1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn và đặc trưng ngôn ngữ học tri nhận của chúng (so sánh với tiếng Việt)

461 15 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Từ Ngữ Chỉ Bộ Phận Cơ Thể Người Trong Thành Ngữ, Tục Ngữ Tiếng Hàn Và Đặc Trưng Ngôn Ngữ Học Tri Nhận Của Chúng (So Sánh Với Tiếng Việt)
Tác giả Bùi Thị Mỹ Linh
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Thể loại Luận Án Tiến Sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 461
Dung lượng 7,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NỘI DUNG NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN 1. Góp phần tạo nghiên cứu các mô hình ẩn dụ ý niệm (ADYN) và hoán dụ ý niệm (HDYN) trên một nguồn dữ liệu bao quát và có phần mới chính là từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người (BPCTN) trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn và tiếng Việt. 2. Xác định đặc trưng ngôn ngữ học tri nhận của các từ ngữ chỉ BPCTN trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn và tiếng Việt. 3. Các mô hình ADYN và HDYN sẽ trở thành cơ sở giải thích nghĩa các thành ngữ, tục ngữ chứa từ ngữ chỉ BPCTN trong tiếng Hàn và tiếng Việt. 4. Cung cấp nguồn tài liệu thành ngữ, tục ngữ chứa từ ngữ chỉ BPCTN trong việc biên soạn tài liệu học tập và nghiên cứu cho người Việt học tiếng Hàn và người Hàn học tiếng Việt. 5. Phần phụ lục của luận án sẽ trở thành nguồn tham khảo cho công tác học tập, giảng dạy tiếng Hàn cho người Việt và tiếng Việt cho người Hàn trong các học phần tiếng Hàn và học phần Ngôn ngữ - Văn hoá. Đồng thời đây sẽ là nguồn tài liệu tham khảo đáng giá cho các nghiên cứu liên quan đến thành ngữ, tục ngữ nói chung và thành ngữ, tục ngữ chứa từ ngữ chỉ BPCTN nói riêng. 6. Phần phụ lục sẽ trở thành nguồn tài liệu để biên soạn từ điển Hàn - Việt và Việt - Hàn liên quan đến từ ngữ chỉ BPCTN cũng như thành ngữ, tục ngữ chứa từ ngữ chỉ BPCTN trong tiếng Hàn và tiếng Việt. 7. Người Hàn và người Việt đều dùng khía cạnh trao đổi và giá trị của hàng hóa để ý niệm lên con người. Đặc biệt vì đều là quốc gia chịu ảnh hưởng tư tưởng trọng nam khinh nữ nên vai trò và vị thế của người phụ nữ trong xã hội không được xem trọng. Và điều này thể hiện rõ trong mô hình ADYN với miền nguồn HÀNG HÓA. Thân thể phụ nữ được xem là hàng hóa và người mua hàng hóa này là đàn ông. 8. Có sự khác biệt rõ ràng trong cách thức tri nhận của người Hàn và người Việt. Vốn là đất nước có thời gian lạnh nhiều kéo dài trong năm nên trong quy trình tri nhận mô hình ADYN BPCTN LÀ MÓN ĂN thì người Hàn dùng những hoạt động chế biến, làm nóng món ăn để ý niệm. Việt Nam là đất nước với nền nông nghiệp lấy cây lúa nước là chủ lực. Gạo đóng vai trò quan trọng trong ẩm thực của nước Việt Nam. Gạo được dùng nấu cơm, nấu xôi và làm nên các loại bánh có mặt trong các ngày lễ quan trọng. Đây là cơ sở để lý giải trong mô hình tri nhận BPCTN LÀ MÓN ĂN, người Việt thường dùng các loại bánh để tri nhận vẻ ngoài của con người. Mà điều này không có trong cách thức tri nhận của người Hàn. 9. Hàn Quốc và Việt Nam chịu ảnh hưởng từ văn hóa Trung Hoa xưa, trong đó có các nghi thức về lễ cưới. Người Hàn dùng nghi thức bới tóc cho cô dâu trước khi về nhà chồng để thay cho việc gả chồng. Trong khi đó người Việt dùng nghi thức kết tóc từ tóc của tân lang, tân nương để thay cho việc kết hôn và mối quan hệ gắn kết của vợ chồng. Luận án có đề cập đến sự ảnh hưởng của Hán ngữ trong cách thức tri nhận của người Hàn và người Việt như cách tri nhận BỤNG LÀ VẬT CHỨA KIẾN THỨC là chịu ảnh hưởng từ tiếng Hán, thể hiện trong cách nói như “Hung vô điểm mặc”. Hoặc cách thức tri nhận GAN MẬT LÀ VẬT CHỨA CAN ĐẢM, đặc biệt đã được từ vựng hóa trong tiếng Việt. Đây là phần nội dung vẫn còn chưa được phân tích sâu trong phạm vi luận án và sẽ là mảng nghiên cứu mà chúng tôi tiếp tục theo đuổi để làm rõ hơn trên con đường nghiên cứu sau này.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BÙI THỊ MỸ LINH

TỪ NGỮ CHỈ BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI TRONG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ TIẾNG HÀN

VÀ ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN CỦA CHÚNG

(SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA NƯỚC NGOÀI

Thành phố Hồ Chí Minh – 2022

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BÙI THỊ MỸ LINH

TỪ NGỮ CHỈ BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI TRONG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ TIẾNG HÀN

VÀ ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN CỦA CHÚNG

(SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT)

Chuyên ngành : Ngôn ngữ học

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA NƯỚC NGOÀI

Thành phố Hồ Chí Minh – 2022

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết

quả trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công

trình nào khác

TP Hồ Chí Minh – 2022 Tác giả luận án

Bùi Thị Mỹ Linh

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Mục lục ii

Danh mục các bảng vi

Bảng quy ước trình bày vii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 13

1.1 Ẩn dụ và hoán dụ từ ngôn ngữ học truyền thống đến ngôn ngữ học tri nhận 13

1.1.1 Ẩn dụ và hoán dụ theo quan điểm ngôn ngữ học truyền thống 13

1.1.2 Ẩn dụ và hoán dụ theo quan điểm ngôn ngữ học tri nhận 15

1.1.3 So sánh ẩn dụ ý niệm và hoán dụ ý niệm 16

1.2 Phân loại ẩn dụ ý niệm và hoán dụ ý niệm 18

1.2.1 Phân loại ẩn dụ ý niệm 18

1.2.1.1 Ẩn dụ cấu trúc 21

1.2.1.2 Ẩn dụ định vị 21

1.2.1.3 Ẩn dụ bản thể 22

1.2.2 Phân loại hoán dụ ý niệm 23

1.2.2.1 Hoán dụ theo mô hình toàn thể và bộ phận 25

1.2.2.2 Hoán dụ theo mô hình sự kiện 26

1.2.2.3 Hoán dụ theo mô hình phạm trù và thuộc tính 27

1.3 Tiểu kết 27

CHƯƠNG 2 SỐ LƯỢNG, TẦN SỐ VÀ CÁCH THỨC XUẤT HIỆN CỦA TỪ NGỮ CHỈ BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI TRONG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ TIẾNG HÀN (SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT) 29

2.1 Số lượng và tần số xuất hiện của từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn 29

2.1.1 Số lượng từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn 29

Trang 5

2.1.2 Tần số xuất hiện từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người trong thành ngữ, tục

ngữ tiếng Hàn 31

2.2 Cách thức xuất hiện của từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người 33

2.2.1 Xuất hiện một từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người 33

2.2.2 Xuất hiện tổ hợp nhiều từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người 35

2.2.2.1 Từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người xuất hiện trong tổ hợp lặp 35

2.2.2.2 Từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người xuất hiện trong tổ hợp không lặp 40

2.3 Tiểu kết 49

CHƯƠNG 3 ẨN DỤ Ý NIỆM CỦA TỪ NGỮ CHỈ BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI TRONG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ TIẾNG HÀN (SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT) 50

3.1 Ẩn dụ cấu trúc 50

3.1.1 BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI LÀ HÀNG HÓA 50

3.1.2 BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI LÀ MÓN ĂN 56

3.1.3 BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI LÀ VŨ KHÍ 61

3.1.4 BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI LÀ VẬT CHIẾU SÁNG 63

3.1.5 BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI LÀ TRỤC QUAY TRONG ĐỘNG CƠ 65

3.2 Ẩn dụ định vị 66

3.2.1 HƯỚNG THẲNG ĐỨNG 67

3.2.2 HƯỚNG NẰM NGANG 70

3.3 Ẩn dụ bản thể 75

3.3.1 Ẩn dụ vật chứa 76

3.3.1.1 BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI LÀ VẬT CHỨA THỨC ĂN 76

3.3.1.2 BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI LÀ VẬT CHỨA THAI NHI 80

3.3.1.3 BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI LÀ VẬT CHỨA CẢM XÚC 81

3.3.1.4 BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI LÀ VẬT CHỨA TÍNH CÁCH 83

3.3.1.5 BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI LÀ VẬT CHỨA LỜI NÓI 87

3.3.1.6 BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI LÀ VẬT CHỨA KIẾN THỨC, SUY NGHĨ 89

Trang 6

3.3.2 Ẩn dụ thực thể 92

3.3.2.1 THAM VỌNG LÀ MỘT THỰC THỂ 92

3.3.2.2 TRÁCH NHIỆM LÀ VẬT NẶNG ĐÈ TRÊN VAI 93

3.3.2.3 NỖI BUỒN, SỰ LO LẮNG LÀ VẬT ĐÈ NẶNG 94

3.3.2.4 CẢM XÚC TIÊU CỰC LÀ THỨ GÂY ĐAU ĐỚN 95

3.3.2.5 CẢM XÚC LÀ MỘT NGỌN LỬA 96

3.3.2.6 CẢM XÚC LÀ NƯỚC 97

3.4.Tiểu kết 98

CHƯƠNG 4 HOÁN DỤ Ý NIỆM CỦA TỪ NGỮ CHỈ BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI TRONG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ TIẾNG HÀN (SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT) 101

4.1 Hoán dụ theo mô hình toàn thể và bộ phận 101

4.1.1 BỘ PHẬN THAY CHO TOÀN THỂ 102

4.1.1.1 BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI THAY CHO CON NGƯỜI 102

4.1.1.2 BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI THAY CHO CÁC BÊN THAM GIA 109

4.1.2 TOÀN THỂ THAY CHO BỘ PHẬN 115

4.1.2.1 TOÀN THỂ BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI THAY CHO PHẦN BỘ PHẬN THUỘC VỀ NÓ 115

4.1.2.2 TOÀN THỂ BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI THAY CHO CHỨC NĂNG 119

4.2 Hoán dụ theo mô hình sự kiện 121

4.2.1 TIỂU SỰ KIỆN NỐI TIẾP THAY CHO TOÀN BỘ SỰ KIỆN 121

4.2.1.1 TIỂU NGHI LỄ NỐI TIẾP THAY CHO TOÀN BỘ NGHI LỄ 121

4.2.1.2 TIỂU HOẠT ĐỘNG NỐI TIẾP THAY CHO TOÀN BỘ HOẠT ĐỘNG 124

4.2.2 TIỂU SỰ KIỆN ĐỒNG XUẤT HIỆN THAY CHO TOÀN BỘ SỰ KIỆN 130

4.2.2.1 TIỂU SỰ KIỆN ĐỒNG XUẤT HIỆN THAY CHO KẾT QUẢ 130

Trang 7

4.2.2.2 TIỂU SỰ KIỆN ĐỒNG XUẤT HIỆN THAY CHO

HÀNH ĐỘNG 132

4.3 Hoán dụ theo mô hình phạm trù và thuộc tính 133

4.3.1 PHẠM TRÙ THAY CHO THUỘC TÍNH 134

4.3.2 THUỘC TÍNH THAY CHO PHẠM TRÙ 135

4.4 Tiểu kết 141

KẾT LUẬN 143

TÀI LIỆU THAM KHẢO 148

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Điểm khác biệt giữa ẩn dụ ý niệm và hoán dụ ý niệm 17

Bảng 2.1 Số lượng từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người phân chia theo nhóm

xuất hiện trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn và tiếng Việt 29

Bảng 2.2 Tần số từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người phân chia theo nhómxuất hiện trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn và tiếng Việt 32

Bảng 2.3 Số lượng thành ngữ, tục ngữ theo từng cách thức xuất hiệntrong tiếng Hàn và tiếng Việt 33

Bảng 2.4 Từ ngữ xuất hiện lặp trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn 36

Bảng 2.5 Từ ngữ xuất hiện lặp trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt 37

Bảng 3.1 Số lượng và tỉ lệ từng miền nguồn trong ẩn dụ cấu trúc 50

Bảng 3.2 Số lượng và tỉ lệ từng miền nguồn trong ẩn dụ định vị 67

Bảng 3.3 Số lượng và tỉ lệ từng miền nguồn trong ẩn dụ bản thể 76

Bảng 4.1 Số lượng và tỉ lệ từng mô hình nhỏ trong mô hình toàn thể và bộ phận 101

Bảng 4.2 Bộ phận cơ thể người thay cho con người 108

Bảng 4.3 Bộ phận cơ thể người thay cho các bên tham gia 114

Bảng 4.4 Toàn thể bộ phận cơ thể người thay cho phần bộ phận thuộc về nó 118

Bảng 4.6 Toàn thể bộ phận cơ thể người thay cho chức năng 120

Bảng 4.7 Số lượng và tỉ lệ của từng mô hình nhỏ trong mô hình sự kiện 121

Bảng 4.8 Tiểu nghi lễ nối tiếp thay cho toàn bộ nghi lễ 124

Bảng 4.9 Tiểu hoạt động nối tiếp thay cho toàn bộ hoạt động 130

Bảng 4.10 Tiểu sự kiện đồng xuất hiện thay cho kết quả 132

Bảng 4.11 Tiểu sự kiện đồng xuất hiện thay cho hành động 133

Bảng 4.12 Số lượng và tỉ lệ của từng mô hình nhỏ trong mô hình phạm trù và thuộc tính 133

Bảng 4.13 Phạm trù thay cho thuộc tính 135

Bảng 4.14 Phạm trù thay cho thuộc tính 140

Trang 9

BẢNG QUY ƯỚC TRÌNH BÀY

1 Quy ước viết tắt

BPCTN: Bộ phận cơ thể người

ADYN: Ẩn dụ ý niệm

HDYN: Hoán dụ ý niệm

Nxb: Nhà xuất bản

2 Quy ước trình bày ví dụ và dịch thuật tiếng Hàn

2.1 Quy ước trình bày ví dụ tiếng Hàn

Tiếng Hàn là ngôn ngữ chắp dính và có quy định nghiêm ngặt trong việc viết dính và viết cách từng chữ, đây được gọi là “띄어쓰기 (viết cách)” Cùng một câu nhưng nếu có sự khác nhau trong việc viết dính và viết cách thì có thể tạo ra những nghĩa khác nhau Nhằm tránh sai lạc trong việc hiểu nghĩa toàn câu tiếng Hàn đồng thời vẫn giúp hiểu nghĩa tương đương từng chữ sang tiếng Việt, câu tiếng Hàn trong luận án được trình bày theo quy ước như sau:

- Hàng đầu tiên: câu tiếng Hàn được trình bày theo quy định viết cách chuẩn

- Hàng thứ hai: câu tiếng Hàn được trình bày riêng lẻ từng chữ để viết nghĩa tương ứng với tiếng Việt

2.2 Quy ước trình bày dịch thuật tiếng Hàn

Nội dung tiếng Hàn trong luận án và phần phụ lục khi dịch sang tiếng Việt được trình bày theo quy ước như sau:

- Nghĩa đen của từng từ ngữ trong tiếng Hàn khi dịch sang tiếng Việt được đặt trong dấu ngoặc nhọn < >

- Nghĩa đen của cả câu tiếng Hàn khi dịch sang tiếng Việt được đặt trong dấu ngoặc vuông [ ]

- Nghĩa tương đương của cả câu tiếng Hàn khi dịch sang tiếng Việt được đặt trong dấu ngoặc đơn ( )

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong giới ngôn ngữ học, các nghiên cứu trên đối tượng nhóm từ ngữ chỉ BPCTN vốn không phải là điều mới mẻ Tuy vậy nhiều nghiên cứu chủ yếu tập trung vào hướng ngữ nghĩa học Các nghiên cứu theo hướng ngôn ngữ học tri nhận lại có khuynh hướng đào sâu vào ADYN hơn HDYN trong sự so sánh đối chiếu với một số ngôn ngữ như tiếng Anh, tiếng Trung… và tập trung vào một hoặc vài từ ngữ chỉ BPCTN với các kiểu diễn ngôn như thành ngữ, ca dao, tác phẩm văn học Từ đó cho thấy nghiên cứu nhóm từ ngữ chỉ BPCTN trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn trong sự so sánh đối chiếu với tiếng Việt trên bình diện ngôn ngữ học tri nhận đang bị

bỏ ngỏ

Tiếng Hàn và tiếng Việt khác nhau rất xa về loại hình: tiếng Hàn thuộc ngôn ngữ chắp dính trong khi đó tiếng Việt thuộc ngôn ngữ đơn lập Tuy nhiên về mặt văn hóa thì hai ngôn ngữ chia sẻ rất nhiều những giá trị chung Điều này khiến cho việc nghiên cứu so sánh hai ngôn ngữ dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận hứa hẹn sẽ đem lại nhiều kết quả thú vị

Ngôn ngữ là dữ liệu quan trọng để nghiên cứu về văn hóa, trong đó đặc biệt là thành ngữ, tục ngữ Bởi vì thành ngữ, tục ngữ chứa cách nhìn của một dân tộc đối với

xã hội, đối với tự nhiên Và khai thác dữ liệu ngôn ngữ theo hướng tìm ra quan niệm của cộng đồng ngôn ngữ đó chính là hướng của ngôn ngữ học tri nhận

Theo đó, một nghiên cứu tiếp cận nhóm từ ngữ chỉ BPCTN dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận, trên cả hướng ADYN và HDYN với đối tượng nghiên cứu là tất cả từ ngữ chỉ BPCTN kết hợp với số lượng lớn thành ngữ, tục ngữ trong sự so sánh giữa tiếng Hàn và tiếng Việt là điều cần thiết

Bên cạnh đó, Hàn Quốc và Việt Nam ngày càng gắn bó khăng khít với nhau trên nhiều phương diện, đặc biệt là về giảng dạy tiếng Hàn và Hàn Quốc học Nếu năm 1994 Việt Nam mới có một cơ sở đào tạo đầu tiên tại trường Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh thì đến năm 2019 Việt Nam có 33 cơ sở giáo dục giảng dạy bậc đại học và cao đẳng trải dài từ Nam ra Bắc (Nguyễn Thị Hiền,

2019, tr.164) Xuất phát từ thực tiễn này, luận án sẽ ứng dụng kết quả nghiên cứu vào

Trang 11

giảng dạy, dịch thuật thành ngữ, tục ngữ chứa từ ngữ chỉ BPCTN trong sự tương liên giữa ngôn ngữ và văn hóa của hai dân tộc

Những điều được trình bày ở trên là lý do để chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu

TỪ NGỮ CHỈ BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI TRONG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ TIẾNG HÀN VÀ ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN CỦA CHÚNG (SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT)

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nghiên cứu của Lakoff & Turner (1989), Lakoff & Johnson (1980), Kövecses

& Radden (1998), Barcelona (2003), Kövecses (2010) được xem là đại công trình đặt khung lý thuyết khi bàn về ngôn ngữ học tri nhận Mặc dù không nghiên cứu các từ ngữ chỉ BPCTN nhưng trong phần phân tích, các công trình có đề cập những ADYN và HDYN kinh điển liên quan đến BPCTN, chẳng hạn như TỨC GIẬN LÀ CHẤT LỎNG mà BPCTN LÀ VẬT CHỨA, BPCTN THAY CHO CON NGƯỜI…

Nghiên cứu của Ning Yu (2009) phân tích “心 (tâm)” theo quan điểm tri nhận của Trung Quốc trong sự so sánh với quan điểm tri nhận của các nước phương Tây Theo tác giả, Trung Quốc quan niệm “心 (tâm)” mang nghĩa “trái tim”, “tâm trí” biểu tượng cho cảm xúc và lý trí của con người Trong khi đó, phương Tây quan niệm

“heart (tim)” biểu tượng cho cảm xúc, “head (đầu)” biểu tượng cho lý trí Điều này xuất phát từ quan điểm nhất nguyên (monism) trong văn hóa Trung Quốc và nhị nguyên (dualism) trong văn hóa phương Tây Nghiên cứu này đóng vai trò tạo cơ sở

để giải thích những tương đồng và khác biệt trong quan điểm tri nhận ở phương Đông và phương Tây

Ở Hàn Quốc, nghiên cứu theo hướng ngôn ngữ học tri nhận cũng bắt đầu từ những năm 1980 cùng với sự ra đời của các đại công trình lý thuyết về ngôn ngữ học tri nhận trên thế giới, nhưng phải đến những năm 2000 mới thật sự sôi động Sự sôi động thể hiện ở cả trên phương diện số lượng, đối tượng và cách thức tiếp cận Trong

đó các nghiên cứu trên đối tượng từ ngữ chỉ BPCTN và thành ngữ, tục ngữ tiếp cận theo hướng ADYN và HDYN rất đa dạng, có thể kể đến: Lim Ji-rong (2008), Kim Hyang-suk (2001), Choi Ji-hoon (2007), Jin-jeong (2008)

Trang 12

Công trình của Lim Ji-rong (2008) tập hợp các bài nghiên cứu về ngôn ngữ học tri nhận của ông trong khoảng mười năm từ năm 1998 và được xem là công trình đầu tiên hệ thống chi tiết khung lý thuyết về ngôn ngữ học tri nhận trên nguồn dữ liệu tiếng Hàn Trong phần phân tích, nghiên cứu có đề cập cách thức mở rộng nghĩa của

từ ngữ chỉ BPCTN theo cơ chế ẩn dụ và hoán dụ qua các ví dụ tiếng Hàn, cụ thể, về

ẩn dụ: đầu  não, trí tuệ; mắt  ánh nhìn, sự quan tâm; mũi  cố chấp; miệng 

lời nói; cúi đầu  thua cuộc; bàn tay  giúp đỡ; vai  trách nhiệm, sứ mệnh; ngực,

tim  tấm lòng, suy nghĩ; về hoán dụ: đầu  người chịu trách nhiệm; gương mặt 

biểu tượng; mắt  khả năng phán đoán; cổ  chức trách; lưng, bàn tay, chân  mối quan hệ; cổ  sĩ khí; hông, tim  trọng tâm; chân  người kết nối; thịt  nội dung; xương  ẩn ý

Mặc dù công trình chỉ dừng lại ở liệt kê, không đi vào phân tích, luận giải những đặc thù văn hóa và đặc thù tri nhận của người Hàn nhưng phần liệt kê về ẩn

dụ, hoán dụ liên quan đến BPCTN, đặc biệt phần đề cập những biến đổi sinh lý của BPCTN thay cho toàn bộ cảm xúc, được xem là cơ sở cho những nghiên cứu liên quan đến ADYN và HDYN của từ ngữ chỉ BPCTN trong tiếng Hàn

Cả luận án của Kim Hyang-suk (2001) và Choi Ji-hoon (2007) đều có đối tượng nghiên cứu là thành ngữ tiếng Hàn, bao gồm cả thành ngữ chứa từ ngữ chỉ BPCTN Nếu Kim Hyang-suk (2001) chỉ tiếp cận ADYN cảm xúc, trọng tâm là vui, buồn, phẫn nộ, sợ hãi, yêu thương, ghen ghét thì Choi Ji-hoon (2007) tiếp cận cả hướng ADYN, HDYN với sự phân tích tổng thể bao gồm cả ADYN cảm xúc

Luận án của Kim Hyang-suk (2001) đề cập các ADYN cảm xúc liên quan đến BPCTN trong thành ngữ tiếng Hàn: BUỒN LÀ SỰ ĐAU ĐỚN VỀ THỂ XÁC; GHEN GHÉT LÀ SỰ VƯỚNG MẮC, GÂY TỔN HẠI CHO CÁC BPCTN

Luận án của Choi Ji-hoon (2007) có số lượng thành ngữ chứa từ ngữ chỉ BPCTN lên đến 982 thành ngữ và hiếm hoi phân tích đầy đủ các loại ADYN Về ẩn

dụ vật chứa liên quan đến BPCTN, luận án đề cập 몸 (THÂN),입 (MIỆNG), 귀 (TAI),

눈 (MẮT), 머리 (ĐẦU) LÀ VẬT CHỨA; về ẩn dụ định vị, bao gồm: hướng trên, hướng dưới, hướng trong, hướng ngoài; về ẩn dụ bản thể, có thể kể đến ĐAU KHỔ

Trang 13

LÀ GÁNH NẶNG, HOẠT ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI LÀ HOẠT ĐỘNG CỦA MÁY MÓC Hướng HDYN tác giả phân tích MỘT SỰ KIỆN THAY CHO TOÀN

BỘ SỰ KIỆN, BIẾN ĐỔI SINH LÝ CỦA BỘ PHẬN BÊN NGOÀI CỦA CƠ THỂ NGƯỜI THAY CHO TOÀN BỘ CẢM XÚC, HÀNH ĐỘNG CỦA CƠ THỂ NGƯỜI THAY CHO TOÀN BỘ CẢM XÚC Luận án này có số lượng thành ngữ chứa từ ngữ chỉ BPCTN nhiều nhất và có sự phân tích về các loại ADYN đầy đủ nhất từ trước đến nay Nhưng về HDYN, luận án cũng như nhiều nghiên cứu khác có phần mờ nhạt khi chỉ đi vào HDYN sự kiện và cảm xúc

Jin-jeong (2008) nghiên cứu trên đối tượng là thành ngữ chứa từ ngữ chỉ BPCTN Luận án nghiên cứu 20 từ ngữ chỉ các cơ quan nội tạng xuất hiện trong 130 thành ngữ Trong phần phân tích ADYN, tác giả chỉ phân tích ẩn dụ vật chứa, ẩn dụ định vị Và trong phần phân tích HDYN, tác giả chỉ phân tích mô hình BỘ PHẬN THAY CHO TOÀN THỂ

Nghiên cứu theo từng nhóm từ ngữ chỉ BPCTN trong tiếng Hàn còn có thể kể đến: Jin Jeong-jeong (2011) so sánh mô hình ADYN “눈 (mắt)”, “입 (miệng)”, “귀

(tai)”, “코 (mũi)” trong thành ngữ tiếng Hàn và tiếng Nhật; Cho Chan-suk (2002) so

sánh mô hình ADYN và HDYN “손 (bàn tay)”, “머리 (đầu)”, “얼굴 (gương mặt)”,

“눈 (mắt)”, “다리 (chân)” và Hyang Mi-seo (2012) so sánh mô hình ADYN và

HDYN “눈 (mắt)”, 귀 (tai)”, “심장 (tim)”, “가슴 (ngực, tim)”, “간 (gan)” trong thành ngữ tiếng Hàn và tiếng Anh; Lee Jae-shin (2017) so sánh mô hình ADYN “손 (bàn tay)” trong thành ngữ tiếng Hàn và tiếng Trung; Rou Seung-yoan, Kim Keum-hyun (2015) so sánh mô hình ADYN và HDYN “머리 (đầu)”, “눈 (mắt)”, “코 (mũi)”,

“입 (miệng)”, “귀 (tai)” trong thành ngữ tiếng Hàn và tiếng Mã Lai Liên quan đến nghiên cứu về BPCTN trong sự so sánh giữa thành ngữ tiếng Hàn và tiếng Việt có luận văn của Nguyễn Thị Quỳnh Anh (2013), giới hạn trong ADYN cảm xúc

Trang 14

Như vậy các nghiên cứu về từ ngữ chỉ BPCTN trong tiếng Hàn đều dựa trên nguồn dữ liệu thành ngữ và giới hạn ở một hoặc một số từ ngữ chỉ BPCTN Khi tìm kiếm với từ khóa ADYN và HDYN trên website riss.kr1 kết quả cho ra 573 luận văn, luận án theo hướng ADYN, 161 luận văn, luận án theo hướng HDYN Trong đó nếu xét tỉ lệ các nghiên cứu so sánh giữa các ngôn ngữ với nhau thì so sánh giữa tiếng Hàn với tiếng Trung chiếm 63%, với tiếng Anh chiếm 24%, với các ngôn ngữ khác như tiếng Thái, tiếng Nhật, tiếng Việt, tiếng Nga, tiếng Pháp… chiếm 13% Điều đó cho thấy các nghiên cứu theo hướng ADYN, HDYN trong tiếng Hàn tập trung so sánh với tiếng Trung và tiếng Anh

Ở Việt Nam, các nghiên cứu theo hướng ngôn ngữ học tri nhận trên đối tượng từ ngữ chỉ BPCTN cũng nhận được nhiều sự quan tâm Có thể kể đến các nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Vũ (2008), Trịnh Sâm (2014), Liêu Thị Thanh Nhàn (2018), Trần Thị Hiền (2018)

Công trình của Nguyễn Ngọc Vũ (2008) là luận án đầu tiên tiếp cận một cách toàn diện thành ngữ chứa từ ngữ chỉ BPCTN trong tiếng Anh và tiếng Việt từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận, tập trung vào ADYN và HDYN Tác giả phân tích ẩn dụ vật chứa, ẩn dụ cấu trúc, BPCTN biểu trưng cho con người và đặc điểm tính cách, nhận thức, tâm trạng, tình cảm Mặc dù đưa ra các mô hình tri nhận nhưng luận án tập trung vào liệt kê và miêu tả Đặc biệt trong các chương phân tích ADYN và HDYN, tác giả chỉ tập trung vào một số loại như đề cập ở phần trên

1 Riss (Research Information Sharing Service) là website trực thuộc Bộ Giáo dục Hàn Quốc, lưu trữ và chia sẻ toàn bộ bài nghiên cứu, luận văn, luận án của sinh viên trên toàn lãnh thổ Hàn Quốc Mục tiêu của nó là thúc đẩy năng lực nghiên cứu quốc gia thông qua hệ thống chia sẻ các tài liệu nghiên cứu của Hàn Quốc Tính đến thời điểm đang tìm kiếm (ngày 13 tháng 01 năm 2022) thì số lượng tài liệu nghiên cứu có trên nền tảng là 1.231.561 luận văn, luận án, 1.035.635 luận văn tiếng (voice thesis), 6.073.780 bài nghiên cứu trong nước, 59.975.223 bài nghiên cứu quốc tế, 178.758 tạp chí nghiên cứu, 12.236.888 sách chuyên ngành, 264.730 báo cáo nghiên cứu… Các nghiên cứu gồm nhiều lĩnh vực, bao gồm: khoa học nhân văn, khoa học xã hội, khoa học kỹ thuật, khoa học tự nhiên (nhận từ

http://m.riss.kr/AboutRiss.do)

Trang 15

Nghiên cứu của Trịnh Sâm (2014) xem xét ý niệm “tim” giữa các nền văn hóa và đề cập đến bản chất nhị nguyên trong văn hóa phương Tây và nhất nguyên trong văn hóa phương Đông Tác giả nhận định tuy cùng xu hướng nhất nguyên nhưng cũng

có nhiều khác biệt trong việc định vị theo nguyên lý nhất nguyên nhất vị hay nhất nguyên đa vị Chẳng hạn như trong tiếng Việt, năm BPCTN gồm bụng, dạ, gan, lòng, ruột đều có thể biểu đạt tình cảm, lý trí, tính tình là minh chứng rõ ràng cho nguyên

lý nhất nguyên đa vị

Luận án của Liêu Thị Thanh Nhàn (2018) mặc dù cũng tiếp cận nhóm từ ngữ chỉ BPCTN như luận án của Nguyễn Ngọc Vũ (2008) nhưng trên diễn ngôn tục ngữ và ca dao trong sự so sánh đối chiếu giữa tiếng Việt và tiếng Hán Mặc dù trong phần phân tích các mô hình tri nhận, luận án có đưa ra một số lý giải văn hóa nhưng chủ yếu vẫn theo hướng dùng ví dụ để minh họa cho các mô hình tri nhận, thiếu các lý giải dựa vào căn cứ khoa học Về phần HDYN, luận án cũng chỉ bàn về mô hình BPCTN THAY CHO CẢM XÚC VÀ ĐẶC ĐIỂM TÍNH CÁCH CỦA CON NGƯỜI Luận án của Trần Thị Hiền (2018) được viết bằng tiếng Anh, xem xét các ý niệm cảm xúc giận và buồn trên đối tượng là từ ngữ chỉ BPCTN Luận án tập trung vào ẩn dụ vật chứa với các mô hình tri nhận như: GAN, RUỘT, MẬT, BỤNG LÀ VẬT CHỨA TỨC GIẬN; MẬT LÀ VẬT CHỨA SỢ HÃI; BỤNG LÀ VẬT CHỨA KIẾN THỨC… và ẩn dụ cấu trúc với các mô hình tri nhận như: BUỒN LÀ GÂY TỔN THƯƠNG TRONG GAN, RUỘT, BỤNG; BUỒN LÀ VI KHUẨN… Về HDYN có: GIẢM CHỨC NĂNG CỦA TIM VÀ NHỊP TIM THAY CHO NỖI BUỒN… Như vậy luận án của Trần Thị Hiền (2018) cũng bàn về những BPCTN nhưng không phải trong thành ngữ, tục ngữ Luận án tập trung phân tích nhiều về ẩn

dụ vật chứa, ẩn dụ cấu trúc và hoán dụ BỘ PHẬN THAY CHO TOÀN THỂ, cụ thể

là MỘT BIẾN ĐỔI SINH LÝ TRONG BPCTN THAY CHO TOÀN BỘ CẢM XÚC Giống nhiều luận án khác, luận án này cũng không tập trung nhiều vào HDYN khi chỉ phân tích mô hình BỘ PHẬN THAY CHO TOÀN THỂ

Nghiên cứu từ ngữ chỉ BPCTN trong tiếng Việt còn có thể kể đến: Nguyễn Thị Phương (2009) tìm hiểu về đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của các từ ngữ chỉ BPCTN trong thành ngữ tiếng Việt trong sự đối chiếu với tiếng Anh, Nguyễn Thị Hiền (2017)

Trang 16

bàn về sự phát triển ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ BPCTN từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận, Nguyễn Văn Hải (2016) xem xét các từ chỉ BPCTN trong tiếng Việt và các từ tương đương trong tiếng Anh, Trịnh Thị Thanh Huệ (2012) so sánh đối chiếu ẩn dụ trong tiếng Việt và tiếng Hán nhìn từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận (trên tư liệu BPCTN)…

Qua tìm hiểu lịch sử nghiên cứu từ ngữ chỉ BPCTN trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn và tiếng Việt, chúng tôi nhận thấy:

- Các công trình trên hoặc chỉ phân tích riêng tiếng Hàn, riêng tiếng Việt hoặc đối chiếu tiếng Hàn với một ngôn ngữ khác Chưa có công trình nào so sánh tổng hợp từ ngữ chỉ BPCTN trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn và tiếng Việt dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận

- Chưa có công trình nào tiếp cận nguồn dữ liệu tục ngữ chứa từ ngữ chỉ BPCTN trong sự so sánh đối chiếu giữa tiếng Hàn và tiếng Việt dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận

- Tất cả các công trình đã dẫn nếu có dựa vào dữ liệu thành ngữ thì số lượng các thành ngữ cũng hết sức ít Công trình nhiều nhất dựa trên dữ liệu này là 982 thành ngữ

- Khi phân tích ADYN và HDYN các nghiên cứu trước chỉ chú trọng nhiều nhất

là ẩn dụ cấu trúc và ẩn dụ vật chứa, hoán dụ BỘ PHẬN THAY CHO TOÀN THỂ còn những loại ẩn dụ, hoán dụ khác hoặc hoàn toàn không đề cập hoặc

đề cập hết sức sơ lược

- Một số công trình của tiếng Việt có xem xét về số lượng, tần số và cách thức xuất hiện của các từ ngữ chỉ BPCTN trong thành ngữ, tục ngữ, nhưng trong tiếng Hàn chúng tôi chưa tìm thấy công trình nào nghiên cứu về phần này nói chung và trong sự so sánh đối chiếu với tiếng Việt nói riêng trên nguồn dữ liệu là thành ngữ, tục ngữ chứa từ ngữ chỉ BPCTN

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận án được thực hiện với ba mục đích nghiên cứu sau:

Trang 17

- Tìm hiểu số lượng, mức độ xuất hiện, khuynh hướng kết hợp của các từ ngữ chỉ BPCTN trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn Từ đó tìm hiểu điểm giống nhau và khác nhau ở các phương diện này trên nguồn dữ liệu tương đương trong tiếng Việt

- Tìm hiểu những mô hình ADYN và HDYN trên nguồn dữ liệu thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn Từ đó tìm hiểu điểm giống nhau và khác nhau trong các mô hình này trên nguồn dữ liệu tương đương trong tiếng Việt

- Đưa ra những căn cứ lý giải mang tính khoa học để lý giải cho các mô hình ADYN và HDYN cũng như những điểm giống và khác nhau trong

cách tri nhận của hai dân tộc

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được ba mục đích nghiên cứu đề ra, chúng tôi lần lượt thực hiện các nhiệm vụ cụ thể như sau:

- Khảo sát, thống kê số lượng, tần số, cách thức xuất hiện của các từ ngữ chỉ BPCTN trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn và so sánh đối chiếu với nguồn dữ liệu tương đương trong tiếng Việt

- Xác lập các mô hình ẩn dụ cấu trúc, ẩn dụ định vị và ẩn dụ bản thể trên nguồn dữ liệu thành ngữ, tục ngữ chứa từ ngữ chỉ BPCTN trong tiếng Hàn và so sánh đối chiếu với nguồn dữ liệu tương đương trong tiếng Việt

- Xác lập các mô hình hoán dụ theo mô hình toàn thể và bộ phận, mô hình sự kiện, mô hình phạm trù và thuộc tính trên nguồn dữ liệu thành ngữ, tục ngữ chứa từ ngữ chỉ BPCTN trong tiếng Hàn và so sánh đối chiếu với nguồn dữ liệu tương đương trong tiếng Việt

- Phân loại và thống kê từng miền nguồn, miền đích, miền thực thể, miền phương tiện trong các mô hình ADYN và HDYN trên nguồn dữ liệu thành ngữ, tục ngữ chứa từ ngữ chỉ BPCTN trong tiếng Hàn và so sánh đối chiếu với nguồn dữ liệu tương đương trong tiếng Việt

- Đưa ra các căn cứ khoa học về văn hoá, phương thức sinh hoạt, quan điểm về giới… của người Hàn và người Việt

Trang 18

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là từ ngữ chỉ BPCTN xuất hiện trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn và tiếng Việt Như thế từ ngữ đó chỉ BPCTN nhưng không xuất hiện trong thành ngữ, tục ngữ thì cũng không trở thành đối tượng nghiên cứu trong luận án

Tất cả thành ngữ, tục ngữ chúng tôi thu thập làm nguồn dữ liệu nghiên cứu trong luận án đều dựa vào từ điển thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn và tiếng Việt Tất nhiên có thể trong quá trình thu thập tác giả của các từ điển có sự lẫn lộn, nhầm lẫn,

ví dụ như có những trường hợp khi được xếp vào thành ngữ hay tục ngữ là chưa thỏa đáng Nhưng những trường hợp như thế chắc chắn là số ít Do đó ngay cả khi trường hợp như thế giả sử có xảy ra cũng không ảnh hưởng nhiều đến kết quả phân tích của chúng tôi Bởi vì luận án có được một khối lượng dữ liệu nghiên cứu đủ lớn

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

5.1 Ý nghĩa lý luận

Luận án dựa vào khung lý thuyết về ngôn ngữ học tri nhận, đặc biệt là về ADYN và HDYN có từ trước, vì vậy đóng góp về mặt lý luận của luận án là không đáng kể Hai đóng góp của luận án về mặt lý luận có thể kể đến là:

- Góp phần tạo nghiên cứu các mô hình ADYN và HDYN trên một nguồn

dữ liệu bao quát và có phần mới chính là từ ngữ chỉ BPCTN trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn và tiếng Việt

- Xác định đặc trưng ngôn ngữ học tri nhận của các từ ngữ chỉ BPCTN trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn và tiếng Việt

5.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận án nghiên cứu trên dữ liệu từ ngữ chỉ BPCTN xuất hiện trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn và đặc trưng ngôn ngữ học tri nhận trong sự so sánh đối chiếu với tiếng Việt Bốn đóng góp của luận án về mặt thực tiễn có thể kể đến là:

- Các mô hình ADYN và HDYN sẽ trở thành cơ sở giải thích nghĩa các thành ngữ, tục ngữ chứa từ ngữ chỉ BPCTN trong tiếng Hàn và tiếng Việt

Trang 19

- Cung cấp nguồn tài liệu thành ngữ, tục ngữ chứa từ ngữ chỉ BPCTN trong việc biên soạn tài liệu học tập và nghiên cứu cho người Việt học tiếng Hàn và người Hàn học tiếng Việt

- Phần phụ lục của luận án sẽ trở thành nguồn tham khảo cho công tác học tập, giảng dạy tiếng Hàn cho người Việt và tiếng Việt cho người Hàn trong các học phần tiếng Hàn và học phần ngôn ngữ - văn hoá Đồng thời đây sẽ là nguồn tài liệu tham khảo đáng giá cho các nghiên cứu liên quan đến thành ngữ, tục ngữ nói chung và thành ngữ, tục ngữ chứa từ ngữ chỉ BPCTN nói riêng

- Phần phụ lục sẽ trở thành nguồn tài liệu để biên soạn từ điển Hàn - Việt

và Việt - Hàn liên quan đến từ ngữ chỉ BPCTN cũng như thành ngữ, tục ngữ chứa từ ngữ chỉ BPCTN trong tiếng Hàn và tiếng Việt

6 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận án chúng tôi dùng các thủ pháp và phương pháp nghiên cứu sau:

6.1 Thống kê ngôn ngữ

Luận án sử dụng thủ pháp thống kê ngôn ngữ để hệ thống số lượng từ ngữ chỉ BPCTN, thành ngữ, tục ngữ chứa từ ngữ chỉ BPCTN và tần số, cách thức kết hợp của các từ ngữ chỉ BPCTN Số liệu thống kê tạo tiền đề cho các phương pháp nghiên cứu chuyên sâu như miêu tả, phân tích và đối chiếu so sánh để làm rõ các mô hình tri nhận ADYN và HDYN trong hai ngôn ngữ

6.2 Miêu tả ngôn ngữ

Để thực hiện đề tài được hiệu quả, phương pháp miêu tả các mô hình ADYN và HDYN là vô cùng cần thiết Trên cơ sở các số liệu được thống kê, luận án xác lập các mô hình tri nhận, phân tích các cơ chế tri nhận, cơ chế ánh xạ giữa miền nguồn và miền đích, giữa miền ý niệm phương tiện và miền ý niệm mục tiêu Đồng thời việc miêu tả, phân tích các điểm văn hóa liên quan đến cách thức tri nhận và xác lập mô hình tri nhận ADYN và HDYN cũng được luận án chú trọng

6.3 So sánh đối chiếu

Đây là phương pháp được sử dụng để đi tìm hiểu những điểm tương đồng và

dị biệt trong số liệu từ ngữ chỉ BPCTN cũng như trong các mô hình ADYN, HDYN

Trang 20

Đặc biệt phương pháp nghiên cứu này giúp xác định những điểm giống nhau và khác nhau trong đặc điểm văn hóa, đời sống sinh hoạt, lịch sử, địa lý… tạo cơ sở để lý giải những điểm giống nhau, khác nhau trong các mô trình ADYN và HDYN của hai ngôn ngữ

7 Nguồn dữ liệu

Đối với tiếng Hàn, dữ liệu được thu thập từ bốn nguồn chính: 1) Từ điển Quốc ngữ mới DongA bản thứ 5 (2009); 2) Đại từ điển tục ngữ tiếng Hàn (2015); 3) Từ điển thành ngữ (1996); 4) Korean.go.kr của Viện Ngôn ngữ quốc gia trực thuộc Bộ Văn hóa Thể dục và Du lịch Hàn Quốc Mặc dù là trang điện tử nhưng là trang tài liệu chính thống được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước sử dụng để tìm nguồn dữ liệu

Đối với tiếng Việt, chúng tôi cũng thu thập dữ liệu từ bốn nguồn chính: 1) Đại từ điển tiếng Việt (2011); 2) Từ điển tiếng Việt (2018); 3) Thành ngữ tiếng Việt (1978); 4) Từ điển tục ngữ tiếng Việt (2010)

Từ nguồn dữ liệu trên chúng tôi thu thập được 2.346 thành ngữ, tục ngữ trong tiếng Hàn và 1.623 thành ngữ, tục ngữ trong tiếng Việt được đóng thành quyển phụ lục riêng với độ dài là 290 trang

8 Đóng góp của luận án

Đây là luận án đầu tiên lấy sự so sánh thành ngữ, tục ngữ chứa từ ngữ chỉ BPCTN dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận trong tiếng Hàn và tiếng Việt làm đề tài, cụ thể:

- Đây là luận án đầu tiên khảo sát bao quát đến một lượng thành ngữ, tục ngữ

có chứa từ ngữ chỉ BPCTN lên đến 2.346 thành ngữ, tục ngữ trong tiếng Hàn

và 1.623 thành ngữ, tục ngữ trong tiếng Việt Như vậy về mức độ tư liệu có thể nói rằng luận án của chúng tôi có số lượng hơn hẳn các luận án trước

- Đây là luận án đầu tiên so sánh về số lượng, tần số và cách thức xuất hiện của các từ ngữ chỉ BPCTN một cách cụ thể nhất trong thành ngữ, tục ngữ chứa từ ngữ chỉ BPCTN trong tiếng Hàn và tiếng Việt

Trang 21

- Đây là luận án đầu tiên dựa trên nguồn dữ liệu là tục ngữ chứa từ ngữ chỉ BPCTN trong tiếng Hàn và so sánh với từ ngữ tương đương trong tiếng Việt dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận

- Đây là luận án đầu tiên so sánh để tìm ra những điểm tương đồng, dị biệt trong phương thức ADYN, HDYN trên cơ sở dữ liệu giữa tiếng Hàn và tiếng Việt

- Luận án nghiên cứu tất cả các kiểu ADYN bao gồm ẩn dụ cấu trúc, ẩn dụ định

vị, ẩn dụ bản thể dựa hoàn toàn trên dữ liệu là thành ngữ, tục ngữ chứa từ ngữ chỉ BPCTN trong tiếng Hàn và tiếng Việt

- Luận án nghiên cứu chi tiết về HDYN theo các mô hình tri nhận bao gồm mô hình toàn thể và bộ phận, mô hình sự kiện, mô hình phạm trù và thuộc tính

mà các luận án trước thường bỏ qua hoặc xem nhẹ

9 Bố cục luận án

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án chia làm bốn chương:

Chương 1 đề cập những vấn đề lý thuyết cơ bản về ngôn ngữ học tri nhận bao

gồm ADYN và HDYN Chương 2 hệ thống nguồn dữ liệu thành ngữ, tục ngữ chứa

từ ngữ chỉ BPCTN trong tiếng Hàn và so sánh đối chiếu với tiếng Việt ở ba phương

diện: 1) số lượng; 2) tần số; 3) cách thức xuất hiện Ở chương 3, luận án phân tích

các loại ADYN: ẩn dụ cấu trúc, ẩn dụ định vị và ẩn dụ bản thể trên dữ liệu thành ngữ, tục ngữ chứa từ ngữ chỉ BPCTN trong tiếng Hàn và so sánh đối chiếu với từ ngữ

tương đương trong tiếng Việt Tương tự, ở chương 4, luận án phân tích các loại

HDYN theo các mô hình tri nhận: toàn thể và bộ phận, sự kiện, phạm trù và thuộc tính trên dữ liệu thành ngữ, tục ngữ chứa từ ngữ chỉ BPCTN trong tiếng Hàn và so sánh đối chiếu với từ ngữ tương đương trong tiếng Việt

Trang 22

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Ẩn dụ và hoán dụ từ ngôn ngữ học truyền thống đến ngôn ngữ học tri nhận 1.1.1 Ẩn dụ và hoán dụ theo quan điểm ngôn ngữ học truyền thống

Trong ngôn ngữ học truyền thống, ẩn dụ và hoán dụ đều là cách thức chuyển đổi tên gọi giữa hai sự vật Nếu giữa hai sự vật đó có mối quan hệ tương đồng (similarity) thì đấy là ẩn dụ Còn nếu giữa hai sự vật đó có mối quan hệ tương cận (proximity/ contiguity) thì đấy là hoán dụ Nói rõ hơn trong khi ẩn dụ là cách thức chuyển đổi tên gọi giữa hai sự vật tương đồng A và B dựa trên sự so sánh ngầm thì hoán dụ là sự chuyển đổi tên gọi dựa vào sự liên tưởng về tính tương cận

Ba thế kỷ trước Công nguyên, Aristotle cho rằng ẩn dụ là việc gọi sự vật này bằng một cái tên vốn dùng để gọi một sự vật khác; sự chuyển đổi tên gọi như thế là từ (a) giống (genus) sang loài (species)2; hoặc (b) loài sang giống; hoặc (c) loài sang loài; hoặc (d) dựa trên cơ sở tương tự (analogy) (Barnes, 1984, tr.4999)

Chỉ có loại cuối (d) là cái mà ngày nay ta gọi là ẩn dụ; còn ba loại đầu (a, b và c) là hoán dụ; mà hai trong số đó (a và b) là cải dung (synecdoche), tức là một loại hoán dụ

Chúng tôi dẫn ví dụ của chính Aristotle qua bản dịch tiếng Anh của Barnes (1984)

1) Here stands my ship (Thuyền của tôi dừng ở đây.)

2) Truly ten thousand good deeds has Ulysses wrought (Thật ra Ulysses đã làm nên hàng chục ngàn sự việc vinh quang.)

3) Drawing the life with the bronze (Vét cạn linh hồn bằng lưỡi gươm đồng.) 4) sunset of life (tuổi xế chiều)

Ở ví dụ (1) “stands (dừng)” dùng để chỉ một phần quá trình của nó là thả neo

và đây là cách thức hoán dụ dùng toàn thể để chỉ bộ phận Ở ví dụ (2) dùng một con

số có vẻ rất cụ thể “ten thousand (hàng chục ngàn)” để hàm ý đến con số nhiều quá

2 Theo quan điểm logic học thì giống là một tập hợp có thể phân chia được thành các lớp con và các lớp con này chính là loài

Trang 23

đếm không hết chính là vô vàn, tức là vô vàn sự việc vinh quang và đó là cách thức

hoán dụ dùng bộ phận để chỉ toàn thể Ở ví dụ (3) “drawing the life (vét cạn linh

hồn)” dùng để chỉ việc tước đi mạng sống của ai đó và đây là cách thức hoán dụ bộ

phận thay cho bộ phận Ở ví dụ (4) “sunset (xế chiều)” vốn để chỉ thời gian gần cuối

của một ngày được dùng một cách ẩn dụ để chỉ thời gian gần cuối của một đời người

Cần lưu ý Aristotle bàn ẩn dụ (bao hàm cả hoán dụ) trong khuôn khổ của nghệ

thuật văn chương Ông nhấn mạnh “việc dùng một ẩn dụ hay là chuyện không thể bắt

chước được người khác; đó là dấu hiệu của tài năng bởi vì nó cho thấy trực cảm về

sự giống nhau giữa những sự vật khác nhau” (Barnes, 1984, tr.5003)

Quan niệm ẩn dụ của Aristotle có tác động rất lớn trong suốt lịch sử tu từ học ở phương Tây Việc Aristotle xử lý hoán dụ như một loại ẩn dụ còn được giới ngôn ngữ học chấp nhận cho đến cuối những năm 1950 trước khi Jakobson cho rằng ẩn dụ và hoán dụ là hai phương thức riêng biệt dựa trên hai nguyên tắc đối lập nhau (Lodge,

1977, tr.75-tr.76)

Năm 1916, trong Giáo trình Ngôn ngữ học đại cương, F de Saussure, nhà ngôn

ngữ học Thụy Sĩ, phân tách hoạt động ngôn ngữ ra làm hai, lời nói và ngôn ngữ: 1) lời nói tức là cái thuộc về từng cá nhân; 2) ngôn ngữ tức là cái thuộc về cộng đồng Như thế, theo một cách logic, ẩn dụ và hoán dụ cũng được chia ra làm hai: 1) Ẩn dụ, hoán dụ lời nói là loại ẩn dụ, hoán dụ của từng cá nhân, còn gọi là ẩn dụ, hoán dụ sống (alive metaphor, metonymy) Đây chính là loại ẩn dụ, hoán dụ mà Aristotle bàn đến; 2) Ẩn dụ, hoán dụ ngôn ngữ, còn gọi là ẩn dụ, hoán dụ chết (dead metaphor, metonymy) Đây chính là loại ẩn dụ, hoán dụ mà Aristotle không chú ý Việc tách biệt rõ ràng ẩn dụ, hoán dụ lời nói và ẩn dụ, hoán dụ ngôn ngữ rất quan trọng Bởi lẽ

nó cho phép chúng ta hiểu được cơ chế nào giúp sáng tạo nên những ẩn dụ, hoán dụ

văn chương Kövecses (2010, tr.50) có đề cập “một trong những khám phá giật mình

của việc nghiên cứu ngôn ngữ văn chương do các nhà ngôn ngữ học tri nhận tiến hành là việc thừa nhận ngôn ngữ văn chương hầu hết dựa trên ẩn dụ ý niệm quy ước, thông thường”

Như vậy theo quan điểm ngôn ngữ học truyền thống ẩn dụ và hoán dụ là một hiện tượng ngôn ngữ, là cách chuyển nghĩa của từ vựng Hoán dụ có thời kỳ không

Trang 24

được xem là một phương thức tách biệt mà thuộc về ẩn dụ Trong khuôn khổ nghệ thuật văn chương, việc sử dụng ẩn dụ, hoán dụ đặc sắc được xem như một tài năng

1.1.2 Ẩn dụ và hoán dụ theo quan điểm ngôn ngữ học tri nhận

Quan niệm truyền thống về ẩn dụ, hoán dụ như thế hầu như được giữ nguyên

cho đến khi ngôn ngữ học tri nhận ra đời, đặc biệt là với công trình Metaphors We

Live By của Lakoff & Johnson xuất bản vào năm 1980

Nhan đề cuốn sách khiến cho độc giả có thể nghĩ rằng công trình chỉ bàn về ADYN Thực ra, công trình bao quát toàn bộ các luận điểm về ngôn ngữ học tri nhận nói chung và ADYN, HDYN nói riêng, mặc dù dung lượng bàn về ADYN có phần vượt trội hơn so với các phần khác

Các tác giả chứng minh ẩn dụ và hoán dụ không chỉ là chuyện ngôn ngữ học như quan điểm truyền thống nhìn nhận Họ phân tích và đưa ra những chứng cứ mạnh

mẽ để khẳng định đó là những công cụ tri nhận, tức là phương cách để con người nhận thức thế giới

Trong ngôn ngữ học tri nhận, ẩn dụ và hoán dụ là một quá trình tri nhận Nếu quá trình tri nhận diễn ra trong hai miền ý niệm theo cơ chế tương đồng thì đấy là ẩn

dụ Còn nếu quá trình tri nhận chỉ diễn ra trong một miền ý niệm đồng nhất theo cơ

chế tiếp giáp/ tương cận thì đấy là hoán dụ

Hai miền ý niệm của quá trình tri nhận ẩn dụ được gọi là miền nguồn (source domain) và miền đích (target domain) Trong đó miền ý niệm chứa những biểu thức

ẩn dụ giúp hiểu miền ý niệm khác được gọi là miền nguồn, còn miền ý niệm được hiểu dựa trên miền nguồn được gọi là miền đích Từ “hiểu” để mô tả mối quan hệ giữa miền nguồn và miền đích trong quá trình ẩn dụ là một tập hợp các thuộc tính tương ứng có hệ thống giữa miền nguồn và miền đích Và những thuộc tính tương ứng này được gọi là ánh xạ (mapping)

Khi nói “hơi giận bốc lên ngùn ngụt’, “nặng gánh gia đình”, “đau lòng” chúng

ta đang thực hiện một quy trình tư duy dựa trên các ý niệm: CƠN GIẬN LÀ LỬA, TRÁCH NHIỆM LÀ VẬT NẶNG, NỖI BUỒN LÀ THỨ GÂY ĐAU ĐỚN Ở đây miền nguồn lần lượt là LỬA, VẬT NẶNG, THỨ GÂY ĐAU ĐỚN và miền đích lần lượt là CƠN GIẬN, TRÁCH NHIỆM, NỖI BUỒN Chúng ta hiểu được miền đích

Trang 25

dựa trên những thuộc tính tương ứng được ánh xạ từ miền nguồn Hơn nữa những thuộc tính của miền nguồn sẽ cụ thể và những thuộc tính của miền đích sẽ trừu tượng hơn Không bao giờ là hướng ngược lại, tức những thuộc tính của miền đích cụ thể hơn và những thuộc tính của miền nguồn trừu tượng hơn

Một miền ý niệm đồng nhất hay là mô hình tri nhận lý tưởng (Idealized cognitive model - ICM) của quá trình tri nhận hoán dụ bao gồm thực thể phương tiện (vehicle entity) và thực thể mục tiêu (target entity) Trong đó thực thể phương tiện là thực thể cung cấp khả năng tiếp cận bằng tinh thần tới một thực thể khác, còn thực thể mục tiêu là thực thể được cung cấp khả năng tiếp cận bằng tinh thần

Khi chúng ta nói “có nhiều gương mặt mới trong tổ chức”, “đủ tay chơi bài”,

“tôi không tán đồng quyết định của nhà trường” thì “gương mặt”, “tay”, “nhà trường” là thực thể phương tiện thay cho thực thể mục tiêu là “nhân viên trong tổ chức”,

“người chơi”, “lãnh đạo nhà trường”

Lakoff & Johnson (1980) chứng minh ẩn dụ và hoán dụ tràn ngập trong ngôn ngữ và tư duy hàng ngày của con người bằng cách đưa ra hàng loạt các biểu đạt ngôn ngữ mang tính ẩn dụ và hoán dụ Ẩn dụ và hoán dụ không chỉ tồn tại trong ngôn ngữ mà cả trong tư duy và hành động, giúp con người cụ thể hóa những ý niệm trừu tượng Như vậy theo quan điểm ngôn ngữ học tri nhận, ẩn dụ và hoán dụ là một quá trình tri nhận, một phương thức tư duy tồn tại trong mọi cách nói năng của con người Không chỉ là phương thức tu từ, ẩn dụ và hoán dụ còn là cách con người tư duy và nhìn nhận thế giới, giúp con người hiểu những vấn đề trừu trượng bằng cách cụ thể hóa chúng thông qua sự ánh xạ giữa một hoặc nhiều miền ý niệm

1.1.3 So sánh ẩn dụ ý niệm và hoán dụ ý niệm

Ẩn dụ và hoán dụ đều không chỉ là một hiện tượng ngôn ngữ mà là một hiện tượng của ý niệm, tư duy, cách con người nhìn nhận thế giới Cả ẩn dụ và hoán dụ đều diễn ra một cách tự nhiên trong mọi diễn đạt của con người, tức cả hai đều tồn tại xung quanh cuộc sống của con người Đặc biệt cơ chế tri nhận của cả ẩn dụ và hoán dụ đều là cơ chế ánh xạ

Mặc dù ẩn dụ và hoán dụ chia sẻ một số đặc điểm tương đồng nhưng chúng là hai phương thức tri nhận riêng biệt, giữa chúng tồn tại những đặc điểm khác nhau

Trang 26

Những điểm khác nhau giữa ẩn dụ và hoán dụ đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập,

có thể kể đến các công trình của Lakoff & Johnson (1980, tr.36), Lakoff & Turner (1989, tr.103), Kövecses (2010, tr.174-176), có thể hệ thống lại theo bảng dưới đây

Bảng 1.1 Điểm khác biệt giữa ẩn dụ ý niệm và hoán dụ ý niệm

Diễn ra trong hai miền ý niệm/ mô hình

tri nhận lý tưởng (ICM)

Diễn ra trong một miền ý niệm/ mô hình tri nhận lý tưởng (ICM)

Có chức năng chính là hiểu, dùng quan

niệm về một thực thể để hiểu một thực

thể khác

Có chức năng chính là quy chiếu, dùng một thực thể thay cho một thực thể khác

Mối quan hệ giữa miền nguồn và miền

đích là “là-cái này (is-a)”

Mối quan hệ giữa miền nguồn và miền đích là “thay thế (stand-for)”

Diễn ra theo cơ chế “tương đồng” giữa

miền nguồn và miền đích

Diễn ra theo cơ chế “tương cận/ tiếp giáp” giữa thực thể ý niệm phương tiện và thực thể ý niệm mục tiêu

Chúng ta hãy xem xét những biểu thức ngôn ngữ sau:

5)

Phát ngôn của anh ta đã bị đập tan

Trong buổi đàm phán này bên nào biết dùng chiến thuật đúng đắn thì sẽ chiến thắng Tôi bị đánh bại dưới lập luận sắc bén của anh ta

6)

Có nhiều gương mặt mới trong tổ chức

Tôi thấy nhiều gương mặt rạng rỡ dưới khán phòng

Vắng mặt thì thiếu có mặt thì thừa

Trong các biểu thức ngôn ngữ ở ví dụ (5) những đặc điểm của một cuộc chiến được dùng để nói về những khía cạnh tương đồng trong một cuộc tranh luận Ở đây miền ý niệm CHIẾN TRANH trở thành miền nguồn để hiểu về một miền khác chính

Trang 27

là TRANH LUẬN Trong trường hợp này chúng ta có ADYN TRANH LUẬN LÀ CHIẾN TRANH

Tuy nhiên xét các biểu thức ngôn ngữ ở ví dụ (6) chúng ta nhận thấy, một bộ phận cơ thể người, cụ thể là “gương mặt”, “mặt” dựa trên mối quan hệ tương cận để thay cho con người “Gương mặt”, “mặt” và “con người” đều nằm trong một mô hình tri nhận Trong trường hợp này chúng ta có HDYN GƯƠNG MẶT THAY CHO CON NGƯỜI

Mặc dù giữa ẩn dụ và hoán dụ tồn tại những điểm khác nhau trong cơ chế tri nhận nhưng việc phân biệt ẩn dụ và hoán dụ trong nhiều trường hợp được biết là rất khó cả về mặt lý thuyết lẫn ứng dụng của chúng Do đó, thường rất khó để phân biệt một biểu thức ngôn ngữ nhất định là ẩn dụ hay hoán dụ Chúng ta hãy xem xét ví dụ sau đây:

7) Suddenly the pilot comes over the intercom

[Đột nhiên lời phi công ghé đến qua hệ thống liên lạc nội bộ.]

Ở ví dụ (7) đều có thể phân tích theo phương thức ẩn dụ và cả hoán dụ Nếu hiểu theo phương thức ẩn dụ chính là phi công thông báo điều gì đó qua hệ thống liên lạc nội bộ Nếu hiểu theo cách thức hoán dụ thì phi công dùng để thay cho giọng nói của phi công Tức cái truyền đến hệ thống liên lạc nội bộ chính là giọng nói của phi công chứ không phải là người phi công

Như vậy mặc dù ẩn dụ và hoán dụ là hai cơ chế tri nhận khác nhau nhưng trong nhiều trường hợp chúng có sự giao thoa với nhau Điều này khiến việc nghiên cứu ẩn

dụ và hoán dụ thêm phần thách thức và thú vị

1.2 Phân loại ẩn dụ ý niệm và hoán dụ ý niệm

1.2.1 Phân loại ẩn dụ ý niệm

Có nhiều cách để phân loại ẩn dụ Theo Kövecses (2010, tr.33-tr.45), có bốn cách phân loại ẩn dụ:

Phân loại theo tính quy ước (conventionality) Theo đó ẩn dụ được chia làm

ẩn dụ có tính quy ước cao (highly conventional metaphors) và ẩn dụ không có tính quy ước cao (highly unconventional metaphors)

Trang 28

Ẩn dụ có tính quy ước cao là loại ẩn dụ dùng các miền nguồn thông dụng được

mã hóa hoàn toàn trong cộng đồng nên thậm chí nó khiến cho người dùng không nhận

ra bản thân đang sử dụng phương thức ẩn dụ Trong ví dụ (8) “construct (xây dựng)”

được dùng để cụ thể ý niệm Ý TƯỞNG LÀ MỘT CÔNG TRÌNH KIẾN TRÚC Đối với những người bản ngữ nói tiếng Anh thì đây là cách dùng bình thường, tự nhiên nhất để nói về chủ đề này vì chúng có tính quy ước cao

8) We have to construct a new theory

[Chúng ta phải xây dựng một học thuyết mới.]

Trong khi đó ẩn dụ không có tính quy ước cao lại sử dụng các miền nguồn ít phổ biến vì ẩn dụ này dựa trên các cơ chế trải nghiệm nằm ngoài phạm vi thông

thường hoặc khi con người không thể hiểu một cách mạch lạc Trong ví dụ (9) “cuộc

sống là một chiếc gương” không phải là một ẩn dụ quy ước cao mà là một ẩn dụ

mang tính sáng tạo và độc đáo – đây chính là ẩn dụ không có tính quy ước cao Điều

đó có nghĩa ẩn dụ không có tính quy ước cao gắn liền với sự sáng tạo và năng lực của người sử dụng

9) Life is a mirror If you smile, it smiles back at you; if you frown, it frowns back

[Cuộc sống là một chiếc gương Nếu bạn cười, nó cười lại với bạn; nếu bạn cau mày, nó sẽ cau mày trở lại.]

Phân loại theo tính chất (nature) Theo đó ẩn dụ được chia làm ẩn dụ theo

kiến thức cơ bản (basic knowledge metaphors) và ẩn dụ theo lược đồ hình ảnh schema metaphors)

(image-Ẩn dụ theo kiến thức cơ bản là phương thức ẩn dụ dựa trên các kiến thức cơ bản được cấu thành bởi một số yếu tố được ánh xạ từ miền nguồn đến miền đích Trong

ví dụ (10) các kiến thức cơ bản của một cuộc chiến vốn là một trải nghiệm quen thuộc với con người được dùng để ánh xạ lên miền đích tranh luận xem nó cũng như một cuộc chiến

10) I defended my argument

[Tôi phòng vệ lập luận của mình.]

(Tôi bảo vệ lập luận của mình.)

Trang 29

Ẩn dụ theo lược đồ hình ảnh là loại ẩn dụ không dùng các kiến thức cơ bản mà dùng các yếu tố ý niệm của lược đồ hình ảnh để ánh xạ từ miền nguồn đến miền đích Các lược đồ hình ảnh này bắt nguồn từ các tương tác của con người với thế giới Những trải nghiệm vật lý cơ bản tạo ra lược đồ hình ảnh và cấu trúc lược đồ hình ảnh ánh xạ lên miền đích của các ẩn dụ trừu tượng Trong ví dụ (11) việc hết tiền là một cấu trúc hình ảnh dựa theo lược đồ hình ảnh điểm kết thúc chuyển động

11) I’m out of money

[Tôi ra khỏi tiền.]

(Tôi hết tiền.)

Phân loại theo mức độ tổng quát (level of generality) Theo đó ẩn dụ được

chia làm ẩn dụ ở mức độ tổng quát chung (generic-level metaphors) và ẩn dụ ở mức

độ cụ thể (specific-level metaphors)

Ẩn dụ ở mức độ tổng quát chung là ẩn dụ đề cập đến các trường hợp chung chung Trong ADYN SỰ KIỆN LÀ HÀNH ĐỘNG thì sự kiện ở đây nói đến nhiều loại sự kiện như chết, cháy, yêu, nổi tiếng, gió thổi…

Ẩn dụ ở mức độ cụ thể là ẩn dụ đề cập đến các trường hợp cụ thể Trong ADYN CUỘC SỐNG LÀ MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH thì hành trình của cuộc sống là khái niệm ở cấp độ cụ thể

Phân loại theo chức năng (function) Theo đó ẩn dụ được chia làm ẩn dụ cấu trúc

(structural metaphors), ẩn dụ định vị (orientational metaphors) và ẩn dụ bản thể (ontological metaphors) Phân loại của Lakoff & Johnson (1980) chính là theo cách thức này

Trong luận án, chúng tôi chọn cách phân loại ẩn dụ theo chức năng để triển khai phân tích và trình bày một cách chi tiết vì phân loại này phù hợp với nguồn dữ liệu của luận án Nhiều trường hợp vì các loại ADYN có thể trùng nhau nên mặc dù chọn sự phân loại theo chức năng làm định hướng phân tích cho luận án, chúng tôi tin rằng ranh giới giữa chúng đôi khi rất mờ nhạt

Trang 30

1.2.1.1 Ẩn dụ cấu trúc

Ẩn dụ cấu trúc là loại ẩn dụ trong đó một ý niệm được cấu trúc một cách ẩn

dụ thông qua một ý niệm khác Kiểu ẩn dụ này thường sử dụng kết quả của phép biểu trưng hóa trong liên tưởng, giúp người ta hiểu ý niệm đích B thông qua các cấu trúc

ý niệm nguồn A

Chúng ta hãy bắt đầu với ADYN CƠN GIẬN LÀ NỒI HƠI, với các biểu thức ngôn ngữ: “hơi giận bốc lên ngùn ngụt”, “tức giận”, “nén giận”, “xả giận” Ở đây với những diễn đạt “hơi bốc lên ngùn ngụt”, “tức”, “nén”, “xả” không phải nói về lúc bắt đầu, khoảng giữa và kết thúc của một quá trình hoạt động của một nồi hơi mà là quá trình hình thành và phát triển của một cơn giận Một ý niệm trừu tượng là cơn giận được hiểu qua một ý niệm cụ thể là nồi hơi bằng cách ánh xạ những thuộc tính của nồi hơi lên cơn giận

Tuy nhiên không phải lúc nào miền nguồn cũng mang tính cụ thể và miền đích cũng mang tính trừu tượng Khi chúng ta nói “Anh ta là cái máy vi tính”, “Đầu tôi còn chạy tốt”, “Anh ta giờ cũng rệu rã không còn nhạy như trước nữa rồi” thì những đặc điểm của miền nguồn máy móc ánh xạ lên miền đích con người Trong ADYN CON NGƯỜI LÀ MÁY MÓC thì cả miền nguồn và miền đích đều mang tính cụ thể Điều đó cho chúng ta một nhận định miền đích dù có thể mang tính trừu tượng hay

cụ thể thì miền nguồn trong bất kỳ biểu thức ẩn dụ nào đều phải mang tính cụ thể

Như vậy có thể nói ẩn dụ cấu trúc là loại ADYN giúp con người hiểu được một miền đích mang tính cụ thể hoặc trừu tượng nhờ hệ thống cấu trúc tri thức của miền nguồn mang tính cụ thể thông qua sự ánh xạ giữa các thành tố cấu trúc của hai

Trang 31

Xem xét các diễn đạt “lên tinh thần”, “lên voi xuống chó”, “bay trên chín tầng mây”, “ngẩng cao đầu”, “suy sụp”, “ủ rũ”, “cúi gằm mặt” chúng ta thấy rằng theo chiều thẳng đứng thì hướng lên đi đôi với những điều tích cực và hướng xuống đi đôi với những điều tiêu cực

Ẩn dụ định vị NIỀM VUI (THÌ) HƯỚNG LÊN; NỖI BUỒN (THÌ) HƯỚNG XUỐNG tạo ra một hệ thống tương hợp chứ không phải là một tập hợp các trường hợp đơn lẻ, ngẫu nhiên Tuy nhiên vẫn có một hệ thống không tương hợp khác song song tồn tại Chẳng hạn khi chúng ta nói “cơn giận lên tới đỉnh đầu”, “hạ hỏa”, “hận thù trỗi dậy” thì hướng lên không còn chỉ niềm vui hay cảm xúc tích cực và hướng xuống cũng không còn chỉ nỗi buồn hay cảm xúc tiêu cực

Kövecses (2010, tr.40) nhận định toàn bộ, trung tâm, liên kết, cân bằng, trong, mục tiêu và phía trước hầu hết được coi là tích cực, trong khi các mặt đối lập của chúng, không toàn bộ, ngoại vi, không liên kết, mất cân bằng, ngoài, không có mục tiêu và phía sau được coi là tiêu cực

Như vậy có thể nói ẩn dụ định vị là loại ADYN dùng miền nguồn là các chiều kích không gian để ý niệm lên miền đích Các chiều kích không gian thường được tiếp cận ở hai hướng là hướng thẳng đứng và hướng nằm ngang Trong đó hướng thẳng đứng bao gồm: lên - xuống, trên - dưới, cao - thấp và hướng nằm ngang bao

gồm: trước - sau, trong - ngoài, gần - xa, trái - phải

1.2.1.3 Ẩn dụ bản thể

Ẩn dụ bản thể cung cấp cấu trúc tri nhận ít hơn ẩn dụ cấu trúc Công cụ tri nhận của cách thức ẩn dụ này dường như chỉ cung cấp tình trạng bản thể dẫn đến phạm trù chung của các khái niệm đích trừu tượng Trong ẩn dụ bản thể có thể chia

ra là ẩn dụ thực thể (entity metaphors), ẩn dụ vật chứa (container metaphors)

Theo Lakoff & Johnson (1980, tr.25-tr.29), việc con người hiểu được những trải nghiệm của bản thân dưới dạng vật thể và chất liệu sẽ giúp chúng ta có thể tham khảo, phân loại, sắp xếp và định lượng để từ đó có thể tranh luận về những vật liệu và chất liệu đó

Ẩn dụ thực thể có thể dùng để định danh, ví dụ như: “nỗi sợ hãi côn trùng”, để định lượng, ví dụ như: “có quá nhiều hận thù”, để nhận diện các khía cạnh, ví dụ như:

Trang 32

“sự tàn bạo của chiến tranh”, để tìm nguyên nhân, ví dụ như: “áp lực trách nhiệm”,

để xác định mục tiêu và hành động, ví dụ như: “kiếm tìm hạnh phúc”

Ẩn dụ vật chứa ý niệm các vật thể và cả môi trường tự nhiên là những vật chứa

có phần bên trong và bên ngoài được phân định bởi các ranh giới tự nhiên và ranh giới áp đặt Khi nói “trái tim cô ấy đang tràn ngập niềm hạnh phúc”, “giận sôi máu” thì chúng ta tri nhận “trái tim” là vật chứa niềm vui và con người là vật chứa tức giận, lúc này niềm vui và tức giận được tri nhận là chất lỏng chứa trong các vật chứa Nói

rõ hơn, trái tim và con người là vật thể chứa còn niềm vui và tức giận là chất liệu được chứa

Reddy (1979, tr.168) lần đầu tiên đề cập đến ẩn dụ đường dẫn (conduit metaphors) Theo đó các từ có “bên trong”, “bên ngoài” và suy nghĩ có thể được

“chèn” thì nhất quyết chúng phải có một khoảng trống bên trong và ở đó nghĩa có thể cư trú Người nói đặt ý tưởng (vật thể) vào từ ngữ (vật chứa) và gửi chúng đi (bằng một đường dẫn) đến người nghe và người này lấy ý tưởng/ vật thể đó ra khỏi từ ngữ/ vật chứa Chúng tôi thấy rằng ẩn dụ đường dẫn chính là ẩn dụ vật chứa trong cách phân loại của Kövecses (2010)

1.2.2 Phân loại hoán dụ ý niệm

Kövecses & Radden (1998, tr.48-tr.59), Kövecses (2010, tr.178-tr.188) đề xuất phân loại hoán dụ theo hai mô hình và chúng tôi chọn mô hình CHỈNH THỂ VÀ BỘ PHẬN (WHOLE AND PART)3 cho chương phân tích vì nó phù hợp với nguồn dữ liệu của luận án

Mô hình hoán dụ CHỈNH THỂ VÀ BỘ PHẬN với cách thức hoán dụ BỘ PHẬN THAY CHO CHỈNH THỂ (ví dụ: Anh (England) thay cho Vương Quốc Anh (Great Britain)) và CHỈNH THỂ THAY CHO BỘ PHẬN thuộc về nó (ví dụ: Mỹ (America) thay cho Hoa Kỳ (United States))

3 Mô hình còn lại là BỘ PHẬN VÀ BỘ PHẬN (PART AND PART), bao gồm: mô hình hành động (action ICM), mô hình tri giác (perception ICM), mô hình kiểm định (control ICM), mô hình sở hữu (posession ICM), mô hình chứa (containment ICM)

Trang 33

Khi dùng Anh để đề cập đến toàn bộ Vương quốc Anh bao gồm cả xứ Wales và Scotland, chính là cách thức hoán dụ BỘ PHẬN THAY CHO CHỈNH THỂ Và Mỹ (vốn chỉ Châu Mỹ) khi được dùng để đề cập đến Hoa Kỳ (như một phần của toàn lục địa), chính là cách thức hoán dụ CHỈNH THỂ THAY CHO BỘ PHẬN

Mô hình CHỈNH THỂ VÀ BỘ PHẬN bao gồm sáu mô hình tri nhận: mô hình thang đo (scale ICM), mô hình cấu tạo (constitution ICM), mô hình phạm trù và yếu tố (category and member ICM), mô hình toàn thể và bộ phận (thing and part ICM), mô hình sự kiện (event ICM), mô hình phạm trù và thuộc tính (category and property ICM)

Mô hình thang đo (scale ICM) Đây là cách thức hoán dụ mà một phần thang

đo được dùng để thay thế cho toàn bộ thang đo Trong ví dụ (12) “speeding (tăng

tốc)” được dùng để thay thế cho toàn bộ thang đo vận tốc Điều này có nghĩa chúng

ta xác định mức vận tốc tại thời điểm hiện tại cao hơn, thậm chí là ở mức cuối của thang đo vận tốc

12) Henry is speeding again

(Henry đang tăng tốc trở lại.)

Mô hình cấu tạo (constitution ICM) Chất liệu cấu tạo nên đối tượng được

dùng để thay thế cho chính đối tượng Mối quan hệ giữa đối tượng và chất liệu cấu tạo nên đối tượng đó tương ứng với một sự phân biệt ngữ pháp giữa các thực thể có thể đếm được, có ranh giới với các thực thể có tính chất khối, không có ranh giới Khi một thực thể được hiểu theo cách hoán dụ như thể là một vật thể thì nó được cấu tạo như có ranh giới Và về mặt ngữ pháp chúng được ký mã là một danh từ khối giống

như danh từ “cat (thân xác mèo)” ở ví dụ (13) Cat (mèo) vốn là một danh từ đếm

được nhưng ở trong ví dụ (13) nó được nhận thức như là một chất liệu tạo nên con mèo (lông, da, xương, thịt…) nên được dùng như một danh từ không đếm được 13) There was cat all over the road

(Thân xác mèo vương vãi trên đường.)

Mô hình phạm trù và yếu tố (category and member ICM) Trong nghiên

cứu về ẩn dụ, giới nghiên cứu chỉ ra rằng các phạm trù được hiểu hoán dụ theo nghĩa các vật chứa, yếu tố thì nằm trong phạm trù, không phải yếu tố thì nằm ngoài phạm

Trang 34

trù Do đó mối quan hệ giữa phạm trù và yếu tố có thể được xem là mối quan hệ giữa vật chứa và vật được chứa Tuy nhiên mối quan hệ giữa phạm trù và yếu tố vốn được

hiểu là mối quan hệ của chỉnh thể và bộ phận Trong ví dụ (14) “thuốc aspirin

(aspirin)” dùng thay cho mọi viên thuốc giảm đau

14) Many people take aspirin every day

[Nhiều người uống thuốc aspirin hàng ngày.]

(Nhiều người uống thuốc giảm đau mỗi ngày.)

Trên cơ sở dữ liệu nghiên cứu chúng tôi phân tích theo ba mô hình, bao gồm:

mô hình toàn thể và bộ phận (thing and part ICM), mô hình sự kiện (event ICM),

mô hình phạm trù và thuộc tính (category and property ICM) và triển khai phân

tích, trình bày một cách chi tiết vì phân loại này phù hợp với nguồn dữ liệu của luận

án

1.2.2.1 Hoán dụ theo mô hình toàn thể và bộ phận

Đây là cách thức hoán dụ mà trong đó một phần của thực thể có thể thay cho toàn bộ thực thể hoặc ngược lại

Đầu tiên chúng ta bàn về cách thức hoán dụ TOÀN THỂ THAY CHO BỘ PHẬN thuộc mô hình tri nhận toàn thể và bộ phận

15) The university will change its mind next week (Trường Đại học sẽ thay đổi

quyết định vào tuần tới.)

16) The police turned up at about 5:30 (Cảnh sát có mặt vào khoảng 5:30.)

Trong ví dụ (15) “trường Đại học (university)” dùng để thay cho thành viên trong Hội đồng trường, Ban giám hiệu nhà trường Trong ví dụ (16) “cảnh sát (police)”

dùng để thay cho một số thành viên của lực lượng cảnh sát

Cách thức hoán dụ BỘ PHẬN THAY CHO TOÀN THỂ phổ biến hơn cách thức hoán dụ TOÀN THỂ THAY CHO BỘ PHẬN và thường liên quan đến các BPCTN

17) The hired hands are here

[Những tay được thuê thì ở đây.]

(Những người làm thuê đang ở đây.)

Trang 35

18) There are a lot of good heads in the university

[Có nhiều cái đầu tốt trong trường Đại học.]

(Có nhiều người thông minh trong trường Đại học.)

Ở ví dụ (17), (18) “những tay (hands)”, “nhiều cái đầu (heads)” đều thay cho

con người Tuy nhiên nếu tay dùng để chỉ khía cạnh lao động thì đầu dùng để chỉ khía cạnh trí tuệ

1.2.2.2 Hoán dụ theo mô hình sự kiện

Hoán dụ theo mô hình sự kiện là trong đó một phần của sự kiện thay cho toàn

bộ sự kiện Mô hình tri nhận lý tưởng này tạo ra hai biến thể hoán dụ:

TIỂU SỰ KIỆN NỐI TIẾP THAY CHO TOÀN BỘ SỰ KIỆN (SUCCESSIVE SUBEVENTS FOR COMPLEX EVENT):

19) They stood at the altar

[Họ đứng trước bàn thờ.]

(Làm lễ gia tiên.)

20) Mother is cooking potatoes

[Mẹ đang nấu khoai tây.]

(Mẹ làm món khoai tây.)

21) I have to grade hundreds of papers

[Tôi phải cho điểm hàng trăm bài thi.]

(Tôi phải chấm điểm hàng trăm bài thi.)

- TIỂU SỰ KIỆN ĐỒNG XUẤT HIỆN THAY CHO TOÀN BỘ SỰ KIỆN (CO-PRESENT SUBEVENTS FOR COMPLEX EVENT):

22) Mary speaks Spanish

[Mary nói tiếng Tây Ban Nha.]

(Mary sử dụng tiếng Tây Ban Nha.)

Với các sự kiện có sự kiện con liên tiếp thì các sự kiện phụ ban đầu, trung tâm và cuối cùng có thể được sử dụng theo quy ước để thay cho toàn bộ sự kiện phức tạp

đó Ở ví dụ (19) tiểu sự kiện “đứng trước bàn thờ (stood at the altar)” được dùng để

thay cho toàn bộ một lễ cưới Ở ví dụ (20) tiểu sự kiện trung tâm trong việc nấu ăn là

“nấu khoai tây (cooking potatoes)” dùng để thay cho toàn bộ sự kiện chuẩn bị nấu

Trang 36

món ăn này như: rửa, gọt vỏ khoai tây Ở ví dụ (21) tiểu sự kiện kết thúc là “cho

điểm (grade)” thay cho toàn bộ sự kiện là đọc, sửa và cuối cùng chấm điểm vào bài

của hàng trăm sinh viên Qua đó chúng ta có TIỂU SỰ KIỆN BẮT ĐẦU THAY CHO SỰ KIỆN, TIỂU SỰ KIỆN TRUNG TÂM THAY CHO SỰ KIỆN VÀ TIỂU

SỰ KIỆN KẾT THÚC THAY CHO SỰ KIỆN Ở ví dụ (22) “nói (speaks)” như một

sự kiện mang tính thường ngày, đồng xuất hiện với các kỹ năng ngôn ngữ khác là hiểu, đọc và viết

1.2.2.3 Hoán dụ theo mô hình phạm trù và thuộc tính

Lakoff (1993, tr.225-tr.226) có đề cập “giống với những biến thể của phạm trù,

thuộc tính của phạm trù cũng được hiểu theo cách ẩn dụ” Do đó, mối quan hệ giữa

phạm trù và một trong các thuộc tính của nó có thể được phân tích như một trường hợp của ẩn dụ đó là mối quan hệ giữa chủ sở hữu và vật bị sở hữu Tuy nhiên các thuộc tính cũng có thể được tri nhận như một phần của phạm trù Nếu phạm trù được cố định bởi một tập hợp các thuộc tính thì các thuộc tính nhất thiết phải là một phần của phạm trù đó

Các phạm trù thường gợi lên và có thể thay cho một hoặc nhiều thuộc tính xác định của chúng hoặc các thuộc tính quan yếu, ngược lại một thuộc tính xác định hoặc quan yếu của một phạm trù có thể gợi lên và thay thế phạm trù mà nó xác định PHẠM TRÙ THAY CHO THUỘC TÍNH XÁC ĐỊNH:

23) I couldn’t believe that a jerk-off would be elected to the government

[Tôi không thể tin một người thủ dâm lại được chọn vào chính phủ.]

(Không tin nổi một người làm những chuyện không đâu lại được bầu vào

chính phủ.)

- THUỘC TÍNH XÁC ĐỊNH THAY CHO PHẠM TRÙ:

24) Society treats blacks differently

[Xã hội đối xử khác biệt với đen.]

(Xã hội đối xử khác biệt với người da đen.)

1.3 Tiểu kết

Theo quan điểm truyền thống thì ẩn dụ, hoán dụ là việc dùng tên gọi của sự vật này đặt cho sự vật khác và giữa chúng phải có hoặc sự tương đồng, hoặc sự tương

Trang 37

cận Ẩn dụ và hoán dụ được chia làm ẩn dụ, hoán dụ ngôn ngữ và ẩn dụ, hoán dụ lời nói Trong đó ẩn dụ, hoán dụ ngôn ngữ được mã hóa trong một cộng đồng ngôn ngữ và thuộc về cộng đồng Còn ẩn dụ, hoán dụ lời nói thuộc về cá nhân và việc sử dụng được ẩn dụ, hoán dụ này thể hiện một tài năng

Theo quan điểm ngôn ngữ học tri nhận thì ẩn dụ, hoán dụ là phương thức ý niệm, cách con người nhìn thế giới Đây là sự ý niệm hóa bằng cách ánh xạ những thuộc tính của miền tâm trí này (miền nguồn) sang miền tâm trí khác (miền đích) Một quy trình ánh xạ có hệ thống từ miền nguồn sang miền đích tạo nên một mô hình tri nhận

ADYN và HDYN đều là phương thức ý niệm và liên quan đến các thực thể khác nhau Tuy nhiên nếu ADYN diễn ra giữa hai miền ý niệm thì HDYN chỉ diễn ra trong một miền ý niệm Trong nhiều trường hợp việc phân biệt ADYN và HDYN là khó khăn và phức tạp

Có nhiều cách thức phân loại ADYN và HDYN Về ADYN có thể phân loại theo tính quy ước, tính chất, mức độ tổng quát, chức năng Trong phạm vi luận án, chúng tôi phân tích theo cách phân loại chức năng với các kiểu ADYN bậc dưới, bao gồm: ẩn dụ cấu trúc, ẩn dụ định vị và ẩn dụ bản thể Về HDYN có thể phân loại theo các mô hình CHỈNH THỂ VÀ BỘ PHẬN và BỘ PHẬN VÀ BỘ PHẬN Trong phạm vi luận án, chúng tôi phân tích theo mô hình toàn thể và bộ phận, mô hình sự kiện, mô hình phạm trù và thuộc tính thuộc mô hình CHỈNH THỂ VÀ BỘ PHẬN

Nội dung được trình bày ở phần cơ sở lý luận sẽ sử dụng cho việc phân tích từ ngữ chỉ BPCTN trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn và tiếng Việt trong các chương tiếp theo

Trang 38

CHƯƠNG 2

SỐ LƯỢNG, TẦN SỐ VÀ CÁCH THỨC XUẤT HIỆN CỦA TỪ NGỮ CHỈ BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI TRONG THÀNH NGỮ,

TỤC NGỮ TIẾNG HÀN (SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT)

2.1 Số lượng và tần số xuất hiện của từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn

2.1.1 Số lượng từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn

Trong Từ điển Quốc ngữ mới DongA (2009), chúng tôi thống kê được 457 từ ngữ chỉ BPCTN, trong đó từ ngữ chỉ đầu và thuộc đầu có số lượng nhiều nhất với

199 từ, từ ngữ chỉ bụng và thuộc bụng với 101 từ, từ ngữ chỉ tứ chi và thuộc tứ chi với 80 từ và từ ngữ thuộc nhóm khác với 77 từ4

Trong Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê, 2018), chúng tôi thống kê được 222 từ ngữ chỉ BPCTN Giống với tiếng Hàn, trong tiếng Việt nhóm đầu cũng là nhóm có số lượng nhiều nhất với 85 từ, nhóm bụng với 49 từ, nhóm tứ chi với 30 từ và nhóm khác với 58 từ

Trong tổng số 457 từ ngữ chỉ BPCTN tiếng Hàn thì có 192 từ ngữ (chiếm 42%) xuất hiện trong 2.346 thành ngữ, tục ngữ (tham khảo phụ lục 1, tiểu mục 1.1) Và trong tổng số 222 từ ngữ chỉ BPCTN tiếng Việt thì có 110 từ ngữ (chiếm 50%) xuất hiện trong 1.623 thành ngữ, tục ngữ (tham khảo phụ lục 1, tiểu mục 1.2)

Bảng 2.1 Số lượng từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người phân chia theo nhóm xuất hiện trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn và tiếng Việt

Thành ngữ,

tục ngữ

Nhóm đầu

Nhóm bụng

Nhóm tứ chi

Nhóm

Tiếng Hàn 92 41 31 28 192 Tiếng Việt 38 24 21 27 110

4 Từ đây về sau chúng tôi gọi tắt từ ngữ chỉ đầu và thuộc đầu là nhóm đầu, từ ngữ chỉ bụng

và thuộc bụng là nhóm bụng, từ ngữ chỉ tứ chi và thuộc tứ chi là nhóm tứ chi, từ ngữ thuộc nhóm khác là nhóm khác

Trang 39

Con người tiếp nhận, xử lý thông tin đầu vào qua các giác quan Đầu là nơi gần như chứa toàn bộ bộ phận cơ thể đảm nhiệm các giác quan của con người, bao gồm: thị giác, thính giác, vị giác, khứu giác, xúc giác Đây là lý do khiến từ ngữ chỉ BPCTN thuộc nhóm đầu luôn có số lượng xuất hiện cao trong hầu như mọi thành ngữ, tục ngữ kể cả tiếng Hàn và tiếng Việt

Trong 192 từ ngữ chỉ BPCTN xuất hiện trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn có

22 từ tục và cách nói hạ thấp để chỉ cùng một BPCTN, có thể kể đến: “낯짝 (mặt)”,

“눈깔 (nhãn cầu)”, “머리통 (đầu)”, “이빨 (răng)”, “조동아리 (mồm)”, “젖통 (bầu sữa)”, “모가지 (cổ)”, “자지 (cặc)”…

Trong 110 từ ngữ chỉ BPCTN xuất hiện trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt

có năm từ tục và cách nói hạ thấp để chỉ cùng một BPCTN, có thể kể đến: “mồm”,

<lông mày giữa tiểu từ nội xuyên chữ tiểu từ nhíu>

[Giữa hai lông mày vẽ hình chữ xuyên]

(Nhíu mày khó chịu)

Trang 40

~ (4) nếu không biết về chữ viết thì không thể hình dung nghĩa của thành ngữ, tục ngữ đó

Cả trong tiếng Hàn và tiếng Việt đều có cách dùng ẩn dụ để chỉ BPCTN: “손목

(cổ tay)”, “귀문 (xoắn tai)”, “귓등 (lưng tai)”…; “cổ tay”, “lòng bàn tay”, “đầu lưỡi”,

“gò má”, “đầu gối”, “chân răng”…

Trong số từ ngữ chỉ BPCTN trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn và tiếng Việt

có những từ ngữ vốn dĩ khi đứng một mình bản chất không phải là từ ngữ chỉ BPCTN mà để chỉ động vật nói chung Nhưng khi tham gia vào một số thành ngữ, tục ngữ thì chúng lâm thời được dùng để chỉ con người: “아가리 (mồm)”, “손부리 (손 (bàn tay)

+ 부리 (mỏ chim)  đầu ngón tay)” ; “mề”, “mang”, “cánh”…

Trong tổng số 192 từ ngữ chỉ BPCTN xuất hiện trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn và 110 từ ngữ chỉ BPCTN xuất hiện trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt có 66 từ ngữ chỉ BPCTN trong tiếng Hàn và cách nói tương đương trong tiếng Việt xuất hiện cả trong thành ngữ, tục ngữ của hai nước, 76 từ ngữ chỉ BPCTN chỉ xuất hiện trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn và 12 từ ngữ chỉ BPCTN chỉ xuất hiện trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt

2.1.2 Tần số xuất hiện từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn

Với 2.346 thành ngữ, tục ngữ chứa từ ngữ chỉ BPCTN thì tổng tần số xuất hiện của 192 từ ngữ chỉ BPCTN trong tiếng Hàn là 2.614 lần (tham khảo phụ lục 2, tiểu mục 2.1) Với 1.623 thành ngữ, tục ngữ chứa từ ngữ chỉ BPCTN thì tổng tần số xuất hiện của 110 từ ngữ chỉ BPCTN trong tiếng Việt là 2.564 lần (tham khảo phụ lục 2, tiểu mục 2.2) Cả trong tiếng Hàn và tiếng Việt tổng tần số xuất hiện của nhóm đầu bằng tổng tần số của hơn hai nhóm còn lại Nếu trong tiếng Hàn tổng tần số cao thứ hai là nhóm tứ chi gồm những bộ phận thực hiện các hoạt động chân tay thì trong tiếng Việt là nhóm bụng gồm những bộ phận vốn được người Việt cho rằng có chức năng suy xét, chứa đựng những tâm tư, tình cảm của con người

Ngày đăng: 30/06/2022, 15:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. 강위규 (1998). 국어관용표현연구 . 서울: 세종출판사. (Kang Wi-kyu (1998). Nghiên cứu thành ngữ tiếng Hàn. Seoul: Nxb Sejong.) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thành ngữ tiếng Hàn
Tác giả: 강위규 (1998). 국어관용표현연구 . 서울: 세종출판사. (Kang Wi-kyu
Nhà XB: Nxb Sejong.)
Năm: 1998
2. 김동환 (2005). 인지언어학과 의미 . 서울: 태학사. (Kim Dong-hwan (2005). Ngôn ngữ học tri nhận và ngữ nghĩa. Seoul: Nxb Thái học sĩ.) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học tri nhận và ngữ nghĩa
Tác giả: 김동환 (2005). 인지언어학과 의미 . 서울: 태학사. (Kim Dong-hwan
Nhà XB: Nxb Thái học sĩ.)
Năm: 2005
3. 김억조 ( 2015). 신체어에 반영된 한국인의 문화 표현양상 연구 – ‘눈, 코, 입, 귀, 머리, 손, 발’을 중심으로. 국제언어문. 15(31), 45-67. (Kim Eok-jo (2015). Nghiên cứu dạng thức biểu hiện văn hóa của người Hàn phản ánh qua từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người – trọng tâm ‘눈 (mắt), 코 (mũi), 입 (miệng), 귀 (tai), 머리 (đầu), 손 (bàn tay), 발 (bàn chân)’. Tạp chí Ngôn ngữ Quốc tế.15(31), 45-67.) Sách, tạp chí
Tiêu đề: –" ‘눈, 코, 입, 귀, 머리, 손, 발’을 중심으로. 국제언어문. 15(31), 45-67. (Kim Eok-jo (2015). Nghiên cứu dạng thức biểu hiện văn hóa của người Hàn phản ánh qua từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người "–
Tác giả: 김억조 ( 2015). 신체어에 반영된 한국인의 문화 표현양상 연구 – ‘눈, 코, 입, 귀, 머리, 손, 발’을 중심으로. 국제언어문. 15(31), 45-67. (Kim Eok-jo
Năm: 2015
6. 나윤희 (2013). 한국어와 프랑스어 분노 표현 비교 연구 – 신체관용어를 중심으로. 프랑스문화연구. 13(27), 161-183. (Na Youn-hee (2013). So sánh biểu hiện phẫn nộ trong tiếng Hàn và tiếng Pháp – trọng tâm là thành ngữ chứa Sách, tạp chí
Tiêu đề: –" 신체관용어를 중심으로. 프랑스문화연구. 13(27), 161-183. (Na Youn-hee (2013). So sánh biểu hiện phẫn nộ trong tiếng Hàn và tiếng Pháp "–
Tác giả: 나윤희 (2013). 한국어와 프랑스어 분노 표현 비교 연구 – 신체관용어를 중심으로. 프랑스문화연구. 13(27), 161-183. (Na Youn-hee
Năm: 2013
7. 이신양 (2020). 한중 미각어에 나타난 개념적 은유 양상 대조 연구 . 국어학석사학위. 국어국문학과. 서울: 이화여자대학교. (Li Xin-yang (2020). Nghiên cứu đối chiếu dạng thức ẩn dụ ý niệm qua từ ngữ chỉ vị giác trong tiếng Hàn và tiếng Trung. Luận văn Thạc sĩ Quốc ngữ học. Khoa Quốc ngữ Quốc văn. Seoul: Trường Đại học nữ Ewha.) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đối chiếu dạng thức ẩn dụ ý niệm qua từ ngữ chỉ vị giác trong tiếng Hàn và tiếng Trung
Tác giả: 이신양 (2020). 한중 미각어에 나타난 개념적 은유 양상 대조 연구 . 국어학석사학위. 국어국문학과. 서울: 이화여자대학교. (Li Xin-yang
Năm: 2020
8. 류디앙닝 (2020). 한 ã 중 결혼 관련 언어 표현에 나타난 개념적 은유의 대비 연구 . 국어학석사학위. 국어국문학과. 서울: 이화여자대하교. (Liu Tiang- ning (2020). Nghiên cứu đối chiếu ẩn dụ ý niệm qua các biểu hiện kết hôn trong tiếng Hàn và tiếng Trung. Luận văn Thạc sĩ Quốc ngữ học. Khoa Quốc ngữ Quốc văn. Seoul: Trường Đại học nữ Ewha.) Sách, tạp chí
Tiêu đề: ã "중 결혼 관련 언어 표현에 나타난 개념적 은유의 대비 연구. 국어학석사학위. 국어국문학과. 서울: 이화여자대하교. (Liu Tiang-ning (2020). "Nghiên cứu đối chiếu ẩn dụ ý niệm qua các biểu hiện kết hôn trong tiếng Hàn và tiếng Trung
Tác giả: 류디앙닝 (2020). 한 ã 중 결혼 관련 언어 표현에 나타난 개념적 은유의 대비 연구 . 국어학석사학위. 국어국문학과. 서울: 이화여자대하교. (Liu Tiang- ning
Năm: 2020
10. 박근희 (2018). 한국어 학습자를 위한 인지언어학 기반 관용표현 교육 연구 . 학국어교육학박사학위. 한국어교육학과. 서울: 세종대학교. (Park Kun-hee (2018). Nghiên cứu giảng dạy thành ngữ dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận dành cho người học tiếng Hàn. Luận án Tiến sĩ Giáo dục tiếng Hàn. Khoa Giáo dục tiếng Hàn. Seoul: Trường Đại học Sejong.) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu giảng dạy thành ngữ dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận dành cho người học tiếng Hàn
Tác giả: 박근희 (2018). 한국어 학습자를 위한 인지언어학 기반 관용표현 교육 연구 . 학국어교육학박사학위. 한국어교육학과. 서울: 세종대학교. (Park Kun-hee
Năm: 2018

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Số lượng từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người phân chia theo nhóm             xuất hiện trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn và tiếng Việt - Từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn và đặc trưng ngôn ngữ học tri nhận của chúng (so sánh với tiếng Việt)
Bảng 2.1. Số lượng từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người phân chia theo nhóm xuất hiện trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn và tiếng Việt (Trang 38)
Bảng 2. 2 Tần số từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người phân chia theo nhóm - Từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn và đặc trưng ngôn ngữ học tri nhận của chúng (so sánh với tiếng Việt)
Bảng 2. 2 Tần số từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người phân chia theo nhóm (Trang 41)
Bảng 2.4. Từ ngữ xuất hiện lặp trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn - Từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn và đặc trưng ngôn ngữ học tri nhận của chúng (so sánh với tiếng Việt)
Bảng 2.4. Từ ngữ xuất hiện lặp trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn (Trang 45)
Bảng 2.5. Từ ngữ xuất hiện lặp trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt - Từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn và đặc trưng ngôn ngữ học tri nhận của chúng (so sánh với tiếng Việt)
Bảng 2.5. Từ ngữ xuất hiện lặp trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt (Trang 46)
Bảng 3.1. Số lượng và tỉ lệ từng miền nguồn trong ẩn dụ cấu trúc - Từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn và đặc trưng ngôn ngữ học tri nhận của chúng (so sánh với tiếng Việt)
Bảng 3.1. Số lượng và tỉ lệ từng miền nguồn trong ẩn dụ cấu trúc (Trang 59)
Bảng 3.2. Số lượng và tỉ lệ từng miền nguồn trong ẩn dụ định vị - Từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn và đặc trưng ngôn ngữ học tri nhận của chúng (so sánh với tiếng Việt)
Bảng 3.2. Số lượng và tỉ lệ từng miền nguồn trong ẩn dụ định vị (Trang 76)
Bảng 3.3. Số lượng và tỉ lệ từng miền nguồn trong ẩn dụ bản thể - Từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn và đặc trưng ngôn ngữ học tri nhận của chúng (so sánh với tiếng Việt)
Bảng 3.3. Số lượng và tỉ lệ từng miền nguồn trong ẩn dụ bản thể (Trang 85)
Hình dạng của vật chứa thì “고프다 (đói)” chỉ quy chiếu cho trạng thái không lấp đầy  của vật chứa - Từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn và đặc trưng ngôn ngữ học tri nhận của chúng (so sánh với tiếng Việt)
Hình d ạng của vật chứa thì “고프다 (đói)” chỉ quy chiếu cho trạng thái không lấp đầy của vật chứa (Trang 86)
Bảng 4.1. Số lượng và tỉ lệ từng mô hình nhỏ   trong mô hình toàn thể và bộ phận - Từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn và đặc trưng ngôn ngữ học tri nhận của chúng (so sánh với tiếng Việt)
Bảng 4.1. Số lượng và tỉ lệ từng mô hình nhỏ trong mô hình toàn thể và bộ phận (Trang 110)
Bảng 4.2. BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI THAY CHO CON NGƯỜI - Từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn và đặc trưng ngôn ngữ học tri nhận của chúng (so sánh với tiếng Việt)
Bảng 4.2. BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI THAY CHO CON NGƯỜI (Trang 117)
Bảng 4.3. Bộ phận cơ thể người thay cho các bên tham gia - Từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn và đặc trưng ngôn ngữ học tri nhận của chúng (so sánh với tiếng Việt)
Bảng 4.3. Bộ phận cơ thể người thay cho các bên tham gia (Trang 123)
Bảng 4.4. Toàn thể bộ phận cơ thể người thay cho phần bộ phận thuộc về nó  STT - Từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn và đặc trưng ngôn ngữ học tri nhận của chúng (so sánh với tiếng Việt)
Bảng 4.4. Toàn thể bộ phận cơ thể người thay cho phần bộ phận thuộc về nó STT (Trang 127)
Bảng 4.7. TIỂU NGHI LỄ NỐI TIẾP THAY CHO TOÀN BỘ NGHI LỄ - Từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn và đặc trưng ngôn ngữ học tri nhận của chúng (so sánh với tiếng Việt)
Bảng 4.7. TIỂU NGHI LỄ NỐI TIẾP THAY CHO TOÀN BỘ NGHI LỄ (Trang 133)
Bảng 4.9. TIỂU SỰ KIỆN ĐỒNG XUẤT HIỆN THAY CHO KẾT QUẢ - Từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn và đặc trưng ngôn ngữ học tri nhận của chúng (so sánh với tiếng Việt)
Bảng 4.9. TIỂU SỰ KIỆN ĐỒNG XUẤT HIỆN THAY CHO KẾT QUẢ (Trang 141)
Bảng 4.11. Số lượng và tỉ lệ của từng mô hình nhỏ   trong mô hình phạm trù và thuộc tính - Từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn và đặc trưng ngôn ngữ học tri nhận của chúng (so sánh với tiếng Việt)
Bảng 4.11. Số lượng và tỉ lệ của từng mô hình nhỏ trong mô hình phạm trù và thuộc tính (Trang 142)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w