BÁO CÁOTổng kết công tác PCTT TKCN năm 2021;nhiệm vụ, kế hoạch PCTT TKCN năm 2022Năm 2021, thiên tai trên địa bàn huyện tuy không diễn ra khốc liệt nhưng vẫn mang nhiều yếu tố cực đoan, bất thường ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất và đời sống của nhân dân. Với tinh thần luôn chủ động ứng phó với thiên tai, dưới sự chỉ đạo sát sao của các cấp, các ngành, huyện Bình Lục đã tích cực chuẩn bị các biện pháp phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai giúp nhân dân khôi phục sản xuất, ổn định đời sống. Ủy ban nhân dân huyện báo cáo Tổng kết công tác phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn năm 2021, triển khai nhiệm vụ công tác phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn năm 2022 như sau:PHẦN THỨ NHẤT KẾT QUẢ CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG THIÊN TAI VÀ TÌM KIẾM CỨU NẠN NĂM 2021I. Diễn biến tình hình thiên tai năm 20211. Bão, áp thấp nhiệt đớiTrong năm 2021, có 09 cơn bão và 02 áp thấp nhiệt đới hoạt động trên Biển Đông. Huyện Bình Lục bị ảnh hưởng mưa từ các cơn bão số 2, 3, 7 và số 8.2. Gió mùa Đông Bắc và không khí lạnhCả năm tổng cộng 19 đợt gió mùa Đông Bắc, không khí lạnh và không khí lạnh tăng cường; trong đó có 04 đợt mạnh gây ra rét đậm (đợt 1 từ ngày 1 301, đợt 2 từ ngày 7 1401, đợt 3 từ ngày 18 – 1901, đợt 4 từ ngày 27 – 2812) và một đợt gây ra rét hại từ ngày 8 – 1101, nhiệt độ thấp nhất xuống 8,7 độ C.3. Nắng nóng
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH LỤC
Số: /BC-UBND
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bình Lục, ngày tháng 4 năm 2022
BÁO CÁO Tổng kết công tác PCTT & TKCN năm 2021;
nhiệm vụ, kế hoạch PCTT & TKCN năm 2022
Năm 2021, thiên tai trên địa bàn huyện tuy không diễn ra khốc liệt nhưng vẫn mang nhiều yếu tố cực đoan, bất thường ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất và đời sống của nhân dân Với tinh thần luôn chủ động ứng phó với thiên tai, dưới sự chỉ đạo sát sao của các cấp, các ngành, huyện Bình Lục đã tích cực chuẩn bị các biện pháp phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai giúp nhân dân khôi phục sản xuất, ổn định đời sống
Ủy ban nhân dân huyện báo cáo Tổng kết công tác phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn năm 2021, triển khai nhiệm vụ công tác phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn năm 2022 như sau:
PHẦN THỨ NHẤT KẾT QUẢ CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG THIÊN TAI VÀ
TÌM KIẾM CỨU NẠN NĂM 2021
I Diễn biến tình hình thiên tai năm 2021
1 Bão, áp thấp nhiệt đới
Trong năm 2021, có 09 cơn bão và 02 áp thấp nhiệt đới hoạt động trên Biển Đông Huyện Bình Lục bị ảnh hưởng mưa từ các cơn bão số 2, 3, 7 và số 8
2 Gió mùa Đông Bắc và không khí lạnh
Cả năm tổng cộng 19 đợt gió mùa Đông Bắc, không khí lạnh và không khí
lạnh tăng cường; trong đó có 04 đợt mạnh gây ra rét đậm (đợt 1 từ ngày 1- 3/01,
đợt 2 từ ngày 7- 14/01, đợt 3 từ ngày 18 – 19/01, đợt 4 từ ngày 27 – 28/12) và một
đợt gây ra rét hại từ ngày 8 – 11/01, nhiệt độ thấp nhất xuống 8,7 độ C
3 Nắng nóng
Áp thấp nóng phía Tây hoạt động mạnh từ đầu tháng 5 đến giữa tháng 8 gây
ra 11 đợt nắng nóng Trong đó có 5 đợt nắng nóng gay gắt và 02 đợt đặc biệt gay gắt là từ ngày 31/5- 3/6 và từ 19 -21/6 nhiệt độ cao nhất tuyệt đối 40,5 độ C
4 Mưa lớn
Tổng lượng mưa toàn mùa tỉnh Hà Nam: 2.119,8 mm Đối với huyện Bình Lục tổng lượng mưa toàn mùa: 1.993 ml Có 08 tháng có lượng mưa >50 mm,
trong đó có: 07 tháng lượng mưa >100 mm (từ tháng 04 đến tháng 10), lượng mưa tháng 9 cao nhất năm (494 mm)
II Đánh giá kết quả công tác PCTT & TKCN năm 2021
1 Công tác chỉ đạo
Trang 2Ngay từ đầu năm 2021, Ủy ban nhân dân huyện và UBND các xã, thị trấn kiện toàn Ban Chỉ huy phòng chống thiên tai & TKCN do đồng chí Chủ tịch UBND làm Trưởng ban, tổ chức phân công nhiệm vụ cụ thể và địa bàn phụ trách cho từng thành viên
Tổ chức tổng kết công tác PCTT & TKCN năm 2020, triển khai nhiệm vụ công tác PCTT & TKCN năm 2021 và kịp thời ban hành nhiều văn bản để chỉ đạo điều hành công tác PCTT & TKCN trên địa bàn huyện
Trung tuần tháng 3 năm 2021, UBND huyện đã thành lập Đoàn kiểm tra các công trình đê, kè, cống dưới đê, bối và các công trình thuỷ lợi để đánh giá hiện trạng các công trình thuỷ lợi, trên cơ sở đó có kế hoạch tu bổ, sửa chữa trước mùa mưa bão Thường xuyên kiểm tra, đôn đốc công tác chủ động phòng, chống lũ, bão, úng ở các cơ quan và 21 xã, thị trấn
Xác định các vị trí và xây dựng các phương án trọng điểm phòng chống thiên tai trên địa bàn huyện Chỉ đạo hoành triệt các cống xung yếu, cống dưới đê, dưới bối đúng thời gian quy định và giải toả các vật cản trên hệ thống thuỷ lợi, xử lý các
vi phạm hành lang bảo vệ đê điều, công trình thuỷ lợi
Thường xuyên kiểm tra các vị trí xung yếu trong mùa mưa, bão và công tác trực phòng chống thiên tai của cơ quan, các xã, thị trấn Yêu cầu các địa phương, đơn vị triển khai thực hiện nghiêm túc chế độ thường trực, trực ban theo quy định
Đôn đốc các đơn vị thi công đẩy nhanh tiến độ thi công, hoàn thành các công
trình phòng chống thiên tai trước mùa mưa lũ (đặc biệt sửa chữa, tu bổ hệ thống
kênh mương, trạm bơm, …)
Xây dựng kế hoạch của huyện và chỉ đạo các cơ quan, ban ngành, các xã, thị trấn đẩy nhanh tiến độ lập kế hoạch và tiến hành thu, truy thu Quỹ phòng, chống thiên tai
2 Công tác chuẩn bị trước mùa mưa bão
Mục tiêu là luôn chủ động, chuẩn bị đầy đủ các điều kiện để sẵn sàng ứng
phó với mọi tình huống xảy ra theo phương châm “4 tại chỗ”, UBND huyện đã chỉ
đạo các đơn vị trên địa bàn huyện: Xây dựng lực lượng nòng cốt tham gia công tác phòng chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn; chuẩn bị vật tư, phương tiện, lực lượng, hậu cần để chủ động đối phó khi có mưa, bão, lũ xảy ra; đồng thời giao cho cơ quan chuyên môn phối hợp với các đơn vị liên quan thường xuyên kiểm tra công tác chuẩn bị tại các địa phương… Trong năm 2021, UBND huyện đã thành lập 02
đoàn kiểm tra công trình thủy lợi trước mùa mưa lũ và công tác chuẩn bị “4 tại
chỗ” của các địa phương.
Ban chỉ huy PCTT & TKCN huyện chuẩn bị đầy đủ các yếu tố để chủ động ứng phó khi có thiên tai xảy ra
Chuẩn bị đầy đủ các loại vật tư thiết yếu như: Bao tải, tre đánh dấu bụi, đất
dự trữ được bố trí phù hợp với yêu cầu phòng chống lũ bão Hiện nay, vật tư của tỉnh bao gồm: 4.969,86 m3 đá hộc, đá dăm để trên tuyến đê; 81.930 bao tải, 1.215 rọ thép, 6.000 m2 vải lọc, 15.580 m2 bạt chắn sóng, 2.800 m2 bạt chống thấm để trong kho Như Trác, trong năm 2021 huyện đã bổ sung thêm 8.000 bao tải để trong kho
Trang 3của huyện; ngoài ra khi cần thiết huy động trong nhân dân khoảng 100.000 chiếc; đất dự trữ tại các xã ven đê khoảng 20.000 m3
Ngoài các loại vật tư trên UBND các xã, thị trấn, các HTX NN và Xí nghiệp thuỷ nông đã đầu tư thêm phai dự phòng, một số dụng cụ cuốc, xẻng và ký kết hợp đồng với các chủ hộ có máy xúc, xe vận chuyển các loại, tre bụi, bao tải, cát để phục vụ cho các điểm xung yếu
Ngành thủy nông, các HTX NN kiểm tra, xác định các điểm xung yếu để có phương án chủ động ứng phó, thường xuyên kiểm tra, bảo dưỡng hệ thống trạm bơm
do đơn vị quản lý để đảm bảo 100% số máy bơm, trạm bơm sẵn sàng bơm tiêu khi
có mưa lớn gây ngập, úng và bơm tưới khi nắng nóng gây hạn hán
3 Công tác tu bổ đê điều, thủy nông
a Công trình đê điều:
Được sự quan tâm của các cấp, các ngành và UBND tỉnh, trong năm 2021 hệ thống đê điều trên địa bàn huyện đã được đầu tư tu bổ các hạng mục: Khoan phụt vữa gia cố thân đê từ Km145,000 -:-Km146,000; Cải tạo dốc lên đê bằng bê tông tại K138,590 và K140,950 xã Chân Lý; Cải tạo gia cố mặt đê hữu Hồng từ Km135,100
-:-Km136,530 và Km151,100 -:-Km151,642 (nhựa tưới); Cải tạo gia cố mặt đê hữu Hồng từ Km137,120 -:-Km138,240 (apphan); Cải tạo, làm mới điếm canh đê 143 xã
Trần Hưng Đạo; Khảo sát địa chất nền đê hữu Hồng đoạn từ Km151,000 -:-Km153,000; Xử lý sạt lở mái đê thượng lưu Km139,918 –Km139,945 dài 202 m
(bóc xử lý cung sạt, đắp áp trúc tạo cơ thượng lưu); Lắp dựng 01 khung khống chế
trọng tải tại Km135,000 và lắp dựng các biển báo bãi vật tư dự trữ trên đê với tổng kinh phí 11,95 tỷ đồng Ngoài ra trong năm 2021, UBND huyện đã chỉ đạo các xã ven đê đã ra quân phát quang mái, cơ đê đạt hiệu quả cao với tổng diện tích đã phát quang đạt trên 70.000 m2
b Các công trình thuỷ nông:
* Các công trình do UBND huyện, UBND xã làm chủ đầu tư:
Trong năm vừa qua, UBND huyện đã tập trung chỉ đạo lồng ghép các nguồn lực để triển khai cải tạo, nâng cấp các công trình thủy lợi trên địa bàn
Kết quả: Kiên cố hoá 5,96 km kênh mương, xây mới 02 trạm bơm (Trạm bơm
Nhân Tiến, Trạm bơm xóm 8 Chính Lý),… ở các xã Tiến Thắng, Nhân Thịnh,
Nhân Mỹ, Nhân Bình, Phú Phúc, Chính Lý… Các công trình được triển khai thi công, hoàn thành và đưa vào sử dụng theo đúng kế hoạch tạo điều kiện thuận lợi cho công tác tưới tiêu, phát triển sản xuất của địa phương
* Các công trình do các Công ty KTCT TL tỉnh Hà Nam làm chủ đầu tư:
Đã hoàn thành kế hoạch xây dựng, sửa chữa, tu bổ, nạo vét của công ty gồm các hạng mục công trình trên các kênh: C1, C2, C5, T1,… với tổng kinh phí
là 3,22 tỷ đồng
* Các công trình thủy lợi nội đồng:
Kênh tưới, tiêu, bờ vùng, bờ thửa là những công trình do HTX NN quản lý
và tổ chức cải tạo, tu sửa bằng nguồn vốn của HTX, nguồn vốn hỗ trợ sử dụng dịch
vụ công ích thủy lợi và các nguồn vốn khác Trong năm 2021, các HTX NN đã chủ động thực hiện kế hoạch làm thủy lợi Đông Xuân kết hợp với giải tỏa các vi phạm,
Trang 4phát quang cây cỏ lòng bờ kênh; tháo dỡ đăng, đó, vó bè, thu dọn đất, đá rác thải đổ xuống lòng kênh, bờ kênh; bảo dưỡng cống, đập, bể hút, trạm bơm, máy bơm làm thông thoáng dòng chảy từ công trình đầu mối đến mặt ruộng, kết quả nạo vét cụ thể: Kênh chính: Khối lượng thực hiện 73.560 m3 đạt 108,6% KH; Kênh nhánh, bờ vùng: Khối lượng thực hiện 59.630 m3 đạt 111,5%KH
4 Công tác quản lý đê, công trình thuỷ lợi
Ủy ban nhân dân huyện tiếp tục chỉ đạo UBND các xã phối hợp với các ngành chức năng tuyên truyền Luật đê điều, Luật Phòng chống thiên tai, Luật Thủy lợi và các văn bản dưới luật để các tổ chức, cá nhân hiểu và thực hiện đúng các quy định của nhà nước; đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, phát hiện kịp thời và
xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm trên địa bàn
- Trong năm 2021 và đầu năm 2022 tình hình vi phạm Luật đê điều đã có chiều hướng giảm hơn so với những năm trước nhưng vẫn còn diễn ra Tổng số vụ
vi phạm phát hiện là 37 vụ, cụ thể:
+ Trong năm 2021 đã phát hiện ngăn chặn 32 vụ vi phạm (31 vụ vi phạm
mới, 01 vụ vi phạm cũ tái vi phạm), xử lý dứt điểm 21 vụ, đình chỉ còn tồn tại 10
vụ, gồm: Xây dựng công trình phụ tạm 14 vụ, đã xử lý dứt điểm 07 vụ; đổ vật liệu
lên đê và trong hành lang bảo vệ đê điều10 vụ, đã xử lý 05 vụ, đình chỉ 05 vụ; chặt tre chắn sóng 02 vụ, đã xử lý 02 vụ; đào xẻ đê 02 vụ, đã xử lý 02 vụ; trồng cây cảnh trên đê 03 vụ, đã xử lý 02 vụ
+ Đầu năm 2022 có 05 vụ vi phạm, xử lý dứt điểm 01 vụ gồm: Xây dựng công trình tạm 01 vụ, đang đình chỉ; xây dựng tường dậu 01 vụ; đổ vật liệu lên đê
03 vụ, đã xử lý dứt điểm 01 vụ
- Trên hệ thống công trình thuỷ lợi đã tổ chức giải toả 370.000m2 bèo sen, khoai nước, tháo dỡ 26 lượt đăng đó, vó bè cản trở dòng chảy trong mùa mưa bão Các vi phạm công trình thủy nông chủ yếu như: Trồng cây trên bờ kênh, vây lưới nuôi vịt, xây dựng hạng mục công trình phụ trợ vi phạm hành lang bảo vệ công trình thủy lợi, đặc biệt là hiện tượng đổ rác, xả chất thải trực tiếp xuống các lòng kênh tưới, tiêu vẫn còn xảy ra ở các địa phương gây ô nhiễm môi trường và khó khăn cho việc vận hành, khai thác Trong năm qua, Xí nghiệp thủy nông Lý Nhân
đã phối hợp với các địa phương thường xuyên kiểm tra, phát hiện và ngăn chặn các
vi phạm và đôn đốc các hộ tự tháo dỡ; tuy nhiên việc xử lý chưa kiên quyết và hiệu quả chưa cao
5 Công tác chống lũ, úng, hạn
- Chống lũ: Về cơ bản các xã, thị trấn đã chú trọng đến công tác PCTT, thực
hiện tốt phương châm “4 tại chỗ” Chủ động phối kết hợp giữa các ban ngành dưới
sự chỉ đạo của Ban Chỉ huy PCTT& TKCN huyện
- Chống úng: Ngay từ đầu năm do tập trung chỉ đạo tốt công tác làm thủy lợi Đông Xuân, mặt khác do lượng mưa trung bình và tập trung vào tháng 4 đến tháng
9, hệ thống kênh mương được quan tâm nâng cấp kiên cố hóa, giải tỏa, nạo vét, các trạm bơm tiêu thường xuyên được sửa chữa, nâng cấp nên khi có mưa lớn đã chủ động tiêu thoát nước kịp thời
Trang 5- Chống hạn: Ngay từ đầu năm, do lượng mưa ít, mực nước trên các sông xuống thấp, kéo dài nhiều ngày gây khó khăn cho công tác tưới làm đất phục vụ sản xuất vụ Xuân, đặc biệt là các xã phía Bắc huyện thuộc hệ thống Liên Mạc, trước tình hình đó UBND huyện tập trung chỉ đạo các xã, HTX NN chủ động kiểm tra để kịp thời điều chỉnh kế hoạch tưới cho phù hợp với diễn biến tình hình thời tiết và tình hình nguồn nước, đảm bảo thực hiện theo kế hoạch lấy nước của ngành thủy nông; đối với những diện tích khó khăn về nước thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo kế hoạch đã được phê duyệt
6 Công tác tìm kiếm cứu nạn năm 2021
- Ngay từ đầu năm, Ban Chỉ huy quân sự huyện đã phối hợp với Phòng Nông nghiệp & PTNT và các ngành liên quan tiến hành rà soát, đánh giá thực trạng hệ thống đê điều, thủy nông và các trọng điểm PCTT trên địa bàn để chỉ đạo các cơ quan, địa phương xây dựng kế hoạch, phương án phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn sát với thực tế Các xã, thị trấn đã chủ động kiện toàn xây dựng lực lượng đội xung kích PCTT đảm bảo số lượng, chất lượng sẵn sàng tham gia ứng cứu khi có thiên tai xảy ra
- Tổ chức hiệp đồng nhiệm vụ PCTT & TKCN với các đơn vị tăng cường và đơn vị bạn, đảm bảo chặt chẽ, sẵn sàng ứng phó kịp thời khi có sự cố xảy ra
7 Công tác khắc phục hậu quả thiên tai
Năm 2021, thiên tai xảy ra trên địa bàn tỉnh huyện không nặng nề như những
năm trước, trong năm huyện chỉ chịu ảnh hưởng nhẹ của 04 cơn bão (bão số 02,
03, 07 và 08) gây mưa lớn Tuy nhiên với tinh thần cảnh giác, chuẩn bị sẵn sàng
trước mọi tình huống xấu, UBND huyện đã chỉ đạo các ngành, địa phương thực hiện nghiêm chế độ thường trực, trực ban theo Quy chế về công tác trực phòng, chống thiên tai, kịp thời tham mưu ban hành các văn bản chỉ đạo các biện pháp đối phó với mưa bão; thường xuyên duy trì công tác tuần tra, canh gác do đó đã đảm bảo an toàn công trình đê điều, thủy lợi, tưới tiêu kịp thời phục vụ sản xuất nông nghiệp
8 Công tác thu, nộp quỹ Phòng chống thiên tai
Năm 2021, UBND huyện tiếp tục hướng dẫn, đôn đốc các địa phương, đơn
vị, doanh nghiệp trên địa bàn huyện thực hiện việc truy thu Quỹ Phòng chống thiên tai các năm trước; xây dựng Kế hoạch thu, nộp Quỹ năm 2021; mặc dù còn nhiều khó khăn trong việc thu nộp quỹ PCTT nhất là đối với doanh nghiệp, tuy nhiên kết quả thu quỹ cũng đạt được kết quả nhất định, tổng số tiền thu được trong năm 2021
là 1.522.291.065 đồng, cụ thể như sau:
- Số tiền truy thu của năm 2020 là: 7.322.000 đồng
- Số tiền thu của năm 2021 là: 1.514.969.065 đồng, đạt 54,6%KH, trong đó:
+ Khối các cơ quan, đơn vị thu được 453.641.163 đồng, đạt 100,3%KH.
+ Khối xã, thị trấn thu được 905.401.102 đồng, đạt 100,3%KH
+ Khối doanh nghiệp có 30/267 doanh nghiệp nộp với số tiền 155.926.800 đồng, đạt 11%KH
III Đánh giá chung:
Trang 6Năm 2021, với tinh thần chủ động, sẵn sàng đối phó với mọi tình huống thiên tai có thể xảy ra, các ngành và các địa phương trong huyện vẫn luôn chủ động, thực hiện nghiêm sự chỉ đạo của các cấp, các ngành, của UBND huyện, tích cực chuẩn bị và thực hiện các biện pháp phòng, chống ngay từ đầu mùa mưa lũ, vì vậy các công trình được đảm bảo an toàn, góp phần quan trọng trong việc ổn định đời sống và phát triển sản xuất của nhân dân Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, trong năm qua công tác PCTT & TKCN của huyện vẫn còn một số tồn tại cần khắc phục đó là:
- Công tác chuẩn bị theo phương châm “4 tại chỗ” ở một số xã chưa đảm bảo
đủ về số lượng và chất lượng chưa đảm bảo yêu cầu; một số địa phương xây dựng phương án trọng điểm, phương án di dân chưa cụ thể, chưa sát với tình hình thực tế của địa phương Hoạt động của lực lượng quản lý đê nhân dân ở một số địa phương hiệu quả chưa cao
- Tình trạng vi phạm pháp Luật Đê điều và Luật Thuỷ lợi vẫn còn xảy ra, chưa được xử lý dứt điểm như: Đào đất mái cơ đê; để vật liệu lên đê; dựng lán, công trình vào chân đê, công trình thuỷ nông, vi phạm hành lang thoát lũ bãi sông Hồng việc phát hiện, xử lý vi phạm thiếu quyết liệt, dứt điểm dẫn đến vi phạm kéo dài, tái vi phạm vẫn còn xảy ra
- Tình trạng xả rác, chất thải chăn nuôi xuống lòng kênh, mái đê gây ô nhiễm môi trường, làm ách tắc dòng chảy vẫn xảy ra ở các địa phương
- Quỹ Phòng chống thiên tai chưa thu được triệt để nhất là ở khối các doanh nghiệp
* Nguyên nhân của những tồn tại trên là:
- Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng chống thiên tai, đê điều, thủy lợi có lúc, có nơi chưa được thường xuyên, kịp thời
- Đê đi qua huyện Bình Lục dài và đi qua nhiều khu dân cư đông đúc, nhân dân ở sát chân đê cũng là một trong những nguyên nhân phát sinh các vụ vi phạm Luật đê điều Công tác chỉ đạo của chính quyền một số địa phương có lúc chưa cụ thể, thiếu kiên quyết đặc biệt là việc chỉ đạo xử lý vi phạm ngay từ khi mới phát hiện
- Những năm gần đây tình hình lũ trên sông Hồng diễn ra ít phức tạp nên một
bộ phận cán bộ, nhân dân còn có tư tưởng chủ quan
- Quỹ Phòng chống thiên tai chưa thu được triệt để do ý thức chấp hành của một số đơn vị, doanh nghiệp còn thấp
IV Một số bài học kinh nghiệm
- Luôn coi trọng công tác kiểm tra, đánh giá hiện trạng công trình trước mùa mưa bão, phát hiện sớm, đúng nguyên nhân và xử lý kịp thời, đúng kỹ thuật là yếu
tố cơ bản giải quyết được các sự cố
- Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật về phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn đến cộng đồng
- Chủ động chuẩn bị đầy đủ các trang thiết bị, vật tư, nhân lực trước mùa
mưa bão theo phương châm “4 tại chỗ”, khi có sự cố xảy ra phải chủ động xử lý
ngay từ giờ đầu Chống mọi biểu hiện chủ quan, lơ là, mất cảnh giác trước thiên tai
Trang 7- Để ngăn chặn tình trạng vi phạm Luật đê điều, Luật phòng chống thiên tai, Luật Thuỷ lợi đòi hỏi các cấp, các ngành có liên quan đặc biệt là chính quyền địa phương phải chủ động phát hiện và xử lý quyết liệt, không đùn đẩy trách nhiệm, nể nang, né tránh; đặc biệt phải thường xuyên kiểm tra, phát hiện ngăn chặn kịp thời các vi phạm từ khi mới phát sinh, không để hình thành vi phạm lớn, kéo dài
- Chủ động triển khai đồng bộ các giải pháp để sẵn sàng đối phó với các diễn biến của thời tiết, tuân thủ tuyệt đối quy trình vận hành hệ thống Có sự phối hợp chặt chẽ của các cấp, các ngành trong việc phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn
PHẦN THỨ HAI NHIỆM VỤ VÀ CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN NĂM 2022
I Hiện trạng hệ thống công trình thủy lợi và dự báo xu thế tình hình lũ bão năm 2022
1 Hiện trạng hệ thống công trình thuỷ lợi
1.1 Công trình Đê điều
a Đê, bối và cống dưới đê, bối:
+ Đê:
Đê Hữu Hồng qua địa bàn huyện Bình Lục dài 27,343 km (từ K129,530
-:-K156,873), cao trình mặt đê từ +6,96 -:- + 9,5 (cao trình đê ổn định) đảm bảo ngăn
được lũ theo mực nước thiết kế Đã có 22,845 km được rải nhựa, còn 4,498km mặt
đê bằng bê tông, cấp phối bị xuống cấp xuất hiện nhiều ổ gà gây khó khăn trong việc đi lại và một số đoạn mặt đê mới làm bị xuống cấp; 05 điếm bị xuống cấp nghiêm trọng cần làm mới, 07 điếm bị hư hỏng cần sửa chữa; tre chắn sóng cơ bản
đã ấm bụi, chỉ còn một số vị trí cục bộ tre bị chết
+ Bối Hồng Lý: (xã Chân Lý) có chiều dài 7,15 km cao trình mặt bối từ
+6,8-:- +7,5 khả năng đảm bảo an toàn ở mức báo động II, III; từ K0-:-K1,800 đã được cứng hóa bằng bê tông chiều rộng mặt bối từ 3 - 4m; từ K1,800 -:- K2,650 mặt bối chưa được dải cấp phối; từ K2,650-:-K5,450 mặt bối bê tông làm đường cứu hộ rộng b = (5,5 -:- 7)m, K5,450 -:- K6,250 cải tạo apphan bằng công nghệ mới, K6,250 -:- K6,800 mặt bối đất, cấp phối rộng (3-5)m, K6,800 -:- K7,150 bê tông rộng (6 – 7) m
+ Bối Nhân Long: (xã Nhân Thịnh, Phú Phúc) có chiều dài 7,59 km, mặt bối
đang được cải tạo Khả năng đảm bảo an toàn ở mức báo động II, III
+ Bối Nhân Hòa: (xã Hòa Hậu) có chiều dài 2,56 km, cao trình mặt bối từ
+5,4 -:- +5,8 chiều rộng mặt bối từ (4 - 6,5)m, rải cấp phối, một số vị trí mặt bối bị xuống cấp xuất hiện ổ gà; khả năng đảm bảo an toàn ở mức báo động II, III
+ Cống dưới đê:
Trên toàn tuyến có 08 cống do công ty KTCT thủy lợi Bắc Nam Hà và Công
ty TNHH một Thành viên KTCT Thủy lợi tỉnh Hà Nam quản lý, các cống hiện vận hành bình thường
+ Cống dưới bối:
Trang 8Tổng toàn tuyến có 12 cống, trong đó có 07 cống đảm bảo hoạt động bình
thường (Cống Vũ Điện, Cống Ông Bí, Cống TB tiêu Hồng Lý, Cống TB Do Đạo,
Cống Ông Phu, Cống NP3, Cống Đặng), 02 cống đang được cải tạo (Cống Đình, Cống Bà Tơn), 03 cống cần khắc phục sửa chữa cụ thể:
- Cống TB tưới Hồng Lý: Hoạt động bình thường Hiện nay đang xuất hiện doi cát bồi trước cửa kênh lấy nước của kênh dẫn trạm bơm tưới Hồng Lý, cao trình +0,5 -:- +1,0, rộng 50m ra sông lấp bịt cửa kênh lấy nước
- Cống đường Phà: Rò rỉ qua mang cống hạ lưu khi có lũ
- Cống NP5: Cánh cống bê tông, ty van bị han gỉ, máy đóng mở bị hỏng
b Hệ thống kè, bãi sông:
Hệ thống mỏ kè, kè lát mái hộ bờ địa phận huyện Bình Lục gồm có 15 mỏ
(Nguyên Lý 3 mỏ số 3,4,5; Chương xá 7 mỏ từ mỏ 1 -:- mỏ 7; Như Trác 5 mỏ từ mỏ
0 -:- mỏ 4) và hệ thống kè lát mái hộ bờ Nguyên Lý, Chương Xá, Vũ Điện, Hồng
Lý, Như Trác, Phú Phúc; hiện trạng như sau:
- Kè Nguyên Lý:
+ Lát mái hạ lưu mỏ 5 và phần lát mái giữa mỏ 3-4: ổn định Kè lát mái Nguyên Lý vị trí hạ lưu mỏ 5 bị xói lở đất đắp đỉnh kè, đá lát trong khung bê tông
bị xói lở, sập 10m2 (do nước mưa tập trung từ bãi sông).
+ Kè mỏ 3, 4, 5: Hoạt động bình thường
- Kè Chương Xá:
+ Các mỏ kè 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 hoạt động bình thường
+ Kè lát mái hộ bờ từ cống Vũ Xá đến mỏ 1 (K134,100 -:- K135,100) cơ kè
bị long lở, sụt sạt cục bộ nhiều chỗ, mái kè bị xói sập do nước mưa 30m2 Tại vị trí giáp mỏ 1 phần cơ kè bị lở b=(2-:-4m), dài L = 40m, vị trí K134,5 -:- K134,510 cơ
kè bị lở hết L = 10m, b=(2-:-3)m, h= (0,4-:-0,5)m
+ Kè lát mái giữa các mỏ: Đoạn kè lát mái giữa mỏ 3-:4, vị trí cách tim mỏ
4 về phía thượng lưu 35m mái cơ kè bị xói lở chiều dài 30m (hư hỏng từ những
năm trước).
- Kè lát mái Vũ Điện: Tại vị trí đầu tuyến 15m mái cơ kè bị xói lở cục bộ
(vị trí tiếp giáp mỏ số 7 kè Chương Xá).
- Kè lát mái Hồng Lý: Chiều dài L = 5.271,7 m đánh giá toàn tuyến tương đối
ổn định Tại vị trí khu vực xóm 5 đá lát mái trong khung bê tông bị sạt sập do nước mưa diện tích 30m2 (hư hỏng từ những năm trước)
- Kè mỏ hàn Như Trác: Ổn định
Thân mỏ 2, 3, 4 đá lát bị bong xô, long lở do lũ, bão từ những năm trước
- Kè lát mái Như Trác: Ổn định, có một số hư hỏng nhỏ xuất hiện từ những
năm trước tại mỏ 2, 3, 4
- Kè lát mái Phú Phúc: K149,000 -:- K152,500 ổn định Có một số điểm hư
hỏng nhỏ cục bộ, cần theo dõi
- Bãi sông: Từ K152,500 -:- K156,873 bị xói lở nhỏ từ (0,5 -1)m/năm.
Trang 91.2 Công trình Thủy nông
a Trạm bơm:
Trên địa bàn huyện có 03 trạm bơm lớn TB Như Trác, Nhân Hòa do Công ty KTCT TL Bắc Nam Hà quản lý, hằng năm được bảo dưỡng định kỳ đảm bảo duy trì hoạt động tốt và Trạm bơm Quan Trung do Công ty KTCT TL tỉnh Hà Nam quản lý
khai thác (có một số bộ phận bị hư hỏng đã có kế hoạch sửa chữa); 67 trạm bơm do
các HTX quản lý và khai thác, ngoài một số trạm bơm mới được đầu tư xây mới và
nâng cấp trong những năm gần đây (Trạm bơm Nhân Tiến, Trạm bơm xóm 8 Chính
Lý,…), còn lại đều đã được xây dựng từ lâu, thiết bị lạc hậu, nhà trạm đã xuống cấp
b Kênh:
+ Kênh tưới:
Các kênh C4, C1-6a, C9-8, C3, C5, nhiều đoạn bờ kênh nhỏ, trượt sạt, rò rỉ nước, bồi lắng, tràn bờ Trên hệ thống kênh tưới ở một số vị trí, đầu cống còn tồn tại nhiều rác Còn lại các kênh khác hoạt động bình thường đảm bảo phục vụ sản xuất và công tác phòng chống mưa, úng
+ Kênh tiêu:
Một số kênh tiêu bị bồi lắng cần nạo vét: CG2, CG4b, T4, T21, T19-9, SL19, CG18, ở một số địa phương: Nhân Khang, Trần Hưng Đạo, Nguyên Lý, Chính Lý,
Hòa Hậu… Các kênh T11, CG4, CG8 (khu vực trường tiểu học xã Nhân Bình)
nhiều đoạn bờ kênh nhỏ, xuống cấp, trượt sạt Trên hệ thống kênh tiêu còn tồn tại nhiều rác gây ảnh hưởng tới việc tiêu thoát nước
c Cống:
Hiện trạng một số cống tưới, tiêu do Công ty TNHH MTV Khai thác công trình Thủy lợi Hà Nam quản lý và khai thác có những hư hỏng nhỏ cần được tu bổ
và nâng cấp Một số cống trên các tuyến đường giao thông nông thôn đang thi công
dở dang bị hư hỏng nặng; thiếu bộ phận điều tiết, thiếu hệ thống đóng mở qua một
số địa phương: Nhân Nghĩa, Nhân Chính, Phú Phúc… nên đã ảnh hưởng đến công tác tưới, tiêu nước phục vụ sản xuất và phòng, chống mưa, úng
2 Nhận định xu thế diễn biến thời tiết năm 2022
- Theo dự báo của Đài khí tượng thuỷ văn tỉnh Hà Nam: Mùa mưa có khả năng đến sớm hơn theo quy luật tự nhiên, bão hoạt động trên Biển Đông muộn hơn TBNN, trên biển Đông từ 12÷14 cơn Ảnh hưởng trực tiếp đến đất liền Việt Nam từ 4÷6 cơn, ảnh hưởng trực tiếp đến đất liền các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ từ 2÷3 cơn
- Tổng lượng mưa toàn mùa ở mức cao hơn so với TBNN Tổng lượng mưa
dự báo từ 1.600÷1.800mm; các tháng đầu mùa (tháng 5; 6) thấp hơn TBNN, tháng
7 xấp xỉ TBNN, các tháng cuối mùa cao hơn TBNN Có từ 7 đến 9 đợt mưa vừa, mưa to
- Nền nhiệt độ trung bình toàn mùa từ 28,0÷29,0ºC, cao hơn TBNN Nhiệt độ cao nhất từ 39÷41ºC Có khoảng 5 đến 7 đợt nắng nóng, đợt nắng nóng đầu mùa có khả năng xảy ra vào nửa đầu tháng 5, thời gian nắng nóng tập trung trong tháng 6,
7 Có 3-4 đợt nắng nóng gay gắt và kéo dài ≥ 5 ngày
Trang 10- Thủy văn: Mùa lũ năm 2022 trên sông Hồng có khả năng xuất hiện lũ Tiểu mãn, có khoảng 2-3 đợt lũ Mực nước đỉnh lũ năm 2022 thấp hơn giá trị cùng kỳ TBNN, cao hơn năm 2021, có khả năng ở mức 3,50÷4, 0 0m, dưới mức BĐ1, thời gian xuất hiện vào tháng 7 và tháng 8
II Phương hướng, nhiệm vụ PCTT và TKCN năm 2022
1 Mục tiêu chung
Chủ động phòng tránh, ứng phó kịp thời, khắc phục khẩn trương và có hiệu quả; lấy phòng tránh là chính, kiên quyết giữ vững đê điều khi lũ chưa vượt mốc lũ lịch sử; không để xảy ra mất mùa do hạn hán hoặc ngập úng khi có mưa, lũ, bão chưa vượt quá khả năng của công trình, hạn chế thấp nhất thiệt hại về người và tài sản do thiên tai gây ra
2 Mục tiêu cụ thể
a Chống lũ, bão:
- Đối với đê: Đảm bảo giữ cho 27,343 km đê sông Hồng ở mức lũ thiết kế tại
Hà Nội +13,1m; tại Như Trác là +6,9m Phấn đấu giữ an toàn cho đê với mực nước
lũ lịch sử năm 1971 tại Hà Nội +13,97m, tại Như Trác là +7,81m và tổ hợp lũ, bão, triều cường như năm 1996
- Đối với 3 vùng bối lớn: Hồng Lý, Nhân Long, Nhân Hòa đảm bảo giữ cho bối an toàn khi mực nước lũ tại Như Trác ở báo động 2, nếu thượng nguồn vẫn có mưa lớn chưa bắt được đỉnh lũ phải chủ động di dân, lải nước vào trong bối để giữ
an toàn cho đê chính, không để xảy ra vỡ bối đột xuất bất ngờ, đặc biệt tại các vị trí cống qua bối
- Thường xuyên theo dõi tin bão, chủ động chằng chống nhà cửa, kho tàng, trường học nhằm hạn chế thiệt hại ở mức thấp nhất về nhà cửa, đảm bảo an toàn tính mạng cho người đối với bão có sức gió từ cấp 7 trở lên
b Chống úng, hạn phục vụ sản xuất nông nghiệp:
- Đảm bảo tưới, tiêu hợp lý cho khoảng 7.600 ha lúa và các loại hoa màu khác, thường xuyên tiêu nước đệm đề phòng úng ở thời kỳ lúa mới cấy thời điểm tập trung vào tháng 7, 8 và trồng cây vụ Đông cuối tháng 9 đầu tháng 10 Chỉ đạo thực hiện tốt việc tu bổ, sửa chữa các trạm bơm tưới tiêu để phục vụ kịp thời cho sản xuất nông nghiệp Tiếp tục thực hiện Kế hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất trồng lúa đảm bảo kế hoạch đề ra nhất là chuyển đổi diện tích đất lúa do khó khăn về nước tưới ở các xã phía Bắc của huyện
- Xí nghiệp Thuỷ nông Lý Nhân sửa chữa các hạng mục công trình bị hư hỏng, xuống cấp thuộc phạm vi quản lý của ngành Xây dựng phương án chống úng
cụ thể cho phù hợp với từng địa bàn và các biện pháp khi có sự cố xảy ra Khi nắng hạn kéo dài phải đảm bảo cung cấp đủ nước tưới kịp thời cho 100% diện tích canh tác trong khung thời vụ cho phép, tuyệt đối không để xảy ra mất mùa do thiếu nước
- Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn tập trung xử lý dứt điểm các trường hợp vi phạm các công trình thủy lợi còn tồn tại; đồng thời, phối hợp các các ngành liên quan thường xuyên kiểm tra, phát hiện và ngăn chặn kịp thời các vi phạm từ khi