1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ HOÀN THIỆN CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÂU LẠC BỘ

105 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng Cao Năng Lực Tự Hoàn Thiện Của Sinh Viên Trường Đại Học Nội Vụ Hà Nội Thông Qua Hoạt Động Của Các Câu Lạc Bộ
Tác giả Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Văn Kiên, Dương Đức Kiên
Người hướng dẫn ThS. Trịnh Huyền Mai
Trường học Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Chuyên ngành Quản trị nguồn nhân lực
Thể loại báo cáo tổng hợp
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 4,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI KHOA QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC BÁO CÁO TỔNG HỢP ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA NGƯỜI HỌC NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ HOÀN THIỆN CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÂU LẠC BỘ Mã số đề tài ĐTSV 2020 15 Chủ nhiệm đề tài Nguyễn Văn Thành Lớp 2005QTNA Cán bộ hướng dẫn ThS Trịnh Huyền Mai Hà Nội, 52021 TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI KHOA QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC BÁO CÁO TỔNG HỢP ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA NGƯỜI HỌC NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ HOÀN THI.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI

KHOA QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC

BÁO CÁO TỔNG HỢP

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA NGƯỜI HỌC

NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ HOÀN THIỆN CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI

KHOA QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC

BÁO CÁO TỔNG HỢP

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA NGƯỜI HỌC

NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ HOÀN THIỆN CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG

CỦA CÁC CÂU LẠC BỘ

Mã số đề tài: ĐTSV.2020.15

Chủ nhiệm đề tài : Nguyễn Văn Thành

Thành viên tham gia : Nguyễn Văn Kiên; Dương Đức Kiên

Hà Nội, 5/2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Nhóm tác giả xin cam đoan đề tài “Nâng cao năng lực tự hoàn thiện của sinh viên Trường Đại học Nội vụ Hà Nội thông qua hoạt động của các Câu lạc bộ” là công

trình nghiên cứu do nhóm thực hiện và được sự hướng dẫn khoa học của ThS TrịnhHuyền Mai Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài là do nhóm tác giả tự thuthập, khảo sát, xử lý và chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nghên cứu nào khác.Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá đượcchính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo

Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào, chúng tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm vềnội dung đề tài nghiên cứu của mình Trường Đại học Nội vụ Hà Nội không liên quan đếnnhững vi phạm tác quyền, bản quyền do tôi gây ra trong quá trình thực hiện (nếu có)

Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2020

Trang 4

Chúng tôi xin cảm ơn các tác giả đã có các giáo trình, đề tài nghiên cứu là tài liệucho nhóm tham khảo

Xin gửi lời cảm ơn đến các sinh viên Khoa Quản trị nguồn nhân lực, Trường Đạihọc Nội vụ Hà Nội đã nhiệt tình giúp chúng tôi trong quá trình thu thập dữ liệu, cung cấpthông tin trong quá trình khảo sát thực tiễn

Nhóm tác giả hi vọng những thông tin trong bài nghiên cứu sẽ là tài liệu hữu íchcho các bạn sinh viên trong hoàn thiện bản thân bằng cách tham gia hoạt động trong cácCâu lạc bộ, qua đó góp phần nâng cao năng lực tự hoàn thiện của sinh viên Trường Đạihọc Nội vụ Hà Nội

Trong quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài, mặc dù đã rất cố gắng nhưng do chưa

có kinh nghiệm và còn hạn hẹp về kiến thức nên công trình không thể tránh khỏi nhữngthiếu sót khi tìm hiểu, trình bày đề tài Rất mong nhận được sự quan tâm, chỉ bảo, đóng gópcủa các quý thầy cô và mọi người để bài nghiên cứu được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2020

Trang 5

MỤC LỤC

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Đánh giá của sinh viên về mức độ tham gia vào các hoạt động tại các CLB 55Bảng 2.2 Các môn học sinh viên vận dụng kiến thức khi tham gia hoạt động tại CLB 60Bảng 2.3 Các kỹ năng sinh viên được trau dồi khi tham gia hoạt động tại CLB 62

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

“Nhân vô thập toàn”, mỗi người trong số chúng ta chẳng ai sinh ra là đã hoàn hảo,bởi vậy mà bất cứ một cá nhân nào cũng cần phải tự hoàn thiện bản thân Vậy “tự hoànthiện” là gì? Tự hoàn thiện được hiểu là một loại năng lực của con người, nó là động lực

và công cụ thúc đẩy chúng ta sống tích cực, sống hòa hợp với những người xung quanh,thông qua sự rèn luyện bền bỉ không những về tri thức mà còn cả về thái độ và kĩ năng…

Có thể định nghĩa rằng năng lực tự hoàn thiện chínhlà sự tu dưỡng về cả tài và đức Đây

là điều rất quan trọng đối với các bạn sinh viên đang đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời, bởinhững điều học được ở trường Đại học sẽ là hành trang quan trọng sau khi ra trường,trong công việc và theo chúng ta suốt cuộc đời.Vậy nên, quá trình học tập nghiên cứu tạiTrường Đại học cũng chính là quá trình mỗi sinh viên tự hoàn thiện bản thân

Song song với việc học kiến thức, sinh viên cũng cần tích cực tham gia hoạt độngtrong các Câu lạc bộ Đây vừa là sân chơi bổ ích, vừa là một môi trường để giao lưu thiđua học hỏi, cũng là một cầu nối giữa thầy và trò, giữa những bạn sinh viên trên mọi miềnđất nước Qua đó các sinh viên đều được hòa mình, gắn bó với tập thể, phát huy tinh thầnđoàn kết Tham gia hoạt động trong các CLB, sinh viên cũng sẽ được trải nghiệm, đượchọc hỏi kiến thức từ sự chia sẻ của các anh chị khóa trước, được trau dồi về thái độ và các

kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng thuyết trình… Đặc biệt, đây cũng là cầu nối giữa doanhnghiệp và sinh viên, giúp sinh viên biết được nhu cầu của các nhà tuyển dụng, xu hướngviệc làm,để có sự rèn luyện, chuẩn bị phù hợp

Tham gia các CLB là một cơ hội để va vấp, học hỏi và tích lũy kinh nghiệm nêntrong quá trình hoạt động trong các CLB, mỗi sinh viên cũng cần phải tự hoàn thiện chínhmình Tuy nhiên hiện nay còn có rất nhiều bạn sinh viên chưa phát huy được lợi thế này,một sốcòn thờ ơ, tham gia các CLB theo phong trào, một số khác lại tham gia quá nhiềuCLB làm cho thời gian học tập bị ảnh hưởng…

Xuất phát từ những lí do trên, nhóm tác giả chọn đề tài nghiên cứu “Nâng cao năng lực tự hoàn thiện của sinh viên Trường Đại học Nội vụ Hà Nội thông qua hoạt động của các Câu lạc bộ” nhằm giúp sinh viên Trường Đại học Nội vụ cân bằng giữa

việc học tập và tham gia các CLB, phát huy và nâng cao năng lực tự hoàn thiện bản thânthân trong môi trường Đại học Nội vụ

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

- Tình hình nghiên cứu trong nước:

Năng lực và năng lực tự rèn luyện cũng được xem xét từ nhiều góc độ khác nhauvới nhiều công trình nghiên cứu trên sách, tạp chí, đề tài nghiên cứu, luận văn, luận án

Trang 9

Dưới góc độ tâm lý học, năng lực được quan niệm là một tổ hợp đặc điểm tâm lý

cá nhân, hay là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của con người Chẳng hạn: Chươngtrình Khoa học công nghệ nhà nước KX07-18 về năng khiếu và tài năng trong giai đoạn

từ 1992-1995 với các đề tài nhánh, trong đó các đề tài nghiên cứu đều đề cập tới năng lực

là “một tổ hợp đặc điểm tâm lý của con người, tổ hợp này vận hành theo một mục đíchnhất định, nó cho phép con người giải quyết được ở mức này hay mức khác một haynhiều yêu cầu mới của cuộc sống”

Tác giả Phạm Minh Hạc trong cuốn sách “Một số vấn đề Tâm lý học” đã cho rằng:

“Năng lực chính là một tổ hợp đặc điểm tâm lý của một con người (còn gọi là tổ hợpthuộc tính tâm lý của nhân cách), tổ hợp đặc điểm này vận hành theo một mục đích nhấtđịnh, tạo ra kết quả của một hoạt động nào đấy”, hay: Năng lực là các đặc điểm tâm lý cábiệt tạo thành điều kiện quy định tốc độ, chiều sâu, cường độ của việc tác động và đốitượng lao động” Theo tác giả, “nói đến năng lực là nói đến xu thế có thể đạt tới một kếtquả nào đó của một công việc nào đó do một con người cụ thể tiến hành: năng lực họctập, năng lực lao động, năng lực thụ cảm thẩm mỹ Tác giả cũng chỉ ra sự khác biệt giữanăng lực, năng khiếu, khả năng, tài năng, phân tích cấu trúc của năng lực, cũng như sựhình thành và phát triển của năng lực

Trần Trọng Thủy, Nguyễn Quang Uẩn trong “Tâm lý học đại cương” cho rằng:

“Năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầuđặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốttrong lĩnh vực hoạt động ấy” Các tác giả cũng cho rằng, năng lực của mỗi người mộtphần dựa trên cơ sở tư chất Nhưng điều chủ yếu là năng lực hình thành, phát triển và thểhiện trong hoạt động tích cực của con người dưới sự tác động của rèn luyện, dạy học vàgiáo dục Việc hình thành và phát triển các phẩm chất nhân cách là phương tiện có hiệuquả nhất để phát triển năng lực

Cùng quan niệm năng lực là “một tổ hợp những thuộc tính tâm lý” và là một yếu tốcủa nhân cách (mặt tài của nhân cách), tác giả Nguyễn Ngọc Bích trong “Tâm lý học nhâncách - Một số vấn đề lý luận” nhấn mạnh: khi nói đến năng lực là nói đến khả năng đạtđược kết quả trong hoạt động nào đó Tác giả chỉ ra các mức độ của năng lực, phân loạinăng lực… Trên cơ sở lý luận về năng lực,tác giả phân tích những điều kiện xã hội củaphát triển nănglực.Theo đó, sự phát triển năng lực gắn liền với sự phân chia lao động(hoạt động lao động), với các quan hệ xã hội (hình thái giao tiếp của cá nhân) và sự pháttriển của nền văn hóa xã hội

Tác giả Lê Thị Bừng và Nguyễn Thị Vân Hương trong sách “Mỗi người tiềm ẩnmột tài năng”, cũng cho năng lực là “tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân, phùhợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoànthành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy” Tác giả cho rằng năng lực là mặt tài

Trang 10

trong cấu trúc nhân cách con người Dựa theo các góc độ nghiên cứu mà có các cách phânloại năng lực khác nhau: theo nguồn gốc phát sinh thì có năng lực tự nhiên và năng lực xãhội; theo mức độ chuyên nghiệp của năng lực thì có năng lực chung, năng lực riêng, nănglực học tập, nghiên cứu, năng lực sáng tạo.

Dưới góc độ giáo dục học, vấn đề năng lực được gắn với năng lực hành động, làkhả năng đạt được hiệu quả trong hành động Việc phát triển năng lực đã được quan tâmtriển khai áp dụng trong dạy học ở các mặt: phát triển năng lực tư duy, năng lực sáng tạo,năng lực thích ứng nghề, năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề… cho đối tượng cụthể như học sinh trung học phổ thông, hay sinh viên các trường đại học, cao đẳng Việcphát triển năng lực theo quan niệm giáo dục học thông qua dạy học được hiểu đồng nghĩavới phát triển năng lực hành động

Bùi Thị Hường trong bài “Kích thích năng lực tư duy người học” cho rằng, nănglực là “khả năng bên trong của mỗi con người, khả năng tạo ra một sức mạnh vượt trộivới nhóm, với cộng đồng, biết làm chủ bản thân và lôi cuốn người khác vào hoạt động đạthiệu quả cao” Theo tác giả, năng lực người học là một khái niệm không đơn giản Đó làmột tổ hợp cấu trúc đa tuyến có thể kể đến các thành tố trong cấu trúc đó như sau: Nănglực là trình độ người học đạt đến một học vấn nhất định; Năng lực là khát vọng, ý chívươn lên của người học sẵn sàng đón nhận kiến thức mới; Năng lực là khả năng biến Trithành Hành, tức là biết dùng vốn tri thức đã thu nạp được để giải quyết các yêu cầu thựctiễn theo luật tối ưu

Trong hai nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Tuấn với chuyên đề bồi dưỡng sưphạm “Tài liệu học tập về phương pháp dạy học theo hướng tích hợp” và tác giả BerndMeier, Nguyễn Văn Cường với “Một số vấn đềchung về đổi mới phương pháp dạy học ởtrường trung học phổ thông” đều sử dụng chung một cơ sở lý luận dựa theo Chương trìnhdạy học định hướng phát triển năng lực Theo đó, “Năng lực là một thuộc tính tâm lýphức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm, sựsẵn sàng hành động và trách nhiệm”; và năng lực là: “khả năng thực hiện có trách nhiệm

và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống khácnhau thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kỹxảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động”

Ngoài ra, trong một số công trình như “Phát triển năng lực độc lập sáng tạo củasinh viên đại học kĩ thuật thông qua dạy học Hoá hữu cơ” của Đinh Thị Hồng Minh và

“Năng lực thích ứng nghề của sinh viên sư phạm – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”của Dương Thị Nga cũng nhấn mạnh quan niệm năng lực dưới góc độ giáo dục học đượcthể hiện ở kết quả hoạt động của cá nhân Năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả và

có trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc lĩnh vực nghềnghiệp, xã hội hay cá nhân trong những tình huống khác nhau trên cơ sở kết hợp sự hiểu

Trang 11

biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm, và, việc phát triển năng lực thông qua dạy học đượchiểu đồng nghĩa với phát triển năng lực hành động;…

- Tình hình nghiên cứu nước ngoài:

Amartya Sen là người đầu tiên đưa ra cách tiếp cận năng lực (CapabilttyApproach) trong nhiều công trình nghiên cứu của mình như Equality of what?;Commodities and Capabilities; The Standard of Living; Development as Freedom,…Cách tiếp cận của ông được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực phát triển con người A.Sencho rằng sự thịnh vượng của con người nên được đánh giá theo sự vận hành chức năngcủa con người, đó là người đó có năng lực thực sự hay không và có thể làm gì TheoA.Sen, năng lực là tổ hợp khả năng thực hiện các chức năng (hay đạt được các chứcnăng) Nói cách khác, năng lực là sự tự do hiện thực mà con người được thụ hưởng đểcuộc sống có ý nghĩa Một người có thể có nhiều năng lực (hoặc nhiều quyền tự do) thay

vì chỉ có một Con người càng có năng lực thì càng có cơ hội lựa chọn hơn Phát triển conngười được coi là quá trình mở rộng cơ hội lựa chọn và năng lực cho con người Bởi vậy,phát triển con người, theo A.Sen, đó chính là sự phát triển năng lực cho con người

Đề cập đến tính định lượng của năng lực, Howard Gardner cho rằng: “Năng lựcphải được thể hiện thông qua hoạt động có kết quả và có thể đánh giá hoặc đo đạc được”.Với F.E.Weinert, “Năng lực là những kỹ năng, kỹ xảo học được hoặc sẵn có của cá thểnhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sựsẵn sàng về động cơ, xã hội và khảnăng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trongnhững tình huống linh hoạt”

Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc UNDP lại đưa ra khái niệm năng lực chungcho tất cả cá nhân, tổ chức và xã hội: “năng lực” là khả năng của cá nhân, tổ chức và xãhội để thực hiện chức năng, giải quyết vấn đề, thiết lập và đạt được mục tiêu một cách bềnvững Do đó, “Phát triển năng lực là quá trình mà thông qua đó, các năng lực của conngười được hình thành, được tăng cường, thích nghi và duy trì theo thời gian”

Tác giả John Langan trong cuốn sách“Ten skills you really need to succeed incollege” (Tạm dịch: 10 kỹ năng sinh viên cần có để thành công trong môi trường Đạihọc) Trong cuốn sách tác giả đã trình bày 10 kỹ năng cơ bản mà bất cứ một tân sinh viênnào cũng cần phải lĩnh hội để hoàn thiện bản thân trong môi trường giáo dục mới Các kỹnăng này đều là những kỹ năng cơ bản và cần thiến cho sinh viên như kỹ năng tư duy biệnchứng, kỹ năng giao tiếp và thuyết trình, và đặc biệt là kỹ năng tự rèn luyện Trong đó, tácgiả tiếp cận với khía cạnh gợi mở cho sinh viên các phương pháp tự học, tự kỷ luật bảnthân

Qua nghiên cứu các công trình trên, nhóm tác giả thấy: Một mặt, các công trình trên

đã nghiên cứu đến năng lực, năng lực của con người Mặt khác, các công trình đã đề cập đến

Trang 12

các dạng năng lực con người có thể rèn luyện Tuy nhiên, đến nay Trường Đại học Nội vụ HàNội chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện các thực trạng vềnăng lực tự rèn luyện của sinh viên thông qua hoạt động của các Câu lạc bộ.

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục tiêu nghiên cứu:

Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực tự hoàn thiện của sinh viênTrường Đại học Nội vụ Hà Nội thông qua hoạt động trong các Câu lạc bộ của Trườngnhư: CLB Nhà Quản trị nhân lực, CLB ASK, CLB Sắc màu thiện nguyện, CLB Vănphòng trẻ, CLB Võ thuật Linh quyền đạo, CLB Thanh niên vận động hiến máu trường

ĐH Nội vụ… nhằm giúp sinh viên phát triển toàn diện, hoàn thiện bản thân và làm hànhtrang thiết yếu trong cuộc sống

* Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Tìm hiểu cơ sở lý luận về năng lực tự hoàn thiện của sinh viên các trường Đạihọc thông qua hoạt động của Câu lạc bộ

- Đánh giá thực trạng năng lực tự hoàn thiện của sinh viên trường Đại học Nội vụ

Hà Nội thông qua hoạt động của Câu lạc bộ

- Đề xuất một số biện pháp nhằm năng cao năng lực tự hoàn thiện của sinh viênđang theo học tại trường Đại học Nội vụ Hà Nội thông qua hoạt động của các Câu lạc bộtrong Trường

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Năng lực tự hoàn thiện của sinh viên đại học hệ chính quyđang học tập tại trường Đại học Nội vụ Hà Nội

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực trạng và đề xuất cácgiảipháp nâng cao năng lực tự hoàn thiện của sinh viên đại học hệ chính quy đang học tập tạiTrường Đại học Nội vụ Hà Nội thông qua hoạt động của các Câu lạc bộ trong Trường

+ Không gian: Trường Đại học Nội vụ Hà Nội

+ Thời gian: Nghiên cứu cơ sở lý luận, các tài liệu, công trình liên quan từ đầunhững năm 2010 đến nay; đánh giá thực trạng năng lực tự hoàn thiện của sinh viên chínhquy học tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội từ năm 2018-2020; đề xuất các giải pháp nângcao năng lực tự hoàn thiện của sinh viên chính quy học tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nộithông qua hoạt động của các Câu lạc bộ đến năm 2025

Trang 13

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu cơ sở lý luận: Tiến hành nghiên cứu lý luận thông qua

các nguồn tài liệu thứ cấp (sách, báo, tài liệu lưu trữ, công trình khoa học…) về năng lực

tự hoàn thiện của sinh viên Từ đó tổng hợp và hệ thống hóa những thông tin từ lý thuyết

đã thu thập được

- Phương pháp điều tra, khảo sát: Thực hiện khảo sát trên diện rộng về thực trạng

năng lực của sinh viên đại học hệ chính quy đang học tập tại trường Đại học Nội vụ HàNội

- Phương pháp xử lí thông tin, dữ liệu: Thống kê toán học và sử dụng phần mềm

tin học để xử lí các kết quả nghiên cứu; mô hình hóa, sơ đồ hóa các kết quả nghiên cứu.Các tài liệu đã điều tra được sẽ được xử lí và trở thành nội dung quan trọng trong bàinghiên cứu

- Ngoài ra đề tài còn sử dụng kết hợp các phương pháp như: so sánh, phân loại,giả thuyết… để phục vụ cho quá trình nghiên cứu

6 Giả thuyết nghiên cứu

Thực tế cho thấy vị trí việc làm của sinh viên sau khi ra Trường phụ thuộc chủ yếuvào thái độ và các kĩ năng mềm như giao tiếp, lắng nghe, thuyết phục,… Bởi vậy mà ngaykhi còn ngồi trên ghế nhà trường, sinh viên không những phải học tập kiến thức mà còncần phải lưu ý trau dồi, rèn luyện về thái độ sống, về các kĩ năng Nói cách khác, mỗi sinhviên cần phải tự hoàn thiện bản thân Điều này không chỉ giúp ích trong công việc mà còn

là chìa khóa để kết nối và cùng chung sống với mọi người

Những năm gần đây xuất hiện rất nhiều các lớp học, các khóa học kĩ năng… có thểgiúp các bạn sinh viên hoàn thiện bản thân Tuy nhiên, không phải ai cũng có điều kiện vềthời gian và tiền bạc để tham dự các khóa học này, bên cạnh đó sinh viên còn có nguy cơrủi ro khi có thể bị các trung tâm lợi dụng, lừa đảo hoặc chất lượng khóa học không đảmbảo theo chuẩn đầu ra đã cam kết Xuất phát từ thực tiễn đó, các cơ sở giáo dục đại học đã

có nhiều nỗ lực trong việc tạo ra một sân chơi an toàn, bổ ích cho sinh viên Tham giahoạt động trong các Câu lạc bộ trong Trường Đại học là một trong những giải pháp có thểgiúp sinh viên nâng cao năng lực tự hoàn thiện bản thân Khi là thành viên của các CLBnày, các bạn sinh viên sẽ được học hỏi chia sẻ kĩ năng, kinh nghiệm từ các anh chị khóatrước Đây không chỉ là một môi trường lành mạnh bổ ích, ai cũng có thể tham gia, màcòn là một sân chơi cho sinh viên, là cầu nối giữa sinh viên và doanh nghiệp

Trang 14

7 Đóng góp mới của đề tài

Đề tài “Nâng cao năng lực tự hoàn thiện của sinh viên Trường Đại học Nội vụ

Hà Nội thông qua hoạt động của các Câu lạc bộ” có những đóng góp mới trong các góc

Về thực tiễn, Đề tài đánh giá một cách khách quan và toàn diện việc hình thànhnăng lực tự hoàn thiện của sinh viên trường Đại học Nội vụ Hà Nội thông qua các hoạtđộng của Câu lạc bộ hiện nay với những đặc thù riêng so với các hoạt động khác của sinhviên trong quá trình học tập tại trường Đại học Đánh giá và chỉ ra những kết quả, nhữngtồn tại và nguyên nhân trong việc hình thành năng lực tự hoàn thiện của sinh viên trườngĐại học Nội vụ Hà Nội thông qua các hoạt động của Câu lạc bộ Qua đó, góp phần thayđổi nhận thức và hành động của sinh viên, các giảng viên, cố vấn học tập, lãnh đạo quản

lý nhà trường và các đốitượng khác trong việc nâng cao năng lựctự hoàn thiện bản thâncủa mỗi sinh viên trường Đại học Nội vụ;

Trên kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn, nhóm tác giả đề xuất các giải phápnâng cao năng lực tự hoàn thiện của sinh viên trường Đại học Nội vụ Hà Nội thông quacác hoạt động của Câu lạc bộ, hệ thống được khung các yếu tố hình thành năng lực tựhoàn thiện bản thân, tiêu chí nâng cao năng lực tự hoàn thiện, hoạt động của CLB tácđộng tới năng lực tự hoàn thiện của sinh viên

8 Kết cấu của đề tài

Ngoài lời cảm ơn, lời cam đoan, mục lục, phần mở đầu, tài liệu tham khảo, kếtluận và phụ lục, kết cấu của đề tài gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận về năng lực tự hoàn thiện của sinh viên các Trường Đại

học thông qua hoạt động của Câu lạc bộ

Chương 2 Thực trạng năng lực tự hoàn thiện của sinh viên Trường Đại học Nội

vụ Hà Nội thông qua hoạt động của Câu lạc bộ

Chương 3 Quan điểm và giải pháp nâng cao năng lực tự hoàn thiện của sinh viên

Trang 15

Trường Đại học Nội vụ Hà Nội thông qua hoạt động của các Câu lạc bộ.

Trang 16

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC TỰ HOÀN THIỆN CỦA SINH VIÊN CÁC

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG CÂU LẠC BỘ

1.1 Các khái niệm chung

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của năng lực tự hoàn thiện

- Khái niệm về năng lực

Có rất nhiều quan điểm khác nhau về năng lực tùy theo góc độ tiếp cận Trongquan điểm của các nhà triết học mácxít, năng lực và năng lực tự hoàn thiện con ngườiđược đặt trong tổng hòa về phẩm chất, nhân cách của con người Con người là một thựcthể thống nhất giữa cái tự nhiên và cái xã hội Với tư cách là thực thể tự nhiên, hơn nữa làthực thể tự nhiên sống, con người “được phú cho những lực lượng tự nhiên, những lựclượng sống, nó là thực thể tự nhiên hoạt động; những lực lượng đó tồn tại trong nó dướihình thức thiên bẩm và năng lực, dưới hình thức năng khiếu” [17, tr.342] Như vậy, cácnăng lực hình thành trên cơ sở của các tư chất tự nhiên bẩm sinh và dưới hình thức năngkhiếu Tuy nhiên, trên cơ sở chung của các đặc điểm năng lực giống loài, những động cơ,hứng thú, nhân cách được hình thành phụ thuộc vào điều kiện xã hội cụ thể của cuộc sống

cá nhân, hay là “tính hiện thực”, là các mối “quan hệ xã hội” của con người Mỗi cá nhânbiến tiềm năng giống loài, tiềm năng của các mối quan hệ xã hội thành nhân cách thôngqua hoạt động, học tập, giáo dục trong điều kiện lịch sử cụ thể của đời sống cá nhân.Năng lực được đặt trong tổng hòa nhân cách, phẩm chất của con người, nhưng năng lựccon người không phải hoàn toàn tự nhiên mà chủ yếu do hoạt động, học tập, rèn luyện vàgiáo dục mà có Theo C.Mác, “tư tưởng căn bản không thể thực hiện được cái gì hết.Muốn thực hiện tư tưởng thì cần có những con người sử dụng lực lượng thực tiễn” [11,tr.181] và “đời sống thực tiễn” là nơi sản sinh ra mọi năng lực, tài năng

Theo C.Mác và Ph Ăngghen, năng lực của mỗi người chính là sức mạnh vốn cóhoặc do học tập, rèn luyện, tu dưỡng dưới dạng tiềm năng, khả năng, mang tính chủ quankết hợp với những lực lượng vật chất khơi dậy tiềm năng sức mạnh đó của mỗi cá nhânnhằm đạt được mục tiêu nhất định C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng: Cái năng lực cho đếnnay chỉ tồn tại như một tiềm năng ở những cá nhân tự giải phóng mình, bắt đầu hoạt độngnhư là một sức mạnh thực sự, hoặc là cái sức mạnh đã tồn tại đó lớn lên nhờ việc thủ tiêu

sự hạn chế Việc thủ tiêu sự hạn chế, kết quả đơn thuần của sự sáng tạo ra sức mạnh mới,tất nhiên có thể được coi là cái chủ yếu [12, tr.439]

Kế thừa quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin cho rằng, thông qua hoạtđộng thực tiễn, con người mới phát lộ tài năng Những phẩm chất “kết hợp với năng lực

Trang 17

hiểu biết về con người, với năng lực giải quyết những vấn đề tổ chức, thì mới có thể rènluyện ra những nhà tổ chức lớn” [137, tr.94] Tuy chưa đưa ra quan niệm về năng lực,nhưng V.I.Lênin luôn đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ trong xây dựng xã hội mới, phải chú trọngphát triển các năng lực cho con người, nhất là đội ngũ lãnh đạo như năng lực lao động,năng lực nhận thức, năng lực tư duy, năng lực tổ chức thực tiễn, năng lực lãnh đạo, Theo ông, “một trong những nhiệm vụ quan trọng bậc nhất trong sự nghiệp xây dựngquân đội là đào tạo những chiến sĩ có năng lực nhất, có nghị lực nhất và trung thành nhấtvới sự nghiệp của chủ nghĩa xã hội, để họ lên nắm các chức vụ chỉ huy” [137, tr.514], hay,

“điều rất quan trọng là tìm ra được một đồng chí có đủ những năng lực” [137, tr.274]

Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, năng lực chính là mặt “tài” của con người Bêncạnh “đức” thì “tài” là một yếu tố không thể thiếu được của con người, nhất là với ngườicán bộ Người cán bộ phải “chuyên”, phải có “tài”, có năng lực, trí tuệ, trình độ chuyênmôn, có năng lực lãnh đạo, quản lý, có năng lực tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương,chính sách của Đảng, Nhà nước,v.v Nhận thức rõ vai trò, tầm quan trọng của năng lực,Người đặc biệt chú trọng việc tuyển dụng “những người có năng lực, có đạo đức vào gánhvác công việc to tát của quốc gia” [71, tr.132] Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, “bất kỳ cơquan nào, bộ đội nào, cũng cần phải chọn một nhóm người hăng hái, trung thành, có nănglực, giữ kỷ luật, đoàn kết họ thành nhóm trung kiên lãnh đạo” [72, tr.330] Vì vậy, “Việcdùng nhân tài, ta không nên căn cứ vào những điều kiện quá khắt khe Tài to ta dùng làmviệc to, tài nhỏ ta cắt làm việc nhỏ, ai có năng lực về việc gì, ta đặt ngay vào việc ấy” [71,tr.43]

Có thể thấy, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin và Chủ tịch Hồ ChíMinh chưa đưa ra định nghĩa đầy đủ về năng lực, nhưng đã đưa ra những gợi mở, địnhhướng cho việc xây dựng khái niệm cũng như việc phát triển năng lực con người cho cácnhà nghiên cứu sau này Cho đến nay, đã có nhiều nhà nghiên cứu, tùy theo mỗi góc độtiếp cận, hiểu khái niệm năng lực theo nhiều chiều cạnh khác nhau

Nhiều nhà nghiên cứu quan niệm năng lực là một tổ hợp phẩm chất tâm lý cá nhân,

là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của con người; năng lực của con người luôn gắnliền với hoạt động của chính họ Để thực hiện có hiệu quả các hoạt động của mình, conngười cần phải có một số phẩm chất tâm lý cần thiết và tổ hợp những phẩm chất này đượcgọi là năng lực Khi nói đến năng lực cần phải hiểu năng lực không phải là một thuộc tínhtâm lý duy nhất nào đó mà là tổng hợp các thuộc tính tâm lý cá nhân đáp ứng được nhữngyêu cầu hoạt động thực tiễn và bảo đảm hoạt động đó đạt được kết quả tối ưu Theo tácgiả Phạm Tất Dong: “Năng lực là sự tổng hợp những thuộc tính của cá nhân con người,đáp ứng những yêu cầu của hoạt động và đảm bảo cho hoạt động đạt được những kết quảcao” [26, tr.72]

Trang 18

Phạm Minh Hạc cũng khẳng định: “Năng lực chính là một tổ hợp đặc điểm tâm lýcủa một con người (còn gọi là tổ hợp thuộc tính tâm lý của nhân cách), tổ hợp đặc điểmnày vận hành theo một mục đích nhất định, tạo ra kết quả của một hoạt động nào đấy”,hay, “năng lực là các đặc điểm tâm lý cá biệt tạo thành điều kiện quy định tốc độ, chiềusâu, cường độ của việc tác động và đối tượng lao động” [42, tr.146] Lê Thị Bừng vàNguyễn Thị Vân Hương cũng quan niệm, năng lực là “tổng hợp những thuộc tính độc đáocủa cá nhân, phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằmđảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy” [10, tr.10] Các nhànghiên cứu ở góc độ tiếp cận này đã khẳng định năng lực là một thuộc tính tâm lý vô cùngquan trọng đối với mỗi con người Năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lýcủa cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảocho hoạt động đó đạt hiệu quả cao Năng lực cho biết con người có thể làm được gì vàlàm đến đâu, nó bảo đảm cho con người tiến hành được các hoạt động cải tạo tự nhiên và

xã hội hiệu quả

Bên cạnh đó, có rất nhiều người coi năng lực là khả năng, tiềm năng, kỹ năng…bẩm sinh sẵn có hoặc được hình thành thông qua rèn luyện của con người nhằm đạt đượchiệu quả hành động Theo Amartya Sen, năng lực là tổ hợp khả năng thực hiện các chứcnăng (hay đạt được các chức năng) Nói cách khác, năng lực là sự tự do hiện thực mà conngười được thụ hưởng để cuộc sống có ý nghĩa [153, tr.97] Năng lực liên quan đến cácthiết lập của chức năng có giá trị mà một người có thể tiếp cận được một cách có hiệuquả Năng lực của một người đại diện cho tự do hiệu quả của một người để lựa chọn giữanhững sự kết hợp các chức năng khác nhau - giữa các dạng khác nhau của cuộc sống màngười đó có lý do để coi trọng [108, tr.67] Theo ông, năng lực gắn liền với khả năng củamột cá thể hoặc sức mạnh để đạt được những chức năng nhất định Denys Tremblay, nhàtâm lý học người Pháp lại quan niệm rằng: “Năng lực là khả năng hành động, đạt đượcthành công và chứng minh sự tiến bộ nhờ vào khả năng huy động và sử dụng hiệu quảnhiều nguồn lực tích hợp của cá nhân khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống” [148,tr.12] Đối với Joe Bolger, năng lực được hiểu là “khả năng, kỹ năng, sự hiểu biết, thái độ,các giá trị, các mối quan hệ, hành vi, động lực, nguồn lực và điều kiện cho phép các cánhân, tổ chức, ngành nghề và hệ thống xã hội rộng lớn hơn để thực hiện các chức năng vàđạt được mục tiêu phát triển của họ theo thời gian” [150, tr.2] Theo F.E.Weinert: “Nănglực là những kỹ năng, kỹ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tìnhhuống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xã hội và khả năng vận dụng các cáchgiải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt”[156, tr.12]

Tác giả Nguyễn Văn Tuấn quan niệm, năng lực là “khả năng thực hiện có tráchnhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tìnhhuống khác nhau thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết,

Trang 19

kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động” [134, tr.9] Tác giả BùiThị Hường cho rằng, năng lực là “khả năng bên trong của mỗi con người, khả năng tạo ramột sức mạnh vượt trội với nhóm, với cộng đồng, biết làm chủ bản thân và lôi cuốn ngườikhác vào hoạt động đạt hiệu quả cao” [51, tr.186] Tác giả Đinh Thị Hồng Minh cũngkhẳng định: “Năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả và có trách nhiệm các hànhđộng, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhântrong những tình huống khác nhau trên cơ sở kết hợp sự hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinhnghiệm” [77, tr.6].

Như vậy, đã có nhiều cách hiểu khác nhau về năng lực Từ mỗi một góc độ tiếpcận, có thể thấy được ít nhiều sự hợp lý và tính khoa học của các quan niệm này Năng lực

là khả năng hiện thực của một chủ thể xác định, không có năng lực chung chung, trừutượng, tách rời chủ thể Khả năng đó luôn phải đi kèm với việc đáp ứng một cách hiệuquả những yêu cầu của hoạt động, đảm bảo cho hoạt động đạt kết quả tối ưu Năng lựccủa con người thể hiện, bộc lộ qua việc thực hiện thành công hoạt động, nhưng bản thân

nó không phải là hoạt động Nó là kết quả “huy động” tổng hợp các kiến thức, kỹ năng vàcác thuộc tính tâm lý cá nhân khác nhưng không phải chính “sự huy động” ấy [3, tr.23]

Vì vậy, có thể hiểu, năng lực là tổng hợp các thuộc tính riêng có của chủ thể tạo thành khả năng đáp ứng những yêu cầu của hoạt động và bảo đảm cho hoạt động đó đạt kết quả tối ưu Các thuộc tính riêng có của chủ thể này không chỉ được hiểu đơn giản theo

nghĩa gốc của từ “thuộc tính” (là đặc tính vốn có của một sự vật, nhờ đó sự vật tồn tại, vàqua đó, con người nhận thức được sự vật, phân biệt được sự vật này với sự vật khác); mà

ở đây, nó là sự kết hợp giữa cái bẩm sinh sẵn có với những đặc tính hình thành và pháttriển nhờ quá trình học tập, rèn luyện, hoạt động thực tiễn của con người [3, tr.23, 24]

Trong thực tế, khái niệm năng lực và khả năng, kỹ năng trong nhiều trường hợpđược dùng với nghĩa như nhau, nhưng chúng không hoàn toàn đồng nhất với nhau Nănglực, khả năng, kỹ năng đều dùng để chỉ khả năng đáp ứng được yêu cầu của hoạt động củacon người Năng lực là khả năng hiện thực, khả năng đáp ứng được yêu cầu của hoạt động

và bảo đảm cho hoạt động đó đạt kết quả tối ưu nhất Năng lực của con người được hìnhthành và phát triển không chỉ dựa trên cơ sở những yếu tố bẩm sinh sẵn có, mà còn thôngqua tự học tập, rèn luyện và hoạt động thực tiễn Còn khả năng được hiểu là cái có thểxuất hiện, có thể xảy ra khi có những điều kiện nhất định; là cái vốn có về vật chất hoặctinh thần để có thể làm được việc gì; là những phẩm chất thể hiện khả năng làm một côngviệc nào đó Khả năng là cái vốn có của một người từ khi sinh ra, nó phụ thuộc vào cấutạo di truyền của người đó Kỹ năng là sự thực hiện thuần thục một hay một chuỗi hoạtđộng trên cơ sở hiểu biết (kiến thức hoặc kinh nghiệm) nhằm tạo ra kết quả mong đợi; là

sự thống nhất giữa tri thức, kinh nghiệm, thực hành của một cá nhân về một hoặc nhiềukhía cạnh nào đó được sử dụng để giải quyết tình huống hay công việc nào đó phát sinhtrong cuộc sống Kỹ năng là sự thông thạo được phát triển thông qua quá trình đào tạo,

Trang 20

thực hành và trải nghiệm Vì thế, chúng ta có thể phát triển những kỹ năng của mìnhthông qua việc trau dồi kiến thức, rèn luyện, học hỏi Như vậy, trong một số trường hợpnhất định, một khả năng, kỹ năng nào đó cũng được hiểu là một loại năng lực của conngười và nhiều khả năng, kỹ năng có thể phát triển thành năng lực.

Ngoài ra, còn một số khái niệm như kỹ xảo, kinh nghiệm… trong một số trườnghợp cũng được coi là năng lực Ở đây, kỹ xảo có thể hiểu là những kỹ năng được lặp đilặp lại nhiều lần đến mức thuần thục; còn kinh nghiệm là những tri thức từ thực tiễn được

cá nhân lĩnh hội và tích lũy thông qua hoạt động và giao tiếp Vì vậy, kỹ xảo và kinhnghiệm chỉ là một trong những thành tố cấu thành nên năng lực, nếu chỉ có kỹ xảo vàkinh nghiệm không thôi thì chưa thể gọi đó là năng lực Trong quá trình hoạt động củamình, mỗi cá nhân cần phải biến kiến thức thành tri thức, thường xuyên rèn luyện để hìnhthành kỹ năng, kỹ xảo; đồng thời kế thừa và tiếp thu kinh nghiệm từ các thế hệ đi trước đểphát triển năng lực của bản thân

- Khái niệm năng lực tự rèn luyện

Tự rèn luyện là một dạng hoạt động thực tiễn mang tính độc lập, tự chủ và có tính

tự giác cao Đối với con người, tự rèn luyện được xác định như sự gắn kết giữa lý luận vàthực tiễn, giúp họ không ngừng nâng cao bản lĩnh, thể lực, khơi dậy tiềm năng trí tuệ và

sự sáng tạo đáp ứng yêu cầu hoạt động trong các lĩnh vực Do đó, sự hình thành năng lực

tự hoàn thiện là sự thống nhất giữa cái phổ biến, cái đặc thù và cái đơn nhất Thông quaquan hệ xã hội và cộng đồng xã hội, mỗi cá nhân khẳng định bằng cách tự rèn luyện bảnthân từ đó cá nhân mới có phương tiện để phát triển toàn diện những năng lực của mình

Vì vậy, năng lực tự hoàn thiện được xem xét ở những con người đã có sự trưởng thành vềthể lực, trí tuệ và các phẩm chất xã hội, tham gia vào các mối quan hệ xã hội, có đầy đủnăng lực tự làm chủ hành vi

Năng lực tự rèn luyện rất rõ nét, thể hiện tính chủ quan trong hành động, được hìnhthành theo quy luật hình thành và phát triển nhân cách Do đó, năng lực tự rèn luyện làmột trong những yếu tố để đánh giá sự khác biệt của cá nhân, người này nỗ lực hơn ngườikia liên quan đến hiệu quả thực hiện một hoạt động nào đó, chứ không phải bất kỳ những

sự khác nhau cá biệt chung chung nào Năng lực tự rèn luyện ở mỗi người không giốngnhau Năng lực rèn luyệm luôn gắn với một hoạt động nhất định của chủ thể và sẽ bộc lộkhi chủ thể ấy hoạt động Kết quả của hoạt động đó là cơ sở để đánh giá năng lực tự rèn

luyện trong hoạt động Như vậy, có thể hiểu, năng lực tự hoàn thiện là tổng hợp những kiến thức, kỹ năng và thái độ có được khi bản thân mỗi cá nhân vượt lên khó khăn, trở ngại, không ngừng lao động, học tập, tu dưỡng, rèn luyện, phát huy ưu điểm, khắc phục, sửa chữa khuyết điểm, không có thái độ hài lòng với bản thân, luôn đề ra những yêu cầu mới cao hơn cho bản thân để nỗ lực cố gắng hoàn thành

- Đặc điểm năng lực tự rèn luyện

Trang 21

Đặc điểm thứ nhất của năng lực tự hoàn thiện là được bộc lộ thể hiện qua hànhđộng, đặc điểm này bộc lộ ở hoạt động (hành động, công việc) nhằm đáp ứng những yêucầu cụ thể trong bối cảnh (điều kiện) cụ thể Đây là đặc trưng phân biệt năng lực tự hoànthiện với tiềm năng (potential) – khả năng ẩn giấu bên trong, chưa bộc lộ ra, chưa phải làhiện thực Một số tài liệu của Việt Nam còn cho rằng năng lực gắn với các “dạng hoạtđộng”, “loại hoạt động”, “loại công việc” Việc quy chiếu năng lực với loại hoạt độnggiúp chúng ta phân biệt năng lực với kĩ năng (skill) – một thành tố của năng lực Nănglực tự hoàn thiện cũng gắn với một hoặc nhiều loại hoạt động, nó phụ thuộc vào ăng lựccủa từng cá nhân, khi bản thân mỗi cá nhân có nhu cầu muốn hoàn thiện một kỹ năng nào

đó thì năng lực tự hoàn thiện hiện diện Ví dụ một người không có tài ăn nói khi họ cónăng lực tự hoàn thiện họ sẽ chủ động tìm tòi, học hỏi cách để thực hành và rèn luyện kỹnăng giao tiếp

Đặc điểm thứ hai của năng lực tự hoàn thiện là đảm bảo hoạt động có hiệu quả, đạtđược kết quả mong muốn, đặc điểm này được hầu hết các tài liệu nghiên cứu trong nước

và nước ngoài thống nhất đó là tính “hiệu quả”, “thành công” hoặc “chất lượng cao” củahoạt động Đặc trưng này giúp ta phân biệt NL với một khái niệm ở vị trí giữa nó với tiềmnăng là khả năng Khả năng là cái tồn tại ở dạng tiềm năng, có thể biến thành hiện thựckhi cần thiết và khi có các điều kiện thích hợp, nhưng cũng có thể không biến thành hiệnthực

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của sinh viên các trường Đại học

Khái niệm sinh viên.

Theo quy chế công tác học sinh sinh viên trong các trường đào tạo: Sinh viên lànhững người đang học trong hệ đại học và cao đẳng

Thuật ngữ “sinh viên” có nguồn gốc tiếng La tinh “Studens” có nghĩa là nhữngngười làm việc nhiệt tình để tìm hiểu và khai thác tri thức

Theo từ điển tiếng Việt, “sinh viên” là thuật ngữ dùng để chỉ những người đanghọc tập ở các trường đại học và cao đẳng Muốn trở thành sinh viên phải có đủ điều kiện:

đã tốt nghiệp phổ thông trung học, bổ túc trung học, hoặc trung học chuyên nghiệp, có đủsức khoẻ để học tập và lao động, tuổi đời không quá 32 tuổi tính đến ngày tuyển vào (nếu

là công nhân, bộ đội được phép đến 35 tuổi); là công dân của nước Cộng hoà xã hội chủnghĩa Việt Nam, đạt điểm tuyển chọn qua kỳ thi tuyển quốc gia

Trong từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê: “Thuật ngữ này được dùng để chỉ những người đang theo học ở bậc Đại học Theo tác giả, sinh viên là những người trưởng thành

về thể chất, xã hội và tâm lý, đó là những người ở độ tuổi khoảng 18 – 25 và đang theo học tại các trường Cao đẳng, Đại học” [19 ,tr860]

Trang 22

Như vậy ta có thể hiểu: Sinh viên là những người ở độ tuổi khoảng từ 18 – 25, là những người trưởng thành về thể chất, xã hội và tâm lý, đang theo học tại các trường cao đẳng, đại học để tìm hiểu và khai thác tri thức.

- Các đặc điểm tâm lý cơ bản của sinh viên.

Một là, Sự phát triển về nhận thức, trí tuệ của sinh viên:

Sinh viên khác với các giai đoạn trước khi vào học ở các trường đại học, do đã cónhững kiến thức về xã hội, lịch sử, lại chịu tác động rõ nét của dư luận xã hội và môitrường giáo dục đại học, trong đó đề cao khả năng tự đánh giá và biểu thị ý kiến cá nhân,nên có cơ hội để khẳng định và định hình rõ nét hệ thống thái độ và định hướng giá trị, từ

đó hình thành thế giới quan, nhân sinh quan, niềm tin và lý tưởng Sự hình thành và điềuchỉnh để hoàn thiện các thuộc tính của nhân cách diễn ra với tốc độ nhanh, cường độmạnh cùng với tác động mạnh mẽ của cảm xúc có sự phân cực rõ ràng Khả năng chịu sựtác động bên ngoài một cách nhanh nhạy có thẩm định và tự điều chỉnh để quá trình hoànthiện của SV diễn ra liên tục, có tốc độ cao

Với sinh viên, việc hình thành các chuẩn mực giá trị, các đặc điểm nhân cáchkhông bắt nguồn từ sự nhận thức một cách bị động, theo những công thức xác định, mà

nó bắt nguồn từ sự nhận thức một cách chủ động, sâu sắc, trên cơ sở có sự đánh giá vàkiểm nghiệm một cách nhạy bén và toàn diện Chính điều đó tạo ra sự định hình bềnvững, đồng thời sự hoàn thiện nhân cách được diễn ra nhanh hơn, chất lượng hơn Sự tìmtòi, vươn đến mức thúc đẩy SV muốn thử nghiệm và có những quan điểm mới, tính cáchmới và sự khám phá cá nhân Tuy nhiên, khi sự kiểm nghiệm, thử nghiệm đó được thựchiện trên nền của những hiểu biết còn chưa đầy đủ cộng với tính bồng bột và lãng mạncủa tuổi trẻ có thể gây ra những hậu quả khôn lường

Hai là, Sự phát triển xúc cảm – tình cảm của sinh viên.

Ở tuổi sinh viên, mọi tình cảm đạo đức cũng thường được gắn liền với nhữngnguyên tắc và tiêu chuẩn đạo đức trong nhận thức Do đó sinh viên có khả năng tự phântích, đánh giá những tình cảm của mình Đó là một điều kiện tốt để tiến hành tu dưỡngđạo đức Sinh viên có nhu cầu muốn hiểu biết, muốn phân tích những tình cảm của mình

và tìm cách thể hiện những tình cảm đó Bên cạnh đó, tình cảm trách nhiệm và tình cảmnghĩa vụ cũng phát triển mạnh Một điểm đáng chú ý về tình cảm của sinh viên là sự pháttriển tình cảm bạn bè và tình yêu nam nữ, tình bạn giúp đỡ nhau trong học tập, lao động

và sinh hoạt Sinh viên cảm thấy vui sướng khi hoàn thành những công việc khó khăntrong học tập và nhiều sinh viên có xu hướng muốn đi sâu vào lĩnh vực nghiên cứu nhữngđiều mà mình thích, trăn trở khi công việc không hoàn thành

Trang 23

1.1.3 Khái niệm và hoạt động của Câu lạc bộ

- Khái niệm về Câu lạc bộ:

Trong giai đoạn hiện nay, xã hội ngày một phát triển, nhu cầu của đoàn viên thanh niêntheo đó cũng ngày càng cao hơn Chính vì vậy, việc đổi mới nội dung, phương thức hoạt độngcủa tổ chức Đoàn, Hội ở các trường Đại học, Cao đẳng để đáp ứng được tâm tư nguyện vọng củađoàn viên, thanh niên là điều cần thiết Nó góp phần xây dựng tổ chức Đoàn, Hội trở thành máinhà chung để đoàn kết, giáo dục và rèn luyện sinh viên Trước thực tiễn đó, Đoàn Thanh niên vàHội Sinh viên các trường Đại học đã nỗ lực tìm kiếm những phương cách và mô hình hoạt độngmới nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn Trong đó, việc xây dựng và phát triển các Câu lạc bộ(CLB), đội nhóm sinh viên theo sở thích, chuyên môn, năng khiếu là một hướng đi mang lại hiệuquả thiết thực giúp nâng cao chất lượng hoạt động của Đoàn, Hội cũng như hỗ trợ tích cực chosinh viên trong học tập và rèn luyện

Có rất nhiều khái niệm về Câu lạc bộ (CLB) , có thể kể đến như :

CLB là một tổ chức được thành lập theo sự tự nguyện của mỗi người đồng sở thích, tiếnhành bằng những hoạt động nhằm thoả mãn những nhu cầu về học hỏi, vui chơi, giải trí có chungmột mục đích từ một mục đích này mà đề ra chương trình hoạt động của mình sao cho phù hợpvới khả năng và thời gian rỗi của các thành viên và khi hoạt động CLB, nhóm, đội lớn mạnh, sốhội viên đông thì lại có thể chia ra các nhóm nhỏ hơn để đáp ứng được nhu cầu và sở thích riêngbiệt hơn

Theo Từ điển Tiếng Việt , CLB là tổ chức được lập ra cho nhiều người tham gia sinh hoạtvăn hoá , giải trí trong những lĩnh vực nhất định

Theo nhận định của nhóm nghiên cứu, Câu lạc bộ là nơi tập hợp những thành viên có cùng sở thích, cùng nhu cầu nhằm thực hiện một mục đích nhất định

- Hoạt động của Câu lạc bộ

Câu lạc bộ Sinh viên là nơi có những hoạt động phong phú, phù hợp với nhu cầu lợi íchcủa sinh viên, tạo môi trường cho các sinh viên có khả năng và năng khiếu được bộc lộ, pháttriển Bên cạnh định hướng giá trị mới, tạo điều kiện cho sinh viên trưởng thành về mọi mặt

Hoạt động trong Câu lạc bộ tùy từng nơi tổ chức sẽ có nhiều mô hình hoạt động đa dạng như là những hoạt động giáo dục ,thể chất ,tinh thần … qua đó giúp các thành viên trong Câu lạc

bộ được hỏi hỏi thêm nhiều những kĩ năng hay kiến thức mới

Các hoạt động của các Câu lạc bộ có thể được phân loại như sau: (1) Các Câu lạc bộ doNhà trường tổ chức, (2) Các Câu lạc bộ do Đoàn Thanh niên tổ chức, (3) Các Câu lạc bộ doKhoa tổ chức, (4) Các câu lạc bộ do cá nhân tổ chức Trong đó, có thể kể đến các hình thức tổchức như: Đội thanh niên xung kích, Câu lạc bộ truyền thông, Câu lạc bộ thiện nguyên, Câu lạc

Trang 24

bộ hiến máu nhân đạo, Câu lạc bộ âm nhạc… Ở mỗi trường Đại học sẽ có những hình thức tổchức Câu lạc bộ khác nhau tùy theo chức năng, nhiệm vụ và đặc thù của trường đó, nhưng nhìnchung, hoạt động của CLB đều hướng đến hỗ trợ sinh viên hoàn thiện được các kỹ năng của bảnthân, tạo sân chơi lành mạnh cho đội ngũ này có thể giao lưu, học hỏi và phát triển bản thân bêncạnh việc học tập trên ghế nhà trường.

1.1.4 Vai trò và ý nghĩa của Câu lạc bộ trong việc nâng cao năng lực tự hoàn thiện của sinh viên các trường Đại học

Trong môi trường giáo dục Đại học, việc tổ chức và mở rộng các mô hình Câu lạc

bộ (CLB), đội, nhóm là một trong những phương pháp hữu hiệu để thu hút sinh viên thamgia các hoạt động đoàn thể Việc thành lập các CLB, đội, nhóm xuất phát từ nhu cầu,nguyện vọng, sở thích của sinh viên và xu hướng phát triển của xã hội ới nhiều cách thứchoạt động hiệu quả, mô hình này trở thành cánh tay nối dài của Đoàn Thanh niên - Hộisinh viên nhà trường, là nơi ươm mầm tài năng và rèn luyện, nâng cao các kỹ năng chosinh viên

Việc thành lập và phát triển CLB, đội, nhóm góp phần tạo môi trường học tập, rènluyện năng động, tích cực cho sinh viên Chính vì thế, sinh hoạt ở CLB, đội, nhóm là mộttrong những cách giúp sinh viên trau dồi kiến thức, kỹ năng để đáp ứng nhu cầu nhà tuyểndụng trong tương lai

Sinh viên sẽ hiểu rõ về chính mình Tham gia CLB tạo cho sinh viên có nhiều cơhội để tìm hiểu về bản thân, điểm mạnh, điểm yếu của chính mình Với những công việc,nhiệm vụ mà CLB đưa ra sinh viên được trải nghiệm, thử sức và nhận được rất nhiều điều

mà ngay chính bản thân mình cũng không ngờ tới CLB cũng sẽ giúp sinh viê học về cáchgiải quyết tình huống khi gặp một sự bất ngờ Với mỗi sự cố, sinh viên sẽ rút kinh nghiệmcho bản thân và phát triển mỗi ngày Sinh viên sẽ phát triển kỹ năng mềm Kỹ năng mềm

là một trong những công cụ giúp sinh viên hoàn thiện và phát triển bản thân Đó là những

kỹ năng giúp sinh viên tương tác tốt hơn người khác trong giao tiếp, trong cách xử lý tìnhhuống hay quản lý Tham gia vào các CLB hay tổ chức không chỉ dạy sinh viên những kỹnăng xã hội mà còn giúp sinh viên cải thiện những nhược điểm và phát triển những ưuđiểm sinh viên có Sinh viên sẽ được học hỏi các kỹ năng: kỹ năng quản lý thời gian, kỹnăng làm việc nhóm, kỹ năng thuyết trình hay vô số những kỹ năng khác Sinh viên cũnghọc được cách ứng xử với cá nhân đến những tổ chức lớn Sinh viên sẽ có được sự nhạybén, thành thạo và linh hoạt với mọi hoàn cảnh

Mở rộng quan hệ CLB là một trong những môi trường giúp sinh viên làm quennhanh nhất và dễ dàng nhất Trong một CLB, có rất nhiều thành viên với nhiều lĩnh vựckhác nhau Từ những sinh viên đồng trang lứa, các anh chị hơn tuổi,… Mỗi người có mộtthế mạnh và điểm yếu riêng Sinh viên sẽ được làm quen với tất cả mọi người và xây

Trang 25

dựng mối quan hệ từ đó Đồng thời, sinh viên cũng được học hỏi và mở rộng tầm nhìn từnhững người sinh viên quen Đặc biệt, những mối quan hệ này sẽ giúp sinh viên trongcông việc và những khó khăn sau này sinh viên gặp phải sau này Có những kỷ niệmtrong năm tháng học Đại học khác với cấp 3 chính là những trải nghiệm sinh viên sẽ tíchlũy Khi tham gia CLB, sinh viên sẽ có khoảng thời gian đào tạo cuối tuần, những hoạtđộng ngoại khóa kết nối các thành viên, những chuyến dã ngoại mỗi năm Sinh viên sẽđược sống trong tuổi trẻ đầy nhiệt huyết, được chơi và làm việc với những người cóchung sở thích, thói quen Khi ra trường sinh viên sẽ mang theo mình những kỷ niệmthanh xuân tuổi 20 mà không phải ai cũng có.

1.2 Các tiêu chí đánh giá năng lực tự hoàn thiện của sinh viên tại các trường Đại học

Tùy theo mỗi góc độ nghiên cứu, năng lực được đánh giá ở những góc độ khácnhau, chẳng hạn như: năng lực chung và năng lực riêng; năng lực thể chất và năng lựctinh thần Có quan điểm khảo sát năng lực trên ba tiêu chí: thể lực, trí lực và tâm lực Cóquan điểm chia năng lực gồm: Năng lực cốt lõi; Năng lực chuyên môn; Năng lực hành vi.OECD thì phân chia năng lực thành năng lực chung và năng lực chuyên môn Các nhàgiáo dục học Đức thì chia năng lực thành bốn nhóm: Năng lực chuyên môn; Năng lựcphương pháp; Năng lực xã hội và Năng lực cá thể [134, tr.10-14] UNDP lại quan niệm và

đo năng lực con người bằng năng lực sinh thể (Biological Capabilities) và năng lực tinhthần (Spiritual Capabilities), v.v Một mô hình năng lực được sử dụng khá phổ biến hiệnnay trong quản trị nhân sự nhằm đào tạo và phát triển năng lực tự hoàn thiện, đó là môhình ASK mà Benjamin Bloom là người khởi xướng và sau này B.M.Bass đã kế thừa.Theo Bass, năng lực nói chung của mỗi một con người chính là sự tổng hợp giữa kiếnthức, kỹ năng và tố chất, hành vi, thái độ của người đó [144] Vì vậy, mô hình năng lựcnày dựa theo ba nhóm tiêu chuẩn chính: Phẩm chất, tố chất, hành vi, thái độ (Attitude):gồm các năng lực tiếp nhận và phản ứng lại các thực tế, năng lực xác định giá trị ; Kỹnăng (Skills): gồm các năng lực ứng dụng, vận dụng, năng lực vận dụng sáng tạo ; Kiếnthức (Knowledges): gồm các năng lực tư duy, năng lực phân tích, năng lực tổng hợp, nănglực đánh giá Trong phạm vi đề tài nhóm tác giả sẽ tiếp cận với cách đánh giá năng lực

tự hoàn thiện theo mô hình ASK vì đây là cách tiếp cận khá toàn diện và hợp lý, khái quátđược những yêu cầu cần có trong năng lực tự hoàn thiện của con người, nhất là trong thời

kỳ hội nhập quốc tế hiện nay

1.2.1 Tiêu chí về kiến thức

Tri thức bao gồm những dữ kiện, thông tin, sự mô tả, hay kỹ năng có được nhờ trảinghiệm hay thông qua giáo dục Trong tiếng Việt, cả “tri” lẫn “thức” đều có nghĩa là biết.Tri thức có thể chỉ sự hiểu biết về một đối tượng, về mặt lý thuyết hay thực hành

Trang 26

Sự tích lũy tri thức tạo nên năng lực trí tuệ của một cá nhân Dưới góc độ tâm lýhọc, trí tuệ được hiểu là sự thông minh của cá nhân, là óc phán đoán hay nói cách khác là

sự nhạy cảm, sự khôn ngoan, sáng tạo và năng lực thích nghi với hoàn cảnh (AlfredBinet); năng lực tổng hợp có mục đích của cá nhân, là năng lực tư duy một cách hợp lí vàứng xử hiệu quả với môi trường (David Wechler) hoặc khả năng suy lý, lập kế hoạch, giảiquyết vấn đề, tư duy khái quát, hiểu các ý tưởng phức tạp, học hỏi nhanh (MaintreamScience of Intelligence), … (trích dẫn bởi Hoàng Văn Luân 2010)

Năng lực trí tuệ được thể hiện trước hết thông qua trình độ học vấn, nó vừa là cơ

sở, vừa là tiêu chí xác nhận chất lượng của sinh viên Trình độ học vấn của sinh viên thểhiện ở một mặt nào đó là trình độ dân trí của một quốc gia và là một tiêu chí để xác địnhnăng lực tự hoàn thiện của sinh viên

Thực tế là, nhận thức tốt các môn học trên ghế nhà trường sẽ có tác dụng tích cựctới suy nghĩ và hành động của mỗi sinh viên trong việc nâng cao năng lực tự hoàn thiện.Người sinh viên có ý thức học tập các môn học đều hiểu được rằng tầm quan trọng củaviệc tự học khi bước chân vào cánh cửa Đại học

Thông qua việc học tập và tự học tập, sinh viên sẽ được trau dồi những kiến thức

cơ bản về các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội văn hóa.Từ đó, sinh viên sẽ tự trang bị chomình một thế giới quan khoa học, một phương pháp tư duy logic, có niềm tin vững chắcvào bản thân

1.2.2 Tiêu chí về kỹ năng

Kỹ năng liên quan đến các cử chỉ, hành động và áp dụng kiến thức Đó là nhữnghành động khi thực hiện cho phép thực hiện thành công công việc tổ chức, lập kế hoạch,quản lý nhóm làm việc Trong trường hợp này, kỹ năng gắn với hành động Kỹ năng mangtính cụ thể, dễ quan sát trong hành động và thường có được thông qua kinh nghiệm Kỹnăng có thể được dạy, được thực hành và rèn luyện trong quá trình học tập và suy nghĩ vềcách thức làm việc tốt hơn

Các kỹ năng mềm của sinh viên theo nghiên cứu “Putting higher Education toWork” của Ngân hàng Thế giới, gồm 9 kỹ năng là: tư duy sáng tạo, kỹ năng công nghệthông tin, kỹ năng tiếng Anh, kỹ năng lãnh đạo, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết vấn

đề, thái độ làm việc, kỹ năng kỹ thuật, kỹ năng tính toán/viết (trích dẫn bởi Vũ Văn Phúc

& Nguyễn Duy Hùng 2012)

Kỹ năng còn giúp tạo nên tính năng động xã hội của sinh viên, thể hiện ở khả năngthích ứng và phát triển, sự nhạy bén; khả năng tiếp nhận và làm chủ những kỹ thuật, côngnghệ mới; khả năng áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ vào thực tiễn để tạo racác sản phẩm có giá trị cho xã hội; khả năng nắm bắt được các vận hội, thời cơ; ý thức tự

Trang 27

chủ và quyết đoán cao; năng lực hoạch định các giải pháp kinh tế và thực hiện phát triểnkinh tế.

1.2.3 Tiêu chí về thái độ

Yêu cầu về phẩm chất tâm lý – xã hội biểu hiện hệ thống những giá trị về đạo đức,tinh thần của con người được hình thành và phát triển trong quá trình phát triển lâu dàicủa lịch sử Nó thể hiện ở hành vi, thái độ của sinh viên đối với việc học tập Đánh giáphẩm chất tâm lý - xã hội của sinh viên trên các khía cạnh: phẩm chất đạo đức chuẩnmực, đạo đức trong sáng, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, lập trường tư tưởng vữngvàng, bản lĩnh chính trị kiên định, ý thức công dân, lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội;

kỷ luật, tác phong làm việc công nghiệp… nhằm tạo ra những con người tự chủ, năngsuất, chất lượng, hiệu quả cao

1.3 Nội dung nâng cao năng lực tự hoàn thiện của sinh viên thông qua hoạt động của Câu lạc bộ

Câu lạc bộ là một môi trường thuận lợi để mỗi sinh viên có thể trang bị được cáckiến thức, kỹ năng, hành vi thái độ của bản thân nhằm phát triển và tạo ý thực tự lập, tựchủ của mỗi sinh viên Thông qua các hoạt động diễn ra trong Câu lạc bộ, sinh viên sẽ tựhọc hỏi, rút kinh nghiệm để tự hoàn thiện mình hơn Hiện nay, các mô hình tổ chức Câulạc bộ hiếm khi chỉ tập trung phát triển vào một năng lực cá biệt nào đó của cá nhân mà

đó là sự tổng hòa và phát triển trên nhiều mặt, nhiều góc độ Vì vậy, tác giả sẽ tiếp cận từgóc độ phân tích năng lực tự hoàn hiện của sinh viên thông qua từng khâu triển khai hoạtđộng của các CLB tại trường Đại học

1.3.1 Xây dựng kế hoạch triển khai các hoạt động của Câu lạc bộ

Thực hiện triển khai các hoạt động của các Câu lạc bộ là một quá trình tương đốiphức tạp, có thể diễn ra trong một thời gian dài Vì vậy phải xác định được công tác lập kếhoạch, chương trình để các bên triển khai thực hiện một cách chủ động có vị trí, vai tròđặc biệt quan trọng

Theo đó, kế hoạch triển khai các hoạt động của CLB bao gồm rất nhiều các nộidung khác nhau: kế hoạch về thời gian thực hiện; kế hoạch tổ chức, điều hành; kế hoạchphân công phối hợp thực hiện; cung cấp các nguồn vật lực; kiểm tra đôn đốc thực hiện và

kế hoạch dự kiến quy chế, nội quy…

1.3.2 Phổ biến tuyên truyền thực hiện kế hoạch

Nhằm triển khai thực hiện các hoạt động của CLB theo kế hoạch, công tác phổbiến, tuyên truyền có ý nghĩa vai trò rất quan trọng với CLB và các thành viên trong CLB.Làm tốt công tác phổ biến, tuyên truyền sẽ giúp cho sinh viên tham gia các CLB có cơ hội

Trang 28

rèn luyện bản thân và hiểu rõ mục đích, yêu cầu, tính khả thi, tính đúng đắn mà CLB địnhhướng đề ra, để sinh viên tự giác thực hiện theo yêu cầu và tiêu chí mà CLB đã đề ra

Đồng thời giúp cho mỗi sinh viên có trách nhiệm tổ chức thực hiện nhận thức đượctính chất, quy mô của các kế hoạch hành động đề ra từ đó nỗ lực tìm kiếm các giải phápthực hiện các mục tiêu và triển khai hoạt động có hiệu quả Để công tác phổ biến, tuyêntruyền đạt hiệu quả cao đòi hỏi sinh viên phải am hiểu mục tiêu, yêu cầu, nội dung, nhiệm

vụ của CLB, phải nhận thức được đầy đủ vai trò của công tác phổ biến, tuyên truyền đếnhiệu quả của việc thực hiện các hoạt động trong CLB Trên cơ sở đó có sự lựa chọn các

kỹ năng, biện pháp phổ biến, tuyên truyền cho phù hợp với tình hình thực tiễn của từngCLB

1.3.3 Phân công, phối hợp

Các hoạt động của CLB có tác động rất lớn, hướng tới nhiều tập thể và cá nhântham gia thực hiện bao gồm các đơn vị quản lý CLB và các sinh viên đang là thành viêncủa CLB Bên cạnh đó, từng mục tiêu, định hướng của CLB cũng phong phú, phức tạptheo không gian và thời gian

Bởi vậy, muốn hoạt động của CLB một cách có hiệu quả đòi hỏi cần có sự phâncông, phối hợp trong thực hiện giữa các đoàn thanh niên, khoa, đội ngũ giảng viên và độingũ sinh viên Thông thường công tác phân công, phối hợp thực hiện diễn ra với sự thamgia của các đơn vị như: Đoàn thanh niên, Phòng Công tác sinh viên, các Khoa, Trung tâm,đội ngũ giảng viên, thành viên tham gia CLB và các CLB khác…Trong hoạt động này cầnlưu ý tới đặc điểm, thế mạnh của từng cá nhân, đơn vị trong phối hợp thực hiện tránh tìnhtrạng chống chéo, trùng lắp, không rõ trách nhiệm hoặc không đủ năng lực thực hiện triểnkhai các hoạt động

Bởi thực tiễn chứng minh rằng hiệu quả, kết quả thực hiện phụ thuộc phần lớn vàonăng lực chủ động, khả năng phối hợp giữa các bên thực hiện Do vậy, để tổ chức triểnkhai các hoạt động của CLB có hiệu quả cần phải có sự phân công, phối hợp chặt chẽgiữa các đơn vị và cá nhân trong trường Đại học…

1.3.4 Duy trì thực hiện

Việc duy trì hoạt động tại các CLB có ý nghĩa vô cùng quan trọng bảo đảm CLBtồn tại và bền vững Để có thể duy trì các hoạt động của CLB theo định hướng mục tiêucần phải thường xuyên kiểm tra quá trình thực hiện, đánh giá thực hiện và đề xuất các giảipháp thực hiện tốt việc duy trì hoạt động của CLB

Thường xuyên kiểm tra giúp bản thân sinh viên nắm bắt được điểm mạnh, điểmyếu trong mô hình hoạt động của CLB từ đó có những đề xuất để điều chỉnh và duy trì.Chính những hoạt động này giúp cho sinh viên tự hình thành các kỹ năng quan sát, đánh

Trang 29

giá vấn đề, dự đoán để tự rèn luyện nâng cao năng lực của bản thân Bên cạnh đó, việcquan tâm đến đánh giá hoạt động để các đối tượng tham gia biết được những hạn chếtrong quá trình thực hiện, từ đó nhận thức đúng vị trí, trách nhiệm, quyền lợi, nghĩa vụcủa mình trong thực hiện chính sách

1.3.5 Đôn đốc, theo dõi

Đôn đốc, theo dõi thực hiện các hoạt động của CLB thông qua công cụ đảm bảotrong quá trình hoạt động như nội quy, quy chế, quy định…nhằm làm cho các thành viêntrong CLB nêu cao ý thức, tinh thần, trách nhiệm trong thực hiện các hoạt động theo địnhhướng của CLB

Thực tế cho thấy trong quá trình tổ chức các hoạt động không phải cá nhân, đơn vịnào cũng làm tốt, làm đúng vì thế cần có hoạt động đôn đốc, theo dõi để vừa có thể thúcđẩy các chủ thể nỗ lực hơn nữa trong thực hiện, vừa có thể phòng ngừa, ngăn chặn, đẩylùi những hành vi, nguy cơ vi phạm quy định, nội quy, quy chế trong quá trình thực hiện

Từ đó có thể đề xuất các biện pháp nhằm chấn chỉnh các hoạt động góp phần hoàn thiện,nâng cao hiệu quả của CLB nói chung và năng lực tự rèn luyện của sinh viên nói riêng

Để đôn đốc, theo dõi, kiểm tra việc duy trì của CLB là cơ hội để trau dồi và nângcao năng lực tự hoàn thiện của sinh viên Trong đó, bản thân mỗi sinh viên cần phải amhiểu sâu sắc mục tiêu của CLB, đối tượng thụ hưởng của hoạt động trong CLB và các quyđịnh, giải pháp thực hiện Cần nắm chắc, chính xác các quy định trong kế hoạch thựchiện, các quy chế, nội quy Đôn đốc, theo dõi, kiểm tra các hoạt động sinh viên cần phảithu thập, cập nhật đầy đủ các nguồn thông tin, các cơ sở dữ liệu thông tin phản ánh về quátrình triển khai và kết quả hoạt động từ các cá nhân, tổ chức phối hợp Từ đó, phân tích,

xử lý thông tin một cách chính xác tránh những thiếu sót trong công tác lập kế hoạch tổchức ở những kỳ tiếp theo Kiểm tra, đôn đốc thực hiện vừa hoàn thiện năng lực của sinhviên vừa giúp nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động tại CLB

1.3.6 Tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm

Trong quá trình duy trì hoạt động của CLB, sinh viên là thành viên trong CLBđược giao nhiệm vụ có thể đánh giá từng phần hay toàn bộ kết quả thực hiện, trong đóđánh giá toàn bộ được thực hiện sau khi kế hoạch hành động hết hiệu lực Đánh giá, tổngkết rút kinh nghiệm là hoạt động nhằm đưa ra những kết luận, đánh giá về sự điều hành

và chấp hành của các đối tượng liên quan trong quá trình tổ chức các hoạt động của CLB

Cụ thể, hoạt động đánh giá, tổng kết về chỉ đạo, điều hành và chấp hành thực hiện nhằmvào đối tượng là các sinh viên tham gia CLB Cơ sở để đánh giá, tổng kết là các kế hoạchđược giao và căn cứ vào những nội quy, quy chế đã được xây dựng Căn cứ đánh giá này

sẽ là cơ sở để mỗi cá nhân có thể đối chiếu và tự phê bình, đánh giá lại năng lực tự hoànthiện của bản thân trong quá trình tham gia CLB

Trang 30

Bên cạnh đó cũng cần phải chú trọng xem xét, đánh giá hoạt động của các đốitượng tham gia CLB, bao gồm cả đối tượng thụ hưởng từ CLB Quá trình đánh giáthường hướng tới tinh thần hưởng ứng việc thực hiện mục tiêu của CLB cũng như đánhgiá ý thức chấp hành những quy định, quy chế CLB đề ra Nhằm thực hiện một cách hiệuquả nhất các mục tiêu của CLB Để tổng kết, đánh giá chính xác, ngoài các tiêu chí ra cònphải căn cứ vào các nguyên tắc và sự tự đánh giá của mỗi bản thân cá nhân trong quátrình tham gia hoạt động của CLB Việc đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm phải chỉ rađược chính xác các ưu điểm, nhược kiểm, kinh nghiệm của cá nhân Từ đó, rút kinhnghiệm thực hiện đòi hỏi sinh viên phải có trình độ, kiến thức và kỹ năng nhất định mới

có thể đánh giá, tổng kết và rút ra các bài học kinh nghiệm của mình trong quá trình thamgia CLB

Trong các bước trên thì bước tổ chức thực thi là quan trọng nhất để sinh viên có thểphát huy hiệu quả năng lực tự hoàn thiện vì đây là bước đầu tiên làm cơ sở cho các bướctiếp theo, ở bước này đã dự kiến cả việc triển khai hoạt động, phân công thực hiện, kiểmtra Hơn nữa tổ chức thực hiện là quá trình phức tạp do đó lập kế hoạch cũng là việc làmcần thiết và quan trọng để có thể nâng cao năng lực tự hoàn thiện ở mỗi sinh viên trongquá trình tham gia CLB

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới năng lực tự hoàn thiện của sinh viên các trường đại học thông qua hoạt động tại các Câu lạc bộ

Một là, yếu tố bẩm sinh, tư chất sinh học Có thể nói, yếu tố bẩm sinh, tư chất sinh

học là điều kiện, tiền đề tự nhiên của năng lực tự hoàn thiện sinh viên Yếu tố bẩm sinh,

tư chất sinh học là những đặc điểm riêng có của cá nhân về giải phẫu sinh lý, cấu tạo vàhoạt động của hệ thần kinh trung ương của mỗi người Những yếu tố bẩm sinh, sẵn có này

có thể mang tính di truyền (mang gen của bố mẹ), nhưng cũng có thể là những yếu tố tựtạo (cái cá nhân thu nhận được, khác với bố mẹ) Mỗi người có cấu trúc hệ thần kinh, gen

di truyền và nhóm máu khác nhau Cho nên, không có sự ngang bằng nhau về tư chất,

về yếu tố sinh học ở mỗi sinh viên, và do đó, quy định sự khác nhau về năng lực của mỗingười Cùng một môi trường sống, môi trường giáo dục, hoạt động như nhau, nhưng mỗingười lại có trình độ năng lực và các loại năng lực không như nhau

C.Mác đã khẳng định, các năng lực hình thành trên cơ sở của các tư chất tự nhiên,năng khiếu bẩm sinh đóng vai trò quan trọng Tư chất có ảnh hưởng đến tốc độ và chiềuhướng của sự hình thành và phát triển năng lực Một người có sẵn những tư chất phù hợpvới sự phát triển năng lực tương ứng với tư chất đó thì sẽ dễ dàng phát triển năng lực ấy

và dễ đạt được kết quả cao hơn những người không có tư chất phù hợp Theo một nghiêncứu, hệ thần kinh của sinh viên có ảnh hưởng đến sự phát triển năng lực Chẳng hạn, tốc

độ hình thành các phản xạ có điều kiện nhanh hay chậm, bền vững hay không bền vững

có ảnh hưởng đến sự hình thành kỹ năng, kỹ xảo của sinh viên Tốc độ hình thành các

Trang 31

phản xạ ức chế phân biệt có ảnh hưởng đến hoạt động phân tích so sánh Tốc độ thành lập

và biến đổi nhanh chậm các động hình thần kinh giúp sinh viên hoạt động và thay đổihoạt động một cách thích hợp mau lẹ hay chậm chạp với ngoại cảnh Kiểu thần kinh cũnggóp phần tạo nên năng lực trong những hoạt động nhất định nào đó Người có kiểu thầnkinh cân bằng sẽ tạo điều kiện tốt để phát triển năng lực trong lĩnh vực dạy học cũng nhưcông tác lãnh đạo Ngoài ra, những đặc điểm giải phẫu sinh lý khác cũng có ảnh hưởngđến một loại năng lực nào đó, chẳng hạn, nếu não được cung cấp máu đầy đủ thì sẽ ảnhhưởng tốt đến sự ghi nhớ, tăng khả năng hoạt động trí óc, phát triển năng lực trí tuệ [2,tr.260-261]

Đối với sinh viên Việt Nam hiện nay, việc xác định những yếu tố bẩm sinh, tư chấtsinh học nào có tác động tích cực cũng như tiêu cực tới việc phát triển năng lực tự hoànthiện sinh viên Việt Nam; đồng thời, xác định tư chất, yếu tố bẩm sinh của mỗi người làkhác nhau để có những giải pháp thích hợp nhằm phát triển tài năng, năng khiếu cá nhân

là rất cần thiết Yếu tố bẩm sinh, tư chất sinh học là cơ sở tự nhiên, là tiền đề cần thiết đểhình thành, phát triển năng lực và ảnh hưởng đến sự khác biệt năng lực giữa người nàyvới người khác Tuy nhiên, yếu tố bẩm sinh, tư chất sinh học mới chỉ là điều kiện cần, làkhả năng khách quan vốn có bắt nguồn từ năng lực phản ánh của bộ não người chứ khôngquyết định sự phát triển năng lực tự hoàn thiện sinh viên Khả năng khách quan này chỉđược khơi dậy thông qua hoạt động của sinh viên, qua giáo dục, lao động, giao tiếp Chẳng hạn, một người có tư chất thông minh nhưng không tham gia vào quá trình họctập, lao động, không được giáo dục thì tư chất đó sẽ không phát huy được, không pháttriển được năng lực trí tuệ, thậm chí tư chất đó có thể bị thui chột đi Vì vậy, điều kiện đủ

và có tính chất quyết định phát triển năng lực tự hoàn thiện của cá nhân là các hoạt độngcủa cá nhân như hoạt động xã hội, lao động, giáo dục

Hai là, điều kiện kinh tế - xã hội, môi trường sống của sinh viên Năng lực tự hoàn

thiện sinh viên không chỉ là sản phẩm của tự nhiên, chịu ảnh hưởng và tác động bởi cácyếu tố tự nhiên, sinh học mà còn mang bản chất xã hội, là sản phẩm của xã hội và chịu sựchi phối, ảnh hưởng của các điều kiện kinh tế - xã hội, môi trường sống nhất định của chủthể C.Mác từng cho rằng, sinh viên là “sản phẩm của hoàn cảnh”, do hoàn cảnh tạo nên.Với tư cách là chủ thể của lịch sử, sinh viên tạo ra hoàn cảnh đến mức nào thì hoàn cảnhcũng tạo ra sinh viên đến mức ấy [12, tr.55]

Các điều kiện kinh tế - xã hội có ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển năng lực tựhoàn thiện sinh viên trong xã hội Sự phát triển năng lực tự hoàn thiện mỗi người phụthuộc vào điều kiện sống, vào sự phát triển nền kinh tế dựa trên cơ sở phương thức sảnxuất và điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội Khi nền kinh tế phát triển, khoa học côngnghệ hiện đại, điều kiện sống, điều kiện sinh hoạt của sinh viên được đảm bảo, các điềukiện cơ sở vật chất kỹ thuật được đầu tư, sinh viên có điều kiện học tập, nghiên cứu, nâng

Trang 32

cao trình độ, phát triển năng lực hoàn thiện bản thân Ngược lại, một nền kinh tế kém pháttriển, sản xuất nghèo nàn, quan hệ sản xuất lạc hậu, đời sống sinh viên khó khăn, cơ sởvật chất, điều kiện học tập thiếu thốn sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển năng lực, kìm hãm

sự phát triển năng lực nhận thức của sinh viên Mặt khác, cùng với việc xuất hiện nhữngphương thức mới của đời sống vật chất và tinh thần của xã hội thì những nhu cầu về việcphát triển năng lực tự hoàn thiện của sinh viên cũng xuất hiện Điều kiện sản xuất pháttriển, sự tiến bộ của khoa học công nghệ đòi hỏi sinh viên phải có những năng lực tươngứng, phù hợp để đáp ứng với trình độ phát triển của khoa học công nghệ và của sản xuất.Trình độ sản xuất, trình độ kỹ thuật càng cao thì càng làm cho năng lực sinh viên thêmphong phú Những đòi hỏi đó buộc sinh viên phải không ngừng tự trau dồi, phát triển,nâng cao hơn nữa các năng lực của bản thân để có thể đáp ứng được yêu cầu của thựctiễn

Trong điều kiện hiện nay ở nước ta, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hoànthiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, toàn cầu hóa và hội nhậpquốc tế đã và đang có những tác động mạnh mẽ đến phát triển năng lực của sinh viên.Tính năng động của nền kinh tế thị trường, những yêu cầu của sự nghiệp công nghiệphóa, hiện đại hóa và sự mở cửa, hội nhập sâu, rộng, một mặt, đã khơi dậy năng lực sángtạo to lớn ở mỗi sinh viên Sinh viên có nhiều điều kiện và cơ hội hơn trong lao động sángtạo, học tập, tiếp thu những thành tựu khoa học công nghệ, văn minh nhân loại Sinh viêntrở nên năng động, nhạy bén, dễ tiếp nhận, thích nghi với sự thay đổi, có khả năng thíchứng, hòa nhập trong môi trường đa văn hóa… Mặt khác, cũng đặt ra nhiều yêu cầu đòi hỏisinh viên phải nỗ lực rèn luyện, không ngừng nâng cao năng lực cho bản thân mới có thểđáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn đặt ra

Ngoài ra, môi trường sống, môi trường làm việc, nền văn hóa - xã hội của sinhviên cũng có tác động đến sự phát triển năng lực tự hoàn thiện sinh viên Môi trường sốngtrong lành, văn hóa, văn minh, trình độ dân trí cao, có phong trào học tập tốt; một môitrường làm việc dân chủ, mọi người có tinh thần làm việc hăng say, nhiệt huyết, sẽ tácđộng tích cực đến việc phát triển năng lực tự hoàn thiện sinh viên Sinh viên sẽ được pháthuy hết mọi sở trường, năng lực của mình Sinh viên sẽ chủ động học tập, nâng cao trình

độ, chuyên môn nghiệp vụ, hăng say tìm tòi, nghiên cứu, sáng tạo cho phù hợp, thíchứng với môi trường sống, môi trường làm việc đó để không bị đào thải Mức độ phát triểncủa nền văn hóa - xã hội có ảnh hưởng đến sự phát triển năng lực tự hoàn thiện, songkhông quy định một cách trực tiếp sự phát triển năng lực sinh viên Mỗi người có thể tiếpthu nền văn hóa - xã hội đó một cách khác nhau để hình thành năng lực của mình Nănglực sinh viên được hình thành và phát triển trong hoạt động và giao tiếp nhằm thỏa mãnnhu cầu Thực tế cuộc sống đòi hỏi sinh viên phải hoàn thiện một số năng lực để thỏa mãnnhu cầu Chẳng hạn, năng lực tri giác của sinh viên được phát triển cùng với nhu cầu phân

Trang 33

biệt các sự vật khách quan; năng lực tư duy phát triển do nhu cầu của sinh viên phải đi sâutìm hiểu bản chất của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan.

Ba là, lối sống, phong cách tư duy, đặc điểm sinh viên Sinh viên là một thực thể

thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội Không chỉ các yếu tố sinh học, mà cảyếu tố xã hội bên trong sinh viên (như những phẩm chất xã hội, đời sống tâm lý xã hội )cũng có những ảnh hưởng đến sự phát triển năng lực tự hoàn thiện của mỗi người Yếu tố

xã hội bên trong sinh viên mang tính lịch sử - xã hội, là những quy định về mặt xã hội tạonên cá nhân sinh viên Ở mỗi một giai đoạn lịch sử, sinh viên có những đặc điểm riêngnhất định về phẩm chất, tâm lý xã hội,v.v Tuy nhiên, tính di truyền sinh học và kế thừa

xã hội của sinh viên đã giúp sinh viên hình thành nên những đặc điểm chung về phẩmchất, tâm lý xã hội cho sinh viên ở mỗi thời kỳ Những đặc điểm này có tính ổn định vàđược kế thừa từ đời này qua đời khác Tuy đối với mỗi cá nhân khác nhau thì mức độ ảnhhưởng của những đặc trưng về phẩm chất, tâm lý xã hội này đến phát triển năng lực tựhoàn thiện là không như nhau Nhưng, ở một mức độ nào đó, những yếu tố đó có ảnhhưởng nhất định đến sự phát triển năng lực tự hoàn thiện mỗi người

Ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, có thể thấy, những tác động từ lối sống, tưduy và đặc điểm của truyền thống vẫn còn ảnh hưởng đến một bộ phận sinh viên ViệtNam Sự tác động này vừa có ảnh hưởng tích cực, song cũng có nhiều ảnh hưởng tiêu cực

là trở ngại cho sự phát triển năng lực sinh viên Việt Nam hiện nay Chẳng hạn, người ViệtNam truyền thống vốn được đánh giá là có tư chất thông minh, có tư duy sáng tạo nhưnglại chịu ảnh hưởng của tư duy “sản xuất nhỏ”, tiểu nông, làm ăn nhỏ lẻ, manh mún nên tưchất đó chỉ được bộc lộ rõ nét trong xử lý tình huống vụn vặt phát sinh trong cuộc sống vàlao động thường ngày, hoặc trong những hoàn cảnh khó khăn “cái khó ló cái khôn”, Những phẩm chất, tâm lý này có ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển năng lực tự hoànthiện của một bộ phận sinh viên Việt Nam hiện nay, không phát huy được tư chất thôngminh và tư duy sáng tạo trong công việc và cuộc sống, có chăng thì chỉ dừng ở mức độ

“khôn vặt”, có tính chất đối phó với tình huống; tư duy vẫn mang tính thiển cận, ít có tưduy chiến lược Tâm lý “an phận thủ thường”, thích an nhàn, dễ bằng lòng với cuộc sốngcủa người Việt truyền thống cũng làm hạn chế khả năng tìm tòi, sáng tạo và những nỗ lựcvươn lên trong cuộc sống, nhất là năng lực tư duy sáng tạo, phát minh, sáng chế rất hạnchế Bên cạnh đó, tâm lý đề cao danh vọng, địa vị, trọng sỹ diện, thể diện của gia đình,dòng tộc của con người Việt Nam truyền thống còn duy trì cũng làm cho một bộ phậnsinh viên Việt Nam hiện nay trở nên trọng thành tích, ưa hình thức, phô trương, dẫn đếncoi việc học tập chỉ vì bằng cấp, vì điểm, địa vị, chứ không phải nâng cao năng lực chobản thân Tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái của người Việt truyền thống được pháthuy trong những hoàn cảnh khó khăn, bần hàn, nhưng lại dễ bất hòa, mâu thuẫn khi cóđiều kiện sống tốt hơn, đố kỵ, ghen ghét nhau khi người khác hơn mình; tinh thần làmviệc độc lập thì tốt nhưng lại ỉ lại khi làm việc tập thể, thiếu tính liên kết các cá nhân với

Trang 34

nhau trong công việc đã làm ảnh hưởng tới năng lực hợp tác, năng lực làm việc nhómcủa một bộ phận sinh viên Việt Nam hiện nay Thái độ coi trọng cộng đồng đã trở thànhmột nét tính cách truyền thống đặc trưng của con người Việt Nam, nhưng việc đề caocộng đồng thái quá lại trở thành tư tưởng bè phái, cục bộ địa phương, cũng là một trở ngạiđối với sự phát triển năng lực tự hoàn thiện sinh viên Những tác động tiêu cực đó đã vàđang ảnh hưởng tới sự phát triển năng lực tự hoàn thiện của một bộ phận sinh viên.

Bốn là, giáo dục, đào tạo Giáo dục, đào tạo là quá trình trang bị kiến thức, hiểu

biết về khoa học, kỹ thuật, nâng cao kỹ năng, kỹ xảo trong hoạt động nghề nghiệp cũngnhư hình thành thế giới quan và nhân cách của sinh viên Trong quá trình phát triển củalịch sử xã hội, thế hệ sau kế thừa các kết quả của thế hệ trước, dựa vào những kinhnghiệm, những hiểu biết của các thế hệ trước khái quát lại thành tri thức khoa học vàtruyền lại qua con đường giáo dục, đào tạo Trên cơ sở đó, sinh viên phát triển năng lựccủa cá nhân mình trong hoạt động thực tiễn Giáo dục, đào tạo có vai trò trực tiếp trongviệc hình thành và phát triển năng lực tự hoàn thiện sinh viên

Giáo dục, đào tạo vạch ra chiều hướng cho sự hình thành và phát triển năng lựccủa sinh viên thông qua mục tiêu giáo dục, đào tạo của gia đình, nhà trường và xã hội.Nói cách khác, mục tiêu của giáo dục, đào tạo có thể quyết định xu hướng phát triển vàtác động đến xu hướng phát triển năng lực tự hoàn thiện Giáo dục, đào tạo có thể đem lạinhững cái mà các yếu tố bẩm sinh, di truyền hay môi trường tự nhiên không đem lại được.Giáo dục, đào tạo có thể phát huy tối đa các mặt mạnh của các yếu tố khác chi phối sựphát triển năng lực sinh viên như tư chất, môi trường sống, điều kiện xã hội ; có thể uốnnắn những phẩm chất, tâm lý xấu, do tác động tự phát của môi trường xã hội gây nên vàlàm cho nó phát triển theo hướng mong muốn của xã hội; v.v

Nội dung của giáo dục, đào tạo quyết định quy mô và chất lượng hệ thống tri thức,

kỹ năng, kỹ xảo mà sinh viên được trang bị, qua đó, hình thành, phát triển phương phápnhận thức, phương pháp tư duy khoa học, nâng cao trình độ nhận thức, trình độ tư duy,phát triển những năng lực tự hoàn thiện trên cơ sở những tư chất bẩm sinh sẵn có Đồngthời, cũng giúp hình thành, xây dựng và rèn luyện những năng lực mới cho sinh viên thíchnghi với những điều kiện, hoàn cảnh mới Có thể khẳng định, giáo dục, đào tạo là tổ chứchoạt động của cá nhân và xã hội để “phát triển tư chất năng khiếu và cung cấp các trithức, kỹ năng, kỹ xảo hình thành năng lực” cho sinh viên

Trong điều kiện hiện nay, khi nhân loại đã tích lũy được một khối lượng khổng lồtri thức về tự nhiên, xã hội, khi con người trở thành mục tiêu và động lực của sự phát triểnkinh tế - xã hội, thì vai trò của giáo dục, đào tạo càng có ý nghĩa đặc biệt Một mặt, giáodục, đào tạo giúp sinh viên rút ngắn được quá trình hiểu biết, nắm bắt các tri thức, quyluật chung, tập trung thời gian, sức lực, trí tuệ cho sự khám phá, sáng tạo, phát hiện cáimới, thúc đẩy xã hội phát triển lên một tầm cao mới Mặt khác, nó là con đường và

Trang 35

phương thức chủ yếu để hình thành nên những sinh viên có năng lực toàn diện đáp ứngđược những yêu cầu đặt ra của thời đại Tuy nhiên, ngày nay, trước những yêu cầu càngcàng cao của thời kỳ cạnh tranh, mở cửa, hội nhập sâu, rộng đang đặt ra những đòi hỏingày càng khắt khe hơn đối với năng lực và sự phát triển năng lực của sinh viên, thì vaitrò của giáo dục, đào tạo càng trở nên quan trọng.

Năm là, tinh thần tự giáo dục, tự rèn luyện và sự hoạt động của cá nhân trong phát

triển năng lực cho chính bản thân mình Có thể nói, tính tích cực, chủ động của mỗi cánhân có vai trò quyết định đối với sự phát triển năng lực tự hoàn thiện sinh viên Các yếu

tố (yếu tố bẩm sinh tư chất, điều kiện kinh tế - xã hội, môi trường sống, giáo dục, đào tạo,lối sống, tư duy sinh viên truyền thống…) có tác động nhiều hay ít, nhanh hay chậm, tíchcực hay tiêu cực đến việc phát triển năng lực tự hoàn thiện chính là phụ thuộc vào tínhtích cực, chủ động của chủ thể

Sự tác động của các nhân tố khách quan và chủ quan tới phát triển năng lực tựhoàn thiện sinh viên không phải là một chiều Cá nhân sinh viên không chỉ thụ động chịu

sự tác động từ bên ngoài, mà trong quá trình tiếp thu các tác động ấy cá nhân sinh viênvừa tự biến đổi mình vừa tác động trở lại và làm biến đổi hoàn cảnh V.I.Lênin đã viết: “Ýthức sinh viên không phải chỉ phản ánh thế giới khách quan, mà còn tạo ra thế giới kháchquan nghĩa là thế giới không thỏa mãn sinh viên, và sinh viên quyết định biến đổi thếgiới bằng hành động của mình” [136, tr.228-229] Trong quá trình chịu sự tác động từ bênngoài, trong quá trình hoạt động, lao động và giao tiếp, sinh viên tự nhận thức về mình, tựbiểu hiện, tự khẳng định chính mình và không ngừng cải tạo bản thân mình Đồng thời, cánhân cần phải biến kiến thức thành tri thức, thường xuyên luyện tập để hình thành kỹnăng, kỹ xảo; kế thừa và tiếp thu kinh nghiệm từ các thế hệ đi trước để phát triển năng lựccủa bản thân Sự tiếp nhận những tác động của hoàn cảnh, môi trường; sự chuyển biến,cải tạo chúng trong đầu óc và thể hiện ra trong hoạt động của mỗi người như thế nàochính là nhờ vào tính tích cực của cá nhân, vào sự tự ý thức, tự giáo dục của mỗi người.Chính quá trình này đã tạo nên tính đa dạng, độc đáo trong năng lực tự hoàn thiện mỗingười Điều đó giải thích tại sao cùng một môi trường sống, môi trường văn hóa - xã hộinhư nhau, điều kiện giáo dục như nhau mà mỗi sinh viên lại có những năng lực và sự pháttriển năng lực không giống nhau

Tính tích cực, chủ động của sinh viên thể hiện rõ nét ở sự tự giáo dục, tự rèn luyệncủa cá nhân Tự giáo dục là bước tiếp theo sau quá trình giáo dục, nhưng quyết định kếtquả của toàn bộ quá trình giáo dục Tự giáo dục, tự tu dưỡng là hoạt động có ý thức, thểhiện tính tích cực xã hội của cá nhân, là quá trình sinh viên biết tự kiềm chế mình, biếthướng nhu cầu, hứng thú, khả năng của mình cho phù hợp với những yêu cầu của xã hội

Tự học, tự giáo dục, tự nghiên cứu, tự đào tạo là yếu tố quyết định chất lượng giáo dục,đào tạo Thực tế cho thấy, dù nền giáo dục, đào tạo có phát triển, đội ngũ giáo viên giỏi,

Trang 36

có trình độ nghiệp vụ vững vàng đến mấy, mà bản thân người học không chịu khó chủđộng, tích cực học tập, đào sâu nghiên cứu, mở rộng thêm kiến thức bằng cách tự học tậpthì chất lượng học tập cũng không thể cao Do đó, trong cùng điều kiện học tập như nhau,môi trường sống như nhau nhưng kết quả học tập và trình độ năng lực nhận thức và sựphát triển năng lực nhận thức của mỗi cá nhân lại khác nhau, điều đó phần lớn là do khảnăng tự học, tự giáo dục, đào tạo của mỗi người.

Tính tích cực, chủ động của cá nhân ảnh hưởng đến sự phát triển năng lực tự hoànthiện còn thể hiện trong hoạt động thực tiễn của cá nhân đó Chủ nghĩa duy vật biệnchứng khẳng định, năng lực của sinh viên hình thành trong quá trình hoạt động, thông quahoạt động và bằng hoạt động Mọi tác động có mục đích của giáo dục, đào tạo sẽ không

có hiệu quả, nếu cá nhân sinh viên không tiếp nhận tác động đó, không tham gia trực tiếpvào hoạt động thực tiễn để hình thành và phát triển năng lực của mình một cách tích cực,chủ động Nghĩa là, hoạt động một cách tích cực, chủ động của cá nhân đóng vai trò quyếtđịnh trực tiếp đến sự hình thành và phát triển năng lực của cá nhân đó

Trong quá trình hoạt động, khi sinh viên biến đổi hoàn cảnh xung quanh thì chínhbản thân họ cũng biến đổi, trưởng thành và phát triển Tuy nhiên, chỉ khi hoạt động mộtcách tích cực, chủ động thì năng lực của sinh viên mới được phát triển đầy đủ và toàndiện nhất Chính trong quá trình hoạt động tích cực, chủ động đó, năng lực của sinh viênngày càng hoàn thiện và phát triển Như vậy, chỉ có trong hoạt động tích cực, chủ động,sinh viên mới nhận thức được một cách đầy đủ nhất sức mạnh của mình, mới tiếp thuđược tri thức và kỹ năng, phát triển được năng lực, biết điều chỉnh tri thức, kỹ năng, nănglực của mình phù hợp với yêu cầu khách quan của bản thân hoạt động và của tập thể trong

đó có bản thân mình Đồng thời, nhờ hoạt động và thông qua hoạt động một cách tích cực,chủ động của cá nhân, những tư chất di truyền, bẩm sinh, những khả năng của sinh viênmới được bộc lộ, được đánh thức, đồng thời, hình thành cho mình những thuộc tính cònchưa có hoặc chưa phát triển tương xứng với yêu cầu của hoạt động, của thực tiễn C.Mác

đã cho rằng: Trong khi tác động vào tự nhiên ở bên ngoài thông qua sự vận động đó vàlàm thay đổi tự nhiên, sinh viên cũng đồng thời làm thay đổi bản tính của chính nó Sinhviên phát triển những tiềm lực đang ngái ngủ trong bản tính đó và bắt sự hoạt động củanhững tiềm lực ấy phải phục tùng những tiềm lực của mình [16, tr.266]

Sự quy định của hoạt động đối với sự hình thành và phát triển năng lực thể hiện ởchỗ: Chiều hướng hoạt động của một người quy định nên chiều hướng hình thành và pháttriển năng lực của người đó Nghĩa là, sinh viên hướng hoạt động của mình vào lĩnh vựcnào thì năng lực về lĩnh vực đó sẽ được hình thành và phát triển Vì vậy, vấn đề học tập vàthực hành trong môi trường giáo dục Đại học có ý nghĩa rất lớn trong sự phát triển nănglực của mỗi người Mác viết, sự khác nhau về tài năng tự nhiên của cá nhân không phải lànguyên nhân mà là kết của sự phân công lao động [10, tr.116] Mặt khác, chất lượng của

Trang 37

hoạt động cũng quy định nên chất lượng của năng lực và quá trình phát triển năng lực.Hoạt động của sinh viên càng phức tạp, tinh xảo bao nhiêu thì năng lực của sinh viênngày càng phát triển, hoàn thiện và tinh xảo bấy nhiêu Không những thế, phạm vi hoạtđộng của một người cũng quy định phạm vi phát triển các năng lực của người đó Nếusinh viên bị bó hẹp trong một không gian và một lĩnh vực hoạt động nhất định, thì nănglực của người đó cũng chỉ được bộc lộ và phát triển trong giới hạn lĩnh vực nhất định đó.Hoạt động của sinh viên càng toàn diện và đa dạng bao nhiêu, sẽ tạo ra cơ sở vững chắc

để phát triển nhiều năng lực phong phú bấy nhiêu Bởi vậy, ngoài việc học tập chính quy,chính việc tham gia các hoạt động của các CLB trong nhà trường sẽ giúp cho sinh viên có

cơ hội tự hoàn thiện mình một cách đa dạng và phong phú hơn

Chính nhờ tính chủ động của sinh viên, mà mỗi người có thể tự giáo dục, đào tạo,

tự nỗ lực, rèn luyện, có thể tự hình thành, biến đổi, điều chỉnh, phát triển, hoàn thiện nănglực của mình một cách có ý thức trong hoạt động thực tiễn, phù hợp với yêu cầu của thựctiễn Do đó, trong phát triển năng lực tự hoàn thiện, sinh viên phải đặc biệt lưu ý tới vaitrò của nhân tố ảnh hướng tới năng lực tự hoàn thiện để có những biện pháp phù hợp thúcđẩy tính tích cực cá nhân trong phát triển năng lực bản thân và phát triển năng lực chomọi người trong xã hội

Trong Chương I, tác giả đã đưa ra những lý luận chung về năng lực tự hoàn thiệncủa sinh viên từ đó, đưa ra các tiêu chí để đánh giá năng lực bao gồm các tiêu chí về kiếnthức, kỹ năng và thái độ Bên cạnh đó, việc nâng cao năng lực tự hoàn thiện của sinh viênphụ thuộc rất nhiều vào mức độ tham gia vào từng khâu, từng bước trong quá trình hoạtđộng của Câu lạc bộ như: (1) Xây dựng kế hoạch (2) Phổ biến, tuyên truyền (3) Phâncông, phối hợp, (4) Duy trì, thực hiện, (5) Đôn đốc, theo dõi, (6) Tổng kết, đánh giá, rútkinh nghiệm Cuối cùng, trong chương này tác giả đã đưa ra các yếu tố tác động đến nănglực tự hoàn thiện của sinh viên thông qua hoạt động của CLB Đây là những tiền đề quantrọng, để tác giả làm căn cứ đánh giá thực trạng chương II về năng lực tự hoàn thiện củasinh viên thông qua hoạt động các CLB tại Trường Đại Học Nội vụ Hà Nội

Trang 38

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC TỰ HOÀN THIỆN CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG CỦA CÂU LẠC BỘ 2.1 Khái quát chung về Trường Đại học Nội vụ Hà Nội

2.1.1 Khái quát về Trường Đại học Nội vụ Hà Nội

2.1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển

Trường Đại học Nội vụ Hà Nội là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Nội vụ và

đã có lịch sử gần 50 năm xây dựng và phát triển

Giai đoạn từ 1971-2005 (trường Trung cấp): Tiền thân của Trường Đại học Nội vụ HàNội là Trường Trung học Văn thư Lưu trữ, thành lập theo Quyết định số 109/BT ngày18/12/1971 của Bộ trưởng Phủ Thủ tướng, sau đó đổi tên thành Trường Trung học Lưu trữ vàNghiệp vụ văn phòng I (năm 1996) và Trường Trung học Lưu trữ Trung ương I (năm 2003).Trong giai đoạn này, Trường là một tổ chức sự nghiệp của Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước,

có chức năng đào tạo trình độ trung học chuyên nghiệp và các trình độ thấp hơn, đáp ứng nhucầu học tập của xã hội và các ngành nghề thuộc lĩnh vực văn thư, lưu trữ, hành chính vănphòng và các lĩnh vực có liên quan

Sau một thời gian tích cực chuẩn bị các điều kiện và được sự đồng ý của Thủ tướngChính phủ, ngày 15/6/2005 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ký Quyết định số 3225/QĐ-BGD&ĐT-TCCB thành lập Trường Cao đẳng Văn thư Lưu trữ Trung ương I trên cơ sởTrường Trung học Văn thư Lưu trữ Trung ương I Xuất phát từ thực tế và nhu cầu phát triểnTrường, ngày 21/4/2008 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ký Quyết định số 2275/QĐ-BGDĐT đổi tên Trường Cao đẳng Văn thư Lưu trữ Trung ương I thành Trường Cao đẳngNội vụ Hà Nội Ngày 12/6/2008 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 749/QĐ-TTg

về đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ Nội vụ, quy định Trường Cao đẳng Nội vụ Hà Nội là đơn

vị sự nghiệp trực thuộc Bộ Nội vụ, trước năm 2008 Trường Cao đẳng Nội vụ Hà Nội trựcthuộc Cục Văn thư Lưu trữ - Bộ Nội vụ

Cũng trong giai đoạn này, Cơ sở Trường tại Thành phố Đà Nẵng được thành lập theoQuyết định 986/QĐ-BNV ngày 30/6/2006 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ với tên gọi ban đầu là

Cơ sở Trường Cao đẳng Văn thư Lưu trữ Trung ương I tại Tp Đà Nẵng, tiếp đến là Cơ sởTrường Cao đẳng Nội vụ Hà Nội tại miền Trung và đến năm 2016, Bộ Giáo dục và Đào tạo

đã ban hành Quyết định số 5989/QĐ-BGDĐT ngày 21/12/2016 nâng cấp Cơ sở lên Phânhiệu Trường Đại học Nội vụ Hà Nội tại Quảng Nam nhằm thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồidưỡng nguồn nhân lực cho khu vực miền Trung và Tây Nguyên

Giai đoạn 2011 đến nay (trường Đại học): Trường được nâng cấp lên thành TrườngĐại học Nội vụ Hà Nội tại Quyết định số 2016/QĐ-TTg ngày 14/11/2011 của Thủ tướng

Trang 39

Chính phủ Trong giai đoạn này, Văn phòng đại diện Trường Đại học Nội vụ Hà Nội tạiThành phố Hồ Chí Minh được thành lập, tiếp đến là Cơ sở Trường Đại học Nội vụ Hà Nội tạiThành phố Hồ Chí Minh và đến ngày 27/12/2018 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã kýban hành Quyết định số 5600/QĐ-BGDĐT về việc thành lập Phân hiệu Trường Đại học Nội

vụ Hà Nội tại Thành phố Hồ Chí Minh nhằm thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng nguồnnhân lực cho khu vực miền Nam Với yêu cầu mới của một trường đại học, Trường đã triểnkhai thực hiện có hiệu quả chức năng tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực có trình độđại học, sau đại học trong lĩnh vực công tác nội vụ và các ngành nghề khác có liên quan; tăngcường hoạt động hợp tác quốc tế; NCKH và triển khai áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ

Trường ĐHNVHN có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng tại Kho bạcNhà nước và ngân hàng theo quy định của pháp luật

- Tên Trường bằng tiếng Việt: Trường Đại học Nội vụ Hà Nội

- Tên tiếng Anh: Hanoi University of Home Affairs (viết tắt là HUHA)

- Trụ sở chính: 36 đường Xuân La, phường Xuân La, quận Tây Hồ, Thành phố HàNội

4) Trường xây dựng và phát triển hệ thống bảo đảm chất lượng; thực hiện việc đánhgiá chất lượng giáo dục và chịu sự kiểm định chất lượng giáo dục của cơ quan có thẩm

Trang 40

quyền; tăng cường các điều kiện bảo đảm chất lượng và không ngừng nâng cao chất lượngđào tạo của Trường.

5) Nghiên cứu khoa học và công nghệ; ứng dụng, phát triển và chuyển giao, chuyểnnhượng kết quả hoạt động khoa học và công nghệ; công bố kết quả hoạt động khoa học vàcông nghệ; bảo vệ lợi ích của Nhà nước và xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhântrong hoạt động đào tạo, khoa học và công nghệ của Trường

6) Thực hiện tư vấn, dịch vụ về đào tạo, khoa học công nghệ, hợp tác công tư; cungcấp các dịch vụ công phục vụ ngành Nội vụ, nền công vụ và yêu cầu của xã hội theo quyđịnh của pháp luật

7) Thực hiện hợp tác với các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài trong việcđào tạo và nghiên cứu khoa học theo quy định của pháp luật và phân cấp của Bộ Nội vụ

8) Tổ chức thực hiện quy chế dân chủ, xây dựng nếp sống văn hóa và môi trường sưphạm trong Trường; thực hiện cải cách hành chính theo chương trình, kế hoạch cải cách hànhchính của Bộ Nội vụ và phân công của Bộ trưởng Bộ Nội vụ Ban hành các quy định, quychế quản lý nội bộ phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành

9) Tuyển dụng, tiếp nhận, sử dụng, quản lý đội ngũ viên chức, người lao động củaTrường theo quy định của pháp luật và theo phân cấp quản lý của Bộ trưởng Bộ Nội vụ; bảođảm quyền, lợi ích hợp pháp cho công chức, viên chức và người lao động của Trường

10) Quản lý tổ chức bộ máy, biên chế, tài chính, tài sản; quyết định thành lập các đơn

vị, tổ chức thuộc và trực thuộc theo cơ cấu tổ chức đã được Bộ Nội vụ phê duyệt; quyết địnhcác vấn đề về tổ chức cán bộ theo phân cấp của Bộ Nội vụ

11) Quản lý, sử dụng các nguồn lực tài chính để thực hiện các nhiệm vụ được giaotheo quy định của pháp luật và phân cấp của Bộ Nội vụ; được Nhà nước giao hoặc cho thuêđất, cơ sở vật chất; được miễn, giảm thuế theo quy định của pháp luật

12) Tham gia xây dựng, góp ý thẩm định các dự án, dự thảo văn bản quy phạm phápluật, chính sách, quy hoạch, kế hoạch phát triển của Bộ Nội vụ, của ngành Nội vụ theo phâncông của Bộ trưởng Bộ Nội vụ

13) Quản lý và sử dụng cơ sở dữ liệu về đội ngũ công chức, viên chức, người laođộng, các hoạt động đào tạo, khoa học, công nghệ và hợp tác quốc tế của Trường; xây dựng

và phát triển hệ thống thông tin, thư viện và các trang thiết bị phục vụ đào tạo và nghiên cứukhoa học đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo

14) Xuất bản và phát hành tạp chí, bản tin, các ấn phẩm khoa học; tổ chức biên soạn

và phát hành các chương trình, giáo trình, tài liệu phục vụ công tác giảng dạy, học tập vànghiên cứu của Trường

Ngày đăng: 30/06/2022, 19:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đường sinh của hình nón quay được thực chất chính là cạnh huyền AB của tam giác vuông ABC - NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ HOÀN THIỆN CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÂU LẠC BỘ
ng sinh của hình nón quay được thực chất chính là cạnh huyền AB của tam giác vuông ABC (Trang 23)
Bảng 2.1. Đánh giá của sinh viên về mức độ tham gia vào các hoạt động tại các CLB - NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ HOÀN THIỆN CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÂU LẠC BỘ
Bảng 2.1. Đánh giá của sinh viên về mức độ tham gia vào các hoạt động tại các CLB (Trang 54)
Bảng 2.2. Các môn học sinh viên vận dụng kiến thức khi tham gia hoạt động tại CLB - NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ HOÀN THIỆN CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÂU LẠC BỘ
Bảng 2.2. Các môn học sinh viên vận dụng kiến thức khi tham gia hoạt động tại CLB (Trang 59)
Bảng 2.3. Các kỹ năng sinh viên được trau đồi khi tham gia hoạt động tại CLB - NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ HOÀN THIỆN CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÂU LẠC BỘ
Bảng 2.3. Các kỹ năng sinh viên được trau đồi khi tham gia hoạt động tại CLB (Trang 61)
Đội múa HAC biểu diễn trong Hội thi “Giới thiệu mô hình và thuyết trình Cải cách Hành chính” - NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ HOÀN THIỆN CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÂU LẠC BỘ
i múa HAC biểu diễn trong Hội thi “Giới thiệu mô hình và thuyết trình Cải cách Hành chính” (Trang 89)
Một số hình ảnh về Đội Thanh niên Xung kích Trường Đại học Nội Vụ Hà Nội - NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ HOÀN THIỆN CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÂU LẠC BỘ
t số hình ảnh về Đội Thanh niên Xung kích Trường Đại học Nội Vụ Hà Nội (Trang 95)
Một số hình ảnh về CLB Lễ tân Nội vụ - NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ HOÀN THIỆN CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÂU LẠC BỘ
t số hình ảnh về CLB Lễ tân Nội vụ (Trang 99)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w