1. Hoàn cảnh ra đời của trào lưu hiện thực Chủ nghĩa hiện thực (Réalisme) là một trào lưu văn học nổi bật của thế kỉ XIX, nhưng những biểu hiện của nó đã sớm xuất hiện trong văn học ở các thời kì trước đó. Theo nhà nghiên cứu Trần Đình Sử trong Từ điển thuật ngữ văn học, ông dẫn ra nhiều ý kiến xoay quanh việc thời gian ra đời của chủ nghĩa hiện thực. Có ý kiến cho rằng những biểu hiện của việc phản ánh hiện thực đã có từ thời Cổ đại trải qua các thời kỳ đến thế kỉ XIX, nhưng cũng có ý kiến lại cho rằng những biểu hiện của chủ nghĩa hiện thực xuất hiện từ thời kì Phục Hưng. Tuy nhiên, theo Tiến trình văn học của GS. Huỳnh Như Phương, thầy cho rằng chủ nghĩa hiện thực đã ươm mầm từ thời kì Phục Hưng. 1.1. Trào lưu hiện thực trong thời kì Phục Hưng Ở thời kì Phục Hưng (XIV XVI) ở phương Tây, phong trào văn hóa với triết học, kiến trúc, hội họa, văn học,... không ngừng phát triển, được đặt dưới góc nhìn Chủ nghĩa nhân văn (Humanities) lấy con người làm trung tâm. Thời kì này, con người trở thành gốc rễ của mọi tư tưởng, đề cao giá trị và cuộc sống của con người, giải phóng con người khỏi ách kìm hãm của phong kiến, giáo điều và tu viện thời Trung cổ. Bên cạnh việc giải phóng về tư tưởng thì sự phát triển của kinh tế xã hội với những thành tựu về khoa học kỹ thuật đã giúp nhân loại có điều kiện nhìn nhận cũng như khám phá chính bản thân và thực tại đang diễn ra. Những biểu hiện ban đầu của chủ nghĩa hiện thực trong văn học giai đoạn này là việc đề cao cuộc sống trần thế, ca ngợi vẻ đẹp con người, khát khao có một cuộc sống tốt đẹp hơn, và cả tiếng nói phản ánh chân thực bộ mặt xã hội thực tại cùng sự kìm hãm, trói buộc, gò bó những gì thuộc về giá trị tinh thần lẫn thể xác mà chế độ áp đặt lên con người. Boccaccio đã đặt những bước chân đầu tiên thấp thoáng màu sắc của chủ nghĩa hiện thực trong sáng tác của mình. Với tác phẩm Mười ngày, Boccaccio đã lên án lễ giáo phong kiến, phơi bày và châm biếm những kẻ giả tạo, đề cao tinh thần tự do, tình yêu, tình bạn. Tác phẩm là sự đấu tranh thoát khỏi ách kìm kẹp của xã hội với hi vọng về niềm vui, vẻ đẹp của trần thế, đòi quyền tự do, được sống với niềm vui tự nhiên của con người. Cuối chặng đường của Phục Hưng chính là những biểu hiện của hiện thực trong sáng tác của Shakespeare. Đối với các sáng tác của Shakespeare, biểu hiện của chủ nghĩa hiện thực có phần rõ nét hơn. Ông đã thẳng tay xé toạc những giá trị băng hoại của xã hội tư bản khi đồng tiền lên ngôi và thao túng đạo đức lẫn con người. Ông đề cao tình cảm chân thật giữa người với người, đề cao tình yêu và lòng trung thực, dũng cảm. Có thể nói, chủ nghĩa hiện thực đã ươm mầm trong các sáng tác văn học thuộc thời kì Phục Hưng (thế kỉ XIV – XVI) dưới góc nhìn của chủ nghĩa nhân văn. Mặc dù chưa thật sự rõ ràng nhưng các tác phẩm đã mang phần nào đó cảm quan tái hiện, phê phán mặt tiêu cực lẫn tích cực của xã hội và con người. Đây có thể được xem là “trào lưu văn học nhân văn chủ nghĩa mang khuynh hướng hiện thực”. N.Gulaev gọi đó là “chủ nghĩa hiện thực nhân văn” (Huỳnh Như Phương, 2019, tr.59).
Trang 1MỤC LỤC
1 Hoàn cảnh ra đời của trào lưu hiện thực 3
1.1 Trào lưu hiện thực trong thời kì Phục Hưng 3
1.2 Trào lưu hiện thực trong thời kì Khai sáng 4
1.3 Trào lưu hiện thực thế kỉ XIX 5
1.3.1 Trào lưu hiện thực trên thế giới 5
1.3.2 Trào lưu hiện thực ở Việt Nam 6
2 Quan điểm nghệ thuật về trào lưu hiện thực 7
3 Những đặc điểm về nghệ thuật của trào lưu hiện thực 11
3.1 Xây dựng tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình 11
3.2 Một số đặc điểm thi pháp 12
3.2.1 Đề tài 12
3.2.2 Nhân vật 13
3.2.3 Thể loại 14
4 Tác phẩm tiêu biểu trào lưu hiện thực: Tiểu thuyết Bà Bovary (1857) của Gustave Flaubert 15
5 Vị trí và ảnh hưởng của trào lưu hiện thực đối với văn học Việt Nam 17
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 24
Trang 21 Hoàn cảnh ra đời của trào lưu hiện thực
Chủ nghĩa hiện thực (Réalisme) là một trào lưu văn học nổi bật của thế kỉ XIX,nhưng những biểu hiện của nó đã sớm xuất hiện trong văn học ở các thời kì trước đó
Theo nhà nghiên cứu Trần Đình Sử trong Từ điển thuật ngữ văn học, ông dẫn ra nhiều
ý kiến xoay quanh việc thời gian ra đời của chủ nghĩa hiện thực Có ý kiến cho rằngnhững biểu hiện của việc phản ánh hiện thực đã có từ thời Cổ đại trải qua các thời kỳđến thế kỉ XIX, nhưng cũng có ý kiến lại cho rằng những biểu hiện của chủ nghĩa hiện
thực xuất hiện từ thời kì Phục Hưng Tuy nhiên, theo Tiến trình văn học của GS.
Huỳnh Như Phương, thầy cho rằng chủ nghĩa hiện thực đã ươm mầm từ thời kì PhụcHưng
1.1 Trào lưu hiện thực trong thời kì Phục Hưng
Ở thời kì Phục Hưng (XIV - XVI) ở phương Tây, phong trào văn hóa với triếthọc, kiến trúc, hội họa, văn học, không ngừng phát triển, được đặt dưới góc nhìnChủ nghĩa nhân văn (Humanities) lấy con người làm trung tâm Thời kì này, con ngườitrở thành gốc rễ của mọi tư tưởng, đề cao giá trị và cuộc sống của con người, giảiphóng con người khỏi ách kìm hãm của phong kiến, giáo điều và tu viện thời Trung
cổ Bên cạnh việc giải phóng về tư tưởng thì sự phát triển của kinh tế - xã hội vớinhững thành tựu về khoa học - kỹ thuật đã giúp nhân loại có điều kiện nhìn nhận cũngnhư khám phá chính bản thân và thực tại đang diễn ra Những biểu hiện ban đầu củachủ nghĩa hiện thực trong văn học giai đoạn này là việc đề cao cuộc sống trần thế, cangợi vẻ đẹp con người, khát khao có một cuộc sống tốt đẹp hơn, và cả tiếng nói phảnánh chân thực bộ mặt xã hội thực tại cùng sự kìm hãm, trói buộc, gò bó những gì thuộc
về giá trị tinh thần lẫn thể xác mà chế độ áp đặt lên con người
Boccaccio đã đặt những bước chân đầu tiên thấp thoáng màu sắc của chủ nghĩa
hiện thực trong sáng tác của mình Với tác phẩm Mười ngày, Boccaccio đã lên án lễ
giáo phong kiến, phơi bày và châm biếm những kẻ giả tạo, đề cao tinh thần tự do, tìnhyêu, tình bạn Tác phẩm là sự đấu tranh thoát khỏi ách kìm kẹp của xã hội với hi vọng
về niềm vui, vẻ đẹp của trần thế, đòi quyền tự do, được sống với niềm vui tự nhiên củacon người Cuối chặng đường của Phục Hưng chính là những biểu hiện của hiện thựctrong sáng tác của Shakespeare Đối với các sáng tác của Shakespeare, biểu hiện của
Trang 3chủ nghĩa hiện thực có phần rõ nét hơn Ông đã thẳng tay xé toạc những giá trị bănghoại của xã hội tư bản khi đồng tiền lên ngôi và thao túng đạo đức lẫn con người Ông
đề cao tình cảm chân thật giữa người với người, đề cao tình yêu và lòng trung thực,dũng cảm
Có thể nói, chủ nghĩa hiện thực đã ươm mầm trong các sáng tác văn học thuộcthời kì Phục Hưng (thế kỉ XIV – XVI) dưới góc nhìn của chủ nghĩa nhân văn Mặc dùchưa thật sự rõ ràng nhưng các tác phẩm đã mang phần nào đó cảm quan tái hiện, phêphán mặt tiêu cực lẫn tích cực của xã hội và con người Đây có thể được xem là “tràolưu văn học nhân văn chủ nghĩa mang khuynh hướng hiện thực” N.Gulaev gọi đó là
“chủ nghĩa hiện thực nhân văn” (Huỳnh Như Phương, 2019, tr.59)
1.2 Trào lưu hiện thực trong thời kì Khai sáng
Theo GS Huỳnh Như Phương thì chủ nghĩa hiện thực khai sáng chịu tác động
từ tư tưởng mỹ học của Denis Diderot và Gotthold Lessing
Theo Diderot, cái thật và cái đẹp có mối quan hệ mật thiết, không tách rời nhaunhưng chúng cũng không đồng nhất với nhau Có thể hiểu rằng “cái thật” ở đây chính
là cái thật trong thực tế tự nhiên, và nó sẽ khác với “cái thật” trong nghệ thuật, bởi vì
“cái thật” trong nghệ thuật chỉ là sự mô phỏng lại của tự nhiên Vì vậy mà Diderot chorằng nghệ thuật không nên mô phỏng giống hoàn toàn với tự nhiên vì như thế là biểuhiện của nghèo nàn cảm xúc Ngược lại, người nghệ sĩ hãy thả hồn mình vào tác phẩm,thổi những làn rung động, cảm quan và cách nhìn của bản thân đối với sự vật, hiệntượng tự nhiên đó để mô phỏng chúng lại dưới góc nhìn cá nhân của mình thì khi ấy,cái đẹp theo cảm xúc đó sẽ được nâng lên Cũng theo Diderot, mỗi tác phẩm nghệthuật đều mang trong mình những bài học đạo đức, mà qua đó giúp con người có cáinhìn lý trí để phân biệt tốt xấu
Tương tự vậy, ở Lessing, ông cho rằng các nhà văn có quyền miêu tả chân thựcnhững mặt xấu xa, thối nát của xã hội Văn học không chỉ miêu tả mặt tích cực mà vănhọc còn là tiếng nói tố cáo thực tại nhiễu nhương, băng hoại của những giá trị conngười “Điều đó có nghĩa là văn học miêu tả toàn bộ sự thật về tự nhiên, xã hội và conngười, nó trình bày hiện thực đang vận động và giúp công chúng tiếp cận thế giới mộtcách toàn diện hơn” (Huỳnh Như Phương, 2019, tr.61 - 62)
Trang 4Các tư tưởng và biểu hiện của chủ nghĩa hiện thực trong thời kì Khai sángchính là bước đệm quan trọng cho sự ra đời và khẳng định mình của chủ nghĩa hiệnthực thế kỉ XIX, trở thành một trong những trào lưu văn học cực kì quan trọng của tiếntrình văn học thế giới
1.3 Trào lưu hiện thực thế kỉ XIX
Tuy những biểu hiện của chủ nghĩa hiện thực đã xuất hiện từ những thế kỉ trướcnhưng mãi đến những năm 30 của thế kỉ XIX thì nó mới trở thành một trào lưu, mộtphong cách sáng tác Chủ nghĩa hiện thực gắn liền với những nguyên tắc nổi bật nhưtính lịch sử - cụ thể, tính điển hình hóa khách quan, Ban đầu, chủ nghĩa này pháttriển ở Tây Âu, sau đó dần lan rộng ra các nước khác và phát triển rực rỡ trên văn đànthế giới
Năm 1857, nhà văn người Pháp Champfleury (1821-1889) đã sưu tầm và góp
nhặt những bài báo của mình để cho ra đời tác phẩm Chủ nghĩa hiện thực (Resalisme).
Thuật ngữ “Résalisme” được dùng phổ biến từ đấy Đến thế kỉ XX, các nhà phê bình
lý luận Xô Viết xem chủ nghĩa hiện thực là một phương pháp sáng tác
1.3.1 Trào lưu hiện thực trên thế giới
Ở phương Tây, vào nửa đầu thế kỉ XIX, sau Cách mạng tư sản Pháp (1789), xãhội các nước phương Tây bắt đầu đối diện với hai hệ lụy khác khiến lịch sử bước sanggiai đoạn mới Một là, giai cấp tư sản và giai cấp vô sản ban đầu vốn chung mộtchuyến tuyến liên minh để lật đổ phong kiến, và sau khi giành được chính quyền vềtay mình thì giai cấp tư sản “lật lọng”, quay ngoắt sang bỏ rơi đồng minh là giai cấp vôsản Tư sản ra sức củng cố quyền lực và tập trung phát triển nền kinh tế tư bản chủnghĩa Hai là, giai cấp vô sản vốn xuất thân là những nông dân, công nhân và nhữngngười dân lao động bình thường, sau khi cùng tư sản giành được chính quyền từ tayphong kiến thì họ đã bị tư sản “bỏ rơi” Vì vậy, tầng lớp vô sản đã tập hợp lại với nhau
và trở thành một lực lượng độc lập chống lại tư sản Cơ cấu giai cấp thay đổi, kéo theo
đó là những bất ổn, loạn lạc, nhiễu nhương trong xã hội vì những mâu thuẫn và xungđột gay gắt của hai giai cấp
Trang 5Trước tình hình xã hội đó, văn học phương Tây đã hình thành ba trào văn họcchính là trào lưu lãng mạn (tích cực), trào lưu hiện thực và tự nhiên chủ nghĩa, trào lưuvăn học có xu hướng hiện đại Tuy nhiên, trào lưu hiện thực lại chiếm ưu thế hơn khi
nó có đủ khả năng phản ánh toàn diện xã hội, và cũng dám phô bày những xấu xa vẫnđang lộng hành ngoài kia Hơn hết, các nhà văn có cơ hội nhìn rõ được bộ mặt của giaicấp tư sản nên họ lựa chọn đứng về phía người dân bé nhỏ Họ chĩa mũi bút của mìnhvào những kẻ tư sản dùng đồng tiền thao túng đạo đức, đi ngược với nhân tính, giẫmđạp lên giá trị cuộc sống và quyền tự do của con người Các nhà văn nhìn nhận thực tế,nhìn nhận những mặt tích cực lẫn tiêu cực, rồi mô phỏng chúng trong những sáng táccủa mình
Tuy nhiên, ngoài mặt tiêu cực giữa những mâu thuẫn giai cấp thì mặt tích cựccũng được nhìn nhận trong văn học Con người trong thế kỉ XIX này là những conngười mang tư tưởng tôn thờ sự tự do, họ sẵn sàng đấu tranh và chiến đấu để giảiphóng khỏi ách thống trị mà tìm đến với tự do Điều này đã trở thành một trong những
tư tưởng mà các thế hệ sau Cách mạng tư sản ra sức theo đuổi và thực hiện Bên cạnh
đó, dưới sự thúc ép của tư sản, nền kinh tế và khoa học - kỹ thuật đã có những thànhtựu phát triển theo hướng tích cực, góp phần làm thay đổi bộ mặt xã hội chung củaphương Tây
Ở phương Đông, cụ thể là Trung Quốc, chủ nghĩa hiện thực xuất hiện vào giaiđoạn Thanh Mạt - tức giai đoạn cuối khi chế độ phong kiến dần suy yếu, Nho giáo dầnmất vị trí trong quá trình thay đổi lịch sử xã hội
1.3.2 Trào lưu hiện thực ở Việt Nam
Trong bối cảnh Việt Nam bị thực dân Pháp xâm lược lần thứ hai, chúng ra sứcbóc lột nhân dân ta, vơ vét của cải, tài nguyên, nhiên liệu, để bù đắp vào những thiệthại của cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 - 1933 Bấy giờ, tình hình đất nước điêu đứngkhi bọn thực dân thì hung hãn, bạo tàn, kinh tế đóng băng, sản xuất trì trệ, nhân dânlầm than, sưu thuế cao ngất ngưởng, thiên tai liên tục xảy ra, Thực dân còn Pháp cònthực hiện những biện pháp cai trị tàn bạo càng khiến cho mâu thuẫn giữa thực dân vàphong kiến, giữa nông dân và địa chủ diễn ra ngày càng gay gắt Từ đây hình thànhnên xã hội thực dân nửa phong kiến
Trang 6Sự cai trị của thực dân Pháp cũng đã kéo theo những biến đổi về mặt xã hội như
mô hình sản xuất tư bản chủ nghĩa dần được du nhập vào Việt Nam, hình thành nêncác đô thị, thị trấn… Văn học theo đó cũng chịu ảnh hưởng bởi hai luồng văn hóaĐông – Tây Văn học Việt Nam dần li khai khỏi văn học Hán của Trung Quốc và tiếpxúc gần với luồng tư tưởng văn học phương Tây Chính vì Việt Nam chịu sự ảnhhưởng bởi đa luồng tư tưởng nên trong đó sẽ tồn tại song hành cả mặt tích cực lẫn tiêucực Song, quan trọng hơn hết vẫn là việc tiếp thu triết học Marx, tư tưởng Marxist vềđấu tranh giai cấp và chủ nghĩa nhân văn nhân đạo đã đưa văn học hiện thực Việt Namphát triển theo một hướng rất riêng biệt bên cạnh việc tiếp thu những thành tựu củachủ nghĩa hiện thực thế giới
Dẫu nhìn nhận chủ nghĩa hiện thực ở Việt Nam phát triển rực rỡ vào đầu thế kỉ
XX nhưng từ những thế kỉ trước, văn học trung đại Việt Nam đã manh nha với sự xuất
hiện của chủ nghĩa hiện thực qua các tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Thì
Chí và Ngô Thì Du Tác phẩm đã nói lên sự tranh giành quyền lực của thời Lê - Trịnh
phê phán cuộc sống xa hoa của kẻ cầm quyền phong kiến Hay Chinh phụ ngâm (Đặng Trần Côn), Truyện Kiều (Nguyễn Du), thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương,
Nguyễn Dữ đã phê phán xã hội, vạch trần xã hội mà kim tiền giẫm đạp lên giá trị,nhân cách và đạo đức của con người Đến thế kỉ XIX - hậu kì trung đại, chủ nghĩa hiệnthực cũng xuất hiện trong thơ của Tú Xương, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Thiện Kế,…
Nhưng đến thế kỉ XX, với chế độ thực dân nửa phong kiến thì chủ nghĩa hiệnthực ở Việt Nam mới phát triển rực rỡ trên văn đàn, bởi lúc này, văn học mới có chấtliệu từ chính hiện thực xã hội Việt Nam đương thời Chủ nghĩa hiện thực Việt Namphát triển qua đầu thế kỉ XX với tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, thầy Lazaro Phiền,…
Và đỉnh cao của chủ nghĩa hiện thực là giai đoạn 1932 - 1945 với những áng văn xuôihiện thực cùng tên tuổi của những ngòi bút như Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng,Ngô Tất Tố, Nam Cao, Tô Hoài, Bùi Hiển, Thạch Lam, Nguyên Hồng,
2 Quan điểm nghệ thuật về trào lưu hiện thực
Được định nghĩa một cách rộng rãi như là “đại diện trung thành của sự thật”,chủ nghĩa hiện thực xuất hiện với tư cách là một trào lưu văn học dựa trên “hiện thực
Trang 7khách quan” Cơn sốt “hiện thực” đã được đón nhận nồng nhiệt trong bối cảnh conngười đòi hỏi cái nhìn trực diện và chân thực về mọi mặt trong đời sống Như mộtphong trào phản ứng lại trào lưu lãng mạn, các tác giả hiện thực thoát ly ra khỏi thếgiới tưởng tượng, mộng ảo để đối mặt với thế giới hiện thực trần trụi, ảm đạm Đồngthời, khác với chủ nghĩa tự nhiên, chủ nghĩa hiện thực không giải thích hiện tượng xãhội bằng những nguyên nhân sinh vật học, tức là nó không phơi bày thực tại kháchquan một cách lạnh lùng, rập khuôn Hơn cả thế, nó đưa ra trước mắt độc giả những sựthật thông qua những hình tượng điển hình có tính khái quát cao nhưng đủ sức tạo nêngiá trị thẩm mỹ nhất định và thức tỉnh nhận thức con người qua những thông điệp hiện
thực Ian Watt trong cuốn The Rise of the Novel cũng nhận định rằng “tiểu thuyết là một bản tường thuật đầy đủ và chân thực về trải nghiệm của con người (that the novel
is a full and authentic report of human experience)” (Watt I, 1963, tr.32).
Vào năm 1981, trên Tạp chí Văn học số 4, nhà nghiên cứu văn học Lại Nguyên
Ân đã cho ra mắt bài viết Nhìn chủ nghĩa hiện thực trong sự vận động lịch sử với
những nhận định xác đáng về chủ nghĩa hiện thực: “Tương quan với thực tại đời sống
là tương quan tất yếu của mọi loại hình hoạt động tinh thần, tư tưởng, văn hóa, trong
đó có nghệ thuật Tương quan đó làm nên cái mà Xu-scốp diễn đạt như là tính nộidung của nghệ thuật Nghệ thuật không thể không tuân thủ các kỷ luật vĩ đại là thựctại Mỗi nền nghệ thuật nhất định đều ở trong một quan hệ tương ứng nào đó với thựctại…” Sự ra đời của chủ nghĩa hiện thực gắn liền với văn hóa thời Phục hưng ởphương Tây Vị thế của con người dần tiến bước lên cao trong nghệ thuật, nghệ thuậtcần lấy con người làm gốc rễ sáng tạo, nghệ thuật là cuộc hành trình khám phá thế giới
mà cốt yếu là khám phá con người, phù hợp với chủ nghĩa nhân văn của thời đại Phụchưng Mặt khác, chiếu theo bối cảnh lịch sử phát triển, không chỉ có nhà văn là nhữngngười muốn vạch trần hiện thực xã hội, phê phán sự bất công của giới thống trị và sựchi phối của đồng tiền, mà các độc giả cũng có chung lý tưởng với họ Đáp ứng đượcmong muốn của nhà văn và nhu cầu của người đọc thì văn học mới có thể bền vững vàtồn tại được vì “người tạo nên tác phẩm là tác giả nhưng người quyết định số phận củatác phẩm lại là độc giả” (M.Gorki)
Tiếp tục bàn về chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam có nhà văn NamCao, được xem là một trong những cây bút hiện thực đứng đầu của văn chương Việt
Trang 8Nam giai đoạn 1930 – 1945, với những luận điểm nghệ thuật sâu sắc Nhân vật Điền
trong truyện ngắn Giăng sáng (1943) đã có sự chuyển mình trong quan điểm nghệ
thuật từ chủ nghĩa lãng mạn đi tới chủ nghĩa hiện thực: “Nghệ thuật không cần là ánhtrăng lừa dối, nghệ thuật không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật chỉ có thể là nhữngtiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than…” Cũng vào thời điểm đó, ở tác
phẩm Đời thừa, ông cho rằng “một tác phẩm thật giá trị, phải vượt lên bên trên tất cả
các bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho cả loài người Nó phải chứađựng được một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn, lại vừa phấn khởi Nó ca tụnglòng thương, tình bác ái, sự công bình Nó làm cho người gần người hơn.” Như vậy,Nam Cao đã bác bỏ những diễn ngôn lâu nay về nghệ thuật rằng “nghệ thuật là ánhtrăng lừa dối” Nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng nhất thiết phải phản ánhđược thế giới hiện thực, nơi con người ở đó phải chịu áp bức, bất công và lầm than.Thông qua những hình tượng cá nhân, riêng rẽ, ông vươn đến một ý nghĩa to lớn hơn,mang tính cộng đồng hơn là gắn kết tâm hồn của người đọc với những số phận bấthạnh thực chất vẫn luôn tồn tại trong xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám
Tương tự với quan điểm nghệ thuật của Nam Cao, Vũ Trọng Phụng - nhà vănnổi tiếng với tư tưởng hiện thực trào phúng đã nhiều lần khẳng định mãnh liệt trướcvăn đàn Việt Nam lúc bấy giờ về lựa chọn đứng về chủ nghĩa hiện thực của mình
Chẳng hạn như Để đáp lời báo Ngày nay: Dâm hay không dâm?, ông thẳng thắn viết
nên những dòng phản hồi hết sức quyết liệt: “Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểuthuyết Tôi và các nhà văn cùng chí hướng như tôi, muốn tiểu thuyết là sự thực ở đời
Cứ một chỗ trái ngược nhau ấy cũng đủ khiến chúng ta còn xung đột nhau nữa Cácông muốn theo thuyết tùy thời, chỉ nói cái gì thiên hạ thích nghe nhất là sự giả dối.Chúng tôi chỉ muốn nói cái gì đúng sự thực, thành ra nguy hiểm, vì sự thực mất lòng”
(Báo Tương lai, 25/3/1937) Vũ Trọng Phụng không thể chịu đựng việc biến văn học
trở thành nơi cho phép cái giả dối lên ngôi, chỉ chăm chăm chạy theo thị hiếu của conngười mà lãng quên hay làm ngơ đi sự thật tuy “mất lòng” nhưng thể hiện đúng bảnchất của con người và đời sống thực tại Việc chối bỏ sự thật, xuyên tạc hay thay thếgam màu u tối thành những gam màu tươi sáng là đi ngược lại với tôn chỉ nghệ thuậtcủa ông, hay cụ thể là với chủ nghĩa hiện thực
Trang 9Với mục đích phơi bày những gì đang hiện hữu thuần nhất trong thực tại nhưngkhông phải bằng cách trần trụi hay trực tiếp, mô hình văn học “hiện thực” đề cao khảnăng nhận thức, phân tích đời sống bằng bút pháp điển hình hóa Đây là hình tượngnghệ thuật được các văn sĩ khắc họa sinh động, đại diện cho những nét nguyên bản,quan trọng nhất của các vấn đề trong đời sống Trong đó, con người trong văn chương
là những nhân vật thường khái quát số phận và tính cách của một loại người, một tầnglớp hay một giai cấp nào đó trong xã hội Trong khía cạnh của xã hội chủ nghĩa,Friedrich Engels (1820 - 1895) cho rằng chủ nghĩa hiện thực cần phải “tái hiện chânthực tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình”, dựa trên nguyên tắc lịch sử – cụthể của chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng do các nhà sáng lậpchủ nghĩa Marx đã đề ra
Quan niệm vị nhân sinh có thể xem được là quan niệm hàng đầu của chủ nghĩahiện thực, bởi theo đúng như cái tên của nó, chủ nghĩa này hướng đến phản ánh thựctại và phục vụ cho cuộc sống con người Nhà văn quan sát và đưa vào tác phẩm củamình những cái mình thấy tận mắt, nghe tận tai trong cuộc sống dù là đẹp đẽ hay xấu
xa, cao sang hay thấp kém một cách trung thực, thật thà nhất Các yếu tố chân thựctrong các tác phẩm của chủ nghĩa hiện thực như những hình ảnh phản chiếu từ cuộcsống con người ở thời đại ấy, giúp người đọc đánh giá được xã hội một cách kháchquan nhất bởi những hình ảnh không còn được quá mài dũa, chau chuốt, tô điểm thêm
và không còn được viết dựa theo ý tưởng của nhà văn như ở chủ nghĩa lãng mạn trướcđó
Từng yếu tố được đưa vào trong các tác phẩm thuộc chủ nghĩa này như hìnhtượng nhân vật, không gian, thời gian, sự kiện, phải bám sát vào cuộc sống và cụ thể,chân thật nhưng đồng thời đảm bảo tính chọn lọc, không đem toàn bộ, tràn lan vàotrong tác phẩm mà lựa chọn ra cái tiêu biểu, đáng nói và có giá trị để có thể phản ánhtinh thần của người viết, của con người trong xã hội lúc bấy giờ, tư tưởng của thời đại
và thông điệp có giá trị tác giả muốn nhắn nhủ
Như vậy, với tôn chỉ phản ánh chân thực cuộc sống, chủ nghĩa hiện thực đãnâng cao vị thế của mình trong tiến trình lịch sử văn học, đồng thời khu biệt với chủnghĩa cổ điển và chủ nghĩa lãng mạn vẫn còn theo nguyên tắc chủ quan Các nhà văn
Trang 10bấy giờ không còn giữ tư duy chủ quan, đánh giá, kể về những sự vật, hiện tượng theotrí tưởng tượng và tình cảm của mình mà phải dùng óc quan sát để phân tích, chiêmnghiệm nhân sinh đảm bảo được sự đúng đắn của những vấn đề mình chấp bút Họphải nỗ lực thể hiện chủ đề hay câu chuyện trong các sáng tác của mình một cáchtrung thực với thực tại, không lãng mạn hóa, tránh việc hư cấu và các yếu tố siêunhiên Tính khách quan khiến cho những “đứa con tinh thần” của họ về mặt nào đó cógiá trị và hạn chế hết mức có thể sự xa rời thực tế so với các sáng tác của hai chủ nghĩa
cổ điển và lãng mạn nói trên Phương pháp sáng tác nghệ thuật hiện thực nói trên đãđược Honoré de Balzac (1799 - 1850) đúc kết ngắn gọn trong câu nói: “Nhà văn làngười thư ký trung thành của thời đại.”
3 Những đặc điểm về nghệ thuật của trào lưu hiện thực
3.1 Xây dựng tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình
Nhân vật điển hình là kiểu nhân vật vừa đại diện cho một tầng lớp, giai cấptrong thời đại ấy, vừa có những suy nghĩ, hành động gây ấn tượng, để lại dấu ấn riêngbiệt trong lòng độc giả
Hoàn cảnh điển hình là một “không gian” chứa đựng những vấn đề nổi cộm của
xã hội, những mâu thuẫn của thời đại; thể hiện được bản chất, sự vận động của xã hội
đó - những yếu tố thúc đẩy nhân vật đến những hành động được miêu tả trong tácphẩm
Nguyên tắc điển hình hóa từ lâu đã được biết đến là đặc điểm nghệ thuật nổibật, đặc trưng nhất của chủ nghĩa hiện thực So với chủ nghĩa lãng mạn là việc hướngtới lý tưởng hóa thì điển hình hóa lại là mục tiêu của chủ nghĩa hiện thực Engels đãtừng phát biểu: “Các nhân vật chính thì thật sự là đại biểu cho những giai cấp vànhững trào lưu nhất định, do đó tiêu biểu nhất định cho thời đại của họ.”
Xây dựng nhân vật điển hình là đi tìm những nét chung, tiêu biểu đại diện chomột lớp người, một loại sự vật hay một hiện tượng Nhân vật điển hình được xây dựngphải gắn với hoàn cảnh lịch sử cụ thể trong từng thời kỳ phát triển của xã hội để đảm
Trang 11bảo tính phát triển, thể hiện được sự thay đổi trong từng giai đoạn lịch sử phản ánh vàotrong văn học.
Văn học hiện thực được sáng tác dựa theo nguyên tắc quan sát, xây dựng cáchình tượng mang tính chất điển hình Chủ nghĩa hiện thực xem con người là sản phẩmcủa xã hội nên chú trọng xây dựng nhân vật dựa trên hoàn cảnh điển hình Hoàn cảnh
có thể khiến con người ta là một người lương thiện thì cũng có thể đẩy họ đến đườngcùng, trở thành thành phần có thể gây nguy hiểm cho xã hội Ví dụ như nhân vật
Charles trong Eugenie Grandet của Honoré De Balzac đại diện cho kiểu con người bị
đồng tiền tha hoá đi nhân cách trong xã hội Pháp ở thế kỉ XX - thời kì đầy biến độngcủa lịch sử Hay gần hơn, trong văn học Việt Nam, có thể kể đến nhân vật Xuân Tóc
Đỏ trong Số đỏ (Vũ Trọng Phụng) tiêu biểu cho những kẻ bịp bợm lúc bấy giờ, tiến
thân trong xã hội bằng những trò xảo trá, bịp bợm, bất chấp cả nhân tính Hắn có đượcnhững “thành tựu” ấy nhờ vào việc từng trải qua cuộc sống đầu đường xó chợ, nhữngbài học khi đi bụi đời, sự vô học, và chúng đã tạo cho hắn sự lưu manh, tinh quáingấm sâu vào máu
3.2 Một số đặc điểm thi pháp
3.2.1 Đề tài
Chủ nghĩa hiện thực có sự kế thừa và đổi mới đề tài của chủ nghĩa lãng mạn,trong đó bao gồm cả việc khai thác các vấn đề lịch sử Phần lớn các nhà văn hiện thựccũng ủng hộ văn học lãng mạn, thậm chí từng thuộc thế hệ văn học lãng mạn, nhưngsau này họ lại tự tách ra để tạo thành dòng văn học mới vì muốn khắc phục cái ảotưởng, u buồn, tăng tính chân thực trong các tác phẩm văn học Những nhà văn củachủ nghĩa hiện thực nhìn nhận “chủ nghĩa lãng mạn là cơn đau” và cảm thấy điều đóquá yếu đuối mà văn học cần thiết về tính thực tế, khỏe khoắn hơn Turgenev nói rằngchủ nghĩa hiện thực “tái hiện sự thật, thực tại cuộc sống một cách chân thực và mạnh
mẽ là hạnh phúc cao quý nhất của nhà văn ngay cả khi sự thật ấy không phù hợp vớinhững thiện cảm riêng của nhà văn” Vượt qua ranh giới giữa nghệ thuật và đời sống,các nhà văn hiện thực đã đưa thực tế vào các sáng tác của mình, kể cả là thấp kém, xấu
xa, những góc khuất của cuộc sống mà có thể trước đó cũng chưa từng được đề cậpđến trong văn học lãng mạn