1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÁO CÁO MÔN HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐỀ TÀI ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2010

31 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đảng Cộng Sản Việt Nam Lãnh Đạo Phát Triển Nguồn Nhân Lực Chất Lượng Cao Từ Năm 2006 Đến Năm 2010
Tác giả Nguyễn Đức Minh
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam
Thể loại báo cáo
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 479,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Đảng đã khẳng định: “Khoa học và công nghệ có nhữngbước nhảy vọt và trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thúc đẩy sự phát triển kinh tế tri thức

Trang 1

BỘ iGIÁO iDỤC iVÀ iĐÀO iTẠO TRƯỜNG iĐẠI iHỌC iKINH iTẾ iQUỐC iDÂN

Trang 2

CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

KT - XH : Kinh tế và xã hội

NNLCLC: : Nguồn nhân lực chất lượng cao

XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 3

MỤC LỤC Mục lục

Trang 4

I Lời nói đầu:

Nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội bao gồm tư liệu sản xuất (đất đai, tài nguyên, máymóc thiết bị, công nghệ, tài chính ) và sức lao động (nguồn nhân lực và rộng ra là nguồn vốncon người, vốn xã hội, vốn thể chế ) Trong đó, con người là yếu tố quan trọng nhất, quyết địnhtrong việc tạo ra những giá trị tinh thần và vật chất cho mỗi quốc gia Thực tiễn lịch sử phát triểncủa nhân loại, sự phát triển hay nguy vong của mỗi quốc gia không thể là quá trình lịch sử tựnhiên, mà là một quá trình liên tục, thường xuyên kế thừa và phát triển của NNL sáng tạo mangtính cách mạng của nhân loại qua các khúc quanh lịch sử

Ở bất kì giai đoạn lịch sử nào thì vai trò của NNL luôn được chú trọng, trong thời phong kiến,các triều đại phong kiến ở Việt Nam đã chú trọng và đề cao vai trò của NNL; xem NNL chính làhiền tài của quốc gia; đất nước thịnh suy đều liên quan mật thiết đến hiền tài Đến thời kỳ đổimới đất nước và hội nhập quốc tế, nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao(NNLCLC) càng có vai trò và vị trí quan trọng rõ nét hơn Trong xu thế toàn cầu hóa của cuộccách mạng khoa học - công nghệ (KH - CN), mọi lĩnh vực đời sống kinh tế, chính trị, xã hội củaViệt Nam đều dựa nhiều vào trí thức Mặt khác, NNLCLC ở Việt Nam vừa thiếu, vừa yếu dẫnđến năng suất lao động không cao, hàm lượng khoa học và công nghệ trong mỗi sản phẩm hànghóa thấp đã làm cho giá trị kinh tế mất đi sự hiệu quả dẫn đến sức cạnh tranh của nền kinh tếyếu Vì thế, yêu cầu cấp thiết đặt ra cho Việt Nam là cần phải tăng cường phát triển NNL, nhất làNNLCLC

Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Đảng Cộngsản Việt Nam đã nhận thức ngày càng đầy đủ hơn vai trò của con người trong sự phát triển KT -

XH Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) (Bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng đã chủ trương: “Con người là trung tâm của chiến lược

phát triển, đồng thời là chủ thể quyết định sự phát triển” [49, tr 76] Tiếp đó, Đại hội lần thứ XI

đã đề ra Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020, theo đó, Đảng nhấn mạnh: “Để đẩy

mạnh phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế thì cần thiết phải nângcao chất lượng nguồn năng lực, đặc biệt là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao góp phầnchuyển đổi mô hình tăng trưởng, đây cũng là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm chophát triển nhanh, hiệu quả và bền vững” [49, tr 130] Là yếu tố quyết định cho sự phát triển củađất nước, con người luôn là nguồn lực đặc biệt quan trọng, nhất là với Việt Nam khi nền kinh tế

- xã hội còn nhiều khó khăn, thử thách

Trang 5

II CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI PHÁT

TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO GIAI ĐOẠN

2006 – 2010.

2.1 Những yếu tố tác động và chủ trương của Đảng.

2.1.1 Những yếu tố tác động

2.1.1.1 Tình hình thế giới và Việt Nam

Về tình hình thế giới, trước tiên, thế giới đang chịu tác động của cuộc cách mạng KH - CN

Cuộc cách mạng KH - CN bắt đầu từ cuối những năm 70 (thế kỷ XX), trong đó công nghệ đượccoi là cốt lõi của cuộc cách mạng, với đặc điểm lớn nhất là khoa học trở thành lực lượng sảnxuất trực tiếp, phát triển mạnh và đạt được nhiều thành tựu to lớn

Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Đảng đã khẳng định: “Khoa học và công nghệ có nhữngbước nhảy vọt và trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thúc đẩy sự phát triển kinh tế tri thức,giúp chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế cũng như làm biến đổi sâu sắc các lĩnh vực của đời sống

xã hội” Thực tế cho thấy, cách mạng KH - CN đang có những tác động hết sức sâu rộng và lớnlao đến mọi quốc gia trên thế giới Quốc gia nào có chủ trương chính sách đúng đắn trong việcphát triển NNL, phát triển KH - CN thì quốc gia đó sẽ thành công và phát triển bền vững Cuộccách mạng KH - CN đã tạo ra những biến đổi sâu sắc trong lực lượng sản xuất và toàn bộ xã hộiloài người trên các phương diện cơ bản sau: Khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp,khoa học trực tiếp làm ra sản phẩm; phân công lao động quốc tế trở nên sâu sắc, đặc biệt là xuấthiện nền KTTT, trong đó hàm lượng tri thức giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế.Hơn nữa, cách mạng KH - CN còn làm thay đổi cơ cấu xã hội, cơ cấu dân cư và cơ cấu lao độngvới những đòi hỏi về chất lượng NNL, GD - ĐT nghề nghiệp đã hình thành một thị trường thếgiới với xu thế toàn cầu hóa

Qua đó có thể thấy rằng, với những yêu cầu mới của cuộc cách mạng KH - CN trên thế giới đòihỏi Đảng và Nhà nước Việt Nam cần phải xây dựng một chiến lược về phát triển NNL, nhất làNNLCLC để có thể thích nghi với xu thế hội nhập của thế giới

Bên cạnh tác động của cuộc cách mạng KH - CN, nền kinh tế tri thức cũng đang là một xu hướng phát triển ngày càng to lớn

Hội nhập và toàn cầu hóa không chỉ là vấn đề của quốc gia, khu vực mà là công việc của từng cánhân và từng tổ chức, doanh nghiệp, họ là chủ thể chính của quá trình hội nhập và toàn cầu hóađang diễn ra trên thế giới Có thể nói hội nhập và toàn cầu hóa đang tạo ra yêu cầu, động lực vàđiều kiện để phát triển NNL, nhất là NNLCLC với sự đào tạo và nâng cao tay nghề chuyên môn

kỹ thuật Đó vừa là thuận lợi những cũng là thách thức đối với Việt Nam trong việc phát triển

Trang 6

NNL Toàn cầu hóa đã có một số tác động tích cực đối việc nâng cao chất lượng NNL của Việt

Nam như: Thứ nhất, với sự phát triển nhanh chóng của KH - CN dưới sự tác động hội nhập và

toàn cầu đã đặt ra yêu cầu cho người lao động là phải không ngừng nâng cao trình độ để theo kịp

sự phát triển của KH - CN và đáp ứng được yêu cầu của công việc cũng như trong cuộc sống

Thứ hai, trong quá trình làm việc, các lao động tại các doanh nghiệp có phương pháp quản lý

tiên tiến, sử dụng công nghệ hiện đại ở trong và ngoài nước đã học tập, tiếp thu thêm về taynghề, năng lực quản lý và tác phong làm việc hiện đại Bên cạnh đó, lực lượng lao động ViệtNam trong quá trình toàn cầu hóa đã bộc lộ những bất cập, hạn chế Đó là sự mất cân bằng laođộng, lao động thất nghiệp thì rất nhiều nhưng đối với các ngành nghề đòi hỏi có trình độ, taynghề như một số khu chế xuất, khu công nghiệp, doanh nghiệp

Mục tiêu của quá trình CNH, HĐH đất nước là nâng cao trình độ phát triển, đưa đất nước ra khỏitình trạng nước có thu nhập trung bình thấp, trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đạivào năm 2020 Đã đặt ra yêu cầu phải phát triển NNL, nhất là NNLCLC ở mọi ngành nghề, mọilĩnh vực

Bên cạnh đó, yêu cầu tái cấu trúc nền kinh tế của Việt Nam ngày càng trở nên cấp thiết

Là quá trình tổ chức lại nền kinh tế, tái cấu trúc nền kinh tế làm thay đổi thành phần hay cấu tạocủa nền kinh tế Thực tiễn đòi hỏi và bắt nguồn từ hai yêu cầu chính: thứ nhất, nền kinh tế đang

sa vào nhiều vấn đề nghiêm trọng, bế tắc và lộ ra suy thoái Thứ hai, thiếu các điều kiện để đápứng sự phát triển trong hội nhập

Nền kinh tế Việt Nam đang mất cân đối nghiêm trọng, bắt nguồn từ mô hình tăng trưởng theochiều rộng, dựa quá nhiều vào vốn đầu tư, trong khi hiệu quả lại thấp Vì thế, kinh tế càng tăngtrưởng, sức ép lạm phát càng lớn và các mất cân đối càng nghiêm trọng Do đó, phải tái cấu trúcnền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng để giải quyết tận gốc những căn bệnh của nền kinh

tế như lạm phát, nhập siêu… Hiện nay, kinh tế thế giới đang trong quá trình tái cấu trúc, nên mỗiquốc gia lại càng phải cấu trúc lại nền kinh tế nếu muốn hội nhập với kinh tế thế giới Khi lạmphát lên cao và bất ổn vĩ mô, nền kinh tế Việt Nam ngày càng biểu hiện sự mất cân đối Đó là cơhội giải quyết các vấn đề Thực chất, vấn đề căn bản và triệt để giải quyết bằng cách đổi mới vàtái cấu trúc nền kinh tế

Yếu tố khách quan làm cho lạm phát lặp đi lặp lại là do nhà nước Việt Nam chưa thực sự bắt taytái cấu trúc nền kinh tế, chỉ lo đối phó ngắn hạn Khi chống lạm phát ngắn hạn, nhà nước giữnguyên cơ cấu thì không thể giải quyết triệt để lạm phát trong dài hạn Nguồn lực và dư địachính sách ngày càng ít đi và bị thu hẹp trong việc chống lạm phát Những thành tích xóa đóigiảm nghèo sẽ bị tình trạng lạm phát kéo dài làm xói mòn, triệt tiêu Để tái cấu trúc nền kinh tế,Việt Nam cần thực hiện các biện pháp như thay đổi hệ thống chi tiêu ngân sách, tái cơ cấu lại hệthống ngân hàng, ưu tiên phát triển thị trường đất đai và bất động sản, thay đổi hệ thống khuyến

Trang 7

khích lao động trả lương trong khu vực nhà nước, khẩn trương tái cơ cấu hệ thống phân quyền,phân cấp quản lý trung ương - địa phương… Nhưng biện pháp nêu trên chỉ có thể thực hiệnđược khi có NNLCLC

Với những thành tựu 20 năm đổi mới (1986 - 2006) tạo thêm nhiều thuận lợi cho đất nước đổimới, phát triển KT - XH với nhịp độ nhanh hơn, CLC hơn Thời gian đầu sau Đại hội đại biểutoàn quốc lần thứ X (2006), đất nước phát triển thuận lợi, Việt Nam trở thành thành viên của Tổchức Thương mại Thế giới

(WTO) Nhưng từ cuối năm 2007, đầu năm 2008, kinh tế và đời sống nhân dân gặp nhiều khókhăn Hơn nữa, Việt Nam so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới đang có sự tụt hậu xa

về kinh tế Bối cảnh lịch sử trên, đặt ra yêu cầu cấp bách cần phải coi trọng NNL, nhất làNNLCLC - lực lượng đi đầu đáp ứng yêu cầu phát triển KT - XH của đất nước, đáp ứng yêu cầuCNH, HĐH đất nước, đưa đất nước thoát khỏi nguy cơ tụt hậu về kinh tế so với các nước trênthế giới

2.1.1.2 Thực trạng nguồn nhân lực chất lượng cao trước năm 2006

NNLCLC là bộ phận tinh túy và quan trọng nhất của NNL, song không thể tách rời với các NNLkhác Do đó khi đánh giá thực trạng NNLCLC phải luôn đặt trong mối quan hệ với tổng thểNNL Thực trạng NNLCLC trước năm 2006 được đánh giá dựa trên các nội dung: đào tạo và bồidưỡng; về tuyển dụng và quy hoạch; về sử dụng, quản lý; về thu hút, đãi ngộ và tạo môi trườngphát triển

Về đào tạo, bồi dưỡng: Từ trước năm 2006, Đảng chú trọng chỉ đạo đào tạo và bồi dưỡng NNL

sau khi được GD - ĐT từ các trường đại học về trang bị tri thức, trình độ chuyên môn, trình độ

tư duy khoa học cho người học, trực tiếp trang bị những tri thức cần thiết, cập nhật, tiên tiến,hiện đại theo ngành nghề nhân lực được đào tạo Ngoài ra, Đảng còn chỉ đạo quy định cáctrường đại học trang bị lý luận chính trị hệ thống, cơ bản như: triết học, kinh tế chính trị học, chủnghĩa xã hội khoa học, tư tưởng Hồ Chí Minh, lịch sử Đảng Từ đó nâng cao chất lượngNNLCLC; những cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi; chuyên gia, quản trị doanh nghiệp; lao độnglành nghề; những cán bộ khoa học, công nghệ được trang bị tri thức khoa học khá toàn diện, thếgiới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, cơ bản đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, quản

lý, quản trị doanh nghiệp, lao động, khoa học công nghệ, với tư cách là lực lượng “đầu tàu” củaNNL đất nước trên các lĩnh vực Tuy nhiên, nhiều hiện tượng tiêu cực trong giáo dục - đào tạocùng với sự tụt hậu của khoa học, công nghệ “chậm được khắc phục” [52, tr 957]

Về tuyển chọn, quy hoạch: Bộ máy hành chính “thiếu tính chuyên nghiệp do cách tuyển chọn, đào tạo, sử dụng còn nhiều sai sót” [52, tr 959] Việc quy hoạch NNLCLC theo vùng miền,

ngành của Đảng chưa hiệu quả, thường tập trung nhiều ở Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam

Trang 8

Bộ, với hai trung tâm lớn Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh; phân bố rất ít ở vùng TâyNguyên, Trung du miền núi phía Bắc và Đồng bằng sông Cửu Long Điều đó đã dẫn đến hiệntượng thừa, thiếu NNLCLC ở nhiều nơi Đối với các ngành kinh tế, NNL trình độ đại học ngàycàng có xu hướng giảm tỷ trọng trong nông, lâm, ngư nghiệp và công nghiệp khai mỏ, điện; tăng

tỷ trọng trong các ngành yêu cầu về hàm lượng chất xám và tri thức KH - CN như: công nghiệpchế biến, chế tạo; Thương nghiệp, sửa chữa xe có động cơ; dịch vụ lưu trú và ăn uống; thông tin

và truyền thông; tài chính, ngân hàng và bảo hiểm; hoạt động chuyên môn, KH - CN; GD - ĐT

Về sử dụng, quản lý: Công tác sử dụng NNLCLC của Đảng có bước phát triển, vừa chú trọng

đội ngũ giảng viên đại học với tư cách là lực lượng gián tiếp quan trọng nhất góp phần đào tạo raNNLCLC, vừa coi trọng đội ngũ nhân lực KH - CN với chủ thể của lực lượng trực tiếp quantrọng nhất thúc đẩy quá trình CNH, HĐH và hội nhập quốc tế Tuy nhiên, việc sử dụng đội ngũnhân lực KH - CN ở Việt Nam còn khiêm tốn, chưa đủ để tạo động lực cho đào tạo NNLCLC.Năm 2005, tổng số nhân lực KH - CN trình độ đại học của Việt Nam là khoảng 40.000 ngườichiếm 1.3% tổng nhân lực trình độ đại học Bên cạnh đó còn có khoảng hơn 60.000 giảng viênđại học và các chuyên gia, kỹ sư cũng tham gia vào các hoạt động nghiên cứu KH - CN

Công tác quản lý NNLCLC, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý được Đảng tăng cường.Tuy nhiên, sau hơn hai thập kỷ tiến hành đổi mới, “sự tiếp diễn nghiêm trọng tệ lãng phí, quanliêu và nhất là tệ tham nhũng trong bộ máy công quyền, gây nhức nhối, bất bình trong xã hội,cản trở bước tiến của dân tộc và đe dọa sự tồn vong của chế độ ta” Vì thế, phần đông các nhàkhoa học xã hội chưa đảm nhận được vai trò dự kiến tương lai một cách mạnh dạn và thực hiện

dự kiến ấy bằng những hành động quyết liệt Điều này khiến cho NNLCLC chưa được địnhhướng bởi đường lối tư duy, nhận thức mới để thực hiện công cuộc phát triển mang tính bướcngoặt ở Việt Nam hiện nay

Tuy nhiên, việc “chưa phân biệt rõ chức năng nghiên cứu hoạch định chính sách với chức năngthực thi luật pháp, trách nhiệm và thẩm quyền của từng cơ quan, từng bộ phận, từng cán bộ vànhiều mặt chưa được phân định rõ nên công việc vừa có tình trạng chồng chéo vừa có nhữngkhâu bị bỏ trống” , người đứng đầu cơ quan hành chính không có đủ quyền hạn cần thiết trongviệc bố trí nhân sự dưới quyền mình (kể cả sắp xếp, thay thế, thi hành kỷ luật), cơ chế này khônggắn “nắm việc” với “nắm người” dẫn tới sự lựa chọn cán bộ, đánh giá cán bộ không thật sự dựatrên công việc, không căn cứ vào kết quả hoạt động thực tiễn, do đó không khuyến khích đượcngười có tài, có đức Chức trách không rõ ràng cùng với cơ chế công tác cán bộ không hợp lý lànguyên nhân chính khiến cho bộ máy hành chính không xác lập được chế độ trách nhiệm cánhân, đồng thời tạo môi trường thuận lợi cho xu hướng cơ hội và những kẽ hở cho tệ chạy chức

Về thu hút, đãi ngộ và tạo môi trường phát triển: Việt Nam “không có cơ chế và không đủ đức

độ phát hiện, bồi dưỡng, trọng dụng nhân tài, mặc dù dân tộc Việt Nam ta không thiếu những

Trang 9

con người giàu tài năng và tâm huyết với nước, với dân, ở trong Đảng và ngoài Đảng, trongnước và ngoài nước”.

Trước sự chuyển biến của tình hình thế giới và trong nước, cùng với thực trạng phát triểnNNLCLC đang là bài toán đặt ra cho Đảng là cần phải “tăng cường đào tạo nguồn nhân lực cóchuyên môn, có khả năng tác nghiệp thành thạo, có tầm nhìn hệ thống các vấn đề trong nước vàquốc tế” Đây là yêu cầu tất yếu nhằm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, đẩy mạnh CNH,HĐH và hội nhập quốc tế

2.1.2 Chủ trương của Đảng

Tháng 12 - 1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã xác định: Coi trọng pháttriển nguồn lực con người, xem “phát huy yếu tố con người và lấy việc phục vụ con người làmục đích cao nhất” Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Đảng đã đề cập đến tính cấpthiết phải phát triển nguồn lực trí tuệ và nhân tài cho đất nước; trong đó, đã chủ trương “coitrọng xây dựng một đội ngũ công nhân lành nghề, những nhà kinh doanh có tài, những nhà quản

lý giỏi và những nhà khoa học kỹ thuật có trình độ cao” Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứVIII, Đảng sử dụng thuật ngữ “nguồn lực con người” lần đầu tiên trong các văn kiện đại hội Đểphát triển NNL, Đảng chủ trương phát triển mạnh mẽ sự nghiệp GD - ĐT, cùng với khoa họccông nghệ, “giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực,bồi dưỡng nhân tài” Đặc biệt, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001) hết sức chú ý đến

“nâng cao chất lượng nguồn nhân lực” và “phát huy nguồn lực trí tuệ, và sức mạnh tinh thần củangười Việt Nam” Như vậy, quan điểm về phát triển NNLCLC từ Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ VI đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã thể hiện quá trình đổi mới nhận thức củaĐảng, từ chỗ xác định yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững là “con người” đến chỗxác định rõ hơn bộ phận quan trọng trong yếu tố con người là “nguồn nhân lực”

Trước những thời cơ và thách thức của công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, nhất là trongthời kỳ đổi mới đất nước, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế sâu rộng, Đại hộiđại biểu toàn quốc lần thứ X (2006) của Đảng đã đề ra phương hướng tổng quát của 5 năm 2006

- 2010 là: “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức chiến đấu củatoàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, huy động và sử dụng tốt mọi nguồn lựccho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Nhằm thể hiện phương hướng trên, Đại hội đạibiểu toàn quốc lần thứ X của Đảng xác định:

Trong bối cảnh kinh tế tạo ra nhiều cơ hội, tiềm năng, lợi thế, ta cần tranh thủ đểrút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hộichủ nghĩa, gắn với phát triển kinh tế tri thức, đặc biệt, cần coi kinh tế tri thức làyếu tố quyết định của nền kinh tế và công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 10

Trong nền KTTT, khoa học và tri thức trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, đóng vai trò quyếtđịnh đến sự phát triển kinh tế [88, tr 167] Vì thế, muốn phát triển KTTT, bài toán đặt ra là cầnphát triển KH - CN và trí thức, quan trọng hơn trong đó là phát triển NNL, nhất là phải tạo rađược một đội ngũ “nguồn nhân lực chất lượng cao” Nhận thức được bài toán trên, Đại hội đạibiểu toàn quốc lần thứ X đã chủ trương: “Nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo,khoa học và công nghệ, phát triển nguồn nhân lực”, trước hết là “đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao”

So với các kỳ đại hội trước, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X có một điểm mới về phươnghướng, giải pháp căn bản, toàn diện GD - ĐT, phát triển, ứng dụng khoa học, công nghệ gắn vớiphát triển NNL Đó là việc Đảng ngày càng nhận thức tầm quan trọng của NNL Thuật ngữ

“nguồn nhân lực chất lượng cao” được

Đảng lần đầu tiên đề cập đến trong Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc Trên cơ sở đó, Đảng đãtập trung phát triển NNL theo hướng toàn diện, nhưng có trọng tâm,

trọng điểm Đó là tập trung hoạch định, đề ra chủ trương trong các vấn đề sau:

Về giáo dục, bồi dưỡng: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã đề ra nhiệm vụ: “Đổi

mới toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao” nhằm đưa GD

-ĐT và KH - CN thật sự trở thành quốc sách hàng đầu Theo tinh thần này, Đảng đã đưa ra biệnpháp, phương hướng chỉ đạo:

Nội dung, phương pháp dạy và học được đổi mới về cơ cấu tổ chức “chuẩn hoá,hiện đại hoá và xã hội hoá” Khả năng vận dụng, thực hành của người học đượcphát huy tối đa Đối với trách nhiệm của gia đình, nhà trường cũng như xã hộicần phải được đề cao Phát triển mô hình giáo dục mở - mô hình xã hội học tậpvới hệ thống học tập suốt đời, tiến hành đào tạo liên tục, các bậc học, ngành họcđào tạo liên thông Bên cạnh đó, giáo dục mầm non, phổ thông cũng như hệthống hướng nghiệp dạy nghề tiếp tục phát triển Hệ thống giáo dục đại học vàsau đại học cần đổi mới, sử dụng nghiên cứu khoa học công nghệ trong việcchuyển đổi cơ cấu lao động Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đãxác định: “Chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, trọng dụng nhân tài”; “tuyên truyềnsâu rộng đường lối, chủ trương của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước;bồi dưỡng lòng yêu nước, yêu nhân dân, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xãhội, tăng cường giáo dục phẩm chất đạo đức cách mạng trong toàn Ðảng, toàndân, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ”

Đối với bồi dưỡng cán bộ nhân lực CLC: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đề ra

chủ trương: “Bồi dưỡng nhân tài theo định hướng quy hoạch Nhất là đối với việc xây dựng đội

Trang 11

ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cao” Đối với đào tạo đội ngũ nhà khoa học, chuyên gia giỏi: Đại hộiđại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng còn xác định: Đổi mới hệ thống giáo dục đại học và sauđại học, gắn đào tạo với sử dụng, trực tiếp phục vụ chuyển đổi cơ cấu lao động, phát triển nhanhnguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là chuyên gia đầu ngành Đối với đào tạo, bồi dưỡng độingũ doanh nhân, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng còn chú trọng: “Bồi dưỡng, đàotạo và tôn vinh các doanh nhân có tài, có đức và thành đạt” Đối với đội ngũ nhân lực thể dục,thể thao, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng chủ trương: “Có chính sách và cơ chếphù hợp để phát hiện, bồi dưỡng và phát triển tài năng, đưa thể thao nước ta đạt vị trí cao củakhu vực, từng bước tiếp cận với châu lục và thế giới ở những bộ môn Việt Nam có ưu thế”

Về tuyển chọn, quy hoạch: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã xác định: “Đổi mới

và nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quy hoạch, kế hoạch” , trong đó nhấn mạnh một số yêucầu chỉ đạo: i) Phát huy tối đa mọi lợi thế so sánh và nguồn lực của quốc gia, của mỗi vùng vàmỗi địa phương; ii) Gắn kết giữa chiến lược, quy hoạch với kế hoạch; iii) Nâng cao tính khoahọc, công khai, minh bạch, bảo đảm cho chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, thực sự là công cụđiều hành có hiệu quả của Nhà nước, thu hút được sự quan tâm của các nhà đầu tư và nhân dân;iv) Công tác quy hoạch phải được triển khai đồng bộ từ quy hoạch tổng thể đến quy hoạch cụthể

Đối với quy hoạch cán bộ nhân lực CLC, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã chỉ

rõ cần: “Xây dựng đội ngũ cán bộ đồng bộ, có cơ cấu hợp lý, chất lượng tốt, xây dựng đội ngũcán bộ lãnh đạo kế tiếp vững vàng”; đồng thời “đảm bảo cơ chế, chính sách phát hiện, tuyểnchọn, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng và đãi ngộ xứng đáng người có đức, có tài; đồng thời, thaythế kịp thời những người kém năng lực và kém phẩm chất, có khuyết điểm nghiêm trọng”

Về sử dụng, quản lý: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng xác định: “Không ngừng

hoàn thiện hệ thống pháp luật, quản lý của Nhà nước để nhân dân được làm những việc mà phápluật không cấm Kết hợp giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể cùng với lợi ích của toàn xã hội,Nhà nước cùng nhân dân nỗ lực phấn đấu cho sự sự phát triển của đất nước” [47, tr 117] Ngoàichấp hành chính sách và pháp luật của Nhà

nước, đội ngũ NNLCLC là đảng viên, còn phải chấp hành Điều lệ Đảng

Phương hướng chỉ đạo quản lý nguồn nhân lực nói chung, NNLCLC nói riêng của Đảng bằngchính sách, pháp luật của Nhà nước trên nhằm mục đích: 1) Phát huy dân chủ (dân chủ đại diện,dân chủ trực tiếp và chế độ tự quản của cộng đồng dân cư) và giữ vững kỷ cương trong xã hội;2) Tổ chức và động viên nhân dân tham gia các phong trào thi đua yêu nước, làm kinh tế giỏi,phát triển kinh tế đi liền với phát triển văn hoá - xã hội; mỗi người, mỗi hộ đều phấn đấu làmgiàu cho mình, cho cộng đồng và đất nước, thu nhập chính đáng, nâng cao đời sống; 3) Chăm lo

Trang 12

và bảo vệ lợi ích của các tầng lớp nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội Tôn trọng, phát huy tinhthần gương mẫu của những người tiêu biểu, có uy tín trong cộng đồng dân cư, các dân tộc, cáctôn giáo

Đối với sử dụng, quản lý đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ Xcủa Đảng còn xác định: 1) Quán triệt và thực hiện đúng nguyên tắc Ðảng thống nhất lãnh đạocông tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, đồng thời đề cao trách nhiệm của các tổ chức trong

hệ thống chính trị và người đứng đầu tổ chức; 2) Cấp ủy, tổ chức đảng có thẩm quyền phải chủtrì và chịu trách nhiệm về công tác tổ chức cán bộ theo đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, tậpthể quyết định; xác định rõ trách nhiệm của tập thể và trách nhiệm cá nhân, nhất là trách nhiệmcủa người đứng đầu trong công tác cán bộ; 3) Có chính sách, quy chế tôn vinh những người cócông; bố trí, sử dụng đúng những người có năng lực, hết lòng vì dân, vì nước; khuyến khíchnhững người năng động, sáng tạo, có sáng kiến, có ý tưởng mới; 4) Thực hiện tốt các cơ chếtuyển chọn, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, quản lý, giám sát cán bộ sau bầu cử, bổ nhiệm; các quy định

về quyền hạn, trách nhiệm của người đứng đầu, của các thành viên trong tập thể lãnh đạo, của cơquan sử dụng cán bộ và cơ quan tham mưu trong công tác cán bộ

Đối với sử dụng, quản lý đội ngũ nhà khoa học, chuyên gia giỏi, Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ X còn đề ra chủ trương: “Coi trọng vai trò tư vấn, phản biện của các hội khoa học kỹ thuật,khoa học xã hội và văn học, nghệ thuật đối với các dự án phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội”.Đối với đội ngũ doanh nhân, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng còn xác định: “Thựchiện có hiệu quả Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư và các luật mới được ban hành, thấu suốt quanđiểm đổi mới, bảo đảm thật sự bình đẳng và tạo thêm thuận lợi đối với mọi loại hình tổ chức sảnxuất, kinh doanh và đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế, cả trong và ngoài nước” Qua đó “tạođiều kiện để người lao động phát huy năng lực và vai trò của mình trong sản xuất, kinh doanh;tiếp tục mở rộng đầu tư trong nước và ở nước ngoài Đồng thời, chú trọng vấn đề giải quyết việclàm cho người lao động; nâng cao chất lượng sản phẩm; tạo dựng và giữ gìn thương hiệu hànghoá Việt Nam”

Đối với “lao động lành nghề”1, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng còn đề ra chủtrương: Có chính sách trọng dụng tổng công trình sư, kỹ sư trưởng, kỹ thuật viên lành nghề vàcông nhân kỹ thuật có tay nghề cao Về đội ngũ văn nghệ sĩ, Đảng chủ trương: “Phát huy tiềmnăng, khuyến khích sáng tạo văn học, nghệ thuật, tạo ra những tác phẩm có giá trị cao về tưtưởng và nghệ thuật”

Về thu hút, đãi ngộ và tạo môi trường phát triển: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X đã xác

định: “Có cơ chế, chính sách phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng và đãi ngộ

1 Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (2006), Đảng chưa ghi nhận thuật ngữ “lao động lành nghề” Thuật ngữ này được nghiên cứu sinh nêu ra để phân loại một số chủ trương của Đảng về phát triển NNLCLC

Downloaded by tran quang (quangsuphamhoak35@gmail.com)

Trang 13

xứng đáng người có đức, có tài”, đồng thời “thu hút các nhà khoa học, công nghệ giỏi ở trongnước, ngoài nước và trong cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài” ; “thu hút nhữngchuyên gia giỏi, có trình độ cao của nước ngoài và trong cộng đồng người Việt Nam định cư ởnước ngoài”.

Đối với đội ngũ doanh nhân có tài và thành đạt, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X còn xácđịnh: “Thực sự tôn vinh các doanh nhân có tài và thành đạt, đóng góp nhiều cho xã hội và Nhànước” đồng thời “tạo điều kiện và phát huy tiềm năng, vai trò của doanh nhân”

Đối với các tài năng văn hóa: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X còn đề ra chủ trương: “Cóchính sách trọng dụng các tài năng văn hóa” Thực hiện đường lối, chủ trương của Đạihội đại biểu toàn quốc lần thứ X (2006), Đảng đề ra nhiều chủ trương pháttriển NNCLC

Ngày 5 - 2 - 2007, tại Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X ra Nghịquyết số 08 - NQ/TW “Về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh vàbền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới” Đối với đội ngũ chuyêngia, Nghị quyết nêu rõ: “Có chính sách sử dụng và đãi ngộ đúng mức để thu hút những chuyêngia giỏi ở trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài vào công cuộc

phát triển đất nước” Đối với doanh nhân, nhà quản trị doanh nghiệp giỏi, Nghị quyết nêu rõ:

- Khuyến khích và tạo môi trường thuận lợi cho người dân đầu tư và sảnxuất, kinh doanh, tăng nhanh số lượng và chất lượng các loại hình doanhnghiệp Tư vấn chính sách, đào tạo nguồn nhân lực và hỗ trợ kĩ thuật và

tư vấn chính sách, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và nâng cao kỹnăng quản trị doanh nghiệp để các doanh nghiệp tư nhân thấy được sựbình đẳng trong việc tiếp cận các nguồn vốn, đất đai, công nghệ, thôngtin thị trường và các chương trình xúc tiến thương mại

Hội nghị xác định: “Nội dung, chương trình và phương pháp dạy học, chế độ thi cử của các đề

án tổng thể về cải cách giáo dục và đào tạo nghề cần được gấp rút xây dựng; đồng thời, chútrọng đào tạo ngoại ngữ, tin học, luật pháp quốc tế, kiến thức và kỹ năng hành chính; đào tạo vàđào tạo lại giáo viên đủ số lượng, đồng bộ về cơ cấu và có chất lượng cao”, đồng thời “khẩntrương đào tạo đội ngũ luật sư có am hiểu luật pháp quốc tế, có trình độ ngoại ngữ cao, có đủnăng lực tham gia tranh tụng quốc tế; đào tạo đội ngũ chuyên gia tư vấn, kế toán, kiểm toán,quản trị doanh nghiệp đạt trình độ quốc tế

Bên cạnh đó, Ban Chấp hành Trung ương Đảng còn đề ra chủ trương: “Tiếp tục sửa đổi, bổ sung,đổi mới đồng bộ các quy định, quy chế về đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng,luân chuyển, đề bạt và thực hiện chính sách cán bộ”

Downloaded by tran quang (quangsuphamhoak35@gmail.com)

Trang 14

Tháng 1 - 2008, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X thông qua Nghịquyết số 20 - NQ/TW “Về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân

Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, nêu rõ vai trò, sứ mệnhlịch sử của giai cấp công nhân:

- Là lực lượng lãnh đạo thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam; giai cấp đạidiện cho phương thức sản xuất tiên tiến; giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dưng chủnghĩa xã hội; lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vìmục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Trên cơ sở xác định vai trò to lớn trên, Nghị quyết số 20 - NQ/TW xác định nhiệm vụ: “Xâydựng giai cấp công nhân lớn mạnh, phát triển nhanh về số lượng, nâng cao chất lượng, có cơ cấuđáp ứng yêu cầu phát triển đất nước, ngày càng được trí thức hóa” Một bộ phận quan trọng củaNNLCLC chính là những công nhân có tay nghề cao, lành nghề và biết sử dụng công nghệ, kỹthuật tiên tiến, có khả năng ứng dụng và sáng tạo trong lao động Chủ trương phát triển xâydựng công nhân của Đảng là một bộ phận của hệ thống chủ trương của Đảng về phát triểnNNLCLC Từ đó, Ban

Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) đã xác định một số phương hướng cơ bản nhằm pháttriển công nhân lành nghề: 1) Đẩy mạnh đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng nâng cao trình độ họcvấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp cho công nhân, đặc biệt là công nhân trẻ, công nhân từnông dân, công nhân nữ, nhằm phát triển về số lượng, bảo đảm về chất lượng, hợp lý về cơ cấu,

để có một đội ngũ công nhân có trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp ngày càngcao, có khả năng tiếp thu nhanh và làm chủ công nghệ mới, nâng cao năng suất lao động, chấtlượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh; 2) Quan tâm quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng những nhàkinh doanh có tài, có đức, các nhà quản lý giỏi và các cán bộ khoa học - kỹ thuật xuất thân từcông nhân có trình độ cao, có khả năng tiếp cận với công nghệ và phương thức kinh doanh hiệnđại trong nền kinh tế thị trường, hội nhập

Tiếp đó, tại Hội nghị lần thứ bảy, ngày 25 - 7 - 2008, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X

ra Nghị quyết số 25 - NQ/TW “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niênthời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” Nghị quyết nhấn mạnh:

- Tiếp tục xây dựng thế hệ thanh niên Việt Nam giàu lòng yêu nước, tự cường dân tộc với lýtưởng kiên định, đạo đức cách mạng tốt; có ý thức chấp hành pháp luật, sống có văn hoá, vìcộng đồng; có năng lực và bản lĩnh trong hội nhập quốc tế; có sức khoẻ, tri thức, kỹ năng và tácphong lao động tập thể, là những công dân tốt của đất nước [54, tr 760] Có thể thấy rằng, Đảngrất quan tâm đến công tác thanh niên, chú trọng nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão lớn, xung kích,sáng tạo, làm chủ KH - CN tiên tiến, vươn lên ngang tầm thời đại của thanh niên nhằm kế tục

Downloaded by tran quang (quangsuphamhoak35@gmail.com)

Trang 15

hiệu quả sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc Trong Luật Thanh Niên có quy định,Thanh niên là công dân Việt Nam từ đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi, tức là một bộ phậnthanh niên đang trong tuổi lao động Đội ngũ tinh hoa của tầng lớp thanh niên cũng chính là một

bộ phận quan trọng của NNL, NNLCLC, có khả năng và triển vọng trở thành “nhân tài” của đấtnước Nghị quyết số 25 - NQ/TW không nhằm ngoài mục đích đào tạo và phát triển đội ngũ tinhhoa của tầng lớp thanh niên này Bên cạnh đó, Ban Chấp hành Trung ương Đảng còn chủ trương:

“Có chính sách sử dụng và đãi ngộ hợp lý để thu hút

Tiếp tục về xây dựng và bồi dưỡng cán bộ, ngày 2 - 2 - 2009, Hội nghị lần thứ chín Ban Chấphành Trung ương Đảng ra Kết luận số 37 - KL/TW “Về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chiến lượccán bộ từ nay đến năm 2020” Trong kết luận, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã chỉ rõ: “Cán

bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, là khâu then chốt trong công tác xây dựngĐảng Cần chú ý xây dựng đội ngũ cán bộ, đổi mới công tác cán bộ gắn với đổi mới phươngthức lãnh đạo của Đảng” Vì thế, Ban Chấp hành Trung ương Đảng chủ trương “xây dựng độingũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất và năng lực tốt, có cơ cấu phù hợp vớiChiến lược phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục, vữngvàng giữa các thế hệ cán bộ, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới”

Một trong những quan điểm xây dựng đội ngũ cán bộ được Ban Chấp hành Trung ương Đảngxác định là: “Thông qua hoạt động thực tiễn và phong trào cách mạng của nhân dân, nâng caotrình độ dân trí, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để tuyển chọn, giáo dục, rèn luyện, bồidưỡng cán bộ Phải dựa vào nhân dân để phát hiện, kiểm tra và giám sát cán bộ” Rõ ràng rằng,

quan điểm trên của Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhằm phát hiện đội ngũ lãnh đạo, quản lý giỏi, có đức, có tài - một bộ phận của NNLCLC, đồng thời “lọc” ra những cán bộ lãnh đạo, quản lý bị “thoái hóa”, “biến chất”, làm cho đội ngũ cán bộ này ngày càng trong sạch, vững mạnh, ngang tầm nhiệm vụ Để thực hiện quan điểm trên, Ban Chấp hành Trung ương Đảng chú

trọng đến hai công tác chính sau:

Một là, tạo chuyển biến sâu sắc trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo quy hoạch, theo

tiêu chuẩn chức danh cán bộ, chú trọng bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ lãnh đạo,quản lý Cần có các chương trình quốc gia về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nhằm đáp ứng yêu cầuthời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới,

công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và đồng thời chủ động hội nhập quốc tế

Hai là, nâng cao chất lượng công tác quy hoạch cán bộ, bảo đảm sự chủ động, có tầm nhìn xa,

đáp ứng cả nhiệm vụ trước mắt và lâu dài Xây dựng quy hoạch đội ngũ cán bộ ở tất cả các cấp,nhất là cấp chiến lược; kết hợp xây dựng quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý với quy hoạch cán

Downloaded by tran quang (quangsuphamhoak35@gmail.com)

Ngày đăng: 30/06/2022, 15:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Công thương (2008), “Quyết định số 39/2008/QĐ-BCT phê duyệt Chương trình đào tạo nguồn nhân lực ngành Dệt May Việt Nam đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2020”, Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (603+604), tr. 33005 - 33012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 39/2008/QĐ-BCT phê duyệt Chương trình đào tạo nguồn nhân lực ngành Dệt May Việt Nam đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2020
Tác giả: Bộ Công thương
Nhà XB: Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2008
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), “Quyết định số 52/2006/QĐ - BGDĐT ban hành Quy chế thi học sinh giỏi”, Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (7+8), tr. 425 - 455 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 52/2006/QĐ - BGDĐT ban hành Quy chế thi học sinh giỏi
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2006
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), “Quyết định số 65/2007/QĐ-BGDĐT ban hành Quy định tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học”, Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (776+777), tr. 42986 - 42993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 65/2007/QĐ-BGDĐT ban hành Quy định tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2007
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam 2009 - 2020, Lưu trữ tại Phòng Lưu trữ - Thư viện Văn phòng Bộ Giáo dục và Đào tạo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam 2009 -2020
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2008
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Báo cáo số 760/BC - BGDĐT ngày 29/10 về sự phát triển của hệ thống giáo dục đại học và các giải pháp đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo, Lưu trữ tại Phòng Lưu trữ - Thư viện Văn phòng Bộ Giáo dục và Đào tạo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 760/BC - BGDĐT ngày 29/10 về sựphát triển của hệ thống giáo dục đại học và các giải pháp đảm bảo và nâng caochất lượng đào tạo
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2009
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Đổi mới quản lý hệ thống giáo dục đại học giai đoạn 2010 - 2012, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới quản lý hệ thống giáo dục đại học giai đoạn 2010 - 2012
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2010
7. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2006), “Quyết định số 07/2006/QĐ - BLĐTBXH phê duyệt Quy hoạch phát triển mạng lưới trường cao đẳng nghề, trường trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020”, Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (43+44), tháng 10, tr. 99 - 106 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 07/2006/QĐ - BLĐTBXH phê duyệt Quy hoạch phát triển mạng lưới trường cao đẳng nghề, trường trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2006
8. Bộ Thông tin và truyền thông (2007), “Quyết định số 05/2007/QĐ-BTTTT phê duyệt Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin Việt Nam đến năm 2020”, Công báo nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (766+767), tr.42408 - 42420 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 05/2007/QĐ-BTTTT phê duyệt Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin Việt Nam đến năm 2020
Tác giả: Bộ Thông tin và truyền thông
Nhà XB: Công báo nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2007
9. Chính phủ (2004), “Nghị định 204/2004/NĐ-CP chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức lực lượng vũ trang”, Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (21+22), tháng 11, tr. 2 - 61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 204/2004/NĐ-CP chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức lực lượng vũ trang
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2004
10. Chính phủ (2006), “Nghị định số 116/2003/NĐ - CP về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước”, Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (3+4), tháng 11, tr. 9 - 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 116/2003/NĐ - CP về việc tuyển dụng, sửdụng và quản lý cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước”,"Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
11. Chính phủ (2006), “Nghị định số 92/2006/NĐ-CP lập, phê duyệt quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội”, Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (43+44), tr. 94 - 128 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 92/2006/NĐ-CP lập, phê duyệt quản lý quyhoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội”, "Công báo nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
12. Chính phủ (2007), “Nghị định số 09/2007/NĐ - CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 117/2003/NĐ - CP ngày 10 - 10 - 2003 của Chính phủ về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan Nhà nước”, Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (55+56), tr. 3330 - 3336 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 09/2007/NĐ - CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 117/2003/NĐ - CP ngày 10 - 10 - 2003 của Chính phủ về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan Nhà nước
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2007
13. Chính phủ (2007), “Nghị định số 47/2007/NĐ - CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật phòng chống tham nhũng về vai trò, trách nhiệm của xã hội trong phòng chống tham nhũng”, Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (274+275), tr. 13798 - 13811 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 47/2007/NĐ - CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật phòng chống tham nhũng về vai trò, trách nhiệm của xã hội trong phòng chống tham nhũng
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w