ĐẠI HỌC KINH TẾ ĐÀ NẴNG Học kì II năm học 2011 2012 MÔN: THỊ TRƯỜNG ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH NHỮNG TIÊU CỰC TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM NHÓM 11: 1. TRẦN THỊ NGỌC PHƯƠNG 37H11K7.A 2. NGÔ THỊ THU HỒNG 37H11K7.A 3. HOÀNG THỊ YẾN NHI 35k4.2 4. BÀNH THỊ THANH 36K18 5. PHẠM THỊ THU TÌNH 36K18 6. NGÔ PHAN TÂM THẢO 36K18 7. NGUYỄN VIẾT NHẬT 36K18 8. NGUYỄN MINH NHẬT 36K18 LỚP HỌC PHẦN: TTCDC_2 GIẢNG VIÊN : Th.S PHAN ĐẶNG MY PHƯƠNG LỜI NÓI ĐẦU Để hoàn thiện mục tiêu công nghiệp hoá hiện đại hoá thì điều kiện tiên quyết là vấn đề về vốn. Xoay quanh đề tài về vốn này đã có rất nhiều cuộc tranh luận bàn cãi, hội thảo v.v... và cũng có rất nhiều những bài viết đề cập đến, dù ở góc độ này hay góc độ khác. Đặc biệt là những bài viết đề cập đến việc tạo ra vốn trung và dài hạn để đầu tư dài hạn của nền kinh tế đất nước. Các doanh nghiệp có thể tiến hành tạo lập vốn bằng hai con đường chính. Thứ nhất, đi vay các ngân hàng thương mại hoặc phát hành trái phiếu Công ty. Thứ hai, phân chia quyền sở hữu của doanh nghiệp bằng cách phát hành thêm cổ phiếu. Với một chiều dài lịch sử hơn 400 năm hình thành và phát triển đến nay thị trường chứng khoán đã phổ biến ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. ở nước ta, vấn đề xây dựng thị trường chứng khoán đã và đang thu hút sự quan tâm của nhiều nhà kinh tế. Cho đến nay theo nhận định của các nhà kinh tế, thị trường chứng khoán là một công cụ hữu hiệu để huy động vốn giúp hoàn thiện mục tiêu công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Song trên thị trường chứng khoán vẫn tồn tại những hành vi tiêu cực, ảnh hưởng đến sự phát triển của thị trường chứng khoán. Nhằm hiểu biết rõ hơn về những hành vi đã nêu trên, nhóm thuyết trình xin chọn đề tài “Phân tích những hành vi tiêu cực trên thị trường chứng khoán”. Đề tài này rất rộng và mang tính thời sự, tuy nhiên do hiểu biết của nhóm còn hạn chế nên chúng em chỉ xin đóng góp một phần nhỏ hiểu biết của mình. Nội dung đề tài gồm ba phần: Phần I: Lý luận chung về thị trường chứng khoán. Phần II: Những những hành vi tiêu cực trên thị trường chứng khoán ở Việt Nam hiện nay Phần III: Giải pháp khắc phục những hành vi tiêu cực CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 1. Khái niệm Thị trường chứng khoán (TTCK) là nơi diễn ra quá trình giao dịch mua bán chứng khoán. Tương tự các loại thị trường hàng hóa khác, TTCK là nơi mua bán, chuyển nhượng các loại chứng khoán. Tuy nhiên, TTCK là một loại thị trường cao cấp, tại đó chúng ta có thể thấy nhiều kiểu tổ chức khác nhau, nhiều phương thức mua bán chứng khoán khác nhau, nhiều loại chứng khoán được mua bán khac nhau và các thị trường có các vai trò khác nhau. 2. Đặc điểm Thị trường chứng khoán không phải là nơi sở hữu chứng khoán Thị trường chứng khoán không ấn định giá cả chứng khoán mà giá chứng khoán được xác định trên cơ sở cung cầu. Nghĩa là giá cả chứng khoán được hình thành trên cơ sở đấu giá giữa những người muốn mua và những người muốn bán. 3. Phân loại a. Căn cứ theo cách thức tổ chức Thị trường chứng khoán tập trung hay còn gọi là Sở giao dịch chứng khoán là nơi mua bán loại chứng khoán được niêm yết có địa điểm và thời biểu mua bán rõ rệt, giá cả được xác định theo hình thức đấu giá hoặc đấu lệnh. Thị trường chứng khoán bán tập trung hay còn gọi là thị trường OTC là thị trường chứng khoán bậc cao được tự động hóa, việc mua bán chứng khoán thông qua mạng giao dịch bằng máy vi tính. Hệ thống mạng này được nối giữa các thành viên của trung tâm với nhau khắp trong cả nước, việc giao dịch được thực hiện thông qua mạng máy tính và điện thoại. Thị trường chứng khoán phi tập trung: quá trình mua bán chứng khoán diễn ra bên ngoài Sở giao dịch, không có ngày giờ nghỉ hay thủ tục quyết định mà do thoả thuận giữa người mua và người bán, có thể thông qua môi giới. b. Căn cứ vào quá trình luân chuyển vốn Thị trường phát hành hay còn gọi là thị trường sơ cấp là nơi các chứng khoán được phát hành lần đầu bởi các nhà phát hành được bán cho các nhà đầu tư. Thị trường sơ cấp có vai trò hết sức quan trọng đối với nền kinh tế, góp phần tạo vốn cho nền kinh tế nói chung và tạo vốn cho các đơn vị phát hành nói riêng. Thị trường thứ cấp là thị trường mà nơi đó diễn ra qua trình mua đi bán lại các loại chứng khoán có khả năng chuyển nhượng đã phát hành lần đầu ở thị trường sơ cấp. TTCK thứ cấp là nơi gặp gỡ của các nhà môi giới chứng khoán để thương lượng, đấu giá mua bán chứng khoán, là cơ quan phục vụ cho hoạt động giao dịch, mua bán chứng khoán. Thị trường thứ cấp có vai trò tạo ra tính thanh khoản cho các loại chứng khoán, tạo điều kiện luân chuyển vốn từ nơi có mức sinh lợi thấp sang nơi có mức sinh lợi cao, tăng khả năng cạnh tranh và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Mối quan hệ giữa hai thị trường: là mối quan hệ nội tại, trong đó thị trường sơ cấp là cơ sở, là tiền đề và thị trường thứ cấp là động lực giúp cả 2 thị trường cùng tồn tại và phát triển. Nếu không có thị trường sơ cấp thì không có thị trường thứ cấp và ngược lại sự thành công hay thất bại của thị trường thứ cấp sẽ kéo theo sự thành công hay thất bại của thi trường thứ cấp. c. Căn cứ vào phương thức giao dịch có thị trường giao ngay và thị trường tương lai. Thị trường giao ngay là thị trường mua bán chứng khoán theo giá của ngày giao dịch nhưng việc thanh toán và chuyển giao chứng khoán sẽ diễn ra tiếp theo sau đó vài ngày theo qui định. Thị trường tương lai là thị trường mua bán chứng khoán theo một loạt hợp đồng định sẵn, giá cả được thoả thuận trong ngày giao dịch nhưng việc thanh toán và chuyển giao chứng khoán sẽ diễn ra trong một ngày kỳ hạn nhất định trong tương lai. d. Căn cứ vào đối tượng giao dịch Thị trường trái phiếu là nơi mua bán các trái phiếu, thường nhận được sự quan tâm của nhiều người đầu tư. Giá của thị trường này thường xuyên biến động mạnh và tác động mạnh đến thị trường khác như thị trường trái phiếu và thị trường chứng khoán phái sinh. Thị trường cổ phiếu là nơi mua bán các cổ phiếu, là thị trường đầu tư khá an toàn, nhất là các loại trái phiếu Chính Phủ và trái phiếu tài chính. Thị trường này nhận được sự quan tâm khá nhiều của các tổ chức tài chính trung gian. Thị trường phái sinh là nơi mua bán các công cụ có nguồn gốc chứng khoán: thị trường quyền mua, thị trường quyền chọn, thị trường hợp đồng kỳ hạn và thị trường hoán đổi. Sự tham gia của người đầu tư trên thị trường này nhằm chủ yếu nhằm phòng ngửa rủi ro cho hoạt động kinh doanh và đầu tư trên thị trường cổ phiếu. 3. Vai trò của thị trường chứng khoán. a. Đối với chính phủ. Thị trường chứng khoán cung cấp các phương tiện để huy động vốn và sử dụng các nguồn vốn một cách có hiệu quả cho nền kinh tế quốc dân. Chính phủ huy động vốn bằng việc bán trái phiếu và dùng số tiền đó để đầu tư vào các dự án cần thiết của mình. Thị trường chứng khoán còn góp phần thực hiện quá trình cổ phần hoá. Chính thị trường chứng khoán có thực mới có thể tuyên truyền sự cần thiết của thị trường chứng khoán một cách tốt nhất. Từ đó khuyến khích việc cổ phần hoá nhanh lên các doanh nghiệp quốc doanh. Thị trường chứng khoán là nơi để thực hiện các chính sách tiền tệ. Lãi suất thị trường có thể tăng lên hoặc giảm xuống do việc chính phủ mua hoặc bán trái phiếu. Ngoài ra thị trường chứng khoán là nơi thu hút các nguồn vốn đầu tư gián tiếp từ nước ngoài qua việc nước ngoài mua chứng khoán. b. Đối với các doanh nghiệp. Thị trường chứng khoán giúp các công ty thoát khỏi các khoản vay có chi phí tiền vay cao ở các ngân hàng. Các doanh nghiệp có thể phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu. Hoặc chính thị ttường chứng khoán tạo ra tính thanh khoản để cho công ty có thể bán chứng khoán bất kỳ lúc nào để có tiền. Như vậy, thị trường chứng khoán giúp các doanh nghiệp đa dạng hoá các hình thức huy động vốn và đầu tư. Thị trường chứng khoán là nơi đánh giá giá trị của doanh nghiệp và
Trang 1ĐẠI HỌC KINH TẾ ĐÀ NẴNG
Học kì II năm học 2011- 2012
MÔN: THỊ TRƯỜNG & ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH
-ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH NHỮNG TIÊU CỰC TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM NHÓM 11: 1 TRẦN THỊ NGỌC PHƯƠNG 37H11K7.A
2 NGÔ THỊ THU HỒNG 37H11K7.A
3 HOÀNG THỊ YẾN NHI 35k4.2 4 BÀNH THỊ THANH 36K18
5 PHẠM THỊ THU TÌNH 36K18
6 NGÔ PHAN TÂM THẢO 36K18
7 NGUYỄN VIẾT NHẬT 36K18
8 NGUYỄN MINH NHẬT 36K18
LỚP HỌC PHẦN: TTCDC_2
GIẢNG VIÊN : Th.S PHAN ĐẶNG MY PHƯƠNG
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Để hoàn thiện mục tiêu công nghiệp hoá - hiện đại hoá thì điều kiện tiên quyết là vấn
đề về vốn Xoay quanh đề tài về vốn này đã có rất nhiều cuộc tranh luận bàn cãi, hội thảov.v và cũng có rất nhiều những bài viết đề cập đến, dù ở góc độ này hay góc độ khác Đặcbiệt là những bài viết đề cập đến việc tạo ra vốn trung và dài hạn để đầu tư dài hạn của nềnkinh tế đất nước Các doanh nghiệp có thể tiến hành tạo lập vốn bằng hai con đường chính.Thứ nhất, đi vay các ngân hàng thương mại hoặc phát hành trái phiếu Công ty Thứ hai, phânchia quyền sở hữu của doanh nghiệp bằng cách phát hành thêm cổ phiếu
Với một chiều dài lịch sử hơn 400 năm hình thành và phát triển đến nay thị trườngchứng khoán đã phổ biến ở hầu hết các quốc gia trên thế giới ở nước ta, vấn đề xây dựng thịtrường chứng khoán đã và đang thu hút sự quan tâm của nhiều nhà kinh tế Cho đến nay theonhận định của các nhà kinh tế, thị trường chứng khoán là một công cụ hữu hiệu để huy độngvốn giúp hoàn thiện mục tiêu công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước Song trên thị trườngchứng khoán vẫn tồn tại những hành vi tiêu cực, ảnh hưởng đến sự phát triển của thị trườngchứng khoán
Nhằm hiểu biết rõ hơn về những hành vi đã nêu trên, nhóm thuyết trình xin chọn đề tài
“Phân tích những hành vi tiêu cực trên thị trường chứng khoán” Đề tài này rất rộng và
mang tính thời sự, tuy nhiên do hiểu biết của nhóm còn hạn chế nên chúng em chỉ xin đónggóp một phần nhỏ hiểu biết của mình
Nội dung đề tài gồm ba phần:
-Phần I: Lý luận chung về thị trường chứng khoán
-Phần II: Những những hành vi tiêu cực trên thị trường chứng khoán ở Việt Nam hiện nay-Phần III: Giải pháp khắc phục những hành vi tiêu cực
Trang 3CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG
2 Đặc điểm
- Thị trường chứng khoán không phải là nơi sở hữu chứng khoán
- Thị trường chứng khoán không ấn định giá cả chứng khoán mà giá chứng khoán đượcxác định trên cơ sở cung cầu Nghĩa là giá cả chứng khoán được hình thành trên cơ sở đấu giágiữa những người muốn mua và những người muốn bán
3 Phân loại
a Căn cứ theo cách thức tổ chức
Thị trường chứng khoán tập trung hay còn gọi là Sở giao dịch chứng khoán là nơi
mua bán loại chứng khoán được niêm yết có địa điểm và thời biểu mua bán rõ rệt, giá cả đượcxác định theo hình thức đấu giá hoặc đấu lệnh
Thị trường chứng khoán bán tập trung hay còn gọi là thị trường OTC là thị trường
chứng khoán bậc cao được tự động hóa, việc mua bán chứng khoán thông qua mạng giao dịchbằng máy vi tính Hệ thống mạng này được nối giữa các thành viên của trung tâm với nhaukhắp trong cả nước, việc giao dịch được thực hiện thông qua mạng máy tính và điện thoại
Thị trường chứng khoán phi tập trung: quá trình mua bán chứng khoán diễn ra bên
ngoài Sở giao dịch, không có ngày giờ nghỉ hay thủ tục quyết định mà do thoả thuận giữangười mua và người bán, có thể thông qua môi giới
b Căn cứ vào quá trình luân chuyển vốn
Thị trường phát hành hay còn gọi là thị trường sơ cấp là nơi các chứng khoán được
phát hành lần đầu bởi các nhà phát hành được bán cho các nhà đầu tư Thị trường sơ cấp cóvai trò hết sức quan trọng đối với nền kinh tế, góp phần tạo vốn cho nền kinh tế nói chung vàtạo vốn cho các đơn vị phát hành nói riêng
Thị trường thứ cấp là thị trường mà nơi đó diễn ra qua trình mua đi bán lại các loại
chứng khoán có khả năng chuyển nhượng đã phát hành lần đầu ở thị trường sơ cấp TTCK thứ
Trang 4cấp là nơi gặp gỡ của các nhà môi giới chứng khoán để thương lượng, đấu giá mua bán chứngkhoán, là cơ quan phục vụ cho hoạt động giao dịch, mua bán chứng khoán Thị trường thứ cấp
có vai trò tạo ra tính thanh khoản cho các loại chứng khoán, tạo điều kiện luân chuyển vốn từnơi có mức sinh lợi thấp sang nơi có mức sinh lợi cao, tăng khả năng cạnh tranh và nâng caohiệu quả sử dụng vốn
Mối quan hệ giữa hai thị trường: là mối quan hệ nội tại, trong đó thị trường sơ cấp
là cơ sở, là tiền đề và thị trường thứ cấp là động lực giúp cả 2 thị trường cùng tồn tại và pháttriển Nếu không có thị trường sơ cấp thì không có thị trường thứ cấp và ngược lại sự thànhcông hay thất bại của thị trường thứ cấp sẽ kéo theo sự thành công hay thất bại của thi trườngthứ cấp
c Căn cứ vào phương thức giao dịch có thị trường giao ngay và thị trường tương lai Thị trường giao ngay là thị trường mua bán chứng khoán theo giá của ngày giao dịch
nhưng việc thanh toán và chuyển giao chứng khoán sẽ diễn ra tiếp theo sau đó vài ngày theoqui định
Thị trường tương lai là thị trường mua bán chứng khoán theo một loạt hợp đồng định
sẵn, giá cả được thoả thuận trong ngày giao dịch nhưng việc thanh toán và chuyển giao chứngkhoán sẽ diễn ra trong một ngày kỳ hạn nhất định trong tương lai
d Căn cứ vào đối tượng giao dịch
Thị trường trái phiếu là nơi mua bán các trái phiếu, thường nhận được sự quan tâm
của nhiều người đầu tư Giá của thị trường này thường xuyên biến động mạnh và tác độngmạnh đến thị trường khác như thị trường trái phiếu và thị trường chứng khoán phái sinh
Thị trường cổ phiếu là nơi mua bán các cổ phiếu, là thị trường đầu tư khá an toàn,
nhất là các loại trái phiếu Chính Phủ và trái phiếu tài chính Thị trường này nhận được sự quantâm khá nhiều của các tổ chức tài chính trung gian
Thị trường phái sinh là nơi mua bán các công cụ có nguồn gốc chứng khoán: thị
trường quyền mua, thị trường quyền chọn, thị trường hợp đồng kỳ hạn và thị trường hoán đổi
Sự tham gia của người đầu tư trên thị trường này nhằm chủ yếu nhằm phòng ngửa rủi ro chohoạt động kinh doanh và đầu tư trên thị trường cổ phiếu
3 Vai trò của thị trường chứng khoán.
a Đối với chính phủ.
Thị trường chứng khoán cung cấp các phương tiện để huy động vốn và sử dụng cácnguồn vốn một cách có hiệu quả cho nền kinh tế quốc dân Chính phủ huy động vốn bằng việcbán trái phiếu và dùng số tiền đó để đầu tư vào các dự án cần thiết của mình
Trang 5Thị trường chứng khoán còn góp phần thực hiện quá trình cổ phần hoá Chính thịtrường chứng khoán có thực mới có thể tuyên truyền sự cần thiết của thị trường chứng khoánmột cách tốt nhất Từ đó khuyến khích việc cổ phần hoá nhanh lên các doanh nghiệp quốcdoanh.
Thị trường chứng khoán là nơi để thực hiện các chính sách tiền tệ Lãi suất thị trường
có thể tăng lên hoặc giảm xuống do việc chính phủ mua hoặc bán trái phiếu
Ngoài ra thị trường chứng khoán là nơi thu hút các nguồn vốn đầu tư gián tiếp từ nướcngoài qua việc nước ngoài mua chứng khoán
b Đối với các doanh nghiệp.
Thị trường chứng khoán giúp các công ty thoát khỏi các khoản vay có chi phí tiền vaycao ở các ngân hàng Các doanh nghiệp có thể phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu Hoặc chínhthị ttường chứng khoán tạo ra tính thanh khoản để cho công ty có thể bán chứng khoán bất kỳlúc nào để có tiền Như vậy, thị trường chứng khoán giúp các doanh nghiệp đa dạng hoá cáchình thức huy động vốn và đầu tư
Thị trường chứng khoán là nơi đánh giá giá trị của doanh nghiệp và của cả nền kinh tếmột cách tổng hợp và chính xác (kể cả giá trị hữu hình và vô hình) thông qua chỉ số giá chứngkhoán trên thị trường Từ đó tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệuquả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm Thị trường chứngkhoán còn là nơi giúp các tập đoàn ra mắt công chúng Thị trường chứng khoán chính là nơiquảng cáo ít chi phí về bản thân doanh nghiệp
c Đối với nhà đầu tư.
Thị trường chứng khoán là nơi mà các nhà đầu tư có thể dễ dàng tìm kiếm các cơ hộiđầu tư để đa dạng hoá đầu tư, giảm thiểu rủi ro trong đầu tư
4 Các nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của thị trường chứng khoán.
a Nguyên tắc trung gian
Trên thị trường chứng khoán, các giao dịch thường được thực hiện thông qua tổ chứctrung gian và môi giới là các công ty chứng khoán Trên thị trường sơ cấp, các nhà đầu tưthường không mua trực tiếp của nhà phát hành mà mua từ các nhà bảo lãnh phát hành Trênthị trường thứ cấp, thông qua nghiệp vụ môi giới kinh doanh các công ty chứng khoán muachứng khoán giúp các nhà đầu tư, hoặc mua chứng khoán của nhà đầu tư này để mua và báncho các nhà đầu tư khác.Nguyên tắc này nhằm đảm bảo các loại chứng khoán được giao dịch
là chứng khoán thực và giúp thị trường hoạt động lành mạnh, bảo vệ quyền lợi của các nhàđầu tư
b Nguyên tắc đấu giá
Trang 6Việc định giá chứng khoán trên thị trường phụ thuộc hoàn toàn vào các nhà trung gianmôi giới Mỗi nhà trung gian môi giới định giá mỗi loại chứng khoán tại một thời điểm tuỳtheo sự xét đoán và tùy vào số cung cầu chứng khoán có trên thị trường Việc định giá chứngkhoán được thực hiện thông qua cuộc thương lượng giữa những người trung gian môi giới cầnmua và cần bán Giá cả được xác định khi hai bên đã thống nhất Tất cả các thành viên có liênquan trên thị trường không ai có thể can thiệp vào sự tác động qua lại của số cung cầu chứngkhoán trên thị trường và cũng không ai có quyền định giá chứng khoán một cách độc đoán Vìthế thị trường chứng khoán được coi là thị trường tự do nhất trong các thị trường.
c Nguyên tắc công khai
Tất cả các hoạt động trên thị trường chứng khoán đều được công khai hoá về các loạichứng khoán được đưa ra mua bán trên thị trường, cũng như tình hình tài chính về kết quảkinh doanh của công ty phát hành và số lượng chứng khoán và giá cả từng loại đều được côngkhai trên thị trường và trong các báo cáo Khi kết thúc một cuộc giao dịch số lượng chứngkhoán được mua bán, giá cả từng loại đều được lập tức thông bán ngay Nguyên tắc này nhằmđảm bảo quyền lợi cho người mua và người bán chứng khoán không bị hớ trong mua bánchứng khoán và người mua chứng khoán dễ dàng chọn loại chứng khoán theo sở thích củamình
Tại Việt Nam, TTCK hoạt động theo các nguyên tắc sau:
- Tôn trọng quyền tự do mua bán của các tổ chức, cá nhân
- Công bằng, công khai, minh bạch
- Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người đầu tư
- Người đầu tư tự chịu trách nhiệm về rủi ro
Trang 7CHƯƠNG II : NHỮNG HÀNH VI TIÊU CỰC TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN VIỆT NAM HIỆN NAY
A.Sơ lược về thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam :
Thị trường chứng khoán Việt Nam được hình thành cách đây vài năm và đang trongquá trình hoàn thiện và phát triển mạnh mẽ
-Giai đoạn 2000-2005 : được xem là giai đoạn khởi động của TTCK.
Trong giai đoạn này quy mô của thị trường còn nhỏ với giá trị vốn hóa nhỏ hơn 5% GDP.Bên cạnh đó, cơ chế hoạt động của thị trường chưa hoàn chỉnh, năng lực quản lý của thịtrường chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển lâu dài của thị trường, cơ sở hạ tầng kỹ thuật cònyếu đã làm ảnh hưởng đến hệ thống giao dịch, khả năng cập nhật thông tin, xử lý và dự báocủa thị trường Năm 2000, với hai mã niêm yết khi đưa trung tâm giao dịch chứng khoánTPHCM vào hoạt động, thị trường chứng khoán đã có mức tăng trưởng nhanh do nguồn cunghàng hóa khan hiếm, chỉ số VN-Index liên tục tăng và đạt tới đỉnh điểm là 571,04 điểm ngày25/6/2001 Sau đó, thị trường liên tục sụt giảm trong suốt 3 năm trước khi tăng mạnh trở lạivào cuối năm 2003
+Năm 2005, trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội đi vào hoạt động, tổng số các công
ty niêm yết trên cả hai thị trường là 44 công ty với tổng giá trị niêm yết là 4,94 nghìn tỷ đồng
-Năm 2006 : Sự phát triển đột phá của thị trường chứng khoán Việt Nam.
Mốc thời gian kể từ đầu năm 2006 được coi là mang tính chất phát triển “đột phá”, tạo cho thịtrường chứng khoán Việt Nam một diện mạo hoàn toàn mới với hoạt động giao dịch sôi độngtại cả 3 “sàn”: Sở giao dịch Tp.Hồ Chí Minh, Trung tâm Giao dịch Hà Nội và thị trường OTCVới mức tăng trưởng đạt tới 60% từ đầu đến giữa năm 2006 thị trường chứng khoán Việt Namtrở thành "điểm" có tốc độ tăng trưởng nhanh thứ 2 thế giới, chỉ sau Dim-ba-buê Và sự bừngdậy của thị trường non trẻ này đang ngày càng "hút hồn" các nhà đầu tư trong và ngoài nước
Không thể phủ nhận năm 2006 vừa qua thị trường chứng khoán Việt Nam non trẻ này đã có
“màn trình diễn” tuyệt vời và có thể sẽ không bao giờ có lại được với khối lượng vốn hoá tănggấp 15 lần trong vòng 1 năm
Năm 2006 , TTCK Việt Nam có sự phát triển vượt bậc, chỉ số Vn-Index tại sàn giao dịch TP
Hồ Chí Minh (HASTC) tăng 144% năm 2006, tại sàn giao dịch Hà Nội (Hastc) tăng 152,4% Thị trường chứng khoán Việt Nam 2006: VN-Index cuối năm tăng 2,5 lần so đầu năm
Tổng giá trị vốn hóa đạt 13,8 tỉ USD cuối năm 2006 (chiếm 22,7% GDP)giá trị cổ phiếu do các nhà đầu tư nước ngoài đang nắm giữ đạt khoảng 4 tỉ USD, chiếm16,4% mức vốn hóa của toàn thị trường
-Năm 2007: Giai đoạn thị trường chứng khoán bùng nổ.
Luật Chứng khoán có hiệu lực từ ngày 01/01/2007 đã góp phần thúc đẩy thị trường phát triển
và tăng cường khả năng hội nhập vào thị trường tài chính quốc tế Tính công khai, minh bạchcủa các tổ chức niêm yết được tăng cường
Trang 8Nhìn chung diễn biến của thị trường và giá cả chứng khoán trong các phiên giao dịch có nhiềubiến động, Index của cả 2 sàn giao dịch đều có biên độ giao động mạnh Kết thúc phiên giaodịch cuối năm, VNIndex đạt 927,02 điểm, Hastc-Index dừng ở mức 323,55 điểm, như vậy sau
1 năm hoạt động VNIndex đạt được mức tăng trưởng là 23,3%; Hastc-Index tăng 33,2% sovới mức điểm thiết lập vào cuối năm 2006.VNIndex đạt đỉnh 1.170,67 điểm
ảm đạm trong tâm lý các NĐT
Tính từ đầu năm đến hết ngày 31/12/2008, TTCKVN trải qua 03 giai đoạn chính:
• Giai đoạn 1: Từ tháng 01 tới tháng 06 - Thị trường giảm mạnh do tác động từ tác động
của kinh tế vĩ mô
Khởi đầu năm tại mức điểm 921,07, VNIndex đã mất đi gần 60% giá trị và trở thành mộttrong những thị trường giảm điểm mạnh nhất trên thế giới trong nửa đầu năm 2008.Các thông tin tác động xấu tới tâm lý nhà đ ầu tư trong giai đoạn này chủ yếu xuất phát từ nộitại nền kinh tế Trong đó nổi bật là sự gia tăng lạm phát, chính sách thắt chặt tiền tệ củaNHNN, sự leo dốc của giá xăng dầu và sức ép giải chấp từ phía ngân hàng đối với các khoảnđầu tư vào TTCK
Trong 103 phiên giao dịch của giai đoạn này, có tới 71 phiên VNIndex giảm điểm Đỉnh điểm
là chuỗi 34 phiên VN-Index giảm điểm liên tiếp từ giữa tháng 04 đến đầu tháng 06/2008 Sau
103 phiên giao dịch,VNIndex giảm mất 550,52 điểm- tương đương 59,77% Bình quân trongmỗi phiên, toàn thị trường có 8,02 triệu CP&CCQ được chuyển nhượng, tương đương khoảng
482 tỷ đồng
Trong đợt suy giảm này, nhóm cổ phiếu chịu nhiều tác động nhiều nhất là nhóm cổ phiếu tàichính ngân hàng, công nghệ và công nghiệp (chủ yếu là các doanh nghiệp BĐS).Trong lịch sử hoạt động của TTCK, chưa có năm nào UBCKNN phải can thiệp vào thị trườngbằng các biện pháp mạnh tay nhiều như năm 2008
• Giai đoạn 2: Tháng 06 tới đầu tháng 09 - Phục hồi trong ngắn hạn
Nhờ vai trò dẫn dắt của một số cổ phiếu blue -chip như STB, FPT, DPM…và đặc biệt là SSIvới sức cầu hỗ trợ từ đối tác n ước ngoài, cả hai sàn chứng khoán đã có được những phi êntăng điểm mạnh trong giai đoạn này
Đây cũng là giai đoạn thị trư ờng hoạt động sôi động nhất Sức cầu mạnh, kéo theo khốilượng giao dịch v à giá trị giao dịch thường xuyên ở mức cao VNIndex tăng được 168,55điểm, tương đương 45,52% Khối lượng giao dịch bình quân đạt 16,9 triệu CP&CCQ, tươngđương 599,18 tỷ đồng/phiên
Trong giai đoạn này, nhóm cổ phiếu được ưa thích nhất là nhóm cổ phiếu dầu khí (tăng80,33%), nguyên vật liệu v à công nghệ (tăng 89,78%) Các đại diện tiêu biểu cho nhóm cổphiếu n ày bao gồm: PVS, PVD, PTC, HPG, FPT…
• Giai đoạn 3: Từ tháng 09 tới tháng 12 - Thị trường rơi trở lại chu kỳ giảm do tác động
của khủng hoảng kinh tế toàn cầu
Trang 9Đây là thời kỳ VNIndex rơi trở lại xu hướng giảm, thậm chí đã phá vỡ đáy thiết lập đượctrong giai đoạn đầu của năm 2008 Tổng kết cả giai đoạn này, VNIndex m ất 223,48 điểm,tương đương 41,45% Khối lượng giao dịch trung bình đạt 15,82 triệu CP&CCQ, tươngđương 497,58 tỷ đồng/phiên.
Nguyên nhân tác động lớn nhất tới TTCK trong giai đoạn này chính là sự lan tỏa mạnh củacuộc khủng hoảng tài chính trên toàn thế giới Hòa cùng xu thế giảm điểm của TTCK cácnước, 02 chỉ số chứng khoán tại sàn HoSE và HaSTC liên tiếp giảm điểm Trong 86 phiêngiao dịch tại HoSE, 49 phiên VNIndex mất điểm Đáy mới thiết lập trong giai đoạn này là286,85 điểm vào ngày 10/12/2008
-Năm 2009: Thị trường chứng khoán đã có sự phục hồi tương đối ấn tượng
Năm 2009, cột mốc quan trọng đã lần lượt được thiết lập: phiên giao dịch ngày 24-2, Index đã rơi xuống mức đáy 235,5 điểm, HNX-Index lùi về dưới mốc 100 điểm khi xuốngmức thấp nhất trong lịch sử là 78,06 điểm Tuy nhiên, bước sang tháng 3-2009, các nhà đầu tư(NĐT) đã lấy lại được niềm tin khi TTCK có một tháng tăng điểm ấn tượng nhất kể từ tháng11-2008: VN-Index không chỉ khởi sắc về điểm số mà khối lượng giao dịch cũng tăng mạnh.Tính đến hết ngày 30-6, VN-Index đã tăng 132,67 điểm (42,03%), HNX-Index tăng 44,57điểm (42,66%) so với thời điểm kết thúc năm 2008 Đây là một bước tiến dài của TTCK trongnước khi VN-Index đã đạt tốc độ tăng lớn thứ 8 trong tổng số 89 chỉ số chứng khoán quantrọng trên thế giới khi tăng được 46% so với thời điểm đầu năm 2009 Kỷ lục về khối lượnggiao dịch tại sàn HOSE được thiết lập vào ngày 10-6 với 101.774.520 cổ phiếu và chứng chỉquỹ được chuyển nhượng, con số tương tự tại HNX là 56.522.170 cổ phiếu
VN-Từ tháng 8 đến tháng 10, TTCK lại tiếp tục đợt tăng giá thứ hai đầy mạnh mẽ với nhiều kỷ lục
về giá trị và khối lượng giao dịch kỷ lục được xác lập Ngày 22-10, TTCK vươn tới đỉnh điểmcủa đợt sóng thứ 2 là mức 624,10 điểm Đây cũng là mức cao nhất của thị trường sau 394phiên giao dịch kể từ ngày 14-3-2008 Trong khoảng thời gian này, thanh khoản liên tục đạt
kỷ lục trên cả hai sàn Đối với sàn HOSE, phiên giao dịch ngày 23-10 được coi là "siêu thanhkhoản" khi lập kỷ lục cao nhất từ trước đến nay cả về khối lượng và giá trị giao dịch với hơn
136 triệu đơn vị được chuyển nhượng, tương ứng giá trị giao dịch lên đến 6,414 nghìn tỷđồng; sàn HNX đạt kỷ lục với hơn 67,23 triệu cổ phiếu được chuyển nhượng cùng 3,04 nghìn
tỷ đồng được giải ngân TTCK tăng trưởng mạnh mẽ, nằm ngoài dự đoán của giới chuyên gia
và trở thành điểm sáng ấn tượng khi có tốc độ phục hồi nhanh nhất châu Á
-Năm 2010: Thị trường chứng khoán biến động thất thường
Nữa đầu năm 2010, thị trường chứng khoán biến động trong biên độ hẹp 480 - 550 điểm vớithanh khoản ở mức trung bình Nguyên nhân thị trường đi ngang trong suốt 6 tháng đầu nămđược nhận định là bởi tâm lý thận trọng của giới đầu tư cùng sự khan hiếm của dòng tiền.Trong giai đoạn này, Chính phủ áp dụng những biện pháp nhằm hướng dòng vốn vào lĩnh vựcsản xuất và hạn chế cấp vốn cho các kênh như chứng khoán, bất động sản Đồng thời, lượng
cổ phiếu niêm yết, cổ phiếu thưởng tăng lên nhanh chóng làm cho dòng tiền trên thị trườngcàng trở nên khan hiếm
Trong khoảng thời gian từ tháng 7 đến tháng 8, thị trường chứng khoán bước vào giai đoạnlao dốc khi hai chỉ số chứng khoán đều chạm mốc thấp nhất trong vòng một năm Trong vòng
2 tháng, Vn - Index mất hơn 16%
Trang 10Từ cuối tháng 8, những bất ổn của nền kinh tế dần bộc lộ và đỉnh điểm là đầu tháng 11, Chínhsách tiền tệ đột ngột thay đổi - thể hiện rõ quyết tâm kiềm chế lạm phát, kéo theo một cuộcđua lãi suất gữa các ngân hàng Với thị trường chứng khoán, điểm ngạc nhiên là sau một tuầnrơi mạnh bởi biến động khó lường của tỷ giá cùng giá vàng trong và ngoài nước, thị trường đãquay đầu hồi phục vào cuối tháng 11, đầu tháng 12 Đây có thể coi là thành công của chứngkhoán Việt Nam bởi đa phần các thị trường lớn trên thế giới đều mất điểm trong thời gian này.
-Năm 2011: Thị trường chứng khoán ‘lao dốc’ mạnh
Thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2011 tiếp tục chứng kiến đà lao dốc không phanh của
cả hai chỉ số chính Trong khi VN-Index giảm từ 486 điểm xuống mức 356,2 điểm (mức thấpnhất kể từ tháng 5/2010) thì HNX-Index đạt mức thấp nhất từ khi chỉ số này ra đời, giảm 58điểm xuống 55,4 điểm tính đến ngày 26/12
=>Giá cổ phiếu ở mức rất thấp, công ty chứng khoán gặp nhiều khó khăn
Với xu hướng lao dốc mạnh của thị trường trong năm nay, giá trị tất cả các cổ phiếu đã đượckéo xuống mức thấp nhất nhất trong lịch sử Tính đến ngày 26/12, tổng cộng cả hai sàn có tới
433 mà có giá trị dưới 10.000 đồng (sàn HSX chiếm 156 mã, sàn HNX chiếm 277 mã) và 186
mã có giá trị dưới 5.000 đồng trong tổng cộng 696 mã
Trong đó cổ phiếu VKP có giá rẻ nhất, đóng cửa phiên giao dịch ngày 26/12 đạt 800 đồng/cp(ngày 24/11 đạt 600 đồng/cp) CAD và SME cùng có giá 1.600 đồng, VES có giá 1.500 đồng,ORS có giá 1.800 đồng, VNE có giá 2.800 đồng…
Không những các mã nhỏ, các mã lớn thuộc nhóm chủ chốt của hai sàn cũng giảm mạnhxuống mức giá dưới 10.000 đồng như PVF đạt 7.500 đồng, OGC đạt 7.600 đồng, KLS đạt7.900 đồng, PVX đạt 7.100 đồng…
Với việc thị trường ảm đạm kể từ giữa năm 2010 đến hết 2011, đã ảnh hưởng mạnh tới kếtquả cũng như hoạt động kinh doanh của các công ty chứng khoán
=>Sau gần mười hai năm hoạt động, thị trường chứng khoán Việt Nam đã có những bước pháttriển nhất định và đã đạt được mục tiêu đề ra ban đầu là hoạt động an toàn và hiệu quả Thịtrường chứng khoán Việt Nam đã đóng vai trò tích cực đối với sự phát triển của các doanhnghiệp, sự năng động của nền kinh tế và hình ảnh của một Việt Nam ngày càng phồn thịnh,phát triển và hoà nhập với nền kinh tế quốc tế Tuy nhiên, do đang ở giai đoạn đầu hình thành
và phát triển, thị trường chứng khoán Việt Nam còn ở dạng sơ khai Việc tồn tại những hạnchế và bất cập của thị trường trên tất cả các khía cạnh là điều không tránh khỏi Bởi vậy, thịtrường đã có nhiều biến động khó lường trong thời gian qua và điều này gây ra không ít khókhăn cho các doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung Có thể thấy nhữngkết quả đạt được sau 12 năm TTCK hình thành và phát triển khá rõ nét song ngay trong nhữnggiai đoạn thị trường tăng trưởng mạnh nhất vẫn bộc lộ những hạn chế như tính thanh khoảncủa thị trường thấp dẫn đến mất cân đối cung cầu làm giá cả biến động thất thường Sự tăngtrưởng của thị trường chưa bắt nguồn từ động cơ tích cực khi nhà đầu tư còn chạy theo phongtrào, thị trường thiếu vắng các nhà đầu tư dài hạn Hệ thống các tổ chức trung gian hỗ trợ chohoạt động của thị trường còn nhiều hạn chế, khung pháp lý của thị trường còn nhiều bất cập
Trang 11khi mà Luật Chứng khoán đã ban hành song chưa đầy đủ ở một số hành vi như giao dịchkhống, giao dịch tín dụng, giao dịch các sản phẩm phái sinh…
B.Những hành vi tiêu cực trên thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay:
Cẩn trọng luôn là đức tính cần thiết của bất kì nhà đầu tư nào Những nhà đầu tư nên biếttrước và cảnh giác đối với những “cạm bẫy” luông thường trực trên thị trường chứng khoán
Có thế mới tránh được rủi ro lớn trong quá trình đầu tư
Hiện nay có một số tiêu cực xảy ra trên thị trường chứng khoán và nhóm chúng tôi xin tậptrung tìm hiểu 4 tiêu cực nổi bật nhất trên thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay, đó là:
-Đầu cơ chứng khoán
-Bán khố ng chứng khoán
-Mua bán nội gián
-Thông tin sai sự thật
I/Bán khống chứng khoán:
Một cách thức để khi chơi chứng khoán có lời đó là mua cổ phiếu khi giá thấp và bán cổphiếu khi giá cao để từ đó sẽ được hưởng chênh lệch Với sự suy giảm của thị trường chứngkhoán trong thời điểm hiện nay thì việc mua cổ phiếu giá thấp và chờ đợi bán ra với giá cao đểkiếm lời là rất khó nếu không muốn nói là không thể vì hầu hết các mã chứng khoán đều đanggiảm xuống
Tuy nhiên các nhà đầu tư vẫn có thể kiếm lời trong thời kỳ chứng khoán suy thoái bằngmột cách thức đó là “ bán khống chứng khoán “ Vậy khái niệm “ bán khống chứng khoán là
gì “, cách thức của phương thức này cũng như những rủi ro nó mang lại cho các nhà đầu tư rasao Chúng ta cùng tìm hiểu về phương thức kinh doanh này
1 Khái quát chung:
-Bán khống (Short-selling), trong tài chính có nghĩa là một cách kiếm lợi nhuận từ sự kỳvọng tụt giảm giá của một loại chứng khoán, ngoại tệ Trong giao dịch chứng khoán cũngvậy:Bán khống là giao dịch trong đó nhà đầu tư đặt lệnh bán chứng khoán khi không có chứngkhoán trong tài khoản hoặc vay chứng khoán thật để bán Đối với thị trường chứng khoán(TTCK) Việt Nam, chủ yếu tồn tại dạng vay chứng khoán thật để bán, tức là bán chứng khoánthật, nhưng với sự cho phép và theo những thỏa thuận với người có chứng khoán (về mức phívay cũng như thời gian phải hoàn trả chứng khoán về tài khoản) Khi thực hiện giao dịch này,nhà đầu tư mong đợi giá sẽ giảm trong tương lai, khi đó họ sẽ mua được chứng khoán với giáthấp hơn và trả cho công ty chứng khoán Khoản chênh lệch là lợi nhuận của nhà đầu tư, songnếu chứng khoán tăng giá thì sẽ bị lỗ
Vậy bán khống chứng khoán được thực hiện như thế nào?
-Cách thức của việc bán khống chứng khoán tương đối dể hiểu Khi nhà đầu tư dự đoántrong tương lai giá cổ phiếu sẽ giảm, họ sẽ đi vay cổ phiếu của CTCK để bán; sau khi giá hạ,
họ sẽ mua cổ phiếu đó trên thị trường để trả lại và hưởng khoản chênh lệch giá Trong trường
Trang 12hợp thị trường đi xuống, giá cổ phiếu tại thời điểm bán ra cao hơn giá tại thời điểm mua vàothì nhà đầu tư đi vay sẽ hưởng lợi
Ví dụ: Giả sử, một người vay mượn cổ phiếu ABC với giá 100.000đ/cp và bán đi ngay Sau
đó, giá cổ phiếu ABC giảm xuống còn 80.000đ/cp, người này mua cổ phiếu ABC để trả lại.Như vậy, người đó thu về 20.000đ/cp Trong trường hợp cổ phiếu ABC tăng giá sau khi muathì người đó sẽ bị lỗ vì phải mua trả lại với giá cao hơn
-Nhà đầu tư có nhu cầu bán khống cũng có thể "mượn" cổ phiếu của một nhà đầu tư khác,
mà không nhất thiết phải là mượn cổ phiếu của công ty chứng khoán ,trong một khoảng thờigian nhất định với mức lãi suất thỏa thuận giữa hai bên Cổ phiếu sau đó sẽ được sang tên đểbên mượn có thể thực hiện hoạt động bán khống Đối tượng cho vay, thường là những nhà đầu
tư có ý định nắm giữ cổ phiếu dài hạn mà không chú ý nhiều đến biến động giá ngắn hạn,cũng cảm thấy hài lòng nhờ thu lời qua lãi suất cho vay chứng khoán
=>Để đảm bảo an toàn, CTCK triển khai nghiệp vụ này thường yêu cầu người vay chứngkhoán ký quỹ một khoản tiền nhất định, tuy nhỏ hơn giá trị chứng khoán đi vay nhưng đủ để
bù đắp khoản lỗ nếu có Trong quá trình chưa trả được nợ, nếu giá thị trường tăng lên thìngười bán khống (người vay) phải bổ sung thêm tiền ký quỹ Ngược lại, nếu giá giảm thìngười vay có thể rút bớt ra để sử dụng
2.Ảnh hưởng của bán khống trên thị trường chứng khoán Việt Nam:
Những người ủng hộ hoạt động này lý sự rằng, việc đó có ích cho cả người vay vàngười cho vay, bởi khi thị trường giảm điểm mạnh, các nhà đầu tư (thường là nhà đầu tư dàihạn) đang nắm giữ cổ phiếu luôn mong muốn cổ phiếu của mình sẽ trở về giá trị thực, nên ítquan tâm tới giá cổ phiếu hiện thời, trong khi cho vay chứng khoán, họ thu được một khoảnphí nhất định Với người đi vay, dù không đủ chứng khoán trong tài khoản, nhưng chỉ với sốtiền ký quỹ 25 - 35% giá trị chứng khoán, họ đã có thể tranh thủ cơ hội để giao dịch, thu lời
Nhưng bán khống bị nhìn ở góc độ tiêu cực cũng có lý do của nó:
-Bởi nó tiềm ẩn mức độ rủi ro cao, có khả năng làm tổn hại đến hoạt động của TTCKBán khống chứng khoán dẫn tới những nguy cơ khủng hoảng thị trường Nếu nhiều nhà đâu tưcùng tham gia bán khống vì họ tin tưởng trong tương lai giá của cổ phiếu đó sẽ giảm Với sốlượng đông nhà đầu tư như thế thì ngay trong ngắn hạn, giá cổ phiếu đó sẽ giảm vì lượng bánnhiều, nhưng khi tới hạn phải trả lại chứng khoán đã đi vay thì lúc này mới nảy sinh nhiều vấn
đề rắc rối
-Hơn thế nữa, với tình hình thị trường đang đi xuống hiện nay nếu Việt Nam áp dụngbán khống thì trong tức thời sẽ có thể kích thích giao dịch bán khống chứng khoán để kiếmlời, nhưng với hiệu ứng của tâm lý “bầy đàn” đang tồn tại trong TTCK Việt Nam hiện nay sẽlàm cho việc bán tháo chứng khoán ngày càng trở nên trầm trọng hơn Điều này có thể tạo áplực đẩy giá CK khiến thị trường tiếp tục đi xuống và có thể dẫn đến một sự sụp đổ hoàn toàncủa thị trường chứng khóan Việt Nam, còn các khoản lời qua việc bán khống đó có thể chỉ tậptrung vào một số nhà đầu tư lớn, những nhà đầu tư nước ngoài và những CTCK mà thôi.-Mặt khác,nhiều CTCK vì “chiều” nhà đầu tư nên vẫn hỗ trợ bán khống Việc này dẫnđến méo mó cung- cầu trên thị trường Theo chuyên gia nhận định, hoạt động bán khống chỉ
Trang 13thích hợp đối với thị trường có tính thanh khoản cao, khung pháp lý đầy đủ Còn trong thờiđiểm thị trường trầm lắng, khung pháp lý còn chưa hoàn thiện như Việt Nam thì hoàn toànkhông có lợi cho CTCK, bởi mức phí cho vay không thấm tháp gì so với việc giá cổ phiếu sụtgiảm mạnh sau một chu kỳ bán khống Mặt khác, hoạt động này cũng dẫn đến các CTCK mập
mờ thông tin hoạt động
-Bán khống chứng khoán cũng được xem như là một đòn bẩy tài chính.Nó làm tăng lợinhuận lên nhiều lần nhưng cũng có thể làm tăng rủi ro lên gấp bội.Điều này không chỉ gây ảnhhưởng lớn đến nhà đầu tư mà còn đe dọa đến thị trường chứng khoán.Và dưới đây là một sốrủi ro khi bán khống chứng khoán:
+Trong trường hợp giá trên thị trường không hạ như dự đoán mà lại tăng lên, đến kỳ hạn trảlại, nhà đầu tư đó sẽ phải mua chứng khoán với giá cao hơn và chấp nhận bị lỗ khi đó nhà đầu
tư sẽ vừa phải trả lãi vay chứng khoán vừa phải chịu lỗ do chênh lệch "bán thấp mua cao" Như ví dụ đã nêu trên: Trong trường hợp cổ phiếu ABC tăng giá sau khi mua thì người đó sẽ
bị lỗ vì phải mua trả lại với giá cao hơn
+Vì nhà đầu tư muốn mượn cổ phiếu không thể trực tiếp đặt lệnh mà vẫn phải thông qua nhà đầu tư có cổ phiếu Sau khi bán cổ phiếu hai bên còn phải tiếp tục chuyển tiền qua lại, nênrất bất tiện
+Ngoài ra vì tính thanh khoản của cả thị trường niêm yết và OTC đang thấp, sau khi đã mượn được cổ phiếu, việc tìm người mua cũng không hề đơn giản
+Một rủi ro nữa là việc mượn cổ phiếu rồi "xù" luôn Người cho mượn cổ phiếu rất khó bảo
vệ quyền lợi của mình, do mọi hoạt động sang tên cổ phiếu OTC đều được thực hiện một cáchhợp pháp Hơn nữa cũng chưa hề có chế tài, quy định nào về việc thực hiện giao dịch bán khống như trên, quyền lợi của nhà đầu tư chưa được bảo vệ Ràng buộc duy nhất giữa hai bên chỉ là sự tin tưởng lẫn nhau
=>Hình thức này tiềm ẩn mức độ rủi ro cao, có khả năng làm tổn hại đến hoạt động của thị trường Do vậy, bán khống chỉ được các thị trường áp dụng khi đã đạt đến một trình độ phát triển nhất định Đó cũng là lý do vì sao nghiệp vụ này hiện mới đang được Ủy ban Chứng khoán nghiên cứu mà chưa được áp dụng ở thị trường Việt Nam
3.Nguyên nhân tồn tại của hành vi bán khống chứng khoán:
Có một câu hỏi luôn đặt ra là tại sao bán khống chứng khoán vẫn còn tồn tại trên thịtrường Việt Nam, dù pháp luật không cho phép?
-Câu trả lời chỉ có thể là chuyện muôn thuở: có cầu thì có cung
Thực tế, các nhà đầu tư đã “lách luật” để thỏa mãn nhu cầu đầu tư của mình Theo giớiđầu tư, bán khống và mua chứng khoán ký quỹ là hai công cụ của TTCK ở trình độ cao và nó
là nhu cầu ở hai cực của thị trường (bên mua và bên bán) Cụ thể, nhà đầu tư có nhu cầu vàđược phép mua ký quỹ (tức là mua khi không có đủ tiền), thì cũng xuất hiện nhu cầu bánkhống (bán khi không có đủ chứng khoán)
Trong khi đó, lách luật là chuyện quá cũ Chẳng hạn, luật không cho CTCK đem tiền cho vay,thì giữa hai bên có hợp đồng “hợp tác đầu tư”
Trang 14Những cách thức “lách luật”, khi bị cơ quan chức năng phát hiện, đã và sẽ bị xử lý theo quyđịnh Vài năm qua, đã có một số CTCK bị phạt hành chính vì cho khách hàng bán chứngkhoán khi không sở hữu chứng khoán (bán khống).
Nhưng mặt khác, nhu cầu của thị trường, của nhà đầu tư đang tồn tại khách quan và điều đócũng rất đáng để cơ quan chức năng quan tâm nhằm phát huy những mặt tích cực hay hạn chếnhững hệ lụy của nó
- Khoản 9, Điều 71, Luật Chứng khoán quy định, CTCK “thực hiện việc bán hoặc chokhách hàng bán chứng khoán khi không sở hữu chứng khoán và cho khách hàng vay chứngkhoán để bán theo quy định của Bộ Tài chính” Như vậy, Luật Chứng khoán không ghi rõ cấmbán khống chứng khoán, mà yêu cầu phải làm theo hướng dẫn của Bộ Tài chính
Tuy nhiên, từ khi Luật Chứng khoán có hiệu lực (ngày 1/1/2007) đến nay, chưa có một hướngdẫn cụ thể nào của Bộ Tài chính về việc CTCK được phép triển khai dịch vụ này Đến ngày24/8/2009, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước ban hành Công văn 1748/UBCK-QLKD do Phóchủ tịch Nguyễn Đoan Hùng ký, nêu rõ: “Trong khi chưa có quy định thực hiện nghiệp vụnày, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước yêu cầu các CTCK không thực hiện nghiệp vụ nói trên”
và cho biết sẽ kiểm tra và xử lý các công ty vị phạm theo quy định hiện hành
Đây là một trường hợp Luật không cấm, nhưng vẫn không được làm vì thiếu hướng dẫn, mànhiều người cho rằng, do cơ quan quản lý lo ngại rủi ro có thể xảy ra sẽ không có hướng giảiquyết
4.Giải pháp khắc phục:
-Trước thực trạng này, UBCK Nhà nước (SSC) đã có Công văn số 2816/UBCK-QLKDkhuyến cáo các CTCK và công ty quản lý quỹ không được thực hiện hoặc “tiếp tay” cho cáchành vi bán khống chứng khoán Cụ thể, CTCK không được đứng ra làm trung gian cho việcbán hoặc cho khách hàng bán chứng khoán khi không sở hữu chứng khoán, cũng không đượccho khách hàng vay chứng khoán để bán khi chưa có văn bản pháp luật hướng dẫn SSC yêucầu các công ty quản lý quỹ không được sử dụng vốn và tài sản của quỹ, danh mục đầu tư củakhách hàng ủy thác để cho vay hoặc bảo lãnh cho bất kỳ khoản vay nào
Sau khi SSC ban hành công văn nêu trên, Hiệp hội Kinh doanh chứng khoán Việt Nam(VASB) mới đây cũng có văn bản kiến nghị gửi Bộ Tài chính, đề nghị cần ngăn chặn hoạtđộng bán khống bằng việc các CTCK phải kết hợp kiểm tra chéo lẫn nhau SSC cần sớm cóvăn bản hướng dẫn cho phép triển khai giao dịch bán chứng khoán sau một ngày giao dịch.Nghiêm cấm việc tiết lộ thông tin về danh sách tài khoản của các nhà đầu tư và những thôngtin làm ảnh hưởng xấu đến thị trường SSC cũng cần kiểm tra chọn lọc và hạn chế việc niêmyết các loại cổ phiếu mới, nhằm giảm bớt lượng cung trên thị trường và quan tâm đến chấtlượng hàng hóa khi đưa lên sàn niêm yết, tạo tính minh bạch thông tin, góp phần ổn định thịtrường phát triển VASB cũng cho rằng, ngoài việc hạn chế nhà đầu tư tự thỏa thuận bánkhống thì cũng phải cấm nhân viên môi giới kết hợp với khách hàng thao túng thị trường
thông qua việc thỏa thuận mượn cổ phiếu bán ra để hạ thấp giá
Trang 15II/Đầu cơ chứng khoán: (Speculation)
1.Khái quát chung:
Theo Đại từ điển Tiếng Việt (NXB Văn hóa - Thông tin) thì đầu cơ là "lợi dụng các cơhội để kiếm chác lợi lộc cho mình" Cách giải thích này mặc nhiên cho đầu cơ là xấu Tuynhiên, đứng trên bình diện các hoạt động kinh tế, thì định nghĩa trên đây đã phần nào đơn giảnkhi đánh giá một hành vi, bởi trong làm ăn ai mà chẳng muốn tận dụng các cơ hội để tìm lợinhuận Về mặt thuật ngữ kinh tế thì đầu cơ đơn giản chỉ là đầu tư vào một cơ hội để kiếm lợi
Vấn đề là việc kiếm lợi ấy có phù hợp với đạo đức, luật pháp và tập quán kinh doanhcủa kinh tế thị trường hay không Đầu cơ mà chúng ta thường nói đến trong thị trường hànghóa là hành vi tạo sự khan hiếm, dùng mọi thủ đoạn để găm giữ hàng, tạo ra mức cầu lớn hơnnhiều lần so với mức cung, sau đó đẩy giá bán lên cao để trục lợi Hàng hóa bị đầu cơ là cácmặt hàng thiết yếu cho đời sống như lương thực, thực phẩm, xăng dầu, vé tàu xe vào dịp lễ,Tết mà vì cần thiết người tiêu dùng buộc phải mua với bất cứ giá nào Đó là hành vi phi đạođức trong kinh doanh
Thực tế tình hình của chúng ta những năm gần đây cho thấy khái niệm đầu cơ đã bịnhìn lệch lạc Chẳng hạn vào buổi bình minh của thị trường chứng khoán, chúng ta thườngnghe những lời lên án hoạt động đầu cơ, trong khi đây không phải là một hành vi xấu mà làmột hoạt động bình thường của TTCK
Khác với nhà đầu tư, nhà đầu cơ mua chứng khoán với mục tiêu ngắn hạn Họ mua đểbán, kiếm lời chủ yếu dựa vào chênh lệch giữa giá mua và giá bán, chứ không chủ yếu dựavào cổ tức như các nhà đầu tư Giá mỗi loại chứng khoán cũng lên xuống phụ thuộc vào biếnđộng cung cầu trên thị trường ở từng thời điểm
Đáng lưu ý là quan hệ cung cầu này không chỉ phụ thuộc vào những nhân tố trực tiếpliên quan đến từng công ty, mà còn có thể phụ thuộc vào cả những nhân tố kinh tế, chính trị,tâm lý trong nước, có khi phụ thuộc cả vào tình hình quốc tế Do đó, nếu đầu cơ nói chung đã
có nhiều rủi ro, đầu cơ chứng khoán có độ rủi ro càng cao hơn Và theo quy luật, rủi ro nhiềuthì dễ có lãi lớn, nhưng cũng dễ sạt nghiệp Cho nên chớ có căn cứ vào một số trường hợp gọi
là “trúng chứng khoán” gần đây mà ngộ nhận đây là một nghề hốt bạc
Sự xuất hiện của nhà đầu cơ trên thị trường chứng khoán là một nhu cầu khách quan Hãyhình dung thị trường chứng khoán không có các nhà đầu cơ, mà chỉ có các nhà phát hành làcác công ty cần bán chứng khoán để huy động vốn và các nhà đầu tư là những người muốnmua chứng khoán với mục tiêu đầu tư dài hạn Thị trường như vậy chỉ là thị trường sơ khai,được gọi là thị trường sơ cấp, không có thương nhân
Thị trường như thế, chắc chắn hoạt động mua bán sẽ ít, tẻ nhạt, rời rạc Nhưng quantrọng hơn là tính thanh khoản của chứng khoán sẽ rất thấp, bởi vì không phải lúc nào cũng cónhững công ty muốn bán chứng khoán và sẵn sàng mua lại chứng khoán của mình
Trang 16Nhờ có sự xuất hiện thương nhân chuyên mua đi và bán lại đủ loại chứng khoán, các nhà đầu
tư muốn mua chứng khoán (đầu tư) cũng dễ, muốn bán để có tiền làm việc khác (giải tư) cũng
dễ Tính thanh khoản cao bắt nguồn từ đó
Các nhà đầu tư có điều kiện thuận lợi để đầu tư và giải tư theo sự xem xét của mình, sựlưu chuyển vốn đầu tư trong xã hội trở nên linh hoạt, tạo thuận lợi cho quá trình cải tổ cơ cấuđầu tư, từ đó cải tổ cơ cấu kinh tế, nền kinh tế có điều kiện tăng trưởng năng động.Vai trò tích cực, không thể thiếu của nhà đầu cơ là ở đó
=>Có thể dẫn chứng: Khi giá cổ phiếu của một công ty tăng mạnh, người đầu tư tận dụng cơ
hội tung ra bán để kiếm lời, điều này sẽ làm cho giá cổ phiếu đó không tăng cao thêm nữa.Hay khi cổ phiếu một công ty bắt đầu sụt giá, nhà đầu tư tung tiền thu gom với kỳ vọng tớiđây khi công ty làm ăn tốt hơn, giá cổ phiếu tăng thì họ sẽ có được siêu lợi nhuận Do cổphiếu được mua nhiều, có nghĩa là cầu tăng, mà sự giảm giá được chặn lại Điều này có khigiúp các nhà đầu tư nhỏ không bị trắng tay Hành vi của người đầu cơ phần nào mang tínhđiều hoà thị trường làm cho cơn sốt chứng khoán bớt hung hãn
Thế nhưng cũng có các hành vi đầu cơ không lành mạnh.Các hành dộng đầu cơ, đầu cơđược thực hiện bằng nhiều thủ đoạn khác nhau, trong đó có các loại chính sau đây: Bán giả,thu hút và hùn vốn
Bán giả: Là những hành động có giao dịch mua bán chứng khoán nhưng không có việc
chuyển giao sở hữu chứng khoán Đó là hành động hai người đâu cơ bày ra những vụ giaodịch, họ đưa ra một giá khác biệt với chiều hướng diễn biến của thị trường mà cả hai đều chấpthuận nhưng không có việc thanh toán chứng khoán và tiền Một loại hành động khác: mộtngười đầu cơ đưa ra những lệnh phối hợp cho hai người môi giới, ông ta bán cổ phiếu chongười môi giới này, rồi mua lại chính loại cổ phiều đó thông qua người môi giới kia với giákhông phù hợp với giá thị trường Hoặc người đầu cơ bán đi một số chứng khoán nhờ mộtngười khác thân quen có thể tin tưởng được (thường là người trong gia đình hoặc bạn bèthường tin tưởng nhau hơn) đồng lõa mua lại toàn bộ số chứng khoán đó theo giá như cáchành động bán ra trên Mục đích của các hành động này là để kéo giá thị trường tới một mứcgiả tạo (không phù hợp với chiều hướng và quan hệ cung cầu bình thường trên thị trường) tạo
ra cơ hội kiếm lời hoặc để tránh một mức lỗ
Thu hút: Là hành động để đưa hầu hết số cổ phiếu một loại nào đó đang lưu thông trên
thị trường tập trung vào một hoặc một vài người, khiến cho thị trường khan hiếm, giá tăng.Khi giá đã lên tới đỉnh điểm, người đầu cơ cho rằng đó là mức lợi tối đa thì họ sẽ bán ra Họbán số cổ phiếu của mình và vay cổ phiếu của người khác để bán (bán khống) Thu hút là mộthành động rất nguy hiểm đối với những người bán khống trước đó (người đầu cơ trước bằngcách thu hút), vì những người bán khống trước đó đã dến thời hạn cần mua để thanh toán
Hùn vốn: Là hành vi liên kết tạm thời giữa hai hay nhiều người trong một vụ mua bán
chứng khoán để cùng mua cho giá tăng lên, để cùng bán cho giá hạ Khi giá đã tăng lên hoặc