Do vậy, một chương trình phát thanh bằng tiếng dân tộc hay, có tác động tích cực đến đồng bào dân tộc thiểu số là điều rất cần thiết, bằng những tin, phóng sự của phóng viên thực hiện, t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÀNH THỊ YẾN
TÁC ĐỘNG CỦA PHÁT THANH TIẾNG DÂN TỘC CỦA ĐÀI PT – TH LẠNG SƠN ĐỐI VỚI CỘNG ĐỒNG
DÂN TỘC ĐỊA PHƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
HÀ NỘI - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÀNH THỊ YẾN
TÁC ĐỘNG CỦA PHÁT THANH TIẾNG DÂN TỘC CỦA ĐÀI PT – TH LẠNG SƠN ĐỐI VỚI CỘNG ĐỒNG
DÂN TỘC ĐỊA PHƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Chuyên ngành: Báo chí học
Mã số: 60 32 01 01
Người hướng dẫn khoa học Chủ tịch hội đồng
PGS.TS VŨ QUANG HÀO PGS TS Đinh Văn Hường
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, luận văn với đề tài “Tác động của phát thanh tiếng
dân tộc của Đài PT-TH Lạng Sơn đối với cộng đồng dân tộc địa phương” là
công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của PGS TS Vũ Quang Hào Các số liệu, kết quả đã nêu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, trung thực và chưa được dùng cho nghiên cứu khoa học nào khác Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn Các thông tin, trích dẫn trong luận văn đều đã được ghi rõ nguồn gốc
Tôi xin chịu trách nhiệm đối với luận văn của mình
Hà Nội, tháng 6, năm 2019
Tác giả luận văn
Lành Thị Yến
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ, động viên của nhiều cá nhân và tập thể Tôi xin được bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các cá nhân và tập thể đã tạo
điều kiện giúp đỡ tôi trong học tập và nghiên cứu
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Ban Lãnh đạo Khoa, Phòng liên quan của Trường cùng tập thể giảng viên chuyên ngành phát thanh truyền hình đã dày công dạy bảo tôi trong thời gian học tập ở trường
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Vũ Quang Hào đã tận tình hướng
dẫn tôi nghiên cứu và thực hiện đề tài “Tác động của phát thanh tiếng dân tộc
của Đài PT-TH Lạng Sơn đối với cộng đồng dân tộc địa phương” (Khảo sát
tại Đài PT-TH Lạng Sơn từ tháng 6 năm 2017 đến tháng 6 năm 2018)
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các đồng chí lãnh đạo và các bạn đồng nghiệp ở Đài PT&TH Lạng Sơn đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này
Trong phạm vi thời gian và tài liệu hạn chế, việc nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự tham gia đóng góp ý kiến của các thành viên Hội đồng chấm luận văn để tôi tiếp tục hoàn thiện đề tài, đúc rút kinh nghiệm hay, có thể áp dụng vào thực tiễn thực hiện chương trình phát thanh dân tộc tại Đài PT&TH Lạng Sơn đạt hiệu quả tốt hơn
Trân trọng!
Hà Nội, tháng 6, năm 2019
Tác giả luận văn
Lành Thị Yến
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC 1
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 5
DANH MỤC BẢNG BIỂU 6
MỞ ĐẦU 7
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Lịch sử nghiên cứu 9
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 15
3.1 Mục đích 15
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 16
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 16
4.1 Đối tượng nghiên cứu 16
4.2 Phạm vi nghiên cứu 17
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 17
5.1 Cơ sở lý luận 17
5.2 Phương pháp nghiên cứu 18
6 Đóng góp mới của luận văn 20
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 20
7.1 Ý nghĩa lý luận 20
7.2 Ý nghĩa thực tiễn 21
8 Cấu trúc luận văn 22
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT THANH TIẾNG DÂN TỘC 23
1.1 Cơ sở lý luận 23
Trang 61.1.1 Chương trình phát thanh 23
1.1.2 Chương trình phát thanh tiếng dân tộc, truyền thông tiếng dân tộc 25
1.1.2.1 Khái niệm 25
1.1.2.2 Yêu cầu về nội dung chương trình phát thanh tiếng dân tộc 26
1.1.3 Công chúng người dân tộc 27
1.1.3.1 Đặc điểm công chúng người dân tộc 27
1.1.3.2 Đặc điểm công chúng người Tày, Nùng, Dao ở Lạng Sơn 29
1.2 Chương trình phát thanh tiếng Tày - Nùng, Dao 32
1.2.1 Chương trình phát thanh tiếng Tày - Nùng, Dao 32
1.2.2 Vai trò của chương trình phát thanh tiếng Tày – Nùng và tiếng Dao đối với người bản địa 34
1.3 Ảnh hưởng tích cực của phát thanh tiếng dân tộc đối với cộng đồng dân tộc địa phương 35
Tiểu kết chương 1 39
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH TIẾNG DÂN TỘC ĐÀI PT&TH LẠNG SƠN 40
2.1 Chương trình phát thanh tiếng Tày – Nùng, Dao 40
2.1.1 Sơ lược về chương trình phát thanh tiếng Tày - Nùng, Dao ở Đài PT&TH Lạng Sơn 40
2.1.2 Hoạt động sản xuất chương trình phát thanh tiếng Tày - Nùng, Dao ở Đài PT&TH Lạng Sơn 43
2.1.2.1 Phương pháp, quy trình sản xuất chương trình 43
2.1.2.2 Nội dung chương trình 45
2.1.2.3 Thời lượng và thời gian phát sóng chương trình 48
2.2 Tác động của chương trình phát thanh tiếng dân tộc đối với cộng đồng dân tộc 51
Trang 72.2.1 Thực trạng chương trình phát thanh tiếng dân tộc ở Đài PT-TH
Lạng Sơn 51
2.2.1.1 Quy trình sản xuất 51
2.2.1.2 Nội dung chương trình 53
2.2.1.3 Thời lượng chương trình và thời gian phát sóng 61
2.2.1.4 Yếu tố hỗ trợ 63
2.2.2 Sự tác động của chương trình phát thanh tiếng dân tộc đối với cộng đồng dân tộc địa phương: 64
2.3 Đánh giá chương trình phát thanh tiếng dân tộc Đài PT-TH Lạng Sơn 70
2.3.1 Điểm mạnh 70
2.3.2 Hạn chế 74
Tiểu kết chương 2 87
CHƯƠNG 3: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH TIẾNG DÂN TỘC 88
3.1 Những vấn đề đặt ra hiện nay cho chương trình phát thanh tiếng dân tộc của Đài PT-TH Lạng Sơn nhằm tạo ảnh hưởng tích cực đối với cộng đồng dân tộc địa phương 88
3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng chương trình phát thanh tiếng dân tộc, tăng cường tác động tích cực đối với cộng đồng dân tộc địa phương90 3.2.1 Đổi mới nội dung và hình thức chương trình 90
3.2.2 Tăng thời lượng và tần suất phát sóng 96
3.2.3 Đầu tư trang thiết bị phục vụ sản xuất chương trình 96
3.2.4 Thay đổi phương thức sản xuất 97
3.2.5 Đào tạo, bồi dưỡng, liên kết 99
3.2.6 Hỗ trợ kinh phí, nâng cao cơ chế chính sách, chế độ 101
Trang 8Tiểu kết chương 3 102 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 103 TÀI LIỆU THAM KHẢO 105 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BTV Biên tập viênDTTS Dân tộc thiểu sốĐHKHXH&NV Đại học Khoa học Xã hội và Nhân vănGSTS Giáo sư tiến sĩ
KTV Kỹ thuật viênKT-XH Kinh tế - Xã hộiPT-TH Phát thanh - Truyền hìnhPTTT Phát thanh trực tiếpPTV Phát thanh viên
PV Phóng viênTNVN Tiếng nói Việt Nam
Trang 10DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Kết cấu chương trình thời sự tổng hợp của phát thanh dân tộc của Đài phát thanh truyền hình Lạng Sơn 46 Bảng 2.2: Đánh giá của công chúng về nội dung mà họ thích xem nhất trong chương trình 53 Bảng 2.3: Ý kiến thính giả về chương trình phát thanh Thời sự tổng hợp bằng tiếng dân tộc 55 Bảng 2.4: Sự vận dụng vào đời sống sản xuất khi xem chương trình phát thanh 57 Bảng 2.5: Ý kiến thính giả về chương trình phát thanh ca nhạc bằng tiếng dân tộc 58 Bảng 2.6: Kết quả đánh giá chất lượng về đề tài và chủ đề trong chương trình phát thanh tiếng dân tộc 58 Bảng 2.7: Ý kiến thính giả về thời điểm phát sóng chương trình thích hợp 63 Bảng 2.8: Tổng hợp các ý kiến về các tiêu chí 64 Bảng 2.9: Tổng hợp ý kiến về chương trình, nội dung được yêu thích nhất 65 Bảng 2.10: Tổng hợp ý kiến về việc vận dụng kiến thức từ chương trình vào đời sống sản xuất 66 Bảng 2.11: Tổng hợp ý kiến về thời điểm phát sóng phù hợp 68
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay Chương trình phát thanh tiếng dân tộc là phương tiện truyền tải đắc lực, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và đồng bào dân tộc thiểu số Ở góc độ của Đảng, Nhà nước và các cơ quan quản lý nhà nước cấp địa phương, phát thanh tiếng dân tộc từ lâu đã trở thành một trong những công cụ của cấp
ủy Đảng, chính quyền địa phương trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành để phát triển kinh tế, xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng khó khăn trên cả nước Ở góc độ đồng bào dân tộc, phát thanh được coi là kênh thông tin tuyên truyền giúp nhân dân nắm bắt được các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và các cấp chính quyền địa phương
Sự hiểu biết của các dân tộc thiểu số về các chính sách của Đảng và Nhà nước dành cho họ có tầm quan trọng to lớn đối với việc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Nếu không hiểu đúng và đầy đủ người dân không thực hiện theo các chủ trương, chính sách đề ra, hoặc có thể có những hành vi vi phạm, gây hậu quả xấu, nghiêm trọng hơn có thể tạo điều kiện cho kẻ xấu lợi dụng, xuyên tạc gây ra chia rẽ dân tộc, mất ổn định khu vực Do vậy, một chương trình phát thanh bằng tiếng dân tộc hay, có tác động tích cực đến đồng bào dân tộc thiểu số là điều rất cần thiết, bằng những tin, phóng sự của phóng viên thực hiện, thông qua giọng đọc của phát thanh viên sẽ truyền tải trực tiếp đến thính giả là những người ở vùng dân tộc, từ đó, tạo ra hiệu ứng, liên kết của khán giả với các chương trình cũng như thông qua đó để họ thực hiện trong cuộc sống hàng ngày Là một trong những kênh truyền thông hữu hiệu nhất tới đồng bào dân tộc thiểu số, chương trình phát thanh dành cho nhóm đối tượng công chúng là người dân tộc thiểu số hay còn gọi là công chúng chuyên biệt đang ngày một phát triển
Trang 12Lạng Sơn là một tỉnh biên giới nằm ở phía Đông Bắc nước ta có các dân tộc ít người chiếm số đông (84,74 % tổng số dân của tỉnh) Là nơi chung sống của nhiều dân tộc anh em, trong đó người Nùng chiếm 42,8%, người Tày chiếm 35,4%, người Kinh chiếm 17,11%, người Dao chiếm 3,5%, dân tộc Hoa, Sán Chay, Mông và các dân tộc khác chiếm khoảng 1,19%
Với đặc thù là tỉnh biên giới, lại có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, nên công tác tuyên truyền giáo dục chính trị, tư tưởng của tỉnh Lạng Sơn được Đảng và các cấp chính quyền đặc biệt quan tâm Công tác truyền thông tới đồng bào dân tộc thiểu số tại tỉnh vẫn bao gồm 3 kênh chính: truyền hình, phát thanh và báo chí
Tuy nhiên, với tình hình phát triển kinh tế còn nhiều hạn chế, số lượng đồng bào tại tỉnh tiếp cận kênh thông tin này không nhiều Đối với kênh báo chí, mặc dù có nhiều tờ báo in được cấp miễn phí cho đồng bào, nhưng tỷ lệ người đọc báo không cao, nhiều bài viết đề cập đến những vấn đề vĩ mô trong khi đồng bào dân tộc thiểu số có lối sống tư duy đơn giản, mộc mạc, muốn biết những gì gần gũi với cuộc sống của mình Do vậy, kênh truyền thông thông dụng và hiệu quả nhất vẫn là kênh phát thanh, cần tăng cường việc điều tra thính giả để nắm bắt nhu cầu, thói quen, tâm lý tiếp cận của đồng bào dân tộc để điều chỉnh nội dung, phương thức truyền tải thông tin cho hợp lý, phù hợp với đồng bào dân tộc của địa phương Đặc biệt, cần đổi mới, nâng cao chất lượng, tăng thời lượng các chương trình phát thanh dân tộc
Hiện nay, Đài PT&TH Lạng Sơn đang phát các chương trình thời sự, chương trình tiếng Tày - Nùng và tiếng Dao buổi trưa và buổi tối Các chương trình phát thanh tiếng Tày - Nùng và tiếng Dao phát sóng chủ yếu phục vụ bà con vùng sâu, vùng xa, những địa phương còn khó khăn Cùng với sự phát triển, đổi mới theo yêu cầu, nhiệm vụ tuyên truyền hiện nay các chương trình
Trang 13phát thanh tiếng dân tộc của Đài PT&TH Lạng Sơn đã được nâng cao về chất lượng, nội dung và thời lượng phát sóng Tuy nhiên, trong các chương trình phát thanh tiếng dân tộc vẫn còn một số hạn chế nhất định như chương trình phát nguội, chưa có phát trực tiếp, âm nhạc của chương trình phát thanh dân tộc ít Các chương trình văn nghệ mới bằng tiếng dân tộc ít, chỉ có một số bài hát là thu từ các chương trình văn nghệ quần chúng, nên bài hát phát trong chương trình văn nghệ vẫn chủ yếu các bài cũ trong kho tư liệu Tin, phóng sự chủ yếu được dịch từ chương trình phát thanh tiếng kinh và chương trình thời
sự truyền hình, chưa có sự sáng tạo Điều này dẫn đến các chương trình phát thanh tiếng dân tộc chưa thật sự thu hút được sự quan tâm, chú ý của bà con Với mong muốn đánh giá đúng về sự cần thiết tồn tại, vai trò và các tác động của chương trình phát thanh tiếng Tày - Nùng và tiếng Dao của Đài PT&TH Lạng Sơn; đồng thời tìm ra các giải pháp tích cực, có tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng, số lượng của chương trình phát thanh phục vụ đồng bào, góp phần vào sự thành công của ngành phát thanh truyền hình đối với đối tượng là công chúng chuyên biệt cũng như hoàn thiện các sứ mệnh của chương trình phát thanh trong công tác tuyên truyền giáo dục chính trị, tư tưởng của Đảng, Nhà nước và các cấp chính quyền địa phương, tác giả quyết
định chọn đề tài “Tác động của phát thanh tiếng dân tộc của Đài PT-TH
Lạng Sơn đối với cộng đồng dân tộc địa phương” làm đề tài cho luận văn
Thạc sĩ Báo chí học của mình
2 Lịch sử nghiên cứu
Vấn đề “Tác động của phát thanh tiếng dân tộc của Đài PT-TH Lạng
Sơn đối với cộng đồng dân tộc địa phương” là một nghiên cứu mới Lượng
luận văn thạc sĩ viết về phát thanh dân tộc là rất ít Chủ yếu viết về vấn đề nhỏ, xoay quanh vấn đề của các Đài địa phương, đài cấp huyện hoặc các luận văn chỉ viết về chương trình truyền hình tiếng dân tộc Hiện nay, chưa có
Trang 14công trình nghiên cứu nào chuyên sâu về lý thuyết tác động của chương trình phát thanh tiếng dân tộc đối với cộng đồng dân tộc địa phương, chưa có những cuốn sách, giáo trình chuyên về tác động của chương trình phát thanh tiếng dân tộc đối với cộng đồng dân tộc địa phương…
Có thể khẳng định cho đến nay, những công trình nghiên cứu khoa học viết về chương trình phát thanh tiếng dân tộc còn ít và hiếm hoi, dường như chưa được khảo sát kỹ lưỡng, chưa được nghiên cứu cơ bản, đã có những công trình ở mức độ khác nhau đề cập đến nhưng chưa cụ thể, chi tiết Qua tìm hiểu từ thư viện của Khoa Báo chí & Truyền thông, thư viện số của Trường Đại học Khoa học xã hội & Nhân văn, thu thập kiến thức, tài liệu từ Internet, tác giả luận văn nhận thấy có một số tác giả đã nghiên cứu về chương trình phát thanh tiếng dân tộc theo nhiều hướng tiếp cận khác nhau
Cụ thể:
Về các công trình nghiên cứu, lý luận, giáo trình đã xuất bản thành sách
đã có:
- Cuốn chuyên luận Nghề báo nói của tác giả Nguyễn Đình Lương do
Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin ấn hành năm 1993 Nội dung sách gồm bảy phần, trong đó đã đề cập một cách tổng quát về đặc trưng, phương pháp, thể tài và những vấn đề thuộc về nguyên lý, kỹ năng và quy trình nghề báo phát thanh; phát thanh với thính giả,… [20]
- Tài liệu Hướng dẫn sản xuất chương trình phát thanh" của Lois
Baird, Trường Phát thanh Truyền hình và Điện ảnh Ôxtrâylia, do Đài Tiếng nói Việt Nam (TNVN) dịch và lưu hành nội bộ năm 2000 [34]
Cuốn Cẩm nang hướng dẫn phát thanh trực tiếp cũng đã nêu một vài
lời khuyên về sử dụng ngôn ngữ phát thanh nói chung và ngôn ngữ cho người
dẫn chương trình trực tiếp nói riêng Chẳng hạn, các tác giả nêu yêu cầu: viết
ngắn gọn, dễ hiểu, từ rõ nghĩa, dùng câu ngắn, không diễn đạt vòng vo, dùng
Trang 15từ giàu hình ảnh, làm tròn số, dùng từ phù hợp với từng đối tượng thính giả
Các tác giả cũng đưa ra một số lời khuyên đối với phát thanh viên như: nhấn
âm chính xác, ngắt hơi chuẩn xác, chuẩn bị trước văn bản bằng các ký hiệu
hỗ trợ việc đọc; ngữ điệu phải tự nhiên, cách phát âm phải rành mạch, tốc độ nói phải phù hợp với từng thể loại, từng nội dung thông tin Các tác giả cũng
đề cao vai trò của việc nhấn âm, ngừng nghỉ, sự khác biệt về độ cao thấp của giọng, tốc độ, âm lượng trong thể hiện lời nói trên sóng [32]
Trong cuốn Ngôn ngữ báo chí của Vũ Quang Hào, tác giả dành một chương viết về Ngôn ngữ phát thanh Trong đó, tác giả cũng đề cập đến nhiều nội dung của ngôn ngữ phát thanh, như: đặc tính của ngôn ngữ phát thanh,
chuẩn mực của ngôn ngữ phát thanh, những yếu tố chi phối tính hiệu quả của ngôn ngữ phát thanh Đáng chú ý, tác giả khẳng định: ngôn ngữ phát thanh là một thứ ngôn ngữ kết hợp phức tạp các chuẩn của cả ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết, và, để tăng tính hiệu quả của ngôn ngữ phát thanh, không thể không
tính đến các yếu tố nghệ thuật đọc hoặc nói; sự điều chỉnh cao độ, cường độ
và tốc độ của giọng đọc Tác giả cũng lược khảo và nhận xét về ngôn ngữ của
văn bản phát thanh ở các khía cạnh: độ dài câu, cấu trúc câu, vấn đề âm
hưởng trong văn bản phát thanh, vấn đề dùng chữ tắt, danh pháp, số liệu, ký hiệu trong văn bản phát thanh [15]
- Giáo trình Báo chí phát thanh do 13 tác giả ở Phân viện Báo chí và
Tuyên truyền và Đài TNVN viết (do Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin ấn hành năm 2002) có tổng cộng 20 chương, đề cập một cách khá toàn diện về những vấn đề của phát thanh Việt Nam hiện đại [17]
- Chuyên luận: Lý luận báo phát thanh của Đức Dũng (do Nhà xuất bản
Văn hoá - Thông tin ấn hành năm 2003) gồm 9 chương, trong đó đề cập đến những vấn đề của đặc trưng loại hình và các thể loại báo phát thanh.[2]
Trang 16- Sách chuyên luận Các thể loại báo chí phát thanh (của V.V Xmirnôp, Nga), được Nhà xuất bản Thông tấn dịch và phát hành năm 2004 [35]
- Hai tài liệu: Phát thanh - Truyền thanh nông thôn và Cẩm nang
hướng dẫn phát thanh trực tiếp, (do Ban Địa phương và Trung tâm Đào tạo,
Bồi dưìng nghiệp vụ phát thanh của Đài TNVN dịch và lưu hành nội bộ) đều
đã được tái bản năm 2005 [13]
- Tài liệu: 261 phương pháp đào tạo phát thanh viên và người dẫn
chương trình, (Học viện Truyền thông Bắc Kinh, Đoàn Như Trác biên dịch)
đã được Đài TNVN phát hành năm 2005 [8]
- Giáo trình: Phát thanh trực tiếp, (do GS,TS Vũ Văn Hiền và TS Đức
Dũng chủ biên) Nhà xuất bản Lý luận chính trị in và phát hành năm 2007 [28]
Gần đây nhất là cuốn “Truyền thông phát triển – Truyền thông dân tộc”
do PGS.TS Đặng Thị Thu Hương chủ biên cùng tập thể biên soạn nghiên cứu trường hợp vùng Tây bắc Việt Nam có một số chương nói về truyền thông phát triển, truyền thông dân tộc và vai trò của báo chí; Truyền thông phát triển
và truyền thông dân tộc dưới góc nhìn công chúng tiếp nhận Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội [18]
Hay như một loạt các bài về phát thanh dân tộc của Vũ Quang Hào:
Bài viết “Đề xuất một hướng tiếp cận cho phát thanh dân tộc” Trên tạp
chí Tạp chí Người làm báo điện tử đăng ngày 05/10/2017; TS Trần Quang Hào cùng nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm cùng đi tìm câu trả lời cho câu hỏi “Nếu không có radio” 30 phút chương trình chất chứa những câu chuyện, những chi tiết ấm lòng về một cơ quan truyền thông quốc gia đồng hành cùng lịch sử dân tộc, người ban của nhân dân (Khách đến chơi nhà 6/9/2015);
Về các nghiên cứu khoa học, các bài báo chuyên sâu có đề cập đến những vấn đề phát thanh tiếng dân tộc, đến nay đã có một số công trình sau:
Trang 17Trịnh Thị Hà Oanh (2012), Phát thanh tiếng dân tộc với người dân tộc
thiểu số bản địa Kon Tum, Luận văn thạc sỹ chuyên ngành Báo chí học,
trường ĐH KHXH&NV Nội dung luận văn nói về thực tế, thực trạng về đời sống kinh tế, xã hội của người dân tộc thiểu số ở Kon Tum, trong đó xác định công tác truyền thông đã trở thành công cụ đắc lực để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân Việc đầu tư phát triển chương trình phát thanh tiếng dân tộc đã chứng tỏ tầm quan trọng của báo chí trong đời sống của người dân tộc bản địa Kon Tum Luận văn của tác giả Trịnh Thị Hà Oanh đi sâu nghiên cứu về vai trò, vị trí cũng như những thuận lợi, khó khăn của phát thanh tiếng dân tộc đối với người DTTS Kon Tum Tìm ra những ưu và khuyết điểm của những chương trình này Tuy nhiên, tác giả của luận văn cũng chỉ ra những hạn chế
về sóng phát thanh, chất lượng chương trình chưa cao, đội ngũ cán bộ còn ít Vấn đề đổi mới chất lượng thông tin, nâng cao vai trò của chương trình phát thanh tiếng dân tộc đối với đồng bào DTTS Kon Tum là một trong những yếu
tố quan trọng hàng đầu với người làm truyền thông [28]
Cao Minh Châu (2002) làm chủ nhiệm đã cùng với Mùa A Phềnh, Và
A Vừ và Nguyễn Thị Thanh Vân thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học 03-2001” với tên gọi “Đổi mới và nâng cao chất lượng , nội dung chương trình phát thanh tiếng H’ Mông ở tỉnh Sơn La” Trong nghiên cứu này, các tác giả đã phân tích, đánh giá nội dung các chương trình phát thanh tiếng H’Mông ở tỉnh Sơn La; phân tích đặc điểm tự nhiên, đặc điểm dân cư địa phương cũng như tình hình kinh tế xã hội và các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước liên quan đến vùng đồng bào dân tộc thiểu số Từ đó, các tác giả cũng đã đề xuất những biện pháp để góp phần đổi mới và nâng cao chất lượng chương trình phát thanh tiếng H’Mông ở tỉnh Sơn La
“KX-Đặng Thị Huệ (2006), “Cải tiến đổi mới chương trình phát thanh tiếng
dân tộc theo hướng nào?” Nghiệp vụ phát thanh, Nội san Đài TNVN, số 10,
Trang 18tháng 9/2006 Bài báo đề cập đến một số tồn tại trong công tác phát thanh tiếng dân tộc như nội dung chưa có tính chuyên sâu về đời sống của đồng bào dân tộc, chưa đề cập đến các vấn đề bình đẳng giới, chưa có các nội dung về tấm gương của lãnh đạo các cấp là người dân tộc thiểu số Đồng thời cũng
đề xuất một số hướng đi mới cho công tác phát triển chương trình phát thanh tiếng dân tộc, bao gồm việc đưa tin, phóng sự người thật việc thật, thêm các chương trình khuyến nông, hướng dẫn kỹ thuật canh tác mới vào nội dung chương trình [19]
Đào Thị Loan (2004) đã có đề tài nghiên cứu “Hiệu quả phát thanh
bằng tiếng dân tộc của Đài PT&TH Lai Châu” là khóa luận tốt nghiệp của
trường ĐH KHXH &NV Hà Nội Tác giả khái quát về các chương trình phát thanh bằng ba thứ tiếng dân tộc của Đài PT&TH Lai Châu là tiếng Thái, tiếng
Hà Nhì và tiếng H’mông Mặc dù chương trình 1 ngày chỉ phát 3 buổi sáng, trưa và tối với tổng thời lượng 135 phút nhưng đã thu hút tới 75% lượng thính giả là đồng bào thiểu số của tỉnh nghe Luận văn cũng đề cập tới một số khó khăn trong việc tổ chức thực hiện chương trình phát thanh tiếng dân tộc như ít kinh phí, số cán bộ biết tiếng để tiếp cận người dân không nhiều, cơ sở hạ tầng cho việc thu phát còn kém [23]
Nguyễn Đức Thành (2014) “Chương trình truyền hình tiếng H’Mông của Đài Phát thanh truyền hình Bắc Kạn” là luận văn Thạc sĩ báo chí Tác giả
đã nêu khái quát quá trình hình thành, phát triển của chương trình truyền hình tiếng H’Mông Đài Phát thanh truyền hình Bắc Kạn Đề tài nghiên cứu về truyền hình dành cho đồng bào dân tộc thiểu số, nhưng tác giả của luận văn mới chỉ đi sâu nghiên cứu về chương trình truyền hình tiếng H’Mông của Đài Phát thanh truyền hình Bắc Kạn chứ không đi sâu nghiên cứu về chương trình phát thanh của Đài [30]
Trang 19Ngoài các công trình nghiên cứu, các bài viết, các tài liệu về phát thanh dân tộc, có một số khóa luận của một số sinh viên khoa Báo chí, Trường Đại học KHXH&NV Hà Nội liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số như : tác giả Đào Kim Sơn với khóa luận “Báo chí với vấn đề cung cấp nước sạch cho đồng bào dân tộc miền núi”, hay tác giả Trần Thị Minh với khóa luận “ Báo chí với vấn đề chăm sóc và bảo vệ sức khỏe đồng bào dân tộc miền núi”
Các nội dung tham khảo trong các đề tài trước là nguồn tài liệu quý báu cho tác giả trong quá trình hình thành ý tưởng thực hiện đề tài Tuy nhiên, thời gian thực hiện các nghiên cứu trước đã rất lâu, thêm vào đó, tình hình kinh tế, xã hội, chính trị và đặc thù của từng địa phương có những đặc điểm khác nhau, do vậy, các kết quả nghiên cứu trước đã không còn phù hợp với tình hình hiện tại của tỉnh Lạng Sơn Thêm vào đó, cho đến thời điểm này,
chưa có bất cứ đề tài nào nghiên cứu về “Tác động của phát thanh tiếng dân
tộc của Đài PT-TH Lạng Sơn đối với cộng đồng dân tộc địa phương”
Do vậy, luận văn “ Tác động của phát thanh tiếng dân tộc của Đài
PT-TH Lạng Sơn đối với cộng đồng dân tộc địa phương” là một nội dung
nghiên cứu mới, không trùng với các đề tài nghiên cứu trước đó, rất cần thiết trong việc nghiên cứu về mặt lý luận và tổng kết thực tiễn, phục vụ cho công tác phát triển các chương trình phát thanh dân tộc của Đài PT&TH Lạng Sơn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Mục đích nghiên cứu của Luận văn này là hệ thống những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu, khảo sát, điều tra công chúng là đồng bào dân tộc, phân tích chương trình phát thanh tiếng Tày – Nùng và tiếng Dao của Đài Phát thanh truyền hình Lạng Sơn , trên cơ sở đó đánh giá những thành công
và chỉ ra những mặt hạn chế, phân tích hiệu quả những tác động của chương
Trang 20trình phát thanh tiếng dân tộc đối với bà con vùng đồng bào dân tộc tại địa phương
Đồng thời tìm kiếm những giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả chương trình phát thanh dân tộc tại Đài PT-TH tỉnh Lạng Sơn
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu tác giả của Luận văn cần phải hoàn
thành những nhiệm vụ sau đây:
+ Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát thanh dân tộc + Khảo sát thực trạng chương trình phát thanh dân tộc tại Đài PT&TH Lạng Sơn, những vấn đề về cách thức, kĩ năng, quy trình và vấn đề trong sản xuất chương trình phát thanh tiếng Tày - Nùng và tiếng Dao ở Đài Phát thanh truyền hình Lạng Sơn (Có sự so sánh nghiên cứu vưới chương trình phát thanh tiếng Tày – Nùng và tiếng Dao của Đài PT – Th tỉnh Cao Bằng)
Qua đó, chỉ ra những thành công, hạn chế, điểm mạnh, điểm yếu trong các chương trình phát thanh dân tộc Phân tích những vấn đề thể hiện sự tác động của các chương trình phát thanh tiếng dân tộc trên Đài Lạng Sơn đến cộng đồng dân tộc địa phương
+ Điều tra xã hội học về các chỉ số: người dân có đài nghe, thời gian nghe và mức độ hài lòng, những sở thích và mong muốn của bà con dân tộc thiểu số khi nghe chương trình
+ Xác định xu hướng phát triển và vấn đề đặt ra đối với phát thanh dân tộc của Đài Phát thanh truyền hình Lạng Sơn Bước đầu nêu ra những giải pháp, khuyến nghị nhằm góp phần nâng cao chất lượng chương trình phát thanh tiếng dân tộc Đài PT&TH Lạng Sơn
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 21Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hiệu quả tác động của chương trình phat thanh tiếng Tày – Nùng và tiếng Dao của Đài PT – TH tỉnh Lạng Sơn
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn khảo sát các chương trình phát thanh tiếng dân tộc của Đài Phát thanh truyền hình Lạng Sơn từ tháng 6 năm 2017 đến tháng 6 năm 2018 Hiện nay, các Đài trong khu vực cũng như toàn quốc đều có chương trình phát thanh tiếng dân tộc Tác giả chọn chương trình phát thanh tiếng Tày – nùng và tiếng Dao của Đài PT - TH Lạng Sơn khảo sát bởi vì một số lý do sau:
+ Đài PT – TH Lạng Sơn là nơi hiện nay tác giả đang làm việc nên việc lựa chọn Đài PT – TH Lạng Sơn để khảo sát nghiên cứu luận văn này là điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình tìm kiếm thông tin Qua đó, đánh giá được thực trạng và tìm ra được những mặt hạn chế cần khắc phục để nâng cao chất lượng chương trình phát thanh dân tộc của Đài
+ Bản thân tác giả cũng là người dân tộc Tày ở địa phương nên hiểu được rõ phong tục, tập quán, nhu cầu và phản ứng của bà con dân tộc thiểu số của địa phương và tác giả cũng biết tiếng dân tộc nên có thể giao tiếp nói chuyện với bà con dân tộc để tìm hiểu về tác động của các chương trình phát thanh dân tộc của Đài đối với bà con
+ Chương trình phát thanh tiếng dân tộc của Đài phủ sóng toàn tỉnh và chủ yếu phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số trong tỉnh
+ Nội dung các chương trình phát thanh dân tộc đều đảm bảo công tác tuyên truyền của tỉnh và đáp ứng nhu cầu tiếp nhận thông tin của người dân
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Trang 22Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận báo chí truyền thông,
lý luận phát thanh nói chung, phát thanh dân tộc nói riêng Lý luận về tâm lý học, xã hội học để phân tích, đánh giá cụ thể từng thông tin trong chương trình phát thanh tiếng Tày - Nùng, tiếng Dao của Đài PT&TH Lạng Sơn Phân tích những tác động truyền thông tới công chúng chuyên biệt là người Tày – Nùng, và người Dao
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn này, tác giả lựa chọn một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Đây là phương pháp quan trọng
giúp tác giả hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài Từ đó rút
ra những thông tin quan trọng có liên quan phục vụ việc thực hiện đề tài Trên
cơ sở nghiên cứu, phân tích tài liệu, tác giả kế thừa những kết quả nghiên cứu
đã có, sử dụng để so sánh, đối chiếu, minh họa cho các kết quả nghiên cứu của mình Nhằm tìm hiểu những vấn đề lý luận liên quan đến phát thanh dân tộc và đối tượng công chúng chuyên biệt và được sử dụng trong việc nghiên cứu các sách, báo, tài liệu có liên quan đến cơ sở lý luận báo chí và
lý luận báo Phát thanh nhằm hệ thống hóa những vấn đề về lý luận làm cơ
sở cho quá trình nghiên cứu
- Phương pháp Nghiên cứu điều tra xã hội học: Nhằm thu thập, nhận
xét, đánh giá của công chúng về tác động của chương trình phát thanh tiếng dân tộc của Đài phát thanh và truyền hình tỉnh Lạng Sơn Để đảm bảo tính khách quan của kết quả nghiên cứu, tác giả dự kiến sẽ phát 300 phiếu Đối tượng điều tra bao gồm nhiều thành phần, nghề nghiệp, lứa tuổi, trình độ Địa bàn điều là gồm thành phố và khu vực nông thôn Khảo sát về công chúng chuyên biệt đối với chương trình phát thanh dân tộc của Đài PT-TH Lạng
Trang 23Sơn Từ đó, thu thập những ý kiến thực tế, cung cấp cho việc triển khai các luận điểm khoa học cần thiết trong luận văn
- Các phương pháp phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh: Được sử
dụng trong việc xem xét, đánh giá, phân tích và chỉ ra những ưu điểm, nhược điểm các chương trình phát thanh tiếng Dân tộc ở đài mà tác giả khảo sát Từ
đó, rút ra những kết luận khoa học cần thiết phục vụ cho các luận điểm được triển khai trong luận văn.
- Phương pháp khảo sát thực tế: Được sử dụng để khảo sát thực tế các
chương trình phát thanh tiếng dân tộc Tày - Nùng và tiếng Dao của Đài PT&TH Lạng Sơn Tác giả cũng sẽ sử dụng phương pháp khảo sát thực tế để nghiên cứu về khả năng và điều kiện tiếp nhận thông tin cũng như tác động của chương trình phát thanh tiếng dân tộc đối với đồng bào dân tộc trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn
- Phương pháp lịch sử: Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển
của chương trình tiếng Tày - Nùng, tiếng Dao của Đài PT&TH Lạng Sơn
- Phương pháp quan sát: Tác giả đi thực tế tại các vùng đồng bào dân
tộc Tày – Nùng, Dao để quan sát đời sống và tìm hiểu về việc nghe đài, đặc biệt là nghe các chương trình tiếng Tày - Nùng, tiếng Dao phát trên sóng phát thanh của Đài PT&TH Lạng Sơn
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Được sử dụng để phỏng vấn trưởng
phòng Chương trình tiếng dân tộc, Biên tập viên, Biên dịch viên Đài PT – TH Lạng Sơn trực tiếp biên tập, biên dịch các chương trình phát thanh tiếng Tày – Nùng, tiếng Dao hàng ngày Cán bộ thực hiện chương trình phát thanh tiếng dân tộc ở Đài Tiếng nói Việt Nam Mục đích sử dụng phương pháp này là để thu thập các ý kiến, nhận xét, đánh giá về các chương trình phát thanh tiếng dân tộc và tác động của nó Trong điều kiện cho phép và trong phạm vi của Luận văn, tác giả đã phỏng vấn 5 người là những người trực tiếp làm chương
Trang 24trình và liên quan đến quy trình sản xuất chương trình Trong đó, tác giả phỏng vấn 1 người của Đài Tiếng nói Việt Nam; phỏng vấn 4 người của Đài
PT - TH Lạng Sơn gồm 1 trưởng phòng, 2 biên tập viên và 1 biên dịch viên chuyên biên tập và biên dịch các chương trình phát thanh tiếng dân tộc của Đài Hình thức phỏng vấn: Phỏng vấn trực tiếp, phỏng vấn qua điện thoại và qua mail (thư điện tử)
Tất cả các phương pháp trên được sử dụng một cách có chọn lọc, nhằm
có đầy đủ thông tin, cơ sở lý luận và thực tiễn, để rút ra kết luận khoa học và
có tác động tích cực, hiệu quả cho luận văn
6 Đóng góp mới của luận văn
Đây là đề tài Luận văn đầu tiên về “Tác động của phát thanh tiếng dân
tộc của Đài PT-TH Lạng Sơn đối với cộng đồng dân tộc địa phương” Qua
đó, có những đóng góp nhất định cả về phương diện lý luận cả về vận dụng trong hoạt động thực tiễn
Luận văn đã kế thừa lý luận về phát thanh dân tộc của các nhà nghiên cứu trước Đây là vấn đề mới, là một trong những đề tài hiếm hoi đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống Qua khảo sát thực tiễn các chương trình phát thanh tiếng Tày – Nùng và tiếng Dao của Đài PT – TH Lạng Sơn, Luận văn cũng khẳng định phát tiếng dân tộc có vai trò rất quan trọng tác động đến cộng đồng dân tộc địa phương Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, Luận văn chỉ ra những bài học kinh nghiệm, những giải pháp nâng cao chất lượng phát thanh dân tộc của Đài PT- TH Lạng Sơn với những tác động đối với cộng đồng dân tộc địa phương
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
7.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn là sự vận dụng tổng hợp những kiến thức về lý luận báo chí, truyền thông đã được trang bị trong chương trình đào tạo thạc sĩ để giải quyết
Trang 25những vấn đề đang đặt ra trong thực tiễn Luận văn là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu về tác động của phát thanh dân tộc của Đài PT –TH Lạng Sơn với cộng đồng dân tộc địa phương dựa trên việc khảo sát các chương trình phát thanh tiếng Tày – Nùng và tiếng Dao của Đài PT – TH Lạng Sơn Cụ thể, luận văn khẳng định được vai trò quan trọng của phát thanh tiếng dân tộc của Đài đối với cộng đồng dân tộc địa phương Phương pháp, giải pháp để cán bộ quản lý, biên tập viên, phóng viên, biên dịch viên và phát thanh viên làm chương trình phát thanh tiếng dân tộc hàng ngày vận dụng vào thực tiễn sản xuất chương trình Từ đó, nâng cao chất lượng chương trình cũng như nâng cao hiệu quả, tác động đến đồng bào dân tộc thiểu số
Vì vậy, Nếu thực hiện thành công luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các nhà trường, các trung tâm có đào tạo về phát thanh trong
cả nước
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài luận văn được nghiên cứu dựa trên những tri thức lý luận được trang bị và những kinh nghiệm được chia sẻ trong sản xuất chương trình phát thanh tiếng dân tộc của đồng nghiệp tại Đài PT-TH Lạng Sơn Đây là luận văn đầu tiên khảo sát một cách có hệ thống về chất lượng các chương trình phát thanh dân tộc Về mặt thực tiễn những kết quả phân tích, nghiên cứu sẽ giúp cho bản thân tác giả và những người làm chương trình phát thanh tiếng dân tộc nâng cao hoạt động nghề nghiệp; làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy, học tập, nghiên cứu của sinh viên ngành báo chí và những ai quan tâm Với những cứ liệu phong phú sẽ giúp cho cán bộ lãnh đạo, quản lý báo chí nói chung và cấp ủy, chính quyền địa phương hiểu sâu sắc hơn về vị trí, vai trò của các chương trình phát thanh tiếng dân tộc Từ đó có chủ trương, cơ chế chính sách phù hợp trong việc đầu tư phát triển và quản lý chương trình phát thanh dân tộc hiệu quả hơn
Trang 26Việc nghiên cứu đề tài này là cơ hội để tác giả luận văn có thể nâng cao kiến thức sau thời gian học cao học báo chí tại trường Đại học Khoa học xã hội
và nhân văn
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, Tài liệu tham khảo, kết cấu của luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát thanh tiếng dân tộc
Chương 2: Thực trạng chương trình phát thanh tiếng dân tộc Đài PT&TH Lạng Sơn
Chương 3: Những tác động đối với cộng đồng dân tộc địa phương và giải pháp nâng cao chất lượng chương trình phát thanh tiếng dân tộc
Trang 27CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT THANH TIẾNG DÂN TỘC
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Chương trình phát thanh
Chương trình phát thanh là sự tổ chức các tin tức, bài vở, tài liệu cùng các chất liệu khác trong phát thanh theo thời lượng nhất định, mục đích nhất
quán và nhằm vào đối tượng công chúng cụ thể Theo Tạ Ngọc Tấn: “Thông
thường một chương trình phát thanh mở đầu bằng nhạc hiệu và kết thúc bằng lời chào tạm biệt Ngay sau nhạc hiệu là lời xướng của phát thanh viên, chỉ ra tên hoặc đặc trưng của chương trình” [34]
Chương trình phát thanh là sự liên kết, sắp xếp hợp lý tin bài, băng tư liệu, âm nhạc trong thời lượng nhất định được mở đầu bằng nhạc hiệu, kết thúc với lời chào tạm biệt nhằm đáp ứng yêu cầu tuyên truyền của cơ quan báo phát thanh Đồng thời mang lại hiệu quả cao nhất với người nghe
Trong thực tế, tùy theo tiêu chí phân loại, mỗi chương trình phát thanh
có đối tượng tác động riêng, có nội dung phản ánh cũng như phương thức thực hiện riêng Thính giả dễ dàng phân biệt chương trình phát thanh Thanh niên với Câu lạc bộ những người cao tuổi; chương trình Thời sự với Diễn đàn các vấn đề xã hội… Sự phân công và chuyên môn hóa trong quá trình lao động tạo ra cho các chương trình phát thanh có sự phân định rõ ràng Quá trình tiếp nhận của công chúng gắn liền với các chương trình phát thanh Người nghe có thể nắm bắt được thông tin thời sự một cách nhanh nhất qua chương trình thời sự và họ chờ đợi những hướng dẫn cụ thể qua chương trình chuyên đề
Một chương trình phát thanh thường gồm mở đầu, lời xướng, nội dung
và lời kết của chương trình hoặc lời chào thính giả Mỗi chương trình phát thanh đều ổn định về cấu trúc Với chương trình thời sự thường có 3 phần: tin
Trang 28- bài - tiết mục được phân chia bằng những đoạn nhạc cắt Chương trình chuyên đề thường có hai phần trở lên và được phân cách bằng nhạc cắt Với các chương trình có thời lượng lớn, số tiết mục có thể tăng
Phương thức truyền thông của báo phát thanh sử dụng con đường tác động riêng, trong đó từ ngữ với phương thức biểu hiện bằng lời nói là phương tiện chuyển tải ý nghĩa và tình cảm, gắn liền với âm nhạc và tiếng động minh họa Bản chất của quá trình tác động là truyền tải ý tưởng, tình cảm bằng cách
sử dụng hệ thống các ký hiệu âm thanh phong phú, quá trình diễn ra liên tục, qua đó giúp công chúng hiểu được nội dung thông điệp Chương trình phát thanh có những đặc điểm sau:
Thứ nhất là tỏa sóng rộng khắp: Là sự quảng bá nhờ phủ sóng điện từ trên phạm vi rộng lớn với tốc độ tương đương tốc độ ánh sáng Có thể nói phát thanh không giới hạn về khoảng cách, vì thế nó mang tính xã hội hóa cao
Thứ hai thông tin nhanh, tiếp nhận đồng thời: Thông tin được truyền qua sóng điện từ và hệ thống truyền thanh có thể rút ngắn khoảng cách toàn cầu, hàng triệu thính giả đồng thời được nắng nghe thông tin cùng một thời điểm
Thứ ba, thông tin phụ thuộc vào quy luật thời gian: Thính giả không thể lựa chọn chương trình phát thanh mà phải phụ thuộc hoàn toàn vào quy luật của quá trình truyền thông radio Công chúng tiếp thu thông tin tuần tự từ đầu đến cuối một cách bị động
Thứ tư, sự sống động, riêng tư, thân mật: Công chúng tiếp nhận thông tin qua giọng đọc phát thanh viên, gắn liền với những yếu tố của kĩ năng nói như cao độ, cường độ, ngữ điệu,… Và mỗi thính giả lại chỉ lắng nghe chương trình phát thanh với tư cách cá nhân
Trang 29Thứ năm, sử dụng âm thanh tổng hợp bao gồm lời nói, tiếng động và
âm nhạc: Công chúng báo phát thanh rộng lớn và đa dạng, là quần thể dân cư không phân biệt trình độ học vấn Âm thanh không phụ thuộc vào hình ảnh hay chữ in nên có nhiều thuận lợi trong khai thác sử dụng, kích thích trí tưởng tượng, gây không khí và gợi lên tâm trạng
1.1.2 Chương trình phát thanh tiếng dân tộc, truyền thông tiếng dân tộc
1.1.2.1 Khái niệm
Chương trình phát thanh tiếng dân tộc là một chương trình phát thanh
sử dụng tiếng dân tộc làm ngôn ngữ chính để truyền tải các nội dung, thông điệp của tin bài
Trong bối cảnh nước ta hiện nay có hơn 13 triệu đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống tập trung ở vùng núi cao, biên giới, những vùng còn nhiều khó khăn, tỷ lệ mù chữ mẹ đẻ ở nhiều dân tộc còn cao, gần 22%, trong đó có
6 dân tộc tỷ lệ mù chữ mẹ đẻ lên tới 50%, thì các chương trình phát thanh tiếng dân tộc có vai trò rất quan trọng trong việc giúp các cộng đồng người dân tộc thiểu số khắc phục tình trạng thiếu thốn, nghèo nàn thông tin
Chương trình phát thanh tiếng dân tộc là một trong những kênh truyền thông hữu ích trong công tác tuyên truyền có hệ thống, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về các vấn đề dân tộc, cũng như tình hình chung về kinh tế, chính trị, xã hội tại địa phương cũng như trên
cả nước Ngoài ra chương trình phát thanh tiếng dân tộc còn phản ánh toàn diện đời sống, kinh tế, xã hội của đồng bào các dân tộc thiểu số, thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, cùng phát triển; bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc trong ngôi nhà Việt Nam
Trang 30Truyền thông phát thanh là sử dụng âm thanh, tác động vào cơ quan thính giác của con người, âm thanh trong phát thanh gồm ngôn ngữ nói, tiếng động và âm nhạc, trong đó ngôn ngữ đóng vai trò chủ đạo
1.1.2.2 Yêu cầu về nội dung chương trình phát thanh tiếng dân tộc
Từ mục tiêu, nhiệm vụ trên, nội dung chương trình phát thanh tiếng dân tộc phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số cần đáp ứng những yêu cầu sau:
- Đảm bảo đúng quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng
- Đảm bảo tính chính xác kịp thời
- Phát huy thế mạnh tổng hợp trên hai lĩnh vực: Thông tin nhanh nhạy, chính xác, phương tiện thông tin phong phú: báo in, báo nói, báo hình
- Đáp ứng nhu cầu của đồng bào: gần gũi, giản dị, ngắn gọn, dễ hiểu
- Thông tin về chính sách của Đảng và Nhà nước, tình hình chung cho đối tượng là đồng bào các dân tộc thiểu số và đồng bào ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa
- Khẳng định đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trước sau như một, bình đẳng, đoàn kết các dân tộc, tôn trọng tự do tín ngưỡng, giữ gìn truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc
- Khẳng định những thành tựu mà Đảng và Nhà nước đã mang lại cho miền núi và vùng đồng bào các dân tộc thiểu số Thành tựu đó thể hiện trên các mặt chính trị, KT-XH Nhờ các chương trình dự án của Nhà nước mà diện mạo nông thôn miền núi đã có sự khởi sắc nhất định Đời sống văn hóa, tinh thần của đồng bào từng bước được nâng cao
- Phản ánh kết quả các chương trình phát triển kinh tế của miền núi, vùng dân tộc, đặc biệt là chương trình xóa đói giảm nghèo, chương trình phát triển y tế, giáo dục, văn hóa
Trang 31- Biểu dương đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số, hoặc người Kinh lên công tác miền núi, vùng dân tộc thiểu số, biểu dương các điển hình trong sản xuất và xây dựng cuộc sống mới của đồng bào dân tộc
- Nêu cao vai trò của cơ sở đảng, các tổ chức đoàn thể quần chúng
- Cùng với việc biểu dương, nội dung phát thanh cần phê phán những mặt hạn chế, tiêu cực ở miền núi và vùng dân tộc: nạn phá rừng, di dân tự do, các tệ nạn xã hội, mê tín, tà đạo Phê phán đúng mức các hiện tượng tiêu cực trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc và các dự án phát triển KT-XH ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số
- Phê phán vạch trần những luận điệu, vu cáo, xuyên tạc, kích động gây rối của các thế lực thù địch đối với chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta
1.1.3 Công chúng người dân tộc
1.1.3.1 Đặc điểm công chúng người dân tộc
Công chúng phát thanh còn gọi là thính giả hoặc bạn nghe đài “Khái
niệm công chúng, bạn đọc, bạn nghe và xem đài nói chung được dùng để chỉ một nhóm lớn trong xã hội, nhưng thường ngày, người ta có thể dùng để chỉ
cụ thể một người hay một nhóm nhỏ nào đó”
Công chúng phát thanh có thể được hiểu là nhóm lớn xã hội được chương trình phát thanh tác động, hoặc nhóm lớn mà chương trình phát thanh hướng tới để tác động Có công chúng tiềm năng và công chúng thực tế, công chúng trực tiếp và công chúng gián tiếp Công chúng tiềm năng là nhóm lớn
xã hội mà chương trình nhắm vào, tác động lôi kéo Nhưng trong thực tế, không phải tất cả các thành viên nhóm lớn xã hội mà chương trình nhắm vào đều tiếp nhận được các chương trình phát thanh Hay nói cách khác, chỉ một phần trong nhóm lớn mà chương trình phát thanh hướng vào, tiếp nhận được
sự tác động Bộ phận ấy gọi là công chúng thực tế Ở bình diện khác lại có
Trang 32công chúng trực tiếp và gián tiếp Công chúng trực tiếp là những người trực tiếp tiếp nhận các chương trình phát thanh Còn công chúng gián tiếp là những người được công chúng trực tiếp kể lại những thông điệp mà họ tiếp nhận qua các chương trình phát thanh Do đó, các chương trình trên radio vừa nhắm vào những đối tượng cụ thể vừa nhắm vào quảng đại quần chúng Chương trình phát thanh phụ nữ nhằm vào nhóm công chúng phụ nữ, nhưng kể cả nam giới cũng không phải vô tình nghe được mà nghe theo sở thích và nhu cầu Người ta nói rằng, viên đạn có thể bắn mà không trúng đích nhưng sóng phát thanh đã phủ và có radio trong tay thì bất kỳ ai cũng có thể nghe được, chỉ có hai rào cản, đó là ngôn ngữ và năng lực của thính giác
Sản xuất chương trình phát thanh bao giờ cũng phải hướng đến công chúng Nếu chương trình không hấp dẫn, không lôi kéo, không thuyết phục được người nghe thì họ tắt radio và làm việc khác Do đó, công chúng phát thanh chính là người nuôi dưìng chương trình phát thanh, là người đánh giá, thẩm định cuối cùng chất lượng chương trình phát sóng Nói cách khác, công chúng phát thanh chính là đối tác của đài phát thanh Mất công chúng thì đài không còn lý do để tồn tại Chính vì thế, phải hiểu và phải nghiên cứu công chúng một cách thường xuyên và nghiêm túc
Việt Nam có 54 dân tộc, trong đó người Kinh là đa số, chiếm khoảng 86% dân số; 53 tộc người thiểu số chiếm khoảng 14% dân số cả nước Trong
số 63 tỉnh, thành phố hiện nay có tới 54 tỉnh thuộc địa bàn vùng miền núi và dân tộc thiểu số: 12 tỉnh vùng cao; 9 tỉnh miền núi; 23 tỉnh có huyện, xã miền núi và 10 tỉnh khu vực Đồng bằng sông Cửu Long là nơi có đông đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống
Do đặc điểm của địa bàn sinh sống, đa phần đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống trên địa bàn rộng, các hộ dân sống rải rác, trình độ dân trí thấp Đây
là những vấn đề đặt ra nhiều khó khăn trong công tác truyền thông đối với
Trang 33người dân Địa bàn rộng và dân cư phân tán, điều kiện tiếp cận dịch vụ thông tin hạn chế nên không thể áp dụng các biện pháp truyền thông tập trung như vùng đồng bằng và đô thị như việc sử dụng các phương tiện truyền thanh, tổ chức các cuộc họp phổ biến đông người hay cung cấp các thông tin qua báo chí, các trang tin điện tử Bên cạnh đó, do việc sống rải rác trên địa bàn rộng như vậy, việc đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ hoạt động phát thanh cũng gặp nhiều khó khăn
Ngoài ra, hầu hết đồng bào dân tộc thiểu số đều sinh sống ở khu vực nhạy cảm về an ninh quốc phòng, đời sống vật chất thiếu thốn, đời sống tinh thần nghèo nàn, trình độ dân trí thấp, ít được tiếp xúc với các phương tiện truyền thông đó là những điều kiện thuận lợi để kẻ thù lôi kéo và dụ dỗ đồng bào dân tộc thiểu số vào ý đồ phản động của chúng Do vậy, công tác phát thanh càng cần thiết và có ý nghĩa
Bên cạnh đó, do dân trí thấp, điều kiện vật chất thiếu thốn, đời sống tinh thần nghèo nàn, do vậy, việc có một kênh thông tin, giải trí sau khi vất vả đồng áng mưu sinh là một vấn đề được đông đảo đồng bào quan tâm
1.1.3.2 Đặc điểm công chúng người Tày, Nùng, Dao ở Lạng Sơn
Dân tộc Tày
Trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn thì dân tộc Tày có số dân chiếm 35,4% dân
số và 31,5% tổng số người Tày Việt Nam Người Tày Lạng Sơn có những đặc trưng nổi bật khác như: sinh sống ở tất cả các huyện thành phố trong tỉnh như các huyện Văn Quan, Bình Gia, Bắc Sơn, Chi Lăng, Lộc Bình, Đình Lập, Cao Lộc, Văn Lãng, Tràng Đình, Hữu Lũng và Thành phố Lạng Sơn Người Tày
có ngôn ngữ riêng là tiếng Tày hay còn gọi là tiếng Thổ Có chữ viết riêng Tuy nhiên, ở mỗi địa phương, mỗi huyện thì người Tày lại có giọng nói khác nhau nơi nói tiếng Tày rất nặng, khó hiểu, nói nhanh, nơi thì nói nhẹ, dễ hiểu
Trang 34Về âm nhạc, người Tày được biết đến với các thể loại hát then, Nhạc cụ chủ yếu của họ là đàn tính, lúc lắc Then là làn điệu dân ca tổng hợp có lời, có nhạc, có kiểu trang trí, có hình thức biểu diễn đã làm rạo rực tâm hồn bao chàng trai Tày khi ở xa quê hương Các hoạt động văn nghệ đặc trưng cùng các loại nhạc cụ này vẫn được tiếp tục bảo tồn và lưu truyền đến tận ngày nay trong các lễ hội lớn cũng như các mục đích sinh hoạt khác nhau Đến ngày nay, nhiều địa phương đang khôi phục hát then và thành lập nhiều câu lạc bộ then của địa phương để bà con tham gia và truyền dạy lại cho thế hệ trẻ
Ngày nay, người Tày Lạng Sơn có nhiều nét tương đồng với người kinh trong đời sống, kinh tế, văn hóa Còn đối với người Tày ở các vùng sâu, vùng
xa trong các huyện vẫn giữ được truyền thống từ phong tục, tập quán cũng như ngôn ngữ của người Tày
Dân tộc Nùng
Dân tộc Nùng ở Lạng Sơn là dân tộc có số lượng người đông thứ hai sau dân tộc Kinh, gồm các tộc Nùng như: Nùng Inh, Nùng phàn sLình, Nùng cháo Nguồn sống chính của người Nùng là cây lúa và cây ngô Họ kết hợp làm ruộng nước ở các vùng khe dọc với trồng lúa cạn trên các sườn đồi Các ngành nghề thủ công đã phát triển, phổ biến nhất là nghề dệt, tiếp đến là nghề mộc, đan lát và nghề rèn, nghề gốm
Đồng bào Nùng sống thành từng bản trên các sườn đồi Đồng bào Nùng
có một kho tàng văn hóa dân gian phong phú và có nhiều làn điệu dân ca đậm
đà màu sắc dân tộc hát lượn, hát sli, các bài dân ca như lượn, phong slư, phuối pác, phuối Tiếng Nùng, soong hao có nghĩa là hai ta, đôi ta Hát soong hao là hình thức sinh hoạt dân ca trữ tình đối đáp nam nữ của các thế hệ thanh niên dân tộc Nùng,… Hát soong hao được tiến hành chủ yếu vào mùa xuân,
từ những phiên chợ đầu năm đến những phiên chợ cuối cùng Tiếng Sli giao duyên của thanh niên Nùng Lạng Sơn hòa quyện vào âm thanh tự nhiên của
Trang 35núi rừng gây ấn tượng sâu sắc cho những ai đã một lần lên xứ Lạng Người Nùng thường hát Sli, hát lượn, hát soong hao vào những dịp lễ, Tết, ngày hội, ngày thống nhất đất nước, ngày cưới… Họ vào chợ chỉ mua bán qua loa, hoặc đi hội chỉ để gặp nhau rồi từng tốp nam nữ đối diện nhau mà hát Trời ngả về chiều họ mới đứng dậy ra về, cuộc hát kéo dài theo con đường về bản
xa và nhiều đôi đã thành vợ thành chồng sau đó
Dân tộc Dao
Dân tộc Dao là một trong 54 dân tộc anh em đang sống trên dải đất Việt Nam, phân bố chủ yếu ở các tỉnh vùng cao biên giới phía Bắc Việt Nam như Cao Bằng, Hà Giang, Tuyên Quang, Lạng Sơn Dân tộc Dao có nhiều nhóm địa phương, như: Dao Quần trắng, Dao quần chẹt, Dao Tiền, Dao Thanh Y, Dao Lô Gang, Dao Đỏ và có nhiều tên gọi khác: Mán, Động, Trại, Đại Bản, Tiểu Bản v.v
Người Dao ở Cao Bằng có hai nhánh đó là Dao đỏ và Dao tiền, thường sống ở các vùng núi cao và các thung lũng tương đối bằng phẳng của các huyện: Nguyên Bình, Bảo Lâm, Bảo Lạc, Thông Nông, Hà Quảng, Thạch An… Tuy cư trú ở núi cao, xa xôi, còn nhiều khó khăn, nhưng đồng bào Dao
đỏ có truyền thống văn hoá phong phú và giàu bản sắc Văn hoá dân tộc Dao hoà vào dòng chảy của văn hoá các dân tộc anh em, góp phần hình thành bản sắc văn hoá các dân tộc Việt Nam
Người Dao sống chủ yếu bằng nghề trồng trọt trên nương và ruộng nước Ngoài lúa họ còn trồng màu Nông cụ sản xuất thô sơ nhưng kỹ thuật canh tác đã có nhiều tiến bộ Một số nghề thủ công đã phát triển như dệt vải, rèn, mộc, làm giấy, ép dầu
Theo báo cáo của Ban Dân tộc tỉnh, trong những năm qua, đời sống của đồng bào các dân tộc trên địa bàn tỉnh nhìn chung ổn định và từng bước được cải thiện, các dân tộc chung sống đoàn kết, chấp hành tốt chủ trương, đường
Trang 36lối của Đảng, Chính sách, pháp luật của Nhà nước, không có những vấn đề nổi cộm về tôn giáo, dân tộc trên địa bàn Tình hình an ninh chính trị, trật tự
an toàn xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số khó khăn và khu vực biên giới được đảm bảo Qua việc thực hiện các chương trình, chính sách về giảm nghèo đã góp phần làm thay đổi cơ bản bộ mặt nông thôn, các xã vùng cao, vùng sâu, các thôn đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh Đã có các chương trình, dự án đầu tư cho vùng đồng bào dân tộc như chương trình 135, như trong năm 2012 thực hiện vốn chương trình 135 tổng kinh phí được giao trên
100 tỷ đồng để đầu tư các dự án trên địa bàn 61 xã đặc biệt khó khăn và 56 thôn đặc biệt khó khăn thuộc xã khu vực II của 11 huyện, thành phố Qua đó, đầu tư hỗ phát triển cơ sở hạ tầng tại các vùng dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn với hàng nghìn hộ dân được thụ hưởng từ chính sách này như: hỗ trợ máy móc, thiết bị, cây con giống…
Ngoài ra, các chương trình chính sách hỗ trợ trực tiếp cho hộ nghèo theo Quyết định 102 của Chính phủ đã được triển khai Cùng với đó, công tác chăm sóc sức khỏe đồng bào vùng dân tộc thiểu số và miền núi được UBND tỉnh quan tâm chỉ đạo các cấp, các ngành thực hiện tốt, nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh cho nhân dân, các hộ nghèo được cấp thẻ bảo hiểm y tế Công tác giáo dục được quan tâm, con em đồng bào dân tộc thiểu số được hỗ trợ đầy đủ, đúng đối tượng quy định Chính sách hỗ trợ cấp phát báo, tạp chí không thu tiền cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn theo Quyết định số 2472/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ được triển khai đúng quy định về đối tượng, địa bàn, các đối tượng được nhận đủ số lượng báo, tạp chí theo định mức
1.2 Chương trình phát thanh tiếng Tày – Nùng và tiếng Dao
1.2.1 Chương trình phát thanh tiếng Tày – Nùng và tiếng Dao
Trang 37Theo số liệu thống kê chính thức của cuộc Tổng điều tra dân số (2009), nước ta có 1.626.392 người dân tộc Tày, 968.800 người dân tộc Nùng
và 751.067 người dân tộc Dao, đây là 3 trong số 10 nhóm người dân tộc có số lượng lớn nhất tại Việt Nam tại thời điểm thống kê Sự cộng gộp của 3 nhóm người dân tộc này đã tạo thành một nhóm có số lượng gần 3,5 triệu người, chiếm xấp xỉ 4% tổng dân số nước ta tại thời điểm 2009 (tổng số dân số Việt Nam tại thời điểm này là 85.8 triệu người, trong đó có (85% là người dân tộc Kinh) Nếu tính trên tổng số 54 dân tộc anh em, con số này là một con số tương đối lớn, vì vậy, họ xứng đáng được quan tâm, trong đó có sự quan tâm
về mặt tiếp cận truyền thông bằng tiếng mẹ đẻ
Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, các chương trình phát thanh tiếng Tày - Nùng, Dao trên sóng phát thanh quốc gia cũng như trên các đài phát thanh địa phương ngày một nhiều và chất lượng Theo đó, chương trình phát thanh tiếng Tày – Nùng và tiếng Dao là kênh truyền thông tuyên truyền
có hệ thống, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về các vấn đề dân tộc, cũng như tình hình chung về kinh tế, chính trị, xã hội tại địa phương cũng như trên cả nước Ngoài ra chương trình phát thanh tiếng Tày – Nùng và tiếng Dao còn phản ánh toàn diện đời sống, kinh
tế, xã hội của đồng bào dân tộc Tày – Nùng và tiếng Dao nói riêng và đồng bào các dân tộc thiểu số nói chung nhằm mục đích chia sẻ thông tin, gắn kết tinh thần đoàn kết, đồng thời bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc
Đối với chương trình phát thanh tiếng Tày – Nùng và tiếng Dao của Đài PT-TH Lạng Sơn cũng vậy, các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, những chương trình vay vốn tín dụng, ưu đãi, hay gương người tốt việc tốt, những sự kiện diễn ra trên địa bàn tỉnh đều được thông tin đến cộng đồng dân tộc thiểu số của tỉnh Do vậy, nhìn chung các chương trình cơ bản đã tác động đến cộng đồng dân tộc thiểu số tại địa
Trang 38phương, giúp cho đồng bào DTTS đoàn kết, vững tin vào đường lối của Đảng, Nhà nước và họ tích cực tham gia xây dựng địa bàn khu dân cư, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội tại địa phương
1.2.2 Vai trò của chương trình phát thanh tiếng Tày – Nùng và tiếng Dao đối với người bản địa
Trong thực tế hiện nay, đối với đồng bào các dân tộc trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn thì sóng phát thanh và truyển hình đã đến tận các thôn, bản vùng sâu, vùng xa Tuy nhiên, mỗi một phương tiện truyền thông lại có lợi thế khác nhau, với truyền hình mặc dù đã phủ sóng song các chương trình truyển hình của Đài truyền hình Lạng Sơn chưa đến được với bà con dân tộc thiểu số ở một số địa bàn vùng sâu, vùng xa, nên các chủ trương, các chương trình ưu đãi, hay những thông tin của tỉnh chưa đến được với bà con Còn đối với phát thanh thì khác hoàn toàn, phát thanh đã đến 100% thôn, bản ở vùng sâu, vùng xa trên địa bàn tỉnh Điều này là một lợi thế cho phát thanh dân tộc, vì vậy mà chương trình phát thanh dân tộc cụ thể là chương trình phát thanh tiếng Tày – Nùng và tiếng Dao của Đài PT – TH Lạng Sơn có vai trò hết sức quan trọng đối với người Tày – Nùng và người dao địa phương Nó có vai trò như chiếc cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và các chủ trương của tỉnh, của huyện với đồng bào DTTS Các chương trình phát thanh tiếng Tày – Nùng và tiếng Dao có ý nghĩa tuyên truyền hết sức
to lớn cho nâng cao nhận thức của đồng bào dân tộc thiểu số
Từ các chương trình đã giúp cho đồng bào DTTS trên địa bàn tỉnh nắm bắt được các chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước Các chủ trương, chính sách đối với đồng bào DTTS được tuyên truyền qua các chương trình phát thanh dân tộc nên đồng bào các dân tộc trên địa bàn tỉnh đã nắm bắt được và chấp hành theo, không vi phạm pháp luật Các cơ
Trang 39chế, chính sách cũng đã cơ bản được tuyên truyền đến bà con và được đồng
bào hưởng ứng
Các chương trình phát thanh dân tộc của Đài PT – TH Lạng Sơn có tác động đến sự phát triển kinh tế của địa phương nói chung và đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng Nông nghiệp nông thôn có bước chuyển biến khá tích cực, tư duy sản xuất bước đầu đã có sự thay đổi theo hướng hàng hóa, nâng cao giá trị sản phẩm Chương trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới tiếp tục được đẩy mạnh, đã hình thành một số hình thức tổ chức sản xuất mới, mô hình sản xuất hiệu quả, thu hút nhiều doanh nghiệp quan tâm đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp Cơ cấu cây trồng chuyển dịch đúng hướng tăng diện tích cây trồng có giá trị kinh tế, tập trung cho các nhóm sản phẩm chủ lực
Từ các chương trình phát thanh mà đồng bào đã biết áp dụng các tiến
bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất để nâng cao đời sống kinh tế gia đình, một số cây trồng có hiệu quả cũng đã được đưa đến vùng sâu vùng xa để trồng như cây quế ở Vạn Thủy, huyện Bắc Sơn, cây Hồi ở Văn Quan, Cây quýt vàng được bảo hộ nhãn hiệu quýt vàng Bắc Sơn được bà con đồng bào đưa vào trồng trong các lân, các vùng đồi đã cho thu nhập cao
Có thể nói, chương trình phát thanh tiếng dân tộc của Đài là một món
ăn tinh thần không thể thiếu đối với bà con vùng đồng bào DTTS
1.3 Ảnh hưởng tích cực của phát thanh tiếng dân tộc đối với cộng đồng dân tộc địa phương
Những năm qua, các chương trình phát thanh tiếng dân tộc của Đài PT – TH Lạng Sơn đã có nhiều đóng góp vào nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, nâng cao trình độ dân trí, nhận thức và phổ biến kiến thức cho đồng bào dân tộc ở vùng sâu, vùng xa trên địa bàn tỉnh Các chương trình phát thanh bằng tiếng dân tộc của Đài gồm tiếng Tày – Nùng và tiếng Dao được bà
Trang 40con đồng bào các dân tộc trong tỉnh rất coi trọng, những thông tin mang lại rất hữu ích đối với bà con Đối với họ chương trình phát thanh tiếng dân tộc rất gần gũi, thiết thực Qua các chương trình phát thanh tiếng dân tộc đã giúp cho
bà con DTTS hiểu được tiếp cận với nguồn tin mới, được cập nhật mỗi ngày
Từ đó, phát huy được hiệu quả tích cực trong việc nâng cao đời sống tinh thần cho người dân vùng sâu, vùng xa, khu vực biên giới Qua đó, giúp cho cấp ủy Đảng, chính quyền các địa phương thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội
Chương trình phát thanh tiếng dân tộc của Đài PT – TH Lạng Sơn từ khi được phát sóng tới nay đã định hướng, tăng cường thông tin tuyên truyền nâng cao nhận thức, phổ biến kiến thức phổ thông góp phần thay đổi mặt bằng dân trí, xóa bỏ sự cách biệt giữa miền núi và đồng bằng Con em đồng bào các dân tộc được đến trường, được biết đọc, biết viết nên tỷ lệ người đọc thông viết thạo tiếng phổ thông ngày càng cao Sự thay đổi đã hiện rõ trong cuộc sống đời thường của bà con như nằm ngủ phải mắc màn, biết cách phòng và chống các bệnh đơn giản, có hiểu biết về sinh sản và dinh dưỡng; biết tiếp thu và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và kiến thức chăn nuôi, trồng trọt vào thực tế để phát triển kinh tế gia đình
Qua những thông tin của chương trình phát thanh tiếng dân tộc đã góp phần ổn định tình hình chính trị, an ninh quốc phòng ở địa phương Người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở các huyện trong tỉnh đã luôn chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tích cực tham gia tố giác các loại tội phạm, không vi phạm phạm luật, không gây mất an ninh trật tự
Cùng với việc tăng thời lượng, đổi mới chương trình, mở rộng phạm vi phát sóng, chương trình phát thanh tiếng dân tộc của Đài PT – TH Lạng Sơn những năm qua, đã kịp thời đưa các thông tin quan trọng về chính trị, kinh tế,