TỔNG HỢP NGÀN CÁNH HẠC 1 VỀ KAWABATA YASUNARI 1 1 Cuộc đời và sự nghiệp 1 1 1 Cuộc đời Kawabata Yasunari sinh ngày 11 tháng 6 năm 1899 và mất năm 1972 Kawabata xuất thân trong một gia đình có truyền thống văn hóa cao ở một vùng quê gần với thành phố Osaka Tuy vậy, Kawabata lại trải qua rất nhiều mất mát từ khi còn bé Cha mất vì bệnh lao khi ông vừa được 1 tuổi; Năm ông lên 2 thì mẹ mất; Năm 7 tuổi, bà nội và chị gái của ông đều lần lượt qua đời; Đến năm 16 tuổi, một lần nữa, người ông của Kawaba.Kawabata đã từng thừa nhận: Không bao giờ tôi trút được ám ảnh rằng mìnhlà người lang thang ưu sầu. Là người luôn luôn mơ mộng, tuy rằng chẳng bao giờchìm đắm hoàn toàn trong mơ, mà vẫn luôn luôn thức giữa khi mơ... Từ sau thất bại,tôi chìm vào nỗi buồn một nỗi buồn ngự trị triền miên trong tâm thức người Nhậtchúng tôi. Từ đó trở đi tôi chỉ viết những khúc bi thương. Có lẽ vì vậy mà hầu hếtvăn chương của ông đều phảng phất những nỗi buồn u uẩn. Buồn vì những nỗi sinh lytử biệt. Buồn bởi sự hưng vong của dân tộc Nhật Bản. Và cả những nỗi buồn vu vơkhó nói thành lời nhưng vẫn thật thấm thía lòng người.
Trang 1bé Cha mất vì bệnh lao khi ông vừa được 1 tuổi; Năm ông lên 2 thì mẹ mất; Năm 7tuổi, bà nội và chị gái của ông đều lần lượt qua đời; Đến năm 16 tuổi, một lần nữa,người ông của Kawabata cũng qua đời Sau nỗi mất mát khi tất cả những người thânthiết bên họ nội đều qua đời, Kawabata chuyển đến Tokyo để sống với gia đình dì bên
họ ngoại của mình
Thuở nhỏ Kawabata nuôi ước mơ trở thành họa sĩ, nhưng sau này khi học xongtrung học, Kawabata thi đỗ khoa Văn học Anh của Đại học Tokyo vào năm 1920.Năm 1924, ông tốt nghiệp đại học với luận án nghiên cứu về Tiểu thuyết Nhật Bản.Nhìn chung Kawabata có học trình xuất sắc khi tốt nghiệp ở một trường đại học thuộcvào bậc các trường danh tiếng của Nhật
Bên cạnh học trình nổi bật thì câu chuyện về mối tình đầu của Kawabata cũngnhận được nhiều sự chú ý Năm 1919, Kawabata lần đầu tiên ông gặp Hatsuyo Ito tạimột quán cà phê, năm ấy ông 20 tuổi và Ito 13 tuổi Đôi trai gái đều chung hoàn cảnh
là trẻ mồ côi nên giữa hai tâm hồn nhạy cảm ấy rất nhanh đã tìm thấy nhau Kawabatathường gọi Ito với cái tên thân mật là Chiyo Hai năm sau, Hatsuyo Ito đồng ý nhậnlời làm vợ của Kawabata Tuy nhiên, một tháng sau ngày ước định đó, Kawabata bấtngờ nhận được lá thư từ hôn của vị hôn thê trẻ tuổi Và cứ thế, Hatsuyo Ito bỗng nhiênbiến mất không một lời giải thích
Song, dù vậy thì hình bóng của Hatsuyo Ito và nỗi đau về mối tình ấy vẫn cònđọng lại trong Kawabata, ảnh hưởng tới các sáng tác sau này của ông Các tác phẩm
về tình yêu của Kawabata hầu như có chung một cảm quan về sự chia lìa, ly tán vàkhông trọn vẹn Kawabata còn chịu ảnh hưởng từ hình bóng của Hatsuyo Ito khi ông
Trang 2cho ra đời tác phẩm Viết về người con gái Bính Ngọ với nội dung đào sâu tìm hiểu về
những người con gái tuổi Bính Ngọ xinh đẹp, tự do, linh hoạt và sắc bén, Và Itocũng mang tuổi Bính Ngọ Hình tượng người đàn bà trẻ, độ 13 - 15 tuổi cũng xuấthiện trong các sáng tác của Kawabata khá nhiều (Tập truyện đầu tay (1925), tiểu
thuyết Đẹp và Buồn (1961), ), như một nỗi ám ảnh về mối tình đầu khi mà Hatsuyo
Ito gặp Kawabata cũng ở độ tuổi ấy Chưa dừng lại ở đó, tên của các nhân vật nữ trongsáng tác của Kawabata thường có xoay quanh việc mượn tên gọi Chiyo hoặc Michiko
(tác phẩm Cái huông của tác phẩm đầu tay (1927); Mối tình đầu của mẹ (1939); Ngày tháng (1952 - 1953); …), cũng từ đây Kawabata tạo thành một dòng văn học có tên
gọi Chiyo-mono (Những bài viết liên quan đến Chiyo)
Sau khi tốt nghiệp, Kawabata cùng một nhóm bạn đại học có chung chí hướng
sáng lập nên tạp chí Thời đại văn học (Bungei Jidai) Tờ báo này được xem như cơ
quan ngôn luận chính thống của trào lưu Tân cảm giác mà người đứng đầu cũng chính
là Kawabata Yasunari Và truyện ngắn đầu tay Lễ chiêu hồn (1921) của Kawabata cũng được in trên tờ Thời đại văn học Trào lưu Tân cảm giác “là nỗ lực phản ứng dòng văn học tự nhiên, văn học vô sản đang ngự trị trên văn đàn Theo những nhà văn phái Tân cảm giác, hai dòng văn học đó đã quá tô đậm yếu tố tự nhiên phi nghệ thuật
và “đo ni đóng giày” cảm xúc cá nhân, cá thể, khuôn hiện thực vào những cái khung cứng nhắc Tân cảm giác tiếp thu ảnh hưởng từ chủ nghĩa hiện đại phương Tây, đặc biệt là chủ nghĩa đa đa và chủ nghĩa biểu hiện Đức.” (Trần Thị Tố Loan, 2010) Theo
đó, Tân cảm giác theo đuổi lối viết văn mới lạ, cấp tiến và có sự ảnh hưởng của lối
viết phương Tây, nghĩa là “từ cảm xúc mới, nhà văn Tân cảm giác phải có cách biểu hiện mới để mang tới nội dung mới Như vậy, cảm xúc mới, cách thức biểu hiện mới
và nội dung mới là ba tiêu chí quan trọng để xác lập sáng tác mang dấu hiệu của Tân cảm giác” (Trần Thị Tố Loan, 2010) Mà “cảm giác mới” ở đây có thể hiểu là những cảm xúc, những rung động xuất phát từ “cảm quan về cuộc sống và con người” và được “bắt nguồn từ thế giới đầy xúc cảm của chính tâm hồn người nghệ sỹ” (Trần Thị
Tố Loan, 2010)
Nhà văn thuộc trào lưu Tân cảm giác có lối viết phần nào đó thoát li khỏi lốiviết cổ điển Nhật Bản trước đây Kawabata đã thể hiện sự thoát li trong lối viết đó khi
Trang 3các sáng tác, đặc biệt là thể loại Truyện ngắn trong lòng bàn tay (Short - short - story) của ông có những đặc điểm như “Chủ thể phóng chiếu lên khách thể, cách biểu hiện thiên về cảm giác, sử dụng những ẩn dụ, tượng trưng nhằm biểu đạt cảm xúc thầm kín, tế vi, có sự phá vỡ ranh giới giữa không gian và thời gian” (Trần Thị Tố Loan,
2010) Lối viết của Kawabata nhẹ nhàng và hướng đến mở rộng những cảm xúc, rungđộng trong tâm hồn, lối viết đầy ẩn dụ về triết lý cuộc sống và suy tư về con người.Tác phẩm của Kawabata thường không có mở đầu cũng không có kết thúc, ông khônggiới hạn cảm xúc và suy tư của mình vào chiều dài của tác phẩm cụ thể, mở đầu bằngchương 1 và một cái kết mở, bỏ ngỏ nhiều vấn đề chưa giải quyết ở chương cuối, bởitác phẩm có thể dừng lại nhưng những chiêm nghiệm và cảm xúc mà tác phẩm đómang đến thì không có giới hạn Vậy nên lối viết của Kawabata dường như không bịchi phối bởi cảm xúc cá nhân và càng không bị gò bó vào khuôn mẫu hiện thực cứngnhắc của lối viết cổ điển
Kawabata kết hôn khi 32 tuổi và sống ở vùng Kamakura - một thành phố nằm ởphía Bắc Tokyo Suốt cuộc đời của mình, Kawabata từ chối tham gia vào Thế chiếnthứ II cùng quân phiệt Nhật, cũng không bày tỏ thái độ nào trước tình hình chính trịcủa đất nước Tuy nhiên, đối diện với việc Nhật Bản thất bại nặng nề trong Thế chiếnthứ hai vẫn ít nhiều ảnh hưởng đến các sáng tác của ông Hình ảnh của một Nhật Bản
cô độc, hoang tàn, đổ nát và hỗn loạn sau Thế chiến đã xuất hiện trong các tác phẩmcủa Kawabata một cách trực tiếp lẫn gián tiếp Các tác phẩm lấy bối cảnh nước Nhậtsau thế chiến thứ hai hầu như đều mang chung màu sắc u tối, xám xịt, sự hoảng loạn,
và vô định Hồ (1955) là sự hoảng loạn về xã hội lẫn kinh tế, hoảng loạn trong công cuộc đi tìm gái đẹp và một màu xám bao trùm lên các nhân vật Cố đô (1962) là một
hồi chuông cảnh báo về những giá trị truyền thống (dệt, kimono) sẽ dần bị lãng quêntrong quá trình sản xuất ồ ạt của nền kinh tế hàng hóa và lối sống, tiêu dùng thị dânsau Thế chiến ở xã hội Nhật Bản Mang chung sự hoảng loạn và cô độc đó còn có các
tác phẩm Tiếng rền của núi, Xứ tuyết, Ngàn cánh hạc, Tựu trung, hậu quả mà Thế
chiến thứ hai để lại cho Nhật Bản đã dấy lên trong ngòi bút của Kawabata về sự côđộc và nỗi sợ hãi xuất phát từ sâu bên trong con người lẫn tình hình xã hội bên ngoài
Trang 4Kawabata là một nhà văn dịch chuyển và tìm hiểu các kiến thức mới lạ, mộtcon người với thái độ sẵn sàng “dấn thân” vào những hoàn cảnh khác nhau Ông từng
có thời gian sang Mãn Châu vừa du lịch vừa nghiên cứu, tìm hiểu về cổ văn, và cómột khoảng thời gian ông thuyết giảng ở nhiều trường đại học tại Mĩ Song, Kawabatacũng tham gia nhiều hoạt động trong nước như việc ông cùng với các nhà văn khác,trong đó có Yukio Mishima kí vào bản tuyên ngôn lên án cuộc Cách mạng Văn hóacủa Mao Trạch Đông Mặt khác, bên cạnh việc viết báo, Kawabata còn làm phóngviên và nhận giữ chức chủ tịch của tờ Văn bút Nhật
Năm 1968, Kawabata Yasunari trở thành nhà văn Nhật Bản đầu tiên và là nhàvăn Châu Á thứ hai sau Rabindranath Tagore đoạt giải thưởng Nobel Văn chương Tạibuổi nhận giải, Kawabata đã bày tỏ thái độ không tán thành với những cái chết mà đaphần là tự tử - một cái chết rất Nhật Bên cạnh cái chết, Kawabata còn nói về cái đẹp
bởi ông đã dành phần lớn cuộc đời mình chỉ để đi tìm cái đẹp “Kawabata đã bắt đầu bằng sự trở về, trở về với hồn thiêng gấm vóc của quê hương” Đối với Kawabata
niềm tin vào cái đẹp vĩnh cửu của thiên nhiên chính là niềm tin vào cái đẹp mà cả đờiông luôn đi tìm kiếm nó Các tác phẩm của Kawabata hầu như luôn có hình ảnh củathiên nhiên trong đó, một Nhật Bản bốn mùa xuân hạ thu đông tràn đầy nhựa sống,một đất nước với non nước gấm vóc hùng vĩ theo năm tháng Kawabata tìm cái đẹptrong thiên nhiên vì theo ông đó là cái đẹp bất biến, cái đẹp niên viễn, mà trên hết đócòn là cái đẹp của nhân loại Ý này cũng đã được chính Kawabata nhắc đến trong bài
phát biểu tại lễ trao giải Nobel: “Khi chúng ta thấy vẻ đẹp của tuyết, khi chúng ta thấy
vẻ đẹp của trăng tròn, khi chúng ta thấy vẻ đẹp của hoa anh đào nở, tóm lại, khi chúng ta tiếp xúc và được thức tỉnh bởi vẻ đẹp của bốn mùa, chính lúc bấy giờ, chúng
ta nghĩ nhiều hơn hết đến những người gần chúng ta và muốn họ chia sẻ niềm vui Sự kích thích của vẻ đẹp gợi lên những tình cảm bạn hữu nồng nàn, thiết tha có bạn, và tiếng “bạn” có thể được dùng để chỉ “nhân loại”” (Kawabata Yasunari, 1968) Ngoài
cái đẹp của thiên nhiên thì các sáng tác của Kawabata còn nhắc đến một cái đẹp khác cái đẹp của những giá trị truyền thống Nhật Bản Đó có thể là cái đẹp của trà đạo
-trong Ngàn cánh hạc; Cái đẹp của truyền thống dệt và kimono -trong Cố đô; Hay là cái đẹp của nàng Geisha - một loại hình giải trí truyền thống Nhật Bản trong Vũ nữ Izu,
Tựu trung, Kawabata là một nhà văn luôn mang trong lòng nỗi cô độc, băn khoăn
Trang 5cùng trăn trở về vấn đề tự tử và cái đẹp đích thực mang sự tinh tế rất riêng của NhậtBản.
Năm 1971, ba năm sau ngày ông đọc diễn văn tại buổi trao giải Nobel đó thìngười bạn văn chương của ông - nhà văn Yukio Mishima đã tự tử Cái chết củaMishima ảnh hưởng rất đáng kế đến Kawabata, năm 1972, Kawabata cũng kết thúccuộc đời mình bằng hơi độc tại nhà riêng
1.1.2 Sự nghiệp
Kawabata Yasunari bén duyên với văn chương từ rất sớm, cộng thêm việc mấtmát người thân mà ông trải qua khi còn rất nhỏ nên hầu như các nhân vật trong nhữngsáng tác của ông luôn mang hơi thở của cái bi, nỗi buồn, sự day dứt, trăn trở và mâuthuẫn
Tác phẩm đầu tiên của Kawabata là Nhật ký tuổi mười sáu (1915), được viết
khi nhà văn tròn mười sáu tuổi Tác phẩm được viết bởi một giọng văn nhẹ nhàng,trong sáng nhưng hàm chứa rất nhiều điều sâu lắng dưới từng câu chữ
Năm 1921 Kawabata viết truyện ngắn đầu tay với tên gọi Lễ chiêu hồn Tác phẩm này được in trên tạp chí Trào lưu mới (Bungei Jidai) do ông và các bạn cùng
sáng lập
Năm 1926, sau khi tốt nghiệp đại học, Kawabata cho ra mắt tác phẩm Vũ nữ Izu, đây cũng là tác phẩm mang lại nhiều lời khen cho ông Nội dung xoay quanh nàng
vũ nữ xinh đẹp đảo Izu và tình yêu của những con người đang độ tuổi tươi trẻ
Sau thành công của Vũ nữ Izu, Kawabata đã ấp ủ tận 12 năm để cho ra mắt một
cuốn tiểu thuyết gây tiếng vang cả mảnh đất văn chương Nhật Bản lúc bấy giờ - Tiểu
thuyết Xứ tuyết (1935 - 1947) Dẫu nội dung đơn giản về tình yêu giữa chàng trai
Tokyo với nàng geisha Nhưng tác phẩm đã để lại rất nhiều suy tư trong lẽ sống vàtình yêu
Trang 6Đỉnh cao ngòi bút của Kawabata phải kể đến cuốn tiểu thuyết Ngàn cánh hạc (1949 - 1952), Ngàn cánh hạc là một trong ba cuốn tiểu thuyết đã đem về cho
Kawabata giải thưởng Nobel văn chương danh giá thế giới và được Viện Hàn lâmnghệ thuật Nhật Bản trao tặng giải thưởng
Năm 1961, Kawabata hoàn thành tác phẩm Người đẹp ngủ say (1961), và cũng
với tác phẩm này, Kawabata đã được Márquez hết lười ca ngợi về tài năng vănchương
Năm 1962, ông lại tiếp tục trình làng với độc giả kiệt tác Cố đô.
Và một trong những tác phẩm thuộc giai đoạn cuối đời của ngòi bút thiên tài
người Nhật này chính là tiểu thuyết Đẹp và Buồn (Tên khác: Cái đẹp và nỗi buồn)
(1964) Tác phẩm xoay quanh câu chuyện tình yêu và thù hận, được kết nối với nhaubằng sợi dây liên kết bởi cái đẹp và nỗi buồn giữa những con người thuộc hai thế hệ
Ngoài những tác phẩm tiêu biểu kể trên thì Kawabata còn những tác phẩm khác
như Hồ, Cánh tay, Về chim và thú, Tiếng gieo xúc xắc ban khuya, Danh thủ cờ vây, Cây trà hoa, Tiếng rền của núi,
Song, có một điều thú vị trong sự nghiệp văn chương của Kawabata, đó là thể
loại truyện mà ông gọi là Truyện ngắn trong lòng bàn tay (Short - short - story) Đây
là một loại truyện ngắn có dung lượng chỉ vài trang và rất được Kawabata yêu thích,
ông sáng tác Truyện ngắn trong lòng bàn tay từ khi bắt đầu theo nghiệp văn chương
cho đến cuối đời
1.2 Phong cách nghệ thuật và tư tưởng thẩm mỹ của Kawabata
1.2.1 Vẻ đẹp tâm và thiên nhiên hợp nhất
Nhà văn Kawabata sinh ra từ xứ Phù Tang - một đất nước luôn xem cái đẹp làđích đến vậy nên phong cách nghệ thuật của Kawabata Yasunari gắn liền với hànhtrình đi tìm cái đẹp Từ nhỏ ông đã có ước mơ trở thành họa sĩ, giấc mộng hội họadang dở dường như đi vào văn chương của ông sản sinh ra một thế giới hiện thực mới
Trang 7đan xen thực ảo, đẹp hơn cả cuộc sống tự nhiên Theo chân nhà văn vào những trangtiểu thuyết, người đọc sẽ cảm nhận được cảnh sắc thiên nhiên tinh tế đậm chất NhậtBản Kawabata không ủng hộ chủ nghĩa tự nhiên bởi ông chú trọng nhìn thiên nhiêndưới dạng tinh khiết nhất, chân thực nhất Ông quan niệm chỉ khi con người nhìn cáiđẹp theo sự thưởng thức thuần túy nhất thì mới có thể cảm nhận được dạng thức tuyệt
người phụ nữ trong Ngàn cánh hạc, chùm tuyết trắng của Xứ tuyết, bầu trời trong chiếc gương soi của Thủy nguyệt hay những bông hoa rơi xuống phủ đầy mặt đất của
Cố đô, Thiên nhiên trở thành biểu tượng của cái đẹp, nhà văn cho rằng cái đẹp sẽ
tuyệt mỹ nhất khi nghệ sĩ và thiên nhiên thật sự đồng nhất Sự “tương giao tươngcảm” đã kích thích người nghệ sĩ tìm đến cái đẹp, trong văn hóa Nhật Bản thiên thiêntrở thành thước đo của cái đẹp và trở thành đối tượng thẩm mỹ độc đáo Thế giới nghệthuật của Kawabata cái đẹp xuất hiện như sự đan xen giữa cái tinh khiết và không tinhkhiết, giữa ảo mộng và thực tại tìm đến cái đẹp vĩnh hằng Lối hành văn của ông mangđậm tính chất truyền thống mang tinh thần tư duy nghệ thuật của thời đại, lôi cuốnngười đọc vào thế giới của cái đẹp Thiên nhiên Phù Tang dường như càng trở nênthuần khiết, mê hoặc đến ngỡ ngàng qua quan điểm nghệ thuật và ngòi bút màu nhiệmchất chứa tinh thần trân trọng, giữ gìn truyền thống của Kawabata
Trang 81.2.2 Thi pháp “chân không”
“Chân không” trong văn chương của Kawabata thực chất không phải là sự hư
vô theo quan niệm Tây phương mà là “một thế giới tâm linh trong đó vạn vật hỗ tương giao cảm, hoàn toàn tự tại, siêu việt mọi biên giới và hình thức” “Chân không”
tồn tại khắp mọi nơi trong thế giới nghệ thuật Phù Tang, là đích đến của sự thưởngthức và chiêm nghiệm cuộc sống Đây cũng là một thủ pháp nghệ thuật đặc trưng
trong phong cách sáng tác của Kawabata Nhà nghiên cứu Nhật Chiêu trong Thế giới Kawabata Yasunari (hay là cái đẹp : Hình và bóng) nhận định rằng: “Cái chân không
đó là sự trống vắng mà ta thường thấy trong thơ haiku, trong tranh thủy mặc, trong sân khấu Nô, trong vườn đá tảng…và trong các tác phẩm tiểu thuyết hay “truyện ngắn trong lòng bàn tay của Kawabata” (Nhật Chiêu, 2000) Nhà văn Kawabata đã vận
dụng những khoảng trống hay còn được gọi là “chân không” theo quan niệm Thiềntông để phản ánh những vẻ đẹp của cuộc sống vạn vật “Chân không” ở đây được hiểutheo kiểu Đông phương thể hiện tinh thần trân trọng truyền thống văn hóa của nhàvăn
Trong truyện trong lòng bàn tay ta thấy sự xuất hiện rất nhiều lần của hình
ảnh chiếc gương soi Kawabata đã soi chiếu vạn vật thông qua tấm gương tạo nên mộtthế giới thực như không thực Ông cho rằng tâm hồn mỗi người sẽ nhận thức cái đẹptheo những cách khác nhau vậy nên những gì mà người đọc thấy được từ sự phảnchiếu của chiếc gương không đơn thuần là thực tại mà còn là hư ảo, là “chân không”.Kawabata đã vận dụng mỹ cảm phương Đông lẫn phương Tây, truyền thống lẫn hiệnđại để tạo nên một thế giới thực lại không thực, bí ẩn và huyễn hoặc như chính conngười tác giả Điều đặc biệt là đọc Kawabata vạn vật không khiến chúng ta không quábất ngờ hay kinh ngạc nhưng chính cách diễn đạt bằng ngôn từ và quan niệm thẩm mỹcủa ông giúp chúng ta cảm nhận được cái đẹp vô hạn của truyền thống, của thiênnhiên, của thế giới muôn hình vạn trạng
Trang 91.2.3 Sự tĩnh lặng và bi ai đậm chất Nhật Bản
Cuộc sống của Kawabata từ nhỏ đã phải chịu đựng những bi kịch Từ khi chỉcòn là một cậu bé ông phải chứng kiến những người thân lần lượt qua đời, đến tuổi đôimươi bị Chiyo - một người mà ông hết mực yêu thương là chối từ hôn ước khiến cuộcsống của ông về sau luôn chứa đựng nỗi cô đơn, ưu sầu Trong thế giới văn chươngcủa Kawabata vẻ đẹp và nỗi buồn luôn song hành, gắn kết Những sáng tác của nhàvăn thường đặc trưng bởi phong cách mơ hồ, thầm lặng mở ra thế giới của cái đẹptrong những nỗi buồn
Kawabata được mệnh danh là “người lữ khách ưu sầu đi tìm cái đẹp”, ông
dành cả cuộc đời để tìm kiếm cái đẹp trong nỗi u hoài Ông cho rằng vẻ đẹp tinh khiếtthánh thiện càng khám phá sẽ càng nhận ra những dự cảm bi ai Đẹp và buồn dườngnhư trở thành quan niệm thẩm mỹ đậm chất Kawabata, đó là cái đẹp hiện hữu trong
không gian bi cảm, huyền ảo và thần bí của xứ xở Phù Tang Trong tiểu thuyết Xứ tuyết, không trực tiếp khơi gợi nỗi buồn nhưng hình ảnh dải ngân hà lung linh u huyền
như được tác giả đan sầu bi vào từng chi tiết, dự cảm về một sự chia ly, mất mác
Kawabata tôn vinh vẻ đẹp u uẩn trong thiên nhiên và trong định mệnh conngười Vẻ đẹp mong manh không thể thoát khỏi sự phù du nơi trần thế Đối vớiKawabata cái gì càng lụi tàn sẽ càng khiến người ta không khỏi canh cánh, tiếcthương Cảm thức về nỗi buồn, nỗi cô đơn trước nhân thế của bản thân đượcKawabata gửi gắm trong từng tác phẩm, hệt như một tấm gương phản chiếu tâm hồn
nhà văn Đó có thể là nỗi cô đơn, sầu muộn của ông già Eguchi trong Những người đẹp say ngủ, ông tự tách mình khỏi thực tại để tìm đến thế giới của dĩ vãng Tư duy
nghệ thuật đậm màu u uẩn khiến các sáng tác của Kawabata luôn thường trực cảmgiác bi ai nao lòng
Là một nhà văn, khi đứng trước sự xói mòn văn hóa, ông luôn trân trọng vàgiữ gìn bản sắc dân tộc Văn chương của Kawabata vì thế luôn tồn tại vẻ đẹp u buồn,tĩnh lặng đậm chất truyền thống Nhật Bản Thông qua ngòi bút sắc sảo, tràn ngập nỗi
cô đơn tác giả luôn khao khát một ước vọng tìm về dĩ vãng, tìm về cội nguồn truyềnthống dân tộc Tiểu thuyết của ông như một sự chắt chiu nỗi ưu tư sầu muộn để rồi vẽ
Trang 10nên bức tranh của cái đẹp Phù Tang tuyệt mĩ Trong cái tĩnh lặng của không gian, conngười trở nên cô đơn, lạc lõng giữa hành trình của cuộc đời Hơn hết trong các tácphẩm của Kawabata ta sẽ bắt gặp một Nhật Bản mang vẻ đẹp của sự hoài niệm Cáiđẹp mà ông luôn canh cánh nỗi tiếc thương ấy là cái đẹp của văn hóa truyền thống,của con người và thiên nhiên mong manh, tinh khiết đến vô ngần.
2 VỀ TIỂU THUYẾT NGÀN CÁNH HẠC
2.1 Giới thiệu hoàn cảnh sáng tác, vị trí, thành tựu:
Ngàn cánh hạc là thiên tiểu thuyết chưa hoàn chỉnh được viết và đăng tải thành
từng kỳ trên các mặt báo từ năm 1949 cho đến chương “Hai ngôi sao” năm 1951 Nămsau, 1952, do đề nghị của nhà xuất bản và sự cân nhắc về độ dày của một quyển sách,
Ngàn cánh hạc được phát hành chung với Tiếng rền của núi Tác giả đã chấp nhận là
có thể dừng tác phẩm ở đâu cũng được nhưng cả hai tác phẩm đều được phát hành đếnhết phần đã được viết và công bố
Các phần của Ngàn cánh hạc được công bố theo thứ tự sau:
“Ngàn cánh hạc”, Yomimono Jiji Bessatsu số 3 (phát hành 1/5/1949)
“Hoàng hôn trong rừng”, Bessatsu Bungei Shunju số 12 (phát hành 20/8/1949)
“Chiếc bình Shino”, Shosetsu Koen, số tháng 3/1950 (số đầu tiên)
“Vết son của người mẹ”, Shosetsu Koen, số tháng 11 - 12/1950
“Hai ngôi sao”, Bessatsu Bungei Shunju số 24 (phát hành 30/10/1951)
Năm 1951, Kawabata cho ra mắt Ngàn cánh hạc, tác phẩm đã được trao tặng
giải thưởng của Viện Hàn lâm nghệ thuật Nhật Bản
Kawabata rất muốn viết tiếp Ngàn cánh hạc, vậy nên trong năm 1951, một mặt ông vừa viết tiếp Tiếng rền của núi, một mặt ông vừa chuẩn bị cho phần tiếp theo của Ngàn cánh hạc không chút xao lãng.
Trang 11Trong hoàn cảnh đó, một việc tình cờ đã xảy ra Họa sĩ Takata Riziko, đươngthời sống ở tỉnh Oita đã mời tác giả đến tham quan danh lam thắng cảnh trong tỉnh.Hai người vốn là bạn thâm giao tâm đầu ý hợp từ trước, vậy nên tác giả vô cùng thíchthú với chuyến đi này, đặc biệt ở đây còn nổi tiếng với nhiều loại suối nước nóng, làđiều mà Kawabata vô cùng yêu thích Vì vậy, Kawabata đã quyết định trở lại nơi nàylần thứ hai để thu thập tiếp tài liệu Thế nhưng, trong chuyến du lịch, chiếc túi cóquyển sổ tay ghi chép bị đánh cắp, lâm vào tình trạng không thể nào viết tiếp nên tácgiả đành dừng bút ở phần 8.
Nay, xem lại danh sách các phần đã công bố, hẳn ta sẽ cảm thấy dễ hiểu hơn
Các phần đều được công bố trên tạp chí Shosetsu Shincho.
“Cánh chim trên sóng”, Ngàn cánh hạc phần tiếp theo, số tháng 4/1953.
“Chuyến đi biệt ly”, Ngàn cánh hạc phần tiếp theo, số tháng 5/1953 (phần 1-3
của “Chuyến đi biệt ly”)
“Quê cha”, Ngàn cánh hạc phần tiếp theo, số tháng 6/1953 (phần 6-7 của
“Chuyến đi biệt ly”)
“Trăng hoang thành”, Ngàn cánh hạc phần tiếp theo, số tháng 10/1953 (phần 1
- 2 của “Gia đình mới”)
“Giữa những làn sóng”, Ngàn cánh hạc phần tiếp theo, số tháng 11/1953 (phần
3 - 4 của “Gia đình mới”)
“Đôi mắt mùa xuân”, Ngàn cánh hạc phần tiếp theo, số tháng 3/1954
“Tâm sự người vợ”, Ngàn cánh hạc phần tiếp theo, số tháng 7/1954
Nhưng việc chiếc sổ tay bị mất cắp đã được giữ kín và không một ai hay biếtngoài phu nhân tác giả, và câu chuyện được giữ im lặng suốt hai mươi mấy năm Là vìông muốn tránh làm phiền lữ quán vốn đã nhờ cậy họ nhiều (chiếc túi bị mất tại một
lữ quán ở Tokyo, nơi tác giả dùng làm phòng làm việc) Vậy nên mãi tới sáu năm sau
ngày tác giả mất, tháng 8/1978 (tham khảo báo buổi chiều Asahi Shimbun, ngày 28)
vụ việc này mới được công bố lần đầu tiên
Trang 12Trong khoảng thời gian câu chuyện của Ngàn cánh hạc bị đóng băng, nhà văn vẫn tiếp tục và hoàn thành tác phẩm Tiếng rền của núi năm 1954, thế nên độc giả luôn mong đợi một dịp nào đó Kawabata sẽ thu thập tư liệu lại từ đầu và tiếp tục với Ngàn cánh hạc nhưng đáng tiếc dịp ấy không bao giờ đến vì nhà văn đã đột ngột qua đời
vào năm 1972
Ngàn cánh hạc lấy bối cảnh nước Nhật sau khi thất bại trong chiến tranh thế giới thứ
hai Đó là khoảng thời gian đầy khủng hoảng khi lòng người sụp đổ, nhân sinh lạc lối
và con người dần mất niềm tin vào các giá trị tinh thần cốt lõi của dân tộc mình
Câu chuyện của trà và người thưởng trà được thể hiện một cách tinh tế qua
Ngàn cánh hạc Thông qua thiên tiểu thuyết này, Kawabata thể hiện niềm trăn trở của
bản thân trước sự mai một của văn hóa truyền thống mà trong đó có trà đạo Bàn tràlúc này không còn là nơi mang đến sự tĩnh tại mà trở thành công cụ để con người chìchiết, giày vò lẫn nhau, những người tiền bối từng thực hành trà đạo suốt bao năm lầnlượt ra đi để lại thế hệ người trẻ chẳng còn thực sự quan tâm đến nghi thức thưởng trà.Đứng trước thực trạng đau lòng ấy của văn hóa dân tộc, tâm hồn nhà văn khôngngừng xao động và u uất không nguôi Chính tình thế này đã thôi thúc ông viết nên
thiên tiểu thuyết Ngàn cánh hạc Trong tiểu thuyết, hình ảnh người phụ nữ Nhật hiện
lên thanh khiết, tôn quý và hiền hòa qua những hình ảnh biểu tượng đặc sắc như chiếckhăn thêu ngàn cánh hạc, chiếc chén Shino từ tốn mà nhịp nhàng, sự trang trọng phatrà vào những chiếc tách đồ sứ cổ xưa quý phái như chén Oribe, cặp chén Ryonyu,chiếc chén Kasatsu,…
Ngàn cánh hạc là một trong ba cuốn tiểu thuyết được Ủy ban Nobel trích dẫn
để trao giải Nobel Văn học cho Kawabata Yasunari, hai cuốn còn lại là Xứ tuyết và Cố
đô Cuốn tiểu thuyết đã được chọn để dịch và đưa vào “Tuyển tập các tác phẩm tiêu
biểu của UNESCO”
Khi nhận giải Nobel văn chương năm 1968, trong bài phát biểu của mình
Kawabata Yasunari đã tuyên bố: “Coi tiểu thuyết Ngàn cánh hạc của tôi như một sự
khơi gợi cho vẻ đẹp tinh thần và nghi thức của trà đạo là một cách hiểu sai Nó là một
Trang 13tác phẩm phủ định nhằm nói lên nghi ngờ và cảnh báo với sự thô thiển mà nghi thứctrà đạo đang sa vào”.
Một số tác phẩm tiêu biểu khác có thể kể đến trong sự nghiệp văn chương của
Kawabata là: Vũ nữ Izu (Izu no Odoriko, 1926); Cái đẹp và nỗi buồn (Utsukushisa to Kanashimi to, 1964); Tiếng rền của núi (Yama no Oto, 1949-1954); Cố đô (Koto, 1962); Xứ tuyết (Yukiguni, 1935 - 1947); Hồ (Mizuumi, 1955);
Kawabata đã từng thừa nhận: "Không bao giờ tôi trút được ám ảnh rằng mình
là người lang thang ưu sầu Là người luôn luôn mơ mộng, tuy rằng chẳng bao giờchìm đắm hoàn toàn trong mơ, mà vẫn luôn luôn thức giữa khi mơ Từ sau thất bại,tôi chìm vào nỗi buồn - một nỗi buồn ngự trị triền miên trong tâm thức người Nhậtchúng tôi Từ đó trở đi tôi chỉ viết những khúc bi thương!" Có lẽ vì vậy mà hầu hếtvăn chương của ông đều phảng phất những nỗi buồn u uẩn Buồn vì những nỗi sinh ly
tử biệt Buồn bởi sự hưng vong của dân tộc Nhật Bản Và cả những nỗi buồn vu vơkhó nói thành lời nhưng vẫn thật thấm thía lòng người
2.1 Tóm tắt tác phẩm
Ngàn cánh hạc mở đầu bằng cảnh một buổi thưởng trà trong ngôi chùa Engaku
ở Kamakura, thành phố Kawabata Yasunari đã sống nhiều năm và cho đến phút cuốiđời Trên phông nền của nghệ thuật trà đạo, nhân vật chính - chàng thanh niên MitaniKikuji - xuất hiện Kikuji nhận được lời mời đến tiệc trà từ Chikako - một trà sư, bà lànhân tình thoáng qua của cha anh, nay mời anh đến dự buổi trà đạo như thường lệ.Nhưng kể từ sau cái chết của cha, Kikuji không hề tham dự lần nào Anh không thathiết với lễ nghi trà đạo và thường phớt lờ những điều này vì anh cho rằng đây chỉ lànhững thư mời xã giao dành cho người cha quá cố của mình, ấy mà tình cờ hôm nay,anh quyết định đến Trên bức thư mời lần này lại có kèm theo một dòng tái bút monganh đến để xem mắt một cô gái, trong Kikuji bất chợt nghĩ về câu chuyện thuở nhỏ:Kikuji cùng cha anh là ông Mitani đến nhà bà Chikako, vô tình thấy một hình ảnh hơikhiếm nhã, bà ấy đang ngồi cắt lông trên cái bớt to trước ngực Từ đó về sau, cái bớtnhư một nỗi ám ảnh trong cuộc đời Kikuji
Trang 14Tại buổi tiệc trà trang nghiêm, Kikuji không nghĩ không khí đó nhằm che đậycho một cuộc mai mối giữa anh và cô gái nhà Inamura do bà Chikako âm thầm sắpxếp, bà nghĩ rằng làm thế có thể can thiệp vào cuộc đời Kikuji đồng thời cho mìnhchút an ủi, chút chỗ đứng trước người tình là ông Mitani quá cố Tuy không hài lòng
gì về Chikako, nhưng Kikuji thực sự đã ngây ngất trước vẻ đẹp kiều diễm của ngườicon gái cầm trong tay chiếc khăn furoshiki ngàn cánh hạc - cô Inamura, và hình ảnhnày dường như cũng là một liều thuốc dịu ngọt chữa lành cho Kikuji những lúc anhcảm thấy khó khăn nhất Cũng ngay tại buổi tiệc trà này, Kikuji vô tình gặp lại nhântình cũ thứ hai của cha anh là bà Ota cùng với con gái bà là nàng Fumiko Từ đó họbắt đầu bị cuốn vào vòng xoáy của tình yêu, dục vọng và tội lỗi Thoạt đầu bà Ota chỉđịnh gặp Kikuji để gợi nhớ đôi chút về ông Mitani mà bà đã yêu tha thiết Không ngờ
bà đã không kìm được tấc lòng thương nhớ, bà nhìn thấy hình bóng người cha trênthân xác của người con, vậy là cả hai yêu nhau rồi bước vào nhiều cuộc ân ái
Xen vào chuyện tình tội lỗi đó là sự ghen tị, luôn tìm cách phá hoại từ bàChikako và sự phản đối ngầm trong tâm thức nàng Fumiko về chuyện tình mẹ nàng vàcon trai tình cũ của bà Kikuji thì không hề cảm thấy chút cảm giác tội lỗi nào, anhđắm mình trong từng cơn sóng tình của Ota và hương thơm ngây ngất của bà Nhưngsau nhiều lần ân ái như vậy, bà Ota phần vì bị dằn vặt bởi cảm giác tội lỗi, phần vì tìnhcảm đè nén trong lòng nên cuối cùng đã lựa chọn tự vẫn Bà mặc cảm trước bản thân,mặc cảm trước miệng lưỡi người đời và vì tương lai con gái bà và Kikuji Sau cái chếtcủa Ota, Kikuji lại tìm thấy nét đẹp của người mẹ trên Fumiko và chàng đã yêu nàngmặc cho Chikako không ngừng đẩy mạnh việc nối tơ duyên giữa Kikuji và Inamura.Song với đó, trong tâm trí Kikuji luôn chập chờn hình ảnh “ngàn cánh hạc” nơi nàngInamura, cùng với đó hình ảnh thuần khiết của Fumiko luôn tạo cho anh cảm giácthanh thản và bình yên giữa một xã hội phức tạp
Khi mẹ mất, Fumiko đã đem tặng Kikuji cặp chén Ryonyu của bà Ota và ôngMitani từng dùng trước đây và chén Shino có vết son của bà Ota Vệt son còn dínhtrên vành chén đã gợi cho Kikuji nhớ về bà Ota Fumiko biết được điều ấy, biết đượcnỗi đau luôn ám ảnh, luôn dằn vặt cả ba người giữa các mối quan hệ xã hội, vậy nênnàng đã quyết định trút mọi hụt hẫng: Đập bể chiếc chén Shino, mong muốn Kikuji
Trang 15quên đi mối tình ngang trái tội lỗi với mẹ mình, đồng thời qua đó hình ảnh chiếc chén
vỡ cũng báo hiệu dấu chấm dứt khoát cho một nền văn hóa trà đạo đang tụt dốc RồiFumiko lẳng lặng biến mất
Sau đó, Kikuji đã kết hôn với Inamura Yukiko Yukiko rất yêu Kikuji Khoảngthời gian trước đó, Chikako có đến gặp gia đình Yukiko để giới thiệu mối khác nhưngcha của Yukiko đã vô cùng tức giận vì không thích cách mai mối không mối này thìmối khác của Chikako và cũng chính điều đó đã trở thành động lực để Yukiko theođuổi Kikuji đến cùng Dù bên cạnh đã có một cô vợ ngoan hiền là Yukiko nhưng tâmtưởng Kikuji vẫn chưa thoát ra được khỏi hình bóng của Fumiko và bà Ota Anh luôn
tự vấn bản thân rằng phải chăng anh đã đốt cháy hết lửa tình nồng nhiệt cho cảFumiko và Ota Những lúc như vậy Kikuji cố gắng tự trấn an mình hãy tận hưởngnhững ngày yên bình bên cạnh cô dâu thuần khiết này Tác phẩm tạm kết thúc với cáichết của Chikako Sống cả đời đay nghiến người khác, cuối cùng Chikako lại chết vìchính trái tim mình
2.2 Mono no Aware và vẻ đẹp con người trong Ngàn cánh hạc
Là một nhà văn duy mỹ, cái đẹp là trung tâm trong các sáng tác của KawabataYasunari Cái đẹp trong văn chương của ông nói riêng và trong quan niệm thẩm mỹcủa người Nhật nói chung không phải là sự to lớn, kỳ vĩ, cũng không phải là mộtkhách thể thẩm mỹ cho con người đứng một bên chiêm ngưỡng, trầm trồ, mà đó là cáiđẹp bình dị nhưng lại có gắn kết sâu sắc với tâm hồn con người Chính đặc điểm về sựhòa quyện giữa cái đẹp và tâm hồn này khiến cho việc tiếp nhận các tác phẩm văn họccủa Kawabata bằng tư duy lý tính thông thường trở nên vô cùng khó khăn Các tácphẩm của ông dường như cũng là cái đẹp - một cái đẹp đậm chất Nhật Bản - thế nênngười đọc cần có một tâm hồn rộng mở và trái tim dễ rung cảm để có thể cảm nhậnđược vẻ đẹp trên từng dòng văn, con chữ ấy
Mang đúng tâm thái tiếp nhận văn chương Kawabata bằng tinh thần, khi đọctác phẩm “Ngàn cánh hạc”, dễ thấy trong lòng người đọc là những cảm xúc mênhmang trước vẻ đẹp của thiên nhiên, của con người, của trà đạo (dù cho Kawabata có
Trang 16chủ đích đề cập tới sự suy vi của trà đạo song vẻ đẹp của lĩnh vực nghệ thuật này vẫntồn tại thấp thoáng trong tác phẩm) Những vẻ đẹp đó khiến cho tâm hồn con ngườirung động nhưng đồng thời cũng làm người ta thấy buồn và hẫng lòng một nhịp khi nótan biến Cái cảm xúc trầm lắng, có phần hơi buồn mênh mang ấy là niềm bi cảm khiđứng trước cái đẹp.
Bi cảm, hay mono no aware, là một trong bốn khái niệm cơ bản của mỹ họcNhật Bản Người có công nghiên cứu và đặt ra khái niệm mono no aware là Motoori
Norinaga - một học giả xuất sắc thuộc phải Quốc học Trong trào lưu Quốc học,
những học giả bắt đầu hướng sự chú ý tới những vấn đề thuộc về nước Nhật, lọc bỏnhững ảnh hưởng của văn hóa ngoại lai và một trong những nhiệm vụ quan trọng đó
là học tập truyền thống dân tộc Họ quan tâm sâu sắc đến các tác phẩm văn học cổ đạinhư Kojiki, Manyoshu, Cũng trong quá trình nghiên cứu về văn chương cổ ấy màMotoori Norinaga đã khám phá ra mono no aware và đưa nó trở thành một khái niệmquan trọng để khẳng định cá tính độc đáo rất riêng của đất nước và con người NhậtBản
Aware là một từ đã được nhắc đến từ lâu trong các văn bản cổ đại Trải quanhiều thời kỳ lịch sử mà khái niệm ấy cũng có sự vận động, thay đổi, tiếp nhận thêm
để phù hợp với tâm tính người Nhật Trước khi mang nghĩa là nỗi buồn trước sự vôthường của sự vật thì trong các truyện cổ aware thường đi kèm với cả những từ chỉ sựvui thích và say mê Aware vốn là một từ diễn đạt tiếng kêu, lời con người thốt lên khicảm xúc nội tâm được đánh động Có thể hiểu nó là một dạng thán từ chẳng hạn như
“ồ”, “a” hay “ôi chao”, Trong Truyện Ishe, một người đàn ông thổi sáo khiến ngườinghe nao lòng được gọi là aware ni uta ikeri Thế nên trong bài tiểu luận về aware củamình, Mootori đã viết: “Aware có nghĩa là tất cả những cảm xúc sâu sắc trong trái timcon người… Ý nghĩa của aware không chỉ giới hạn ở nỗi buồn”
Tuy nhiên, về sau này khi nhắc đến aware thì cách hiểu có liên quan tới nỗibuồn lại phổ biến hơn cả Lý giải nguyên này, Motoori đã đưa ra rất nhiều nguyên dotrong đó quan trọng nhất phải kể đến sự ảnh hưởng của Phật giáo Phật giáo được dunhập vào Nhật Bản từ thế kỷ thứ 7 và tới thời Heian thì giáo lý nhà Phật đã ăn sâu vàocuộc sống, tính cách của con người nước này Chịu ảnh hưởng sâu sắc từ cảm thức vô
Trang 17thường, họ hiểu được rằng sự mất mát của mọi thứ luôn tồn tại ngay trong những phútgiây mà nó hiện tồn Hoa đẹp rồi cũng tàn, trăng tròn rồi cùng khuyết, tuổi xuân rồicũng qua, yêu đương rồi cũng nhạt, con người gặp gỡ để rồi cũng chia xa Ngoài raMotoori còn đề xuất một lý do thời đại nữa Heian là thời đại hoàng kim trong lịch sửNhật Bản, có sự phát triển đỉnh cao về mặt văn hóa nên khi đứng trên đỉnh tháp ấy,người ta dễ có cảm giác về sự suy vi của vương triều Từ những nguyên nhân đó màbắt đầu từ thời Heian, aware trở thành khái niệm chỉ vẻ đẹp phù du cùng nỗi buồnmang mác khi chúng phai tàn Cách hiểu này được duy trì và phổ biến cho tới hiệnnay Như những cánh hoa anh đào rơi rụng ngay khi nở đẹp nhất, sự lụi tàn của mọithứ khi đương lúc đỉnh cao đều làm cho người ta ấn tượng về nó hơn Cái khoảnhkhắc đẹp nhất của sự vật sẽ in sâu trong trí nhớ và qua dòng hồi tưởng, nó sẽ đượckhơi lại qua lăng kính của mỗi người Lúc này ký ức về sự vật đó hay con người đólung linh và đáng nhớ hơn rất nhiều lần Dường như mọi thứ đều đẹp hơn khi có sựtàn phai.
Theo Motoori đã chứng minh, aware có rất nhiều nét nghĩa, song khi áp dụng
để đọc tác phẩm của Kawabata Yasunari thì sử dụng cách hiểu của thời Heian là thứchợp nhất Phần là vì Heian là một thời kỳ đặt nền móng cho truyền văn hóa Nhật Bảnnói chung và mỹ học Nhật Bản nói riêng, phần vì Kawabata có một sự kế thừa đặcbiệt từ Murasaki Shikibu - cây bút thiên tài nổi bật nhất trong dòng văn học nữ lưuthời Heian Trong tiểu thuyết “Ngàn cánh hạc”, Kawabata đã vẽ nên một thế giới củacái đẹp, của nỗi buồn mênh mang trước cái đẹp mong manh và trước cả sự suy tàn củacái đẹp
2.2.1 Kijuki - Chàng Genji của Kawabata Yasunari
Kawabata Yasunari quả đúng là nhà văn đại diện cho cái đẹp nữ tính của NhậtBản Trong các tác phẩm của ông, số lượng nhân vật nam so với nhân vật nữ lúc nàocũng vô cùng ít ỏi Ngàn cánh hạc cũng không phải ngoại lệ khi nhân vật nam duynhất tham gia vào câu chuyện ở hiện tại chỉ có 1 người, đó là Mitani Kikuji Tuynhiên, không vì thế mà Kikuji lép vế so với các bóng hồng khác Kikuji được
Trang 18Kawabata xây dựng là một nhân vật thưởng thức cái đẹp nên những miêu tả về ngoạihình của anh không được nhắc đến nhiều Người đọc có thể hiểu rõ Kikuji nghĩa gì,cảm thấy ra sao nhưng lại không được cấp đủ dữ kiện để biết Kikuji trông như thếnào Kiểu nhân vật đi tìm cái đẹp của Kawabata tuy không được đầy đặn về ngoạidiện, cũng không thực sự có quá nhiều những chuyến du hành để khớp với cái mụctiêu là tìm thấy cái đẹp, song trong tâm tư của họ là ngồn ngộn những bước chuyển.Điều này lại vô cùng phù hợp với cái quan niệm về cảm thụ cái đẹp của Nhật Bản.Trong quá trình tâm hồn đi tìm cái đẹp, dường như anh vừa là người cảm thụ cái đẹp,cũng vừa là cái đẹp Trong buổi tiệc trà tại chùa Engaku, Kikuji xuất hiện giữa các côgái như thể “hoa lạc giữa rừng gươm” Chính Chikako cũng nói rằng: “Cậu Kikuji có
tư cách của ‘hoa’ mà” (Kawabata, 2021, trang 11)
Các nhân vật nam trong tiểu thuyết của Kawabata thường là những người cótâm hồn sâu sắc và nhạy cảm trước cái đẹp, Kikuji cũng không ngoại lệ Anh là mộttrong những “chàng Genji” của Kawabata với một trái tim chân thành, “biết mono noaware” Nếu mono no aware được xem như gốc rễ văn hóa, là một dạng đạo đức thuầntúy tinh thần của xứ Phù Tang thì một người biết mono no aware là người sống hợpvới cái “đạo” Nhật Bản nhất Trái tim “biết mono no aware” là trái tim có khả năngcảm nhận thế giới bằng chân tâm thuần khiết, biết nắm bắt và có những rung cảm sâusắc trước các sự vật, sự việc diễn ra xung quanh mình “Biết mono no aware” khôngchỉ đơn giản là cảm xúc kinh ngạc, thán phục khi đối diện với một bông hoa đẹp mà là
từ cái đẹp hiện tại của bông hoa ấy có thể cảm nhận được sức sống kì diệu đang nảy
nở mạnh mẽ, cảm nhận được dòng thời gian chảy trôi khi bông hoa ấy sinh trưởng vàđồng thời cũng cảm nhận được sự mất mát khi cánh hoa tàn phai Trong một khác thờigian khi nhìn thấy một tạo vật xinh đẹp của tạo hóa, con người có khả năng hòa mìnhvào đấy, đưa trái tim mình trở thành trái tim của một bông hoa, một cành cây hay mộtthoáng gió thoảng qua, đó là một người “biết mono no aware”
Kikuji xuất hiện như một bông hoa giữa bối cảnh của một buổi tiệc trà đầy toantính và ngay lập tức anh đã ấn tượng với một cô gái cầm tay nải buộc khăn furoshikingàn cánh hạc trắng bằng vải chirimen màu hồng đào Trong khi Kikuji rung độngtrước một thoáng bóng dáng của cô thiếu nữ và chiếc furoshiki ngàn cánh hạc thì một
Trang 19kẻ có trái tim đầy toan tính, vụ lợi và thù hận như Chikako chỉ nhìn thấy một cuộc maimối thô thiển, vụng về: “Furoshiki? Tôi có biết furoshiki gì đâu Là cô gái đẹp mớiđứng dậy đấy Con gái nhà Inamura… Cha cậu cũng biết nhà ông Inamura… Nhà bán
tơ lụa ở Yokohama.” (Kawabata, 2021, trang 12) Đối với Chikachi cái khăn ấy là thứbình thường, chẳng có gì đáng nói thì với tâm hồn nhạy cảm của Kikuji, đó là biểutượng của cái đẹp thanh cao, thoát tục
Không chỉ nắm bắt được vẻ đẹp trong một phút giây thoáng qua mà Kikuji còncảm nhận được từng bước đi của thời gian trong sự vận động, hoặc thậm chí là khôngvận động của những sự vật xung quanh Khi rời khỏi buổi tiệc trà của Chikako, anh đãnhận thấy “cây đỗ quyên ở chân núi trước mặt đã trổ nụ” (Kawabata, 2021, trang 24)
Đó là dấu hiệu của thời gian thể hiện qua vòng đời của một cái cây Thậm chí trongnhững sự vật bất động, Kikuji cũng có thể nhận ra được bước đi vô thường của dòngthời gian vội vã Một buổi sáng tỉnh dậy, khi thấy bông hoa triêu nhan cắm trong cáibình cổ hình trái bầu thâm đen sơn đỏ, Kikuji đã miên man trong vô vàn suy nghĩ:
“Nghĩ đến bình hoa trái bầu lưu truyền ba trăm năm với một bông hoa triêunhan sẽ héo tàn trong một buổi sáng, Kikuji ngắm một lúc… Nhưng anh thấy bất an,liệu bông hoa triêu nhan giữ được bao lâu khi được cắm trong bình?” (Kawabata,
mà đối với Yukiko, Kikuji cũng giữ một khoảng cách nhất định Không phải vì anhthấy cô không tốt hay không thích cô mà ngược lại, Kikuji cảm thấy Yukiko quá đẹp,
Trang 20quá trong sạch tới mức anh cảm thấy gặp được cô qua kế hoạch mai mối thô thiển củaChikako là một sự xúc phạm Yukiko.
2.2.2 Phu nhân Ota và Fumiko - Vẻ đẹp thực tại vô thường
Khác với các nhân vật nam, các nhân vật nữ của Kawabata được miêu tả đầyđặn hơn về ngoại hình Kawabata thường chú trọng vào việc khơi gợi các giác quan
khác như xúc giác, khứu giác Giống với tác phẩm Xứ tuyết, ở Ngàn cánh hạc người
đọc có thể dễ dàng bắt gặp được hai vẻ đẹp: một vẻ đẹp nhục thể, gần gũi; một vẻ đẹp
có phần hơi thanh cao, xa cách, không thể sở hữu như ảo ảnh giữa đời thực Mẹ conphu nhân Ota trong tiểu thuyết này được miêu tả với vẻ đẹp thứ nhất
Phu nhân Ota xuất hiện trong buổi tiệc trà tại chùa Engaku với ấn tượng về mộtngười phụ nữ trạc tứ tuần nhưng trẻ hơn nhiều so với tuổi Bà có đôi vai tròn, cái cổcao trắng ngần, chiếu mũi nhỏ nhắn, thanh tú, đáng yêu và đôi môi hơi trề ra Đối vớiviệc miêu tả tinh tế vẻ đẹp của người phụ nữ, xúc cảm từ làn da luôn gợi đến những ấntượng về nhục cảm bởi người ta chỉ có thể cảm nhận được sự mượt mà, mướt mát củalàn da ai đó thông qua sự va chạm giữa da thịt với da thịt mà thôi Phu nhân Ota làmột nhân vật mang vẻ đẹp nhục thể được Kawabata miêu tả kĩ càng thông qua làn datrơn mát tựa gốm Shino của bà Gốm Shino của vùng Gifu là một loại gốm được lưutruyền bởi trà nhân Shino Shoshin Loại gốm này có đặc trưng là sử dụng lớp mentrắng, dày, đã được nung Cái nền men trắng ấy đã gợi cho Kikuji nhớ tới làn da mướtmát của phu nhân Ota, tới mức sau khi phu nhân Ota chết đi, cảm giác hơi thở của phunhân vẫn quanh quẩn quanh anh: “Nay nhắm mắt trước di cốt của phu nhân, ký ức xácthịt phu nhân không hiện lên trong đầu mà xúc giác về phu nhân như say mùi hương,lại bao bọc Kikuji thật ấm áp.” (Kawabata, 2021, trang 71) Đó là một vẻ đẹp nhục thểtuyệt diệu, không mảy may vương một chút gì đó xấu xa, tội lỗi như phu nhân vẫnthường mặc cảm: “Lớp men Shino nhẵn bóng như lạnh như ấm, cứ thế khiến Kikujinghĩ đến phu nhân Ota Nhưng, không có sự tối tăm và xấu xa của tội lỗi ở đó, hẳncũng nhờ chiếc Shino kiệt tác Càng nhìn kỷ vật, Kikuji càng cảm thấy phu nhân đúng
là kiệt tác phụ nữ tuyệt vời nhất Kiệt tác thì không có ô uế.” Không chỉ thế, tình yêu