Ngoài ra, có những bài nghiên cứu dẫn nhập rất chi tiết lý thuyết về chủ thuyết phụ nữ, văn học nữ quyền, hoặc cũng đang trong quá trình tìm tòi như : Lí luận phụ nữ: Từ Simone de Beauvo
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
- -
NGUYỄN THỊ HỒNG GIANG
VỀ MỘT ĐẶC ĐIỂM TƯ DUY THƠ NỮ GẦN ĐÂY:
Ý THỨC PHÁI TÍNH
(Qua Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Vi Thùy Linh)
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Hà Nội - 2009
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
- -
NGUYỄN THỊ HỒNG GIANG
VỀ MỘT ĐẶC ĐIỂM TƯ DUY THƠ NỮ GẦN ĐÂY:
Ý THỨC PHÁI TÍNH
(Qua Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Vi Thùy Linh)
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 34 LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS NGUYỄN BÁ THÀNH
Hà Nội - 2009
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài ……… 3
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề ……… 5
3 Đối tượng, phạm vi và nhiệm vụ ……… 12
4 Phương pháp nghiên cứu ………13
5 Đóng góp của Luận văn ……… 14
6 Cấu trúc Luận văn ……….…… 14
NỘI DUNG Chương 1: Giới thuyết về phái tính và ý thức phái tính 1.1 Phái tính, ý thức phái tính và sự vận động của nó.……… 15
1.1.1 Những quan niệm có tính truyền thống về phái tính ……….……… 15
1.1.2 Sự nổi dậy của ý thức phái tính ……… ……… 18
1.1.3 Ý thức mới về phái tính ……… ……… …22
1.2 Sự xác lập ý thức phái tính trong văn viết - nữ Việt Nam ……… ….23
1.2.1 Cảm quan thân phận người nữ trong ca dao ………24
1.2.2 Cảm quan tính dục trong thơ Hồ Xuân Hương.………25
1.2.3 Thời kỳ bừng nở của thứ “văn tự phụ nữ” – sơ khởi ……… 27
1.2.4 Tính cổ điển của thơ nữ giai đoạn 1975 – 1986 ……… ……… 29
1.3 Ý thức phái tính như một đặc điểm tư duy thơ nữ gần đây ………… …………31
1.3.1 Những điều kiện văn hóa, xã hội ……….…….31
1.3.2 Ý thức phái tính - một đặc điểm tư duy thơ nữ …….……… ….32
Chương 2: Bản thể - nữ và những khát vọng giải phóng (Thể hiện qua cái Tôi trữ tình) 2.1 Sự phô bày cái Tôi thân xác hay là khát vọng giải phóng tính dục ……… … 38
2.1.1 Tình dục theo quan điểm truyền thống như là quyền lực của đàn ông……….……….…… 38
Trang 42.1.2 Cái Tôi thân xác
- phương thức thể hiện khát vọng giải phóng tính dục ………… 41
2.2 Sự tô đậm cái Tôi tính nữ hay là cuộc trở về của những tính nữ vĩnh cửu…… 50
2.2.1 Người nữ - Thiên sứ muôn thuở của tình yêu ……….…… 50
2.2.2 Ước vọng làm Mẹ, một khát khao thiên bẩm ……….54
2.2.3 Khát vọng sáng tạo ……….……….….….58
2.3 Những dấu hiệu của một cái Tôi công dân - nữ ……… …….63
2.3.1 Trực cảm trong những ưu tư về giải pháp kết nối xã hội ………… 65
2.3.2 Kín đáo trong sự giễu nhại xã hội … ……….……….… 68
2.3.3 Thiền trong khát vọng giải phóng và trong cuộc kiếm tìm bản thể……70
Chương 3: Hệ biểu tượng và ngôn ngữ thi ca đặc trưng 3.1 Hệ biểu tượng ……….… ….… 75
3.1.1 Đất như là mẫu tính ……… ……….….… … 77
3.1.2 Nước như là nữ tính ……… … … 79
3.1.3 Đêm như là bản tính……… ………… 82
3.1.4 Sự phá vỡ mẫu gốc trong một số biểu tượng về tình ái ……… …… 84
3.2 Ngôn ngữ ……… 86
3.2.1 Ẩn dụ thân thể và động từ phồn sinh – lớp ngôn từ bộc lộ phái tính ……… … 86
3.2.2 “Nữ hóa” hình ảnh như là cách thức mở rộng ngôn từ mang bản tính nữ……….……… 88
3.2.3 Những biểu hiện của phong cách ngôn ngữ……… ………… ……….90
KẾT LUẬN ……… … 96 THƯ MỤC THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Năm 1986 là một mốc đánh dấu nhiều sự chuyển biến của văn học Việt Nam Trong khuynh hướng “Đổi mới” nói chung của văn học, có một xu thế vận động hình thành ngày càng rõ nét ở văn thơ nữ, đó là ý thức về giới nữ Bắt đầu từ văn xuôi, những tác phẩm của Phạm Thị Hoài, Dương Thu Hương, Võ Thị Hảo, Lê Thị Huệ, Y Ban… cất lên tiếng nói nữ quyền mạnh mẽ, quyết liệt Như một sự tiếp nối dòng mạch
ấy, ở thể loại thơ ca, khoảng 10 năm gần đây, thơ nữ Việt Nam bùng nổ nhiều hiện tượng, nhiều khuôn mặt tiếp tục dồn sức phá vỡ hệ thẩm mỹ truyền thống, buộc người đọc phải tiếp nhận với thái độ và lối tư duy khác, tiêu biểu như Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Vi Thùy Linh
Từ những năm 1999, 2000, sau hai tập thơ Khát và Linh, Vi Thùy Linh trở
thành một cơn lốc thơ với những dòng cảm xúc cháy bỏng, táo bạo khiến nhiều người ngay lập tức “dị ứng” Có ý kiến cho rằng thơ Linh “dày đặc những ngôn từ to tát, những huyễn hoặc, kính động” [21] Có ý kiến lại nghi ngờ “Sex làm nên thương hiệu
Vi Thùy Linh ?” để lật lại những lời ngợi ca, kiểu như “Vi Thùy Linh là một biểu tượng giải phóng phụ nữ trong thơ” và cho rằng thơ Linh “chỉ là một thứ triết lý tình
ái vớ vẩn” [11] Tiếp đó, Phan Huyền Thư là gương mặt được bàn luận xôn xao với
những tập Nằm nghiêng, Rỗng ngực Phan Huyền Thư được nhiều nhà nghiên cứu phê
bình ghi nhận nỗ lực cách tân thơ [10],[13], nhưng cũng có lời cảnh báo gióng giả: thơ
Phan Huyền Thư “báo động về tính thẩm mỹ” [24] Năm 2005, tập Lô Lô của Ly
Hoàng Ly ghi điểm trên thi đàn với sự phá cách về nghệ thuật Trong lúc những luồng đón nhận trái chiều về thơ Vi Thùy Linh và Phan Huyền Thư chưa ngã ngũ thì đầu
năm 2006, nhóm Ngựa trời, với tập Dự báo phi thời tiết, lại gây ra sự phản ứng mạnh
mẽ khi trực tiếp “chạm mạch” với hệ thẩm mỹ truyền thống ngay ở lối mô phỏng tượng dương vật ngoài bìa thơ Có nhận định cho rằng tập thơ ấy “mang dáng dấp bán
thành phẩm đầy rẫy nhục cảm” Cũng trong năm này, Thời hôm nay, khoái cảm và điên rồ hợp lý của Nguyễn Thúy Hằng là một bộ ba tập gồm thơ và tạp văn khá nổi
cộm Nhiều người coi tác phẩm là một sự đổi mới, cắt đuôi với cái truyền thống Bên
Trang 6cạnh đó, có những ý kiến phủ nhận giá trị văn chương của tác phẩm, coi đấy chỉ là
“một đám hỗn độn” và quanh quẩn với những chuyện “kinh nguyệt không đồng đều” [65]…
Những hiện tượng ấy cho thấy thơ nữ những năm gần đây đem lại cho thơ ca Việt Nam nhiều khuôn diện mới nhưng chưa được đánh giá đúng mức, từ góc độ là những người sáng tạo nữ Ý thức về phái tính như là một cá tính sáng tạo của các nhà thơ nữ đã không được nhiều nhà phê bình thấu hiểu Vì thế, những lời phê phán đều tập trung vào chuyện sex, chuyện quẩn quanh giới tính… Do đó, cần một sự nghiên cứu những đóng góp của thơ nữ hiện nay, trên phương diện ý thức về phái tính Từ điểm nhìn này, chúng ta mới thấy được những giá trị riêng, những sáng tạo riêng của thơ nữ
1.2 Đã có những nghiên cứu nhỏ lẻ về phái tính trong văn thơ nữ Việt Nam đương đại nhưng đang tồn tại nhiều cách hiểu chưa đầy đủ hoặc thiên lệch Người hiểu thiên lệch thì đồng nhất (có lẽ, một cách vô thức) phái tính là nữ tính, là thiên tính nữ, người nhìn hẹp hơn thì có sự nhầm lẫn căn bản rằng phái tính là dục tính… Vì thế, dẫu đứng trên lập trường về phái tính, vẫn có sự đánh giá không chính xác Không hiểu về phái tính, độc giả dễ dàng ngộ nhận lối viết của tác giả là hoàn toàn bản năng,
là một lối viết tự động dựa vào cảm xúc thuần túy Phải thấy rằng, khi cái nhìn về thân phận, về vai trò, vị trí của người phụ nữ trở thành cái ám ảnh các nhà thơ nữ khi họ sáng tạo, thậm chí trở thành đối tượng sáng tạo thì ý thức phái tính là một đặc điểm của tư duy thơ nữ Nó chi phối những biểu hiện của cái Tôi trữ tình và sự tạo lập giá trị nghệ thuật Không phải bắt chước lối viết của nam giới, các tác giả nữ sáng tạo với
tư duy về bản tính nữ của mình Luận văn này muốn đem lại cái nhìn chân thực về một đặc điểm của tư duy thơ nữ đương đại: ý thức phái tính
1.3 Từ lâu, phê bình nữ quyền (feminist criticism) trên thế giới phát triển mạnh thì ở Việt Nam, cho đến nay, nó không hình thành một trào lưu phê bình nào sâu rộng Riêng với thơ nữ, những nghiên cứu thuộc lĩnh vực này còn vắng bóng Từ việc khẳng định “nữ quyền trong văn chương nữ Việt Nam chưa mạnh” [87] đến việc tìm tòi “thơ
nữ trong hành trình cắt đuôi hậu tố nữ” [44] đã bỏ rơi thơ nữ với những đặc trưng cốt tủy nhất của mình Chúng ta cần tránh lối phê bình áp đặt một cách máy móc chủ
Trang 7nghĩa nữ quyền vào văn học, khi chủ định của người sáng tạo không chỉ dừng lại ở đó, cũng như cần tránh sự nóng vội để tìm kiếm sự “phá giới” trong sáng tác của người
nữ Tất cả những thái cực như vậy đều để sót một bản thể có thật trong thơ nữ và một đóng góp nghệ thuật mang bản tính nữ Chúng tôi cho rằng cách gọi “chủ nghĩa phụ nữ”1 sẽ thích hợp hơn trong việc ứng dụng nó vào nghiên cứu thơ nữ Việt Nam hiện nay Nhìn thơ nữ như chính họ, đấy là tâm thế tiếp nhận mà Luận văn muốn khơi dậy
ở độc giả Thơ nữ cần những độc giả nữ thực sự để có sự đồng cảm, tri ân với sáng tạo của nhà thơ
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Các công trình nghiên cứu về phái tính
Lịch sử nghiên cứu về vấn đề phái tính của lý luận phê bình văn học Việt Nam
có thể chia làm ba giai đoạn: 1 - từ những năm đầu thế kỷ XX đến năm 1998, 2 – từ
1999 đến 2005, 3 – từ 2006 đến nay
2.1.1 Ở giai đoạn thứ nhất, theo nhiều tài liệu nghiên cứu mới đây, ý thức phái tính được đánh thức bởi chính các “nữ sĩ tiên phong cổ xúy phong trào nữ quyền qua hoạt động báo chí và văn học” như Hằng Phương, Sương Nguyệt Anh, Phan Thị Bạch Vân [50] Tuy nhiên, những bài viết có tính chất tìm hiểu mối quan hệ giữa văn học
với phụ nữ chỉ bắt đầu xuất hiện từ những năm 29, 30, trên tờ Phụ nữ tân văn, khi
Phan Khôi mở chuyên mục “Văn học với nữ tánh” Đấy là lần đầu tiên trong lịch sử nước nhà, phụ nữ trở thành trung tâm của cuộc bàn luận văn chương Phan Khôi khẳng định phải có một nền văn học của nữ giới, tuy nhiên khẳng định của ông mới dừng lại ở cấp độ định đoán: “Theo trình độ tiến hóa của loài người ngày nay, thì về phe phụ nữ ta cũng phải có một nền văn học Bởi vì trải xem cái tình thế trong các nước hiện thời, loài người đã gần đến ngày bình đẳng rồi, bên nam bên nữ cũng đều gánh vác công việc với xã hội như nhau, thì sự học vấn tri thức, có lẽ đâu chỉ để riêng cho đờn ông mà thôi hay sao?” [46] Theo Phan Khôi, viết văn cũng là một thiên chức của đàn
1 Trong Lí luận phụ nữ: Từ Simone de Beauvoir đến Judith Butler, Đặng Phùng Quân đã gợi dẫn khái niệm này
bằng cách trích lá thư nêu quan điểm viết “không phân biệt tuổi tác, phái giống” của Robbe Grillet, tiếp đó bàn đến hạn chế “cả về mặt nội hàm và ngoại diên” của khái niệm Féminisme/Feminism “Một phân định rõ rệt giữa phái/giống trong nhiều lý luận hiện đại và sự phát triển của nhiều tư tưởng phụ nữ phản ánh những yêu cầu và tri thức khác nhau như tư trào xã hội, mác-xít, triệt để, hậu hiện đại v.v Những xu hướng tư tưởng khác biệt
này không giới hạn trong vấn đề nữ quyền, nên gọi chung là chủ nghĩa phụ nữ (Alice Walker tác giả quyển tiểu
Trang 8bà, vì đàn bà “có nhiều tư cách rất là thích hiệp với văn học” như “tánh trầm tĩnh, nhẫn nại”, hơn nữa, “văn học chuyên trọng về đường tình cảm” mà đàn bà “là giống có tình cảm nhiều hơn đờn ông” [47] Ông nhấn mạnh sự khác biệt giữa hai khái niệm “nữ tánh” “nghĩa nó là giống đàn bà (sexe féminin)” với “cái tánh của đàn bà” (caractère de femmes) [48] Sự phân biệt ấy giống như sự phân biệt giữa khái niệm “phái tính” và
“nữ tính” sau này Có thể nói, những bài viết của ông mở ra một giả thuyết văn học thú
vị và có sức khai phá Tuy nhiên, qua cách đặt tiêu đề bài viết: Về văn học của phụ nữ Việt Nam, Văn học với nữ tánh, Lại nói về vấn đề văn học với nữ tánh… chúng ta
thấy với Phan Khôi: phụ nữ, nữ tánh đứng ở vế sau của văn học, nó mới chi phối văn chương chứ chưa phải là chủ thể sáng tạo văn chương
Năm 1988, trong Tổng quan văn học miền Nam, Võ Phiến nhận ra sự xuất hiện
và lấn át của văn học nữ miền Nam giai đoạn 1954 - 1975 với chất giọng đặc thù Lần đầu tiên, ông sử dụng khái niệm “phái tính” để chỉ sự khác biệt của các cây bút nữ Đến giai đoạn này phụ nữ không còn đứng ở vế sau của văn học nữa mà họ đã xuất
hiện với tư cách là những chủ thể đông đảo trong sáng tạo văn chương “Đứng về phương diện phái tính, văn học Miền Nam thời kỳ 54-75 càng ngày càng nghiêng về
nữ phái Thoạt đầu trên văn đàn nghe tiếng ồm ồm, cuối cùng nghe ra eo éo” [61]
Theo Võ Phiến, các nhà văn nữ thời 1954-1975 ở miền Nam đều hơi ồn, Nguyễn Thị Hoàng “ồn trong cái yêu”, Nhã Ca thì khởi xướng một trường phái “bù lu bù loa”, giọng nói ấy “sau này thành ra là một đặc trưng của giới nữ thời đại: cái giọng sôi nổi, nhiệt liệt, cực đoan” Thực ra, ngay trong nhận định này của Võ Phiến đã chứa đựng thành kiến về phái tính Hiển nhiên, cái giọng như vậy cũng có trong tác phẩm của nam giới Vì thế, đến Võ Phiến, vấn đề phái tính trong văn học nữ vẫn chưa được xác định rõ Sau đó 10 năm, bài Suy nghĩ về đặc điểm của nữ văn sĩ [54] của Phương Lựu
hướng sự chú ý về phái tính ở khía cạnh bản thể sáng tạo – nữ giới Theo Phương
Lựu, diện sống “không được sâu rộng” của nữ giới quy định “mầu sắc tự truyện” và
đề tài chủ yếu của họ là tình yêu Quan điểm này tìm ra được nét khái quát nhất của văn học nữ đương thời nhưng tự thân nó không có được tính khu biệt rõ ràng
2.1.2 Giai đoạn thứ hai bùng nổ từ giữa năm 1999, nhiều chuyên đề liên quan đến phái tính trong văn học có sức lan tỏa rất nhanh trên văn đàn, nhất là ở ngoài nước Do có sự tiếp xúc với chủ thuyết nữ quyền, dòng văn học hải ngoại có bước đột
Trang 9phá rất ngoạn mục trong việc nghiên cứu về phái tính Những chuyên đề như Tình yêu, tình dục và phái tính trong văn học , Tình yêu tình dục của Tạp chí Việt, chuyên
đề Văn học nữ quyền, chuyên đề Giới tính trên trang DaMau.org… liên tiếp mở ra nhiều khám phá
Năm 2000, chuyên đề Tình yêu, tình dục và phái tính trong văn học đi đầu và
cũng là chuyên đề tập trung hơn cả về phái tính Với bài Phụ nữ và văn chương [45],
Châm Khanh vừa đặt lại vấn đề của Phan Khôi nhưng lần này, phụ nữ được đưa lên vị trí hàng đầu, vừa tiếp tục triển khai nhận định của Võ Phiến, rằng trong văn học có sự xuất hiện ngày càng đông của tác giả nữ Tác giả tỏ ra ngần ngại trước một vấn đề quan trọng: Cách viết của phụ nữ so với nam giới có gì khác? Sự cá biệt lớn nhất thực
chất là vấn đề nữ quyền Hoàng Ngọc Tuấn viết Dục tính trong văn chương và vấn đề đạo đức [78], Nguyễn Hoàng Đức viết Dục tính: Chân móng hay đỉnh tháp của văn chương ? [34], Nguyễn Hữu Lê với Tình dục trong văn học Việt Nam dưới cách nhìn của đạo lý hồn nhiên và của đạo lý học thuyết [51], Đỗ Minh Tuấn với Thúy Kiều và khát vọng giải sex đều đề cập đến cuộc giải phóng phụ nữ, giải phóng tình dục Đàn
bà có quyền phát biểu khát vọng dục tính của mình Thậm chí, có những nhà văn nữ
đã xây dựng những tiểu thuyết trong đó đàn bà sử dụng đàn ông như công cụ phục vụ dục tính Hoàng Ngọc Tuấn chỉ ra thái độ trả thù phái tính ấy chỉ là hệ quả của tinh thần phản kháng bồng bột thời kỳ đầu, về sau, các nhà văn nữ càng ngày càng tỏ ra sáng suốt và bình tĩnh hơn trước vấn đề giải phóng ý thức phụ nữ khỏi những ràng buộc phái tính và dục tính để suy nghĩ đến những ý nghĩa rất bình thường trong cuộc sống: những ý nghĩa về bản thân, hạnh phúc, gia đình, phái tính, trách nhiệm, tình yêu, chiến tranh, tự do, đạo đức Đấy mới là mảnh đất màu mỡ bộc lộ phái tính
Những bài viết có tính dẫn nhập lý thuyết còn chỉ ra sự khu biệt nam – nữ về
ngôn ngữ Trong Văn tự và phái tính [28], Tú Ân dẫn giải giả thuyết về sự xuất hiện
văn tự của bác sĩ Leonard Shlain: Theo Leonard Shlain, nam tính đã trở thành một đặc trưng của xã hội kể từ ngày một phần đông dân số học đọc và học viết Chữ viết vốn gắn liền với tư duy phân tích và tư duy phân tích lại gắn liền với bán cầu bên trái của não bộ Trong khi đó nữ tính lại gắn liền với bán cầu bên phải Bán cầu bên phải phối hợp cảm xúc, ghi nhận hình ảnh và thưởng thức âm nhạc Vì thế, tục thờ nữ thần, các giá trị mang nữ tính và quyền lực của phụ nữ nảy nở tương ứng với sự tràn ngập của
Trang 10các hình ảnh Tục thờ nam thần, các giá trị nam tính cũng như chế độ phụ hệ nổi lên
cùng lúc với chữ viết Coi chữ viết chủ yếu là sản phẩm của nam giới là sự thừa nhận
của hầu hết các tác giả khi dẫn lại những nghiên cứu về ngôn ngữ học và văn hóa học phương Tây Phan Việt Thủy dẫn ra sự kỳ thị phái tính trong ngôn ngữ: “ngôn ngữ mà chúng ta hiện đang sử dụng, với tư cách là một hệ thống (linguistic system) cũng như với tư cách là một hoạt động (linguistic performance), chủ yếu là sản phẩm của nam giới, trong một xã hội phụ quyền, phản ánh những giá trị và những chuẩn mực văn
hoá của đàn ông” [75] Trong bài viết Chuyện hiếp dâm và vấn đề phái tính trong văn học Việt Nam, Nguyễn Hưng Quốc có sự phân tích rất sắc sảo khi biến một vấn đề của dục tính, chuyện hiếp dâm, trở thành một vấn đề của phái tính, với nghĩa kép: chuyện giải phóng tình dục: hiếp dâm hay là thông dâm ?; chuyện giải phóng ngôn ngữ: ngôn ngữ phái tính hay là ngôn ngữ bị xuyên tạc ? Ông cho rằng “trong văn học, hiếp dâm không được mô tả như một tội phạm Nó chỉ đơn thuần là một sự kiện, một thứ tai nạn, hay có khi, lạ lùng hơn, một thứ "may mắn" đối với nạn nhân Rõ ràng đây là một cách nhìn đầy kỳ thị về phái tính… Một cách vô ý thức, cái đọc của phụ nữ cũng bị nam hoá đi: họ đọc như là những người đàn ông đọc, cho nên không nhận ra cả những cách nhìn đầy bất công trong đó chính mình là nạn nhân Do đó, cái chúng ta thiếu
không phải chỉ là những tác giả nữ mà là những người đọc nữ” [63] Như vậy, sáng tạo của người viết nữ là phải biết giải phóng mình ra khỏi ràng buộc của sự kỳ thị phái tính trong ngôn ngữ Đọc họ, chúng ta phải có những tiêu chí đánh giá mới, thoát khỏi sự chi phối của hệ thống ngôn ngữ phụ quyền
Ngoài ra, có những bài nghiên cứu dẫn nhập rất chi tiết lý thuyết về chủ thuyết
phụ nữ, văn học nữ quyền, hoặc cũng đang trong quá trình tìm tòi như : Lí luận phụ nữ: Từ Simone de Beauvoir đến Judith Butler của Đặng Phùng Quân, Nữ quyền luận của Nguyễn Hưng Quốc, Dày dày đúc sẵn một tòa…văn chương của Đinh Từ Bích Thúy, Tiếng cười của nàng Medusa của Mary Klages…Với tính chất khơi mở, những
nghiên cứu ấy góp phần gợi hướng tìm hiểu ý thức phái tính nhưng chưa chủ định nghiên cứu cụ thể vấn đề phái tính trong văn thơ nữ Việt Nam
2.1.3 Từ năm 2006, trong nước, những nghiên cứu về phái tính trong văn học
nữ ngày một nhiều Có ba khuynh hướng chính : khuynh hướng thứ nhất nghiên cứu văn học nữ thiên về dục tính/sex, khuynh hướng thứ hai nghiên cứu văn học nữ thiên
Trang 11về nữ tính/thiên tính nữ, khuynh hướng thứ ba nghiên cứu văn học nữ trên bình diện văn học nữ quyền
Ở khuynh hướng thứ nhất, năm 2006, sau sự ra đời hàng loạt tác phẩm gây shock trên văn đàn, trên các báo, các trang mạng lập tức xuất hiện nhiều bài viết về
sex trong văn học nói chung và trong văn học nữ nói riêng Trang Vietnamnet mở cả một chuyên đề về Sex trong văn học Nói là chuyên đề nhưng thực ra các cây bút góp
mặt lại viết khá tản mản bằng những quan điểm chủ quan và không có sự phân tích một cách chi tiết, cụ thể Đối tượng chủ yếu mà các tác giả hướng tới là sex trong văn
học nữ Những bài như : Tính dục trong văn học hôm nay, Dục tính và những ranh giới mong manh (Nguyễn Huy Thiệp), Văn học sex : chấp nhận để tìm cách đổi khác ? (Vương Trí Nhàn), Lịch sử - văn hóa và sex trong văn chương (Nguyễn Hòa), Tính dục đơn thuần chỉ ở cấp thấp (Lê Đạt), Các cây bút nữ giữa trào lưu sex (Tâm Huyền), Tình dục trong văn chương đương đại : Chuyện không có gì mà ầm ĩ thế (Võ Thị Hảo), Sex trong văn học trẻ thoái trào (Phương Quyên) Hầu hết, sex được nhìn
như một ‘ngoại động từ’, một hành động bên ngoài để ‘khiêu dâm’, đánh giá về sex trong văn học hoàn toàn dựa vào quan điểm đạo đức (tất nhiên là nền đạo đức truyền thống bị chi phối bởi nam giới) Có người nhìn sex như một ‘ngoại động từ’ mà xét đoán cao trào hay thoái trào của nó Nhưng sex trong văn học là một ‘nội động từ’, là một phương diện thuộc về phái tính, vì thế nó không có cao trào hay thoái trào Chưa nâng được vấn đề sex trong văn học nữ thành vấn đề phái tính, mặt khác chỉ nhìn các cây bút nữ đương đại với góc độ sex, đó chính là khuynh hướng có khả năng đánh đồng phái tính là dục tính
Ở khuynh hướng thứ hai, các bài nổi bật nhất là : Vấn đề phái tính và âm
hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam đương đại của Nguyễn Đăng Điệp [32], Mỹ học tính dục và cuộc phiêu lưu giải phóng thiên tính nữ trong văn học nghệ thuật của Tuấn Anh [26] Nguyễn Đăng Điệp ‘bị’ hoán trộn một cách xô lệch về đối tượng phản ánh, đặt ra vấn đề phái tính, vấn đề văn học nữ nhưng tác giả lại giải quyết bằng văn học viết về người nữ (số phận người phụ nữ và vai trò của họ), thậm chí khái niệm
‘văn học nữ tính’ – nếu có ý chỉ ‘văn học nữ’ thì đó hoàn toàn là một sự nhầm lẫn Còn tác giả Tuấn Anh lại ‘cả tin’ khi nghĩ biểu tượng của thiên tính nữ - theo cách tác giả đã dẫn – là hoàn toàn tính nữ Tiếp tục đi sâu vào luận điểm dựa trên thiên tính nữ
Trang 12của Phương Lựu, Nguyễn Hoàng Đức đúc rút ra đặc tính ngòi bút của các tác giả nữ:
“a- Đề tài chủ yếu là tình yêu b- Trung tâm của tình yêu là cái tôi c- Nền tảng của cái
tôi là trực cảm” [35] Những công trình nghiên cứu rất công phu trong nhà trường, có
chủ ý viết về phái tính trong thơ nữ thì hướng khai thác vẫn có phần đi lệch : Tư duy thơ nữ sau 1975 của Hoàng Thùy Linh [52] nhắc đến ‘chất nữ tính phong phú và mạnh mẽ’ trong những khoảng suy tư của tâm hồn người phụ nữ, trong đề tài tình yêu,
trong đề tài gia đình, Phái tính trong thơ nữ Việt Nam sau 1975 của Nguyễn Ngọc
Thùy Anh [27] khai thác vào những biểu hiện có khuynh hướng đồng nhất phái tính với ‘nữ tính’, ‘mẫu tính’, ‘cá tính’, ‘dục tính’ Còn đa phần khai thác vấn đề trong văn học nữ là viết về hình ảnh người phụ nữ Thừa nhận những nỗ lực của họ trong việc giới thiệu, chuyển tải khái niệm phái tính - một khái niệm mà so với văn học ta bây giờ vẫn còn là mới, nhưng chúng tôi cũng phải thẳng thắn chỉ ra rằng trong khi họ phân tích, khái niệm phái tính bỗng chuyển thành khái niệm nữ tính, hay thiên tính nữ
Khuynh hướng thứ ba nổi lên trong thời gian gần đây, khi chủ nghĩa nữ quyền được nhắc đến nhiều hơn ở Việt Nam Bài viết trên của Nguyễn Đăng Điệp thực ra muốn mở rộng cánh cửa chào đón những nghiên cứu về phái tính và về văn học nữ quyền Theo tác giả, văn học đương đại Việt Nam hiện nay mới chỉ có âm hưởng nữ
quyền và nó thể hiện trên bốn phương diện : ngôn ngữ quyết liệt không kém gì nam giới ; công khai xét lại lịch sử và các điển phạm nghệ thuật bằng cái nhìn riêng của cá nhân và giới nữ ; công khai bày tỏ thái độ chống lại sự lệ thuộc vào thế giới đàn ông
và dám xông vào các đề tài cấm kị, nhất là đề tài tình dục ; tuy quyết liệt nhưng hơi
ấm nữ tính vẫn được ‘bảo lưu một cách vô thức’ [32] Đưa ra bốn phương diện có vẻ
sát với thơ nữ, nhưng cách kéo chúng lại với âm hưởng nữ quyền lại mang cái nhìn của nam giới Nếu như Nguyễn Đăng Điệp nhấn mạnh đến ‘hơi ấm nữ tính’ như một
ưu điểm thì Inrasara lại đòi hỏi sự vượt thoát điểm cố hữu đó Thơ nữ trong hành trình
cắt đuôi hậu tố nữ [44] là bài viết gợi nên ý tưởng về sự giải phóng khỏi giới và sự bó
buộc về ngôn ngữ của người viết nữ, Dấu hiệu nữ quyền trong văn nữ Việt Nam của Bùi Thị Thủy có hơi hướng là sự tiếp bước lối đi của Nguyễn Đăng Điệp, Phê bình văn học nữ quyền của Lý Lan mang lại cái nhìn lịch sử về các trào lưu phê bình văn học nữ quyền thế giới Ở đây, vẫn thiếu một cái nhìn hệ thống và tường giải, những nghiên cứu về văn học nữ quyền Việt Nam mới chỉ bước đầu
Trang 132.2 Những bài phê bình về Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Vi Thùy Linh
Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Vi Thùy Linh là ba tác giả tiêu biểu của văn học nữ đương đại Dư luận thì nhiều nhưng điểm lại, các bài nghiên cứu, phê bình dày
dặn về họ lại ít Về Vi Thùy Linh, có những bài : "Sex" làm nên "thương hiệu" Vi Linh (Lê Thị Huệ), Hiện tượng Vi Thùy Linh (Nguyễn Huy Thiệp), Thơ Vi Thuỳ Linh, một khát vọng trẻ (Nguyễn Thụy Kha), Vi Thuỳ Linh, nhục cảm sáng tạo (Thuỵ Khuê), Tin yêu và hy vọng (Vũ Mão), Vi Thuỳ Linh: cơn lốc khát, cuồng yêu (Vũ Nho), Linh ơi ! (Nguyễn Thanh Sơn), Vi Thùy Linh và một kiểu tư duy về lời (Trần Thiện Khanh)…
Về Phan Huyền Thư, có những bài: Tập thơ mới của Phan Huyền Thư, thêm một bước cách tân (Nguyễn Thuỵ Kha), Phan Huyền Thư, cây huyền cầm đau vùng sao sáng (Văn Cầm Hải), Lao động và nỗi buồn trong tập thơ Nằm nghiêng của Phan Huyền Thư (Đào Duy Hiệp), Nằm nghiêng - Báo động về tính thẩm mỹ của một tập thơ (Chu Thị Thơm)… Về Ly Hoàng Ly, có: Những ấn tượng rap và sắp đặt trên hai màu đen trắng (Nguyễn Thuỵ Kha), Ly Hoàng Ly và bóng đêm (Thuỵ Khuê)… Ở những bài
viết này, các tác giả nhận ra gam màu chủ đạo, cung bậc chủ đạo, cá tính sáng tạo của mỗi nhà thơ song ý thức phái tính chưa được phát hiện như là một cá tính sáng tạo
Tóm lại, nghiên cứu về phái tính trong văn học nói chung và trong thơ nữ hiện nay dừng ở mức đấy là những kết luận có tính khái quát: bước đầu nhận diện được một số khía cạnh của nội dung nữ quyền trong văn học, và sự thể hiện phái tính trong ngôn ngữ, hình ảnh Sự chi tiết hoá về phái tính trong văn thơ nữ đòi hỏi phải tiếp tục
đi sâu nghiên cứu những biểu hiện cụ thể để xác lập được một hệ thống biểu đạt phái tính
3 Đối tượng, phạm vi và nhiệm vụ
3.1 Trong luận văn, chúng tôi tập trung nghiên cứu ý thức phái tính với chức năng là một đặc điểm của tư duy thơ nữ gần đây Khi xác định đối tượng nghiên cứu như vậy, chúng tôi nỗ lực phân biệt vấn đề ý thức phái tính với vấn đề tình dục trong thơ nữ, vấn đề nữ quyền… Đấy sẽ là đối tượng của những nghiên cứu chuyên biệt khác, bởi chúng thể hiện ý thức phái tính, là một phần của ý thức phái tính chứ không phải là toàn bộ ý thức phái tính Vì thế, đối với những vấn đề rất dễ gây nhầm lẫn là trùng khớp với ý thức phái tính đó, nghiên cứu của chúng tôi chỉ đề cập ở góc độ
Trang 14chúng phục vụ cho việc thể hiện ý thức phái tính như thế nào Ý thức phái tính – một đặc điểm của tư duy thơ nữ gần đây là vấn đề có thể khảo sát trên diện rộng tác phẩm thơ nữ từ sau 1986 Tuy nhiên, do giới hạn khuôn khổ luận văn, để có sự tập trung cho các luận điểm và phần nào là nghiên cứu phong cách tác giả, chúng tôi giới hạn phạm
vi nghiên cứu chính ở thi phẩm của ba tác giả: Phan Huyền Thư với Nằm nghiêng, Rỗng ngực, Ly Hoàng Ly với Cỏ trắng, Lô lô, Vi Thuỳ Linh với Khát, Linh, Đồng Tử, Vili in love
Cần phải nói thêm rằng nghiên cứu về phái tính trong văn thơ nữ Việt Nam còn
ít nên nguồn sách về nó là hiếm Những tác phẩm nghiên cứu có trong danh mục tham khảo chủ yếu là công trình có tính triết học, lý luận, xã hội Để tập hợp ý kiến đây đó
về vấn đề này, người viết sử dụng những bài được đăng tải trên các website uy tín như
là một cách tổng thuật khách quan về thực trạng nghiên cứu vấn đề Các luận điểm được triển khai trong những chương chính đều cố gắng phản ánh chân thực văn bản thơ thuộc phạm vi nói trên
3.2 Về nhiệm vụ, thứ nhất, bằng việc tổng hợp tư liệu, chúng tôi tái hiện lại khái niệm phái tính và sự vận động của ý thức phái tính trong tiến trình lịch sử, trên những phương diện chính là văn hóa, xã hội, triết học, văn học Từ đó, bước đầu phác thảo những nét cơ bản của tiến trình phát triển ý thức phái tính trong văn thơ nữ Việt Nam Thứ hai, chúng tôi lựa chọn những tác giả tiêu biểu gần đây để phân tích ý thức phái tính là vấn đề luôn trăn trở trong khi họ sáng tạo Nó chi phối những đặc điểm của cái Tôi trữ tình và sự hình thành biểu tượng, ngôn từ đặc trưng Qua đó, khẳng định những đóng góp riêng biệt của thơ nữ đương đại Các nhà thơ nữ đang cố gắng xác lập một thứ mỹ học riêng của nữ giới
Elaine Showalter, nhà phê bình nữ quyền luận có nói : “Nữ phê bình gia có nhiệm vụ xác lập cái khung lý thuyết và mỹ học riêng để phân tích các tác phẩm văn học của phụ nữ, để phát triển những mô hình phê bình dựa trên kinh nghiệm riêng của phụ nữ hơn là chỉ tiếp nhận những mô hình và lý thuyết do nam giới dựng nên” [64] Không cần phải là “nữ phê bình gia” nhưng đặt mình vào vị thế là người đọc nữ, người viết đã nghiên cứu vấn đề Ý thức phái tính - một đặc điểm tư duy thơ nữ gần đây với tâm niệm ấy Dù ranh giới giữa nữ quyền luận, giới tính học (gender studies),
Trang 15lý thuyết về sự lệch pha (hay đồng tính) và diễn ngôn thiểu số (minority discourse) là rất mờ nhạt, nhưng người viết cho rằng nghiên cứu khoa học phải tìm ra được những
hệ thống luận điểm tương đối ổn định của từng vấn đề Và có lúc, luận điểm đưa ra có
vẻ võ đoán thì võ đoán cũng là cần thiết để phiêu lưu trong một vấn đề rất căn bản như vậy của cá tính sáng tạo
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp lịch sử: chúng tôi nghiên cứu vấn đề phái tính như là một vấn
đề xã hội có tính lịch sử được đặt ra ở Việt Nam từ thế kỷ XX
4.2 Phương pháp hệ thống: được sử dụng trong việc hệ thống hóa những quan điểm về phái tính, sự vận động của ý thức phái tính và các biểu hiện của ý thức phái tính trong tư duy thơ nữ gần đây
4.3 Phương pháp phân tích - tổng hợp: được sử dụng trong quá trình phân tích những đăc điểm mang màu sắc phái tính của cái Tôi trữ tình và các biểu tượng, ngôn ngữ thi ca đặc trưng, tổng hợp kết quả phân tích và khẳng định đóng góp riêng của thơ
nữ
4.4 Phương pháp so sánh, đối chiếu: được sử dụng trong quá trình so sánh một
số vấn đề của thơ nữ với thơ của các nhà thơ nam giới, so sánh giữa thơ nữ với thơ nữ
Sự so sánh kết hợp giữa các chiều đồng đại và lịch đại
4.5 Phương pháp thống kê: được sử dụng trong việc thống kê các số liệu và những vấn đề ngôn ngữ cụ thể
5 Đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần tìm hiểu những giá trị riêng của thơ nữ đương đại thông qua việc đi sâu nghiên cứu một đặc điểm tư duy thơ nữ: ý thức phái tính Kết quả của Luận văn hy vọng khơi dậy ở độc giả sự đồng cảm khi tiếp nhận thơ nữ đương đại
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Thư mục tham khảo, Phụ lục, Nội dung Luận văn được triển khai theo 3 chương:
Chương 1: Giới thuyết về phái tính và Ý thức phái tính
Chương 2: Bản thể - nữ và những khát vọng giải phóng
Trang 16(Thể hiện qua Cái Tôi trữ tình) Chương 3: Hệ biểu tượng và ngôn ngữ thi ca đặc trưng
Trang 17
NỘI DUNG
Chương 1: GIỚI THUYẾT VỀ PHÁI TÍNH VÀ Ý THỨC PHÁI TÍNH
1.1 Phái tính, ý thức phái tính và sự vận động của nó
Phái tính không phải là một khái niệm mới nhưng chính nỗ lực của nó trong
việc tổng hợp các thuật ngữ chỉ giống, phái khiến nó có phần mới lạ về nghĩa Ý niệm
về phái tính hẳn nhiên đã hình thành kể từ khi loài người biết phân biệt đàn ông/đàn
bà, và còn luôn hiện hữu mỗi khi người ta muốn so sánh những điểm khác biệt giữa
hai phái này Trong từ điển tiếng Việt, từ điển Hán Việt và các từ điển ngoại ngữ cũng
không có một thuật ngữ với hàm nghĩa khái quát như thế Tuy nhiên, nó đã hiện hữu
đến cũ, cổ trong Kinh Thánh và trong đời sống Công giáo Để hiểu phái tính, chúng
tôi tổng hợp một hệ thuật ngữ quy chiếu nó Phái tính là sự tổng hòa nghĩa của những
từ “giống”, “phái”, “giới tính” mang lại Phái tính = gender (phái) + sex (giống, giới,
giới tính) = the male sex (phái nam) + masculinity (bản tính nam/tính nam) / the fair
sex (phái nữ) + feminity (bản tính nữ/tính nữ) Phái tính chỉ sự liên kết giữa giới và
những bản tính đặc trưng cho từng phái riêng biệt Nó được nhận diện không ngừng
trong đời sống cũng như trong khoa học, từ tôn giáo, triết học, nhân chủng học, tâm lý
học, xã hội học… đến văn học Ý thức về phái tính trở thành một nội dung quan trọng
trong đời sống của thế giới hiện đại, kể từ nửa cuối thế kỷ XIX
1.1.1 Những quan niệm có tính truyền thống về phái tính
• Phụ nữ là kẻ phái sinh
Trong Kinh Thánh, đàn bà được sinh ra từ xương sườn đàn ông, “cái mà
Bossuet gọi là xương thừa của ông Adam” [25, 321], trở thành kẻ phái sinh, kẻ phụ tá
trong cuộc đời của đàn ông Khi đối diện với đàn ông, đàn bà được gọi là đàn bà chứ
không được gọi là con người Điều đó chứa đựng một quan niệm đàn bà là thứ cấp, tự
nó không hoàn chỉnh Aristotle cho rằng đàn bà chỉ là vật chất (matière), phát triển
một cách hỗn loạn, bừa bãi, nếu không có đàn ông, nhờ những hạt giống của họ, đem
đến cho các vật chất này hình thái và mặt mũi “Aristotle nói : Giống cái (female) là
giống cái do sự thiếu thốn các đặc tính nào đó; chúng ta nên xem bản tính giống cái
Trang 18như bị đau buồn vì sự khiếm khuyết tự nhiên” Và thánh Thomas về phần mình đã tuyên bố phụ nữ là một “người đàn ông không hoàn chỉnh”, một sinh vật “phụ”” [25, 321]
Chính vì là kẻ phụ tá nên đàn bà luôn ở thế lệ thuộc, phục tùng đàn ông Các tôn giáo tập trung vào sự thờ phụng Chúa có hình tượng đàn ông (male God) làm cho tâm trạng và hành động của phụ nữ bị giữ lại trong trạng thái lệ thuộc vào đàn ông, đồng thời hợp thức hóa uy quyền chính trị và xã hội người cha và con trai trong các thể chế xã hội Mặc dù những quan điểm cho rằng đã có những xã hội mẫu quyền là khá phổ biến nhưng nhiều nghiên cứu mới về văn hóa của Lévi-Strauss, R.Lowie hay Francoise Héritier đều khẳng định thực tế, trên thế giới chưa bao giờ có xã hội mẫu quyền “Trong các xã hội tôn thờ sự sinh nở, đàn bà không nắm quyền lực và trong các xã hội mẫu hệ, anh em trai của các bà mẹ áp đặt quyền thống trị [41] Ở phương Đông, đạo Khổng khoác lên cổ người phụ nữ ba cái tròng và bó buộc chân tay họ bằng bốn sợi dây: tam tòng tứ đức Sự phân biệt đối xử với phụ nữ không khác mấy so với sự phân biệt chủng tộc (Xem thêm Phụ lục: Bảng 1)
Sự phân biệt đối xử còn thể hiện ở một hình thức cao hơn, là ngôn ngữ Ngôn ngữ chỉ phụ nữ phái sinh ngay trên bề mặt, kết cấu ngôn ngữ chỉ nam giới Nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng hệ thống văn hóa phương tây có tính trọng dương vật (phallogocentric) Nền văn hóa ấy được cấu trúc qua những cặp đối lập như nam/nữ, trật tự/hỗn loạn, ngôn ngữ/im lặng, hiện diện/vắng mặt, nói/viết, sáng/tối mà những từ như nam, trật tự, ngôn ngữ, hiện diện là cấu trúc cơ bản của tư tưởng tây phương Theo Francoise Héritier, từ thời nguyên thuỷ, con người luôn luôn tìm tòi ý nghĩa của
sự phân biệt không thể tránh được mà họ quan sát nơi tất cả các bầy thú và người: sự hiện hữu của hai giới tính, con đực và con cái Từ mô hình đực/cái, con người đã sáng tạo ra hàng trăm loại từ thông thường như trên/dưới, nóng/lạnh, thụ động/hoạt động đến trừu tượng như hợp pháp/bất hợp pháp, thuần lý/phi lý, lành mạnh/nguy hại v.v… Trong mọi trường hợp, những giá trị đực lúc nào cũng được đánh giá cao, những giá trị cái lúc nào cũng bị đánh giá thấp Tại châu Âu, chẳng hạn, sự hoạt động là một giá trị đực và sự thụ động là một giá trị cái, chính giá trị đực - hoạt động - được đánh giá cao vì nó được liên hợp với sự làm chủ thế giới, và chi phối các sự việc Trong xã hội
Trang 19Ấn Độ và Trung Hoa, ngược lại sự thụ động được liên hợp với đực và sự hoạt động với cái Nhưng mặc dù với sự đảo ngược này, đực đã được đánh giá cao: sự thụ động của đàn ông được liên hợp với sự làm chủ chính mình, làm chủ các xúc động và các ham muốn, trong khi đó, sự hoạt động của đàn bà được xem như một sự náo động bừa bãi, lộn xộn [41] Ở phương Đông cũng có thực tế lịch sử của hệ thống văn hóa như vậy, đó là văn hóa âm – dương, đàn ông là dương, đàn bà là âm, những cặp từ như mặt trời/mặt trăng, ngày/đêm, nóng/lạnh, lửa/nước, chủ động/bị động… Chính cái cấu trúc ngôn ngữ đối xứng ấy cũng là kết quả của tư duy thống trị bởi nam giới Phái tính của người phụ nữ bị đè bẹp ngay trong ngôn ngữ, thậm chí, còn bị xuyên tạc rất nhiều
• Tính nữ được quy định bởi đặc điểm giống phái
Đâu là cơ sở của tính nữ? Những nghiên cứu khoa học về giống phái khiến cho người ta hy vọng hay tin tưởng có một “bản sắc nữ vĩnh cửu” Vì với họ, “phụ nữ vẫn
là phụ nữ” Điều này ám chỉ những đặc điểm sinh học bất di bất dịch của phụ nữ và một giới tính được định hướng bởi nền văn hóa Theo John J Macionis, giống phái ám chỉ sự phân chia con người thành những nhóm sinh học gồm nam và nữ Khi sinh ra,
phái nữ và phái nam phân biệt bằng đặc điểm giống phái sơ cấp - cơ quan sinh dục,
dùng để sinh sản giống người Ở tuổi dậy thì, đầu độ tuổi thanh thiếu niên, khi con người có khả năng sinh sản, sự phân biệt sinh học nhiều hơn nữa diễn ra dưới dạng
đặc điểm giống phái thứ cấp - đặc điểm cơ thể khác biệt của phái nam và phái nữ
không liên kết trực tiếp với sinh sản [55] Giới tính ám chỉ đặc điểm liên kết bằng văn hoá với mỗi phái Trong một xã hội, phái nam được xã hội hoá thành nam tính, trong khi phái nữ được dạy bảo thành nữ tính Giới tính là sự khác nhau mà phái tạo ra trong một xã hội, định hướng chúng ta nên nghĩ về mình như thế nào, cách chúng ta tương tác với người khác ra sao, và chúng ta đang đảm nhận vị trí nào trong hệ thống bất công xã hội (Xem Phụ lục: Bảng 2) Sự định hướng giới tính như thế này, rõ ràng, làm cho cả hai phái mất tự do trong việc điều khiển ý nghĩ, hành động, thậm chí là cả cảm xúc của mình Và nhất là, sự quy định này càng gắn chặt người nữ trong vị thế kẻ thứ yếu
• Mỹ học về phụ nữ nhiều khi là hình thức của sự khổ hạnh
Trang 20Từ xưa đến nay, quan niệm về cái đẹp ở người phụ nữ có phải do phụ nữ lựa chọn không? Thực tế cho thấy trong nền văn hóa phụ quyền, ngay cả việc tạo lập một
mỹ học về chính bản thân phái nữ, nữ giới cũng không thể hiện được phái tính của mình Cái đẹp về thể xác của họ bị quy định bởi quan niệm của nam giới Ở Nhật Bản, cái gáy dài của một người đàn bà, dưới những sợi tóc mai đen thẫm, vươn ra từ cổ áo kimono từng là một hình ảnh vừa thanh thoát, vừa cực kỳ gợi cảm cho đàn ông Thời Phục Hưng ở Tây Âu, những bức vẽ nữ thần Venus cho thấy người phương Tây thích phụ nữ có làn da mịn hồng, dáng vóc nở nang, cái eo hơi thon và cặp vú nhỏ, đầy đặn
Có dân tộc ở châu Phi thích kiểu vú mướp, cổ dài, miệng to, trễ… Người Trung Hoa chuộng những phụ nữ mảnh mai nên có tục sùng bái chân nhỏ với những ngón chân bị
ép quặp như "đóa hoa sen" Không chỉ lệ thuộc nam giới trong quan niệm về cái đẹp thể xác, nữ giới còn phải tuân thủ cả những quan niệm về vẻ đẹp tâm hồn “Công, Dung, Ngôn, Hạnh”, giữ vẹn toàn chữ “Trinh” là phẩm tính tốt đẹp nhất của người phụ nữ theo quan điểm Nho giáo Ngay cả ở phương Tây, quyền sở hữu tình dục cũng không đặt ra với giới tính nữ Đức mẹ đồng trinh trở thành biểu tượng của tâm hồn trinh trắng Phụ nữ Hồi giáo phải che mạng, một số dân tộc châu Phi có hủ tục cắt mồng đóc, giống như tục bó chân của người Hán trước đây Tất cả những nét thẩm mỹ
ấy giống như hình thức của sự khổ hạnh, nếu không muốn nói đấy là cực hình, là sự lệ thuộc tột cùng của người phụ nữ Họ không hạnh phúc khi là một người phụ nữ với tất
cả những cái đẹp đó2
1.1.2 Sự nổi dậy của ý thức phái tính
Sự nổi dậy của ý thức phái tính gắn liền với chủ nghĩa nữ quyền (Féminisme, Feminism) Tuy vậy, chúng không phải là một cặp sinh đôi Bởi theo cái nghĩa sát thực nhất, ý thức phái tính phải là ý thức về những gì gắn bó nhất với mỗi phái về mặt
2 Ví dụ: bằng lối viết giản dị trong giọng tâm tình của thể thơ 6 chữ, bài Anh đừng khen em của Lâm Thị Mỹ Dạ
đã làm một cuộc phản kháng nhỏ với sự áp đặt thẩm mỹ này Chúng ta có thể hiểu thêm sự áp đặt thẩm mỹ ở cả ngoại hình (cái nhìn đẹp, má hồng) lẫn tính cách (nhạy cảm thông, hiền, dịu dàng, giàu cảm xúc) dưới hình thức lời khen Mỗi lời khen, lần khen tạo nên một sự kích ứng lặng lẽ Để rồi, bi kịch âm thầm trong những lần gặp
“anh” bùng phát thành nỗi sợ hãi và một lời cầu khiến khẩn thiết:
… Em sợ lời khen của anh
Như sợ đêm về trời tối…
… Anh ơi anh đừng khen em
Trang 21bản thể Người phụ nữ không chỉ tranh đấu cho nữ quyền, cái mà họ hướng đạt nhất là bản thể của mình, bản thể được sống với tất cả sự tự do giới tính Hai biểu hiện cơ bản nhất của ý thức phái tính - nữ chính là ý thức về bản thể - nữ và ý thức về diễn ngôn của phái nữ
• Ý thức về bản thể - nữ
Người ta không phải bẩm sinh là đàn bà, mà trở thành đàn bà (On ne nait pas femme, on le devient) Lời khẳng định bất hủ của Simone de Beauvoir trong tác phẩm
le Deuxième Sexe (Giới thứ hai) làm nghiêng ngả thành trì của bản thể luận cho rằng
“phụ nữ sinh ra đã là phụ nữ” Nó chỉ ra sự khu biệt giữa hữu và sinh thành, hiện thể
và chuyển biến, giống (sex) và phái (gender) Cái chữ “trở thành” (devient) ngụ rất nhiều ý nghĩa, trong cách hướng vận động của nó “Trở thành” vừa là kết quả của quá trình bị giáo huấn, vừa là kết quả của quá trình tự định hướng Bởi trong bản thể là phụ nữ, khi đi sâu vào những lĩnh vực thần thoại, sử học, sinh lý học, xã hội học và
tâm lý học, bà nhận ra người phụ nữ dưới một cái nhìn mới, những khu biệt thuộc về trật tự văn hóa , không phải tự nhiên: “Đàn bà đơn giản là cái gì mà đàn ông ban bố; vì
vậy đàn bà được gọi là “giống”, nghĩa là chủ yếu xuất hiện đối với đàn ông như một giống (cái) Đối với y, bà là giống - tuyệt đối là giống, không hơn không kém Bà được xác định và khu biệt khi đối chiếu với đàn ông, không phải đàn ông đem đối chiếu với bà; bà là một ngẫu nhiên, phi yếu tính đối lập với yếu tính Y là Chủ thể, là Tuyệt đối - còn bà là Tha thể” [25] Bà cho rằng những sự khác biệt sâu sắc của hoàn cảnh phụ nữ như trải nghiệm hiện tượng thai nghén, cho con bú và kinh nguyệt không thể nào trực tiếp làm cho phụ nữ trở thành lệ thuộc vào đàn ông, vì sinh lý và lịch sử không chỉ đơn giản là những "sự kiện" của một người quan sát không định kiến mà luôn được đặt vào và được giải thích từ một hoàn cảnh, nghĩa là có sự tham gia của
yếu tố văn hóa Ý thức phái tính của Beauvoir bộc lộ sự siêu việt và có hơi hướng siêu giới tính ở chỗ bà nhận ra trong quá trình trở thành đó có vai trò của cả sự "tha hóa"
của phụ nữ Giữ vững tư tưởng hiện sinh trong sự tự do tuyệt đối của mỗi cá thể tồn
tại không phân biệt giới tính, Beauvoir cho rằng không phải phụ nữ luôn luôn vô tội
trong sự phụ thuộc của họ Bởi phụ nữ hoàn toàn có tự do trong sự dự phóng để đi đến những khả thể của phái tính, dù mạo hiểm và chênh vênh Để giải phóng phụ nữ, bà
Trang 22vẫn luôn giữ vững quan niệm hiện sinh chủ nghĩa cho rằng, mỗi cá nhân, không phân biệt giới tính, giai cấp, lứa tuổi, cần được khuyến khích để họ tự xác định cho mình và nhận lấy trách nhiệm cá nhân đến với sự tự do
Sau này, quan điểm của Simone de Beauvoir tiếp tục được nhiều người phụ nữ triển khai như Monique Wittig, Judith Butler Trong một tiểu luận năm 1986, Judith Butler đưa ra một đề cương triệt để về vai trò thể xác khi lý giải những quy tắc của phái tính: “Khi phát biểu người ta không phải sinh ra, nhưng trở thành người đàn bà không hàm ngụ là sự “trở thành” này phải kinh qua chặng đường từ tự do giải thể (disembodied freedom) đến hiện thân văn hóa Điều đó có nghĩa là khởi từ thể xác rồi sau đó mới trở thành phái tính Vận động từ giống đến phái ở nội tại trong đời sống hiện thân, nghĩa là đi từ loại hiện thể này qua lại hiện thể khác Sống hay kinh nghiệm của giống đã hàm ngụ là có phái tính rồi” [62]
• Ý thức về diễn ngôn của phái nữ
Các nhà nữ quyền “thuộc thế hệ thứ ba” cho rằng vấn đề giới tính thực chất là vấn đề thể hiện (representation), một hệ thống biểu trưng hay hệ thống ý nghĩa nối liền các giống với những nội dung văn hóa tương ứng với những giá trị và những đẳng cấp xã hội tương ứng Barbara Johnson cho rằng “vấn đề giới tính thực chất là vấn đề ngôn ngữ” [64] “Chúng ta trưng vưu vật ra”, đó là tuyên bố của Hélène Cixous trong
bài viết Nụ cười của Méduse (Le rire de la méduse) [62] Sexts = sex + texts hàm ý
phụ nữ hiện hữu về mặt tình dục cũng như về mặt văn bản Thể xác là một bản văn
qua sự phản ánh của ngôn ngữ Văn tự phụ nữ (écriture féminine) là một diễn ngôn
của giới nữ, trước đây đã bị ức chế, biểu hiện sai lạc trong triết học, ngữ học và phân tâm học trong những diễn từ của tư tưởng và văn hóa nam giới chi phối Ngay những tiêu chuẩn về tính khách quan, lý tính, phổ quát tính cũng loại trừ tính nữ, hoặc có nói đến cũng theo những mã số của ngôn ngữ trọng dương vật
Cixous cho rằng muốn định rõ khái niệm ‘écriture féminine’ cần loại bỏ quan niệm cũ về nam tính (masculinité), nữ tính (féminilité), và lưỡng tính (bisexualité): Lối phân chia thành hai cặp đối nghịch này không thể chấp nhận được vì nó được thiết lập ra để xóa bỏ vế sau, ‘nữ’ luôn luôn là sự vắng mặt (absence) và nam là có mặt (présence) Nhưng không chấp nhận có một đặc tính nữ nghĩa là đồng thời không nhìn
Trang 23nhận có một nam tính, hay ngược lại, sẽ loại bỏ hẳn lối suy luận dựa trên cặp đối nghịch Như thế, ở khâu này vấn đề người viết là nam hay nữ không quan trọng, cái quan trọng là ở chỗ ý hướng viết: từ nay phụ nữ viết không với đặc tính nữ nữa mà với đặc tính lưỡng tính (bisexualité) – hiểu theo ý nghĩa là trạng thái tiền Oedipe Lưỡng tính này luôn biến đổi, có nhiều dạng thức, “không xóa bỏ nhưng khuấy động, đuổi bắt, tăng cường những sự khác biệt” Cixous khẳng định “phụ nữ phải viết ra thể xác của mình”, bởi “chỉ có viết, từ người phụ nữ và về người phụ nữ, nhận sự thử thách của ngôn từ bị ngự trị bởi tượng dương vật, phụ nữ mới bảo đảm cho mình một chỗ đứng khác với vị thế đã dành sẵn và bởi một biểu tượng đó là một vị thế khác hơn sự
im lặng” [80] Vì thế, nếu bút (viết) là một ẩn dụ dương vật thì Cixous viết bằng mực trắng, nó biểu trưng cho dòng sữa mẹ
Cixous quan niệm để cho người phụ nữ tự viết về mình, phải có một tính dục lấy trọng điểm là phụ nữ, có nguyên mẫu là Người Mẹ (Pro-Mother) Do vậy, vấn đề
là sự kết hợp giữa giống (sex) và bản văn (texts) Khái niệm cuồng (hystérie) được nói đến trong những điển hình phụ nữ viết thể xác của mình như những bản văn Hystérie bắt nguồn từ ustera/tử cung, theo Catherine Clément là nguồn lực nguyên lý của phụ
nữ Cũng nói về văn tự phụ nữ, Luce Irigaray khẳng định: “Phụ nữ có những bộ phận
về giống ở cùng khắp” “Chính ở trên trình độ khoái lạc tình dục của phụ nữ, văn tự phụ nữ thay thế cơ cấu tổ chức của đàn ông về dục vọng”, phân cách giữa dục vọng và đối tượng của nó, theo Irigaray “sự khác biệt càng rõ ràng khi mà cơ cấu tổ chức tính dục của đàn bà không nhận diện qua đàn ông cũng như không phải đối chiếu với cơ cấu tổ chức nam giới nữa” [62]
Văn tự phụ nữ, theo cách hiểu của các nhà lý luận nữ quyền có khả năng đóng khung texts trong mối liên quan tới sex Diễn ngôn giới nữ sẽ là khái niệm bao quát của phái tính trên phương diện bản viết – nữ, hay bản tính - nữ trên phương diện bản viết Thể hiện của nó không đơn thuần là sexts, chúng ta còn phải nghiên cứu trên nhiều phương diện nằm trên đường giao nhau của ngôn ngữ và giới tính
1.1.3 Ý thức mới về phái tính
Khi ý thức phái tính bước qua giai đoạn khẳng định bản tính của từng giới, nó chú ý đến điểm mạnh của mỗi giới và chủ trương hội nhập để bù lấp những thiếu hụt
Trang 24mà mỗi bên đều có Bù lấp, không phải theo cái cách của Học thuyết bổ sung tự nhiên (the Natural Complement Theory) – học thuyết vốn đặt nền tảng trên sự khác biệt và tính giới hạn của đặc điểm sinh học và giới tính giữa đàn ông, đàn bà, mà theo cách tự
nó bổ sung, phát triển Chủ nghĩa nữ quyền đã cam kết sự tái hội nhập nam tính và khẳng định mọi người đều có khả năng phát triển tất cả những đặc điểm ưu trội của tính nam và tính nữ, vì đấy là tiềm năng của con người Triết gia Aann Ferguson cho rằng “tính ái nam ái nữ” (androgyny, bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp: andros: đàn ông, gynè: phụ nữ) là mô hình lý tưởng cho sự phát triển con người Theo bà, “các nhà tư
tưởng như Plato trong Tiệc rượu đêm (The Symposium) và Virginia Woolf trong Cái phòng riêng (A room of One’s Own) cho rằng các nhà văn, các nhà tư tưởng cần là ái nam ái nữ để gõ nhẹ tất cả các năng khiếu cần thiết cho sự thấu hiểu có hiệu quả” [60,
tr 336]
Trong triết học đạo đức, ý tưởng siêu giới tính như vậy có thể đã được Mary
Wollstonecraft nghĩ đến từ cuối thế kỷ XVIII, khi bà tin rằng lý trí là nét đặc trưng để
phân biệt loài người với mọi tạo vật khác “Nữ giới và cả nam giới phải cố gắng để hiểu rằng chỉ có một bản tính nhân loại duy nhất, và nét đặc trưng của nó là lý trí” [25] Những quan niệm về đạo đức đa phần là do người đàn ông lập nên, vì thế chúng không phản ánh đúng tình trạng đạo đức của người phụ nữ Năm 1982, Gilligan đưa ra
một yêu cầu phá tan sự phớt lờ của giới đàn ông - Lắng nghe tiếng nói của nữ giới
[25] - trong đó bà đề xuất một quan niệm đạo đức chung cho cả hai giới, đấy là đạo đức học về bổn phận: tình yêu, sự hy sinh vì người khác, làm tròn trách nhiệm và bổn
phận của mình Năm 1985, trong bài viết Phụ nữ muốn gì ở một lý thuyết đạo đức ?,
Annette C.Baier lại tìm cách dung hòa một đạo đức học về bổn phận – vốn từng là lãnh vực độc quyền của nam giới với một đạo đức học về tình yêu – giả thiết về lý thuyết của phụ nữ bằng một đạo đức học của sự tin tưởng Bởi tình yêu và bổn phận đều đòi hỏi người thi hành/mang chở nó phải tin tưởng một cách tối đa, do vậy đạo đức học về sự tin tưởng sẽ là chung cho cả hai giới
Tính ái nam ái nữ hay là sự hội nhập phái tính trong lĩnh vực văn chương, nghệ thuật đã được đẩy đi xa hơn (nhưng điều này lại phản ánh bước chuyển của thực tế) bằng vấn đề đồng tính: đồng tính nam (gay), đồng tính nữ (lesbian) và vấn đề chuyển
Trang 25giới tính (transgender) Như vậy, trong cơ thể của một người có thể mang cả hai pha
“bản sắc giới tính”: đàn ông có thể mang/giả tính dục nữ và đàn bà có thể mang/giả
tính dục nam Sự xác định “bản sắc pha chính” là khó khăn Và như thế, câu hỏi về
phái tính có trở nên mất ý nghĩa? Có thể đấy cũng là câu hỏi quan trọng được đặt ra,
nhưng hiện tại, ý thức phái tính trong văn học vẫn đặc biệt quan trọng và thú vị, vì nó
cần thiết để mở ra con đường đi tới những diễn ngôn sáng tạo của văn chương
1.2 Sự xác lập ý thức phái tính trong văn viết - nữ Việt Nam 3
(Từ cổ - cận - hiện đại, đến 1986)
Sự xác lập ý thức phái tính trong văn viết – nữ Việt Nam có được một nền tảng
căn bản từ nền văn hóa Mẫu hệ Từ lâu, tục thờ Mẫu như là một nguyên lý của nền văn
hóa Việt Nam Trần Quốc Vượng trong cuốn Văn hóa Việt Nam, tìm tòi và suy ngẫm gọi
đấy là nguyên lý Mẹ của nền văn hóa “Mẫu là văn hóa… Mẫu là hiện thân của sự được
mùa, một ước vọng truyền kiếp về hạnh phúc phồn thực của nông dân Mẫu còn biểu hiện
một tinh thần nhân ái rất cao” [57, tr.174] Tư tưởng này xuất phát từ một nền văn hóa
nông nghiệp lâu đời, nền văn hóa sùng bái sự sinh sôi nảy nở của tự nhiên và con người
Việc duy trì và phát triển là một nhu cầu thiết yếu của văn hóa nông nghiệp, văn hóa lúa
nước Người ta cần mùa màng tươi tốt để duy trì cuộc sống và con người phải sinh sôi
nẩy nở để tồn tại phát triển, từ đó phát sinh tín ngưỡng phồn thực (phồn: nhiều, thực: nẩy
nở) Tín ngưỡng này đã phát triển tồn tại suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Từ quan niệm
ấy hình thành một cột trụ quan trọng trong nền văn hóa Việt Nam, đó là triết lý Âm
dương, Trần Ngọc Thêm đã chứng minh tư tưởng âm dương là sản phẩm của dân Nam Á
- Bách Việt cổ đại: “Chữ Âm dương (Yin-yang trong tiếng Hán) đã bắt nguồn từ Ina -
yang của tiếng Đông Nam Á cổ đại với nghĩa gốc là mẹ (cha) - đất (trời)” (Tìm về bản
sắc văn hóa Việt Nam, Nxb TP HCM, Tr 122) Âm là đất và dương là trời Tuy nhiên sự
quân bình âm dương không phải là tuyệt đối mà có phần thiên về âm tính Âm luôn làm
nền cho dương được phát triển, chính vì thế âm tính trở thành nền tảng tư duy của dân tộc
Việt Nam
3 “Văn viết – nữ”, từ dùng của Béatrice Didier trong cuốn sách cùng tên, dẫn theo Đặng Thị Hạnh [40], bà
không gọi là “văn học nữ” Ở đây, người viết sử dụng cách gọi này để thay thế từ “văn học” - như là một bộ
môn khoa học bằng “văn viết” – chỉ văn phẩm/thi phẩm nói chung Khái niệm này như một cách để mở rộng
những dòng văn học phát triển sinh động, nhiều khi đứng bên ngoài cánh cửa văn học nhà trường, và ở góc độ
Trang 26Trong văn hóa nghệ thuật dân gian nhiều dân tộc, không hiếm sự mô tả các bộ
phận sinh dục nam và nữ, cảnh giao hoan trai gái Các hình tượng linga và yoni trong
nhiều nền văn hóa Nam Á và Đông Nam Á (như: những di tích di vật ở văn hóa Chàm) chính là sự cách điệu hóa chúng Những hình tượng ấy được thờ phụng, những cảnh giao hoan được tái hiện trên thạp đồng Đào Thịnh hay trong các nghi lễ phồn thực, bằng cách đó người ta diễn đạt lời khẩn nguyền cho mùa màng bội thu, gia súc sinh sôi và đàn bà mắn đẻ Không chỉ ở nghệ thuật tạo hình, tín ngưỡng phồn thực đã
ăn sâu vào ngôn ngữ tiếng Việt một cách phổ biến Trong tiếng Việt, hầu hết danh từ đều
đi kèm với định từ “con”,“cái” Nhiều danh từ không xác định giới tính vẫn được ghép
chữ “cái” ở trước: cái bàn, cái nhà… Nó còn được dùng như một tính từ để chỉ những gì
có vẻ lớn, quan trọng, chính, trung tâm: sông lớn gọi là sông cái, đường lớn gọi là đường
cái Chữ “mẹ” cũng được sử dụng theo nghĩa như vậy Cặp đồ vật một lớn một nhỏ thì
cái lớn gọi là mẹ, cái nhỏ gọi là con… Đấy là những dấu ấn vẫn còn hiện hữu trong mọi lĩnh vực ngôn ngữ thời đại
Gắn với cội nguồn văn hóa ấy, từ cổ đại cho đến trung đại, hiện đại, người viết
nữ từng bước xác lập ý thức phái tính của mình
1.2.1 Cảm quan thân phận người nữ trong ca dao
Không ở đâu, cảm quan thân phận người phụ nữ lại minh triết như trong ca dao Việt Nam Những bài ca về “Thân em” là cái nhìn của người trong cuộc, nên nó thấm đẫm dự cảm về sự mỏng manh Người phụ nữ thường ví mình với những gì có tính
chất mềm, dễ tan chảy, dễ vỡ, dễ bị xô đẩy, nổi nênh: “Thân em như giếng giữa đàng”, “như tấm lụa đào”, “như hạt mưa rào”, “như miếng cau khô”, “như chiếc thuyền tình”… Họ không tự định đoạt được cuộc đời mình, vô định, vô hướng, phụ
thuộc vào người khác, phụ thuộc vào số phận: “Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân”, “Kẻ thanh tham mỏng, người thô tham dày”, “Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa” Họ luôn ở tình trạng lênh đênh “mười hai bến nước”, “phất phơ giữa chợ”… Đấy là ý thức phái tính ở dạng nguyên khai của nó, ý thức về thân thể trong mối quan hệ với thân phận Tất nhiên, ý thức ấy có sự quy định của thời đại, của những đặc thù văn hóa, nhưng phải nói rằng cho đến bây giờ, cảm quan thân phận ấy vẫn còn chỗ đứng
Trang 27Bên cạnh cảm quan thân phận mang đặc thù văn hóa của tính nữ đó, người phụ
nữ đã mơ hồ hiểu được sự bình đẳng của cơ thể người nam và người nữ trước sự tồn tại, sự sống Họ phản kháng lại những quan niệm đạo đức trói buộc mình là ý thức được sự tồn tại ngang bằng của giống phái Cách nói của họ có vị phồn thực của nền
văn hóa Mẫu hệ: “Chơi cho thủng trống long bồng - Rồi ra ta sẽ lấy chồng lập nghiêm"; “Không chồng mà chửa mới ngoan - Có chồng mà chửa thế gian sự thường”; “Chữ “Trinh” đáng giá ngàn vàng - Từ anh chồng cũ đến chàng là năm”
Họ không lấy sự chính chuyên làm quý, sự mô tả này có nét giống với các nữ thần Hy
Lạp cổ đại : “Chính chuyên lấy được chín chồng”; “Có chồng thì mặc có chồng - Còn
đi chơi trộm kiếm đồng mua rau”; “Vắng sao hôm có sao mai - Vắng chàng thiếp đã
có trai trong nhà”… Khát khao tính dục bước đầu được ý thức và được mô tả bằng nét vẽ đơn sơ, thô mộc, hồn nhiên:
Hỡi thằng cu lớn ! Hỡi thằng cu bé ! Cu ti, cu tị, cu tí, cu tì ơi !
Con dậy con ăn, con ở với bà
Để mẹ đi kiếm một và con thêm
Cha con chết đi trong bụng mẹ nó hãy còn thèm
Mẹ xem quẻ bói, vẫn còn đàn em trong bụng nầy
Đấy là giọng nữ khỏe khoắn, giễu cợt, bông đùa, chua ngoa, và cũng rất thành thực Ý thức giải phóng tính dục đã dậy sóng trong tâm thức người phụ nữ
1.2.2 Cảm quan tính dục trong thơ Hồ Xuân Hương
Nằm ngủ im lìm trong lớp băng hà của sự phi ngã, trước Hồ Xuân Hương
(1772-1822), 26 người phụ nữ làm thơ (thống kê theo cuốn Nữ sĩ Việt Nam, [42]) trải
qua 18 thế kỷ truyền giữ sự ước lệ và gần như là “phi giới tính” Rất nhiều người trong số họ làm thơ như viết ra tâm niệm của một ni sư (hiểu theo nghĩa nào đó, là người chối bỏ giới tính), tâm huyết của một vị anh hùng hay của một người coi quốc gia và đạo nghĩa thánh hiền là trên hết (cũng gần nghĩa là người quên đi giới tính/đè nén giới tính)… Thơ Hồ Xuân Hương là một bước đột phá Ý thức phái tính của nữ sĩ
họ Hồ không chỉ là sự phản kháng với chế độ đa thê: “Chém cha cái kiếp lấy chồng chung” , với hệ thống xã hội trọng nam khinh nữ: “Ví đây đổi phận làm trai được”,
mà còn với cả tạo hóa: “Thân này đâu đã chịu già tom” Tiếp thu nguồn lực trong ca
Trang 28dao nhưng quyết liệt hơn, ý thức giải phóng tính dục trong thơ Hồ Xuân Hương tạo
nên một hệ thống ngôn ngữ nhiều ẩn dụ tính dục Hệ thống danh từ: nương long, đôi
gò Bồng Đảo, lạch đào nguyên, con cò, cọc, lỗ, vỏ, múi, cầu trắng, nước trong, đôi mảnh, đầu non, hang, kẽ hầm, rêu, cỏ gà, chiếc bích, đôi cung… Hệ thống động từ:
mấp máy, đạp xuống, năng năng nhắc, đâm ngang, thích thích mau, nhổ, đóng cọc, xâu xâu, nứt, sờ, mó … Hệ thống từ tượng hình: phau phau, leo lẻo, hỏm hòm hom, toen hoẻn, rậm rạp, lam nham, đỏ loét, lún phún… Những hệ thống ngôn từ ấy được kết hợp một cách tài tình, sống động khắc chạm rõ cảm quan tính dục độc đáo của Hồ Xuân Hương Nói như tác giả Nguyễn Bá Thành, đấy chính là “sự vận động song hành của các biểu tượng khác nhau chứa đựng trong một cấu trúc ngôn ngữ”, thể hiện
“tư duy thơ Hồ Xuân Hương đã thiên về vấn đề giải phóng cho phụ nữ, giải phóng giới tính” [68, tr.97]
Lê Đạt cho rằng người viết về tính dục khá nhất Việt Nam là Hồ Xuân Hương Chắc chắn vào thời ấy, Hồ Xuân Hương chưa thể biết đến lý thuyết tính dục của Freud, nhưng bà đã biết viết bằng kinh nghiệm của phụ nữ Nhiều nhận định cho rằng thơ Hồ Xuân Hương mang tinh thần Phục hưng, điều ấy đúng, nhưng nhìn vào cách phục dựng của nữ sĩ, ta thấy bà còn đi xa hơn thế Những nét tạo tác của Hồ Xuân Hương rất hiện đại, giống như nét vẽ của Georgia O’Keeffe Bức tranh Hoa Canna đỏ (Red Canna), 1923 của Georgia O’Keeffe là một ví dụ điển hình Hoa là biểu tượng của cơ quan sinh dục, những nét vẽ miêu tả nhụy cũng như chồi hoa đầy ắp và chìm lút, đang mãn ngất trong các khoanh gấp sâu của cánh cùng với các lằn gân lá mịn nhung Chúng thực sự đã gợi tưởng đến bộ phận sinh dục nữ theo những lối cách khêu gợi Cũng họa tạc bằng những gam màu đậm, những đường ấp e, thơ Hồ Xuân Hương gợi nhớ đến cả một truyền thống văn hóa phồn thực hồn hậu Hồ Xuân Hương đã đi trước thời đại mình, đã phản ánh được một nhu cầu xã hội lớn mà cuối thế kỷ XX vẫn đặt ra như một vấn đề cấp bách Đấy là việc giải phóng bản năng tính dục nữ và thái
độ nữ quyền về các hệ giá trị và lịch sử Đơn giản hơn, hồn nhiên hơn, bà mở lối cho một nhận thức độc lập của phụ nữ về chính thân thể và bản ngã tinh thần của mình
1.2.3 Thời kỳ bừng nở của thứ “văn tự phụ nữ” – sơ khởi
(Văn thơ nữ miền Nam 1930 – 1975)
Trang 29Đầu thế kỷ XX, cuốn theo phong trào Thơ mới có một vài nhà thơ nữ ở miền Bắc như Vân Đài, Hằng Phương, Ngân Giang, Anh Thơ, ở miền Nam có Mộng Tuyết, Mai Đình, Thân Thị Ngọc Quế… Trong khoảng thời gian 1930-1950, ở miền Nam, xuất hiện những người nữ viết văn bắt đầu có sự trỗi dậy của ý thức phái tính như Thụy An, Mộng Sơn, Nguyễn Thị Vinh Theo sự lược thuật của Đinh Từ Bích Thúy, Thụy An (Lưu thị Yến) có lẽ là một trong những nhà văn phụ nữ đầu tiên chất vấn ý
niệm feminine, và những ẩn dụ của ý niệm này Trong tập truyện ngắn Bốn Mớ Tóc,
Thụy An khai phá 4 ý niệm về mái tóc đàn bà: (1) mái tóc là vẻ đẹp cổ điển của người đàn bà, được định nghĩa từ hướng người chồng không muốn vợ cắt tóc; (2) mái tóc là truyền thống, tương tự như “cái trinh” che chở người con gái - khi cô con gái chưa chồng muốn cắt và uốn tóc theo mốt thời trang mới thì làm bà mẹ bị khủng hoảng vì
lo sợ rằng mái tóc đã cắt ngắn; (3) mái tóc là biểu hiện của giới tính và bản sắc - khi một người đàn bà ốm nặng, bị bắt buộc phải cắt tóc thì thấy như mình như bị cướp mất đi giới tính và bản sắc; (4) mái tóc là tục lụy, là gánh nặng mà một phụ nữ mang nặng tinh thần xã hội và cách mạng muốn trút bỏ [73] Sau Thụy An, giai đoạn 1950-
1975 là thời kỳ bừng nở của những nhà văn như Túy Hồng, Nguyễn thị Thụy Vũ, Nguyễn thị Hoàng, Trùng Dương, Nhã Ca…
Họ viết về những nhân vật đàn bà sôi nổi, chất vấn cái nhìn khắt khe, lý tưởng hóa (và nhiều đàn áp) của truyền thống và văn hóa, hoặc viết về những người phụ nữ lúc nào cũng lý luận và tìm hiểu sự đời Yếu tố ảnh hưởng tới các nhà văn Việt Nam lúc đó là các tác phẩm văn chương, nhiều hay ít chất hiện sinh, của các tác giả Pháp
Ví dụ những tác phẩm của nữ nhà văn trẻ tuổi Francoise Sagan: Buồn ơi, chào mi, Trong một tháng trong một năm, Một chút mặt trời trong nước Các nhân vật của Sagan ngập trong lối sống buông thả và buồn chán của tình yêu, khiêu vũ và rượu, biển, tình dục Vì thế, cũng hiện sinh một chút, cũng táo tợn một chút, nhưng so với thời đại và lịch sử văn chương nước ta, tác phẩm của các nhà văn nữ miền Nam giai đoạn này đã là một cuộc cách mạng trong ý thức và diễn từ phụ nữ Những trang viết
về tình dục của các nhà văn nữ miền Nam gợi nên cảm giác đấy là thứ văn tự phụ nữ trong hành trạng sơ khởi của nó Sơ khởi vì chuyện “xác thịt” được nhắc đến nhiều như một sự phán ứng có vẻ “bạo động” đối với sự trói buộc tính dục nữ Họ đạp đổ bức tường giam giữ giới tính chứ không dựng xây bản sắc giới tính Trong truyện
Trang 30Lòng Thành, Túy Hồng viết về những người đàn bà có dáng đi khắc khổ, hoặc “chanh chua như tướng cướp”, bại hoại vì chuyện kiếm chồng và trau dồi sắc đẹp bên ngoài Những nhân vật nữ chuyển từ thẹn thùng ở ngưỡng cửa tình yêu và tình dục, thụ động
và là nạn nhân nam giới, sang sành sõi và đam mê có kiểm soát trong dục tình Trong truyện ngắn Bà Điếc, Nguyễn Thị Thụy Vũ viết về Linh, một cô gái lỡ thời tuổi Dần,
với thân thể “giàu sang thịt mỡ, co kéo suông đuột như cây cột nhà,” nhưng với một
bộ óc cay cú, sắc bén, chán ngán người tình “lì lợm, nhạt nhẽo,” và khinh bỉ cô em, một “con đàn bà trống trải, ngu muội.” Nhã Ca thường nói lên tâm trạng “ly thân” của đàn bà, bị xâu xé giữa lý tưởng và hiện thực, giữa khả năng và bất lực Nhã Ca không thẳng thừng như những nhà văn phụ nữ sau này, nhưng cũng nhiều khi mời mọc, khiêu khích:
“Tôi phanh thây tôi cho mọi người nhìn
…trong vườn tôi có lá xanh có trái thơm
và cũng có chồi hư
hoa quỳnh vất vưởng bên hoa hồng dại
cỏ tóc tiên mọc lẫn cùng cỏ tranh
trong huyết đỏ luân lưu có huyết bầm khổ ải
trong tiếng ca hát có tiếng chửi rủa thề nguyền
…tôi mở rộng cửa vườn rồi
mời mọi người vào xem”
(Một Đoạn Nhã Ca)
Sau 1975, dòng văn thơ ấy ly tán Tạo nên hiện tượng đứt mạch trong ý thức về phái tính
1.2.4 Tính cổ điển của thơ nữ 1975 – 1986
Hòa bình lập lại, thơ nữ nở rộ với những tác giả đã xuất hiện trong kháng chiến chống Mỹ như Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn, Lâm Thị Mỹ Dạ, Ý Nhi, và các khuôn mặt mới như Dư Thị Hoàn, Nguyễn Thị Hồng Ngát, Lê Thị Kim, Đỗ Bạch Mai, Phạm Thị Ngọc Liên, Đoàn Thị Lam Luyến, Giáng Vân, Thanh Nguyên, Thu Nguyệt…Trong số ấy, nhiều người đã tạo nên tính cổ điển (classique) cho thơ nữ Việt Nam thời hậu chiến Sau bao năm đất nước có chiến tranh, người phụ nữ được trở về
Trang 31“đúng nghĩa trái tim” và được sống với thiên chức giản dị đời thường làm người mẹ,
người vợ, người phụ nữ nhuần nhị trong xã hội Do vậy, cảm xúc chính của thơ họ là cảm xúc của người đàn bà trong tình yêu và trong đời thường Ý thức phái tính của họ
là ý thức khuôn mình vào với “thiên tính nữ” Tình yêu trong thơ họ, dẫu nhiều cung bậc nhỏ thì chỉ ngân lên hai tiết điệu chính là sự tha thiết mãnh liệt và sự mong manh
Xuân Quỳnh sôi trào như sóng : “Em trở về đúng nghĩa trái tim em”, mà có lúc mỏng mảnh như cánh chuồn kim ngày bão nổi với nhiều hoài nghi và lo âu “Lời yêu mỏng mảnh như màu khói - Ai biết tình anh có đổi thay” Những người đàn bà dám sống hết mình cho tình yêu:
Nhưng em sẵn sàng làm chiếc que
Dám đốt cả trái tim diêm sinh bé xíu
Cháy đến tận cùng của thân tăm trắng trẻo
Dù kiếp tàn nhưng hiểu: đã được yêu
(Diêm – Nguyễn Kim Anh)
Nhưng trong họ vẫn có sự khiêm nhường hay mặc cảm phái tính Tình yêu với
họ vẫn như là thứ được trao tặng, yêu là thứ quyền được ban phát: “đã được yêu” Họ vẫn bị động, thụ động trong tình yêu
Những lo toan đời thường của cuộc sống vất vả nhuộm vào ý thức về bổn phận – mang tính truyền thống và thiên chức:
Cuộc sống ngặt nghèo phải tính sao đây
Gạo bánh củi dầu chia thế nào cho đủ
Đầu óc linh tinh chỉ nghĩ về chợ búa
Những quả cà mớ tép rau dưa
(Thơ vui về phái yếu – Xuân Quỳnh)
Em đối mặt với ồn ào của đời thường
Chẳng nhàn hạ gì hơn con gà đi kiếm ăn
Con chim đi tha rác
(Đối mặt với đời thường – Nguyễn Thị Hồng Ngát)
Cái đời thường làm họ tàn phai về thể xác Người đàn bà trong thơ Bùi Kim
Anh “biến hình nhan sắc”: “Tóc bạc mau bởi nhỏ nhoi bấu víu”, bởi lo toan cho
“bữa quẩn bữa quanh” (Cho tuổi bốn mươi của mình) Thậm chí, nó làm tàn phai cả
Trang 32một cuộc tình: “Mải lo cơm áo đời thường - Em xin tạ lỗi con đường cùng anh” (Con đường – Nguyễn Thị Xuân) Những lo toan ấy, rõ ràng, đã là nỗi ám ảnh thường nhật
dù họ ý thức đấy là bổn phận, trách nhiệm của người phụ nữ trong gia đình Họ phải
hy sinh hơn người đàn ông về những vui thú cá nhân và tự do dự phóng giới tính Như chưa được sống đầy đủ với bản tính – nữ của mình nên họ luôn băn khoăn ước hoặc:
Nếu tôi là đàn ông
Và chính vì ý nghĩ ngông cuồng này
tôi mãi là người đàn bà tội nghiệp
(Nếu – Bùi Kim Anh)
Ở chính ý nghĩ này, họ nhận ra vị thế “người đàn bà tội nghiệp” của mình Như thế, so với các tác giả nữ miền Nam trước đó, các nhà thơ nữ giai đoạn này làm một bước lùi trong công cuộc giải phóng phụ nữ, họ không đấu tranh cho nữ quyền mà đi lại giữa những thiên chức, trách nhiệm, bổn phận Họ tự xây dựng nên bức tường vững chãi của những ý niệm ấy, những bản sắc giới tính có sự chi phối của văn hóa truyền thống Sự thể hiện phái tính trên phương diện diễn ngôn nghệ thuật chưa được chú ý, trừ một hòn đá tảng mà nó để lại, một cách tự nhiên, có dấu ấn nữ tính đậm nét: những giọng thơ tình thiết tha đằm thắm
1.3 Ý thức phái tính như một đặc điểm tư duy thơ nữ gần đây
1.3.1 Những điều kiện văn hóa, xã hội
Từ năm 1986, đất nước bước vào công cuộc Đổi mới và bước đầu mang lại sự thay đổi, đi lên về mặt kinh tế, xã hội Lực lượng sáng tác là nữ giới ngày càng đông đảo
Về văn xuôi, những năm đầu đổi mới có: Phạm Thị Hoài, Dương Thu Hương, Võ Thị Hảo,
Lê Thị Huệ, Y Ban…, sau này có: Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Hoàng Diệu, Hồng Hạnh…, Hải ngoại có: Đỗ Lê Anh Đào, Hoàng Ngọc Thư, Nguyễn Thị Thanh Bình, Đặng Thơ Thơ, Lưu Diệu Vân và Lê Thị Thấm Vân… Về thơ, có sự tiếp tục của
Trang 33những cây bút đã xuất hiện từ giai đoạn trước như Dư Thị Hoàn, Lâm Thị Mỹ Dạ, Nguyễn Thị Hồng Ngát, Đoàn Thị Lam Luyến,… Những giọng thơ mới: Phan Huyền Thư, Dạ Thảo Phương, Ly Hoàng Ly, Lê Thị Mỹ Ý, Vi Thùy Linh, Ngô Thị Hạnh, Thanh Nguyên, Nhóm Ngựa trời (Lynh Bacardi, Khương Hà, Thanh Xuân, Phương Lan, Nguyệt Phạm), Nguyễn Thị Thúy Hằng, Song Phạm, Trần Lê Sơn Ý… Đấy là kết quả của sự bội tăng của người đọc nữ - yếu tố khích lệ người viết nữ, song nguyên nhân chủ yếu là nhận thức, tri thức của người phụ nữ được nâng cao cùng với nhu cầu phải viết và khát vọng viết, nhất là về chính cuộc sống, số phận của người phụ nữ Khát vọng, nhu cầu này tất nhiên mang tính chủ quan, nhưng là cái chủ quan được đốt nóng bởi hành trạng văn hóa, văn học Việt Nam hiện thời
Thứ nhất, chúng ta thấy rằng đa số tác phẩm văn học Việt Nam trước nay là của đàn ông, những gì đàn ông viết thì thiếu kinh nghiệm của đàn bà, do đó, phụ nữ đọc họ không thấy thỏa mãn Theo nhà văn Lê Thị Huệ, một trong những lý do khiến tác giả cầm bút “có
lẽ vì đã phải đọc quá nhiều tác phẩm do đàn ông viết”, “thuở còn học trung học tôi thường tự hỏi là tại sao mình phải học đi học lại những câu thơ của Nguyễn Công Trứ
"Chí làm trai dọc ngang ngang dọc Nợ tang bồng vay trả trả vay" Tôi thấy tôi chẳng
dính tí xíu nào vào trong đấy cả Nghĩa là tác giả viết những câu thơ ấy cho các độc giả nam” [80] Nếu là tác phẩm của nữ giới thì sáng tác của họ vẫn bị áp đặt bởi cái nhìn của nam giới, hoặc tác phẩm khi đến tay độc giả là những tác phẩm được lựa chọn theo tiêu chuẩn của nam giới Đấy có thể không phải là một quan niệm phổ biến, hay không được nhiều người phát biểu, nhưng điều đó chứng tỏ có một thực tế như vậy
Thứ hai, phụ nữ ngày càng nhận thức được rõ hơn vai trò, giới tính cùng những khái niệm nhân bản của mình Trong khi đó, những chủ thuyết nữ quyền trên thế giới bắt đầu được phổ biến vào Việt Nam, qua các sách xã hội học về giới, về các lý thuyết phê bình và những nghiên cứu chuyên biệt về giới Tác phẩm của các nhà văn nữ nổi tiếng thế giới thế
kỷ XIX, XX được biết đến nhiều hơn Những tên tuổi như George Sand, Simone de Beauvoir, Virginia Woof, Marguerite Duras, Doris Lessing… Đấy là những người viết theo lối cách “tự ăn mình”, viết vì quyền lợi phụ nữ Bối cảnh đó góp phần tác động đến định hướng viết của tác giả nữ Việt Nam Họ viết về nữ quyền theo nhiều cách khác nhau
Trang 34Thứ ba, sự phát triển kỹ nghệ như in ấn, xuất bản, internet…tác động lớn đến nhận thức, suy tư của con người Nhiều người gọi đây là thời đại “Cyberfeminism”, tức thời đại của nữ quyền trong thế giới ảo Không gian ảo đem lại cho họ một lối tư duy khác xưa, kháng cự lại việc xã hội hóa giới tính được bao vây bởi kỹ thuật “Kỹ thuật điện toán đã nối cầu giao lưu giữa người và người Sự hiện diện của phụ nữ trên mạng ngày càng đông Họ không còn mặc cảm thân phận dưới khung trời ảo Họ tranh luận, tự tin, cởi mở, nói điều muốn nói, bày tỏ cảm nhận của mình bạo dạn và rõ ràng hơn, nhất là trong lãnh vực tình dục… Nó không những là một lối thoát của những giải bày hay sáng tạo, mà còn là nơi phụ nữ có thể trở nên năng động với những vấn đề khẩn thiết của xã hội” [76] Bên cạnh đó, nhiều loại hình nghệ thuật mới du nhập hoặc đã được du nhập từ trước thì nay trở nên phổ biến: jazz, blue, pop, rock, rap, hip hop… Rồi nghệ thuật điện ảnh (Film art), nghệ thuật sắp đặt (Installation art), nghệ thuật trình diễn (Performance art), kịch hình thể, thơ trình diễn… Đấy là những hình thái nghệ thuật góp phần mở rộng trí tưởng con người, một phần, trở thành phương tiện (được chuyển hóa) của người sáng tạo Phan Huyền Thư ngoài là một nhà thơ còn là nhà biên kịch điện ảnh, Ly Hoàng Ly còn là họa sĩ, hoạt động cả trong lĩnh vực nghệ thuật sắp đặt và nghệ thuật trình diễn, Vi Thùy Linh còn tham gia trình diễn thơ… Với những người viết sinh ra trong thời bình, bắt đầu từ thế hệ của Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Vi Thùy Linh, thì họ hoàn toàn có một đòn bẩy để đi xa hơn về ý thức phái tính trong sáng tạo
1.3.2 Ý thức phái tính - một đặc điểm tư duy thơ nữ
Năm 1988, Dư Thị Hoàn làm người đọc sửng sốt bởi những câu thơ:
Tất cả rồi dễ qua đi, qua đi
Trang 35là bình thường Trong khoảng 10 năm trở lại đây, ý thức phái tính trở thành một đặc điểm tư duy thơ nữ Về mối quan hệ giữa ý thức và tư duy, trong cuốn Tư duy thơ và
Tư duy thơ hiện đại Việt Nam, tác giả Nguyễn Bá Thành viết: “Nói đến ý thức là nói đến sự “phản ánh” hiện thực của hoạt động tâm lý Hay nói đúng hơn, ý thức là tư duy
ở trạng thái tĩnh, và tư duy là ý thức ở trạng thái động, tư duy là hành động nhận thức của con người” [68,tr.16] Như vậy, sự vận động của ý thức tạo nên tư duy Trong thơ,
“Đặc điểm quan trọng nhất của tư duy thơ là sự thể hiện của cái tôi trữ tình, cái tôi cảm xúc, cái tôi đang tư duy” [68,tr.56] Nếu như thơ Nguyễn Du xoáy vào số phận con người nói chung, đặc biệt là thuyết “tài mệnh tương đố”, thơ các nhà thơ lãng mạn như Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử… trỗi lên cảm hứng về nỗi buồn, tình yêu, tôn giáo… thì thơ nữ gần đây quan tâm đến chính số phận, cuộc sống của người phụ nữ Họ nghĩ đến giới, phái, đến vị trí, vai trò của giới nữ trong xã hội
và trong văn chương nghệ thuật Điều đó ám ảnh họ khi sáng tạo, chi phối sự lựa chọn đối tượng và cách thể hiện Ý thức phái tính trở thành một nét nổi trội của cá tính sáng tạo trong thơ nhiều tác giả nữ Ý thức đó biểu hiện rõ trong các biểu tượng, ngôn ngữ thơ và trong cái Tôi trữ tình Điều này được minh chứng trước hết ở quan niệm về phái tính trong sáng tạo của các nhà thơ
Theo một cuộc khảo sát nhỏ Hội thảo bàn tròn, Ý thức nữ và nhà văn, đăng
trên Tia sáng, ngày 12/01/2009 [86], đa số các tác giả được hỏi đều quan niệm trong sáng tạo văn chương, giới tính là điều rất quan trọng và chi phối nhiều đến cách thể hiện trong văn chương Ngô Thị Hạnh cho rằng: “Tôi là nữ, nên tôi có cảm quan của người nữ làm thơ, đề tài về chính con người tôi luôn được khai thác một cách mãnh liệt… cảm xúc về nữ giới trong tôi luôn vượt trội Tôi quan tâm đến làn da của mình khi nó tiếp xúc với không khí; tôi quan tâm đến ánh mắt của mình khi nó nhìn một chàng trai đẹp hay một người đàn ông nhiều kinh nghiệm; tôi quan tâm đến hơi thở gấp toàn thân mình khi nó tiếp xúc với thiên nhiên hay tiếp xúc với đàn ông…”
Thanh Nguyên đưa ra ví dụ là ngay khi viết về chuyện mà hầu như ai cũng viết: tình
yêu (chẳng hạn) thì ta đã (vô tình hoặc cố ý) đụng chạm đến vấn đề giới tính… Các nhân vật nữ của tôi ngoài chính tác giả còn lại hầu hết là mô tả tâm thức, tâm cảnh của
những người nữ quanh tôi Theo Thanh Xuân, về mặt ý thức, không có khái niệm
phân biệt giới trong văn chương “Cá nhân tôi, không nỗ lực để thể hiện tính nữ trong
Trang 36văn chương, mà nó mặc nhiên “được có” đặc quyền đó” Trần Lê Sơn Ý cho rằng
“Tôi có ý thức mình là nữ, khi tôi viết điều gì đó cho mình Còn cảm giác luôn luôn muốn vượt qua những hạn định, những định kiến… tôi nghĩ chẳng phải của riêng những người nữ làm văn chương”
Với Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Vi Thùy Linh, ý thức phái tính không tự phát mà tự giác, nó không chỉ chi phối hình tượng thơ, cảm xúc thơ hay các đối tượng, chất liệu nghệ thuật khác mà chi phối cả quá trình sáng tạo của họ
Phan Huyền Thư quan niệm phái tính trong thơ có sự khu biệt rõ ràng: “Nữ tính trong thơ không phải là sự hở hang uốn éo, kích động hay hạ mình yếu đuối Người đánh mất mình là người thiếu sự chân thành với cảm xúc của chính mình Với tôi, cảm giác vô cùng quan trọng Nếu như nàng thơ cần phải trở thành chàng thơ thì cũng cứ chân tình, đừng cố gắng rung động trước một ngài thơ đồng cô chẳng nam
cũng chẳng nữ” [90] Ý thức phái tính hiển hiện trong cả cách làm việc của chị: “Có
những ngày tôi mệt nhoài vì công việc, trở về nhà, nấu một bữa ăn và chợt hiểu, việc thích hợp nhất với mình là làm đàn bà, làm vợ, làm mẹ Nhưng khi ngồi đan áo len cho con, tôi đã sáng tác được rất nhiều trong đầu mình Tôi hiểu rằng nếu vứt đôi kim đan xuống, sẽ có những bài thơ được viết ra Vậy theo bạn, tôi nên tiếp tục đan len hay cầm lấy giấy bút? Tôi là người mâu thuẫn khủng khiếp, đa đoan và cầu toàn Kết quả là con tôi vẫn có chiếc áo len đó và bản thân tôi vẫn có những bài thơ của mình
Để làm được mọi việc, cho mình và cho mọi người, tôi đã phải hi sinh nhiều hơn người khác.Và tôi thấy hạnh phúc vì điều đó [91]
Ly Hoàng Ly rất ý thức về những vấn đề phái tính trong hoạt động sáng tạo Chị là nhà thơ, họa sĩ, tác giả của nhiều triển lãm sắp đặt và trình diễn đã trưng bày trong và ngoài nước “Dòng máu chảy trong tôi là dòng máu của người phụ nữ Việt Nam sống trong xã hội ngày hôm nay, vì vậy, chắc chắn những tác phẩm tôi làm sẽ phản ánh tinh thần đó” [85] Nhiều buổi triển lãm của chị mang chủ đề nữ quyền như
triển lãm Xuyên biên giới (Pushing Through Borders), triển lãm Bản sắc đấu với toàn cầu hoá Tác phẩm Núi mâm gây ấn tượng mạnh cho giới nghệ thuật và khán
giả Được dựng bằng hơn 400 cái mâm nhôm, trên những mâm này vẽ biểu tượng những người phụ nữ, họ cứ đi thành một vòng tròn, “diễn tả một cuộc sống đều đặn,
Trang 37không thay đổi, hàng ngày cứ như vậy, cuộc sống cứ đi nhưng không thể vượt ra khỏi cái khung của nó” Qua đó nói lên vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam,
họ tự đặt mình trong khuôn khổ, chịu đựng, hy sinh cho chồng con, cho gia đình Bên trong trái núi, những bức hình khoả thân của phụ nữ phương Tây đang bay tán loạn
“Điều ấy diễn tả những khát vọng thầm kín của người phụ nữ Việt Nam, hay nói chung là phụ nữ Châu Á trong thời đại ngày nay Đó là cái mâu thuẫn nội tại của
người phụ nữ trong thời đại hội nhập Đông -Tây [85] Ở một tác phẩm khác, Nước,
đấy là biểu tượng của người phụ nữ, của sự thanh tẩy: "Tôi là một phụ nữ vì thế tôi là nước, thế giới được sinh ra từ nước Hãy nhìn qua dòng nước tinh khiết và nước sẽ rửa sạch tất cả những bụi bẩn trong tâm hồn chúng ta"[85] Ám ảnh về thân phận người phụ nữ ẩn trong mọi sự sắp đặt của Ly trong việc tạo dựng tác phẩm, về đối tượng cũng như chất liệu phản ánh
Ý thức phái tính cũng thường trực trong cuộc sống và trong sáng tạo của Linh Một số bài tùy bút ghi lại điều này: “Tôi muốn sống trong sự vị tha và dâng hiến Yêu
và vì người khác, làm mọi thiên chức, bổn phận một cách tự nguyện, cũng là cách xác đáng để khẳng định việc hoàn tất sứ mệnh của giới tính, trong sự chu toàn được mặc định” (Ước) “Đôi khi tôi muốn làm đàn ông Vì cho rằng, đặc thù và yếu điểm của nam tính, sẽ cho ta cơ hội để làm được nhiều hơn những điều mình muốn Nhưng rồi lại nghĩ, chắc gì là đàn ông, tôi sẽ làm được nhiều hơn khi là một người đàn bà Tôi chấp nhận và biết ơn tạo hóa cho tôi làm đàn bà Và tin, sống tận cùng với bản chất
ấy, thì mọi khát vọng quan trọng nhất đều có thể được chuyển tải bằng giới tính phái
yếu” (Làm) Như vậy, Vi Thùy Linh luôn chủ động đặt mình vào phái yếu khi cô hay
gắn kết phái yếu với nữ tính, sự dịu dàng, đồng nghĩa với việc tự thân thừa nhận sự chi phối của văn hóa, có thể, đấy lại là cách nhà thơ tạo ra bối cảnh cho sự vượt thoát hay là công cuộc giải phóng của mình “Người ta nghĩ giải phóng phụ nữ là giải phóng khỏi những công việc, bổn phận nhưng tôi giải phóng họ khỏi ý thức muốn trốn chạy khỏi những bổn phận đó Đừng chứng minh sự bình đẳng của mình bằng kiểu: đàn ông có thể đấu vật thì mình cũng mặc quần đùi đấu vật Điều đó chỉ làm hỏng đi hình ảnh phụ nữ Tôi muốn phụ nữ phải được yêu, được nâng niu, đàn ông phải đúng với nam tính Muốn vậy, trước hết tôi phải thành thật tôi ra để đòi hỏi, kêu gọi điều đó trong thơ” [84]
Trang 38Các quan niệm về phái tính hay là cách tư duy mang màu sắc phái tính qua những trích dẫn trên cho thấy ý thức phái tính là cái trục xoay của cảm xúc, của hình ảnh, biểu tượng, ngôn ngữ, giọng điệu mà nói gọn lại là cái Tôi và Diễn ngôn Luận
đề Ý thức phái tính như là đặc điểm tư duy thơ nữ gần đây, qua Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Vi Thùy Linh sẽ được triển khai cụ thể trong hai chương tiếp theo
Tiểu kết
Văn học nữ nói chung và thơ nữ nói riêng đang tự khẳng định mình một cách mạnh mẽ Văn học do người nữ viết và viết về người nữ đang trở nên là những vấn đề trung tâm, nhân vật nữ chiếm dung lượng ngày càng lớn Trước đây người ta coi nữ giới như cái “phụ”, “tòng”, nhưng nữ giới là một thế giới độc lập, có tính độc lập tương đối và ngày càng ý thức thể hiện cái độc lập ấy Đọc lại mấy nghìn năm văn thơ Việt Nam thì chúng ta thấy tác giả nữ, nhân vật nữ quá ít và không giữ vị trí chủ chốt, quan trọng Chỉ trong truyện Nôm ta mới bắt gặp điều ấy, khi xuất hiện hình ảnh người phụ nữ hài hoà tài - sắc, tình yêu, tình dục và số phận của người phụ nữ được
quan tâm, như Truyện Song Tinh, Truyện Hoa tiên, Ngọc Kiều Lê tân truyện, Truyện Tây sương, Phù dung tân truyện Qua những bước phát triển ở thơ Hồ Xuân Hương
và thơ nữ miền Nam 1945 – 1975, ý thức về bản thể nữ có sự trỗi dậy phổ biến, đồng loạt hơn để trở thành một đặc điểm tư duy thơ nữ đương đại
Có thể nói những làn sóng đấu tranh của phong trào nữ quyền trên thế giới là một cuộc phiêu lưu tìm mình của phái nữ, tính nữ Khi chủ nghĩa cấu trúc cho rằng cá tính là một cấu trúc được tạo ra chứ không phải là một thực tại tuyệt đối cố định thì điều đó mở ra một chân trời hết sức rộng lớn cho tư duy nữ quyền luận Như vậy bản tính nữ là cái đang trong quá trình tự thành tạo (self-constitution) Theo đó, nhiều người vẫn có thể nghi ngờ bằng cái cách quen thuộc của chủ nghĩa hậu hiện đại, rằng không có gì là tuyệt đối, là bất định, không có một đại tự sự, cái Tôi là một hư cấu, và
do đó, không thể có cái Tôi nữ hay cái Tôi mang bản tính nữ Nhưng, còn cách nào thuyết phục hơn là sự chứng minh của lịch sử, lịch sử xã hội và lịch sử văn bản văn chương, rằng sau khi thay bao nhiêu lần áo, bao lần phá dỡ những đặc tính cũ để tạo lập đặc tính mới thì trong bản thể nữ, có sự quay về rất ngoạn mục của một số đặc tính
cơ bản Đấy là những mẫu chung, cái “bản sắc nữ giới” hay “tính đặc thù của nữ
Trang 39giới” Theo nghiên cứu của chúng tôi, để tìm mình, thành tạo mình, giới nữ đã xác lập tiếng nói của mình trong một loạt diễn ngôn: diễn ngôn tính dục, diễn ngôn của người
mẹ, người nữ và diễn ngôn của người công dân nữ Và như vậy, họ phải làm một loạt cuộc giải phóng Địa vị của người phụ nữ trong lịch sử đã tất yếu quy định khát vọng giải phóng như là ngọn lửa soi đường của bản thể nữ
Trang 40Chương 2: BẢN THỂ - NỮ VÀ NHỮNG KHÁT VỌNG GIẢI PHÓNG
(Thể hiện qua Cái Tôi trữ tình)
Trong quá khứ, người ta nghĩ giải phóng nữ giới là giải phóng trong địa vị xã hội, địa vị gia đình, ít nghĩ đến giải phóng giới tính Thậm chí người ta khuôn giới nữ vào các khẩu hiệu như “ba việc nước, ba đảm đang”, “giỏi việc nước, đảm việc nhà” Như vậy, với nữ giới, “việc” là chính Số lượng đại biểu nữ trong Quốc hội thường được nhắc đến như là cách hữu hiệu nhất thể hiện vai trò của phụ nữ trong xã hội Nhưng ngoài cái đó ra, họ còn có đời sống riêng, họ khát khao tình yêu, hạnh phúc Ai đấy đã nói: với người đàn ông, sự nghiệp là tình yêu còn với người phụ nữ, tình yêu là
sự nghiệp Sự chi phối của văn hóa, xã hội lên tự do giới tính đã dần dần bị chống trả Giải phóng về phương diện giới tính là vấn đề đang đặt ra cho xã hội chúng ta hiện nay Thơ ca đương đại cũng góp phần vào công cuộc ấy với sự cởi bày nhiều góc cạnh của cái Tôi trữ tình mang bản tính nữ
2.1 Sự phô bày cái Tôi thân xác hay là khát vọng giải phóng tính dục
2.1.1 Tình dục theo ý niệm truyền thống như là quyền lực của đàn ông
“Quyền lực” ở đây được biểu hiện trên cả hai phương diện: quyền lực về thể xác và quyền lực về diễn ngôn
Thứ nhất, bám rễ sâu trong ý niệm của con người, tình dục được hiểu như là sở hữu riêng của đàn ông, chỉ đàn ông mới có quyền hành lạc Điều này bắt đầu từ Kinh Thánh, bản văn đầu tiên trên thế giới xác lập quyền thống trị của đàn ông với đàn bà,
đó là sự phán xử của Chúa khi ngài bắt gặp con người trộm ăn trái cấm Khi ấy, ý thức trước tiên của con người, ý thức về sự trần truồng tố cáo tội lỗi mà con người tự ý mắc phải Cuộc phán xử ấy phán quyết những nội dung quan trọng trong cuộc sống con người: 1 người đàn bà là nguồn gốc của tội lỗi, 2 cảm biết được sự trần truồng là tội lỗi, 3 thấy được sự trần truồng là điều ác/điều xấu đầu tiên của con người, 4 đàn ông thống trị đàn bà Do vậy, có thể hiểu người cổ đại coi sự trần truồng như là hệ quả đầu tiên của dục tính đàn bà, nó là xấu xa, tội lỗi nên con người phải biết che đậy lại, nhất
là thân xác đàn bà Thân xác đàn bà phải là một cái không – hiện – hữu Đó là điều răn