1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận cao cấp chính trị nội DUNG CHÍNH SÁCH dân tộc của ĐẢNG, NHÀ nước VIỆT NAM và TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH dân tộc ở TỈNH BÌNH PHƯỚC HIỆN NAY

26 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 86,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 24 HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC BÀI TIỂU LUẬN LỚP CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ HỆ TẬP TRUNG TÊN MÔN HỌC LÝ LUẬN DÂN TỘC VÀ QUAN HỆ DÂN TỘC Ở VIỆT NAM TÊN BÀI TIỂU LUẬN NỘI DUNG CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VÀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC Ở TỈNH BÌNH PHƯỚC HIỆN NAY ĐIỂM TRUNG BÌNH CHUNG Bằng số Bằng chữ NĂM 2022 MỤC LỤC PHẦN I MỞ ĐẦU 1 PHẦN II NỘI DUNG 1 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 2 1 1 Khái niệm và đặc trưng của dân tộc 2.

Trang 1

BÀI TIỂU LUẬN

ĐIỂM TRUNG BÌNH CHUNG

- NĂM 2022

Trang 2

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 2

1.3 Nội dung chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nướcViệt Nam 8

Chương 2.

THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA Ở TỈNH

Trang 3

Phần I: MỞ ĐẦU

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam vàChủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề dân tộc, đề ra đường lối,chính sách dân tộc nhất quán và đúng đắn, mang lại thắng lợi vĩ đại cho sựnghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và giành nhiều thành tựu trong sựnghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước Do đó, giải quyết đúng đắn vấn đề dântộc luôn luôn được coi là một trong những nhiệm vụ chiến lược của cáchmạng Việt Nam

Bình Phước là tỉnh có vị trí chiến lược quan trọng của vùng Đông Nam

Bộ, đồng thời cũng là địa phương có nhiều dân tộc thiểu số cùng sinh sống ởnhững địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng

- an ninh trên tuyến biên giới Việt - Campuchia Vì vậy, những năm qua, tỉnhBình Phước đã có nhiều chủ trương, biện pháp thiết thực để thực hiện chínhsách dân tộc của Đảng, Nhà nước trên địa bàn tỉnh và đạt được nhiều thànhtựu quan trọng, đóng góp vào sự phát triển mọi mặt của địa phương Tuynhiên, việc thực hiện chính sách dân tộc vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập cụ thểlà: tỉ lệ hộ nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn ở mức cao; các giá trịvăn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số còn chưa được chú trọng bảo tồn mộtcách toàn diện và thấu đáo, chất lượng giáo dục và nguồn nhân lực còn thấp,chưa đồng đều, cán bộ người dân tộc ở một số địa phương chưa thực sự đápứng yêu cầu nhiệm vụ…

Chính vì vậy, việc nghiên cứu vấn đề “Nội dung chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước Việt Nam và tình hình thực hiện chính sách dân tộc ở tỉnh Bình Phước hiện nay” có ý nghĩa cấp thiết cả lý luận và thực tiễn hiện nay.

Trang 4

Phần II: NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG

1.1 Khái niệm và đặc trưng của dân tộc

* Khái niệm

Dân tộc là sản phẩm của một quá trình phát triển lâu dài của xã hội loàingười Trước khi dân tộc xuất hiện, loài người đã trải qua những hình thứccộng đồng từ thấp đến cao: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc Cho đến nay, khái niệm dântộc được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, trong đó có hai nghĩa được dùngphổ biến nhất:

Một là, dân tộc chỉ một cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ và bềnvững, có sinh hoạt kinh tế chung, có ngôn ngữ riêng và những nét văn hóa đặcthù; xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc Ví dụ: dân tộc Thái, dân tộc Tày, dân tộc Si

La, dân tộc Ba Na, dân tộc Chăm

Hiểu theo nghĩa này, kết cấu dân cư của một quốc gia có thể bao gồmnhiều dân tộc (tộc người) khác nhau, trong đó có những dân tộc chiếm đa sốtrong thành phần dân cưvà có những dân tộc thiểu số

Trong quá trình phát triển của mình, trong bản thân mỗi dân tộc có thể

có sự phân chia thành các nhóm người có những đặc điểm khác nhau về nơi

cư trú, văn hoá, lối sống, phong tục tập quán, nhưng đều được coi là cùng mộtdân tộc, bởi có chung điểm đặc trưng của một dân tộc như nói trên đây Ví dụ:dân tộc Dao bao gồm nhiều nhóm người, như các nhóm Dao đỏ, Dao tiền,Dao Tuyển, Dao quần chẹt, Dao Thanh phán, Dao Thanh y, Dao quần trắng.Hai là, dân tộc chỉ cộng đồng người ổn định hợp thành nhân dân mộtnước, có lãnh thổ, quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung và có ýthức về sự thống nhất quốc gia của mình, gắn bó với nhau bởi lợi ích chínhtrị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung trong suốtquá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước Ví dụ như: dân tộc ViệtNam, dân tộc Trung Hoa, dân tộc Đức

Trang 5

Với nghĩa này, dân tộc là toàn bộ nhân dân của quốc gia đó – quốc gia dântộc; dân cư của dân tộc này được phân biệt với dân cư của dân tộc khác bởi yếu

tố quốc tịch Do đó, một tộc người có thể có ở những quốc gia dân tộc khácnhau theo sự di cư của tộc người đó Ví dụ: trong kết cấu dân cư của dân tộcViệt Nam và dân tộc Trung Hoa đều có tộc người H’Mông và tộc người Dao

* Những đặc trưng cơ bản của dân tộc:

Dân tộc là một khối cộng đồng người ổn định được hình thành trong lịch

sử, dựa trên cơ sở cộng đồng về ngôn ngữ, lãnh thổ, kinh tế và tâm lý, biểuhiện trong cộng đồng văn hóa Dân tộc là sản phẩm của quá trình vận độngphát triển của xã hội loài người từ thị tộc, bộ lạc, bộ tộc, dân tộc Dân tộc cónhững đặc trưng chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, dân tộc là một cộng đồng về ngôn ngữ.

Ngôn, ngữ là công cụ giao tiếp xã hội, trước hết là công cụ giao tiếptrong cộng đồng (thị tộc, bộ lạc, bộ tộc, dân tộc) Các thành viên của một dântộc có thể dùng nhiều ngôn ngữ trong giao tiếp với nhau Có một số ngôn ngữđược nhiều dân tộc sử dụng Điều quan trọng là mỗi dân tộc có một ngôn ngữchung thông nhất mà các thành viên của dân tộc coi đó là tiếng mẹ đẻ của họ.Tính thống nhất trong ngôn ngữ dân tộc thể hiện trước hết ở sự thống nhất vềcấu trúc ngữ pháp và kho từ vựng cơ bản Ngôn ngữ của một dân tộc thể hiệnđặc trưng chủ yếu của dân tộc đó

Thứ hai, dân tộc là một cộng đồng về lãnh thổ.

Mỗi dân tộc có lãnh thổ riêng thống nhất, không bị chia cắt Lãnh thổ dântộc bao gồm cả vùng đất, vùng trời, vùng biển, hải đảo thuộc chủ quyền củaquốc gia dân tộc Trong trường hợp quốc gia có nhiều dân tộc, lãnh thổ quốcgia gồm lãnh thổ của các dân tộc thuộc quốc gia ấy hợp thành Phạm vi lãnhthổ dân tộc hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài Chủ quyền quốc gia dântộc về lãnh thổ là một khái niệm xác định, thường được thể chế hóa thành luậtpháp quốc gia và luật pháp quốc tế Thực tế lịch sử có những trường hợp bị

Trang 6

chia cắt tạm thời, nhưng không thể căn cứ vào đó mà cho rằng cộng đồng ấy đã

bị chia thành hai hay nhiều dân tộc khác nhau Đương nhiên sự chia cắt đó làmột thử thách đối với tính bền vững của một cộng đồng dân tộc

Cộng đồng lãnh thổ là đặc trưng quan trọng không thể thiếu được củadân tộc Lãnh thổ là địa bàn sinh tồn và phát triển của dân tộc, không có lãnhthổ thì không có khái niệm tổ quốc, quốc gia

Thứ ba, dân tộc là một cộng đồng về kinh tế.

Từ các cộng đồng người nguyên thủy chuyển sang bộ tộc, yếu tố liên kếtcộng đồng dựa trên quan hệ huyết thống dần dần bị suy giảm, vai trò của nhântố” kinh tế – xã hội ngày càng tăng Đây là nhu cầu hoàn toàn khách quantrong đời sống xã hội Những mối liên hệ kinh tế làm tăng tính thống nhất, ổnđịnh, bền vững của cộng đồng người sống trong một lãnh thổ rộng lớn.Những mối liên hệ kinh tế thường xuyên và mạnh mẽ đặc biệt là mối liên hệthị trường đã làm tăng tính thông nhất, tính ổn định, bền vững của cộng đồngngười đông đảo sống trong lãnh thổ rộng lớn

Thứ tư, dân tộc là một cộng đồng về văn hóa, tâm lý, tính cách…

Văn hóa là yếu tố đặc biệt quan trọng của sự liên kết cộng đồng Văn hóadân tộc mang nhiều sắc thái của các địa phương, các sắc tộc, các tập đoànngười song nó vẫn là một nền văn hóa thông nhất không bị chia cắt Tínhthống nhất trong đa dạng là đặc trưng của văn hóa dân tộc Văn hóa dân tộchình thành trong quá trình lâu dài của lịch sử, hơn bất cứ yếu tố’ nào khác, tạo

ra sắc thái riêng đa dạng, phong phú của từng dân tộc Mỗi dân tộc có mộtnền văn hóa riêng để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác Văn hóa của mỗidân tộc không thể phát triển, nếu không giao lưu văn hóa với các dân tộckhác Mỗi dân tộc có tâm lý, tính cách riêng Để nhận biết tâm lý, tính cáchcủa mỗi dân tộc phải thông qua sinh hoạt vật chất, sinh hoạt tinh thần của dântộc ấy, đặc biệt thông qua phong tục, tập quán, tín ngưỡng, đời sống văn hóa

Trang 7

Nghiên cứu vấn đề dân tộc hiện nay có vai trò to lớn đối với sự phát triểncủa con người, của mỗi quốc gia dân tộc Dân tộc không chỉ là sản phẩm của

sự phát triển kinh tế, văn hóa xã hội mà còn là động lực của sự phát triển củamỗi quốc gia trong thời đại ngày nay, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lênchủ nghĩa xã hội Hợp tác và hội nhập là xu thế khách quan đối với mỗi quốcgia dân tộc trên thế giới, song không vì thế mà làm mất đi bản sắc với nhữngđặc trưng phong phú của dân tộc mình Với ý nghĩa đó, việc quán triệt quanđiểm của Đảng ta về xây dựng mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc trên thếgiới và giữ gìn bản sắc của các dân tộc hiện nay là vấn đề đặt ra hết sức cầnthiết đối với mỗi dân tộc

1.2 Đặc điểm dân tộc Việt Nam

Các dân tộc có quy mô dân số khác nhau, sống xen kẽ nhau

Nước ta là cộng đồng chính trị - xã hội thống nhất của 54 dân tộc anh em.Căn cứ vào dân số của từng dân tộc thì dân tộc đa số ở nước ta là dân tộc Kinh,còn lại là dân tộc thiểu số Theo số liệu tổng điều tra dân số năm 2019 thì dân tộcKinh gồm 65,7 triệu người, chiếm 86,2% dân số, còn dân số của 53 dân tộc cònlại là 10,5 triệu người,chiếm tỷ lệ 13,8% dân số của cả nước Mỗi dân tộc thiểu

số ở nước ta ngoài tên gọi chính thức còn có những tên gọi khác

Các dân tộc thiểu số ở nước ta có quy mô dân số không đồng đều và cư trúxen kẽ nhau, không có dân tộc nào ở vùng lãnh thổ riêng Có những dân tộc códân số trên một triệu người, như dân tộc: Tày, Thái, Mường, Khmer; nhưng lại

có những dân tộcdân số rất ít, đặc biệt là 5 dân tộc có dân số dưới 1.000 người:

Si La (840), PuPéo (705), Rơ Măm (352), Brâu (313) và Ơ đu (301) [3, tr.5]

Các dân tộc ở nước ta có truyền thống đoàn kết gắn bó lâu đời, trên cơ

sở địa vị pháp lý bình đẳng giữa các dân tộc, tạo nên một cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất

Trong lịch sử hình thành và phát triển cộng đồng dân tộc ở nước ta, cónhững dân tộc bản địa, hình thành và phát triển trên lãnh thổ Việt Nam từ ban

Trang 8

đầu, nhưng cũng có nhiều dân tộc di cư đến rồi định cư ở nước ta, trở thànhmột bộ phận không thể tách rời trong cộng đồng dân tộc Việt Nam Qua lịch

sử dựng nước và đấu tranh giữ nước, các dân tộc đã hình thành khối đoàn kếtanh em, gắn bó keo sơn với nhau trong chinh phục thiên nhiên, chống giặcngoại xâm, xây dựng đất nước, tạo lên một quốc gia dân tộc thống nhất, bềnvững Truyền thống đoàn kết các dân tộc ngày càng được củng cố, phát triển

và được Đảng ta xác định là nhân tố quan trọng nhất quyết định mọi thắng lợicủa sự nghiệp cách mạng Việt Nam

Trong kết cấu dân tộc ở nước ta, dân tộc Kinh là dân tộc đa số, chiếm tỷ

lệ lớn nhất trong dân cư cả nước, có trình độ phát triển cao hơn, có vai trò làlực lượng đoà nkết, hỗ trợ các dân tộc anh em cùng phát triển, củng cố vàphát triển cộng đồng dân tộc Việt Nam Mối quan hệ gắn bó giữa các dân tộc

ở nước ta được đặt trên cơ sở bền vững của quan điểm các dân tộc bình đẳng

về địa vị pháp lý, không có tình trạng dân tộc đa số cưỡng bức, đồng hoá,thôn tính các dân tộc thiểu số, do đó cũng không có tình trạng dân tộc ít ngườichống lại dân tộc đa số

Phần lớn các dân tộc thiểu số ở nước ta cư trú trên địa bàn rộng lớn, ở khu vực miền núi, biên giới có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng và môi trường sinh thái

Các dân tộc thiểu số sinh sống chủ yếu ở miền núi, với địa bàn rộng lớnchiếm 3/4 diện tích cả nước, bao gồm 21 tỉnh miền núi, vùng cao, 23 tỉnh cómiền núi; 7 tỉnh có tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc, 10 tỉnh có tuyếnbiên giới đất liền Việt Nam - Lào, 10 tỉnh có tuyến biên giới Việt Nam –Campuchia [3, tr.6] Do đó, có thể khẳng định địa bàn cư trú tập trung củacác dân tộc thiểu số là những địa bàn có vị trí quan trọng về an ninh quốcphòng của đất nước Đồng thời, đây cũng là những địa bàn có nguồn tàinguyên đất, rừng, khoáng sản… giàu có, nhiều tiềm năng để phát triển kinh

Trang 9

tế Một số địa bàn tụ cư của đồng bào dân tộc thiểu số là đầu nguồn các dòngsông lớn, giữ vai trò đặc biệt quan trọng về cân bằng sinh thái.

Do đặc điểm nói trên nên chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước tađược xây dựng không chỉ vì lợi ích của các dân tộc thiểu số mà còn vì lợi íchchung của quốc gia và luôn tính tới các yếu tố về chính trị, an ninh, quốcphòng, kinh tế, văn hoá, xã hội, môi trường

Trình độ phát triển kinh tế - xã hội của các dân tộc thiểu số không đồng đều

Do rất nhiều nguyên nhân khác nhau, nhất là những nguyên nhân lịch sử

để lại và do điều kiện địa lý, tự nhiên khắc nghiệt ở địa bàn cư trú của đồngbào dân tộc thiểu số , nên trình độ phát triển kinh tế - xã hội của các dân tộckhông đồng đều Một số dân tộc đã phát triển kinh tế - xã hội tương đối cao,nhưng nhiều dân tộc vẫn còn trong tình trạng lạc hậu, chậm phát triển

Phần lớn các dân tộc thiểu số có mức sống thấp, tỷ lệ đói nghèo cao,chậm phát triển hơn so với dân tộc đa số Một số dân tộc vẫn còn trong tìnhtrạng tự cung tự cấp, du canh du cư, đời sống còn bị ảnh hưởng nặng nề bởicác phong tục tập quán lạc hậu

Do đặc điểm này nên việc khắc phục tình trạng phát triển không đồngđều về kinh tế - xã hội giữa các dân tộc là một trong những mục tiêu trọngtâm nhất của chính sách dân tộc ở nước ta

Mỗi dân tộc có bản sắc văn hoá riêng, tạo nên sự phong phú của nền văn hoá Việt Nam

Mỗi dân tộc, mặc dù có sự khác nhau về quy mô dân số, về trình độ pháttriển kinh tế - xã hội, nhưng đều có bản sắc văn hoá truyền thống riêng (tiếngnói, chữ viết, văn học, nghệ thuật, kiến trúc, trang phục, phong tục, tậpquán…), với nhiều giá trị tốt đẹp Do đó, nền văn hoá Việt Nam, với sự hợpthành của 54 bản sắc văn hoá dân tộc, vừa có tính đa dạng, vừa có tính thốngnhất Do đặc điểm này nên việc bảo tồn và phát triển bản sắc văn hoá của từng

Trang 10

dân tộc nhằm xây dựng nền văn hoá chung đậm đà bản sắc dân tộc của cộngđồng các dân tộc Việt Nam là vấn đề được Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm.

1.3 Nội dung chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam

Chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh chính là nền tảng lýluận cơ bản để Đảng Cộng sản Việt Nam xây dựng và thực hiện chính sáchdân tộc Vấn đề dân tộc cũng được xem như vấn đề có vị trí chiến lược Trongsuốt quá trình cách mạng Việt Nam, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về

chính sách dân tộc là nhất quán, theo nguyên tắc: Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ nhau cùng phát triển Đây vừa là nguyên tắc, vừa là mục

tiêu chính sách dân tộc của Đảng và nhà nước ta nhằm khai thác mọi tiềmnăng và thế mạnh của các dân tộc và của cả đất nước, từng bước khắc phục vàxóa bỏ khoảng cách chênh lệch vùng miền, xóa đói giảm nghèo, thực hiện sựnghiệp “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”

Bình đẳng giữa các dân tộc là một nguyên tắc cơ bản có ý nghĩa quan

trọng hàng đầu của chính sách dân tộc về quyền của các dân tộc thiểu số Cácdân tộc không phân biệt đa số hay thiểu số, trình độ phát triển cao hay thấpđều ngang nhau về quyền lợi và nghĩa vụ trong mọi lĩnh vực hoạt động cuảđời sống xã hội và được bảo đảm bằng Hiến pháp và pháp luật Quyền bìnhđẳng giữa các dân tộc, trước hết là quyền bình đẳng về chính trị, chống mọibiểu hiện chia rẽ kỳ thị dân tộc, dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan, tự ty dântộc,… Quyền bình đẳng về kinh tế, đảm bảo sự bình đẳng trong quan hệ lợiích giữa các dân tộc Nhà nước có trách nhiệm giúp các dân tộc có kinh tếchậm phát triển để cùng đạt được trình độ phát triển chung với các dân tộckhác trong cả nước Bình đẳng về văn hoá, xã hội bảo đảm cho việc giữ gìn

và phát huy bản sắc văn hoá của các dân tộc, làm phong phú và đa dạng nềnvăn hoá Việt Nam thống nhất

Do phần lớn các dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay có trình độ phát triểnthấp, vì vậy bên cạnh việc bảo đảm quyền bình đẳng toàn diện về chính trị, kinh

Trang 11

tế, văn hoá, xã hội cần phải tạo mọi điều kiện thuận lợi để đồng bào các dân tộcthiểu số có cơ hội phát triển bình đẳng với các dân tộc khác Sự quan tâm tươngtrợ, giúp đỡ nhau cùng phát triển, đó chính là biểu hiện quyền bình đẳng giữacác dân tộc đặc trưng nhất ở Việt Nam.

Đoàn kết giữa các dân tộc: các dân tộc Việt Nam đã cùng chung sống

lâu đời bên nhau, gắn bó máu thịt với nhau, no đói có nhau, vinh nhục cùngnhau, đồng cam cộng khổ, sống chết một lòng sát cánh cùng nhau dựng nước

và giữ nước Truyền thống đoàn kết đó được gìn giữ và phát triển trong suốttiến trình hàng ngàn năm lịch sử, gắn kết các dân tộc chung sức xây dựng tổquốc Việt Nam thống nhất

Kế thừa truyền thống đoàn kết quý báu của dân tộc, Đảng và Nhà nước

ta đã xác định đoàn kết dân tộc là một nguyên tắc cơ bản trong chính sách dântộc xuyên suốt quá trình cách mạng Việt Nam Ngày nay, dưới sự lãnh đạocủa Đảng, các dân tộc đang phát huy truyền thống đoàn kết tốt đẹp, cùng nhauxây dựng đất nước với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dânchủ văn minh và tiến bộ Tất cả các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam đềuphải có trách nhiệm chăm lo, vun đắp, củng cố, tăng cường khối đại đoàn kếtdân tộc theo lời dạy của Bác Hồ kính yêu:

“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết

Thành công, thành công, đại thành công”

Tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc để cùng phát triển là một

tất yếu khách quan trong một quốc gia đa dân tộc Do lịch sử để lại, hiện naygiữa các dân tộc ở nước ta vẫn còn đang tồn tại tình trạng phát triển khôngđồng đều Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đã coi tương trợ nhau cùng phát triển

là một nguyên tắc quan trọng của chính sách dân tộc trong thời kỳ quá độ tiếnlên chủ nghĩa xã hội

Các dân tộc có trình độ phát triển kinh tế – xã hội cao hơn phải có tráchnhiệm giúp đỡ các dân tộc có điều kiện phát triển khó khăn hơn Tương trợ

Trang 12

lẫn nhau không phải chỉ là giúp đỡ một chiều, ngược lại chính sự phát triểncủa dân tộc này là điều kiện để cho các dân tộc khác ngày càng phát triển hơn.Giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển thể hiện trên tất cả các lĩnh vực: chínhtrị, kinh tế, văn hoá, xã hội Tương trợ, giúp nhau để không ngừng nâng caođời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc, nhằm thực hiện đầy

đủ quyền bình đẳng và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc

Chính sách dân tộc của Đảng đã được thể chế bằng Hiến pháp, luật pháp

và bằng các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước Hiến pháp nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã ghi: “Nhà nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinhsống trên đất nước Việt Nam Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoànkết tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dântộc Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc vàphát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp củamình Nhà nước thực hiện chính sách phát triển mọi mặt, từng bước nâng caođời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số ” [7, Điều 5].Quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Hiến pháp, các bộ luật, luật như Bộ LuậtDân sự, Luật Hôn nhân gia đình, Luật Giáo dục, Luật Bảo vệ sức khoẻ nhândân,… đều thể hiện rõ quyền bình đẳng của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam.Đồng thời với việc thể chế bằng Hiến pháp và pháp luật, chính sách dântộc của Đảng và Nhà nước được cụ thể hoá trong chiến lược, kế hoạch pháttriển kinh tế – xã hội, trong các chương trình, dự án đầu tư phát triển chovùng dân tộc và miền núi, trong các chính sách, các quy định cụ thể ở tất cảcác lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội,… đối với đồng bào dân tộc thiểu số

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA Ở TỈNH BÌNH PHƯỚC HIỆN NAY 2.1 Những thuận lợi

Trang 13

Bình Phước là một tỉnh miền núi thuộc miền Đông Nam bộ, có diện tích tựnhiên là 6.871,543 km2; phía Đông giáp tỉnh Bình Dương và tỉnh Đồng Nai;phía Bắc giáp tỉnh Đăk Nông và tỉnh Lâm Đồng; phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh và

có đường biên giới dài 260,433 km với Vương quốc Campuchia; có 11 huyện,thị xã, thành phố với 111 xã, phường, thị trấn, trong đó có 15 xã biên giới

Hiện nay, toàn tỉnh có 58 xã, phường, thị trấn thuộc ba khu vực III, II, Ivùng dân tộc thiểu số và miền núi; có 46 thôn ấp đặc biệt khó khăn (trong đó

có 21 thôn thuộc 5 xã đặc biệt khó khăn) Theo số liệu chính thức của cuộcđiều tra 53 dân tộc thiểu số (dân tộc thiểu số) vào thời điểm 01/4/2019, toàntỉnh có 41 thành phần dân tộc thiểu số với số lượng nhân khẩu là 195.635người, chiếm 19,67% dân số cả tỉnh Trong tổng số 195.635 người dân tộcthiểu số, nam giới là 96.295 người chiếm 49,2% và nữ giới là 99.340 ngườichiếm 50,8% (tỷ lệ nam giới thấp hơn nữ giới – so với tỷ lệ của dân số toàntỉnh nam 50,42% và nữ 49,58%) [10]

Với vị trí chiến lược về quốc phòng - an ninh và bảo vệ môi trường sinhthái, tỉnh Bình Phước có nhiều tiềm năng lớn về tài nguyên đất đai để trồngcây công nghiệp, lâm nghiệp, cây dược liệu; phát triển nông nghiệp ứng dụngcông nghệ cao gắn với chế biến, chăn nuôi đại gia súc, phát triển thuỷ điện,khai thác khoáng sản và phát triển du lịch Đồng bào các dân tộc thiểu sốtrong tỉnh có truyền thống cách mạng, đoàn kết một lòng, giúp đỡ lẫn nhau;tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước; mỗi dân tộc đều

có bề dày truyền thống văn hóa đặc sắc riêng, tạo nên sự phong phú, đa dạngbản sắc văn hóa các dân tộc Việt Nam nói chung, tỉnh Bình Phước nói riêng.Trong thời gian qua, được sự quan tâm của các cấp ủy Đảng và chínhquyền địa phương, công tác dân tộc ngày càng được đẩy mạnh quan tâm Đờisống đời sống vật chất lẫn tinh thần người đồng bào dân tộc thiểu số trên địabàn tỉnh ngày một nâng cao Qua đó, đã góp phần quan trọng vào công cuộcxậy dựng, phát triển kinh tế xã hội địa phương, đảm bảo anh ninh quốc phòng,

Ngày đăng: 01/07/2022, 19:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w