Tuy nhiên, một vấn đề được giới Anh ngữ rất quan tâm trong dạy/học tiếng Anh hiện nay - đó là khả năng kết hợp từ của động từ to go/ to come và to run với các từ loại khác có so sánh đố
Trang 1đại học quốc gia hà nội
Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn
Lê thị diễm thuỳ
Tìm hiểu đặc điểm từ vựng - ngữ nghĩa của
tổ hợp từ có động từ đi/chạy trong tiếng
anh và tiếng việt
Luận văn thạc sỹ ngôn ngữ
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Hà nội, 2006
Trang 2đại học quốc gia hà nội
Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn
Lê thị diễm thuỳ
Tìm hiểu đặc điểm từ vựng - ngữ nghĩa của
tổ hợp từ có động từ đi/chạy trong tiếng
anh và tiếng việt
Trang 3Lêi cam ®oan
T«i xin cam ®oan ®©y lµ c«ng tr×nh nghiªn cøu cña riªng t«i C¸c
sè liÖu vµ kÕt qu¶ nªu trong luËn v¨n lµ trung thùc vµ cha ®îc c«ng bè trong bÊt kú c«ng tr×nh nghiªn cøu nµo kh¸c
T¸c gi¶ luËn v¨n
Lª ThÞ DiÔm Thuú
Trang 4Mục lục
Mở đầu
03 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 7
Chương i:
Tiền đề lý luận liên quan đến tổ hợp từ và động từ
trong tiếng anh và tiếng việt
1.1.1 Vài nét khái quát về phương pháp so sánh đối chiếu 10 1.1.2 Khái niệm về thuật ngữ so sánh đối chiếu 11
1.2.3 Quan niệm cụm từ trong tiếng Anh và tiếng Việt 20 1.2.4 Phân loại cụm từ tiếng Anh và tiếng Việt 22
1.3.2 Khái niệm chung về động từ chuyển động trong tiếng Anh và
Trang 5Chương ii
Đặc điểm từ vựng-ngữ nghĩa các tổ hợp động từ
come/go/run có đối chiếu với các tổ hợp động từ đi/chạy
trong tiếng Việt
2.1 Cặp động từ come/go nhìn từ góc độ từ vựng-ngữ nghĩa qua
2.1.1 Bảng tổng hợp so sánh các nét nghĩa chuyển động trong
không gian và sự chuyển nghĩa của các động từ come/go - đi được
2.1.2 Với nét nghĩa di chuyển đến đích không gian có mục đích và
di chuyển không gian không có mục đích 43 2.1.3 Một số trường hợp đặc biệt sử dụng cặp động từ come/go 49
2.2 Đặc điểm của cụm động từ trong tiếng Anh 53
Chương iii Phương thức chuyển dịch thành ngữ có động từ to
come/to go và to run sang tiếng việt
3.1 ứng dụng trong khi chuyển dịch thành ngữ từ tiếng Anh sang
Phụ lục Bảng tra cứu thành ngữ động từ come/go/run
Trang 6trong tiÕng anh vµ ®i/ch¹y trong tiÕng viÖt
Trang 7Mở đầu 0.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Hiện nay, nhu cầu về kiến thức ngôn ngữ nói chung và ngoại ngữ nói riêng trong xã hội ngày càng lớn do mở rộng giao lưu văn hoá, kinh tế, xã hội của Việt Nam với nước ngoài, đặc biệt là từ khi chúng ta trở thành thành viên của các tổ chức quốc tế
Học sinh ngoại quốc học tiếng Anh như một ngôn ngữ thứ hai nói chung cũng như học sinh Việt Nam nói riêng thường gặp khó khăn với các cụm động từ
(phrasal verbs) vốn rất phong phú và thông dụng Hơn nữa về mặt ý nghĩa, cụm
động từ tiếng Anh cũng rất đa dạng Chính ý nghĩa của cụm động từ là điều gây rất nhiều khó khăn vì một cụm động từ không phải là cái mà người học có thể giải thích nghĩa được chỉ bằng cách xem và hiểu những từ riêng rẽ mà nó được tạo thành Thường khi, một giới từ hoặc một trạng từ nào đó đi cùng với một
động từ sẽ làm thay đổi ý nghĩa của động từ đó một cách đáng ngạc nhiên Đôi khi, sự thay đổi ý nghĩa bất ngờ đến mức người học thấy bối rối và thật sự không thể hiểu được ý nghĩa của nó Một người học tiếng ở giai đoạn đầu có thể hiểu
biết về ý nghĩa của từng từ look , after , for , hoặc up nhưng sẽ thấy bối rối không hiểu được những câu như Looking after children under three is
not easy job , hoặc She is looking for a job in the big city , Look up the word in the dictionary or ask your teacher for the meaning , hay người học có
thể hiểu được sự khác biệt rất lớn giữa I can see through him và I can see
him through ?
Mỗi ngôn ngữ đều có những nét đặc trưng riêng Một trong những nét đặc trưng của tiếng Anh là cụm động từ Động từ là một từ loại phức tạp nhất, sử dụng rộng rãi nhất, chiếm vị trí hàng đầu trong hệ thống các từ loại của các ngôn ngữ
Trang 8Trong tiếng Anh và tiếng Việt cũng như trong nhiều ngôn ngữ khác động
từ đi và chạy được sử dụng rộng rãi Động từ đi, như được thừa nhận, là động từ
cơ bản trong nhóm động từ chuyển động Động từ chuyển động là đề tài hấp dẫn
đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà ngôn ngữ học Việt Nam trong nhiều năm nay Tuy nhiên, một vấn đề được giới Anh ngữ rất quan tâm trong dạy/học
tiếng Anh hiện nay - đó là khả năng kết hợp từ của động từ to go/ to come và to
run với các từ loại khác có so sánh đối chiếu với động từ đi/chạy trong tiếng Việt
Cho đến nay chưa có công trình nào tìm hiểu một cách đầy đủ ý nghĩa, đặc điểm
từ vựng- ngữ nghĩa của những cụm từ này cũng như cách sử dụng chúng trong hành chức, nhất là ở bình diện đối chiếu Anh - Việt Đây chính là lý do chọn đề tài của luận văn Nội dung luận văn sẽ có ý nghĩa thời sự, vì:
Dấu ấn ngôn ngữ trong các cụm từ có động từ đi/chạy trong hai ngôn ngữ
là cứ liệu phản ánh bản sắc văn hoá của mỗi dân tộc;
Khả năng kết hợp từ với các loại từ khác của động từ đi/chạy trong hai
ngôn ngữ khác nhau về loại hình sẽ cho thấy cách tư duy của người bản ngữ tiếng Anh và tiếng Việt giống nhau và khác nhau như thế nào trong khi nhìn nhận hiện thực khách quan
Những vấn đề này đến nay chúng tôi cho rằng vẫn đang có ý nghĩa thời sự
Là một giảng viên giảng dạy tiếng Anh cho người Việt Nam ở các cấp độ và lứa tuổi khác nhau, qua nghiên cứu lý luận, tôi nhận thấy rằng cụm động từ tiếng Anh là một vấn đề khó, đôi lúc còn gây khó khăn, cản trở cho người nước ngoài
sử dụng tiếng Anh trong giao tiếp, nhưng đây là vấn đề rất thú vị và thiết thực
0.2 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn là tìm hiểu đặc điểm từ vựng- ngữ nghĩa của cụm từ
có động từ đi/chạy trong tiếng Anh có đối chiếu với tiếng Việt để tìm ra những
đặc điểm chung và đặc điểm mang tính đặc thù của cụm động từ đi/chạy trong
tiếng Anh và tiếng Việt
Trang 9Từ đó luận văn phải thực hiện một số nhiệm vụ cơ bản như sau:
- Làm sáng tỏ ý nghĩa sử dụng cụm từ có động từ đi/chạy trong tiếng Anh và
tiếng Việt
- Khảo sát đặc điểm từ vựng - ngữ nghĩa của động từ đi/chạy ở khả năng kết
hợp từ khi dùng với nghĩa chuyển động trong không gian và với nghĩa bóng (chuyển nghĩa)
- Trong chừng mực nhất định làm sáng tỏ dấu ấn ngôn ngữ của động từ
đi/chạy phản ánh bản sắc văn hoá dân tộc của người bản ngữ tiếng Anh và
tiếng Việt
0.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các cụm từ có động từ come/go/run trong tiếng Anh và các cụm từ có động từ đi/chạy có ý nghĩa tương đương trong
tiếng Việt Đây là những cụm từ thông dụng trong cuộc sống hàng ngày của người Anh được dùng phổ biến trong các sách học tiếng Anh viết cho người nước ngoài
Phạm vi nghiên cứu của luận văn giới hạn ở các cụm từ có động từ
come/go/run và động từ đi/chạy ở nghĩa chuyển động trong không gian và nghĩa
bóng khi chúng được chuyển nghĩa
Trang 10Đối chiếu là phương pháp nghiên cứu dựa trên sự so sánh hai hay nhiều ngôn ngữ để “phát hiện ra những nét tương đồng về cấu trúc, chức năng và hoạt
động của các phương tiện ngôn ngữ được nghiên cứu” [22; tr 48], đồng thời cũng chú ý cả cái dị biệt, nhận diện chung
Phương pháp miêu tả:
Miêu tả trong ngôn ngữ học là phương pháp nghiên cứu một hay nhiều ngôn ngữ ở một giai đoạn phát triển nhất định, chủ yếu tập trung vào phân tích ngữ pháp Nhiệm vụ nghiên cứu của chúng tôi trong luận văn này là đối chiếu phương thức thể hiện ý nghĩa của hai ngôn ngữ
Về mặt ngôn ngữ, luận văn tuân thủ cách tiếp cận đối tượng khảo sát ở cấp
độ từ và cụm từ ở nghĩa chuyển động trong không gian và nghĩa bóng phái sinh của chúng
Mục đích cuối cùng của luận văn là đưa ra những chỉ dẫn ngôn ngữ học, và
ở mức độ nhất định những chỉ dẫn đất nước học và văn hoá học đối với những người sử dụng các thứ tiếng trên
0.5 ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Trong chừng mực nhất định, luận văn góp phần làm sáng tỏ sự khác biệt về mặt từ vựng ngữ nghĩa của động từ chuyển động trong tiếng Anh và tiếng Việt (ở
đây là động từ come/go/run và động từ đi/chạy) chính là ở các nghĩa vị tiềm năng
qua đó thấy được đặc trưng văn hoá dân tộc gắn với việc sử dụng các cụm từ này
Luận văn sẽ đóng góp một phần cho việc giảng dạy và học tập ngoại ngữ ở các trường cao đẳng, đại học, nâng cao khả năng giao tiếp bằng tiếng Anh và sử dụng tiếng Anh thành thạo Luận văn có thể là tài liệu tham khảo hữu ích cho việc dạy và học tiếng Anh cũng như cho việc dạy tiếng Việt như ngoại ngữ đối với những người nói tiếng Anh
Trang 11Như vậy, luận văn có ý nghĩa thực tế thực sự Kết quả nghiên cứu ngữ liệu của luận văn có thể được áp dụng cho quá trình giảng dạy trong các trường đại học hoặc sử dụng như tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy và dịch thuật
0.6 Tư liệu nghiên cứu
Để thu thập các cụm từ và thành ngữ có động từ đi/chạy trong tiếng Anh
và tiếng Việt luận văn sử dụng các loại từ điển tiếng Anh và tiếng Việt và các nguồn tư liệu trong các tác phẩm văn học Anh và Việt Nam với số phiếu làm ví
dụ minh hoạ khoảng 200 phiếu từ các ấn phẩm tiếng Anh và 300 phiếu từ các ấn phẩm tiếng Việt
0.7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn bao gồm
3 chương:
Chương I: Tiền đề lý luận liên quan đến tổ hợp từ và động từ trong tiếng
Anh và tiếng Việt
Chương II: Đặc điểm từ vựng - ngữ nghĩa các tổ hợp động từ come/go/run
có đối chiếu với các tổ hợp động từ đi/chạy trong tiếng Việt
Chương III: Phương thức chuyển dịch thành ngữ có động từ to come/to go
và to run sang tiếng Việt
Trang 12Chương i Tiền đề lý luận liên quan đến tổ hợp từ và động từ
trong tiếng Anh và tiếng Việt
1.1 Khái quát về đối chiếu ngôn ngữ
1.1.1 Vài nét khái quát về phương pháp so sánh đối chiếu
Sự hình thành và phát triển của ngôn ngữ đối chiếu, với tư cách là một phân ngành của ngôn ngữ học, có những tiền đề lý luận của nó
Đã từ lâu, con người hướng sự chú ý của mình không chỉ giới hạn ở những ngôn ngữ riêng lẻ, mà đồng thời một lúc vài ngôn ngữ Chính điều đó đã dẫn đến việc xuất hiện nhiều trào lưu, nhiều khuynh hướng nghiên cứu so sánh Khá quen thuộc với lịch sử ngôn ngữ học là: ngôn ngữ so sánh - lịch sử, ngôn ngữ học khu
vực và loại hình học Song việc phân chia ngôn ngữ học đối chiếu (contrastive
linguistics) thành một phân ngành độc lập thì mãi tới gần đây mới xuất hiện và
còn không ít những vấn đề tranh luận
Ngôn ngữ học đối chiếu hình thành trong trào lưu nghiên cứu so sánh nói chung Nó bao quát một lúc nhiều ngôn ngữ bất luận ngôn ngữ đó cùng hay khác loại hình và ngữ hệ Song phải nói rằng, nghiên cứu đối chiếu hình thành một cách trực tiếp trong tiến trình tìm tòi của con người để nắm ngoại ngữ một cách nhanh chóng hơn, hữu hiệu hơn Chính các yêu cầu của việc học và dạy ngoại ngữ là một nhân tố quan trọng dẫn đến sự hình thành phân ngành khoa học này
Nhà ngôn ngữ học Pháp Di Pietơrô đã viết trong cuốn Cấu trúc ngôn ngữ qua
đối chiếu rằng: “Ngôn ngữ học đối chiếu ra đời từ kinh nghiệm dạy tiếng Mỗi
người học và dạy ngôn ngữ dễ dàng nhận ra một điều là trong nhiều trường hợp tiếng mẹ đẻ đã cản trở không nhỏ việc hiểu và nắm thuần thục ngoại ngữ Vì vậy, việc tích luỹ những tri thức và kinh nghiệm sẽ giúp ta khắc phục một cách có hiệu quả khó khăn này” [dẫn theo 36; tr 12]
Trang 13L.V Serba đã viết trong cuốn sách Dạy ngoại ngữ ở trường trung học
Vấn đề chung về phương pháp luận cũng cho rằng nghiên cứu đối chiếu không
chỉ giúp cho việc học và dạy ngoại ngữ tốt hơn mà còn giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn tiếng mẹ đẻ, vì việc nghiên cứu đó giúp chúng ta thâm nhập vào thực chất của các quá trình ngôn ngữ cũng như hiểu sâu hơn các quy luật điều khiển các qui trình này [19; tr 26] Không còn nghi ngờ gì nữa chúng ta có thể đồng ý với nhận định rằng: “Mặc dầu nghiên cứu đối chiếu viện dẫn cái lý do chủ yếu ở sự cần thiết cho giáo học pháp ngoại ngữ với sự phát hiện những khác nhau cơ bản giữa ngoại ngữ và tiếng mẹ đẻ của người học đó, chúng ta không thể không tính
đến tầm quan trọng của việc phân tích đối chiếu như một phương thức đánh giá các định đề cũng như những đòi hỏi của chính lý luận của ngôn ngữ học” [36, tr.76]
1.1.2 Khái niệm về thuật ngữ so sánh đối chiếu
Lịch sử phát triển của những tri thức khoa học bao giờ cũng là một quá trình liên tục và có tính kế thừa Nội dung của các thuật ngữ nghiên cứu đối chiếu cũng được xác định trong quá trình phát triển biện chứng lịch sử đó ở đây, trước hết cần nói đến mối quan hệ tương ứng trong cách dùng các thuật ngữ: ngôn ngữ học so sánh, ngôn ngữ học đối chiếu
Trong nghĩa thường dùng, hai từ so sánh và đối chiếu không khác nhau nhiều về ý nghĩa “So sánh” là xem xét để tìm ra những điểm giống, tương tự, hoặc khác biệt nhau về số lượng, kích thước, phẩm chất, còn “đối chiếu” là so sánh hai sự vật có liên quan chặt chẽ với nhau Đối chiếu nguyên bản với bản
dịch (Từ điển tiếng Việt, Văn Tân chủ biên) [TĐ 24]
Như đã thấy, không hẳn định nghĩa trên đây là hoàn toàn chính xác, nhưng chúng đã cho ta ý niệm về nội dung các kết hợp thuật ngữ “ngôn ngữ học so sánh”, “ngôn ngữ học đối chiếu” là chưa hoàn toàn chính xác Cách hiểu nội dung thuật ngữ cần chính xác hơn và có tính quy định hơn cách hiểu thông
Trang 14thường Trong ngôn ngữ học, các thuật ngữ tiếng Việt: ngôn ngữ học so sánh
tương ứng với tiếng Anh comparative linguistics Đó là thuật ngữ để chỉ một
phân ngành của ngôn ngữ học và cái nội dung từ “so sánh” được hiểu một cách rất xác định Việc xem xét kỹ những tài liệu ngôn ngữ học cho thấy một số nhà ngôn ngữ có ý thức phân biệt ngôn ngữ học so sánh trong nghĩa rộng với ngôn ngữ học so sánh - lịch sử Trong trường hợp thứ nhất thuật ngữ “so sánh” dường như chủ yếu chỉ nhấn mạnh cách tư duy, về việc sử dụng so sánh như một phương pháp chung của tư duy: vì vậy, người ta cũng có thể nói: so sánh - lịch sử,
so sánh loại hình, so sánh đối chiếu v.v
Song trường hợp thứ hai, thuật ngữ so sánh được dùng với nội dung khái niệm ngôn ngữ học so sánh - lịch sử Đây cũng là cách dùng có tính chất rút gọn
Thuật ngữ đối chiếu, đối sánh thường được dùng để chỉ phương pháp hoặc phân ngành nghiên cứu lấy đối tượng chủ yếu là hai hay nhiều ngôn ngữ Mục
đích của nghiên cứu là làm sáng tỏ những nét giống nhau và khác nhau hoặc chỉ làm sáng tỏ những nét khác nhau mà thôi Nguyên tắc nghiên cứu chủ yếu là nguyên tắc đồng đại
Trong các tài liệu bằng tiếng Anh, lúc đầu người ta dùng phổ biến thuật
ngữ comparative để chỉ ngôn ngữ học so sánh trong nghĩa rộng và nghĩa hẹp của
từ này Dần dần về sau thuật ngữ so sánh cũng dùng để chỉ cả nội dung đối chiếu
Trong ngôn ngữ học Anh, những thuật ngữ truyền thống được dùng tương
đối lâu dài Chẳng hạn, trong các công trình của Haliday, Mackinton và một số tác giả khác, cho mãi đến năm 1964, vẫn dùng thuật ngữ so sánh comparative
Và ngay cả Elic mãi đến năm 1966 vẫn dùng thuật ngữ comparative với nghĩa
đối chiếu Cho đến gần đây thuật ngữ “ngôn ngữ học đối chiếu” - contrastive
linguistics mới được dùng với nghĩa của nó một cách phổ biến tức là chỉ một
phân ngành nghiên cứu riêng - nghiên cứu đối chiếu
Trang 15Trong phần lớn tài liệu viết bằng các tiếng châu Âu cho thấy có sự chuyển dần phân biệt so sánh đối chiếu và ngôn ngữ học so sánh lịch sử với ngôn ngữ học đối chiếu Việc dùng phân biệt đối chiếu và tương phản thì không thật sự thể hiện rõ ràng
Trong thức tiễn nghiên cứu, nhiều nhà nghiên cưú đã chỉ rõ, việc phân tách
ra cái giống nhau và khác nhau trong đối chiếu là rất khó Nó được thực hiện một cách đồng thời Xác định cái khác nhau phải biết cái giống nhau cùng tồn tại giữa các sự vật Song bao giờ cái khác nhau cũng dễ nhận thấy hơn Nói chung, nghiên cứu đối chiếu giúp ta xác định cái giống nhau và khác nhau của các ngôn ngữ về mặt cấu trúc, hoạt động và sự phát triển của chúng
1.1.3 Phương pháp so sánh đối chiếu
Phương pháp đối chiếu hay phương pháp ngôn ngữ học đối chiếu có một
hệ thống nguyên tắc, thủ pháp nghiên cứu riêng Nó khác với phương pháp miêu tả và phương pháp so sánh - lịch sử Nhưng đồng thời, phương pháp nghiên cứu này có kế thừa và sử dụng nhiều yếu tố, thủ pháp của nghiên cứu miêu tả và so sánh - lịch sử Chính điều này đã tạo ra đặc điểm riêng, lợi thế và triển vọng của phương pháp nghiên cứu đối chiếu
Trước hết chúng ta hãy xem xét một số đặc điểm chủ yếu của phương pháp
đối chiếu
1.1.3.1 Xác lập cơ sở đối chiếu
Xác lập cơ sở đối chiếu là xác định đối tượng nghiên cứu cụ thể, định rõ
đặc điểm đối tượng và định hướng các hoạt động, các bước nghiên cứu nhất định
Cơ sở đối chiếu là những điểm giống và khác nhau hay những tương đồng
và dị biệt của phạm vi đối tượng được khảo sát Thông thường các ngôn ngữ, các hiện tượng càng giống nhau thì càng có nhiều điểm chung, dấu hiệu chung Nếu
Trang 16như hai hay một số ngôn ngữ, hiện tượng càng khác nhau thì những điểm khác, dấu hiệu khác càng nhiều
Cơ sở đối chiếu của phương pháp đối chiếu không chỉ khác với phương pháp so sánh - lịch sử (đều là so sánh ngoài - giữa các ngôn ngữ với nhau) mà còn phân biệt đối chiếu và đối lập Phương pháp đối chiếu nhằm mục đích đối chiếu các hiện tượng, phạm trù của các ngôn ngữ khác nhau để tìm ra những nét tương đồng và dị biệt; trong trường hợp chỉ có sự dị biệt thì có thể hiểu là tương phản Còn đối lập là dùng để đối chiếu các hiện tượng trong cùng một ngôn ngữ,
đối lập là sự khác biệt ở hai cực trong một phạm trù như: danh từ và động từ, chủ ngữ và vị ngữ, nguyên âm và phụ âm, thể hoàn thành và không hoàn thành
đối tượng Ngôn ngữ đối tượng cần được tập trung phân tích có thể hoặc là chỉ có
ý nghĩa cho nó, hoặc là có thể đại diện cho một số ngôn ngữ khác Nó là cá thể riêng biệt và cũng có thể là cái mẫu, là tiêu điểm chú ý của việc nghiên cứu nhiều mặt Chẳng hạn, trong quá khứ ở phương Tây tiếng Latinh đã là tiêu điểm, là cơ
sở để đối chiếu với tiếng Pháp, tiếng Anh, và các tiếng Slavơ 2) Khả năng thứ hai
là cả hai hay các ngôn ngữ đối chiếu đều được chú ý như nhau Trong trưòng hợp như thế gọi là phân tích đối chiếu song ngữ Trong phân tích đối chiếu song song, phạm vi các vấn đề đối chiếu sẽ được chú ý đồng đều về tất cả các mặt ở ngôn
Trang 17ngữ đưa vào nghiên cứu Khả năng này được vận dụng để tìm cái chung và cái riêng ở các ngôn ngữ so sánh, từ đó ứng dụng thực tiễn trong dạy học ngoại ngữ hay phiên dịch Thưòng những phân tích như thế được tiến hành đối với các ngôn ngữ cùng loại hình hoặc các ngôn ngữ có cùng hoặc gần gũi về hệ Ví dụ: những nghiên cứu đối chiếu song song tiếng Bun-ga-ri và tiếng Ba Lan, tiếng Nga và tiếng Bun-ga-ri v.v Phạm vi nghiên cứu đối chiếu dấu hiệu là phạm vi tất yếu phải có trong nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu đối chiếu dấu hiệu thường được tiến hành trên các bình diện chủ yếu sau đây:
Đối chiếu phạm trù nhằm vào việc làm sáng tỏ đặc điểm thể hiện các phạm trù ở ngôn ngữ được nghiên cứu như phạm trù: thời, thể, xác
định, không xác định: phạm trù số, giống, cách, đa nghĩa, đồng âm, trái nghĩa, đồng nghĩa v.v
Đối chiếu cấu trúc hệ thống nhằm làm sáng tỏ các đặc điểm, cấu tạo, những đặc điểm giống, khác, đặc trưng của các hệ thống lớn, hệ thống con được nghiên cứu như hệ thống âm vị, hình vị, hệ thống từ loại, hệ thống câu đơn, câu phức v.v
Đối chiếu chức năng và hoạt động nhằm làm sáng tỏ các đặc điểm hoạt
động, hành chức của các hiện tượng, phạm trù ngôn ngữ
Đối chiếu phong cách nhằm làm sáng tỏ hoạt động các phong cách chức năng, những nét chung và riêng của các thể hiện phong cách chức năng ở ngôn ngữ đựơc đối chiếu
Đối chiếu lịch sử phát triển có quan hệ với nghiên cứu lịch đại Phạm vi
đối chiếu này nhằm làm sáng tỏ các quy luật phát triển và các quá trình biến đổi xảy ra trong nội bộ các ngôn ngữ được nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu vừa liên quan chặt chẽ với nghiên cứu so sánh - lịch sử, vừa quan hệ với loại hình học lịch đại
Trang 18 Một số phương thức đối chiếu chủ yếu Để thể hiện nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ người ta thường sử dụng một số phương thức chủ yếu sau đây: Phương thức đồng nhất/khu biệt cấu trúc, đồng nhất/ khu biệt chức năng, đồng nhất/khu biệt hoạt động, đồng nhất/khu biệt phong cách, đồng nhất/khu biệt phát triển và đồng nhất/ khu biệt xã hội
Phương thức đối chiếu chức năng thực hiện xác định những mặt tương
đồng và dị biệt về chức năng của các hiện tượng; sự kiện ở các ngôn ngữ Chẳng hạn, tiếng Việt có thanh điệu nên không thể có trọng âm từ Tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Nga, tiếng Bun-ga-ri có trọng âm từ nhưng chức năng của trọng âm trong tiếng Nga và tiếng Bun-ga-ri giống nhau nhiều hơn Ví dụ, trọng âm có chức năng biểu hiện ý nghĩa ngữ pháp, ý nghĩa từ vựng, ý nghĩa sắc thái tu từ - biểu cảm v.v Cùng một hiện tượng nhưng khả năng đảm nhiệm chức năng, phạm vi hoạt động không giống nhau Điều đó cũng có thể
áp dụng cho dấu hiêụ khu biệt âm vị dài, ngắn trong tiếng Anh và tiếng Việt
Sự đối lập i (dài/ngắn) trong tiếng Anh có nghĩa âm vị học, còn trong tiếng Việt lại không có giá trị ấy Ví dụ [bit] (bit) có nghĩa là một ít
[bi:t] (beat) có nghĩa là đánh
Trang 19Phương thức đồng nhất/khu biệt hoạt động góp phần xác định sự thông dụng, tính phổ biến hay hạn chế của các hiện tượng, sự kiện ngôn ngữ đều có trong ngôn ngữ đối chiếu Phương pháp này nhằm chỉ ra các hiện tượng ngôn ngữ xét về phương diện nào đó là giống nhau trong các ngôn ngữ, nhưng ở ngôn ngữ này được sử dụng phổ biến, hoạt động mạnh hơn còn ở ngôn ngữ khác thì ngược lại Chẳng hạn trong địa hạt từ vựng - ngữ nghĩa, tiếng Bun-ga-
ri, tiếng Việt đều có sự vay mượn từ tiếng ấn - Âu (Pháp, Latinh ) song số lượng từ mượn tiếng Pháp, Latinh trong tiếng Bun-ga-ri khá nhiều, còn trong tiếng Việt thì ít hơn Trong tiếng Bun-ga-ri còn có tiếng Nga cổ nhưng không thể gọi là vay mượn vì chúng có vốn từ gốc Slavơ cổ chung
Phương thức đồng nhất khu biệt phong cách nhằm làm sáng tỏ những
đặc điểm thể hiện, vận dụng phong cách chức năng ở mỗi ngôn ngữ Phương thức này có thể tiến hành qua nhiều lĩnh vực: chẳng hạn phong cách thể loại như thi ca, báo chí, chính luận, tiểu thuyết, khoa học kỹ thuật v.v hoặc phương tiện tu từ như so sánh, ẩn dụ, hoán dụ v.v Phức tạp hơn cả là đối chiếu hai hệ thống phương tiện thông tin văn bản và các thể loại văn phong thuộc về các thời kỳ xã hội lịch sử văn hoá khác nhau Trong trường hợp này,
đối chiếu phong cách không giới hạn ở tiêu chuẩn ngôn ngữ tín hiệu mà cả ngôn ngữ - tâm lý, ngôn ngữ - xã hội, tâm lý học - xã hội Phạm vi đối chiếu của phương thức này gắn liền với việc xem xét các nhân tố xã hội - lịch sử
Phương thức đồng nhất/khu biệt phát triển dùng để xác định đặc điểm
và chiều hướng phát triển của các ngôn ngữ Phương thức này giả định rằng: mỗi ngôn ngữ, xét về bình diện động, luôn luôn có thay đổi, phát triển Sự phát triển ngôn ngữ thể hiện ở các thay đổi cấu trúc nội bộ, phạm vi hoạt
động, chức năng của nó dưới sự tác động của những điều kiện, hoàn cảnh xã hội trong quá trình phát triển
Trang 20Phương thức đồng nhất/khu biệt xã hội - lịch sử quy định xem xét các hiện tượng ngôn ngữ, không chỉ trong quan hệ với xã hội - lịch sử mà chủ yếu
là sự hoạt động của ngôn ngữ trong điều kiện xã hội - lịch sử cụ thể của mỗi dân tộc Chẳng hạn cùng chỉ những từ chỉ màu sắc: đỏ, vàng, đen, trắng nhưng những đặc trưng, những biểu tượng ở mỗi ngôn ngữ sẽ khác nhau do đặc trưng khác nhau về xã hội, văn hoá, dân tộc của mỗi ngôn ngữ đó Phương thức
đồng nhất xã hội lịch sử trong nghiên cứu vận dụng ngôn ngữ sẽ cho chúng ta biết cái chung, cái riêng, cái phổ biến, cái đặc thù của các ngôn ngữ đối chiếu Chính nhờ xác định được những đặc trưng đó cho phép chúng ta không chỉ xác định được loại hình phong cách chức năng mà cả loại hình giao tiếp - văn hoá ngôn ngữ, giúp chúng ta hiểu ngôn ngữ qua lăng kính văn hoá và ngược lại hiểu văn hoá qua hiện thực ngôn ngữ
1.2 Khái niệm về cụm từ
1.2.1 Khái quát về cụm từ
Theo Diệp Quang Ban (2004): từ kết hợp với từ một cách có tổ chức và có
ý nghĩa làm thành những tổ hợp từ, tức là những kiến trúc lớn hơn từ Mỗi từ trong tổ hợp từ là một thành tố Tổ hợp từ có thể là một câu, có thể là một kiến trúc tương đương với câu nhưng chưa thành câu, cũng có thể là một đoạn có nghĩa của câu
Các tổ hợp từ chưa thành câu (bao gồm tổ hợp từ tương đương câu và đoạn
có nghĩa của câu) được gọi chung là tổ hợp tự do Về nguyên tắc, tổ hợp từ tự do
có thể chứa kết từ ở đầu để chỉ chức vụ ngữ pháp của toàn bộ phần còn lại trong
tổ hợp từ này Những tổ hợp từ có kết từ ở đầu như vậy mang tên là giới ngữ Trái lại, tổ hợp từ tự do không chứa kết từ chỉ chức vụ ngữ pháp như vậy, được gọi là cụm từ, ví dụ:
1 Đã học xong
2 Nghèo nhưng tốt bụng
Trang 21Vậy cụm từ là những kiến trúc gồm hai từ trở lên kết hợp "tự do" với nhau theo những quan hệ ngữ pháp hiển hiện nhất định và không chứa kết từ ở đầu (để chỉ chức vụ ngữ pháp của kiến trúc này)
1.2.2 Đặc điểm của cụm từ
Các thành tố trong một cụm từ nhỏ nhất của tiếng Việt có thể có một trong
ba kiểu quan hệ cú pháp phổ biến sau đây:
- Quan hệ giữa chủ ngữ và vị ngữ, gọi tắt là quan hệ chủ vị
- Quan hệ giữa hai thành tố chính với thành tố phụ về ngữ pháp, gọi là quan hệ chính phụ
- Quan hệ giữa hai yếu tố bình đẳng với nhau về ngữ pháp gọi là quan hệ bình đẳng
Trong việc nghiên cứu của cú pháp, kiểu cụm từ chủ - vị thường giữ vai trò nòng cốt trong câu đơn hai thành phần, nó là cơ sở của một thứ đơn vị riêng của ngôn ngữ - đối tượng trực tiếp của việc nghiên cứu câu [2; tr 5-10]
Cụm từ trong tiếng Việt có hai loại: Cụm từ tự do và cụm từ cố định
* Cụm từ tự do:
Cụm từ tự do có một số đặc điểm sau:
Một là: ý nghĩa của cụm từ tự do về cơ bản do ý nghĩa của các thành tố quyết định, vì vậy nghĩa của chúng về cơ bản có nghĩa của các từ trên hợp lại
Hai là: cấu trúc của cụm từ tự do lỏng, các thành tố trong cụm từ tự do đều
dễ bị thay thế
Ba là: quan hệ ngữ pháp của cụm từ tự do thường đơn giản, ít tầng bậc
* Cụm từ cố định:
Trang 22Cụm từ cố định là đơn vị do một số từ hợp lại; tồn tại với tư cách một đơn
vị có sẵn như từ, có thành tố cấu tạo và ngữ nghĩa cũng ổn định như từ
Chính vì thế cụm từ cố định được gọi là đơn vị tương đương với từ Chúng tương đương với nhau về tư cách của những đơn vị được làm sẵn trong ngôn ngữ;
và tương đương với nhau về chức năng định danh, chức năng tham gia tạo câu
Chẳng hạn, các cụm từ: to run as fast as legs can carry one, to earn one s daily
bread của tiếng Anh, ruộng cả ao liền, qua cầu rút ván của tiếng Việt đều là
những cụm từ cố định Chúng được tái hiện và tái lặp trong phát ngôn cũng như các từ vậy
Trên đây là đặc điểm của cụm từ đại cương trong tiếng Việt Vậy quan niệm cụm từ trong tiếng Anh và tiếng Việt có những nét gì giống và khác nhau?
1.2.3 Quan niệm cụm từ trong tiếng Anh và tiếng Việt
* Cụm từ tiếng Anh
Trong tiếng Anh quan niệm về cụm từ như sau:
“Cụm từ được định nghĩa theo một cách truyền thống là một nhóm từ gắn liền với nhau mà không bao gồm động từ xác định, nó chỉ làm nên một đơn vị câu mà chức năng của cụm từ là một phần của câu” [dẫn theo 23; tr ]
Định nghĩa truyền thống này dùng ba tiêu chuẩn khác nhau: Đó là ngữ nghĩa học (một nhóm từ kết hợp với nhau), cấu trúc câu (không gồm động từ cụ thể nhưng lại tạo nên một đơn vị câu); và một cụm từ, theo định nghĩa như trên, chức năng như là một thực thể mạch lạc trong câu Hãy xem xét các cụm từ trong những ví dụ dưới đây, những từ và những cụm từ có thể được thay thế, chúng ta
sẽ thấy rằng chức năng này là rất quan trọng như những chức năng khác của câu (danh từ, tính từ, trạng từ)
Ví dụ: Swimming in the pond is her favorite exercise
Trang 23Bơi lội trong ao là bài tập thể dục ưa thích của cô ta (Cụm từ swimming in
the pond có chức năng làm chủ ngữ của câu)
The book on the table
Quyển sách trên bàn (cụm từ on the table - cụm từ chỉ địa điểm) The house with damaged roof in No.7 storm was built in 1900 (cụm từ damaged
roof in No.7 storm có chức năng như một tổ hợp bổ nghĩa cho “the house”)
Về cơ bản cụm từ là một cấu trúc dễ mở rộng
Vì thế cụm từ, như chúng ta đã nói ở trên, là một sự mở rộng những phần
từ đơn lẻ của câu nói
* Cụm từ tiếng Việt
Cụm từ là một tổ hợp từ hai thực từ trở lên kết hợp với nhau theo các quan
hệ ngữ pháp và quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ và là một đơn vị ngữ pháp, có vị trí
độc lập với các từ và câu; cụm từ thường biểu hiện ý nghĩa cùng với nghĩa của từ
loại làm thành tố trung tâm của cụm từ
Cụm từ vừa có những nét giống như từ, vừa có mặt giống như câu nhưng
không phải là câu Cụm từ cũng như từ làm chức năng giao tiếp (trong ngôn ngữ)
chỉ thông qua câu và đứng trong tổ chức câu Cụm từ cũng như từ không có thuộc
tính của câu là tính vị ngữ Nếu một từ hoặc một cụm từ có tính vị ngữ, thì từ đó
sẽ trở thành trung tâm kết cấu của câu (những đơn vị thường gọi là cụm chủ vị)
Có hai thành phần chính, là những đơn vị tính vị ngữ có thể trực tiếp trở thành
câu hoặc trở thành nòng cốt của câu, ví dụ: Chim hót; Nó ngủ; Từ chiều lại bắt
đầu trở rét, v.v các đơn vị này khác với cụm từ về chất, chúng có những đơn vị
ngữ pháp đối lập với cụm từ
1.2.4 Phân loại cụm từ tiếng Anh và tiếng Việt
Trang 24Trong tiếng Việt có thể phân thành 2 kiểu cụm từ: Cụm từ liên hợp, cụm từ chính phụ Cụm từ thường được gọi tên theo từ loại của thành tố chính trong cụm Trong tiếng Việt, chúng ta có thể gặp những loại cụm từ sau đây:
1 Cụm từ có danh từ làm thành tố chính: gọi là cụm danh từ
Ví dụ: Các anh bộ đội, mấy cô hàng xén
2 Cụm từ có động từ làm thành tố chính, gọi là cụm động từ
Ví dụ: Đã ăn rồi, vừa ăn
3 Cụm từ có tính từ làm thành tố chính gọi là cụm tính từ
Ví dụ: Bức tranh đẹp quá
4 Cụm từ có số từ làm thành tố chính, gọi là cụm số từ
Ví dụ: Hơn hai tiếng, độ hai tiếng
5 Cụm từ có đại từ làm thành tố chính, gọi là cụm đại từ
Ví dụ: Tất cả chúng tôi
Trong số năm loại cụm từ kể trên, cụm danh từ và cụm động từ là những cụm từ có cấu tạo đa dạng hơn hẳn hai loại cụm từ cuối cùng Vì vậy thông thường người ta chỉ xét hai loại cụm từ này với tư cách là những hiện tượng tiêu biểu (cụm tính từ có nhiều nét giống cụm động từ)
Mỗi loại cụm từ thông thường có thể chia thành ba bộ phận rõ rệt
- Phần phụ trước, đứng trước thành tố chính
- Phần trung tâm, tức là phần chứa thành tố chính
- Phần phụ sau, đứng sau thành tố chính
Mỗi bộ phận có thể chứa nhiều yếu tố, mỗi yếu tố được gọi là một thành
tố Một cụm từ chứa đủ ba bộ phận vừa nêu là cụm từ đầy đủ Trong hoạt động của mình cụm từ có thể có mọi biến dạng cần thiết dựa trên cơ sở dạng đầy đủ,
kể cả dạng vắng trung tâm Quan niệm cụm từ là tổ hợp của những từ, cho nên
Trang 25khi chỉ có một từ thì, dùng từ đó tương đương với thành tố chính hay tương đương với thành tố phụ, khi phân tích cấu tạo bề mặt, chúng ta không coi đó là cụm từ
Mặc dù có nhiều điểm giống nhau về nguyên tắc, nhưng cách xây dựng, tạo lập cụm từ cố định trong các ngôn ngữ khác nhau không hoàn toàn như nhau
Nếu tạm thời chấp nhận tên gọi mà chưa xác định ngay nội dung khái niệm của chúng, thì có thể tóm tắt một trong những bức tranh phân loại cụm từ
cố định tiếng Việt như sau:
Tính cố định là đặc trưng của thành ngữ, tính cố định này được thể hiện ở cấu trúc và ý nghĩa Tính cố định về mặt ý nghĩa của thành ngữ là do lịch sử dân tộc, tri thức văn hoá qui định
Về mặt cấu trúc của thành ngữ, nói chung là ổn định Tuy nhiên, trong quá trình hình thành và phát triển của thành ngữ, cấu trúc trong thành ngữ có những biến động
Cụm từ cố định
Quán ngữ Ngữ cố định định danh
Trang 262 Ngữ cố định định danh
Ngữ cố định định danh là các cụm từ cố định nhưng được tạo dựng theo cách gần như cách tạo những từ ghép mà người ta vẫn hay gọi là từ ghép chính phụ
Ví dụ: Quân sư quạt mo
Tuần trăng mật
Ngữ cố định danh thực chất là những cụm từ cố định, định danh, gọi tên sự vật Những cụm từ như vậy thường có một thành tố chính và một vài thành tố phụ miêu tả sự vật Chủ yếu miêu tả bằng đường so sánh nhưng không dùng từ so sánh
Ví dụ: Lông mày lá liễu
Mắt bồ câu
Gần giống như con đường tạo dựng các từ ghép
Ví dụ: đen sì, đen trũi, đen xỉn
Ngữ cố định định danh thường tập trung vào khu vực tên gọi các bộ phận cơ thể con người như:
Ví dụ: Tóc rễ tre, mắt ốc nhồi
Cũng có một số tên gọi của sự vật khác hoặc của một trạng thái, thuộc tính:
Ví dụ: đá tai mèo, con gái rượu
Rõ ràng cơ chế cấu tạo những cụm từ trên đây giống như cụm từ làm tên gọi cho một số sự vật hiện tượng nhưng tính thành ngữ của chúng thấp hơn
Trong tiếng Anh, cụm từ là một nhóm từ không có động từ chia và không
đầy đủ nghĩa, nó phải đi với động từ chia để hoàn thành một câu hoặc một mệnh
đề
Ví dụ: He sat on the bus, carrying a dog
Trang 27ông ta ngồi trên xe buýt ôm con chó
“on the bus” và “carrying a dog” là những cụm từ
Thông thường xét về ý nghĩa, có bao nhiêu loại mệnh đề phụ thì cũng có bấy nhiêu loại cụm từ, vì thực ra có thể đổi một mệnh đề phụ ra cụm từ, hoặc ngược lại, mà không thay đổi ý nghĩa trong câu
Cụm từ trong tiếng Anh cũng được phân loại như sau: Cụm từ làm danh từ, cụm từ làm động từ, cụm từ làm giới từ
Cụm tính từ thì được nguỵ trang bởi những đặc điểm bổ nghĩa cho một danh từ (trong giới hạn chức năng) Thực tế, điều này có nghĩa là cụm tính từ gần như luôn luôn xảy ra như là một bổ nghĩa của danh từ đứng đầu (hay danh từ trung tâm) trong một cụm danh từ
Ví dụ: The boy wearing white shirt and blue jeans is my brother
Cậu bé mặc quần bò, áo sơ mi trắng là em trai tôi
People in poor countries often suffer from malnutrition
Người dân ở những nước nghèo thường bị suy sinh dưỡng
Cụm từ làm trạng ngữ:
Theo cấu trúc, cụm từ trạng ngữ giống như cụm từ tính ngữ (cả hai đều bắt
đầu bằng một giới từ) nhưng vị trí trong câu thì thường khác nhau, sự khác nhau chính giữa hai loại cụm từ nằm ở chức năng của chúng: Trong khi cụm tính ngữ
bổ nghĩa cho một danh từ, thì cụm trạng ngữ bổ nghĩa cho một động từ, và có thể thường được thay thế bằng một trạng từ đơn lẻ
Ví dụ:
The meeting will be held tomorrow in the town hall
Buổi họp sẽ được tiến hành vào ngày mai ở toà thị chính
Phần lớn các cụm từ có thể được xem như là sự mở rộng yếu tố trung tâm (yếu tố đầu) và những cái này thường được liên quan tới những cụm từ "nội tại/
Trang 28nội tâm" (cũng như là những cụm từ cơ bản Chúng có chức năng ngữ pháp giống hệt nhau như là từ trung tâm hoặc từ đứng đầu:
Ví dụ: boys (những cậu bé)
The boys (những cậu bé)
The naughty boys (những cậu bé tinh nghịch)
Những cụm từ mà không thể phân tích bằng cách này thì được gọi là cụm
từ "nội tại"
Ví dụ: inside / the house
Bên trong căn nhà
Như đã được chú ý ở trên, từ trung tâm là một yếu tố chính của một cụm
từ Nó là một sự cấu tạo từ vựng học theo yêu cầu trong một cụm từ Trong ngữ pháp hiện đại nó là trung tâm giúp nhận ra cụm từ của nó
Theo cú pháp hiện đại, bất cứ một cụm từ nào cũng có thể là một hay nhiều
Công thức chức năng: Bổ nghĩa trước + từ trung tâm + bổ nghĩa sau
Ví dụ: I love coffee
Tôi thích cà phê (từ trung tâm đứng 1 mình)
He told me about his success
Anh ta kể cho tôi về thành công của mình
2 Cụm động từ (Verb phrase - VP):
Công thức chức năng: (bổ trợ) + từ trung tâm + (tân ngữ/ bổ ngữ) + bổ nghĩa
Trang 29Ví dụ: The baby sleeps
Em bé ngủ (từ trung tâm “sleeps” đứng một mình)
The baby is sleeping
Em bé đang ngủ (Trợ động từ “is” + từ trung tâm “sleeping”)
The baby sang an English song
Em bé hát một bài hát tiếng Anh (Từ trung tâm “sang”+ tân ngữ
“an English song”)
3 Cụm tính từ (Adjective phrase - AP): nhiều khi có thể thay thế cho
mệnh đề tính từ bằng cách dùng phân từ hiện tại hoặc phân từ quá khứ
Ví dụ: I saw a man who was walking along the road (“who was walking along the road” là một mệnh đề)
I saw a man walking on the road (“walking on the road” là một cụm từ)
Công thức chức năng: (Từ nhấn mạnh) + từ trung tâm + (bổ ngữ)
Ví dụ: intelligent boy
Cậu bé thông minh (từ trung tâm “intelligent” đứng 1 mình)
very intelligent boy
Cậu bé rất thông minh (từ nhấn mạnh “very”+ từ trung tâm
rất cẩn thận (từ nhấn mạnh “very” + từ trung tâm “carefully”)
5 Cụm giới từ: (prepositional phrase - PP)
Trang 30Công thức chức năng: từ trung tâm + tân ngữ
ví dụ: on the table: trên bàn
Of good quality: có chất lượng tốt
Trong công thức ở trên, những từ trung tâm là danh từ, động từ, tính từ và giới từ tương ứng Chúng ta sẽ không bàn cãi một cách chi tiết về sự phân loại cụm từ này vì sự giới hạn của luận văn này
1.3.Khái niệm chung về động từ
1.3.1 Khái niệm
Động từ là một trong hai từ loại cơ bản trong ngôn ngữ Nếu danh từ biểu
đạt các khái niệm về sự vật (và thực thể nói chung), thì động từ gắn với các khái niệm thuộc phạm trù vận động Từ khi loài người biết sử dụng công cụ lao động phục vụ nhu cầu trong cuộc sống của mình thì ngôn ngữ cũng xuất hiện Động từ
là một trong những từ loại cơ bản nhất của một ngôn ngữ đựoc con người sử dụng sớm nhất, có tần số xuất hiện nhiều nhất trong câu và chiếm vị trí quan trọng hàng đầu trong hệ thống các từ loại của ngôn ngữ Động từ đóng vai trò quan trọng nhất trong câu, đứng ở vị trí trung tâm của ngữ động từ Theo thống kê của Nguyễn Kim Thản thì câu mà vị ngữ là động từ chiếm khoảng 88%; trong khi đó,
số câu có vị ngữ danh từ chỉ vào khoảng 8% [20; 9] Hầu hết các vị ngữ (nội dung thông báo) đều là những động từ ý nghĩa khái quát (ý nghĩa ngữ pháp):
Động từ chỉ hoạt động, trạng thái của sự vật và của cả những khái niệm được ngôn ngữ phản ánh như những thực thể
Ví dụ : come, go, buy, make, do, build, write, sit, read, think
đi, mua, làm , xây, viết, ngồi, đọc, suy nghĩ
Trang 31Động từ có ý nghĩa khái quát chỉ hành động (action) ( hiểu rộng, bao gồm các hoạt động vật lí - tâm lí - sinh lí), hay một trạng thái (state) của chủ từ
Ví dụ: - He reads newspaper
Ông ấy đọc báo
- My baby boy is very cute
Thằng nhóc nhà tôi rất ngộ nghĩnh
Trong tiếng Anh động từ thường được phân loại theo hai phương diện:
1 Về hình thức: Động từ được chia làm hai loại : Động từ đặc biệt (special
verbs) và động từ thường (ordinary verbs)
a) Động từ đặc biệt gồm ba loại:
Trợ động từ (auxiliary verbs) là những động từ dùng để chia các thì kép và
để thành lập các thể; hai trợ động từ đó là: to be, to have
Ví dụ: - My teacher has gone to Paris for training programme: thì present perfect
- thì hiện tại hoàn thành
Thầy giáo tôi đã đi Paris để tham dự khoá đào tạo
- He had come here before you arrived: thì past perfect - thì quá khứ hoàn thành
Ông ta đã tới đây trước ông
Trang 32 Bán trợ động từ (semi-auxiliary verbs) là những động từ vừa có thể là trợ
động từ (auxiliary verbs) vừa có thể là động từ thường (ordinary verbs) Những bán trợ động từ là: to do, to let, to need, to dare
Động từ khiếm khuyết (defective verbs) là những động từ thiếu một số ít
thời Những động từ khiếm khuyết là:
b) Động từ thưòng (ordinary verbs): là tất cả những động từ khác không phải là
động từ đặc biệt Động từ thường được chia làm hai loại:
Động từ qui tắc (regular verbs) là những động từ có thì quá khứ đơn
(simple past) và quá khứ phân từ (past participle) được thành lập bằng cách
thêm -ed vào sau động từ nguyên mẫu (infinitive) không có “to”:
Infinitive + ed = simple past = past participle
Ví dụ To work - worked
To form - formed
To study - studied
Trang 33 Động từ bất qui tắc (irregular verbs) là những động từ mà cách thành lập thì quá khứ đơn cũng như quá khứ phân từ không theo qui tắc trên
Infinitive
Nguyên mẫu
Simple past Quá khứ
Past participle Quá khứ phân từ
2 Về ý nghĩa động từ chia làm hai loại:
a) Ngoại động từ (transitive verbs) (viết tắt là vt.) là những động từ có bổ túc từ
trực tiếp (direct object) hay nói một cách khác, giữa động từ và bổ túc từ không
có giới từ xen vào
Ví dụ: He reads a book
vt direct object
Nó đọc một cuốn sách
b) Nội động từ (intransitive verbs) (viết tắt là vi.) là những động từ không có bổ
túc từ trực tiếp hay nói một cách khác, tự động từ không đòi hỏi bổ túc từ và nếu
có chỉ là bổ túc từ gián tiếp nghĩa là sau nó có giới từ
Ví dụ: - The sun rises in the East
Mặt trời mọc ở đằng đông
- He laughs
Hắn cười
- He laughs at me
Nó cười nhạo tôi
Ngoài ra, có nhiều động từ vừa dùng như nội động từ vừa dùng như ngoại
động từ
Trang 34Ví dụ: - The door-bell rings (vi.)
Chuông cửa reo
- He rings the door-bell (vt)
Ông ta rung chuông cửa
- The door opened (vi)
Ví dụ: - I cannot stand you (động từ “stand” là ngoại động từ - vt)
Tôi không thể chịu nổi anh
- I cannot stand on you (động từ “stand” là nội động từ - vi.)
-To rob somebody of something (tân ngữ trực tiếp chỉ người)
Cướp (chiếm đoạt, trấn lột ) vật gì của ai
Động từ come/go và run của tiếng Anh xét về mặt hình thức là những
động từ thường và bất qui tắc khi thành lập thì quá khứ đơn và quá khứ phân từ
được biến đổi như sau:
Trang 35Infinitive
Nguyên mẫu
Simple Past Quá khứ
Past perfect Quá khứ phân từ
Xét về mặt ý nghĩa cả ba động từ trên vừa là nội động từ vừa là ngoại động
từ
1.3.2 Khái niệm chung về động từ chuyển động trong tiếng Anh và tiếng Việt
Động từ được dùng để diễn đạt hành động của con người, vì “không có
động từ, tiếng nói sẽ chỉ có thể phô diễn ra những ý tứ rời rạc, đứt khúc, không liên lạc với nhau” [5; tr 82] Trong bất kỳ một ngôn ngữ nào động từ chuyển
động cũng đóng một vai trò quan trọng vì chuyển động là quy luật tất yếu của cuộc sống, nó bao gồm chuyển động về mặt vật chất và về mặt tinh thần Chuyển
động về mặt vật chất bao gồm những chuyển động của con người trong xã hội, chuyển động của các sự vật, hiện tượng v.v Còn chuyển động về mặt tinh thần
là những phát triển, tiến bộ của nhận thức con người đối với xã hội và thiên nhiên v.v Những chuyển động đó được phản ánh thông qua ngôn ngữ mà những phương tiện hữu hiệu là những động từ chuyển động Nhưng trong mỗi ngôn ngữ
có những phương tiện phản ánh các dạng chuyển động khác nhau Tiếng Anh là ngôn ngữ biến hình nên động từ được cấu tạo bằng phương pháp phụ tố hay là phép cấu tạo bằng phụ tố
Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập nên mỗi từ có một nghĩa đơn lẻ, khi muốn miêu tả chuyển động từ ngoài vào trong, ta thêm từ phụ chỉ hướng vào sau động
từ đi Câu “Sinh viên đi vào lớp” trong đó có động từ đi, có nghĩa tương đương với “The students come into the classroom”, ở đây động từ đi là động từ gốc, còn
vào trong trường hợp này là phụ từ chỉ hướng vận động
Trang 36Trong tiếng Việt, động từ đi biểu thị hướng chuyển động, di chuyển của chủ thể Theo Đinh Văn Đức [9], bên cạnh động từ đi biểu thị một dạng của
chuyển động, trong tiếng Việt có các động từ chuyển động bao hàm cả hướng
chuyển động: ra, vào, lên, xuống, sang, qua, lại, tới, đến, về [9; 142] Hà
Quang Năng cũng cho rằng trong tiếng Việt những động từ chuyển động có định
hướng có 10 từ: ra, vào, lên, xuống, sang, qua, về, lại, đến, tới căn cứ vào ba tiêu
chí:
a Những từ này phải được dùng độc lập như những động từ chân chính khác, nghĩa là chúng thực hiện chức năng động từ chuyển động với đúng nghĩa cơ bản của mình
b Trong nội dung ngữ nghĩa của mình, những động từ này nhất thiết phải chứa đựng nét nghĩa biểu thị phương hướng trong không gian
c Những động từ này phải được dùng biểu thị các hoạt động chuyển động trong một phạm vi có giới hạn nhất định
Trang 37Chương iI
Đặc điểm từ vựng - ngữ nghĩa các tổ hợp động từ come/go/run có đối chiếu với các tổ hợp động từ
đi/chạy trong tiếng Việt
Trong chương này, để có cơ sở lý luận có tính chất tác nghiệp và xử lý những vấn đề động từ chuyển động trong tiếng Anh và tiếng Việt, chúng tôi xin tổng hợp dưới đây một số ý nghĩa từ vựng - ngữ nghĩa của động từ chuyển động liên quan đến nội dung luận văn
2.1 Cặp động từ come/go và động từ run nhìn từ góc độ từ vựng-ngữ nghĩa qua
tấm gương tiếng Việt
2.1.1 Động từ come/go với tư cách là một thực từ có cả ý nghĩa từ vựng và ngữ pháp Việc xác định nghĩa sử dụng trong lời nói của động từ come/go phụ thuộc
vào thành phần mở rộng mà nó tổ hợp Trong các từ điển khác nhau do xuất phát
từ những tiêu chí không giống nhau, các soạn giả thường không thống nhất trong
việc liệt kê số lượng nghĩa vị của động từ come và go Mặc dù số lượng nghĩa
không thống nhất nhưng các soạn giả đều nhất trí nghĩa cơ bản (nghĩa chính) của
động từ là chuyển động (dịch chuyển) dời chỗ so với điểm xuất phát bằng chân
Động từ cùng cặp go ở một góc độ nào đó có những nét nghĩa tương tự như động
từ come nhưng hai động từ này có nghĩa khác biệt nhau ở phương hướng chuyển
động Về mặt ngữ nghĩa động từ chuyển động đi trong tiếng Việt không có và
không phân biệt hướng vận động “đến gần người nói” và “rời xa người nói” như
cặp động từ come và go Tuy vậy, ở một chừng mực nào đó ta vẫn bắt gặp sự tương đồng ngữ nghĩa của cặp động từ come/go với động từ đi trong tiếng Việt
Từ điển Anh - Việt [26; 705] cho biết động từ go có 20 nét nghĩa, động từ
come [tr 308] có 8 nét nghĩa cụ thể như sau:
Trang 38Trong 20 nét nghĩa của động từ go có 14 nét nghĩa biểu thị quá trình
chuyển động, dịch chuyển trong không gian, sự hoạt động của máy móc, 06 nét
nghĩa còn lại là kết quả của sự chuyển nghĩa của động từ go khi tổ hợp với các từ
loại khác được sử dụng trong lời nói
Trong 13 nét nghĩa đầu (trừ nét nghĩa 2, 8, 10, 12) động từ go tổ hợp với
các loại từ biểu thị sự chuyển động dời chỗ bằng chân của người, của động vật và
bất động vật: He went to Ho Chi Minh city yesterday - Anh ta đi thành phố Hồ
Chí Minh hôm qua rồi; sự trôi đi, trôi qua của thời gian: How quickly time goes!
- Sao mà thời gian trôi nhanh thế; sự chết, tiêu tan, chấm dứt, mất hết, yếu đi: All hope is gone - Mọi hi vọng đều tiêu tan; sự hoạt động (chạy, vận hành) của máy
móc: The machine goes by electricity - Máy chạy bằng điện; (đồng hồ, chuông, kẻng) điểm, đánh, (súng, pháo) nổ: The clock has just gone three - Đồng hồ vừa
điểm ba giờ; diễn ra, xảy ra, tiếp diễn, tiến hành, diễn biến: How does the affair go?- công việc tiến hành ra sao?; hoạt động theo, làm theo: to go by certain principles- hành động theo một số nguyên tắc nhất định; đặt, kê, để vào: Where
is this table to go? - Kê cái bàn này vào đâu?
Trong 8 nét nghĩa của động từ come (Từ điển Anh - Việt, Viện khoa học xã hội Việt Nam) [TĐ 26] có 04 nét nghĩa tương ứng với động từ go biểu thị quá trình chuyển động trong không gian, chỉ khác nhau ở chỗ động từ come biểu thị quá trình chuyển động về hướng người nghe, người nói, động từ go được dùng để
chỉ sự chuyển động theo hướng ngược lại
Ví dụ: Come in and sit down for a few minutes
Anh vào đi và ngồi chơi một lát nào
Could you go upstairs and turn the lights off?
Anh làm ơn lên gác tắt hộ em cái đèn nhé!
Trang 39Trong 10 nét nghĩa còn lại của động từ go đều có sự chuyển nghĩa thoát ra
khỏi giới hạn của động từ chuyển động trong không gian Dưới đây là một số trường hợp:
Hoá thành, trở nên, trở thành khi go kết hợp với các từ mad, pieces, sea
(kèm theo giới từ), streets, stage, native, bar
Ví dụ: to go mad: phát điên, hoá điên
To go to pieces: vỡ tan thành từng mảnh, sụp đổ tan tành
To go to sea: Trở thành thuỷ thủ
To go on stage: trở thành diễn viên
To go to native: trở thành người bản địa
Dùng với nghĩa thuộc về:
The house went to the older son: Căn nhà thuộc về người con trai lớn
The prize went to the winner: Giải thưởng thuộc về phần người chiến thắng
Dùng với nghĩa lưu hành, lưu thông tổ hợp với các từ liên quan đến tiền tệ
Dùng với nghĩa hợp với, xứng với, thích hợp với, vừa khéo, vừa xinh:
Red goes well with black: Màu đỏ rất hợp với màu đen
Dùng với nghĩa nói năng, cư xử, làm đến mức là:
What he say is true as far as it goes
Trong chừng mực nào đó thì điều anh ta nói là đúng
Dùng với nghĩa trả giá, tiêu tiền:
All her pocket-money goes in book
Có bao nhiêu tiền tiêu vặt cô ta mua sách hết
Dùng với nghĩa đổ, sụp, gãy, vỡ, vỡ nợ, phá sản:
The bridge might goes under such a weight
Nặng thế cầu có thể gãy
Trang 40 Dùng với nghĩa ở vào tình trạng, sống trong tình trạng:
To go hungry: sống đói khổ
To go with young: có chửa (gia súc)
Dùng với nghĩa được biết, được thừa nhượng, truyền đi, nói, truyền miệng:
It goes without saying: khỏi phải nói, tất nhiên là, cố nhiên là
Để tiện theo dõi, chúng tôi không liệt kê toàn bộ các nét nghĩa chuyển
động trong không gian, mà lập bảng tổng hợp ở các tiểu mục tiếp sau theo cách luận giải như trên (xem bảng 01, trang)
Trong 8 nét nghĩa của động từ come [26] có 4 nét nghĩa tương ứng với
động từ go biểu thị quá trình chuyển động trong không gian, chỉ khác nhau ở chỗ
động từ come biểu thị quá trình chuyển động một hướng về hướng người nghe, người nói còn động từ go thì biểu thị quá trình chuyển động không định hướng
(nhiều hướng, không theo một hướng nào) Ví dụ:
He went to supermarket to buy bread Anh ta đi ra siêu thị mua bánh mì (đi đến siêu thị rồi quay về)
Go sailing Chạy thuyền buồm
Go picnic Đi picnic, đi dã ngoại
Go fishing Đi câu cá
Go dancing Đi khiêu vũ
Go shopping Đi mua sắm
Go swimming Đi bơi
Bốn nét nghĩa còn lại của động từ come đều có sự chuyển nghĩa thoát ra khỏi giới hạn của động từ chuyển động trong không gian như của động từ go vừa
xét ở trên Dưới đây là một số trường hợp:
Nên, thành ra, hoá ra trở nên, trở thành:
Dream comes true: ước mơ trở thành sự thật