Tài liệu ôn thi tốt nghiệp THPT CHUYÊN đề ôn đoạn văn Tài liệu ôn thi tốt nghiệp THPT TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP Hồ Chí Minh I MỞ BÀI CHUNG “Những ai muốn biết thế nào là một con người thực sự, vẻ đẹp của thế giới ở đâu, sự chiến thắng của chân lý trên trái đất ở nơi nào, mùa xuân ở đâu, xin mời đến thăm cuộc đời của chủ tịch Hồ Chí Minh, sự hiện diện mẫu mực của một con người anh hùng của thời đại ” Đó là nhận xét rất xác đáng của tác giả Rơ nê Đê Pêstre, người Cu ba về chủ tịch Hồ Chí Minh Người không chỉ là một lãnh tụ tài ba, người anh hùng đã giải phó.
Trang 1Minh Người không chỉ là một lãnh tụ tài ba, người anh hùng đã giải phóng dân tộc, đất nước ViệtNam thoát khỏi xiềng xích của nô lệ mà Người còn là một nhà thơ, nhà văn lớn của dân tộc vớinhiều tác phẩm đặc sắc trên nhiều thế loại khác nhau Đặc biệt, bản “Tuyên ngôn độc lập” ra đờivào năm 1945 là một trong số những tác phẩm xuất sắc nhất, tiêu biểu cho phong cách văn chínhluận của Người Tác phẩm có giọng văn hùng hồn thống thiết, có lập luận chặt chẽ sắc bén, có sứcthuyết phục cao đối với người đọc và người nghe Bản “Tuyên ngôn Độc lập” là kết quả của bao
nhiêu máu đã đổ, bao nhiêu người đã hi sinh, bao nhiêu người bị tù đày “là kết quả của bao nhiêu hi vọng, gắng sức và tin tưởng của hơn hai mươi triệu nhân dân Việt Nam” (Trần Dân
Tiên)
II PHÂN TÍCH ĐOẠN VĂN
Đề số 1:
Hỡi đồng bào cả nước,
“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai
có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc“.
Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ Suy rộng ra, câu
ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.
Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói:
“Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.
Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.
(Tuyên ngôn Độc lập – Hồ Chí Minh,
Ngữ văn 12, tập 1, NXBGD VN, 2018, tr39-40)
Phân tích phần mở đầu bản "Tuyên ngôn Độc lập" để làm nổi bật giá trị nội dung tư tưởng và nghệ thuật lập luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
I MỞ BÀI
- Tham khảo mở bài chung
- Nêu vấn đề cần nghị luận: Đoạn trích mở đầu của Bản tuyên ngôn: “Hỡi đồng bào… chối cãi
được” đã làm nổi bật giá trị nội dung tư tưởng và nghệ thuật lập luận của chủ tích Hồ Chí Minh
II THÂN BÀI
Trang 21 Khái quát
Sau gần 100 năm bị áp bức nô lệ, nhân dân ta đứng lên đấu tranh và được độc lập tự do.Mùa thu năm 1945, cả nước ta tưng bừng, hân hoan chiến thắng Cách mạng tháng Tám thànhcông đã rũ bỏ khỏi vai người dân Việt Nam những xiềng xích nô lệ và áp bức, đưa dân tộc ta quangưỡng cửa tối tăm bước tới vùng sáng độc lập tự do Sáng ngày 2/9, một buổi sáng trời trong vớinắng vàng ấm áp, trước hàng triệu nhân dân trên quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đãđọc bản Tuyên ngôn độc lập, chính thức khai sinh một nước Việt Nam mới, một nước Việt Nam tự
do, độc lập và dân chủ Bản tuyên ngôn được Người viết ra bằng tất cả tâm hồn và trí tuệ, bằngnhững xúc cảm mãnh liệt Người đã truyền đến hàng triệu trái tim người Việt Nam yêu nướcnhững rung động sâu xa và thấm thía, đồng thời tuyên bố một cách vững chắc và hào hùng với thếgiới về sự tồn tại độc lập có chủ quyền của nước ta
Toàn văn bản tuyên ngôn không dài, chỉ gói trọn trong khoảng chưa đầy một ngàn chữnhưng vô cùng chặt chẽ và súc tích Bản tuyên ngôn có bố cục 3 phần, cụ thể gồm: cơ sở pháp lý,
cơ sở thực tiễn và lời tuyên bố độc lập Sức thuyết phục của “Tuyên ngôn độc lập” được tạo nênchủ yếu từ hai yếu tố là lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, bằng chứng xác thực và sức lay độnglòng người Điều đó được thể hiện ngay từ đoạn mở đầu
2 Giá trị nội dung của phần mở đầu bản tuyên ngôn:
2.1 Mở đầu bản Tuyên ngôn bằng trích dẫn Tuyên ngôn của Pháp và Mĩ
Phần mở đầu nêu nguyên lí chung làm cơ sở tư tưởng cho bản tuyên ngôn Trong đó, HồChí Minh đã trích dẫn hai bản Tuyên ngôn: Tuyên ngôn Độc lập của Mĩ năm 1776 và Tuyên ngônNhân quyền và Dân quyền của Pháp năm 1791 Cả hai bản tuyên ngôn đều thể hiện tư tưởng rấttiến bộ, được nhân loại biết đến và thừa nhận Trong đó, Tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm 1776
nêu rõ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai
có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp năm 1791: “Người ta sinh ra
tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.
2.2 Tác dụng của việc trích dẫn
Việc trích dẫn hai văn bản này có tác dụng rất lớn Đầu tiên, nó thể hiện sự tôn trọng nhữnggiá trị, tư tưởng tiến bộ của nhân loại, đó là khẳng định các quyền lợi cơ bản, chính đáng của conngười: Quyền sống, quyền bình đẳng và quyền mưu cầu hạnh phúc
Mặt khác, “Tuyên ngôn độc lập” ra đời giữa lúc tình thế đất nước vẫn đang trong thời kìnguy ngập Chính quyền mới ra đời, đất nước vẫn đang nằm giữa bốn bề hùm sói, hai đầu đấtnước đều có kẻ thù ngoại bang đe dọa Ở biên giới phía Bắc là 20 vạn quân Tưởng đang ngấpnghé ở cửa biên giới, chuẩn bị kéo vào miền Bắc nước ta Phía sau đội quân này là sự nhòm ngómuốn can thiệp vào Đông Dương của đế quốc Mỹ Ở phía Nam, thực dân Anh được giao nhiệm
vụ của phe đồng minh vào giải giáp quân đội Nhật, đằng sau quân Anh là quân Pháp đang lăm lemuốn quay trở lại xâm lược đất nước ta Nhà cầm quyền Pháp lúc này tuyên bố: Đông Dương làthuộc địa của Pháp bị quân Nhật chiếm, đương nhiên Đông Dương phải thuộc quyền bảo hộ củangười Pháp Sử dụng trích dẫn trong hai bản tuyên ngôn có giá trị, được thế giới công nhận làm
cơ sở pháp lý cũng là cách Hồ Chí Minh nhắc nhở dã tâm và hành động xâm lược của bọn đếquốc, thực dân; phê phán, thực dân Pháp và đế quốc Mĩ- những kẻ xâm lược đã chà đạp lên chân
lí, chà đạp lên lương tâm và lý tưởng của cha ông chúng Chính phủ và chính phủ Mĩ phụng sựcho tinh thần của “Tuyên ngôn nhân quyền” đầy lẽ phải kia hóa ra lại đang thi hành những hànhđộng trái ngược hẳn Dùng lí lẽ của chính Pháp và Mĩ để nhắc nhở, ngăn chặn, bác bỏ mọi luận
Trang 3điệu và hành động phi nghĩa của chúng, chiêu thức này trong dân gian được gọi là “gậy ông đậplưng ông” Với chiêu thức này, Hồ Chí Minh thực sự đã nắm được và phát huy sức mạnh của văn
học “Văn chương phải là thế trận đuổi nghìn quân giặc.” (Trần Thái Tông)
Hồ Chí Minh dẫn hai câu danh ngôn, một câu trong bản Tuyên ngôn độc lập và một câutrong Tuyên ngôn nhân quyền và Dân quyền còn là để khẳng định cách mạng Việt Nam cùng mộtlúc làm được hai nhiệm vụ: Nhiệm vụ thứ nhất là đánh đuổi thực dân, phát xít xâm lược giành độclập tự chủ và nhiệm vụ thứ hai là lật đổ chế độ phong kiến giành quyền sống cho con người Cũng
như ở đoạn sau của bản Tuyên ngôn, Người viết “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa.”
Đồng thời bằng cách này, Bác đã đặt tuyên ngôn của Việt Nam sánh vai với tuyên ngônPháp và Mỹ, thể hiện lòng tự tôn dân tộc Đặt ba bản tuyên ngôn ngàng hàng nhau, ba cuộc cáchmạng ngang bằng nhau, Người muốn khẳng định mục đích cao cả của cách mạng Việt Nam, củacách mạng Mĩ và Pháp đều là vì hạnh phúc của con người Chúng ta chiến đấu vì hạnh phúc củacon người Niềm tự hào dân tộc ấy cùng một cảm hứng với “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi,bởi ở thời phong kiến Nguyễn Trãi cũng đặt vị thế dân tộc ta ngang hàng với phong kiến phươngBắc hùng mạnh:
“Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương”
Nhưng đóng góp lớn nhất của chủ tịch Hồ Chí Minh ở đây là Người đã vận dụng sáng tạohai đoạn trích dẫn của hai bản tuyên ngôn Từ quyền của con người được nhắc đến trong hai câudanh ngôn ấy, Người nâng lên quyền của cả dân tộc Tầm nhìn sâu rộng của Bác đã tạo nên một
lời khẳng định đanh thép: "Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do" Như vậy,
bằng lập luận chặt chẽ, sáng tạo Người khẳng định các dân tộc trên thế giới đều có quyền độc lập,
tự do Đây chính là cơ sở cho hệ thống lập luận trong toàn tác phẩm Phép suy rộng ra ấy khôngchỉ có ý nghĩa khẳng định quyền độc lập tự do, quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam mà còn có
ý nghĩa khơi dậy, cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên toàn thế giới
Khép lại phần mở đầu là câu văn chắc nịch, đanh thép Người khẳng định mọi quyền lí lẽchính đáng của con người, dân tộc là những “lẽ phải không ai chối cãi được” Đây chính là bứctường pháp lí sừng sững, là tiền đề triển khai toàn bộ nội dung bản “Tuyên ngôn Độc lập” ở phầntiếp theo Câu văn này cũng thể hiện tính luận chiến quyết liệt của ngòi bút Hồ Chí Minh
3 Nghệ thuật lập luận:
Cách mở đầu bản Tuyên ngôn cho thấy lập luận của Hồ Chí Minh vừa ngắn gọn, súc tích,vừa khéo léo vừa kiên quyết, lập luận sắc sảo, linh hoạt, sáng tạo và đầy sức thuyết phục Đầykhéo léo bởi Hồ Chí Minh tỏ ra trân trọng những tư tưởng tiến bộ, những danh ngôn bất hủ củangười Mĩ, người Pháp nhưng rất kiên quyết vì một mặt Hồ Chí Minh khẳng định quyền độc lập
tự do của dân tộc Việt Nam dựa trên những chân lí mà người Mĩ và người Pháp đã đưa ra, đồngthời cảnh báo nếu thực dân Pháp tiến quân xâm lược Việt Nam một lần nữa thì chính họ đã phảnbội lại tổ tiên của mình, làm nhơ bẩn lá cờ nhân đạo, thiêng liêng mà những cuộc cách mạng vĩđại của cha ông họ đã dành được Đặc biệt, lập luận sắc sảo, linh hoạt, sáng tạo nhất là: lời suyrộng ra của Người mang tư tưởng lớn của nhà cách mạng Người đã phát triển quyền lợi của con
Trang 4người lên (thành) quyền tự quyết, quyền bình đẳng của các dân tộc trên thế giới Phép suy rộng ra
ấy là sự sáng tạo đầy bản lĩnh, trí tuệ, thể hiện tư duy lí luận sắc bén của Chủ tịch Hồ Chí Minh.Đây là một đóng góp riêng của Hồ Chí Minh và cũng là của dân tộc ta vào một trong những tràolưu tư tưởng cao đẹp vừa mang tầm vóc quốc tế, vừa mang ý nghĩa nhân đạo của nhân loại trongthế kỉ XX
4 Đánh giá
Với nội dung là nêu nguyên lí chung, phần mở đầu của tác phẩm còn thể hiện rõ tài năng của tácgiả trên địa hạt văn chương Việc trích dẫn hai bản tuyên ngôn đã tạo nên một dẫn chứng xác thựcgóp phần củng cố lí lẽ, luận điểm đanh thép của tác phẩm.Tất cả đã tạo nên một lập luận chặt chẽ
và giàu sức thuyết phục, vừa khôn khéo vừa kiên quyết để tạo nên nền tảng pháp lí vững vàng đểtác giả tố cáo tội ác của bọn thực dân Phần mở đầu "Tuyên ngôn Độc lập", không chỉ thể hiện nộidung tư tưởng cao đẹp mà ta còn thấy văn phong đặc sắc của Hồ Chí Minh: ngắn gọn, súc tích,thấm thìa, rung động lòng người, "Tuyên ngôn Độc lập" thực sự là một tuyệt đỉnh nghệ thuật vănchương và lịch sử
Đoạn số 2:
Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp.
Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa.
Bởi thế cho nên, chúng tôi, lâm thời chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam.
Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng, kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp.
Chúng tôi tin rằng các nước đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng
ở các hội nghị Tê-hê-răng và Cựu-kim-sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam.
Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát-xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! dân tộc
Phân tích lời tuyên bố độc lập trong đoạn trích trên Từ đó nhận xét về phong cách văn chính luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
I MỞ BÀI
- Tham khảo mở bài chung
Trang 5- Nêu vấn đề cần nghị luận: Đoạn trích “Sự thật là…độc lập ấy” nằm ở phần cuối của bản tuyên
ngôn và góp phần thể hiện rõ phong cách văn chính luận của Hồ Chí Minh
II THÂN BÀI
1 Khái quát
Sau gần 100 năm bị áp bức nô lệ, nhân dân ta đứng lên đấu tranh và được độc lập tự do.Mùa thu năm 1945, cả nước ta tưng bừng, hân hoan chiến thắng Cách mạng tháng Tám thànhcông đã rũ bỏ khỏi vai người dân Việt Nam những xiềng xích nô lệ và áp bức, đưa dân tộc ta quangưỡng cửa tối tăm bước tới vùng sáng độc lập tự do Sáng ngày 2/9, một buổi sáng trời trong vớinắng vàng ấm áp, trước hàng triệu nhân dân trên quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đãđọc bản Tuyên ngôn độc lập, chính thức khai sinh một nước Việt Nam mới, một nước Việt Nam tự
do, độc lập và dân chủ Bản tuyên ngôn được Người viết ra bằng tất cả tâm hồn và trí tuệ, bằngnhững xúc cảm mãnh liệt Người đã truyền đến hàng triệu trái tim người Việt Nam yêu nướcnhững rung động sâu xa và thấm thía, đồng thời tuyên bố một cách vững chắc và hào hùng với thếgiới về sự tồn tại độc lập có chủ quyền của nước ta
Toàn văn bản tuyên ngôn không dài, chỉ gói trọn trong khoảng chưa đầy một ngàn chữnhưng vô cùng chặt chẽ và súc tích Bản tuyên ngôn có bố cục 3 phần, cụ thể gồm: cơ sở pháp lý,
cơ sở thực tiễn và lời tuyên bố độc lập Sức thuyết phục của “Tuyên ngôn độc lập” được tạo nênchủ yếu từ hai yếu tố là lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, bằng chứng xác thực và sức lay độnglòng người
2 Lời tuyên bố độc lập trong đoạn trích
2.1 Nêu rõ quá trình đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta:
“Tuyên ngôn độc lập” ra đời giữa lúc tình thế đất nước vẫn đang trong thời kì nguy ngập.Tuy đã giành được độc lập nhưng chính quyền thì mới ra đời, đất nước vẫn đang nằm giữa bốn bềhùm sói, hai đầu đất nước đều có kẻ thù ngoại bang đe dọa Đặc biệt, để hợp thức hóa việc quaytrở lại xâm lược nước ta, nhà cầm quyền Pháp lúc này tuyên bố: Đông Dương là thuộc địa củaPháp bị quân Nhật chiếm Nay phát xít Nhật thua trận, đương nhiên Pháp có quyền quay trở lạibảo hộ Đông Dương
Trong đoạn văn này Hồ Chí Minh đã nêu rõ quá trình đấu tranh giành độc lập của nhân dân
ta, vạch trần và bác bỏ hoàn toàn luận điệu xảo trá của Pháp Người nêu rõ sự thật là từ năm 1940nước ta là thuộc địa của Nhật chứ không còn là thuộc đọa của Pháp Khi Nhật thua chạy thì nhândân ta đã nổi dậy cướp chính quyền từ tay Nhật Nhân dân ta cùng lúc phá tan ba tầng xiềng xích
khiến Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị để lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Định ngữ “Sự thật là” được nhắc đi nhắc lại càng có ý nghĩa khẳng định một cách chắc chắn thựctiễn lịch sử đó
Chính phủ nước Việt Nam mới đã ra đời, thực sự là chính quyền của nhân dân Việt Nam
và dân tộc Việt Nam không còn là thuộc địa của Pháp nên Người tuyên bố thoát li hoàn toàn mốiquan hệ thực dân với Pháp, xóa bỏ hết các hiệp ước Pháp đã kí hết với Việt Nam, xóa hết mọi đặc
quyền đặc lợi của Pháp trên đất nước Việt Nam Tiếp đó, Người còn khẳng định đanh thép “Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng, kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp”.
Đây chính là những bằng chứng thực tiễn xác thực, thể hiện một cuộc tranh luận ngầm
với những lời lẽ giả dối, sai sự thật của thực dân Pháp, khẳng định không có thế lực nào có quyền
xâm phạm nền độc lập tự chủ của dân tộc Việt Nam kể cả thực dân Pháp “Cách lập luận của
Hồ Chí Minh về phía ta như một trái táo còn về phía kẻ thù nó giống như một trái lựu đạn nhét vào cổ họng chúng Nuốt không vô mà khạc cũng không ra” (Chế Lan Viên)
Trang 62.2 Khẳng định cuộc đấu tranh của nhân dân ta là chính nghĩa
Trước khi tuyên bố độc lập, Hồ Chí Minh đã khẳng định sâu sắc cuộc đấu tranh giải phóngdân tộc của ta là chính nghĩa Bởi vì dân tộc ta là một dân tộc gan góc, có truyền thống kiên cườngbất khuất bảo vệ đất nước Bằng chứng là nhân dân ta gan góc chống ách nô lệ của thực dân Pháphơn 80 năm, gan góc đứng về phía Đồng minh chống phát xít suốt mấy năm để rồi lấy lại đấtnước từ tay Nhật Trước đó, trong bản Tuyên ngôn Người cũng nêu rõ dân tộc ta là dân tộc luônnêu cao tinh thần nhân đạo: Khi Pháp thua chạy còn giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái, CaoBằng Nhưng khi chúng thua chạy ta lại giữa thái độ khoan hồng, nhân đạo giúp người Pháp chạyqua biên thùy, bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ Tinh thần nhân đạo ấy có lẽ được kế thừa từtruyền thống dân tộc, từng được thể hiện trong “Bình Ngô đại cáo”:
“Thần vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh.
Mã Kì, Phương Chính cấp cho năm trăm chiếc thuyền ra đến bể mà hồn bay phách lạc;
Vương Thông, Mã Anh phát cho vài nghìn cỗ ngựa về đến nước vẫn tim đập, chân run”.
Lập trường chính nghĩa của dân tộc ta còn được thể hiện rõ khi nó rất phù hợp với các điềukhoản quy định về nguyên tắc dân tộc bình đẳng tại hội nghị Tê-hê-răng và Cựu Kim Sơn
“Chúng tôi tin rằng các nước đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các hội nghị Tê-hê-răng và Cựu-kim-sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam” Ở đây, Hồ Chí Minh đã rất khôn khéo khi viện dẫn các nguyên tắc dân tộc bình
đẳng Bởi vì, nó không chỉ để khẳng định quyền độc lập tự chủ của dân tộc ta mà còn có ý nghĩakêu gọi cộng đồng quốc tế công nhận quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam
Lời tuyên bố độc lập của Hồ Chí Minh xuất phát từ trái tim của một con người có lòng yêunước, yêu dân, yêu chuộng hòa bình sâu sắc; là những khát khao cháy bỏng không chỉ của riêngmình Bác mà còn chính là thay lời muốn nói của toàn thể dân tộc Việt Nam, muốn tuyên bố với cảthế giới rằng nước Việt Nam là một quốc gia độc lập, có chủ quyền lãnh thổ
2.4 Ý chí bảo vệ chủ quyền dân tộc
Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh không chỉ để tuyên bố nền độc lập, tự do của dân tộc
mà còn có ý nghĩa cảnh cáo âm mưu xâm lược của bọn thực dân, đế quốc Người viết “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy!” Toàn dân Việt Nam nhận thức rõ âm mưu của kẻ thù xâm lược nên
nhắc nhở chúng rằng: Nếu chúng còn dã tâm xâm lược, nhân dân Việt Nam quyết hy sinh tất cảtinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để bảo vệ nền độc lập thiêng liêng, cao quý ấy
3 Đánh giá
3.1 Đánh giá về nội dung và nghệ thuật của đoạn văn
Đoạn trích cũng như bản “Tuyên ngôn độc lập” mang giá trị văn chương to lớn bởi chothấy tài năng bậc thầy trong ngòi bút chính luận của Hồ Chí Minh Đó là một áng văn chính luậnmẫu mực nhất, thuyết phục và có sức hấp dẫn nhất với lập luận, chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, đanh thép,
Trang 7luận cứ được hun đúc từ thực tế khách quan; Kết cấu, bố cục khá chặt chẽ với mỗi phần một ýnghĩa và liên hệ chặt chẽ với nhau; Ngôn ngữ ngắn gọn, chính xác, súc tích; lời văn vừa sốngđộng, gây xúc động lòng người tác động mạnh vào nhận thức và tình cảm và có sức lay động sâuxa; Các biện pháp tu từ như điệp từ, điệp ngữ…được sử dụng được sử dụng linh hoạt hiệu quảlàm cho lý lẽ thêm sinh động rõ ràng Bản “Tuyên ngôn độc lập” trở thành một áng văn nghị luậnmẫu mực không chỉ bởi lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, bằng chứng xác thực mà còn lay độnghàng triệu trái tim người Việt Nam yêu nước bởi tình cảm thiết tha của tác giả Những tình cảmthiết tha đó được biểu lộ thông qua những giọng điệu khác nhau, khi nồng nàn tha thiết, khi xót xathương cảm, khi hừng hực căm thù, khi hào sảng khích lệ
“Tuyên ngôn độc lập” là áng văn chương yêu nước của thời đại, kết tinh khát vọng cháy
bỏng của cả dân tộc về độc lập, tự do Bản tuyên ngôn đã tố cáo rõ tội ác thực dân, khẳng địnhquyền tự do độc lập và sự thật nước Việt Nam đã thành nước tự do, độc lập Hơn nữa, đoạn tríchcũng như tác phẩm còn nêu cao truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta là truyền thống yêu nước, kiêncường chống giặc ngoại xâm; thể hiện tâm huyết và hội tụ vẻ đẹp của lãnh tụ Hồ Chí Minh
3.2 Nhận xét về phong cách văn chính luận Hồ Chí Minh
- Ngắn gọn, giản dị, súc tích; cách dùng từ, đặt câu hết sức linh hoạt: Cả một nội dung lớn
diễn ra trong thời gian gắn một thế kỉ, nhưng tác giả đã cô đọng lại trong vài ba trang giấy Từ ngữ
mà Người sử dụng đọc lên là hiểu ngay Đối với những câu dài, có cấu trúc phức tạp, Người vẫntìm cách diễn đạt thật ngắn gọn Có câu rất ngắn nhưng giàu ý tứ
- Văn phong trong sáng: Trong sáng ở việc dùng từ đặt câu, tuân thủ các nguyên tắc và
chuẩn mực của tiếng Việt Trong sáng về tư tưởng tình cảm, ở thái độ rõ ràng, yêu ghét phân minhtrên lập trường chính nghĩa
- Tính chiến đấu và trí tuệ: Đanh thép, sắc sảo là biểu hiện tính chiến đấu không khoan
nhượng, thái độ dứt khoát thể hiện một bản lĩnh vững vàng, phi thường, sắc sảo ở trí tuệ, lối lậpluận chặt chẽ, sắc bén
- Ngòi bút chính luận vừa chặt chẽ, thuyết phục vừa trữ tình, có sức lay động lòng người:
Bản tuyên ngôn được viết với cách lập luận chặt chẽ Người đưa ra những lí lẽ đanh thép, nhữngbằng chứng hùng hồn không ai chối cãi được Ngòi bút chính luận vừa hùng hồn vừa trữ tình; Vănchính luận mà vẫn thấm đượm tình cảm, giàu hình ảnh, giọng điệu đa dạng
III KẾT LUẬN CHUNG
“Tuyên ngôn Độc lập” của Hồ Chí Minh đã đánh dấu mốc son trong lịch sử dân tộc, mãimãi là áng thiên cổ hùng văn ngang tầm với “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi, là niềm tự hàocủa những người Việt Nam yêu nước Với phong cách nghệ thuật độc đáo và riêng biệt, Hồ ChíMinh đã để lại tên tuổi của mình và làm rạng rỡ nền văn học Việt Nam Tấm lòng yêu nước,thương dân, tâm huyết và khát vọng cháy bỏng của Hồ Chí Minh về độc lập tự do của dân tộcthực sự đã trở thành một ngọn lửa thần tạo nên tài năng văn chương của Người, đúng như nhận
định của Raxun Gazatôp: Giống như ngọn lửa thần bốc lên từ trong cành khô, tài năng bắt nguồn từ những tình cảm mạnh mẽ nhất của con người.”
………
NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ
-Nguyễn
Trang 8đò sông Đà” là tác phẩm tiêu biểu cho sáng tác của Nguyễn Tuân sau cách mạng Đoạn trích “…”thể hiện rõ ….về…qua đó… (Dẫn vào yêu cầu cụ thể của đề)
B PHÂN TÍCH MỘT SỐ ĐOẠN VĂN TRONG TÁC PHẨM
Đoạn số 1:
Hùng vĩ của sông Đà không phải chỉ có thác đá Mà nó còn là những cảnh đá bờ sông, dựng vách thành, mặt sông chỗ ấy lúc chỉ đúng ngọ mới có mặt trời Có vách đá thành chẹt lòng Sông Đà như một cái yết hầu Đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách Có quãng con nai con hỗ đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia Ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy mình như đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa nào trên cái tầng nhà thứ mấy nào vửa tắt phụt đèn điện.
Lại như quãng mặt ghềnh Hát Loóng, dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ suýt bất cứ người lái đò Sông Đà nào tóm được qua đấy Quãng này mà khinh suất tay lái thì cũng dễ lật ngửa bụng thuyền ra.
Lại như quãng Tà Mường Vát phía dưới Sơn La Trên sông bỗng có những cái hút nước giống như cái giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu Nước ở đây thở và kêu như cửa sống cái bị sặc Trên mặt cái hút xoáy tít đáy, cũng đang quay lừ lừ những cánh quạ đàn Không thuyền nào dám men gần những cái hút nước ấy, thuyền nào qua cũng chèo nhanh để lướt quãng sông, y như ô tô sang số ấn ga cho nhanh để vút qua một quãng đường mượn cạp ra ngoài
bờ vực Chèo nhanh và tay lái cho vững mà phòng qua cái giếng sâu, những cái giếng sâu nước
ặc ặc lên như rót dầu sôi vào Những bè gỗ rừng đi nghênh ngang vô ý là những cái giếng hút ấy
nó lôi tụt xuống Có những thuyền đã bị cái hút nó hút xuống, thuyền trồng ngay cây chuối ngược rồi vụt biến đi, bị dìm và đi ngầm dưới lòng sông đến mươi phút sau mới thấy tan xác ở khuỷnh sông dưới Tôi sợ hãi mà nghĩ đến một anh bạn quay phim táo tợn nào muốn truyền cảm giác lạ cho khán giả, đã dũng cảm ngồi vào một cái thuyền thúng tròn vành rồi cho cả thuyền cả mình cả máy quay xuống đáy hút Sông Đà-từ đây cái hút nhìn ngược lên vách thành hút mặt sông chênh nhautới một cột nước cao đến vài sải Thế rồi thu ảnh Cái thuyền xoay tít, những thước phim màu cũng quay tít, cái máy lia ngược contre-plonggée lên một cái mặt giếng mà thành giếng xây toàn bằng nước sông xanh ve một áng thuỷ tinh khối đúc dày, khối pha lê xanh như sắp vỡ tan ụp vào cả máy cả người quay phim cả người đang xem Cái phim ảnh thu được trong lòng giếng xoát tít đáy, truyền cảm lại cho người xem phim kí sự thấy mình đang lấy gân ngồi giữ chặt ghế như
Trang 9ghì lấy mép một chiếc lá rừng bị vứt vào một cốc pha lê nước khổng lồ vừa rút lên cái gậy đánh phèn.
(Người lái đò sông Đà, Nguyễn Tuân)
Cảm nhận của anh/ chị vẻ đẹp hình tượng sông Đà ở đoạn trích trên đây Từ đó, nhận xét về cách nhìn mang tính phát hiện về dòng sông Đà và cái Tôi của nhà văn Nguyễn Tuân.
I MỞ BÀI
- Tham khảo mở bài chung
- Đoạn trích sau đây trong “Người lái đò Sông Đà” thể hiện rõ cách nhìn mang tính phát
hiện của nhà văn Nguyễn Tuân về dòng sông Đà: “Hùng vĩ… đánh phèn”.
II THÂN BÀI
1 Khái quát
- Hoàn cảnh ra đời: Tùy bút Người lái đò Sông Đà được in trong tập tùy bút Sông Đà (1960),
gồm 15 bài tùy bút và một bài thơ ở dạng phác thảo Tác phẩm được viết trong thời kỳ xây dựngchủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Đó là kết quả của chuyến đi thực tế của nhà văn đến Tây Bắc trongkháng chiến chống Pháp, đặc biệt là chuyến đi thực tế năm 1958 Nguyễn Tuân đến với nhiềuvùng đất khác nhau, sống với bộ đội, công nhân và đồng bào các dân tộc Thực tiễn xây dựngcuộc sống mới ở vùng cao đã đem đến cho nhà văn nguồn cảm hứng sáng tạo
- Nội dung: Nguyễn Tuân là một nhà văn yêu nước, giàu lòng tự hào dân tộc Tình yêu nước
ấy cũng được biểu hiện trước hết ở tình yêu thiên nhiên tha thiết Khám phá về sông Đà – dòngchảy dữ dội của núi rừng Tây Bắc là một thành công đặc sắc của ông trong tùy bút “Người lái đòsông Đà” Chỉ có Nguyễn Tuân mới không nhọc công dò đến ngọn nguồn lạch sông, truy tìm đếntận nơi gốc tích khai sinh ra sông Đà, để biết chỗ phát nguyên của nó thuộc huyện Cảnh Đông vàthoạt kì thủy, dòng sông mang những cái tên Trung Hoa khá thơ mộng: Li Tiên, Bả Biên Giang.Cũng chưa có nhà văn nào trước Nguyễn Tuân có thể kể tên vanh vách 50/73 con thác lớn nhỏnằm lô nhô suốt một dải sông từ Lai Châu về đến chợ Bờ
- Lời đề từ “Chúng thủy giai đông tẩu - Đà giang độc bắc lưu”: Nhà văn Nguyễn Tuân đã đặc
biệt muốn nhấn mạnh cá tính độc đáo của của dòng sông Sông Đà khác hẳn các dòng sông khácbởi nếu tất cả các dòng sông khác đều chảy về hướng đông thì riêng Sông Đà chạy về hướng bắc
Có lẽ vì con sông đặc biệt như vậy nên nó trở thành đối tượng rất phù hợp với cá tính sáng tạo của
Nguyễn Tuân, nó được tác giả tìm đến để thể hiện cá tính nghệ thuật của mình Ở lời đề từ “Đẹp vậy thay tiếng hát trên dòng sông” tác giả lại thể hiện xúc cảm mãnh liệt trước vẻ đẹp của dòng
sông và con người gắn bó với dòng sông, bộc lộ rõ cảm hứng chủ đạo của tác phẩm là ngợi cathiên nhiên và con người Tây Bắc
- Nguyễn Tuân là nhà văn theo chủ nghĩa xê dịch và ưa cảm giác mạnh Giống như các nhà
văn theo chủ nghĩa xê dịch, Nguyễn Tuân thích đi nhiều để thay đổi cảm giác cho các giác quan.Ông không thích những gì bình thường và tầm thường nên đối tượng mà ông miêu tả đã đẹp thìphải đẹp đến mức tuyệt mĩ, dữ dội phải đến mức khủng khiếp và tài năng phải đến mức siêuphàm Con sông Đà của Tây Bắc rất phù hợp với mĩ cảm của nhà văn nên bằng quan sát tỉ mỉ, sựliên tưởng, tưởng tượng phong phú và tài năng nghệ thuật xuất sắc nhà văn Nguyễn Tuân đã xâydựng con sông Đà thành một hình tượng nghệ thuật hấp dẫn, biến nó từ vật vô tri vô giác thànhmột sinh thể có sức sống, có tâm trạng và tính cách Có lẽ cũng vì thế tác giả gọi nó là “con” vàviết hoa tên của nó thành Sông Đà Con Sông Đà hiện lên trong tác phẩm với hai nét tính cách nổibật là hung bạo và trữ tình Hai nét tính cách tưởng chừng như đối lập nhưng lại cùng tồn tại
Trang 10trong một hình tượng nghệ thuật Sông Đà rất hung dữ, hiểm ác gây tai họa cho con người nhưngcũng là một công trình nghệ thuật tuyệt vời của tạo hóa, vừa hùng vĩ vừa thơ mộng tạo nên chấtmen say cho con người trong cuộc sống Đoạn trích nêu trên nằm trong phần miêu tả tính cáchhung bạo của Đà giang.
2 Hình tượng con Sông Đà qua đoạn trích
Nhận xét đầu tiên của nhà văn về dòng sông Đà ở đây là “Hùng vĩ của sông Đà không phải chỉ có những thác đá” Câu văn đã khẳng định sông Đà là dòng sông hùng vĩ và hẳn là vẻ hùng vĩ
ấy được thể hiện rõ nhất ở những thác đá trên sông Nhưng hùng vĩ của sông Đà không chỉ có thế
mà còn thể hiện rõ qua cảnh đá bờ sông dựng vách thành, những ghềnh sông, hút nước được miêu
tả trong đoạn trích
2.1 Cảnh đá bờ sông dựng vách thành
Sông Đà ở quãng này chảy qua vùng rừng núi Tây Bắc và hình ảnh “vách thành” đã phầnnào thể hiện sự vững chãi thâm nghiêm và sức mạnh bí ẩn đầy đe dọa của những vách núi bên bờsông Đà Tác giả đã dùng những chi tiết tưởng như bâng quơ, ngẫu nhiên nhưng lại có giá trị gợi
tả gián tiếp độ hẹp của dòng sông, độ cao của vách đá Chẳng hạn, mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời Những vách đá dựng đứng khiến ánh sáng mặt trời ở đây chỉ có vào lúc giữa
trưa, tức là khi mặt trời chiếu sáng theo phương thẳng đứng mới có thể lọt xuống dòng sông Hoặc
cách so sánh vách đá thành chẹt lòng sông Đà như một cái yết hầu – động từ “chẹt” cùng với việc đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách hoặc Có quãng con nai con hỗ đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia đã đem đến ấn tượng mãnh liệt cho người đọc về độ hẹp của lòng sông
với lưu tốc nước chảy mạnh khi bị vách đá chèn ép tới nghẹt thở Nguyễn Tuân là nhà văn củanhững cảm giác mạnh và ông thường miêu tả thế giới sự vật thông qua cảm giác Bằng cảm giác
của xúc giác nhà văn miêu tả ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh Ấn tượng của thị giác được thể hiện khi lấy hè phố để miêu tả mặt sông, lấy nhà cao gợi tả
vách đá, truyền cho người đọc những hình dung về cái tăm tối lạnh lẽo đột ngột khi con thuyền đi
từ ngoài vào khúc sông có đá hun hút dựng vách thành qua hình ảnh so sánh về một khung cửa sổ nào trên cái tầng thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện.
2.2 Mặt ghềnh Hát Loóng
Dòng sông Đà lắm thác nhiều ghềnh vốn đã từng được nhắc đến trong ca dao:
Đường lên Mường Lễ bao xa Trăm bảy cái thác, trăm ba cái ghềnhNhà văn Nguyễn Tuân trong tác phẩm có thể kể vanh vách hơn bảy mươi cái thác trên sông
Đà Đáng chú ý, ở quãng Hát Loóng có những ghềnh sông mà cảnh tượng của nó rất dữ dội Lại như quãng mặt ghềnh Hát Loóng, dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm… Thông qua sự miêu tả của Nguyễn Tuân, những ghềnh sông
ấy không chỉ dữ dội mà còn đầy nguy hiểm Cách nhà văn sử dụng toàn câu ngắn, nhịp nhanh xônhau, dồn dập, chồng chất lên nhau kết hợp với các thanh sắc, những từ ngữ trùng điệp nối tiếpthế chỗ nhau trong các cụm từ ngữ đã tái hiện sinh động quần thể những sức mạnh thiên nhiên dữdội nhất của nước, sóng, gió, và đá sông Đà Từ láy “gùn ghè” và hình ảnh so sánh mang đậm sắc
thái nhân hóa về việc sóng gió trên mặt ghềnh Hát Loóng lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò sông Đà nào tóm được qua đấy đã thể hiện sinh động sự hung hãn lì lợm và cuồng bạo của dòng sông Qua từ “nợ xuýt”, nhà văn đóng góp thêm vào Từ điển tiếng Việt một từ mới mẻ, độc
đáo vì nợ không có vẫn đòi, không đòi bằng tiền, bằng tình mà đòi bằng mạng sống của conngười Những người lái qua đó sơ xuất tay lái thì sẽ bị lật ngửa bụng thuyền ra
Trang 112.3 Hút nước trên sông Đà
Trên Sông Đà còn có những hút nước rất nguy hiểm Những cái hút nước xoáy tít đáy ấy
được tác giả miêu tả qua một loạt những so sánh sống động, đặc sắc Nó giống như những cái giếng bê tông được người ta thả xuống sông để chuẩn bị xây móng cầu, với âm thanh thở và kêu như cửa cống cái bị sặc, trong âm thanh như nước bị rót dầu sôi Các từ láy tượng hình “lừ lừ”, từ láy tượng thanh tăng nghĩa “ặc ặc” cùng biện pháp nhân hóa khi miêu tả nước thở và kêu, bị sặc…
Tất cả góp phần làm hiện ra cả hình ảnh và âm thanh của hút nước như một quái vật đang giận dữ
Sự nguy hiểm của những hút nước sông Đà được nhà văn miêu tả qua kiến thức về giaothông, giúp người đọc dễ dàng hình dung ra cảm giác hãi hùng nếu phải đi thuyền men gần hút
nước đáng sợ ấy Thuyền bè đi ngang qua đó phải đi nhanh, y như là ô tô sang số ấn ga cho nhanh để thoát khỏi quãng đường mượn cạp ra ngoài bờ vực Nguy hiểm hơn nữa là thuyền bè đi
nghênh ngang là sẽ bị nó “lôi tuột xuống” đáy hút nước Khi bị hút vào đó, lập tức thuyền trồngcây chuối, bị dìm sống đi ngầm dưới lòng sông, mươi phút sau lại thấy xuất hiện nhưng đã tan xác
ở khuỷnh sông dưới
Dường như miêu tả bằng hình ảnh, âm thanh chưa đủ, Nguyễn Tuân còn dùng những kiếnthức về điện ảnh, những liên tưởng phong phú và đặc biệt là cảm giác mạnh để miêu tả nhữngnước trên Sông Đà Nhà văn liên tưởng đến việc có một anh quay phim táo bạo vì muốn truyềncảm giác lạ cho người xem nên đã ngồi vào chiếc thuyền thúng tròn vành rồi cả thuyền, cả mình,
cả máy quay xuống xoáy hút Sông Đà để thu ảnh Đây hẳn là một giả tưởng li kì dẫn dụ người đọcvào trò chơi cảm giác, kéo họ xuống tận đáy hút nước xoáy tít, sâu hoắm cùng một anh bạn quayphim táo tợn Hút nước được miêu tả bằng thủ pháp điện ảnh, hất ngược từ dưới lên một cách
sống động, truyền cảm từ hình khối của một thành giếng xây toàn bằng nước cho đến màu sắc của
dòng sông “nước xanh ve”, và thậm chí cho đến cả cảm giác sợ hãi rất chân thực của con người
khi Cái thuyền xoay tít, những thước phim màu cũng quay tít, khi phải đứng trong lòng một khối pha lê xanh như sắp vỡ tan, bất cứ lúc nào cũng như sắp đổ ụp vào người Những thước phim ấy
truyền cảm lại cho người xem những cảm giác rất mạnh như đang lấy gân ngồi giữ chặt chiếc ghếnhư ghì lấy mép một chiếc lá rừng vừa bị vứt vào một chiếc cốc pha lê nước khổng lồ vừa rút lêncái gậy đánh phèn
3 Đánh giá
3.1 Về nghệ thuật
Bằng thể tùy bút phóng túng, vốn kiến thức phong phú, đa dạng trên nhiều lĩnh vực, tác giả
đã khám phá vẻ đẹp của dòng sông ở góc độ địa lí nhưng đậm chất văn chương, kết hợp với nhiềungành nghệ thuật khác như giao thông, âm nhạc, hội hoạ, điện ảnh, đầy ấn tượng; Sự quan sát tỉ
mỉ, sự liên tưởng, tưởng tượng phong phú, ngôn ngữ tài hoa, điêu luyện giàu chất thơ, chất nhạc,chất tạo hình; Cách sử dụng nghệ thuật khắc họa hình tượng tự nhiên, những ví von, so sánh, liêntưởng, tưởng tượng độc đáo, bất ngờ và rất thú vị; Từ ngữ phong phú, sống động, giàu hình ảnh
và có sức gợi cảm cao; Câu văn đa dạng, nhiều tầng, giàu nhịp điệu, lúc thì hối hả, gân guốc, khithì chậm rãi, trữ tình tác giả đã biến con sông đà từ vô tri vô giác thành con sông có những nét
cá tính riêng biệt mà không con sông nào có
3.2 Nhận xét những phát hiện về dòng sông Đà của nhà văn Nguyễn Tuân
Tả sự hung bạo của sông Đà, tác giả không chỉ dừng lại ở hình ảnh một dòng sông ở miềnđất Tây Bắc hoang sơ hùng vĩ mà nhằm làm nổi bật sông Đà như một biểu tượng về sức mạnh dữdội và vẻ đẹp hùng vĩ, hoang sơ của thiên nhiên, đất nước Qua cái nhìn của Nguyễn Tuân, Sông
Đà không còn là con sông vô tri, vô giác mà là con sông có linh hồn, có cá tính như con người:
Trang 12hung bạo, dữ dằn, hùng vĩ Sông Đà hiện lên như một công trình kiến trúc tuyệt vời mà tạo hóadành riêng cho mảnh đất Tây Bắc Nó còn như một sinh thể có hồn, gần gũi, gắn bó với đất vàngười nơi đây.
Qua hình tượng Sông Đà, Nguyễn Tuân thể hiện tình yêu mến tha thiết đối với thiên nhiênđất nước Với ông, thiên nhiên cũng là một tác phẩm nghệ thuật vô song của tạo hóa Cảm nhận
và miêu tả Sông Đà, Nguyễn Tuân đã chứng tỏ sự tài hoa, uyên bác và lịch lãm Hình tượng Sông
Đà là trong tác phẩm có vai trò là phông nền cho sự xuất hiện và tôn vinh vẻ đẹp của người laođộng trong chế độ mới
3.3 Cái Tôi của nhà văn Nguyễn Tuân được thể hiện qua đoạn trích:
- “Cái tôi” tài hoa, tinh tế thể hiện ở những rung động, say mê của nhà văn trước vẻ đẹphùng vĩ của thiên nhiên đất nước
- “Cái tôi” uyên bác thể hiện ở cách nhìn và sự khám phá hiện thực có chiều sâu; ở sự vậndụng kiến thức sách vở và các tri thức của đời sống một cách đa dạng, phong phú; ở sự giàu có vềchữ nghĩa Các thuật ngữ chuyên môn của các ngành quân sự, điện ảnh, thể thao,… được huyđộng một cách hết sức linh hoạt nhằm diễn tả một cách chính xác và ấn tượng những cảm giác vềđối tượng
- “Cái tôi” tài hoa, tinh tế và uyên bác chính là một cách thể hiện tình yêu quê hương đấtnước, lòng yêu cái đẹp của người nghệ sĩ chân chính Đồng thời cũng cho thấy quan niệm củaNguyễn Tuân: viết văn là để khẳng định sự đọc đáo của chính người cầm bút
-Đoạn số 2:
Còn xa lắm mới đến cái thác dưới Nhưng đã thấy tiếng nước réo gần mãi lại, réo to mãi lên Tiếng thác nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng Tới cái thác rồi Ngoặt khúc sông lượn, thấy sóng bọt đã trắng xóa cả một chân giời đá Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông, hình như mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện ở quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, mỗi lần có chiếc nào nhô vào đường ngoặt sông là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền Mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó hơn cả cái mặt nước chỗ này Mặt sông rung tít lên như tuyếc-bin thủy điện nơi đáy hầm đập Mặt sông trắng xóa càng làm bật rõ lên những hòn những tảng mới trông tưởng như nó đứng nó ngồi nó nằm tùy theo sở thích tự động của đá to đá
bé Nhưng hình như sông Đà đã giao việc cho mỗi hòn Mới thấy rằng đây là nó bày thạch trận trên sông Đám tảng đám hòn chia làm ba hàng chặn ngang trên sông đòi ăn chết cái thuyền, một cái thuyền đơn độc không còn biết lùi đi đâu để tránh một cuộc giáp lá cà có đá dàn trận địa sẵn Hàng tiền vệ, có hai hòn canh một cửa đá trông như là sơ hở, nhưng chính là hai đứa giữ vai trò
dụ cái thuyền đối phương đi vào sâu nữa, vào tận tuyến giữa rồi nước sóng luồng mới đánh khuýp quật vu hồi lại Nếu lọt vào đây rồi mà cái thuyền du kích ấy vẫn chọc thủng được tuyến hai, thì nhiệm vụ của những boong-ke chìm và pháo đài đá nổi ở tuyến ba là phải đánh tan cái thuyền lọt lưới đá tuyến trên, phải tiêu diệt thuyền trưởng cùng tất cả thủy thủ ngay ở chân thác Thạch trận dàn bày vừa xong thì cái thuyền vụt tới Phối hợp với đá, nước thác reo hò làm thanh viện cho đá, những hòn đá bệ vệ oai phong lẫm liệt Một hòn ấy trông nghiêng thì y như là đang hất hàm hỏi cái thuyền phải xưng tên tuổi trước khi giao chiến Một hòn khác lùi lại một chút và thách thức cái thuyền có giỏi thì tiến gần vào
Trang 13(Người lái đò sông Đà, Nguyễn Tuân)
Cảm nhận của anh/ chị vẻ đẹp hình tượng sông Đà ở đoạn trích trên đây Từ đó, nhận xét phong cách tài hoa, uyên bác của nhà văn Nguyễn Tuân.
I MỞ BÀI
- Tham khảo mở bài chung
- Đoạn trích sau đây trong “Người lái đò Sông Đà” thể hiện rõ phong cách tài hoa uyên bác
của nhà văn Nguyễn Tuân: “Còn xa lắm… tiến gần vào”.
II THÂN BÀI
1 Khái quát
- Hoàn cảnh ra đời: Tùy bút Người lái đò Sông Đà được in trong tập tùy bút Sông Đà (1960),
gồm 15 bài tùy bút và một bài thơ ở dạng phác thảo Tác phẩm được viết trong thời kỳ xây dựngchủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Đó là kết quả của chuyến đi thực tế của nhà văn đến Tây Bắc trongkháng chiến chống Pháp, đặc biệt là chuyến đi thực tế năm 1958 Nguyễn Tuân đến với nhiềuvùng đất khác nhau, sống với bộ đội, công nhân và đồng bào các dân tộc Thực tiễn xây dựngcuộc sống mới ở vùng cao đã đem đến cho nhà văn nguồn cảm hứng sáng tạo
- Nội dung: Nguyễn Tuân là một nhà văn yêu nước, giàu lòng tự hào dân tộc Tình yêu nước
ấy cũng được biểu hiện trước hết ở tình yêu thiên nhiên tha thiết Khám phá về sông Đà – dòngchảy dữ dội của núi rừng Tây Bắc là một thành công đặc sắc của ông trong tùy bút “Người lái đòsông Đà” Chỉ có Nguyễn Tuân mới không nhọc công dò đến ngọn nguồn lạch sông, truy tìm đếntận nơi gốc tích khai sinh ra sông Đà, để biết chỗ phát nguyên của nó thuộc huyện Cảnh Đông vàthoạt kì thủy, dòng sông mang những cái tên Trung Hoa khá thơ mộng: Li Tiên, Bả Biên Giang.Cũng chưa có nhà văn nào trước Nguyễn Tuân có thể kể tên vanh vách 50/73 con thác lớn nhỏnằm lô nhô suốt một dải sông từ Lai Châu về đến chợ Bờ
- Lời đề từ “Chúng thủy giai đông tẩu - Đà giang độc bắc lưu”: Nhà văn Nguyễn Tuân đã đặc
biệt muốn nhấn mạnh cá tính độc đáo của của dòng sông Sông Đà khác hẳn các dòng sông khácbởi nếu tất cả các dòng sông khác đều chảy về hướng đông thì riêng Sông Đà chạy về hướng bắc
Có lẽ vì con sông đặc biệt như vậy nên nó trở thành đối tượng rất phù hợp với cá tính sáng tạo của
Nguyễn Tuân, nó được tác giả tìm đến để thể hiện cá tính nghệ thuật của mình Ở lời đề từ “Đẹp vậy thay tiếng hát trên dòng sông” tác giả lại thể hiện xúc cảm mãnh liệt trước vẻ đẹp của dòng
sông và con người gắn bó với dòng sông, bộc lộ rõ cảm hứng chủ đạo của tác phẩm là ngợi cathiên nhiên và con người Tây Bắc
- Nguyễn Tuân là nhà văn theo chủ nghĩa xê dịch và ưa cảm giác mạnh Giống như các nhà
văn theo chủ nghĩa xê dịch, Nguyễn Tuân thích đi nhiều để thay đổi cảm giác cho các giác quan.Ông không thích những gì bình thường và tầm thường nên đối tượng mà ông miêu tả đã đẹp thìphải đẹp đến mức tuyệt mĩ, dữ dội phải đến mức khủng khiếp và tài năng phải đến mức siêuphàm Con sông Đà của Tây Bắc rất phù hợp với mĩ cảm của nhà văn nên bằng quan sát tỉ mỉ, sựliên tưởng, tưởng tượng phong phú và tài năng nghệ thuật xuất sắc nhà văn Nguyễn Tuân đã xâydựng con sông Đà thành một hình tượng nghệ thuật hấp dẫn, biến nó từ vật vô tri vô giác thành
một sinh thể có sức sống, có tâm trạng và tính cách Con Sông Đà hiện lên trong tác phẩm với hai nét tính cách nổi bật là hung bạo và trữ tình Hai nét tính cách tưởng chừng như đối lập nhưng lại cùng tồn tại trong một hình tượng nghệ thuật Sông Đà rất hung dữ, hiểm ác gây tai họa cho con người nhưng cũng là một công trình nghệ thuật tuyệt vời của tạo hóa, vừa hùng vĩ vừa thơ
Trang 14mộng tạo nên chất men say cho con người trong cuộc sống Đoạn trích nêu trên nằm trong phần miêu tả tính cách hung bạo của Đà giang.
2 Hình tượng sông Đà trong đoạn trích
2.1 Khái quát
Từ trước đến nay, khi viết về các dòng sông các nhà văn nhà thơ thường ca ngợi vẻ đẹp trữtình, hiền hòa, thơ mộng Cũng có một số nhà văn, nhà thơ miêu tả cảnh dữ dội, hiểm trở, trùngtrùng lớp lớp của những khúc đại giang, của những cảnh thác ghềnh dữ dội như “Bạch đằng giangphú” của Trương Hán Siêu, “Bạch đằng Hải khẩu” của Nguyễn Trãi Nhưng có lẽ chỉ đến
“Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân thì sự hiểm trở, hung bạo và dữ dội của con sông mớitrở nên sống động và thật khủng khiếp Trong đoạn văn này, bậc kì tài về mặt ngôn ngữ NguyễnTuân khi miêu tả những thác đá trên sông Đà đã làm nổi bật lên hình ảnh con sông Đà không chỉgập ghềnh, lởm chởm mà còn đầy nguy hiểm, sống dậy gào thét làm náo động cả lên, khiến chongười đọc phải “rùng mình, sởn gáy” (Nguyễn Đăng Mạnh)
2.2 Tiếng nước thác trên Sông Đà:
Sông Đà hung bạo không chỉ ở những cảnh đá bờ dựng vách thành, những ghềnh sông, hútnước đầy nguy hiểm mà hùng vĩ và dữ dội nhất trên sông Đà là những thác đá Những thác đá trênsông Đà được nhà văn miêu tả chi tiết qua âm thanh, cảnh tượng và sự nguy hiểm đến kinh hoàngcủa nó Trước tiên nhà văn cảm nhận nó qua âm thanh Chủ thể miêu tả đang trong quá trình dichuyển đến gần cái thác đá, và âm thanh tiếng nước thác được miêu tả phù hợp về khoảng cách và
cường độ Ban đầu, có lẽ là nghe từ xa thì tiếng nước thác Như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo Rồi khi lại gần, tiếng thác rống như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng Nguyễn Tuân đã rất ngông khi dùng
lửa để miêu tả nước Nước và lửa vốn xung khắc với nhau, hủy diệt lẫn nhau nhưng ở đây nhà văn
đã dùng hình ảnh và âm thanh của lửa để miêu tả nước khiến hiện ra trước mắt người đọc là cảmột rừng vầu, tre nứa đang bị đốt cháy, phát ra tiếng nổ Nhưng âm thanh đó còn chưa là gì khitrong khu rừng đang cháy ấy còn có hàng ngàn con trâu mộng to khỏe đang bị lửa hun nóng vàđốt cháy Lửa đã bén vào da của đàn trâu khiến chúng rống lên đầy đau đớn và lồng lộn muốn phátan rừng lửa để tìm cách thoát thân Miêu tả từ xa đến gần nên lúc đầu là tiếng “réo” còn về sautrở thành tiếng “rống” Đây là cách dùng từ rất chính xác và bất ngờ, khiến sông Đà từ một đốitượng vô tri vô giác trở thành một sinh thể có tính cách và tâm lí, như một con người Các sắc tháikhác nhau của âm thanh tiếng “réo” của nước thác: vừa mới “oán trách” và “van xin” như một kẻbại trận, biết mình yếu thế hơn đối thủ; ngay lập tức chuyển sang “khiêu khích” và “chế nhạo” rồi
“rống” lên như một kẻ trên cơ, ra sức giễu cợt, đe dọa đối phương Bản hợp âm khủng khiếp vàđòn tâm lí chiến trở mặt như trở bàn tay ấy cho thấy sự nham hiểm, xảo quyệt của sông Đà khi sắpxung trận Những người lái đò yếu bóng vía và non kinh nghiệm sẽ cảm thấy mất tinh thần, hồnxiêu phách lạc
Quả thật, sức mạnh hoang dã của tự nhiên qua tài đối sánh, nhân hóa và trí tưởng tượngphong phú, độc lạ của Nguyễn Tuân đã cho người đọc một cảm giác mạnh đến tận độ Như vậy,chỉ riêng với âm thanh của thác đá sông Đà, Nguyễn Tuân đã gây ấn tượng trong người đọc về sự
dữ dội đến khủng khiếp của những thác đá Sông Đà
2.3 Những thạch trận đá trên sông Đà
Trang 15Tiếp theo là những ấn tượng từ sự quan sát trực quan của tác giả khi đã “Tới cái thác rồi”.
Cảnh tượng những thác đá trên Sông Đà cũng thật dữ dội Ngoặt tới khúc sông ấy là cảnh sóng bọt đã trắng cả một chân trời đá Sóng nước vấp phải đá tung bọt trắng xóa Sông Đà ở đây bao
nhiêu là đá với đủ những đá to đá bé, đá hòn đá tảng… mà thằng đá nào trông cũng ngỗ ngược,xấc xược, hỗn hào, du côn và mặt cũng nhăn nhúm, méo mó hơn mặt nước ở quãng ấy Dưới ngòibút tài hoa của Nguyễn Tuân, mỗi hòn đá không chỉ mang những nét chung ấy mà còn có mộtgương mặt riêng Để khắc họa từng gương mặt riêng của những hòn đá trên thác đá Sông Đà,Nguyễn Tuân đã phải lao động cật lực, khổ công quan sát và tung ra trường từ vựng hết sức giàu
có, phong phú Phép liên tưởng và nhân hóa, kết hợp với những động từ, tính từ: chỉ hành động(nhổm cả dậy, vồ lấy, chặn ngang, dụ, đánh khuýp quật vu hồi, đánh tan, tiêu diệt), chỉ tính cách(ngỗ ngược), hình sắc (nhăn nhúm, méo mó, to, bé), tư thế (đứng, ngồi, nằm) khiến người đọccảm nhận Sông Đà mang gương mặt của dân anh chị, những kẻ côn đồ chuyên đi đòi nợ thuê bặmtrợn và sẵn máu giang hồ
Sự nham hiểm quỷ quyệt của Sông Đà đối với những người lái đò được thể hiện rõ nhất ởnhững thế trận mà đá dàn bày Đội quân đá ấy ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông Đásông Đà dường như không đứng, nằm, ngồi một cách tùy tiện mà Sông Đà đã giao việc cho mỗihòn Mỗi hòn một dáng (đứng, nằm, ngồi), mỗi hòn một nhiệm vụ (đám tảng đám hòn chia làm bahàng chặn ngang trên sông: hàng tiền vệ là hai hòn canh một cửa đá trông như là sơ hở giữ vai trò
dụ cái thuyền đối phương đi vào sâu nữa; tuyến giữa sóng nước đánh khuýp quật vu hồi lại, tuyến
ba là những boong-ke chìm và pháo đài đá nổi có nhiệm vụ phải đánh tan cái thuyền lọt lưới đátuyến trên)
Đá trên sông Đà đã giao việc cho nhau như vậy để dàn bày thành ba thạch trận đá đầy biếnhóa Mỗi thạch trận đều có rất nhiều cửa tử và chỉ có duy nhất một cửa sinh Cửa sinh lúc ở bên
tả, lúc ở bên hữu, lúc ở chính giữa Thạch trận thứ nhất: Sông Đà bày ra năm cửa trận, có bốn cửa
tử, một cửa sinh, cửa sinh nằm lập lờ phía tả ngạn sông Thạch trận thứ hai: “Tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào, và cửa sinh lại bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn Dòng thác hùm beo hồng hộc tế mạnh trên sông đá đánh khuýp quật vu hồi chiếc thuyền” Đến thạch trận thứ ba: Ít cửa hơn, bên phải bên trái đều là luồng chết cả Cái luồng sống ở chặng ba này lại ở ngay giữa bọn đá hậu vệ của con thác Tại đây những boong-ke chìm và pháo đài đá nổi ở đầu chân
thác phải đánh tan cái thuyền, tiêu diệt cả thủy thủ và thuyền trưởng trên chiếc thuyền ấy
Có thể nói, bằng vốn kiến thức phong phú, sự tài hoa, uyên bác Nguyễn Tuân đã sử dụngkiến thức ở nhiều lĩnh vực như giao thông, điện ảnh, quân sự, võ thuật (“mai phục”, “chặnngang”, “canh”, “đánh tan”, “tiêu diệt”, sóng: “đánh khuýp quật vu hồi”, “đánh giáp lá cà”, “đòntỉa”, “đòn âm”) làm hiện lên hình tượng con Sông Đà dữ dội, hung bạo đến khủng khiếp ConSông Đà như một loài thủy quái, hung hăng, bạo ngược, là một thứ thiên nhiên Tây Bắc với “diệnmạo và tâm địa một thứ kẻ thù số một” Con sông mà “hằng năm và đời đời kiếp kiếp làm mìnhlàm mẩy với con người Tây Bắc và phản ứng giận dỗi vô tội vạ với người lái đò Sông Đà” Chẳngthế mà sông Đà được gắn với câu đồng dao thần thoại Sơn Tinh Thủy Tinh:
Núi cao sông hãy còn dàiNăm năm báo oán đời đời đánh ghen
3 Đánh giá
3.1 Nghệ thuật
Nguyễn Tuân đã dùng hết bút lực để thi tài với tạo hoá Ông dùng những câu góc cạnh,giàu tính tạo hình, những câu nhiều động từ mạnh nối tiếp nhau, dồn dập; sử dụng lối nói ví von,
Trang 16ẩn dụ, tượng trưng, liên tưởng đầy bất ngờ, chính xác, thú vị; vận dụng hiểu biết của nhiều ngànhkhác nhau: địalý,l ịch sử, hội họa, văn chương và những tri thức về tự nhiên để khắc họa vẻ đẹpcủa sông Đà Cùng với nghệ thuật nhân hóa, liên tưởng phong phú, ngòi bút miêu tả độc đáo, consông Đà từ một đối tượng vô tri vô giác, khi bước vào trang văn Nguyễn Tuân đã trở thành mộtsinh thể có tính cách và tâm lí rất ghê gớm, đáng sợ
3.2 Nội dung
Đoạn trích là khúc ca ca ngợi vẻ đẹp hung bạo, đầy cá tính của sông Đà, biểu tượng cho vẻđẹp hùng vĩ, dữ dội của thiên nhiên Tây Bắc Đó chính là sức mạnh của thiên nhiên mà con ngườicần chinh phục và cũng là niềm tự hào của tác giả về Tổ quốc hùng vĩ, giàu đẹp Qua đó ta có thểhình dung những vất vả gian lao mà những người lái đò phải vượt qua, từ đó ta càng khâm phụchơn ý chí kiên cường và tài trí của họ trong việc chinh phục con sông, bắt nó phải quy phục vàcống hiến cho cuộc sống của con người
3.3 Nhận xét về phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân
- Hình ảnh sông Đà hung dữ ở một mức độ ghê gớm, hơn tất cả mọi con sông đã được táihiện trong văn học, là bởi vì cảm quan sáng tác của Nguyễn Tuân chỉ hứng thú với những vẻ đẹpvượt lên mức bình thường, gây ấn tượng mãnh liệt
- Biểu hiện phong cách tài hoa, uyên bác của nhà văn Nguyễn Tuân: Ông không chấp
nhận sự sáo mòn Ông luôn tìm kiếm những cách thức thể hiện, những đối tượng mới mẻ Nhàvăn luôn tiếp cận sự vật ở phương diện văn hóa thẩm mĩ, có ấn tượng với những sự vật gây cảmgiác mạnh (Sông Đà là một sinh thể như vậy) Ông có xu hướng muốn tô đậm cái cá tính, phithường của dòng sông Đà để gây cảm giác mãnh liệt, dữ dội Tác giả bộc lộ sự tinh vi trong mĩcảm với trường liên tưởng phong phú, ngôn ngữ vừa phong phú vừa tinh tế Một cái tôi uyên báckhi huy động mọi kiến thức thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để khắc họa hình tượng sông Đà Nétđộc đáo kết hợp với sự tài hoa và uyên bác trong ngòi bút Nguyễn Tuân khiến cho hình tượngsông Đà trở nên đặc sắc và đáng nhớ
- Phong cách nghệ thuật đã thể hiện rõ Nguyễn Tuân là nhà văn có ý thức tự khẳng định
cá tính độc đáo của mình Chứng tỏ ông là người có một lòng yêu quê hương đất nước tha thiết,một cuộc đời lao động nghệ thuật khổ hạnh, một trí thức tâm huyết với nghề Người đọc yêu hơn,trân trọng hơn phẩm chất, cốt cách của con người đáng quý này
-Đoạn số 3:
…Sóng thác đã đánh đến miếng đòn hiểm độc nhất, cả cái luồng nước vô sở bất chí ấy bóp chặt lấy hạ bộ người lái đò […] Mặt sông trong tích tắc lòa sáng lên như một cửa bể đom đóm rừng ùa xuống mà châm lửa vào đầu sóng Nhưng ông đò vẫn cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái, mặt méo bệch đi như cái luồng sóng đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm vào chỗ hiểm Tăng thêm mãi lên tiếng hỗn chiến của nước của đá thác Nhưng trên cái thuyền sáu bơi chèo, vẫn nghe rõ tiếng chỉ huy ngắn gọn tỉnh táo của người cầm lái Vậy là phá xong cái trùng vi thạch trận vòng thứ nhất Không một phút nghỉ tay nghỉ mắt, phải phá luôn vòng vây thứ hai và đổi luôn chiến thuật Ông lái đã nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá Ông đã thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này Vòng đầu vừa rồi, nó mở ra năm cửa trận, có bốn cửa tử một cửa sinh, cửa sinh nằm lập lờ phía tả ngạn sông Vòng thứ hai
Trang 17này tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào, và cửa sinh lại bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn Cưỡi lên thác sông Đà, phải cưỡi đến cùng như là cưỡi hổ Dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá Nắm chặt lấy được cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghì cương lái, bám chắc lấy cái luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh, mà lái miết một đường chéo về phía cửa đá ấy Bốn năm bọn thủy quân cửa ải nước bên bờ trái liền xô ra định níu thuyền lôi vào tập đoàn cửa tử Ông đò vẫn nhớ mặt bọn này, đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo lên, đứa thì ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến Những luồng tử đã bỏ hết lại sau thuyền Chỉ còn vẳng reo tiếng hò của sóng thác luồng sinh Chúng vẫn không ngớt khiêu khích, mặc dầu cái thằng đá tướng đứng chiến ở cửa vào đã tiu nghỉu cái mặt xanh lè thất vọng thua cái thuyền đã đánh trúng vào cửa sinh nó trấn lấy Còn một trùng vây thứ ba nữa Ít cửa hơn, bên phải bên trái đều là luồng chết cả Cái luồng sống ở chặng ba này lại ở ngay giữa bọn
đá hậu vệ của con thác Cứ phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa đó Thuyền vút qua cổng đá cánh mở cánh khép Vút, vút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng, thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được lượn được Thế là hết thác…
(Trích Người lái đò sông Đà - Nguyễn Tuân, Ngữ văn 12, tập một)
Phân tích nhân vật ông lái đò trong đoạn trích trên đây Từ đó, nhận xét cái nhìn mang tính phát hiện về con người của nhà văn Nguyễn Tuân.
(Có thể hỏi theo cách khác: khám phá về người lao động mới hoặc tìm thấy chất vàng mười
đã qua thử lửa trong tâm hồn Tây Bắc)
I MỞ BÀI
- Tham khảo mở bài chung
- Đoạn trích sau đây trong “Người lái đò Sông Đà” đã làm nổi bật vẻ đẹp của nhân vật ông
lái đò, thể hiện cái nhìn mang tính phát hiện về con người của nhà văn Nguyễn Tuân: “…Sóng thác đã đánh đến miếng đòn… Thế là hết thác””.
II THÂN BÀI
1 Khái quát (Có thể lược ngắn gọn hơn)
- Hoàn cảnh ra đời: Tùy bút Người lái đò Sông Đà được in trong tập tùy bút Sông Đà (1960),
gồm 15 bài tùy bút và một bài thơ ở dạng phác thảo Tác phẩm được viết trong thời kỳ xây dựngchủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Đó là kết quả của chuyến đi thực tế của nhà văn đến Tây Bắc trongkháng chiến chống Pháp, đặc biệt là chuyến đi thực tế năm 1958 Nguyễn Tuân đến với nhiềuvùng đất khác nhau, sống với bộ đội, công nhân và đồng bào các dân tộc Thực tiễn xây dựngcuộc sống mới ở vùng cao đã đem đến cho nhà văn nguồn cảm hứng sáng tạo
- Giới thiệu về nhân vật trong tác phẩm: Nhân vật ông lái đò không có tên tuổi, lai lịch cụ thể
mà chỉ được gọi bằng nghề nghiệp Nhà văn đã làm mờ tên tuổi của nhân vật để khái quát vẻ đẹpcủa con người Tây Bắc, vẻ đẹp của những người lao động bình dị mà phi thường Nhà vănNguyễn Tuân giới thiệu “Ông lái đò Lai Châu bạn tôi” khoảng 70 tuổi Ông đã làm nghề lái đòtrên Sông Đà được hơn mười năm, đã xuôi ngược trên dòng sông Đà hàng trăm chuyến để trởthành da trâu, xương hổ, cánh kiến về xuôi và ông cũng đã không lái đò được khoảng 10 năm Ởtuổi 70, ngoại hình của ông lái đò được nhà văn miêu tả: cái đầu bạc quắc thước, đôi tay dài lêunghêu trông rất trẻ trung, đôi chân khuỳnh khuỳnh như kẹp lấy một cuống lái trong tưởng tượng.Nhãn giới vòi vọi như lúc nào cũng chờ đợi một cái bến tưởng tượng trong sương mù, giọng nói
Trang 18ào ào như nước mặt gềnh… Có thể nói ngoại hình của ông lái đò là ngoại hình của một người laođộng trên sông nước Trên ngực còn ông nổi một số “củ nâu” thương tích mà Nguyễn Tuân rấtngưỡng mộ gọi là “thứ huân chương lao động siêu hạng”
Giống như hầu hết các nhân vật của Nguyễn Tuân như Huấn Cao với nét chữ rồng bay phượngmúa, nói lên cái hoài bão tung hoành của cả cuộc đời con người, giống như một cụ ấm thức dậy từ
tờ mờ sáng đã pha trà để nhận ra trong chén trà “có mùi thơ và một triết lý”… Hình tượng ông lái
đò Tây Bắc cũng là một người nghệ sĩ trong công việc, nghề nghiệp của mình Ông là tay lái rahoa, là một người nghệ sĩ trong nghệ thuật vượt thác qua ghềnh, Để làm nổi bật tài hoa, trí dũngcủa ông lái đò, nhà văn Nguyễn Tuân đã sáng tạo ra tình huống nghệ thuật ông lái đò vượt thácSông Đà là một một cuộc thủy chiến có một không hai trong lịch sử văn học, giữa một bên là thủyquái sông Đà với sức mạnh ghê gớm, tâm địa xảo trá và một bên là ông lái đò tuy dẻo dai, cườngtráng nhưng đơn độc trong cuộc chiến gay go, quyết liệt
2 Vẻ đẹp của ông đò trong đoạn trích
2.1 Tái hiện hình ảnh ông lái đò trong cuộc giao tranh với dòng Sông Đà
Đoạn văn đã tái hiện cuộc giao chiến của ông lái đò với dòng sông Đà một cách sinh động,đầy gay cấn Sông Đà trong đoạn trích hiện nguyên hình là một kẻ thù số một của con người, nhưmột bầy thủy quái rất nham hiểm, chúng bày sẵn những thạch trận đá đầy biến hóa với mục đích
ăn chết cái thuyền, tiêu diệt thủy thủ và thuyền trưởng ở ngay chân thác
- Thạch trận thứ nhất: Ở thạch trận thứ nhất, Sông Đà hiện lên là một đối thủ kiên cường,
lắm mưu nhiều kế: nó mở ra năm cửa trận, có bốn cửa tử một cửa sinh, cửa sinh nằm lập lờ phía
tả ngạn sông Cảnh hỗn chiến ác liệt bởi Sóng thác đã đánh đến miếng đòn hiểm độc nhất rồi lại đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm vào chỗ hiểm Thác nước reo hò làm thanh viện Tăng thêm mãi lên tiếng hỗn chiến của nước của đá thác, chúng tạo ra cảnh tượng đầy đe dọa Mặt sông trong tích tắc lòa sáng lên như một cửa bể đom đóm rừng ùa xuống mà châm lửa vào đầu sóng.
Một bên giao chiến nữa là ông lái đò Trước sự tấn công đầy dữ dội của dòng sông, ông lái đò đã
bị thương, mặt méo bệch đi nhưng ông cố nén vết thương, hai tay giữ chặt mái chèo, chân kẹpchặt lấy cuống lái Bằng thể chất dẻo dai, cường tráng, sức chịu đựng phi thường và bằng sự bình
tĩnh, tự tin trên chiếc thuyền sáu bơi chèo vẫn vang lên tiếng chỉ huy ngắn gọn, dứt khoát của người cầm lái ông lái đò đã vượt qua thạch trận thứ nhất một cách bình tĩnh, chủ động.
- Thạch trận thứ hai: Không được nghỉ tay nghỉ mắt, ông lái đò bước vào ngay thế trận
thứ hai Thế trận này tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào, và cửa sinh lại bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn, vẫn chỉ có một cửa sinh còn lại đều là luồng chết Thác nước Sông Đà
được so sánh với sức mạnh của hổ báo và chúng tấn công những người lái đò một cách quyết liệt
với dòng thác hùm beo hồng hộc tế mạnh trên sông đá Nhưng bằng nghệ thuật lái đò điêu luyện,
ông lái đò chủ động thế tấn công, ông cưỡi lên sóng thác sông Đà như là cưỡi hổ, “Nắm chặt lấybờm sóng”, “ghì cuống lái”, “lái biết một đường chéo để phóng nhanh vào cửa sinh” Hàng loạtđộng từ được nhà văn huy động như một đội quân ngôn ngữ hùng hậu để miêu tả khí thế xungtrận của ông đò: Nắm, ghì, phỏng, lái, tránh, ráo, đè, chặt… Dù ông đò đã bẻ gãy những đợt tấncông của chúng, nhưng bọn đá sông Đà vẫn chưa chấp nhận chịu thua nên bốn năm thủy quân cửa
ải xô ra để hòng lôi thuyền vào tập đoàn cửa tử nhưng ông đò sớm đã nhận ra dã tâm của chúng,đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo, lúc thì ông chặt đôi ra để mở đường tiến, khiến thằng đá tướngđứng chiến ở cửa đá này mặt xanh lè, tiu nghỉu vì thất trận
- Thạch trận thứ ba: Thạch trận thứ ba ít cửa hơn Nhưng bên phải bên trái, bên tả bên
hữu đều là cửa chết Những thế trận mà sông Đà dàn bày quả thực đầy biến hóa, vừa khiêu khích,
Trang 19dụ dỗ vừa đầy mưu cao kế hiểm Ở trùng vi thạch trận này, tác giả miêu tả không nhiều song vẫnlàm nổi bật lên được sự nham hiểm của đá thác Sông Đà và tài nghệ của ông lái đò Một loạt cácđộng từ lại được nhà văn sử dụng để miêu tả cách đánh của ông đò: Phóng, chọc thủng, xuyênqua, xuyên nhanh, lái lượn được phối hợp phép điệp "cánh mở, cánh khép", "cửa ngoài, cửatrong, lại cửa trong cùng", âm thanh "vút vút" tạo nên sự thần tốc trong cách đánh Quả đúng nhưPhan Huy Đông đã từng nhận định, "Đọc Người lái đò Sông Đà, ta có ấn tượng rõ rệt về sự tự docủa một tài năng, một đấng hóa công thực sự trong nghệ thuật ngôn từ" Cách đánh nhanh thắngnhanh đã giúp người lái đò vượt qua các trùng vi một cách phi thường Đến đây, người lái đò đãkhiến nhà văn, khiến người đọc và có lẽ là cả đội quân đá trên sông Đà phải hoàn toàn tâm phụckhẩu phục Ông đã bộc lộ hết tài năng của mình, thể hiện một trình độ chèo lái điêu luyện, dạndày, siêu phàm như đua tài cùng tạo hóa Tài nghệ đến mức điêu luyện của ông đã khiến việc lái
đò như biến thành một môn nghệ thuật: Thuyền vút qua cổng đá cánh mở cánh khép Vút, vút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng, thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được lượn được Thế là hết thác…
=> Có thể nói quy luật trên Sông Đà là một quy luật khắc nghiệt chỉ cần thiếu bình tĩnh,một chút nghỉ tay, nghỉ mắt, lỡ tay là phải trả giá bằng cả mạng sống Tuy nhiên, trong cuộc chiếnkhông cân sức giữa một bên là thiên nhiên dữ dội với một bên là ông lão đơn độc chỉ có mái chèo
là vũ khí duy nhất, chiến thắng đã thuộc về con người
2.2 Đánh giá về đẹp của ông lái đò
"Nếu Xuân Diệu xem tình yêu là tôn giáo thì Nguyễn Tuân xem cái đẹp như là tôn giáo củamình" (Gs Trần Đình Sử) Thật vậy, Nguyễn Tuân là một người nghệ sĩ tài hoa, suốt đời đi tìm cáiđẹp, là người nghệ sĩ ý thức đầy đủ về thiên chức sáng tạo Trong hành trình sáng tạo nghệ thuật,ông luôn tìm mọi cách để kiếm tìm và phát hiện cái đẹp, cái thật, cái mới lạ, độc đáo “xưa naychưa từng có” Rõ ràng qua cách miêu tả đến tột cùng sự dữ dội của con sông và cuộc giao chiếngiữa những người lái đò với dòng sông hung bạo, Nguyễn Tuân nhằm đến một mục đích lớn là cangợi vẻ đẹp của ông lái đò, ca ngợi sự dũng cảm, tài trí và chiến thắng vĩ đại của ông
- Tài hoa: Nguyễn Tuân quan niệm “mỗi trang đời là một trang nghệ thuật”, con người
trong tác phẩm của ông dù làm bất cứ công việc gì, ở tầng lớp nào đều là bậc nghệ sĩ trong côngviệc, nghề nghiệp của mình Qua sự miêu tả của Nguyễn Tuân, công việc lái đò đã trở thành mộtnghệ thuật và trình độ lái đò của ông lái đò đã đạt đến sự siêu phàm Tài hoa của ông lái đò đượcthể hiện rõ:
+ Ông lái đò rất am hiểu về dòng sông Đà Ông lái đã nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá Ông đã thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này, ông cũng nhớ mặt của từng thằng đá với những âm mưu của chúng Ông đò vẫn nhớ mặt bọn này nên rất ung dung
chủ động Hình ảnh ông lái đò vì thế được đánh giá “trên thác hiên ngang người lái đò sông Đà có
tự do, vì người lái đò ấy đã nắm được cái quy luật tất yếu của dòng nước Sông Đà”
+ Ông lái đò đã trở thành một nghệ sĩ điêu luyện trong nghệ thuật vượt thác qua ghềnh,một tay lái ra hoa Việc đưa con thuyền tìm đúng luồng nước, vượt qua bao cạm bẫy của thạchtrận sông Đà quả thực là một nghệ thuật cao cường từ một tay lái điêu luyện
Nhà văn đã sử dụng ngôn từ có tính nghệ thuật cao để miêu tả tài năng của ông lái đò như “Ônglái đò ghì cương lái”, lái miết một đường chéo”, “đè sấn lên”, “chặt đôi ra để mở đường tiến”,
“thuyền như một mũi tên xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái lượn được”
+ Hình tượng ông lái đò in đậm dấu ấn phong cách Nguyễn Tuân bởi ông chính là kiểungười tài hoa, nghệ sĩ, biết nâng nghề nghiệp của mình lên thành một môn nghệ thuật Và điều
Trang 20đáng chú ý ở đây là những con người tài hoa, nghệ sĩ được miêu tả không phải là những conngười vĩ đại, phi thường mà là những con người bình dị, thậm chí vô danh.
- Trí dũng: Để làm nổi bật vẻ đẹp trí dũng của ông lái đò, nhà văn đã sáng tạo một đoạn
văn tràn đầy không khí trận mạc, đã tưởng tượng ra cuộc chiến đấu ác liệt giữa người lái đò với
“bầy thủy quái” Sông Đà Sông Đà dữ dội, hiểm độc với trùng trùng, lớp lớp dàn trận bủa vây, có
sự hợp sức của nhiều thế lực: sóng, nước, đá…còn ông đò là một viên tướng dũng cảm tả xunghữu đột, tỉnh táo nhanh nhẹn, quyết đoán chỉ huy và điều khiển con thuyền qua nhiều vòng, nhiềucửa và cuối cùng ông lái đò đã chiến thắng Nhà văn Nguyễn Tuân cũng tung ra những kiến thức
về quân sự, võ thuật, thể hiện một vốn kiến thức rất phong phú uyên bác để làm nổi bật vẻ đẹpnhư một anh hùng trên sông nước của ông lái đò
3.2 Cách nhìn mang tính phát hiện về con người của nhà văn Nguyễn Tuân.
- Qua nhân vật ông lái đò, Nguyễn Tuân có cách nhìn mang tính phát hiện về người laođộng mới: Ông đò chính là biểu tượng cho vẻ đẹp tâm hồn của người lao động miền Tây Bắc âmthầm, giản dị, bình thường, nhỏ bé nhưng đã làm nên những kì tích lớn lao trong công cuộc chiếnđấu với thiên nhiên hung dữ Hình tượng ông lái đò nơi thác sông Đà hoang vu, khuất nẻo là bảnanh hùng ca ca ngợi con người, là bức tượng đài sừng sững về con người trong công việc lao độngchính phục tự nhiên để giành lấy miếng cơm manh áo Thông qua hình tượng ông lái đò, nhà vănNguyễn Tuân thể hiện sự trân trọng, cảm phục, ca ngợi con người Tây Bắc với chất vàng mười đãqua thử lửa trong tâm hồn, đồng thời thể hiện rõ sự tin tưởng của nhà văn với công cuộc xây dựngđất nước
- Qua nhân vật ông đò cho thấy sự thay đổi trong cách tiếp cận con người của Nguyễn Tuânsau cách mạng: Trước cách mạng, con người Nguyễn Tuân hướng tới ca ngợi là những “con ngườiđặc tuyển, những tính cách phi thường” Sau cách mạng, nhân vật tài hoa của Nguyễn Tuân có thểtìm thấy ngay trong công cuộc chiến đấu, lao động hàng ngày của nhân dân
- Nhà văn bộc lộ quan niệm về con người, tài hoa nghệ sĩ và anh hùng
+ Với Nguyễn Tuân con người dù làm bất cứ nghề nghiệp, công việc nào nếu đạt đến trình
độ thành thạo và điêu luyện thì đều rất đáng quý đáng trọng vì khi đó ở họ bộc lộ sự tài hoa nghệ
sĩ
+ Những người tài hoa nghệ sĩ không chỉ có ở những lĩnh vực có tính nghệ thuật mà còn có
ở trong những lĩnh vực tưởng không liên quan đến nghệ thuật Người nghệ sỹ không chỉ là ngườisáng tạo ra cái đẹp mà còn là người biến công việc lao động của mình trở thành một nghệ thuật…Như ông lái đò trong tác phẩm đã trở thành người nghệ sĩ trong nghệ thuật vượt thác qua ghềnh vàbiến công việc lái đò thành một nghệ thuật
+ Những người anh hùng không chỉ có ở nơi chiến trường mà còn có ngày ở trong cuộcsống hằng ngày trong cuộc vật lộn với tự nhiên để giành lấy cuộc sống
Trang 213.3 Phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân
- Đoạn văn góp phần thể hiện phong cách Nguyễn Tuân tài hoa, uyên bác với thể tuỳ bút vừagiàu tính hiện thực, vừa tràn ngập cái tôi phóng túng đầy cảm hứng, say mê…
- Biểu hiện phong cách tài hoa, uyên bác của nhà văn Nguyễn Tuân: Ông không chấp nhận sự
sáo mòn Ông luôn tìm kiếm những cách thức thể hiện, những đối tượng mới mẻ Nhà văn luôntiếp cận con người ở phương diện tài hoa, nghệ sĩ Tác giả bộc lộ sự tinh tế trong mĩ cảm vớitrường liên tưởng phong phú, ngôn ngữ vừa phong phú vừa điêu luyện Một cái tôi uyên bác khihuy động mọi kiến thức thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để khắc họa hình tượng “Người lái đòsông Đà” tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân sau cách mạng
-Đoạn số 4
Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân Tôi đã nhìn say sưa làn mây mùa xuân bay trên Sông Đà, tôi đã xuyên qua đám mây mùa thu mà nhìn xuống dòng nước Sông Đà Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, chứ nước Sông Đà không xanh màu xanh canh hến của Sông Gâm Sông Lô Mùa thu nước Sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi
độ thu về Chưa hề bao giờ tôi thấy dòng Sông Đà đen như thực dân Pháp đã đè ngửa con sông ta
ra đổ mực Tây vào mà gọi bằng một cái tên Tây láo lếu, rồi cứ thế mà phiết vào bản đồ lai chữ.
Đã có lần tôi nhìn Sông Đà như một cố nhân Chuyến ấy ở rừng đi núi cũng đã hơi lâu, đã thấy thèm chỗ thoáng Mải bám gót anh liên lạc, quên đi mất là mình sắp đổ ra Sông Đà Xuống một cái dốc núi, trước mắt thấy loang loáng như trẻ con nghịch chiếu gương vào mắt mình rồi bỏ chạy Tôi nhìn cái miếng sáng lóe lên một màu nắng tháng ba Đường thi “Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu” Bờ Sông Đà, bãi Sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm trên Sông Đà Chao ôi, trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng Đi rừng dài ngày rồi lại bắt ra Sông Đà, đúng thế, nó đằm đằm ấm ấm như gặp lại cố nhân, mặc dầu người cố nhân ấy mình biết là lắm bệnh lắm chứng, chốc chốc dịu dàng đấy, rồi chốc lại bẳn tính
và gắt gỏng thác lũ ngay đấy.
(Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục, 2008, tr.191-192)
Cảm nhận vẻ đẹp hình tượng con sông Đà trong đoạn trích trên đây Từ đó nhận xét
về chất thơ trong đoạn trích.
I MỞ BÀI
- Tham khảo mở bài chung
- Đoạn trích sau đây ca ngợi vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình của sông Đà thể hiện chất thơ trong
sáng tác của Nguyễn Tuân “Con sông Đà tuôn dài…ngay đấy”.
II THÂN BÀI
1 Khái quát
- Hoàn cảnh ra đời: Tùy bút Người lái đò Sông Đà được in trong tập tùy bút Sông Đà (1960),
gồm 15 bài tùy bút và một bài thơ ở dạng phác thảo Tác phẩm được viết trong thời kỳ xây dựngchủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Đó là kết quả của chuyến đi thực tế của nhà văn đến Tây Bắc trongkháng chiến chống Pháp, đặc biệt là chuyến đi thực tế năm 1958 Nguyễn Tuân đến với nhiềuvùng đất khác nhau, sống với bộ đội, công nhân và đồng bào các dân tộc Thực tiễn xây dựngcuộc sống mới ở vùng cao đã đem đến cho nhà văn nguồn cảm hứng sáng tạo
Trang 22- Nguyễn Tuân là nhà văn theo chủ nghĩa xê dịch và ưa cảm giác mạnh Giống như các nhà
văn theo chủ nghĩa xê dịch, Nguyễn Tuân thích đi nhiều để thay đổi cảm giác cho các giác quan.Ông không thích những gì bình thường và tầm thường nên đối tượng mà ông miêu tả đã đẹp thìphải đẹp đến mức tuyệt mĩ, dữ dội phải đến mức khủng khiếp và tài năng phải đến mức siêuphàm Con sông Đà của Tây Bắc rất phù hợp với mĩ cảm của nhà văn nên bằng quan sát tỉ mỉ, sựliên tưởng, tưởng tượng phong phú và tài năng nghệ thuật xuất sắc nhà văn Nguyễn Tuân đã xâydựng con sông Đà thành một hình tượng nghệ thuật hấp dẫn, biến nó từ vật vô tri vô giác thànhmột sinh thể có sức sống, có tâm trạng và tính cách Có lẽ cũng vì thế tác giả gọi nó là “con” vàviết hoa tên của nó thành Sông Đà Con Sông Đà hiện lên trong tác phẩm với hai nét tính cách nổibật là hung bạo và trữ tình Hai nét tính cách tưởng chừng như đối lập nhưng lại cùng tồn tạitrong một hình tượng nghệ thuật Sông Đà rất hung dữ, hiểm ác gây tai họa cho con người nhưngcũng là một công trình nghệ thuật tuyệt vời của tạo hóa, vừa hùng vĩ vừa thơ mộng tạo nên chấtmen say cho con người trong cuộc sống Đoạn trích nêu trên nằm trong phần miêu tả tính cách trữtình, thơ mộng của Đà giang
2 Hình tượng con Sông Đà qua đoạn trích: Sông Đà có vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng
- Điểm nhìn nghệ thuật: Văn chương luôn đòi hỏi người nghệ sĩ phải tìm tòi những điều mới
lạ Bởi chính sự mới lạ là một trong điều cần có dẫn đến sự thành công trong sáng tác của người
nghệ sĩ Vẫn quan sát con sông Đà ở chiều không gian, nhưng trong tùy bút “Người lái đò Sông
Đà”, Nguyễn Tuân đã tạo ra sự mới lạ khi ông quan sát và miêu tả Sông Đà với một điểm nhìnkhác biệt là nhìn từ trên cao nhìn xuống Nếu trước đó nhà văn viết rằng mình ngồi trên máy bay
mà quan sát sông Đà Tôi có bay tạt ngang qua sông Đà mấy lần, và cũng là thêm cho mình một góc độ nhìn một cách nhìn về con sông Tây Bắc thì trong đoạn văn này tác giả vẫn thể hiện điểm nhìn ấy: Tôi đã nhìn say sưa làn mây mùa xuân bay trên Sông Đà, tôi đã xuyên qua đám mây mùa thu mà nhìn xuống dòng nước Sông Đà.
- Con sông Đà mang vẻ đẹp của một mĩ nhân: Từ điểm nhìn đặc biệt đó, tác giả đã cho người
đọc thấy Sông Đà thật mềm mại, thướt tha chảy dọc trên mảnh đất Tây Bắc rộng lớn Tác giả còn
nhìn thật sâu vào dòng Sông Đà để thấy “con Sông Đà tuôn dài, tuôn dài như một áng tóc trữ tình Hai từ “tuôn dài” được lặp lại hai lần cho ta thấy được dòng chảy của Sông Đà dường như nó
vô cùng, vô tận như không có điểm dừng cùng với nhịp câu toàn là thanh bằng đã phần nào diễn
tả sự chảy trôi của con sông sao nó chậm rãi êm đềm đến như thế! Nó thật khác so với sự cuồncuộn của “nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió” của mặt ghềnh Hát Loóng phần thượng nguồn.Không chỉ thế ta còn bắt gặp được sự tài hoa, cái chất “ngông” của Nguyễn Tuân trong cách bỏdấu câu khiến cho dòng sông nó cứ chảy trôi, chảy trôi êm ả giữa miền đất rộng lớn Tây Bắc Nhàvăn còn so sánh Sông Đà như “một áng tóc trữ tình” làm cho dòng Sông Đà giống như một làn tócmây thướt tha, bồng bềnh và mang vẻ đẹp của người thiếu nữ kiều diễm Từ “áng” vừa có sự quenthuộc bởi ta thường bắt gặp từ “áng” ở áng văn, áng thơ vừa có sự mới lạ vì ở đây nó đượcNguyễn Tuân gắn với tóc thành “áng tóc trữ tình” Cả cụm từ ấy đã bộc lộ vẻ đẹp đầy chất thơ, sựtrẻ trung và mềm mại đầy nữ tính của con sông Tây Bắc
- Sông Đà ẩn hiện giữa thiên nhiên Tây Bắc đầy thơ mộng: Sông Đà như mái tóc của người
thiếu nữ kiều diễm mà đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân Vẻ đẹp của dòng sông được tác giả
điểm tô như mái tóc được cài lên những những bông hoa đầy sắc màu như màu trắng tinh khôicủa hoa ban, màu đỏ thắm của hoa gạo trong tiết tháng Ba Ngoài ra, dòng sông còn mang vẻ đẹp
ấm áp, mơ màng khi nó ẩn hiện giữa mù khói Mèo đốt nương xuân Vẻ đẹp của dòng sông hài hòa
Trang 23với núi rừng Tây Bắc, được núi rừng điểm tô thêm cho nhan sắc thêm mĩ miều Có thể nói nhữngcâu văn đầu tiên trong đoạn văn này của Nguyễn Tuân xứng đáng được xếp vào những câu vănđẹp được coi là “tờ hoa”, “trang hoa” trong văn học Việt Nam.
- Vẻ đẹp trữ tình của sông Đà được thể hiện qua màu sắc nước: Nhà văn còn có sự quan
sát theo chiều thời gian để thấy rõ sự biến đổi khôn lường của màu nước Sông Đà theo mùa Khi
miêu tả sắc nước Sông Đà Nguyễn Tuân đã bộc lộ sự mê hoặc trước khi miêu tả sắc nước Sông
Đà trong hai mùa: xuân và thu: “Tôi đã nhìn say sưa làn mây mùa xuân bay trên Sông Đà, tôi đãxuyên qua đám mây mùa thu mà nhìn xuống nước Sông Đà” Về mùa xuân sông Đà hiện lên vớimàu “xanh ngọc bích” – đó là một màu xanh vừa trong vừa sáng, đầy hấp dẫn Ta như bắt gặpmàu xanh này trong bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của nhà thơ Hàn Mạc Tử khi miêu tả khu vườnthôn Vĩ: “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc” Điểm độc đáo ở đây của cả hai tác giả đều lựa chọnsắc xanh ngọc bích để tăng thêm vẻ đẹp của đối tượng miêu tả Nhưng có lẽ việc sử dụng màuxanh ngọc bích để miêu tả sắc Sông Đà của Nguyễn Tuân vào mùa xuân như đang là tăng thêm sựquý giá của Sông Đà như “chất vàng” mà Nguyễn Tuân luôn tìm kiếm Không chỉ thế NguyễnTuân còn khẳng định sự khác biệt về màu sắc của Sông Đà không “xanh như màu xanh canh hếncủa sông Gâm sông Lô” Đến đây ta nghĩ đến lời nhận xét của TS Trịnh Thu Tuyết: “Việc so sánhmàu ngọc bích của Sông Đà với màu xanh canh hến của sông Gâm, sông Lô không phải chỉ làbiểu hiện quen thuộc của một nhà văn thị tài, thích khoe tài, khoe uyên bác mà còn là một sự thiên
vị của một niềm yêu” Có lẽ Nguyễn Tuân yêu Sông Đà quá nhiều nên bất cứ con sông nào vớiông cũng không đẹp như sông Đà
Mùa xuân qua đi mùa thu lại đến sắc nước Sông Đà có sự biển đổi đầy rõ nét không chỉcòn là sắc xanh ngọc bích đầy hấp dẫn đấy nữa mà thay vào đó là màu “lừ lừ chín đỏ” Phải chăng
là màu đỏ của “Những dòng sông đỏ nặng phù sa” mà Nguyễn Đình Thi miêu tả? Và như để giảithích rõ hơn về màu đỏ của nước sông Đà nên sau đó tác giả đã miêu tả và so sánh sắc đỏ ấy với
hai đối tượng khác nhau là khiến người đọc dễ hình dung hơn là “lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bỗi gì mỗi độ thu về” hay “như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa” Nhà
văn đã sử dụng thành công biện pháp tu từ so sánh màu sắc của con sông với sắc thái, tâm trạngcủa con người lúc “bất mãn”, “bực bội” khi mỗi đợt thu về đã làm cho con sông Đà hiện lênkhông còn vô tri, vô giác nữa mà khiến nó trở nên có hồn và có cảm xúc Ngoài ra ta còn thấyđược cái tài của Nguyễn Tuân khi đặt hai màu của hai mùa khác nhau trong năm, xanh và đỏ ởcạnh nhau cũng vô cùng tinh tế Hai màu đó tuy đối chọi nhau giờ lại hài hòa, êm dịu một cách lạthường… Như vậy bên cạnh vẻ đẹp duyên dáng thì Sông Đà còn có vẻ đẹp đầy biến ảo linh hoạt,hấp dẫn không lặp lại mình Nếu như vào mùa xuân sắc nước gợi lên sự êm dịu trong trẻo thì sangmùa thu sắc nước chuyển mình đỏng đảnh ẩn chứa nhiều sức mạnh tiềm tàng của nó
Với cái nhìn của tình yêu và tinh thần dân tộc nên trong đoạn văn, Nguyễn Tuân còn thể hiện
sự am hiểu tường tận về dòng sông hơn nữa Ông khẳng định chưa bao giờ, sông Đà có màu đen
như “thực dân Pháp đã đè ngửa con sông ra đổ mực Tây vào rồi gọi bằng một cái tên láo lếu, rồi
cứ thế mà phết vào bản đồ lai chữ”
- Cách nhìn nhận của tác giả về dòng sông Đà: Nguyễn Tuân đã nhìn dòng sông Đà
không đơn thuần với quan hệ giữa nhà văn và đối tượng miêu tả mà còn là quan hệ giữa nhữngngười bạn tri âm tri kỉ Bởi vậy, tác giả không chỉ dừng lại trên bề mặt để ghi lại chất thơ của dòngsông mà còn đi sâu vào tâm hồn để nhận thấy chất trữ tình trong tính cách, trong quan hệ củadòng sông với con người Tác giả dùng từ “cố nhân” rất gần gũi, thiêng liêng để gọi sông Đà.Trong văn hóa của người Việt Nam thì “cố nhân” dùng để chỉ những tình bạn thân thiết, gắn bó,
Trang 24những tình bạn đã được tạo nên từ sự đồng điệu tri âm, đã được thử thách bởi những thăng trầmcủa thời gian Hơn nữa, từ “cố nhân” còn gợi lên cảm xúc bâng khuâng, da diết của một nỗi nhớđậm sâu về người cũ, xa cách lâu ngày Và như vậy, khác hẳn với con thủy quái hung dữ luôn tìmcách đe dọa, tiêu diệt con người ở thượng nguồn, về đến hạ nguồn sông Đà bỗng trở nên dịu dàng
và đằm thắm, trở thành đối tượng chia sẻ mọi buồn vui với con người Bởi vậy khi phải xa cáchdòng sông, Nguyễn Tuân nhớ dòng sông như nhớ một người bạn thân thiết
Vì tác giả dành cho dòng sông nỗi nhớ da diết, mãnh liệt nên khi được gặp lại con sông yêu
thương, nhà văn có cảm giác “đằm đằm, ấm ấm” và niềm vui vỡ òa và tràn ra trên bề mặt câu chữ.
Niềm vui được tác giả diễn tả bằng những hình ảnh so sánh độc đáo liên tiếp đặt cạnh
nhau:“Chao ôi, trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nổi lại chiêm bao đứt quãng” Có thể nói đây là hai hình ảnh so sánh rất lạ Cách so sánh giúp tác giả diễn tả chính xác niềm vui căng tràn, mãnh liệt của mình Trong đó, Vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm gợi ra niềm vui vì sự mong đợi đã được thỏa mãn vì sự thay đổi theo chiều hướng lạc quan, tươi sáng Vui như nối lại chiêm bao đứt quãng lại gợi ra được niềm vui hiếm hoi nhưng
vô cùng mãnh liệt, vì mãnh liệt nên nó có thể nối lại được những giấc mơ đã đứt
Khi gặp lại Sông Đà, với một cái nhìn rất gần nhà văn nhận ra vẻ đẹp mang đầy chất thơ
của nó Vẻ đẹp hồn nhiên, trong sáng của nước Sông Đà gợi nhớ đến một trò chơi của con trẻ
“trước mắt thấy loang loáng như trẻ con nghịch chiếu gương vào mắt mình rồi bỏ chạy” Vẻ đẹp
của nắng sông Đà lại gợi nhớ đến thế giới Đường thi “tôi nhìn cái miếng sáng lóe lên một màu
nắng tháng ba Đường thi “Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu”” (Xuôi thuyền về Dương Châu
giữa tháng ba, mùa hoa khói) Vẻ đẹp của bờ bãi sông Đà lại gợi nhớ đến thế giới thần tiên, kì ảo
trong khu vườn cổ tích: Bờ Sông Đà, bãi Sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm trên Sông Đà Ở
đây, Nguyễn Tuân sử dụng những câu văn ngắn, giữa các vế có sự trùng điệp về cấu trúc tạo nênnhịp điệu nhanh, dồn dập, cụm từ “sông Đà” được điệp lại liên tiếp thể hiện tình cảm ấm nóngnhư đang cố gắng mở rộng tất cả biên độ của mình để ghi lại tất cả những gì là đẹp đẽ, thơ mộng
dị nhất của sông Đà
3 Đánh giá về đoạn văn
3.1 Đánh giá về nội dung và nghệ thuật
Bằng những cảm nhận tinh tế tài hoa của mình, Nguyễn Tuân đã phác thảo hình sắc củanước Sông Đà bằng những đường nét uyển chuyển, bằng những màu sắc biến ảo lung linh Nếu vísông Đà là một sản phẩm nghệ thuật thì đây là một tác phẩm hội họa tuyệt mỹ Và để làm rõ vẻ vẻđẹp trữ tình của dòng sông Đà, Nguyễn Tuân đã miêu tả từ nhiều thời điểm: mùa xuân, mùa thu,
từ nhiều góc độ: khi thì ngồi trên trực thăng để bao quát toàn cảnh, khi thì xuôi thuyền dọc theosông Đà thậm chí có khi còn dừng hẳn lại để chiêm ngưỡng và miêu tả một cách cặn kẽ, kĩ càng.Việc làm đó của Nguyễn Tuân vừa cho thấy con sông Đà mang trong mình một vẻ đẹp đa chiều,phải soi ngắm từ nhiều phương diện, góc độ mới có thể thấy hết cái thơ mộng trữ tình của nó, vừacho thấy tinh thần lao động nghiêm túc ở Nguyễn Tuân
Nghệ thuật là lĩnh vực của cái độc đáo vì vậy nó đòi hỏi người viết sự sáng tạo phong cáchmới lạ, thu hút người đọc Thì đối với Nguyễn Tuân ở đây cũng vậy Ông đã sử dụng kiến thức hộihoạ, thơ ca để miêu tả; Vận dụng nhiều những biện pháp nghệ thuật như so sánh, nhân hóa, những
ví von, liên tưởng, tưởng tượng độc đáo, bất ngờ và rất thú vị; Từ ngữ phong phú, sống động, giàuhình ảnh và có sức gợi cảm cao; Câu văn đa dạng, nhiều tầng, giọng điệu mượt mà, sâu lắng; Lờivăn bay bổng, phóng túng – viết không theo nguyên tắc các dấu chấm, dấu phẩy, bỏ đi để tạo nên
sự dịu dàng uyển chuyển liền mạch của dòng chảy Sông Đà Cùng với việc sử dụng nhiều thanh
Trang 25bằng tạo một con sông êm ả giống như một thiếu nữ Tây Bắc rất mực nữ tính mà vẫn hùng vĩ lớnlao.
3.2 Nhận xét chất thơ thể hiện trong đoạn trích
- Chất thơ là sự pha trộn những đặc điểm của thơ ca vào tác phẩm văn học thuộc thể loạikhác Chất thơ trong văn xuôi nói chung được tạo nên khi nhà văn chú ý khai thác và biểu hiệnmột cách tinh tế cái mạch cảm xúc, tâm trạng, tình cảm của nhân vật hoặc của chính mình trướcthế giới bằng những chi tiết, hình ảnh đầy gợi cảm và một lối văn trong sáng, truyền cảm, phù hợpvới nhịp điệu riêng của cảm xúc, tâm hồn
- Biểu hiện của chất thơ trong đoạn trích:
+ Cảm nhận của tác giả về vẻ đẹp trữ tình của dòng sông: Sông Đà như một người gái đẹp
của núi rừng Tây Bắc với mái tóc dài, thật dài, mượt mà, tha thướt, gài buông lơi những bông hoaban trắng ngần hay những bông gạo đỏ rực, thấp thoáng ẩn hiện giữa núi rừng mùa xuân mùsương khói…Vẻ trữ tình của dòng sông mang vẻ đẹp của Đường thi khi nó gợi nhớ câu thơ của LíBạch
+ Ở xúc cảm tinh tế của tác giả trước dòng sông thơ mộng, trữ tình: cảm giác đằm đằm ấm
ấm và niềm vui như gặp lại cố nhân sau chuỗi ngày chia biệt Đặc biệt, thán từ chỉ cảm xúc “Chaoôi” được nhà văn sử dụng để bày tỏ tình cảm với con sông thương nhớ
+ Ở phương diện nghệ thuật: điểm nhìn nghệ thuật khác biệt, những biện so sánh, liên
tưởng thú vị độc đáo của Nguyễn Tuân: Sông Đà như một người con gái đẹp, như một cố nhân,nước Sông Đà đổi màu liên tục qua mỗi mùa trong năm, cách sử dụng ngôn từ giàu xúc cảm…Đểtôn thêm tính trữ tình của dòng sông, nhà văn sử dụng nhiều hình ảnh trong sáng gợi cảm và đầychất thơ Nhịp điệu câu văn khi thì chậm rãi, lúc thì hối hả, mau lẹ do cách ngắt câu và diễn đạttheo lối điệp (bờ sông Đà, bãi sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm trên sông Đà) để diễn tả niềmsung sướng đang trào dâng trong lòng tác giả Vốn văn hóa, vốn từ vựng giàu có, trí tưởng tượngbay bổng của nhà văn thả sức tung hoành, tạo nên những đoạn văn mượt mà như những lời thơ
Từ ngữ chọn lọc, độc đáo, sử dụng kiến thức hội hoạ, thơ ca để miêu tả… Tất cả đã giúp NguyễnTuân tái hiện được sức sống mãnh liệt của mỹ nhân sông Đà thơ mộng và trữ tình
3.3 Nhận xét về cái tôi trữ tình của Nguyễn Tuân
- Trong đoạn trích, người đọc cảm nhận được cái tôi uyên bác, tài hoa nghệ sĩ của mộtngười suốt đời rong ruổi đi tìm cái đẹp Nguyễn Tuân luôn nhìn nhận mọi sự vật,sự việc dướiphương diện thẩm mỹ, luôn đi tìm cảm hứng trong sáng tạo nghệ thuật, tô đậm những cái phithường để tạo cảm giác mãnh liệt gây ấn tượng
- Một cái tôi am tường và đầy suy tư trước vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước là cái tôi yêunước mà sau cách mạng đã tìm thấy sự hòa nhập với cuộc sống mới, con người mới
Đoạn số 5
Thuyền tôi trôi trên Sông Đà Cảnh ven sông ở đây lặng tờ Hình như từ đời Lí đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi Thuyền tôi trôi qua một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa Mà tịnh không một bóng người Cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa Chao ôi, thấy thèm được giật mình
vì một tiếng còi xúp-lê của một chuyến xe lửa đầu tiên đường sắt Phú Thọ - Yên Bái – Lai Châu Con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương, chăm chăm nhìn tôi lừ lừ trôi trên một mũi đò Hươu vểnh tai, nhìn tôi không chớp mắt mà như hỏi tôi bằng cái tiếng nói riêng của con
Trang 26vật lành: “Hỡi ông khách Sông Đà, có phải ông cũng vừa nghe thấy một tiếng còi sương?” Đàn
cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi thoi Tiếng cá đập nước sông đuổi mất đàn hươu vụt biến Thuyền tôi trôi trên “Dải Sông Đà bọt nước lênh bênh – Bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình” của “một người tình nhân chưa quen biết” (Tản Đà) Dòng sông quãng này lững
lờ như nhớ thương những hòn đá thác xa xôi để lại trên thượng nguồn Tây Bắc Và con sông như đang lắng nghe những giọng nói êm êm của người xuôi, và con sông đang trôi những con đò mình nở chạy buồm vải nó khác hẳn những con đò đuôi én thắt mình dây cổ điển trên dòng trên.
(Trích Người lái đò Sông Đà – Nguyễn Tuân, sách Ngữ văn 12, Tập 1,
NXB Giáo dục 2014, tr.191-192)
Phân tích vẻ đẹp của hình tượng con Sông Đà trong đoạn trích trên đây Từ đó, nêu
ngắn gọn phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân qua tuỳ bút “Người lái đò Sông Đà”.
I MỞ BÀI
- Tham khảo mở bài chung
- Đoạn trích sau đây nằm ở đoạn cuối của tác phẩm, ca ngợi vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình của
sông Đà và góp phần thể hiện rõ phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân “Thuyền tôi trôi…dòng trên”.
II THÂN BÀI
1 Khái quát
- Hoàn cảnh ra đời: Tùy bút Người lái đò Sông Đà được in trong tập tùy bút Sông Đà (1960),
gồm 15 bài tùy bút và một bài thơ ở dạng phác thảo Tác phẩm được viết trong thời kỳ xây dựngchủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Đó là kết quả của chuyến đi thực tế của nhà văn đến Tây Bắc trongkháng chiến chống Pháp, đặc biệt là chuyến đi thực tế năm 1958 Nguyễn Tuân đến với nhiềuvùng đất khác nhau, sống với bộ đội, công nhân và đồng bào các dân tộc Thực tiễn xây dựngcuộc sống mới ở vùng cao đã đem đến cho nhà văn nguồn cảm hứng sáng tạo
- Con sông Đà của Tây Bắc rất phù hợp với mĩ cảm của nhà văn nên bằng quan sát tỉ mỉ, sự
liên tưởng, tưởng tượng phong phú và tài năng nghệ thuật xuất sắc nhà văn Nguyễn Tuân đã xâydựng con sông Đà thành một hình tượng nghệ thuật hấp dẫn, biến nó từ vật vô tri vô giác thànhmột sinh thể có sức sống, có tâm trạng và tính cách Con Sông Đà hiện lên trong tác phẩm với hainét tính cách nổi bật là hung bạo và trữ tình Hai nét tính cách tưởng chừng như đối lập nhưng lạicùng tồn tại trong một hình tượng nghệ thuật Sông Đà rất hung dữ, hiểm ác gây tai họa cho conngười nhưng cũng là một công trình nghệ thuật tuyệt vời của tạo hóa, vừa hùng vĩ vừa thơ mộngtạo nên chất men say cho con người trong cuộc sống Nếu ở thượng lưu, con sông Đà được nhàvăn khắc họa với vẻ đẹp hung bạo, quanh năm làm mình làm mẩy với người dân Tây Bắc, thì ởđoạn chảy về hạ lưu, sông Đà lại trở nên hiền hòa, thơ mộng, trữ tình
2 Hình tượng con Sông Đà qua đoạn trích: Sông Đà có vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng
2.1 Điểm nhìn nghệ thuật
Đoạn văn được bắt đầu bằng câu văn “Thuyền tôi trôi trên sông Đà” Câu văn ngắn chỉ
gồm 6 âm tiết, mà lại đều là thanh bằng, gợi sự nhẹ nhàng êm ái đã tạo nên không gian nghệ thuậtnhư ru khách sông Đà vào giấc mộng phiêu du, dẫn họ đến một không gian nên thơ, cổ tích Mặtkhác, nó cũng cho thấy Nguyễn Tuân là người ưa những điều mới lạ và muốn khám phá một cáchtường tận vẻ đẹp của dòng sông Đà Nhà văn muốn quan sát và miêu tả dòng sông Đà từ nhiểuđiểm nhìn khác nhau nên nếu ở đoạn văn trước đó, ông cảm nhận vẻ trữ tình thơ mộng của dòng
Trang 27sông từ điểm nhìn trên cao là từ tàu bay nhìn xuống, hay cái nhìn gần hơn là khi đi từ rừng ra bắtgặp sông Đà thì ở đoạn văn này, điểm nhìn còn gần hơn nữa là ngồi trên con thuyền trôi chầmchậm trên sông để quan sát và miêu tả về dòng sông mà ông thương nhớ như cố nhân.
2.2 Vẻ đẹp tĩnh lặng và hoang dại
Ngay từ đầu đoạn trích, Nguyễn Tuân đã gieo vào tâm trí người đọc về vẻ đẹp ấn tượng củasông Đà ở dọc đôi bờ sông Không dữ dội như quãng ở thượng nguồn, cảnh vật thiên nhiên sông
Đà ở đây thật tĩnh lặng và hoang sơ Sự tĩnh lặng của không gian cảnh vật sông Đà được nhà văn
miêu tả “Cảnh ven sông ở đây lặng tờ Hình như từ đời Lý, đời Trần, đời Lê quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi” Ngồi trên khoang đò ở quãng ấy, nhà văn có cảm giác mình đang đi
ngược về quá khứ xa xưa trở về thời Lí, thời Trần, thời Lê Nhắc đến các triều đại ấy là tác giảmuốn gợi lại lịch sử dựng nước, giữ nước và thể hiện lòng tự tôn dân tộc, cũng là một cách để nhàvăn tô đậm vẻ đẹp nguyên sơ của dòng sông Cảnh vật tĩnh lặng đến mức nhà văn chợt ao ước cómột âm thanh của cuộc sống con người, khao khát được cảm nhận những thành tựu của con người
trong công cuộc chinh phục thiên nhiên, xây dựng cuộc sống mới trên Tây Bắc:“Chao ôi thấy thèm được giật mình vì một tiếng còi xúp lê của một chuyến xe lửa đầu tiên đường sắt Phú Thọ - Yên Bái - Lai Châu’'.
Cảnh vật bờ bãi sông Đà không chỉ tĩnh lặng mà còn hoang sơ đến lạ kỳ Sự tĩnh lặng, hoang
sơ của dòng sông hiện lên rõ nét hơn qua các nét phác họa “tịnh không một bóng người”, “bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử”, “bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa” Có
thể nói, qua phép so sánh đầy sức gợi và các nét tả của Nguyễn Tuân, dòng sông Đà ở hạ lưu vẫngiữ nguyên vẻ đẹp nguyên sơ như thể hàng ngàn năm, vạn năm hay hàng tỷ năm nay nó vẫnnguyên sơ như thế Với cách liên tưởng và ví von ấy, tác giả dường như muốn cho ta thấy sông Đàcòn có vẻ đẹp của một con sông bền bỉ chạy qua tháng năm lịch sử, mang dấu tích văn hóa ngànxưa của dân tộc Đặc biệt, hai câu văn “bờ sông hoang dại bờ sông hồn nhiên ” khiến ta tưởngđây là hai vế của một câu song quan trong bài phú lưu thủy Nghệ thuật điệp cấu trúc đã kết dínhhai câu thành một bè thơ gợi cảm, bồng bềnh, vấn vương cảm xúc hoài cổ mà ta đã bắt gặp ởngười nghệ sĩ một thời vang bóng này Nguyễn Tuân đã tìm về vẻ đẹp xưa trong cái ngày hôm nay
để từ đó bộc lộ tình yêu quê hương xứ sở
2.2 Thế giới thiên nhiên sinh động, kì ảo và thi vị
Không bằng lòng với cái đẹp nhợt nhạt, Nguyễn Tuân đã vận dụng tối đa bút lực để pháchọa bức tranh cảnh vật sông Đà, hệt như một người họa sĩ tài hoa Thế giới thiên nhiên Sông Đàqua sự miêu tả của ông thật sinh động, kỳ ảo, lý thú nhưng cũng tràn đầy sức sống Những hìnhảnh về "một nương ngô mới nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa", "cỏ gianh đồi núi đang ra nhữngnõn búp"… cho thấy cảnh vật được miêu tả qua vẻ đẹp của sự non tơ, tươi mới và tràn đầy sứcsống, kéo dòng sông từ thuở hồng hoang trở về gần với thực tại Giữa không gian thơ mộng, tĩnhlặng đó là hình ảnh một đàn hươu "cúi đầu ngốn búp cỏ tranh đẫm sương đêm" Tác giả đã cảmnhận hết vẻ tinh khôi, thần thái tràn trề sức sống của cảnh vật và bắt trọn từng khoảnh khắc vàmọi chuyển động: "Con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương, chăm chăm nhìn tôi lừ
lừ trôi trên một mũi đò", rồi "hươu vểnh tai" Cuộc đối thoại giữa ông khách sông khách sông Đà
và con vật “lành” đích thực là một bài thơ trữ tình, nó chập chờn chơi vơi Hươu hỏi người hayngười tự hỏi một giả định vừa thực vừa ảo Hình ảnh đầy chất thơ này gợi cho chúng ta nhớ đếnchú nai vàng trong những câu thơ nổi tiếng của tác giả Lưu Trọng Lư:
Trang 28"Con nai vàng ngơ ngácĐạp trên lá vàng khô"
Thiên nhiên sông Đà với sự sống nguyên sơ còn được miêu tả qua hình ảnh đàn cá dầmxanh trong sự ví von, so sánh tinh tế và độc đáo: "Đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bụngtrắng như bạc rơi thoi", “Tiếng cá đập nước sông khiến đàn hươu vụt biến” Câu văn “Đàn cá dầmxanh quẫy vọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi thoi” là một câu văn đẹp, có âm thanh, có màusắc, có cái nghe thấy, có vật nhìn thấy, có điều cảm thấy Hình ảnh so sánh “đàn cá bụng trắng nhưbạc rơi thoi” đầy chất thơ vừa gợi tả sắc trắng (như bạc), vừa chỉ rõ dáng hình thon dài (như thoi)của đàn cá dầm xanh Biện pháp nghệ thuật so sánh cùng với nghệ thuật lấy động tả tĩnh gợi lênkhông gian tĩnh mịch đến độ người ta có thể nghe thấy cả tiếng cá quẫy đuôi làm đàn hươu phảigiật mình và ông khách sông Đà cũng chợt tỉnh mộng để quay về thực tại
2.3 Vẻ đẹp trữ tình, giàu chất thơ
Nghệ thuật trùng điệp với cụm từ và cấu trúc “Thuyền tôi trôi…” được lặp lại lần nữa đểnhấn mạnh vẻ đẹp tĩnh lặng mà thơ mộng của sông Đà Từ trên còn thuyền trôi chầm chậm trênsông, nhà văn phát hiện ra sông Đà mang vẻ đẹp tình tứ lãng mạn, đậm đà bản sắc văn hóa như nóđược miêu tả trong câu thơ rất mực tài hoa của thi sĩ Tản Đà “Dải sông Đà bọt nước lênh đênh –Bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình” của “một người tình nhân chưa quen biết” Ở đây ta lại bắt gặpmột nét phong cách quen thuộc của nhà văn họ Nguyễn là ông luôn nhìn sự vật dưới phương diệnvăn hóa, lịch sử, thẩm mĩ
Càng về xuôi, sông Đà càng rộng thêm ra, dòng sông mênh mông hơn, êm nhẹ hơn Nhìndòng sông nước chảy “lững lờ”, nhà văn cảm thấy nó “như nhớ thương những hòn đá thác xa xôi
để lại trên thượng nguồn Tây Bắc” Dòng sông vẫn “lững lờ” êm trôi “như đang lắng nghe nhữnggiọng nói êm êm của người xuôi, và con sông đang trôi những con đò mình nở chạy buồm vải nókhác hẳn những con đò đuôi én thắt mình dây cổ điển trên dòng trên”, “Con đò mình nở chạybuồm vải”, “Con đò đuôi én thắt mình dây cổ điển”, là nhận xét, là cách tả, là cách dùng từ rất độcđáo của Nguyễn Tuân Mỗi câu, mỗi chữ đều phả linh hồn vào dòng sông, vào con đò, vào cảnhvật Những so sánh ẩn dụ, những nhân hóa trong đoạn văn này cho thấy một tình yêu sông núithiết tha, một cái nhìn đằm thắm nồng hậu, một cái lắng nghe trìu mến yêu thương Nguyễn Tuânnhư đang mở rộng lòng mình, tâm hồn mình với dòng sông để cùng với nó mà “lắng nghe", mànhớ thương, những âm vang, những nhịn sống ấm ấp của cuộc đời Ta cảm thấy có một dòng sôngđang êm trôi, đang lững lờ trong tâm hồn mình, bát ngát mênh mông Văn Nguyễn Tuân khôngchỉ đem đến cho ta bao nhã thú mà còn để lại nhiều dư vị, dư ba là vậy
3 Đánh giá
3.1 Nội dung và nghệ thuật
Chất tài hoa, tài tử, cái bề thế độc đáo, sắc sảo và uyên bác của phong cách nghệ thuậtNguyễn Tuân để lại dấu ấn trên “trang hoa”, "tờ hoa” này Vốn văn hóa, vốn từ vựng giàu có, trítưởng tượng bay bổng của nhà văn thả sức tung hoành, tạo nên những đoạn văn mượt mà nhưnhững lời thơ Nhịp điệu chậm rãi, như tãi ra để diễn tả cái vắng lặng rất nên thơ của con sông.Ngòi bút nhiều khám phá, sáng tạo và kiến tạo trong tạo hình dựng cảnh, trong dùng chữ, đặt câu;
Trang 29những so sánh, ẩn dụ và liên tưởng rất gợi khiến đoạn văn trở thành một đoạn hay và đẹp về quêhương, đất nước
Đoạn văn trên đây chỉ là một đoạn ngắn trong bài tùy bút Người lái đà Sông Đà, chỉ nói vềmột nét đẹp - vẻ đẹp thơ mộng - của Đà Giang Tuy vậy, ta vẫn cảm thấy được cái hay, cái đẹptrong văn Nguyễn Tuân Đọc đoạn văn, người đọc như cảm thấy mình trở thành “ông khách sôngĐà” đang cùng con thuyền nhẹ trôi trên Đà Giang cùng với bác Nguyễn say mê ngắm cảnh đẹpcủa hương núi, hoa ngàn và lắng nghe tiếng cá dầm xanh quẫy trên cái lững lờ cùa dòng sông “dảisông Đà bọt nước lênh bênh ”
3.2 Nhận xét về phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân trong đoạn văn
Đoạn văn đã thể hiện rõ nét những nét chính trong phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân
Nguyễn Tuân là nhà văn theo chủ nghĩa xê dịch và ưa cảm giác mạnh Giống như các nhà văn
theo chủ nghĩa xê dịch, Nguyễn Tuân thích đi nhiều để thay đổi cảm giác cho các giác quan Ôngkhông thích những gì bình thường và tầm thường nên đối tượng mà ông miêu tả đã đẹp thì phảiđẹp đến mức tuyệt mĩ, dữ dội phải đến mức khủng khiếp và tài năng phải đến mức siêu phàm.Ông là người tài hoa, luôn nhìn nhận, đánh giá cảnh vật và con người ở phương diện cái đẹp vàgóc độ mĩ thuật Sông Đà hiện lên với vẻ đẹp kì vĩ và là một công trình nghệ thuật tuyệt vời củatạo hoá Khi miêu tả sông Đà, nhà văn đã vận dụng những tri thức ở nhiều lĩnh vực như lịch sử,địa lí, thi ca… để viết về con Sông Đà trữ tình, thơ mộng Hơn nữa, đoạn văn cũng thể hiện vănphong Nguyễn Tuân phóng túng, ngôn ngữ điêu luyện và phong phú, hình ảnh giàu liên tưởng bấtngờ, độc đáo “Người lái đò Sông Đà” thể hiện sở trường ở thể loại tuỳ bút của ngòi bút NguyễnTuân Đọc “Người lái đò Sông Đà” người đọc càng thêm quý trọng tài năng và tấm lòng của conngười suốt đời đi tìm cái đẹp, làm giàu có đời sống tinh thần của tất cả độc giả chúng ta
Đoạn văn trích cho ta thấy được vẻ đẹp thơ mộng tiềm tàng sức sống của sông Đà, xúc cảmrất chân thành của người ngắm cảnh và một lần nữa, buộc ta phải khâm phục, ngưỡng mộ ngòi búttài hoa tài tử của Nguyễn Tuân, những chữ nghĩa, ví von có hồn có mắt được nâng niu, cẩn thậngóp nhặt qua “hàng trăm tuần trà, hàng ngàn lần dạo phố Hà Nội, đi Đông đi Tây chắt lọc lại, giữlại cho chúng ta”
C KẾT LUẬN CHUNG
Nhà phê bình người Nga Bêlinxki viết: “Tác phẩm nghệ thuật sẽ chết nếu nó miêu tả cuộc sống chỉ để miêu tả, nếu nó không phải là tiếng thét khổ đau hay lời ca tụng hân hoan, nếu nó không đặt ra những câu hỏi hoặc trả lời những câu hỏi đó” Và quả thực tùy bút
“Người lái đò Sông Đà” của Nguyễn Tuân là một tác phẩm như thế! Trong suốt quá trình dài củathời gian, “Người lái đò Sông Đà” của Nguyễn Tuân vẫn luôn vẹn nguyên và sống mãi trong lòngngười đọc về một tác phẩm cũng như một nhà văn đa tài đã làm tôn lên vẻ đẹp của thiên nhiên của
xứ xở Tây Bắc nói riêng và thiên nhiên đất nước nói chung
Nguyễn Tuân là nhà văn có một cuộc đời lao động nghệ thuật khổ hạnh, một trí thức tâm
huyết với nghề Người đọc yêu hơn, trân trọng hơn phẩm chất, cốt cách của con người đáng quýnày
AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG?
Trang 30sẽ bắt gặp một dòng sông Hương xinh đẹp, diệu kì hơn bao giờ hết Đặc biệt là qua đoạn trích
“… ” đã làm nổi bật vẻ đẹp của sông Hương, từ đó, bộc lộ rõ …….của Hoàng Phủ Ngọc Tường
II PHÂN TÍCH ĐOẠN VĂN
Đoạn số 1:
Trong những dòng sông đẹp ở các nước mà tôi thường nghe nói đến, hình như chỉ sông Hương là thuộc về một thành phố duy nhất Trước khi về đến vùng châu thổ êm đềm, nó là một bản trường ca của rừng già, rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn, và cũng có lúc nó trở nên dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng Giữa lòng Trường Sơn, sông Hương
đã sống một nửa cuộc đời của mình như một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại Rừng già
đã hun đúc cho nó một bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng Nhưng chính rừng già nơi đây, với cấu trúc đặc biệt có thể lý giải được về mặt khoa học, đã chế ngự sức mạnh bản năng ở người con gái của mình để khi ra khỏi rừng, sông Hương nhanh chóng mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hoá xứ sở Nếu chỉ mải mê nhìn ngắm khuôn mặt kinh thành của nó, tôi nghĩ rằng người ta sẽ không hiểu một cách đầy đủ bản chất của sông Hương với cuộc hành trình gian truân mà nó đã vượt qua, không hiểu thấu phần tâm hồn sâu thẳm của nó mà dòng sông hình như không muốn bộc lộ, đã đóng kín lại ở mọi cửa rừng và ném chìa khoá trong những hang đá dưới chân núi Kim Phụng.
Phân tích hình tượng sông Hương trong đoạn trích trên Từ đó, nhận xét về cách nhìn mang tính khám phá phát hiện về dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường.
I MỞ BÀI
- Tham khảo mở bài chung
- Đoạn trích đã làm nổi bật vẻ đẹp của sông Hương, từ đó, bộc lộ rõ nét tài hoa trong phong cáchbút kí Hoàng Phủ Ngọc Tường
II THÂN BÀI
1.Khái quát
- Tác giả - TP: Hoàng Phủ Ngọc Tường quê gốc ở Quảng Trị, nhưng ông sinh ra ở Huế và cho
đến tận cuối đời ông vẫn gắn bó với đất Huế Có lẽ cũng chính vì thế mà nhà văn có một tình yêu
và sự nghiên cứu rất sâu sắc về văn hóa, lịch sử, địa lý của xứ Huế, là cơ sở vững chắc để cónhững trang viết đặc sắc về Huế Ông có sở trường ở thể loại bút ký và bút ký của Hoàng PhủNgọc Tường thể hiện rõ lối tư duy phóng túng, liên tưởng mãnh liệt phong phú, ngôn ngữ trongsáng đẹp đẽ tài hoa kết hợp nhuần nhuyễn giữa cái chất trữ tình và trí tuệ, giữa nghị luận sắc bén
và niềm suy tư đa chiều “Ai đã đặt tên cho dòng sông” là tác phẩm tiêu biểu cho phong cáchnghệ thuật của ông Bài kí được viết vào ngày 4-1-1981, tại Huế, được in trong tập sách cùng tên
Trang 31Tác phẩm gồm có ba phần, đoạn trích chúng ta được học nằm ở phần mở đầu, chủ yếu nói về vẻđẹp của dòng Hương giang giữa Huế mộng mơ.
- Dẫn dắt: Các dòng sông là cái nôi của những vùng, các nền văn hóa đa sắc màu nên viết về nó
các nhà thơ, nhà văn thường viết bằng cả sự am tường, bằng một tình yêu tha thiết, sâu lắng Từlâu, con sông Hương của xứ Huế cũng đã rất nhiều lần đi vào các tác phẩm văn hóa, thơ ca Bởivậy, viết về dòng sông Hương là một thử thách May thay nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đãvượt qua thử thách ấy để tặng cho đời bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông” Trong tác phẩm nàynhà văn đã cảm nhận về đẹp của sông Hương từ nhiều góc độ, phương diện Nhà văn đã tìm hiểuthủy trình, khám phá vẻ đẹp của cảnh sắc thiên nhiên sông Hương và nhìn dòng sông trong sự gắn
bó với nền văn hóa của xứ Huế, trong lịch sử dựng nước và giữ nước, cảm nhận về nó một cáchđầy đủ, trọn vẹn nhất với một tâm hồn nghệ sĩ đầy rung cảm
Trong bài kí, vẻ đẹp của sông Hương trước hết được tác giả cảm nhận từ góc nhìn địa lí quathủy trình, cảnh sắc thiên nhiên của dòng Hương giang từ vùng thượng lưu qua vùng đồng bằngrồi về thành phố Huế Ở mỗi khúc đoạn dòng sông lại hiện lên với một vẻ đẹp riêng đầy cuốnhút.Trong đó, đoạn văn này miêu tả vẻ đẹp của sông Hương ở khúc thượng nguồn
2 Vẻ đẹp của dòng sông Hương trong đoạn trích
2.1 Là một dòng sông đẹp trên thế giới và thuộc về một thành phố duy nhất
Với một cái nhìn có phần ưu ái và thiên vị, mở đầu đoạn trích tác giả khẳng định sông
Hương là một trong những dòng sông đẹp trên thế giới: “Trong những dòng sông đẹp ở các nước
mà tôi thường nghe nói đến, hình như chỉ sông Hương là thuộc về một thành phố duy nhất.” Lời
nhận xét tràn đầy tình yêu say đắm ấy không chỉ thể hiện tình cảm gắn bó sâu nặng mà còn thểhiện niềm tự hào, kiêu hãnh của Hoàng Phủ Ngọc Tường đối với dòng sông thuộc về quê hương
xứ sở mình sinh ra và lớn lên Có lẽ cũng vì thế mà trong bài kí ông đã nhiều lần so sánh và đặtngang hàng sông Hương với những dòng sông nổi tiếng như sông Đa-nuýp của Bu-đa-pét, sôngXen của Pari, sông Nê-va ở Lê-nin-grat Bằng sự am hiểu về địa lí nhà văn còn đưa ra nêu rõtrong những dòng sông đẹp ấy chỉ riêng Hương giang là thuộc về một thành phố duy nhất
2.2 Sông Hương là bản trường ca của rừng già
Với tình yêu tha thiết với Hương giang, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã ngược dòng tìm vềnguồn cội của dòng sông để rồi phát hiện ra vẻ đẹp độc đáo, hoang dã, man dại nhưng cũng rất trữtình của nó Khởi nguồn của dòng chảy là từ Trường Sơn hùng vĩ và đặt dòng sông Hương trongmối quan hệ sâu sắc với dãy Trường Sơn, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã có phát hiện vô cùng mới
mẻ, đặc sắc: dòng sông Hương tựa như “một bản trường ca của rừng già” Ở đây, rừng già là hìnhảnh của những cánh rừng đại ngàn hoang sơ, bí ẩn, mênh mông Hình ảnh này đem đến sắc tháihoang dại cho dòng sông nơi thượng nguồn Trường ca là bản hợp âm có độ dài và giai điệuphong phú nên có thể hiểu dòng sông khi trôi chảy trong lòng dãy Trường Sơn đã nhận vào nó tất
cả những sắc thái phong phú đa dạng Khi so sánh sông Hương với bản trường ca của rừng già,người đọc có thể liên tưởng Sông Hương ở đại ngàn mang nhiều vẻ đẹp khác nhau nhưng vẻ đẹp
nổi bật của nó là sự mãnh liệt, man dại và huyền bí khi nó “rầm rộ giữa những bóng cây đại
ngàn”, “mãnh liệt qua những ghềnh thác” và “cuộn xoáy như cơn lốc vào đáy vực bí ẩn” Nghệthuật so sánh được đặt trong một câu văn dài, được chia làm nhiều vế, có sử dụng thủ pháp điệpcấu trúc vừa để gợi dậy cái dư vang của trường ca, vừa tạo nên âm hưởng hùng tráng, mạnh mẽcủa con sông giữa rừng già
2.3.Vẻ đẹp dịu dàng, say đắm
Trang 32Nhưng sông Hương ở rừng già có khi lại mang vẻ đẹp rất thơ mộng và trữ tình khiến người
ta không khỏi say mê, cảm thán Trong lòng Trường Sơn, Hương giang trở nên “dịu dàng, sayđắm” khi chảy giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng” Sắc đỏ “chói lọi” củaloài đỗ quyên càng làm nổi bật lên vẻ đẹp của một dòng sông giữa lòng Trường Sơn hoang dã và
bí ẩn Dường như chỉ có duy nhất màu đỏ, một màu sắc đầy hoang dại ấy mới làm toát lên được
vẻ đẹp đầy ám ảnh, mê đắm nhưng lại rất đỗi bình dị của sông Hương giữa đại ngàn Đặc biệt, thủpháp đối lập (giữa sự mãnh liệt, man dại, huyền bí và sự dịu dàng, say đắm) được sử dụng mộtcách điêu luyện vừa thể hiện được vẻ đẹp phong phú sắc thái, vừa thể hiện được sức mạnh hoang
sơ của sông Hương khi nằm giữa rừng già, núi non, khơi gợi lên vẻ bí ẩn, đầy say mê của dòngsông xứ Huế Vẻ đẹp ấy của dòng sông Hương đã được Hoàng Phủ Ngọc Tường thể hiện qua lốihành văn mang đậm dấu ấn cá nhân: hướng nội, súc tích, mê đắm và tài hoa
2.4 Như một cô gái Di- gan phóng khoáng và man dại
Hoàng Phủ Ngọc Tường đã sử dụng rất nhiều từ ngữ gợi hình và gợi cảm như bản trường
ca của rừng già, rầm rộ, mãnh liệt, dịu dàng, say đắm, cuộn xoáy như cơn lốc, đáy vực bí ẩn… để
tô đậm vẻ đẹp đầy gợi cảm của dòng sông Nhưng đáng chú ý nhất là biện pháp so sánh nhân hóa
ví dòng sông như một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại, rừng già đã hun đúc cho nó bảnlĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do, phóng khoáng… Nghệ thuật so sánh đã làm nổi bật vẻ đẹp căngđầy sức sống của dòng sông khi nó giống như người con gái tuổi đôi mươi, tinh nghịch nhảy xoaytròn bằng đôi chân trần linh hoạt, với nụ cười lanh lảnh trong vắt, tựa tiếng chim… Hơn nữa, côgái ấy là một cô gái Di gan Hình ảnh cô gái Di-gan khiến người đọc liên tưởng đến một cô gáithuộc tộc người nổi tiếng trên thế giới, một tộc người thích sống du mục, nhảy múa, ca hát và giỏibùa chú Các cô gái của tộc người Di gan thường đem lời ca, điệu múa của của mình “đốt cháy”bao người Bởi vậy có thể nói đây là lối so sánh - liên tưởng táo bạo, bất ngờ, lấp lánh trí tuệ, thểhiện được cái nhìn đa chiều của tác giả trong sự hội nhập văn hóa của thời đại mới Tác giả đãmang văn hóa phương Tây vào văn hóa Việt Nam; mang thượng nguồn sông Hương của Việt Nam
ra thế giới một cách cụ thể, dễ hình dung nhất qua hình ảnh so sánh này Lối ẩn dụ, nhân hóa sâusắc, trí tuệ khi chạm đến chiều sâu tâm hồn của sông Hương như tâm hồn của một con người, một
cô gái với “một tâm hồn tự do và trong sáng” Những liên tưởng thú vị và độc đáo ấy đã chạmkhắc vào tâm trí người đọc ấn tượng mạnh mẽ về vẻ đẹp hoang dại nhưng cũng đầy quyến rũ, tình
tứ, tinh tế, đầy cá tính của sông Hương, khiến sông Hương khúc thượng nguồn càng trở nên quyến
rũ say đắm
2.5 Sông Hương trên thủy trình trở về với vùng châu thổ êm đềm
Chính rừng già đã hun đúc cho sông Hương bản lĩnh gan dạ, tâm hồn tự do, trong sáng, vẻđẹp thiên tạo với sức sống mãnh liệt, hoang dại và đầy cá tính Đó là phần tâm hồn sâu thẳm màsông Hương không muốn bộc lộ nên luôn giấu kín khi ra khỏi rừng nó đóng cửa rừng và ném chìakhóa dưới chân núi Kim Phụng Cũng chính rừng già đã chế ngự sức mạnh bản năng ở người congái của mình để ngay khi ra khỏi rừng sông Hương khoác lên mình “một sắc đẹp dịu dàng và trítuệ”, trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở Như vậy, nhà văn đã xem sôngHương như một đấng sáng tạo góp phần tạo nên, gìn giữ và bảo tồn văn hóa của một vùng thiênnhiên, xứ sở Đây là một phát hiện độc đáo về sông Hương chỉ có thể có ở một người gắn bó và
am tường về mảnh đất cố đô Với đoạn văn này, tác giả còn muốn nhắc khẽ mọi người rằng muốnhiểu tường tận về dòng sông Hương phải biết đến sông Hương ở thượng nguồn bởi “nếu chỉ mãi
mê nhìn ngắm khuôn mặt kinh thành cùa nó sẽ không hiểu một cách đầy đủ bản chất của sông
Trang 33Hương với cuộc hành trình gian truân mà nó đã vượt qua .” Khám phá và suy tưởng ấy của tácgiả về Hương giang khiến người đọc rung động, thấm thía Có lẽ, viết đoạn văn là tác giả muốnkết luận: muốn hiểu được dòng sông Hương phải ngược lên thượng nguồn; cũng giống như muốnhiểu một dân tộc phải tìm hiểu rõ cội nguồn của dân tộc ấy.
3 Đánh giá
3.1 Nghệ thuật
Với một lối hành văn uyển chuyển, ngôn ngữ đa dạng và giàu hình ảnh, Hoàng Phủ NgọcTường đã diễn tả một cách sinh động và hấp dẫn từng bước đi của sông Hương Vốn ngôn từ đẹp,tao nhã, tinh tế, lịch lãm; những ví von, so sánh nhân hóa giàu chất thơ, chất nhạc, chất họa vàchất suy cảm, hướng nội đã làm nên nét thanh tao rất riêng trong chất kí Hoàng Phủ Ngọc Tường;
sự quan sát và tưởng tượng bằng lăng kính của tình yêu và cái nhìn lãng mạn; giọng điệu rất Huế,rất trữ tình và sâu lắng, đầy suy niệm đã làm nên chất trữ tình riêng của đoạn văn và tác phẩm
3.2 Nhận xét cách nhìn mang tính phát hiện của nhà văn về dòng sông
- Nhà văn phát hiện dòng sông giống như một người con gái mang trong mình nhiều phẩmchất và vẻ đẹp tâm hồn: vừa mạnh mẽ sôi nổi, vừa đằm thắm, dịu dàng Nhà văn phát hiện dòngsông giống như một cô gái Di – gan, một bà mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở
- Hoàng Phủ Ngọc Tường: khám phá ra “phần đời” mà dòng sông không muốn bộc lộ là vẻđẹp ở thượng nguồn với cảnh sắc thiên nhiên phong phú và đa dạng
- Dòng sông được miêu tả với nhiều góc nhìn từ góc nhìn địa lí đến góc nhìn văn hóa Gắnthủy trình của dòng sông với lịch sử hình thành của nền văn hóa xứ sở Phải là một con người cóvốn tri thức sâu rộng về địa lý, lịch sử, văn hóa, đặc biệt là phải có một tình yêu thiết tha, mãnhliệt với dòng sông Hương, với thành phố Huế, với quê hương xứ sở, nhà văn mới có được gócnhìn mới mẻ, độc đáo đến vậy
3.3 Hình tượng cái tôi tác giả
Thật vậy, qua từng câu, từng chữ trong đoạn trích, hình ảnh cái tôi của tác giả hiện lên vôcùng rõ nét Trước hết, đó là một cái tôi uyên bác, nghiêm túc cẩn trọng trong tìm kiếm và pháthiện những vẻ đẹp của sông Hương và xứ Huế Hơn nữa, đoạn văn cũng như tác phẩm còn thểhiện một cái tôi mê đắm, tài hòa và vô cùng lãng mạn Ông đã có những liên tưởng thú vị mangtính sáng tạo bất ngờ về dóng sông Hương Qua đó, ta cảm nhận được tình yêu quê hương thathiết, sâu sắc của ông trong từng áng văn viết về sông Hương, xứ Huế, đặc biệt là trong đoạn tríchcủa tác phẩm “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” Đoạn trích còn thể hiện phong cách sáng tác riêngbiệt và đặc sắc của Hoàng Phủ Ngọc Tường: Sự kết hợp giữa chất trí tuệ và chất trữ tình, giữanghị luận sắc bén và suy tư đa chiều
Đoạn số 2:
Phải nhiều thế kỉ qua đi, người tình mong đợi mới đến đánh thức người gái đẹp nằm ngủ
mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại Nhưng ngay từ đầu vừa ra khỏi vùng núi, sông Hương đã chuyên dùng một cách liên tục, vòng giữa khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những đường cong thật mềm, như một cuộc tìm kiếm có ý thức để đi tới nơi gặp thành phố tương lai của
nó Từ ngã ba Tuần, sông Hương theo hướng nam bắc qua điện Hòn Chén; vấp Ngọc Trản, nó chuyển hướng sang tây bắc, vòng qua thềm đất bãi Nguyệt Biều, Lương Quán rồi đột ngột vẽ một hình cung thật tròn về phía đông bắc, ôm lấy chân đồi Thiên Mụ, xuôi dần về Huế Từ Tuần
về đây, sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn, vượt qua một lòng vực sâu dưới chân núi Ngọc Trản để sắc nước trở nên xanh thẳm, và từ đó nó trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sững
Trang 34như thành quách, với những điểm cao đột ngột như Vọng Cảnh, Tam Thai, Lựu Bảo mà từ đó, người ta luôn luôn nhìn thấy dòng sông mềm như tấm lụa, với những chiếc thuyền xuôi ngược chỉ bé vừa bằng con thoi Những ngọn đồi này tạo nên những mảng phản quang nhiều màu sắc trên nền trời tây nam thành phố, “sớm xanh, trưa vàng, chiểu tím” như người Huế thường miêu
tả Giữa đám quần sơn lô xô ấy, là giấc ngủ nghìn năm của những vua chúa được phong kín trong lòng những rừng thông u tịch và niềm kiêu hãnh âm u của những lăng tẩm đồ sộ tỏa lan khắp cả một vùng thượng lưu “Bốn bề núi phủ mây phong - Mảnh trăng thiên cổ bóng tùng Vạn Niên” Đó là vẻ đẹp trầm mặc nhất của sông Hương, như triết lí, như cổ thi, kéo dài mãi đến lúc mặt nước phẳng lặng của nó gặp tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga tận bờ bên kia, giữa những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà…
(Trích Ai đã đặt tên cho dòng sông?, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo
dục Việt Nam, 2020, tr.198-199)
Phân tích hình tượng sông Hương trong đoạn trích trên Từ đó, nhận xét về tính trữ tình của bút kí Hoàng Phủ Ngọc Tường.
I MỞ BÀI
- Tham khảo mở bài chung
- Dẫn vào đoạn văn và yêu cầu của đề bài: Đoạn trích “Phải nhiều thế kỉ qua đi… tiếng gà” đã
làm nổi bật vẻ đẹp của sông Hương, từ đó, bộc lộ rõ tính trữ tình trong phong cách bút kí HoàngPhủ Ngọc Tường
II THÂN BÀI
1 Khái quát: Tham khảo đề trên
2 Vẻ đẹp của hình tượng sông Hương qua đoạn trích
2.1 Mang vẻ đẹp nữ tính, diễm kiều và nhuốm màu cổ tích
- Sông Hương qua cái nhìn lãng mạn của Hoàng Phủ Ngọc Tường như một cô gái dịudàng, mơ mộng đang khát khao đi tìm tình yêu theo tiếng gọi của trái tim Dòng sông Hương khi
về đến đồng bằng được tác giả so sánh và nhân hóa với một người con gái đẹp nằm ngủ mơmàng chờ người tình mong đợi đến đánh thức Trong sự so sánh, nhân hóa này sông Hươngmang vẻ đẹp nữ tính, mềm mại, diễm kiều của một người con gái nhưng vẻ đẹp của nó cũngnhuốm màu cổ tích, gợi người đọc liên tưởng đến nàng công chúa xinh đẹp ngủ trong rừng chờhoàng tử đến hóa giải lời nguyền để đến với tình yêu
Sau một trăm năm, hoàng tử xuất hiện đánh thức nàng công chúa trong cổ tích, còn dòng
sông Hương phải chờ đợi qua nhiều thế kỉ “Phải nhiều thế kỉ qua đi, người tình mong đợi mới đến đánh thức người gái đẹp nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại” Vẻ đẹp
của Hương giang ở đây giống như vẻ đẹp gợi cảm của người thiếu nữ giữa một cánh đồng đầyhoa Có thể nói, hình ảnh, cánh đồng hoa dại làm tôn thêm biết bao nhiêu vẻ đẹp thơ mộng củadòng Hương giang khi về đồng bằng châu thổ, khiến sông Hương mang một gương mặt khác hẳn
so với khi nó chảy giữa rừng già
2.2 Sức sống của tuổi thanh xuân và cuộc hành trình có chủ đích
Sau giấc ngủ mơ màng hàng thế kỉ, dòng sông Hương được đánh thức và đã bừng tỉnh Đểrồi sau đó, bằng sức sống mãnh liệt của tuổi thanh xuân nó thực hiện một cuộc hành trình có chủđích để tìm đến với thành phố tương lai của nó Phải nói rằng trong thiên bút kí này, nhà vănHoàng Phủ Ngọc Tường luôn nhìn dòng sông Hương và thành phố Huế như một cặp tình nhânđầy thương nhớ Và như một người con gái dám dấn thân để tìm đến với tình yêu đích thực, để
Trang 35đến được với người tình mong đợi là thành phố Huế, Hương giang đã phải trải qua một cuộchành trình đầy gian truân Nó phải chuyển dòng một cách liên tục, vòng những khúc quanh độtngột, uốn một đường cong thật mềm, vẽ một hình cong thật tròn… qua điện Hòn Chén; vấp NgọcTrản, nó chuyển hướng sang tây bắc, vòng qua thềm đất bãi Nguyệt Biều, Lương Quán rồi độtngột vẽ một hình cung thật tròn về phía đông bắc, ôm lấy chân đồi Thiên Mụ, xuôi dần về Huế.Những từ “liên tục”, “đột ngột”… là những trạng từ miêu tả sự đổi dòng đầy bất ngờ, thể hiện sựgian khổ của dòng sông phải trải qua để gặp người tình cố đô Sông Hương phải đi trong dư vangcủa núi rừng Trường Sơn, vượt qua những lòng vực sâu, trôi đi giữa những dãy đồi sừng sữngnhư thành quách với những điểm cao đột ngột như Tam Thai, Lựu Bảo
Có thể thấy, bằng một lối hành văn uyển chuyển, ngôn ngữ đa dạng và giàu hình ảnh,Hoàng Phủ Ngọc Tường đã diễn tả một cách sinh động và hấp dẫn những khúc quanh, ngã rẽ củacon sông Mỗi đường đi nước bước của sông Hương gắn liền với những địa danh khác nhau của
xứ Huế được nhà văn dành cho một cách diễn đạt riêng Nhờ đó mà hành trình về xuôi của dòngsông không đơn điệu, nhàm chán mà trái lại nó luôn luôn biến hóa khiến người đọc đi từ ngạcnhiên, thú vị này đến bất ngờ, ấn tượng khác Có những câu văn giàu chất họa đến mức cứ ngỡnhư đường cọ của người họa sĩ đang đưa những nét vẽ về sông Hương trên bức tranh thiên nhiên
xứ Huế: vòng qua thềm đất bãi Nguyệt Biều, Lương Quán… vẽ một hình cung thật tròn về phíađông bắc Lại có câu văn gợi một nét mơ hồ với nhiều liên tưởng và cảm xúc rất thích: sôngHương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn Thủ pháp nhân hóa và so sánh được sử dụng kếthợp với hệ thống ngôn từ giàu cảm xúc và hình ảnh cũng góp phần đáng kể vào việc khắc họamột dòng sông thơ mộng, trữ tình
2.3 Vẻ đẹp của dòng sông Hương trong cuộc hành trình đầy gian truân
Giống như con người trong khó khăn, gian khổ thường bộc lộ ra những phẩm chất tốt đẹp,trong cuộc hành trình đầy gian truân ấy, sông Hương có dịp bộc lộ vẻ đẹp của nó Sông Hươngnhư người con gái đẹp biết tự làm mới mình, trang điểm cho mình đẹp hơn trước khi gặp ngườitình mà nó mong đợi:
+ Về hình dáng: Vì phải uốn lượn, đổi dòng liên tục nên hình dáng dòng sông trở nên
mềm mại như một tấm lụa Có thể nói, vẻ đẹp của sông Hương trước khi vào thành phố Huế là
vẻ đẹp mềm mại của một người con gái đẹp Dòng chảy uốn lượn, những khúc quanh của nó hiệnlên như những đường cong trên cơ thể của một người thiếu nữ đương độ xuân thì
+ Về sắc nước: Vượt qua những lòng vực sâu dưới chân núi Ngọc Trản sắc nước sông
Hương trở nên xanh thẳm Dòng sông còn tạo nên những mảng phản quang thay đổi trong ngàytrên bầu trời thành phố Huế với sớm xanh, trưa vàng, chiều tím như người Huế vẫn thường miêu
tả Như vậy, sông Hương ngoài vẻ đẹp về cảnh sắc thiên nhiên còn là tấm gương phản chiếu nétđẹp của cảnh quan đất trời hai bên bờ sông Không có sông Hương, những ngọn đồi ở ngoại viHuế vẫn có vẻ đẹp riêng nhưng vẻ đẹp ấy sẽ mất đi cái long lanh, cái đa sắc màu và không cònnhững “điểm cao đột khởi” xuất hiện như một điểm nhìn văn hoá, thưởng thức Bởi vậy, SôngHương chính là “trung tâm cảnh”, là linh hồn của thiên nhiên cảnh vật ở đây
+ Vẻ đẹp: Vẻ đẹp của sông Hương ở vùng châu thổ còn là vẻ đẹp văn hóa Đó là vẻ đẹp trầm
mặc nhất như triết lí, cổ thi, nhất là khi dòng sông chảy qua những đám quần sơn lô nhô, giữa
giấc ngủ ngàn năm của vua chúa với những lăng tẩm đồ sộ của vua chúa thời Nguyễn đượcphong kín trong những rừng thông u tịch Chảy bên những di sản văn hóa ấy, con sông như bỗngtrở nên nghiêm trang hơn, nó như khoác lên mình tấm áo “trầm mặc” mang cái “triết lí cổ thi”
của cổ nhân hay mang vẻ đẹp của hai câu thơ cổ kính: “Bốn bề núi phủ mây phong - Mảnh trăng
Trang 36thiên cổ bóng tùng Vạn Niên” Dòng sông Hương hay chính là dòng chảy của lịch sử vẫn bền bỉ
chảy qua năm tháng và đang vọng về trong ngày hôm nay Hơn nữa, vẻ đẹp trữ tình, văn hóa củadòng sông còn được thể hiện qua chính âm hưởng, nhịp điệu, tiết tấu của văn bản ngôn từ, quacách nhà văn miêu tả nhịp điệu dòng chảy của sông Hương, qua âm thanh gợi cõi vô thường,huyền hoặc của tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga tận bờ bên kia và âm thanh nồng ấm thânyêu của những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà
3 Đánh giá tính trữ tình (chất thơ) của bút kí Hoàng Phủ Ngọc Tường
3.1 Chất trữ tình thể hiện qua phương diện nghệ thuật:
Hình tượng sông Hương được miêu tả bằng ngôn ngữ tinh tế, giàu chất thơ; lối hành vănhướng nội, mê đắm, tài hoa; nghệ thuật so sánh, nhân hóa sáng tạo, những liên tưởng độc đáo,…
sử dụng rộng rãi đặc sắc những phép tu từ gợi cảm vốn là quen thuộc trong thơ như so sánh kếthợp với nhân hóa, ẩn dụ Chất thơ toát ra từ những câu văn, hình ảnh đẹp, đầy màu sắc và từ độnhòe mờ của hình tượng nghệ thuật: “những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà”, "Sông Hươngvẫn đi trong dư vang của Trường Sơn”, “Sắc nước trở nên xanh thẳm”, “những ngọn đồi này tạonên nhiều mảng phản quang nhiều màu sắc” “Sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”…
3.2 Chất trữ tình thể hiện qua vẻ đẹp thơ mộng của Hương giang:
Hoàng Phủ Ngọc Tường đã “vẽ” lên sông Hương bằng chất liệu ngôn từ cái dáng điệu yêukiều và rất tạo hình của sông Hương khi nó ở ngoại vi thành phố Huế Nhà văn không chỉ tái hiệnlại một cách chân thực dòng chảy địa lí tự nhiên của con sông mà quan trọng hơn biến cái thủytrình ấy thành “hành trình đi tìm người yêu” của một người con gái đẹp, duyên dáng và tình tứ.Đây cũng chính là cảm nhận riêng, độc đáo và rất đặc sắc của nhà văn về sông Hương trước khi
nó chảy vào lòng thành phố thân yêu
3.3 Chất trữ tình của đoạn kí còn thể hiện rõ qua cái tôi đầy xúc cảm của tác giả: Cảmhứng xuyên suốt trong đoạn trích cũng như trong tác phẩm là niềm say sưa tìm kiếm và khẳngđịnh vẻ đẹp riêng, sức cuốn hút, quyến rũ riêng của con sông xứ Huế Hương giang hiện lên quacuộc tìm kiếm của Hoàng Phủ Ngọc Tường không chỉ là con sông địa lý mà là một sinh thể, mộtcon người, một người con gái vừa xinh đẹp, vừa tài hoa, vừa thăng trầm chìm nổi cùng lịch sử lạivừa đằm thắm lắng sâu với nền văn hoá riêng của nó Rõ ràng Hoàng Phủ Ngọc Tường đã đemtình yêu đằm thắm lắng sâu và những cảm xúc sôi nổi say sưa phổ vào trang viết để rồi mỗi dòngvăn như một bài ca tôn vinh vẻ đẹp của sông Hương Vì thế cái dễ nhận thấy từ những trang văn
là chất trữ tình đậm đà đằm thắm
Đoạn số 3:
[…] Từ đây, như đã tìm đúng đường về, sông Hương vui tươi hẳn lên giữa những biển bãi xanh biếc của vùng ngoại ô Kim Long, kéo một nét thẳng thực yên tâm theo hướng tây nam – đông bắc, phía đó, nơi cuối đường, nó đã nhìn thấy chiếc cầu trắng của thành phố in ngần trên nền trời, nhỏ nhắn như những vành trăng non Giáp mặt thành phố ở Cồn Giã Viên, sông Hương uốn một cánh cung rất nhẹ sang đến Cồn Hến; đường cong ấy làm cho dòng sông mềm hẳn đi, như một tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu Và như vậy, giống như sông Xen của Pa-ri, sông Đa-nuýp của Bu-đa-pét, sông Hương nằm ngay giữa lòng thành phố yêu quý của mình; Huế trong tổng thể vẫn giữ nguyên dạng một đô thị cổ, trải dọc hai bờ sông Đầu và cuối ngõ thành phố, những nhánh sông đào mang nước sông Hương tỏa đi khắp phố phường với những cây đa, cây cừa cổ thụ tỏa vầng lá u sầm xuống xóm thuyền xúm xít; từ những nơi ấy, vẫn lập lòe trong đêm sương những ánh lửa thuyền chài của một linh hồn mô tê xưa cũ mà không một thành phố hiện
Trang 37đại nào còn nhìn thấy được Những chi lưu ấy, cùng với hai hòn đảo nhỏ trên sông đã làm giảm hẳn lưu tốc của dòng nước, khiến cho sông Hương khi đi qua thành phố đã trôi đi chậm, thực chậm, cơ hồ chỉ còn là một mặt hồ yên tĩnh Tôi đã đến Lê-nin-grat, có lúc đứng nhìn sông Nê-va cuốn trôi những đám băng lô xô, nhấp nháy trăm màu dưới ánh sáng mặt trời mùa xuân, mỗi phiến băng chở một con hải âu nghịch ngợm đứng co lên một chân, thích thú với chiếc thuyền xinh đẹp của chúng và đoàn tàu tốc hành lạ lùng ấy với những hành khách tí hon của nó băng băng lướt qua trước cung điện Pê-téc-bua cũ để ra bể Ban-tích […] Hai nghìn năm trước, có một người Hi Lạp tên là Hê-ra-clít, đã khóc suốt đời vì những dòng sông trôi đi qua nhanh, thế vậy! Lúc ấy, tôi nhớ lại con sông Hương của tôi, chợt thấy quý điệu chảy lặng lờ của nó khi ngang qua thành phố… Đấy là điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế, có thể cảm nhận được bằng thị giác qua trăm nghìn ánh hoa đăng bồng bềnh vào những đêm hội rằm tháng Bảy từ điện Hòn Chén trôi về, qua Huế bỗng ngập ngừng như muốn đi muốn ở, chao nhẹ trên mặt nước như những vấn vương của một nỗi lòng.
(Trích Ai đã đặt tên cho dòng sông?, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngữ văn 12, Tập một, Nxb Giáo
dục Việt Nam, tr.199-200, 2014)
Cảm nhận vẻ đẹp hình tượng sông Hương trong đoạn trích trên.Từ đó, bình luận ngắn về cái “tôi” tài hoa, uyên bác của Hoàng Phủ Ngọc Tường.
I MỞ BÀI
- Tham khảo mở bài chung
- Dẫn vào đoạn văn và yêu cầu của đề bài: Đoạn trích “Từ đây… nỗi lòng” đã làm nổi bật vẻ
đẹp của sông Hương, từ đó, bộc lộ rõ cái tôi tài hoa, uyên bác của Hoàng Phủ Ngọc Tường
II THÂN BÀI
1 Khái quát (Tham khảo đề trên)
2 Vẻ đẹp sông Hương trong đoạn trích
Miêu tả vẻ đẹp sông Hương ở Huế là lúc tài văn chương của tác giả được dịp thăng hoa Bởi
vì, về đến Huế, sông Hương mới bộc lộ hết vẻ đẹp của nó và hầu như người ta thường chỉ biết đếnsông Hương qua gương mặt kinh thành của nó Ta có thể ví đoạn văn miêu tả sông Hương ở Huếcủa Hoàng Phủ Ngọc Tường như một tấm đá hoa cương đủ khắc tên nhà văn làm vẻ vang một đờinghệ sĩ
2.1 Sông Hương được nhân hóa, mang tâm trạng như con người
Sông Hương khi chảy vào thành phố Huế được nhân hóa mang tâm trạng như con người Khibiết đã tìm đúng đường để về gặp thành phố thân yêu, sông Hương vui tươi lên hẳn lên giữa biềnbãi vùng ngoại ô Kim Long Qua lăng kính tình yêu, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đã luônnhìn sông Hương với thành phố Huế như một cặp đôi tình nhân và dòng Hương giang khi gặpngười tình trong mộng đã không che giấu niềm vui của nó
Khi biết đã tìm đúng đường về để gặp người tình mong đợi, sông Hương cũng không còn bănkhoăn, trăn trở “đổi dòng”, “uốn mình” liên tục nữa mà “kéo một nét thẳng thực yên tâm theohướng Tây Nam, Đông Bắc” thật yên tâm bởi nó đã nhìn thấy cây cầu trắng của thành phố Nhưvậy dưới ngòi bút của Hoàng Phủ Ngọc Tường sông Hương lúc này đã là một cô gái có tâm hồn,
ý thức tìm được chính mình, đi tìm tình yêu đích thực của mình để được ôm ấp trong lòng một cố
đô cổ kính
Khi gặp người yêu, có cô gái nào lại không làm duyên, làm dáng và sông Hương ở đây cũng
vậy Khi giáp mặt thành phố ở cồn Giã Viên “sông Hương uốn một cánh cung rất nhẹ sang Cồn
Trang 38Hến; đường cong ấy làm cho dòng sông mềm hẳn đi, như một tiếng “ vâng” không nói ra của tình yêu” Quả thực, đây là một câu văn súc tích, mang vẻ đẹp lãng mạn và đầy mê đắm của tình
yêu miêu tả dòng sông Hương khi gặp người tình của nó trở nên đầy e ấp, tình tứ, thể hiện sự chấpnhận tình yêu một cách đầy kín đáo và nữ tính
2.2 Sông Hương ở Huế gắn liền với hình ảnh cây cầu trắng
Nổi bật trên nền xanh của dòng Hương giang ở Huế là hình ảnh đầy ấn tượng: “chiếc cầutrắng của thành phố in ngần trên nền trời, nhỏ nhắn như vành trăng non” Ai đã từng đến Huế đềubiết đến cây cầu Tràng Tiền nổi tiếng vẫn soi bóng trên dòng Hương giang, gợi một vẻ đẹp rấtriêng mà chỉ có xứ Huế mộng và thơ mới có Hình ảnh cây cầu ấy của đất cố đô đã đi vào thi cavới vẻ đẹp quyến rũ kì lạ:
“Cầu cong như chiếc lược ngà Sông dài mái tóc cung Nga buông hờ”
(Nguyễn Bính)Nguyễn Bính và Hoàng Phủ Ngọc Tường đều cảm nhận được đường cong gợi cảm của câycầu vắt ngang dòng sông Hương Nhưng nếu nhà thơ Nguyễn Bính so sánh cầu Tràng Tiền nhưchiếc lược ngà thì Hoàng Phủ Ngọc Tường lại so sánh với vành trăng non – một so sánh độc đáo,mới lạ để gợi tả thêm vẻ đẹp duyên dáng, tươi sáng của cây cầu Khi sông Hương gặp Huế, vẻđẹp của dòng sông và cây cầu như hoà vào làm một Cây cầu như một nét đẹp bừng sáng tô điểmcho vẻ đẹp của của dòng sông cũng như thành phố Huế
2.3 Sông Hương được so sánh với các dòng sông đẹp trên thế giới
Để làm nổi bật vẻ đẹp đặc trưng của dòng sông Hương ở Huế, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã sosánh sông Hương với một số dòng sông đẹp và nổi tiếng trên thế giới Nhà văn so sánh sôngHương với sông Xen của Pa-ri và sông Đa-nuýp của Bu-đa-pét để thấy vẻ đẹp riêng của dòngsông Hương là nó thuộc về một thành phố duy nhất và chỉ một mình nó còn nằm trong tổng thểmột đô thị cổ Nó trôi đi bên cạnh những cây đa cây cừa cổ thụ tỏa vầng lá u sầm xuống nhữngxóm thuyền xúm xít, mà ở đó vẫn lập lòe trong đêm sương những ánh lửa thuyền chài của một
linh hồn mô tê xưa cũ Vẻ đẹp cổ kính ấy của Huế, của sông Hương “không có một thành phố hiện đại nào còn nhìn thấy được” Có thể nói lời nhận xét tràn đầy tình yêu say đắm ấy không chỉ
thể hiện tình cảm gắn bó sâu nặng mà còn thể hiện niềm tự hào, kiêu hãnh của Hoàng Phủ NgọcTường đối với dòng sông thuộc về quê hương xứ sở mình sinh ra và lớn lên
Sau đó, Hoàng Phủ Ngọc Tường còn so sánh sông Hương với dòng sông Nê-va ở Lê-nin-grat
để nhấn mạnh điểm khác biệt là nếu như dòng sông Nê-va chảy rất nhanh, thì sông Hương có
dòng chảy chậm, thật chậm, cơ hồ chỉ còn là một mặt hồ yên tĩnh Nhà văn cảm nhận dòng chảy
nhanh của sông Nê-va qua hình ảnh những chú hải âu tinh nghịch co một chân trên đám băng lô
xô trôi theo dòng chảy ra bể Ban-tích Nước sông Nê-va chảy nhanh đến mức cuốn trôi băng băngnhững con tàu bằng thủy tinh chở theo những hành khách tí hon khiến tác giả chỉ biết ngẩn ngơtrông theo
Và có như thế tác giả mới thấy quý điệu chảy chậm của dòng Hương giang khi ở Huế Nếunhư dòng sông Nê-va ở nước Nga xa xôi chảy qua thành phố với tốc độ rất nhanh “không kịp cho
lũ hải âu nói điều gì” với người bạn của nó thì sông Hương lại chảy lặng lờ và được so sánh nhưmột “điệu slow” tình cảm mà Hương giang dành riêng cho xứ Huế Sông Hương chậm rãi, lặng lờmang đậm khí vị của xứ Huế mộng mơ qua sự miêu tả của Hoàng Phủ Ngọc Tường ở đây cũng rấtgiống với sự miêu tả của nhà thơ Thu Bồn:
“Con sông dùng dằng con sông không chảy
Trang 39Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu”
Nhà văn còn tô đậm dòng chảy chậm của Hương giang một lần nữa bằng cảm nhận của thịgiác qua hàng nghìn ánh đèn hoa đăng bồng bềnh trên sông Hương vào dịp rằm tháng bảy, từ điện
Hòn Chén trôi về đến Huế thì ngập ngừng như muốn đi muốn ở, chao nhẹ trên mặt nước như vấn vương của một nỗi lòng Đặc điểm dòng chảy chậm ấy được nhà văn lí giải từ nhiều góc nhìn
khác nhau Từ đặc điểm địa lí tự nhiên thì những chi lưu tỏa ra khắp phố thị cùng với hai hòn đảonhỏ trên sông đã làm giảm hẳn lưu tốc của dòng nước Nhưng mặt khác, bằng lí lẽ của trái tim tácgiả cho rằng “điệu chảy lặng lờ”, “ngập ngừng muốn đi muốn ở” của sông Hương là do tình cảmcủa nó dành riêng cho Huế Sông Hương do quá yêu thành phố thân thương của mình nên dùngdằng không nỡ rời xa, nó chảy chậm, thật chậm để được ở bên người tình mong đợi
Và chính dòng chảy chậm đầy tình yêu ấy của dòng Hương giang đã tạo nên vẻ đẹp sâulắng, trầm mặc và rất đỗi thơ mộng cho xứ Huế Nên có thể nói sông Hương dường như đang hòađiệu tâm hồn mình vào Huế để tôn lên vẻ đẹp thơ mộng của cố đô Đứng trước sông Hương,người ta không chỉ cảm nhận trước một bức tranh sông nước diễm lệ mà còn đứng trước một biểutượng của Huế, tâm hồn Huế, văn hóa Huế
3 Đánh giá về cái tôi tài hoa, uyên bác của Hoàng Phủ Ngọc Tường
Đoạn văn nhẹ nhàng với ngòi bút tinh tế, lối viết giàu cảm xúc, kết hợp giữa miêu tả và tự
sự Bằng sự quan sát tinh tường, tỉ mỉ, tưởng tượng phong phú, tác giả đã miêu tả sông Hương từgóc nhìn địa lí, hành trình sông Hương tìm về với Huế như về với tình nhân của mình Các biệnpháp nghệ thuật như so sánh, nhân hóa… được sử dụng hiệu quả
Tác giả còn vận dụng những tri thức phong phú, những hiểu biết sâu sắc về nhiều mặt nhưđịa lý, thơ ca, âm nhạc, hội họa… để làm giàu cho giá trị nhận thức của đoạn trích nói riêng và tácphẩm nói chung Chất thơ thể hiện rõ qua ngôn từ, hình ảnh… tạo nên những câu văn rất hay như
“chiếc cầu trắng…nhỏ nhắn như những vành trăng non”, “sông Hương uốn một cánh cung rấtnhẹ… một tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu”… Vẻ đẹp của sông Hương cùng tài năng củaHoàng Phủ Ngọc Tường đã tạo nên đoạn văn đậm chất nhạc và chất họa Nhìn bằng con mắt củahội họa, sông Hương cùng những chi lưu tạo nên những đường nét thật mềm mại, tinh tế và cổkính Cảm nhận bằng âm nhạc thì sông Hương đang trong điệu slow du dương, sâu lắng và ngậptràn tình cảm với Huế
Tất cả cho thấy một cái tôi Hoàng Phủ Ngọc Tường thực sự tài hoa, uyên bác và chânthành, tha thiết yêu sông Hương - xứ Huế Đoạn trích còn thể hiện phong cách sáng tác riêng biệt
và đặc sắc của Hoàng Phủ Ngọc Tường: Sự kết hợp giữa chất trí tuệ và chất trữ tình, giữa nghịluận sắc bén và suy tư đa chiều
Đoạn số 4:
Hình như trong khoảnh khắc chùng lại của sông nước ấy, sông Hương đã trở thành một người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya Đã nhiều lần tôi thất vọng khi nghe nhạc Huế giữa ban ngày, hoặc trên sân khấu nhà hát Quả đúng như vậy, toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế đã được sinh thành trên mặt nước của dòng sông này, trong một khoang thuyền nào đó, giữa tiếng nước rơi bán âm của những mái chèo khuya Nguyễn Du đã bao năm lênh đênh trên quãng sông này, với một phiến trăng sầu Và từ đó, những bản đàn đã đi suốt đời Kiều Tôi đã chứng kiến một người nghệ nhân già, chơi đàn hết nửa thế kỉ, một buổi tối ngồi nghe con gái đọc Kiều: “Trong như tiếng hạc bay qua - Đục như tiếng suối mới sa nửa vời” Đến câu ấy, người nghệ nhân chợt
nhổm dậy vỗ đùi, chỉ vào trang sách Nguyễn Du mà thốt lên: “Đó chính là Tứ đại cảnh!”.
Trang 40Rời khỏi kinh thành, sông Hương chếch về hướng chính bắc, ôm lấy đảo Cồn Hến quanh năm mơ màng trong sương khói, đang xa dần thành phố để lưu luyến ra đi giữa màu xanh của tre trúc và của những vườn cau vùng ngoại ô Vĩ Dạ Và rồi, như sực nhớ lại một điều gì chưa kịp nói, nó đột ngột đổi dòng, rẽ ngoặt sang hướng đông tây để gặp lại thành phố lần cuối ở góc thị trấn Bao Vinh xưa cổ Đối với Huế, nơi đây chính là chỗ chia tay dõi xa ngoài mười dặm trường đình Riêng với sông Hương, vốn đang xuôi chảy giữa cánh đồng phù sa êm ái của nó, khúc quanh này thực bất ngờ biết bao Có một cái gì rất lạ với tự nhiên và rất giống con người ở đây;
và để nhân cách hoá nó lên, tôi gọi đây là nỗi vương vấn, cả một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu Và giống như nàng Kiều trong đêm tình tự, ở ngã rẽ này, sông Hương đã chí tình trở lại tìm Kim Trọng của nó, để nói một lời thề trước khi về biển cả: “Còn non, còn nước, còn dài, còn về, còn nhớ ” Lời thề ấy vang vọng khắp lưu vực sông Hương thành giọng hò dân gian; ấy là tấm lòng người dân nơi Châu Hoá xưa mãi mãi chung tình với quê hương xứ sở”.
(Trích Ai đã đặt tên cho dòng sông?, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngữ văn 12, Tập
một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2020, tr.198-199)
Phân tích hình tượng sông Hương trong đoạn trích trên Từ đó, nhận xét về tình cảm của Hoàng Phủ Ngọc Tường dành cho xứ Huế.
I MỞ BÀI
- Tham khảo mở bài chung
- Dẫn vào đoạn văn và yêu cầu của đề bài: Đoạn trích “Hình như… xứ sở” đã làm nổi bật vẻ
đẹp của sông Hương, từ đó bộc lộ rõ tình cảm của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường với xứ Huếmộng và thơ
II THÂN BÀI
1 Khái quát (Tham khảo đề trên)
2 Vẻ đẹp sông Hương trong đoạn trích
2.1 Vẻ đẹp sông Hương trong mối quan hệ với văn hóa Huế
Sông Hương khi về đến Huế đã chảy “chậm, thực chậm cơ hồ chỉ còn là một mặt hồn yên tĩnh”, dòng sông dường như dùng dằng không muốn rời xa thành phố thân yêu của nó Và trong
khoảnh khắc chùng lại của sông nước ấy, sông Hương lại hóa thân thành người tài nữ đánh đànlúc đêm khuya Bằng hình ảnh so sánh này, Hoàng Phủ Ngọc Tường không chỉ cho thấy vẻ đẹptrang trọng, duyên dáng, nữ tính của dòng sông Hương mà còn thể hiện Hương giang gắn với nềnvăn hóa phi vật thể của vùng đất cố đô Sông Hương chính là người mẹ phù sa của một vùng vănhóa xứ sở, góp phần bồi đắp và gìn giữ nền văn hóa Huế Cụ thể hơn thì chính sông Hương đãgiúp hình thành nền âm nhạc cổ điển Huế và góp phần tạo nên vẻ đẹp trong Truyện Kiều củaNguyễn Du
Hương giang đã sinh thành nên toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế góp phần làm nên một xứHuế “trong sáng và thư thái” (UNESCO) Ai đã từng có dịp đến Huế thưởng thức nền âm nhạcHuế, được xem các nghệ sĩ biểu diễn âm nhạc trên sông vào những đêm khuya mới thấy hết vẻ
đẹp của âm nhạc và màu sắc văn hoá đặc trưng ở nơi đây Tác giả khẳng định toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế được sinh thành trên mặt nước của dòng sông này Từ âm thanh của dòng sông
như tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga, tiếng mái chèo khua sóng, tiếng nước vỗ vào mạnthuyền trong những đêm thanh vắng, không gian yên tĩnh đến mức có thể nghe thấy tiếng củanhững giọt nước rơi bán âm từ mái chèo khuya … đã hình thành những làn điệu hò dân gian vànền âm nhạc cổ điển Huế Và rồi cũng chính trên dòng sông ấy, những câu hò và âm nhạc Huế vút