Nhom TAM THAT Bài Thảo luận Thực trạng và giải pháp khắc phục nhưng yếu kém và từng bước củng cố, hoàn thiện và phát triển thị trường tiền tệ liên ngân hàng 0 MỤC LỤC I ĐẶC ĐIỂM THỊ TRƯỜNG LIÊN NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM 1 Chủ thể tham gia 1 1 1Chủ thể tham gia 1 2 Số lượng các chủ thể tham gia TTLNH 2 Hàng hóa trên thị trường liên ngân hàng 2 3 Giá cả trên thị trường liên ngân hàng ( lãi suất liên NH) 2 3 1 Đặc điểm của lãi suất liên NH 3 2 Nhân tố quyết định LSLNH 4 Doanh số trên thị trường liên NH.
Trang 1Bài Thảo luận:
Thực trạng và giải pháp khắc phục nhưng yếu kém và từng bước củng cố, hoàn thiện và phát triển thị trường tiền tệ liên ngân hàng
Trang 2MỤC LỤC
I.ĐẶC ĐIỂM THỊ TRƯỜNG LIÊN NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM:
1.Chủ thể tham gia……….1
1.1Chủ thể tham gia
1.2 Số lượng các chủ thể tham gia TTLNH
2.Hàng hóa trên thị trường liên ngân hàng……….2
3.Giá cả trên thị trường liên ngân hàng ( lãi suất liên NH)………2
3.1 Đặc điểm của lãi suất liên NH
3.2 Nhân tố quyết định LSLNH
4.Doanh số trên thị trường liên NH………4
II.VAI TRÒ CỦA THỊ TRƯỜNG LIÊN NGÂN HÀNG
2.Đối với NHTW……….11
2.1 TTTT liên ngân hàng là nơi cung cấp thông tin về tình trạng VKD của hệthống các TCTD……… 11
2.2.Tiếp nhận và truyền tải tác động của chính sách tiền tệ đến nền KT… 12
2.2.1.Tác động của thị trường tiền tệ liên ngân hàng đến thị trường chứngkhoán………21
2.2.2Tác động của thị trường tiền tệ liên ngân hàng đến thị trường thịtrường bất động sản……… 29
III ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA TTTT LIÊN NGÂN HÀNG VIỆTNAM
1.Thị trường liên ngân hàng Việt Nam có bước phát triển vượt bậc…… 32
Trang 33.Nguyên nhân cơ bản làm cho thị trường tiền tệ liên ngân hàng ở Việt Nam chưaphát triển……… 34
Các tổ chức tín dụng tham gia vào TTLNH với tư cách là người cung ứngvốn trong điều kiện ngân quỹ thặng dư hoặc là người có nhu cầu vốn khi ngân quỹthiếu hụt.Đây là nhân tố tạo lập nên thị trường thông qua việc hình thành cung-cầu
-Người môi giới ( brokers) và các trung gian giao dịch ( dealers) :
+ Người môi giới chỉ làm chức năng kết nối các nhu cầu mua và bán vàhưởng hoa hồng ( không được lợi dụng vị trí của mình để kinh doanh cho mình)
+ Các trung gian giao dịch: là người tổ chức thị trường khi thông báomua-bán tại từng thời điểm và thực hiện vai trò trung gian giao dịch giữa các ngânhàng.Chênh lệch giá mua-bán ngân quỹ là nguồn lợi nhuận của các tổ chức này
1.2 Số lượng các chủ thể tham gia TTLNH :
Trang 4Theo số liệu thống kê của NHNN Việt Nam,tính đến tháng 12/2010 số lượngngân hàng và các tổ chức tín dụng tại vn là :
Con số này không tăng lên đáng kể khi vào thời điểm năm 1998, cả nước đã
có bốn ngân hàng quốc doanh, 51 ngân hàng cổ phần (bao gồm ngân hàng cổ phầnnông thôn) và 23 chi nhánh ngân hàng nước ngoài (kể cả ngân hàng liên doanh)
Còn tại thời điểm năm 2008, , hệ thống các tổ chức tín dụng Việt Nam gồm
có 5 ngân hàng thương mại nhà nước,Ngân hàng Chính sách xã hội, Ngân hàngPhát triển và Nông thôn, 6 ngân hàng liên doanh, 36 ngân hàng thương mại cổphần, 44 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 10 công ty tài chính, 13 công ty chothuê tài chính và 998 quỹ tín dụng nhân dân cơ sở
2.Hàng hóa trên thị trường liên ngân hàng:
Hàng hóa trên thị trường liên ngân hàng thực chất là quyền sử dụng các khoảnngân quỹ dư thừa tạm thời (Vốn khả dụng của các TCTD) và các Giấy tờ có giá
3.Giá cả trên thị trường liên ngân hàng ( lãi suất liên NH):
3.1 Đặc điểm của lãi suất liên NH :
Trang 5- Thường là lãi suất thỏa thuận
-Thay đổi theo thời gian
- Phù hợp với chính sách lãi suất của NHTW
3.2 Nhân tố quyết định LSLNH:
NHTW là người chi phối sự biến động của lãi suất liên ngân hàng mặc dù nó
là lãi suất thị trường và được hình thành do quan hệ cung-cầu vốn khả dụng trên thịtrường liên ngân hàng
Cụ thể : NHTW chi phối lãi suất liên NH thông qua việc ảnh hưởng đếncung-cầu vốn khả dụng theo mục tiêu nới lỏng hay thắt chặt chính sách lãi suất thịtrường => lãi suất liên ngân hàng có thể tăng hoặc giảm một cách gián tiếp theonguyên tắc thị trường
Hiện nay,NHTW thực hiện việc kiểm soát lãi suất liên ngân hàng hàng ngàytheo các mô hình:
-Mô hình sử dụng các phương tiện thường xuyên
-Mô hình sử dụng nghiệp vụ thị trường mở kết hợp lãi suất tái cấp vốn
-Mô hình sử dụng nghiệp vụ thị trường mở kết hợp với các phương tiệnthường xuyên
Sau đây là 1 số ví dụ thực tế về việc chi phối lãi suất liên NH của NHTWthông qua các công cụ điều hành:
-Ngày 16/01/2008 NHNN quyết định tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc các kỳ hạnbắt đầu từ tháng 02/2008 cụ thể : đối với tiền VND không kỳ hạn và có kỳ hạndưới 12 tháng, tỷ lệ dự trữ bắt buộc được tăng từ 10% lên 11%, đối với tiền gửi có
kỳ hạn từ 12 tháng trở lên, tỷ lệ dự trữ bắt buộc được tăng từ 4% lên 5%.Tiền gửibằng ngoại tệ không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng tăng từ 10% lên 11%, đốivới tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng từ 4% lên 5%.Điềunày đã tạo nên 1 đợt tăng lãi suất liên ngân hàng kỷ lục: ngày 19/2/2008 LSLNHleo lên mức không tưởng 43% Cuối tuần trước, mức lãi suất này mới chỉ 25% vàmức cao nhất trong cả năm 2007 cũng chỉ là 17%
Trang 6-Ngày 04/11/2010, Ủy ban Giám sát tài Chính Quốc gia công bố thả nổi lãisuất theo thị trường Tiếp đó ngày 05/11/2011, NHNN tăng lãi suất cơ bản từ 8% lên 9%. Các thành viên Hiệp hội ngân hàng nâng mức lãi suất huy động đồng thuận lên trần 12%/năm Việc tăng lãi suất cơ bản,trần lãi suất huy động đã tạo ra 1
cuộc đua về cạnh tranh lãi suất huy động,các ngân hàng lớn nhỏ đã đẩy lên mặtbằng 14%/năm Lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng tăng lên trên13%/năm, có thời điểm lãi suất trên thị trường liên ngân hàng lên tới 20%/năm.Tuy nhiên từ ngày8- 12/11/2010, NHNN công bố bơm mạnh vốn trên OMO, ngày
8/11: 10 nghìn tỷ đồng; 9/11: 20 nghìn tỷ; 10/11: 20 nghìn tỷ đồng; 11/11: 14 nghìn
tỷ đồng và 12/11: 11 nghìn tỷ đồng, mở thêm kỳ hạn 14 ngày để bình ổn thị trườngliên ngân hàng => việc bơm mạnh vốn trên OMO đã cung ứng thêm một lượng tiềnlớn ra lưu thông,giảm áp lực vốn khả dụng cho NHTM,lãi suất thị trường liên ngânhàng cũng nhờ đó mà ổn định.Cụ thể: Cuối tháng 12, tình hình lãi suất trên thịtrường liên ngân hàng lẫn thị trường dân cư ổn định trở lại, lãi suất cho vay quađêm giảm xuống 10 – 12%/năm
-Ngày 22/02/2011 NHNN tăng lãi suất cho vay kỳ hạn 7 ngày trên OMO lên 12% và tăng lãi suất tái cấp vốn lên 11%/năm, động thái của NHNN muốn các
NHTM tự chủ trong việc huy động vốn, thay vì dựa vào vốn của NHNN Hơn nữa,NHNN vẫn đang trong quá trình thu về 132.000 tỷ đã bơm ra từ trước Tết (hếttháng 2 còn 27.000 tỷ đồng còn lại ngoài lưu thông), do đó nguồn tiền bơm ra từNHNN trong giai đoạn này bị thu hẹp lại=> lãi suất liên ngân hàng tăng
-Ngày 8/3/2011, NHNN quyết định nâng các mức lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng: 12,0%/ năm(trước đó là 11%/năm).Điều này dẫn đến việc các NHTM
sẽ phải chịu mức lãi suất cao hơn khi vay tiền từ NHTW => lãi suất trên thị trườngliên ngân hàng tăng đặc biệt là lãi suất cho vay qua đêm.Theo cafef.vn,sau khi có
quyết định này cá biệt một số giao dịch trên thị trường liên ngân hàng đã được thựchiện ở mức lãi suất lên đến 18-19%/năm
4.Doanh số trên thị trường liên NH:
Trang 7Ngày 19-26/2/2010, tổng doanh số giao dịch trên thị trường liên ngân hàngđạt xấp xỉ 66.678 tỷ VND và 2.261 triệu USD, bình quân đạt khoảng 13.335 tỷVND/ngày và 452 triệu USD/ngày.
Từ 11 - 17/6/2010, doanh số giao dịch trên thị trường liên ngân hàng đã tăngđột biến Tổng doanh số giao dịch đạt tới gần 107.567 tỷ VND và 2.403 triệu USD,bình quân đạt khoảng 21.513 tỷ VND/ngày và 481 triệu USD/ngày So với tuầntrước, doanh số giao dịch VND trên thị trường liên ngân hàng tuần này tăng tới23.847 tỷ (trong đó tăng mạnh nhất là doanh số giao dịch qua đêm và 1 tuần) vàdoanh số giao dịch USD tăng 424 triệu USD Trước đó, các mức cao nhất lần lượtđược nhận ở mốc 94.204 tỷ đồng của tuần từ 16 - 22/4/2010 và gần nhất là 98.642
tỷ VND của tuần từ 21 - 27/5/2010; trong khi doanh số suốt từ năm 2009 đến naythường chỉ ở khoảng 62.000 - 86.000 tỷ đồng
Con số 107.567 tỷ VND nói trên trước hết cho thấy thị trường liên ngânhàng đang hoạt động tốt, tạo kênh kết nối hiệu quả hơn cung - cầu vốn giữa cácngân hàng thương mại Con số này cũng cho thấy nhu cầu vay và cho vay giữa cácthành viên này đang tăng cao
Trang 8Ngày 4/7/2010, tổng doanh số giao dịch trên thị trường liên ngân hàng đạt115.711 tỷ VND và 2,917 tỷ USD, tăng 8.144 tỷ VND và 514 triệu USD so vớituần trước.
Ngày 1-7/10/2010, trong tuần đầu tháng 10, tổng doanh số giao dịch trên thịtrường liên ngân hàng trong kỳ đạt xấp xỉ 171.265 tỷ VND và 3.517 triệu USD,bình quân đạt khoảng 28.544 tỷ VND/ngày và 586 triệu USD/ngày Đây là con sốđột biến khi ở tuần liền trước chỉ xấp xỉ 65.927 tỷ VND và 2.252 triệu USD; hoặckết quả những tuần gần đây cũng chỉ dao động phổ biến trong khoảng từ 80.000 -100.000 tỷ VND và 1.900 - 2.600 triệu USD Riêng trong tuần từ 3/9 - 9/9 vừa quacũng ghi nhận doanh số ở mức cao, 147.750 tỷ VND và 4.160 triệu USD
Đến ngày 29/12/2010, tổng doanh số giao dịch trên thị trường liên ngânhàng trong kỳ đạt xấp xỉ 218.825 tỷ VND và 4.825 triệu USD, bình quân đạtkhoảng 36.367 tỷ VND và 804 triệu USD/ngày
Trong tuần 12/3-18/3/2011, lãi suất giao dịch bình quân trên thị trường liênngân hàng bằng VND có xu hướng tăng nhẹ ở hầu hết các kỳ hạn so với tuần trướcđó
Tổng doanh số giao dịch đạt xấp xỉ 91.004 tỷ VND và 3.397 triệu USD, bìnhquân đạt khoảng 18.201 tỷ VND và 679 triệu USD/ngày Như vậy, doanh số trêngiảm đáng kể so với tuần trước đó, bởi con số của tuần trước đó là xấp xỉ 114.722
tỷ VND và 3.426 triệu USD, bình quân đạt khoảng 22.944 tỷ VND và 685 triệuUSD/ngày
Ngày 23-3-2011,doanh số giao dịch liên ngân hàng VND giảm 21% so vớituần trước, đạt 91 nghìn tỷ đồng
Nhìn chung, doanh số giao dịch của thị trường liên ngân hàng luôn luôn biếnđộng, tuy nhiên đểu có xu hướng tăng qua các năm thị trường liên ngân hànghoạt động ngày càng có hiệu quả
II.VAI TRÒ CỦA THỊ TRƯỜNG LIÊN NGÂN HÀNG
1.Đối với NHTM
1.1 Đảm bảo cho nguồn vốn của toàn hệ thống ngân hàng được điều hoà và phân bổ có hiệu quả.
Trang 9− Xét toàn cục, TTTT liên ngân hàng tạo cơ chế trao đổi nhu cầu ngân quỹgiữa các ngân hàng một cách có hiệu quả Khi có cung cấp một hệ thống cáchình thức giao dịch đa dạng về thời hạn, yêu cầu thế chấp và lãi suất.TCTDvay vốn trên thị trường liên ngân hàng để bù đắp thiếu hụt tạm thời khả năngthanh toán, dự trữ bắt buộc và cho vay nền kinh tế.
● Hình thức đa dạng về thời hạn như qua đêm, các kỳ hạn ngắn (dưới
3 tháng), kỳ hạn 3 tháng, 6 tháng và 12 tháng và tương ứng với đó là cácmức lãi suất Giao dịch ngắn hạn có thời hạn dưới 12 tháng; giao dịchtrung hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 60 tháng và giao dịch dài hạn cóthời hạn từ trên 60 tháng, lãi suất cho vay liên ngân hàng tối đa bằng lãisuất cho vay cùng thời hạn cao nhất của bên cho vay đối với khách hàngkhông phải tổ chức tín dụng tại cùng thời điểm
● Các TCTD thực hiện giao dịch liên ngân hàng dưới các hình thức:giao dịch qua mạng giao dịch điện tử do Ngân hàng Nhà nước hoặc các tổchức cung ứng dịch vụ được cơ quan có thẩm quyền cho phép, hoặc quađiện thoại (có ghi âm lại) hoặc các hình thức khác
− Muốn giảm lãi suất, ngân hàng phải tìm nguồn vốn rẻ Muốn giảm chênhlệch lãi suất giữa huy động và cho vay, ngân hàng phải cắt giảm chi phí Mộttrong những cách để giảm chi phí và tìm nguồn vốn rẻ là tìm đến thị trườngliên ngân hàng
− Đối với ngân hàng cho vay, có thể dễ dàng cho vay ở thị trường này, có lợinhuận, mà đỡ phải chi phí bộ máy tìm khách hàng, quản trị rủi ro khi chovay trực tiếp khách hàng Phần rủi ro này ngân hàng vay sẽ gánh chịu Đốivới ngân hàng vay, họ có thể tìm được nguồn vốn với giá rẻ, thậm chí rẻ hơn
ở thị trường dân cư – nơi không phải dễ huy động
− Nhu cầu vay trên thị trường liên ngân hàng thường tăng cao khi khó khăn
trong huy động vốn từ dân cư và các tổ chức kinh tế.Có thể xem doanh số
tăng mạnh và đột ngột phản ánh nhu cầu vốn vay mượn giữa các ngân hànglên cao Trong khi đó, lãi suất là một phản ánh về “độ nóng” của những nhucầu đó
Lấy ví dụ doanh số suốt từ năm 2009 đến nay thường chỉ ở khoảng 62.000 86.000 tỷ đồng.
-Con số 107.567 tỷ VND trong tuần (từ 11 - 17/6/2010), trước hết cho thấy thị trường liên ngân hàng đang hoạt động tốt, tạo kênh kết nối hiệu quả hơn cung -
Trang 10cầu vốn giữa các ngân hàng thương mại Con số này cũng cho thấy nhu cầu vay và cho vay giữa các thành viên này đang tăng cao các giao dịch chủ yếu phát sinh đối với các kỳ hạn ngắn (qua đêm và 1 tuần và 2 tuần)
Sự sôi động của thị trường liên ngân hàng cũng có một tác động nhất định
từ sự “liên thông” nguồn vốn từ thị trường mở Các nhà băng tham gia vào hoạt động đấu thầu trái phiếu Chính phủ, sử dụng công cụ trái phiếu đó để cầm cố đón vốn Ngân hàng Nhà nước “bơm” qua thị trường mở, tranh thủ chênh lệch lãi suất hấp dẫn (từ 3% - 4%) Nguồn vốn đó cũng được cho vay lại trên thị trường liên ngân hàng…
Năm 2008.
Chính sách thắt chặt tiền tệ đầu năm của Ngân hàng Nhà nước gắn liền với
sự căng thẳng về thanh khoản của các ngân hàng thương mại Trên thị trường liênngân hàng, lãi suất ghi nhận kỷ lục “treo” tới 43%/năm; nhiều thành viên đồng loạtđẩy mức huy động trong dân cư lên tới trên 19%/năm, cá biệt có trường hợp áp tới20%/năm
Đó cũng là thời điểm mà hoạt động cho vay của nhiều ngân hàng thương mại cầmchừng, doanh nghiệp vay vốn khó khăn cả về lãi suất cao lẫn khả năng tiếp cậnvốn, tín dụng tiêu dùng gần như bị cắt bỏ, tốc độ tăng trưởng tín dụng bước vàovùng thấp nhất trong năm (liên tục tăng dưới 1%/tháng; cả năm ước chỉ tăngkhoảng 21% thay vì mức dự kiến khống chế 30%)
Quy định năm 2008 của Ngân hàng Nhà nước về tỷ lệ huy động vốn thị trường liên ngân hàng không quá 20% so với tổng vốn huy động từ dân Năm
2008, các ngân hàng chạy đua lãi suất hút vốn từ dân sau đó tung lên thị trườngliên ngân hàng cho vay với lãi suất cao Điều này làm dòng vốn luẩn quẩn trong
các ngân hàng, thay vì được cho vay ra nền kinh tế => lãi suất giảm chậm, tình trạng thừa - thiếu vốn cục bộ tiếp tục diễn ra, nhưng ngân hàng không thể cho vay lẫn nhau Người dân gửi tiết kiệm ngày càng “sành sỏi” khi tìm kiếm kỳ hạn
ngắn ở những ngân hàng lớn để gửi tiền, từ đó làm cho các ngân hàng nhỏ càngkhó khăn về nguồn vốn, còn ngân hàng lớn lại dư thừa vốn nhưng không thể chongân hàng bạn vay quá nhiều, do quy định ngân hàng không được vay của nhauqua 20% so tổng số vốn huy động từ dân
Trang 11=>Việc NHNN khống chế NHTM không được vay tại thị trường liên ngân hàng quá 20% tổng huy động khiến thị trường liên ngân hàng giảm đi vai trò điều hoà nguồn vốn.
Việc ấn định tỷ lệ 20%, khiến các ngân hàng thừa vốn không thể cho vay, vàngân hàng thiếu vốn không thể vay trên thị trường liên ngân hàng đã khiến cácngân hàng “lách” luật thông qua việc bơm vốn cho quỹ đầu tư và công ty con củamình để các đơn vị này gửi (cho vay) các ngân hàng khác
Giao dịch liên ngân hàng (Nguồn: SGTT - NHNN)
Doanh số giảm, và lãi suất cao có thể thể hiện thị trường liên ngân hàngchưa phát huy hết vai trò điều hoà cung cầu vốn Ngân hàng Nhà nước “bóp” thịtrường liên ngân hàng có thể khiến nguồn vốn không được khơi thông, và lãi suấtkhó giảm
1.2 Các ngân hàng tạo tính lỏng cho các khoản ngân quỹ nói riêng và các
khoản mục tài sản khác của NHTM.
− Các NHTM có thể bán chiết khấu các giấy tờ có giá trên thị trường tiền tệliên ngân hàng để đáp ứng nhu cầu thanh khoản của mình một cách nhanh
Trang 12chóng, tăng tính lỏng cho các khoản mục trên bảng cân đối tài sản của các
NH và tạo cơ hội cho phép đa dạng hoá danh mục ngân quỹ, hạn chế việcduy trì tiền mặt trong khoản mục dự trữ
Từ 01/01/2011, các TCTD không được gửi tiền và nhận tiền gửi có kỳ hạn tại các TCTD khác, chỉ duy trì hình thức cho vay và đi vay lẫn nhau.
Giao dịch mua có kỳ hạn GTCG chính là hoạt động vay mượn lẫn nhau củacác TCTD trên thị trường liên ngân hàng được bảo đảm bằng GTCG
Hiện nay, NHNN đã có Quyết định số 1325 quy định về hoạt động chiếtkhấu GTCG của TCTD với khách hàng trong đó bao gồm cả hoạt động mua, bánGTCG của các TCTD với nhau.Việc cho vay và mua bán có kỳ hạn giấy tờ có giángoài mục đích đảm bảo bù đắp thiếu hụt tạm thời thì TCTD được sử dụng để chovay khách hàng là tổ chức, cá nhân (bao gồm cả cho vay lại các tổ chức tín dụngkhác)
1.3 Tác động tích cực đến yêu cầu quản lý vốn khả dụng của hệ thống
NHTM.
− TTTT liên ngân hàng giúp ngân hàng đảm bảo tính sinh lời trong điều kiệnduy trì khả năng thanh khoản xét ở 2 góc độ: hình thành danh mục đầu tư tối
ưu và đáp ứng nhanh chóng nhu cầu thanh khoản khi cần thiết
− Thật vậy, khi xác định được cung, cầu vốn khả dụng thì các NHTM sẽ tìmđược cơ hội tốt nhất để xem xét cho vay hay là đi vay trên TTLNH với thờihạn bao lâu… nhằm đem lại hiệu quả tối ưu
− Thị trường liên ngân hàng được xem là nơi tìm kiếm lợi nhuận của các ngânhàng lớn có nguồn vốn khả dụng dồi dào, đặc biệt là trong bối cảnh tăngtrưởng tín dụng chưa được cải thiện như hiện nay Những ngân hàng nào cónguồn vốn nhàn rỗi sẽ cho vay trên TTLNH nhằm tạo sự lưu thông của dòngtiền và cũng là tăng doanh thu và lợi nhuận
1.4 Giảm chi phí cơ hội của việc duy trì dự trữ thường xuyên của các ngân
hàng thương mại.
Hoạt động thị trường ngân hàng giúp giảm chi phí cơ hội này khi nó giảm sựchênh lệch giữa lãi suất nhận được từ các khoản dự trữ và lãi suất cho vay.Song TTTT liên ngân hàng vẫn tồn tại một số bất cập:
Trang 13Ngân hàng thương mại tận dụng nguồn vốn rẻ từ NHNN để kiếm lợi nhuận trên thị trường liên ngân hàng.
Ngày 8.3.2011, ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành quyết định 379 để điều chỉnh tăng hầu hết các mức lãi suất trên thị trường lên mức 12%/năm trừ mức lãi suất cơ bản vẫn giữ nguyên 9%/năm.
NHNN nâng mức lãi suất tái chiết khấu, lãi suất thị trường mở lên 12%/năm,cao hơn mức trần lãi suất trái phiếu Chính phủ và sát với lãi suất huy động vốn trên
thị trường 1 (lãi suất huy động trong dân cư) đã chấm dứt tình trạng các ngân hàng thương mại tận dụng nguồn vốn rẻ từ NHNN để kiếm lợi nhuận.Vì lãi suất liên
ngân hàng đã “nóng” lên mấy ngày gần đây do thị trường đang khan vốn tiền đồng
từ động thái thắt chặt tiền tệ để kiểm soát lạm phát của NHNN Mới đây NHNNnâng lãi suất trên thị trường mở cũng là cơ hội để cho thị trường liên ngân hàngnóng lên
Do đó, dù lãi suất liên ngân hàng đang nóng nhưng nhiều ngân hàng thươngmại sẽ phải chấp nhận vay trên liên ngân hàng khi khó huy động tiền gửi từ dân cư.Tuy nhiên, tận dụng lợi thế nắm giữ giấy tờ có giá, các ngân hàng thương mại đãvay vốn giá rẻ của NHNN, song không dùng lượng vốn này để giảm lãi suất và đầu
tư cho nền kinh tế mà lại đầu tư vào trái phiếu Chính phủ để quay vòng kiếm lợi.Thậm chí nhiều ngân hàng còn dùng nguồn vốn này cho các ngân hàng thương mạinhỏ khác vay trên thị trường liên ngân hàng
Đó là lý do nhiều ngân hàng nắm giữ giấy tờ có giá trong năm qua đều có lãinhờ kinh doanh vốn trên thị trường liên ngân hàng Khi NHNN nâng các mức lãisuất trên, cánh cửa lợi nhuận từ hoạt động này của các ngân hàng thương mại đã bịthu hẹp, do vậy, dòng vốn qua đó sẽ được tập trung cho nền kinh tế chứ khôngchảy vào trái phiếu Chính phủ nhiều như trước
2 Đối với NHTW:
Trang 142.1 TTTT liên ngân hàng là nơi cung cấp thông tin về tình trạng VKD của hệ thống các TCTD:
Việc tổ chức TTTT liên NH theo phương thức giao dịch gián tiếp với vai tròcủa các trung gian giao dịch có đăng kí với NHTW là cách tổ chức tốt nhất giúpNHTW có thể nắm được các thong tin cụ thể về cung cầu vốn khả dụng trongmọi thời điểm giúp NHTW đưa ra quyết định chính xác liều lượng, chiềuhướng can thiệp vào dự trữ các hệ thống NH
2.2 Tiếp nhận và truyền tải tác động của chính sách tiền tệ đến nền KT:
TTTT liên ngân hàng vừa là nơi chịu tác động trực tiếp của CSTT vừa là trungtâm chuyền tải tác động của CSTT tới nền KT
Năm 2008:
Thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ, ba công cụ: lãi suất, dự trữ bắt buộc
và thị trường mở được sử dụng đồng thời cùng với những quy định siết chặt thịtrường chứng khoán, thị trường bất động sản… đã tác động mạnh đến thị trường
Và phản ứng của thị trường cũng thật mạnh mẽ: các hoạt động cho vay gần như cocụm lại, lãi suất tăng vọt, luồng tiền gửi trở lên bất ổn, thị trường bất động sảnđang ở trong cơn sốt bỗng đóng băng và trở lên lạnh giá, thị trường vàng như conngựa bất kham, giá cả hàng hoá thì tăng vọt… Chính sách tiền tệ bộc lộ thật rõ sứcmạnh của nó
Những dấu mốc đáng ghi nhớ trong việc sử dụng các công cụ để điều hànhchính sách tiền tệ vào những tháng đầu năm 2008:
- Ngày 16/01/2008, tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc lên 1% (Quyết định187/QĐ-NHNN)
- Ngày 30/01/2008, điều chỉnh tăng các loại lãi suất: Lãi suất cơ bản tăng0,5%, tái cấp vốn tăng 1,0%, lãi suất chiết khấu tăng 1,5% (Quyết định305/QĐ-NHNN)
- Ngày 13/2/2008, thông báo về việc phát hành tín phiếu bắt buộc, thực hiệnvào ngày 17/3, với tổng giá trị tín phiếu phát hành là 20.300 tỷ đồng, kỳ hạn là 364ngày, lãi suất là 7,8%/năm (Quyết định 346/QĐ-NHNN)
Trang 15Các ngân hàng ồ ạt công bố tăng lãi suất, thậm chí tăng tới hai lần trongvòng chưa đầy một tuần Ngay trong ngày đầu tuần này, Ngân hàng Ngoài quốcdoanh (VPBank) điều chỉnh mức tăng từ 0,6%/năm đến 1,02%/năm lên mức caonhất 10,50%/năm và trở hành ngân hàng có lãi suất huy động vốn cao nhất trên thịtrường ngân hàng Đông Nam Á (SeABank) tiếp tục tăng lãi suất huy động VND
mà mức cao nhất ở kỳ hạn 12 tháng là 10,68%/năm, sau khi đã tăng lên mức10,02% vào cuối tuần trước ngân hàng Sài Gòn-Hà Nội (SHB) là ngân hàng thứhai có hai lần tăng lãi suất trong vòng 5 ngày qua 20/2), lãi suất tiền gửi của SHB
sẽ có mức cao nhất 10,14%/năm,
Cuộc đua lãi suất huy động VND nhằm đáp ứng nhu cầu tiền đồng đangcăng như dây đàn của các ngân hàng đã khiến lãi suất VND vay qua đêm trên thịtrường liên ngân hàng ngày 19/2 đã leo lên mức không tưởng 43% Cuối tuầntrước, mức lãi suất này mới chỉ 25% và mức cao nhất trong cả năm 2007 cũng chỉ
là 17% Tuy nhiên, ngay cả ở mức lãi suất kỷ lục này, nhiều ngân hàng nhỏ phảichấp nhận nhưng cũng không vay được vốn để cải thiện khả năng thanh khoản, bởinguồn cho vay hạn chế tình trạng căng thẳng về tiền đồng trên thị trường đang ởmức rất cao, khi nhiều ngân hàng cần tiền để đảm bảo thanh khoản, thực hiện cácnghĩa vụ tài chính với Nhà nước (chẳng hạn như việc mua 20.300 tỉ tín phiếu bắtbuộc vào ngày 17/3 tới), với khách hàng
Lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng tăng từ 4,22%/năm (ngày 31/3/2008) lên 9,2%/năm (ngày 16/4/2008) Theo NHNN, thị trường tiền tệ những
ngày gần đây có xu hướng ổn định Lãi suất qua đêm của các tổ chức tín dụng(TCTD) dao động từ 9,2 - trên 10%/năm; 1 tuần từ 14 - 15%/năm, 1 tháng từ 15 -16%/năm Các NHTM thực hiện thoả thuận với Hiệp hội Ngân hàng Việc Nam vềviệc áp dụng mức trần lãi suất huy động VND bắt đầu từ ngày 02/4/2008 Lâu nay,nguồn vốn Kho bạc Nhà nước vẫn được gửi tại NHTM nhà nước, với lãi suất2,4%/năm Khối NHTM nhà nước đã có nhiều cơ hội sử dụng đồng vốn chi phíthấp để cho vay trên thị trường liên ngân hàng Thị trường tiền tệ "nóng" lên đượccác chuyên gia giải thích rằng do nhiều ngân hàng chưa chấp hành đúng các tỉ lệ
an toàn trong hoạt động Đó là việc sử dụng vốn vay trên thị trường liên ngân hàngvới kỳ hạn ngắn để cho khách hàng vay lại với kỳ hạn dài dẫn tới vốn khả dụng bịthiếu hụt Bởi thế, khi thiếu hụt vốn khả dụng, các ngân hàng này phải chấp nhậnvay với mức lãi suất cao để có vốn Đây cũng là nguyên nhân "châm ngòi" chocuộc đua tăng lãi suất lan rộng trên toàn hệ thống vào cuối tháng 2/2008 Đến đầu
Trang 16quý này, nhu cầu vốn của các TCTD tăng lên do nhiều khoản tiền gửi đáo hạn,cộng với yêu cầu đáp ứng dự trữ bắt buộc của các ngân hàng Do đó, ngay cảnhững "mạnh thường quân" cũng không dễ dàng "mở hầu bao" cho các ngân hàngkhác vay lại vào thời điểm này Chính vì vậy, việc lãi suất trên thị trường liên ngânhàng tăng trong thời gian gần đây là phù hợp với cung cầu vốn trên thị trường.
Cả ba giải pháp trên đều hướng tới mục tiêu rút bớt tiền trong lưu thông về.Các giải pháp sau đó cũng không kém phần quyết liệt Theo Quyết định305/QĐ-NHNN ngày 30/01/2008, lãi suất cơ bản sau 25 tháng giữ ổn định ở mức8,25%/năm tăng lên 0,5%/năm, chuyển sang mức 8,75%/năm Sau hơn 3 thángthực hiện, đến 19/5/2008, lãi suất cơ bản vọt lên 12%/năm và chưa đầy 1 thángsau, ngày 11/6/2008, Quyết định 1317/QĐ-NHNN của NHNN đã nâng thêm 2%đưa lãi suất cơ bản lên mức 14%/năm (Xem bảng 1), 19/8/2008, mức lãi suấtcho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếuhụt vốn trong thanh toán bù trừ được điều chỉnh từ mức 0,03%/ngày (10,8%/năm)lên 0,0417%/ngày (15%/năm)
Bảng 1: Những dấu mốc thay đổi lãi suất cơ bản từ tháng 12/2005 - đến tháng
Trang 17- Lãi suất cơ bản giảm xuống từ 14%/năm còn 8,5%/năm (Xem bảng 2).
Trang 18lệ dự trữ bắt buộc từ 10%/năm xuống còn 8%/năm (Quyết định 2811 ngày20/11/2008), 8% xuống còn 6% (Quyết định 2951 ngày 03/12/2008), đến19/12/2008 còn 5% (Quyết định 3158) và các loại lãi suất chiết khấu, lãi suất táicấp vốn cũng được hạ xuống… Bên cạnh đó, tín hiệu cho vay kinh doanh chứngkhoán, cho vay bất động sản cũng được phát ra…
Ngay sau đó, mặt bằng lãi suất mới được thiết lập, các NHTM đồng loạtgiảm lãi suất Ngày 01/12, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển thiết lập mặt bằng lãisuất mới với mức thấp nhất là 11,4%/năm; ngày 05/12, Ngân hàng Nông nghiệp vàPhát triển Nông thôn cũng công bố lãi suất thấp nhất của mình là 11%/năm; ngày10/12, NHTM Xuất nhập khẩu Việt Nam giảm lãi suất cho vay với doanh nghiệp,ngắn hạn còn 13,2%/năm, giảm 1,2%/năm so với cuối tháng 11… Tháng 12/2008,lãi suất cho vay phổ biến ở mức 13-14%/năm Động thái giảm lãi suất của các ngânhàng là một giải pháp tích cực cho doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp vừa vànhỏ, giúp các doanh nghiệp có thể tiếp cận nguồn vốn để duy trì và mở rộng sảnxuất
Năm 2009, chính sách tiền tệ tương đối ổn định
Chính phủ thực hiện gói kích cầu, giảm lãi suất, hỗ trợ lãi suất 4%
Từ tháng 7-2009, trong điều kiện nền kinh tế đã lấy lại đà tăng trưởng, lạm phát có
xu hướng quay trở lại, tín dụng có chiều hướng tăng cao, NHNN đã điều hành
Trang 19lạm phát và ổn định thị trường tiền tệ Từ tháng 12-2009, NHNN điều chỉnh tăng1%/năm các mức lãi suất điều hành, tăng cường các biện pháp hỗ trợ thanh khoảncho hệ thống ngân hàng trong dịp cuối năm.
Trong năm 2009, với việc thực hiện đồng bộ và hiệu quả các giải pháp trên đây,
có thể khẳng định, mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, ngànhngân hàng đã nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước giao phó Hoạtđộng của hệ thống ngân hàng đã góp phần quan trọng trong ngăn chặn suy giảm,
hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô Các chỉtiêu tổng phương tiện thanh toán, tăng trưởng tín dụng ở mức phù hợp với diễnbiến kinh tế vĩ mô và chủ trương kích thích kinh tế của Chính phủ Hệ thống cáccông cụ chính sách tiền tệ được sử dụng linh hoạt, phối hợp đồng bộ và có hiệuquả, góp phần đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô, ổn định thị trường tiền tệ vàduy trì lãi suất ở mức hợp lý Thị trường ngoại hối tuy có thời điểm không thuậnlợi nhưng nhờ điều hành linh hoạt tỷ giá, các biện pháp can thiệp kịp thời củaNHNN nên đã duy trì được tính ổn định của thị trường, bảo đảm mức dự trữ ngoạihối Các TCTD hoạt động an toàn, tăng trưởng tài sản, thu nhập được cải thiện,tăng khả năng cung ứng vốn tín dụng và dịch vụ tiện ích cho nền kinh tế, phần lớncác NHTM có lãi Các chỉ tiêu bảo đảm an toàn và năng lực tài chính của hệ thốngngân hàng được nâng cao, đồng thời nợ xấu vẫn ổn định ở mức cho phép - dưới3%
Thực tế cho thấy, trong thời kỳ nỗ lực vượt qua khủng hoảng, các chính sáchtài chính, tài khóa kích cầu, giải cứu nền kinh tế đã được Chính phủ cân nhắc vàđưa ra một cách hợp lý, tránh cho nền kinh tế rơi sâu vào suy thoái Sau khoảng 2/3chặng đường của năm 2009, các chính sách này đã có những thành công và hiệuquả rõ rệt Điển hình là việc thông qua gói kích cầu với hình thức bù 4% lãi suấtkhi các doanh nghiệp (DN) vay vốn tại các ngân hàng thương mại Lãi suất cơ bảncũng được điều chỉnh giảm từ 8,5% xuống 7% - bằng một nửa so với mức đỉnh củanăm 2008 - và duy trì liên tục tới cuối tháng 11-2009
Tuy nhiên, chính sách kích thích kinh tế cũng tạo ra tác dụng phụ và tiềm ẩnnhiều nguy cơ Cơ chế hỗ trợ lãi suất làm cho tăng trưởng tín dụng diễn ra khánhanh (tăng trưởng tín dụng trong 10 tháng đầu năm 2009 đạt trên 33%) đã gây sức
ép tăng lãi suất, dẫn đến hệ quả là tăng chi phí vốn, làm tăng giá thành sản xuất,đồng thời làm cho việc huy động vốn trái phiếu chính phủ gặp nhiều khó khăn(nhiệm vụ huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu chính phủ năm 2009 là
Trang 20126.000 tỷ đồng, 9 tháng của năm 2009 mới thực hiện được 20.870 tỷ đồng) Cơchế hỗ trợ lãi suất tác động còn ảnh hưởng không thuận lợi đến việc ổn định lãisuất và tỷ giá, gây sức ép tăng lãi suất VND, ảnh hưởng đến cán cân thanh toán(cán cân thanh toán tổng thể thâm hụt 1,9 tỷ USD), dự trữ ngoại hối giảm, thịtrường ngoại hối có biểu hiện căng thẳng về cung - cầu, NHNN đã phải can thiệp.
Năm 2010,
Việc lãi suất cho vay vẫn còn khá cao đã gây sức ép lên nền kinh tế Doanh nghiệp
và người đi vay gặp khó khăn trong việc tiếp cận vốn Một số doanh nghiệp phảiphát hành trái phiếu chịu mức lãi suất cao hơn cả lãi suất đi vay ngân hàng Ngânhàng Nhà nước (NHNN) cũng đang thực hiện nhiều nỗ lực để hạ lãi suất cho vaytrên thị trường về khoảng 12%
Trong báo cáo về hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm 2010, NHNN cũng đề ramột số nhiệm vụ về chính sách tiền tệ trong thời gian tới Theo đó, mục tiêu tăngtrưởng tín dụng năm 2010 trong khoảng 20 -25% NHNN cũng đề ra 5 biện pháp
để hạ lãi suất, bao gồm:
1 Tăng lượng tiền cung ứng ra thị trường
2 Ổn định các mức lãi suất cơ bản và lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãisuất nghiệp vụ thị trường mở và lãi suất hoán đổi ngoại tệ
3 Tăng thêm khối lượng vốn giao dịch qua nghiệp vụ thị trường mở với kỳ hạn vàlãi suất hợp lý
4 Tiếp tục cho vay tái cấp vốn để hỗ trợ các ngân hàng thương mại mở rộng tíndụng đối với nông nghiệp và nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa
5 Phối hợp với Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam thúc đẩy các ngân hàng thương mạithực hiện đồng thuận về lãi suất huy động và cho vay theo hướng giảm
Lãi suất phổ biến hiện nay là 13-15% đang là mức khá cao đối với nền kinh tế Cácyếu tố thuận lợi cho việc giảm lãi suất như lạm phát tăng chậm; tăng trưởng tíndụng vẫn còn thấp hơn khá nhiều so với mục tiêu cả năm…
Báo cáo Ngân hàng Nhà nước vừa cập nhật cho biết, trong tuần từ 15 – 21/10, lãisuất bình quân liên ngân hàng tăng hầu hết các kỳ hạn Trong đó, lãi suất các kỳ