapore, Thái Lan…Với vị trí thuận lợi như vậy, Việt Nam sẽ là cầu nối cho mục đích mở rộng quan hệ với các nước Đông Nam Á của Canada cũng như tạo điều kiện các doanh nghiệp Canada trong việc mở rộng thị trường của mình
Rõ ràng, với những tiềm năng của hai nước, đặc biệt là với chính sách đối ngoại rộng mở và chính sách kinh tế đối ngoại hướng về châu Á của
Trang 32Canada và chính sách đối ngoại đa dạng hóa đa phương hóa của Việt Nam đó
sẽ là cơ sở thúc đẩy quan hệ hai nước Việt Nam – Canada vượt qua những khác biệt để ngày càng phát triển mạnh mẽ Điều này đã được thể hiện rõ qua lời phát biểu của Thủ tướng Phan Văn Khải trong chuyến thăm chính thức Canada năm 2005 Trong đó, ông đã khẳng định: “Việt Nam tuy xa cách Canada về địa lý, nhưng có nhiều điểm tương đồng và những tiềm năng to lớn
để hợp tác Việt Nam nằm ở vị trí quan trọng của khu vực và thế giới, có 80 triệu dân và đang tiến hành công cuộc đổi mới xây dựng đất nước, sẽ là điểm đến của các doanh nghiệp Canada.” Và ông cũng nêu rõ: “Việt Nam rất coi trọng những tiềm năng của Canada về khoa học – công nghệ Chính phủ Việt Nam sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp của Canada đến đầu tư
và kinh doanh tại Việt Nam”[38]
Việt Nam – Canada cũng xây dựng được mối quan hệ đối ngoại nhân dân gắn bó Tính đến năm 2010 Canada có khoảng 250.000[31] người Canada gốc Việt, trong đó nhiều người đã trở về Việt nam làm việc
Như vậy quan hệ Việt Nam – Canada ngày càng được củng cố và phát triển, chính sách ngoại giao của Việt Nam luôn phù hợp với xu thế toàn cầu
hóa, cùng hợp tác, hòa bình và phát triển
2.1.2 Chính sách đối ngoại của Canada với Việt Nam
Quan hệ Việt Nam – Canada ngày càng được tăng cường và đi vào chiều sâu trong khuôn khổ đối tác toàn diện, ổn định và lâu dài đã được thiết lập từ 6/2005 Canada coi trọng vai trò và vị thế của Việt Nam và mong muốn quan hệ chặt chẽ với Việt Nam về nhiều mặt, đặc biệt là quan hệ chính trị, thương mại – đầu tư
Hiện Mỹ là đối tác thương mại lớn nhất của Canada, trao đổi thương mại qua cửa khẩu giữa hai nước cực kỳ lớn, lên tới hơn 1 tỷ USD/ngày Tuy
Trang 33nhiên, để tránh rủi ro khi lệ thuộc quá mức vào kinh tế Mỹ, Canada đang triển khai chủ trương mở rộng khu vực trao đổi thương mại sang nhiều quốc gia, ở nhiều khu vực mà Việt Nam được coi là điểm lựa chọn số 1 tại khu vực Đông Nam Á, Việt Nam là đích đến quan trọng trong chủ trương mở rộng các bạn hàng thương mại của Canada Với 90 triệu dân và tốc độ tăng trưởng kinh tế
ấn tượng trong những năm qua, Việt Nam là thị trường có sức tiêu thụ ngày càng lớn Điều đó mở ra cơ hội cho cho cả hai nước trong việc thúc đẩy quan
hệ thương mại – đầu tư còn nhiều tiềm năng giữa hai quốc gia Quan hệ thương mại giữa hai nước trong thập kỷ qua cũng liên tục phát triển theo chiều hướng gia tăng, song vẫn ở mức khiêm tốn so với tiềm năng, hiện Việt Nam luôn là nước xuất siêu sang Canada
Hiện nay, dù Việt Nam đã vươn lên thành nước có thu nhập trung bình nhưng Canada vẫn tiếp tục duy trì viện trợ phát triển cho Việt Nam và đó cũng là một phần trong chính sách của Canada nhằm đạt được các mục tiêu của chính sách đối ngoại Thông qua việc củng cố phát triển kinh tế xã hội của các nước đang phát triển và các nước trong thời kỳ quá độ, Canada cũng
đã tham gia vào chương trình viện trợ đóng góp vào nền an ninh và thịnh vượng toàn cầu Nó đảm bảo cho tiếng nói của Canada trên trường quốc tế, giới thiệu các giá trị Canada, quảng bá các cơ quan và doanh nghiệp Canada
và thiết lập mối quan hệ xã hội giữa Canada và các nước đang phát triển trong
đó có Việt Nam Nhờ đó nền kinh tế Canada được kết nối trực tiếp đến thị trường Việt Nam Sự hỗ trợ bằng hàng hoá và dịch vụ của Canada sẽ tạo ra việc làm, tăng lượng hàng hóa xuất khẩu sang Canada Năm 2009, trong chương trình nâng cao hiệu quả hỗ trợ của Canada, Việt Nam đã được CIDA chọn là quốc gia cần tập trung hỗ trợ đặc biệt ưu tiên các lĩnh vực cải cách nền kinh tế, cải cách hành chính, giảm nghèo, tập trung cải thiện môi trường
Trang 34đầu tư lành mạnh, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp ở vùng nông thôn và năng suất trong nông nghiệp
Xét về lâu dài, viện trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại các nước đang phát triển và tạo điều kiện thuận lợi cho việc thành lập nên kinh tế toàn cầu ổn định hơn nhờ đó Canada có thể tăng trưởng và thịnh vượng
Từ năm 1992 đến nay, hai nước đã ký 32 hiệp ước quốc tế nhằm tăng cường quan hệ hợp tác giữa hai nước trên các lĩnh vực kinh tế, phát triển, thương mại, mậu dịch, tránh đánh thuế hai lần, hàng không, cải cách hành chính, hiệp định song phương để Việt Nam gia nhập WTO… Việt Nam – Canada đã tiến hành 8 vòng đàm phán Hiệp định thúc đẩy và bảo hộ đầu tư (FIPA) và một số thỏa thuận khác về hợp tác giáo dục, giao thông vận tải và
tư pháp Điều đó càng cho thấy sự quan trọng của các chuyến thăm Việt Nam,
là cơ hội để hai nước hiện thực hóa những chủ trương, chính sách quan hệ hợp tác đã ký kết, nhất là trong lĩnh vực kinh tế - đầu tư, với kỳ vọng đưa kim ngạch thương mại hai chiều tăng nhanh Hiệp định FIPA cũng là một bằng chứng để chứng minh Canada đang muốn hợp tác đầu tư lâu dài tại Việt Nam Hơn nữa, một trong những ưu tiên hợp tác hàng đầu của Canada với Việt Nam là giáo dục và đào tạo Tính đến năm 2011 Việt Nam có khoảng 3000 học sinh, sinh viên du học tại Canada, con số này cao gấp 4 lần so với năm
2007 Hiện nay, Việt Nam được coi là mục tiêu đầu tư giáo dục của Canada
Canada có chính sách đối ngoại cởi mở và hợp tác, không mang tính áp đặt một chiều Điều này không chỉ thể hiện trong quan hệ với các nước mà nó còn thể hiện trong quá trình hoạch định chính sách đối ngoại trong nội bộ đất nước Các mục tiêu, các chương trình chính sách đối ngoại của Canada ngày càng được xây dựng một cách dân chủ, thu hút sự quan tâm của mọi đối tượng liên quan và vì mục đích của tất cả người dân Canada Quá trình hoạch định chính sách đối ngoại không chỉ nằm trong tay các cơ quan Chính phủ
Trang 35một cách độc đoán, chuyên quyền mà là quá trình đối thoại, xây dựng của tất
cả các bên liên quan với công dân và các tổ chức của họ Tham vấn với các đối tác quốc tế, nhất là các quốc gia, đối tác và các tổ chức quốc tế đã trở thành vấn đề mang tính phương châm hành động Chính đây là điều làm cho chính sách đối ngoại của Canada phù hợp và đáp ứng được cả lợi ích của Canada và các đối tác của Canada trên thế giới
Chính sách của Canada hiện đang theo đuổi những mục tiêu cơ bản sau: Thúc đẩy sự thịnh vượng và cơ hội việc làm, bảo đảm an ninh trong một trật
tự toàn cầu, phát triển các giá trị và văn hóa của Canada Các mục tiêu này có quan hệ qua lại gắn bó mật thiết với nhau và có ý nghĩa hướng cho các quyết định về phân bổ ngân sách viện trợ phát triển Chính sách đối ngoại của Canada luôn nỗ lực trong việc mở rộng và tiếp cận thị trường quốc tế, cả thị trường hàng hóa, dịch vụ, như đầu tư, sở hữu trí tuệ, tăng cường xây dựng một hệ thống luật quốc tế và đầu tư thương mại ngày càng cởi mở, công bằng
và có thể dự đoán trước được
Bên cạnh việc bảo vệ lợi ích của mình, Canada cũng chú trọng đến việc bảo vệ lợi ích của các đối tác quốc tế, của cộng đồng quốc tế Quan điểm của Canada là Canada sẽ được lợi về nhiều mặt khi các nơi khác trên thế giới cũng thịnh vượng như Canada Sự thịnh vượng chung cũng sẽ thúc đẩy và đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững trên thế giới
Việc bảo đảm và tăng cường an ninh toàn cầu như là bảo vệ an ninh của chính mình là một trong các yếu tố trọng tâm của chính sách đối ngoại của Canada An ninh và ổn định là các điều kiện tiên quyết cho tăng trưởng kinh tế và phát triển Tuy nhiên, trên thế giới ngày càng có nhiều các mối đe dọa an ninh mà nhiều nước đang gặp khó khăn trong việc đối phó như vấn đề tội phạm quốc tế, ô nhiễm môi trường, thiên tai, khủng bố quốc tế … Tất cả đều hàm chứa những vấn đề có liên quan đến hòa bình và an ninh của mỗi
Trang 36nước, khu vực và toàn cầu Do đó quan điểm của Canada về vấn đề này là cần giải quyết vấn đề an ninh theo một quan điểm toàn diện và điều này cũng là điểm tương đồng với Việt Nam
Quan hệ song phương Việt Nam – Canada được mở rộng và phát triển trong bối cảnh Việt Nam thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới và hội nhập ngày càng sâu vào khu vực Đông Nam Á và thế giới Với Canada đặc biệt thời kỳ hậu chiến tranh lạnh việc mở rộng quan hệ đối ngoại, quảng bá các giá trị và văn hóa của Canada nhằm “thúc đẩy phồn vinh và việc làm” “thúc đẩy hòa bình thế giới” được coi là những mục tiêu then chốt trong chính sách đối ngoại và đã được chính phủ Jean Chrétien (1993 – 2003) công bố trong Sách trắng “Canada trong thế giới” Năm 1994, Thủ tướng Jean Chrétien là thủ tướng Canada đầu tiên đi thăm Việt Nam và dự lễ khai trương Đại sứ quán Canada tại Hà Nội
Chính sách đối ngoại của Canada cùng nhằm phát triển và phổ biến nền văn hóa các giá trị của Canada trên thế giới Các giá trị phổ biến của Canada như tôn trọng nhân quyền, dân chủ, pháp luật và bảo vệ môi trường cần được phổ biến và tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau trên thế giới Các vấn đề này cũng ảnh hưởng đến sự thành công của các mục tiêu chính sách đối ngoại khác bởi vì hai nước chỉ có thể hợp tác tốt và có hiệu quả khi Việt Nam và Canada ngày càng hiểu biết nhau hơn
2.2 Thực trạng quan hệ Việt Nam – Canada 1973 - 2008
2.2.1.Về chính trị ngoại giao
Trong suốt 35 năm qua, Canada và Việt Nam có quan hệ chặt chẽ phát triển và mở rộng trên nhiều lĩnh vực Kể từ khi bình thường hóa quan hệ 21- 8- 1973, chính phủ và nhân dân hai nước Việt Nam – Canada đã có những
nỗ lực to lớn để đạt những bước tiến vững chắc trong quan hệ hai nước Từ sự
Trang 37hợp tác nhỏ bé ban đầu, quan hệ hai nước đã phát triển mở rộng sang tất cả các lĩnh vực chính trị ngoại giao, kinh tế, văn hóa giáo dục – đào tạo, y tế, khoa học – công nghệ…
Sau khi quan hệ song phương được chính thức thiết lập, tháng 9/1976 Việt Nam mở Đại sứ quán tại thủ đô Ottawa, Canada Tuy nhiên với những diễn biến phức tạp của khu vực Đông Nam Á cuối thập niên 70 đã khiến cho quan hệ Việt Nam – Canada có nhiều khó khăn Do đó tháng 3/1981, Đại sứ quán Việt Nam ở Ottawa đóng cửa và đến tháng 11/1990 mới trở lại hoạt động Chỉ sau một thời gian ngắn, tháng 7/1991 Chính phủ Canada mở Phái đoàn ngoại giao đầu tiên và chính thức khai trương Đại sứ quán Canada tại
Hà Nội vào tháng 8/1994 Cùng năm, Văn phòng thương mại Canada được
mở tại TP Hồ Chí Minh và hai năm sau (1996) được nâng cấp thành Tổng lãnh sự quán Canada
Canada và Việt Nam có quan hệ chặt chẽ và trên nhiều mặt, ngoài các cuộc trao đổi cấp cao, Canada ủng hộ quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1973 Hiện nay, Canada và Việt Nam là những đối tác trên các diễn đàn đa phương quan trọng như Cộng đồng các nước nói tiếng Pháp, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) và Liên hợp quốc Việt Nam là điều phối viên ASEAN của Canada giai đoạn 2006-2008
Trong những năm gần đây, đã diễn ra nhiều các cuộc viếng thăm, trao đổi cấp cao của các nhà lãnh đạo đứng đầu hai nước, các Bộ trưởng Ngoại giao, các lãnh đạo thành phố liên kết, các doanh nghiệp của hai nước…Ngoài
ra, Lãnh đạo cấp cao hai nước còn có các tiếp xúc thường xuyên tại một số diễn đàn quốc tế và khu vực Đến nay, Lãnh đạo hai nước đã nhất trí cùng xây dựng quan hệ ổn định, lâu dài giữa hai nước Đặc biệt, sau chuyến thăm Canada ngày 27/6/2005 của Thủ tướng Phan Văn Khải với cương vị người
Trang 38đứng đầu nhà nước Việt Nam lần đầu tiên kể từ khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc năm 1975 Đây là chuyến thăm lịch sử đánh dấu bước ngoặt trong quan
hệ hai nước Nó góp phần củng cố quan hệ chính trị và kinh tế giữa hai nước, đồng thời thúc đẩy sự phát triển trên nhiều lĩnh vực Thủ tướng Phan Văn Khải đã có cuộc gặp với Thủ tướng Canada Paul Martin, các bộ trưởng Việt Nam cũng gặp gỡ các đối tác Canada
Chuyến thăm Canada của Thủ tướng Phan Văn Khải đã thu được nhiều kết quả với việc ký kết một loạt các thỏa thuận được ký kết nhằm tăng cường hơn nữa quan hệ giữa hai nước Quan trọng nhất là hai bên đã tuyên bố kết thúc tốt đẹp các cuộc đàm phán song phương về việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Đây là sự ủng hộ thiết thực của Canada đối với Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Hai bên cũng đã ký kết một số thỏa thuận quan trọng khác như thoả thuận về các dự án “Xây dựng và Kiểm soát chất lượng nông sản-thực phẩm”, “Cải cách hệ thống ngân hàng của Việt Nam”; ký kết Hiệp định về nuôi con nuôi, Quyết định thành lập
Ủy ban hợp tác giúp Việt Nam tổ chức thành công Hội nghị Cấp cao APEC
2006 và tăng cường hợp tác trong khuôn khổ đa phương như tại Liên Hợp Quốc, Cộng đồng Pháp ngữ[39]
Đồng thời, để thúc đẩy hơn nữa mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Canada, các nhà lãnh đạo hai nước đã tập trung thảo luận các phương hướng
và biện pháp như: tăng cường trao đổi đoàn ở các cấp, theo các kênh chính quyền, quốc hội, bộ, ngành, địa phương và các tổ chức quần chúng; thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư và chuyển giao khoa học-công nghệ; Canada gia tăng viện trợ ODA cho Việt Nam, khẳng định tiếp tục trợ giúp Việt Nam trong lĩnh vực giáo dục-đào tạo, hội nhập kinh tế quốc tế; tiếp tục đối thoại chân thành và thẳng thắn trên tinh thần xây dựng và tôn trọng lẫn nhau về những vấn đề hai bên quan tâm Cụ thể với những vấn đề
Trang 39nhạy cảm, hai Thủ tướng bày tỏ ủng hộ việc tiếp tục đối thoại thẳng thắn và xây dựng về các vấn đề quan trọng như nhân quyền, dân chủ, tự do tôn giáo
và cải thiện tình hình các sắc tộc thiểu số[38]
Nối tiếp kết quả đạt được từ sau chuyến thăm Canada của Thủ tướng Phan Văn Khải, trong năm 2006 cũng liên tiếp diễn ra các cuộc gặp gỡ cấp cao của lãnh đạo hai nước như các cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Canada Stephen Harper, và của Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Gia Khiêm và Bộ trưởng Ngoại giao Canada Piter Markay nhân dịp các ông đến Việt Nam để tham dự Hội nghị Cấp cao APEC 14 Trong các cuộc gặp gỡ này, các nhà lãnh đạo tiếp tục trao đổi về các biện pháp nhằm thúc đẩy hơn nữa quan hệ hợp tác song phương giữa hai nước trong các lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư, lao động, giáo dục, những vấn đề liên quan đến APEC và các vấn đề hai bên cùng quan tâm Qua những chuyến thăm cấp cao đó, các nhà lãnh đạo hai nước đã tập trung vào các giải pháp tăng cường quan hệ song phương như: tăng cường trao đổi đoàn ở các cấp chính quyền, quốc hội, bộ, ngành, địa phương và các
tổ chức quần chúng; thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa nữa quan hệ kinh tế, thương mại đầu tư và chuyển giao công nghệ, giáo dục- đào tạo, hội nhập kinh tế quốc tế Hiện nay, Canada là một trong những nhà tài trợ quốc tế giúp Việt Nam tiến hành cải cách hành chính, xóa đói giảm nghèo và phát triển khu vực
tư nhân vớimức tài trợ gần 30 triệu USD/năm
Cùng với đó, mối quan hệ nhân dân giữa Canada và Việt Nam là một phần quan trọng trong quan hệ song phương giữa hai nước Cộng đồng người Việt tại Canada năm 2008 lên tới 250.000 người, trong số đó ngày càng có nhiều người trở về Việt Nam du lịch và làm ăn Điều này đã chứng tỏ môi trường đầu tư tại Việt Nam ngày càng mở rộng và có nhiều sức hút, đó cũng
là mối liên kết cho việc thúc đẩy quan hệ giữa hai nước
Trang 40Năm 2008 nhân kỷ niêm 35 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước, Đại sứ quán Canada tại Việt Nam đã tổ chức một loạt các sự kiện thể hiện sự gắn bó giữa hai nước bao gồm cuộc viếng thăm hết sức thành công của tàu Hải quân HMCS Regina và tướng Tyrone Pile, chỉ huy trưởng hải quân Canada khu vực Thái Bình Dương đến thành phố Hồ Chí Minh Đây
là cuộc viếng thăm đầu tiên của tàu hải quân Canada tới Việt nam kể từ năm
1996
Từ đó đến nay quan hệ ngoại giao Việt Nam – Canada đã có nhiều bước phát triển mới, nhất là các cuộc trao đổi thường xuyên ở cấp chính phủ Vào tháng 6 năm 2010, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tham dự hội nghị G20 tai Toronto với tư cách là Chủ tịch Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) Bộ trưởng Ngoại giao Canada Lawrence Cannon đã đến thăm Hà Nội trong tháng 7 năm 2010 để tham dự Hội nghị Bộ trưởng ASEAN và Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF)
Gần đây nhất là chuyến thăm của ngài Toàn quyền Canada David Johnston đánh dấu mốc quan trọng kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao năm
1973 Đây là cuộc viếng thăm đầu tiên của một Toàn quyền Canada đến Việt Nam Điều này chứng tỏ rằng Việt Nam ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn đối với Canada Trong chuyến thăm này, lãnh đạo hai nước đã cùng trao đổi phương hướng và biện pháp nhằm thúc đẩy quan hệ “Đối tác toàn diện, ổn định lâu dài” giữa hai nước, đánh giá cao những tiến triển của quan hệ hai nước, nhất là về kinh tế thương mại, đầu tư, hợp tác phát triển và giáo dục đào tạo.
Hai nước đã tiến hành 8 vòng đàm phán Hiệp định thúc đẩy và bảo hộ đầu tư (FIPA) và một số thỏa thuận khác về hợp tác giáo dục, giao thông vận tải và tư pháp Điều đó càng cho thấy sự quan trọng của chuyến thăm Việt Nam lần này của Toàn quyền David Johnston, là dịp để hai nước hiện thực