Sự khác nhau về mẫu đề cương nghiên cứu, khác nhau về quan điểm xây dựng đề cương của các tác giả nghiên cứu, cùng với nó là quan điểm, tiêu chí đánh giá mức độ đạt yêu cầu mỗi loại đề c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN TÂN SƠN
THỐNG NHẤT HÓA BIỂU MẪU KẾ HOẠCH
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA TỔNG CỤC
DÂN SỐ - KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
MÃ SỐ: 60 34 04 12
Người hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Văn Luân
Hà Nội, 2014
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới TS Hoàng Văn Luân
đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn
thành luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo, các đồng nghiệp đang công tác tại Tổng cục
Dân số - Kế hoạch hóa gia đình đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong việc thu thập tài liệu,
văn bản, cung cấp số liệu Đó chính là những căn cứ quan trọng để tôi hoàn thiện
luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các giảng viên Khoa sau Đại học - Đại học Khoa
học Xã hội và Nhân văn Hà Nội đã truyền đạt những kiến thức khoa học và kinh
nghiệm thực tiễn cho tôi trong quá trình học tập
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn sâu sắc những người thân trong gia đình, bạn
bè, đồng nghiệp đã cổ vũ, động viên tôi vượt qua những khó khăn trong quá trình
học tập, nghiên cứu
Bên cạnh những điều kiện thuận lợi, Tôi cũng gặp những khó khăn nhất định
về năng lực, sự hiểu biết của bản thân và thời gian nghiên cứu có hạn nên luận văn
không tránh khỏi những hạn chế và khiếm khuyết Tác giả trân trọng và mong nhận
được những góp ý của các nhà khoa học, các giảng viên và các đồng nghiệp để
được trưởng thành hơn trong công tác và nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Tân Sơn
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do nghiên cứu 1
2 Lịch sử nghiên cứu 3
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Phạm vi nghiên cứu 5
5 Mẫu khảo sát 5
6 Câu hỏi nghiên cứu 5
7 Giả thuyết nghiên cứu 6
8 Phương pháp nghiên cứu 6
9 Kết cấu luận văn 7
CHƯƠNG 1 8
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 8
1.1 Nghiên cứu khoa học 8
1.1.1 Một số khái niệm về nghiên cứu khoa học 8
1.1.2 Đặc điểm của nghiên cứu khoa học 9
1.1.3 Phân loại nghiên cứu khoa học 12
1.2 Kế hoạch và đề cương nghiên cứu khoa học 15
1.2.1 Khái niệm kế hoạch nghiên cứu khoa học 15
1.2.3.Vai trò của đề cương nghiên cứu khoa học 16
1.2.4 Nội dung cần có của một đề cương nghiên cứu khoa học 16
1.2.5 Đánh giá chất lượng đề cương nghiên cứu khoa học 19
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 21
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆC SỬ DỤNG CÁC MẪU ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ VIỆC ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TẠI TỔNG CỤC DS-KHHGĐ 22 2.1 Công tác xây dựng đề cương nghiên cứu khoa học 22
2.1.1 Quy định về việc xây dựng đề cương nghiên cứu khoa học của Tổng cục 22
Trang 42.1.2 Những hạn chế của việc xây dựng đề cương nghiên cứu khoa học25
2.2 Công tác đánh giá đề cương nghiên cứu khoa học 26
2.2.1 Hội đồng khoa học và các quy định về việc đánh giá, xét duyệt đề tài nghiên cứu khoa học 26
2.2.2 Công tác đánh giá, xét duyệt đề tài nghiên cứu khoa học 29
2.2.3 Các hạn chế trong việc đánh giá đề cương: 32
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 33
CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG MẪU ĐỀ CƯƠNG VÀ CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TẠI TỔNG CỤC 35
3.1 Quan điểm, nguyên tắc về việc xây dựng mẫu đề cương 35
3.1.1 Chỉ sử dụng một mẫu đề cương duy nhất 35
3.1.2 Có sự kế thừa các mẫu đề cương đang sử dụng và thực hiện đúng các quy định của Bộ Y tế 35
3.1.3 Dung hòa được tốt nhất các yêu cầu cần có của một đề cương đối với các chuyên ngành khác nhau 35
3.1.4 Có thang điểm đánh giá đối với từng mục, nội dung của đề cương 36
3.1.5 Đơn giản, dễ hiểu, dễ áp dụng 36
3.1.6 Có sự tham gia, góp ý kiến của đội ngũ cán bộ tham gia nghiên cứu khoa học 36
3.1.7 Phải được thực nghiệm 36
3.2 Nội dung mẫu đề cương 35
3.2.1 Tên đề tài 36
3.2.2 Lý do chọn đề tài (tính cấp thiết của đề tài) 37
3.2.3 Lịch sử nghiên cứu 38
3.2.4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 38
3.2.5 Phạm vi nghiên cứu 39
3.2.6 Mẫu khảo sát 40
Trang 53.2.7 Câu hỏi nghiên cứu 40
3.2.9 Phương pháp nghiên cứu 42
3.2.10 Dự kiến cấu trúc của đề tài 43
3.2.11 Kế hoạch nghiên cứu 44
3.3 Tiêu chí, thang điểm đánh giá đề cương 44
3.3.1 Đánh giá đạt hoặc không đạt 44
3.3.2 Cho điểm đối với các đề cương được đánh giá “đạt” 44
3.4 Thử nghiệm mẫu đề cương 48
3.4.1 Xin ý kiến chuyên gia về mẫu đề cương 49
3.4.2 Xin ý kiến chuyên gia về việc đánh giá, cho điểm đề cương (được viết theo mẫu đề cương đề xuất) 53
3.4.3 Hoàn thiện lại mẫu đề cương và đề xuất áp dụng thực tế 57
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 6768
KẾT LUẬN 68
KHUYẾN NGHỊ 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
Trang 6DANH MỤC BIỂU
Biểu 2.1.: Phiếu đánh giá đề tài thực hiện năm 36
Biểu 2.2.: Biên bản kiểm phiếu đánh giá đề tài thực hiện năm 37
Biểu 3.1.: Kế hoạch nghiên cứu 44
Bảng 3.2.: Bảng điểm đánh giá đề cương đề tài nghiên cứu khoa học 45
Bảng 3.3.: Bảng tổng hợp điểm đánh giá với từng đề cương đề tài nghiên cứu khoa học 47
Bảng 3.4.: Bảng tổng hợp điểm đánh giá với toàn bộ các đề cương đề tài nghiên cứu khoa học 48
Bảng 3.5.: Bảng xin ý kiến mẫu đề cương đề tài nghiên cứu khoa học 49
Bảng 3.6.: Bảng tổng hợp kết quả đánh giá mức độ hài lòng với mẫu đề cương đề tài nghiên cứu khoa học 51
Bảng 3.7.: Bảng tổng hợp điểm điểm đánh giá đề cương đề tài nghiên cứu khoa học (đề tài 1) 54
Bảng 3.8.: Bảng tổng hợp điểm điểm đánh giá đề cương đề tài nghiên cứu khoa học (đề tài 2) 55
Bảng 3.9.: Bảng tổng hợp điểm điểm đánh giá đề cương đề tài nghiên cứu khoa học (đề tài 3) 56
Bảng 3.10.: Bảng tổng hợp điểm điểm đánh giá 3 đề cương đề tài nghiên cứu khoa học 57
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CNTT Công nghệ thông tin
CNXH Chủ nghĩa xã hội
DS-KHHGĐ Dân số - Kế hoạch hóa gia đình
KHKT Khoa học kỹ thuật
KH&CN Khoa học và công nghệ
NCKH Nghiên cứu khoa học
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do nghiên cứu
Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (sau đây gọi tắt là Tổng cục
DS-KHHGĐ) là tổ chức thuộc Bộ Y tế, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng
Bộ Y tế quản lý nhà nước và tổ chức thực thi pháp luật về dân số - kế hoạch hóa gia
đình trong phạm vi cả nước, bao gồm các lĩnh vực: Quy mô dân số, cơ cấu dân số,
chất lượng dân số và phân bố dân cư; tổ chức thực hiện các hoạt động dịch vụ công
về dân số - kế hoạch hóa gia đình (sau đây gọi tắt là DS-KHHGĐ) theo quy định
của pháp luật
Tổng cục DS-KHHGĐ có tư cách pháp nhân, có con dấu hình quốc huy, là
đơn vị dự toán ngân sách cấp II thuộc Bộ Y tế, có tài khoản riêng tại Kho bạc Nhà nước
Theo Quyết định 17/2013/QĐ-TTg ngày 12/3/2013 của Thủ tướng Chính
Phủ, Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình được giao thực hiện 19 nhiệm vụ,
quyền hạn, trong đó, nhiệm vụ thứ 11 nêu rõ: “ 11 Quản lý, tổ chức thực hiện việc
nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ trong lĩnh vực dân
số - kế hoạch hóa gia đình theo quy định của pháp luật và phân cấp của Bộ trưởng
Bộ Y tế.”
Như vậy, hoạt động nghiên cứu khoa học là một trong những chức năng,
nhiệm vụ của Tổng cục DS-KHHGĐ Đó là các nghiên cứu khoa học về các lĩnh
vực quy mô dân số, cơ cấu dân số, chất lượng dân số và biến động dân số
Về quy mô dân số, nghiên cứu về biến động về dân số, điều chỉnh mức sinh;
dự báo gia tăng dân số phục vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng,
hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện các chỉ tiêu, chỉ báo, giải pháp về quy mô
dân số, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quản lý và sử dụng các phương tiện tránh
thai theo quy định của pháp luật
Về cơ cấu dân số, nghiên cứu về cơ cấu dân số theo giới tính và độ tuổi;
nghiên cứu thiết kế các chỉ tiêu, chỉ báo, giải pháp về cơ cấu dân số theo giới tính và
độ tuổi, dân tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân và các đặc trưng khác
Trang 9Về chất lượng dân số, nghiên cứu về các yếu tố góp phần nâng cao chất
lượng sống của người dân, chăm sóc sức khỏe, tư vấn tiền hôn nhân, sàng lọc trước
sinh, chẩn đoán sơ sinh
Về biến động dân số, nghiên cứu về sự thay đổi số lượng dân số theo thời
gian do tác động của ba quá trình sinh, tử và di dân Trong đó, chênh lệch giữa mức
sinh và mức tử là tự nhiên, chênh lệch giữa nhập cư và xuất cư là biến động cơ học
Chính vì các nội dung hoạt động của ngành dân số rất đa dạng, bao hàm
nhiều nội dung khác nhau của đời sống xã hội, gắn với sự phát triển của xã hội Cho
nên các nghiên cứu khoa học của Tổng cục DS-KHHGĐ do đó mà rất đa dạng, cả
tự nhiên, xã hội, kỹ thuật, kinh tế, dịch vụ để đáp ứng những nhu cầu cấp thiết mà
đất nước đặt ra Từ đó đi tìm các giải pháp để cân bằng sự phát triển dân số với sự
phát triển kinh tế - xã hội
Nội dung phong phú, cán bộ nghiên cứu khoa học của Tổng cục cũng phong
phú về đa dạng và có chuyên môn từ nhiều chuyên ngành khác nhau: Y tế, giáo dục,
công nghiệp, nông nghiệp, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội…Cán bộ thuộc mỗi
ngành, nghề khác nhau, được đào tạo trong các lĩnh vực khác nhau của các trường
khác nhau, có thói quen áp dụng các mẫu biểu kế hoạch nghiên cứu khoa học khác
nhau, trong đó thể hiện rõ nhất là mẫu đề cương nghiên cứu khoa học
Sự khác nhau về mẫu đề cương nghiên cứu, khác nhau về quan điểm xây
dựng đề cương của các tác giả nghiên cứu, cùng với nó là quan điểm, tiêu chí đánh
giá mức độ đạt yêu cầu mỗi loại đề cương cũng khác nhau là một trở ngại rất lớn,
gây khó khăn cho công tác đánh giá đề cương nghiên cứu dẫn tới hạn chế trong việc
tuyển chọn các đề tài nghiên cứu khoa học của Tổng cục hàng năm
Trong các năm qua, lãnh đạo và đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý, nghiên
cứu khoa học của Tổng cục đã nhận thấy sự khó khăn, bất cập của việc đễ xuất,
đánh giá, tuyển chọn các đề tài nghiên cứu khoa học tốt, có tính khả thi, có kế hoạch
thực hiện tốt Và đặc biệt, ai cũng hiểu rõ vấn đề là cần phải thống nhất được các
quy trình nghiên cứu và phải có các biểu mẫu đề cương nghiên cứu khoa học trong
nội bộ cơ quan Tổng cục theo quy chuẩn như có các tiêu chí đánh giá, cho điểm đề
cương nghiên cứu khoa học thống nhất với tất cả các lĩnh vực, nội dung của ngành
Trang 10Chính vì vậy, rất cần có một nghiên cứu khoa học về cơ sở lý luận, thực
trạng áp dụng các mẫu biểu kế hoạch nghiên cứu khoa học, trong đó tập trung vào
mẫu đề cương nghiên cứu khoa học trong những năm gần đây để từ đó đề xuất mẫu
đề cương nghiên cứu khoa học cùng với các tiêu chí đánh giá chất lượng đề cương
nhằm áp dụng trong hoạt động nghiên cứu khoa học của Tổng cục trong thời gian
tới Chính vì những lý do trên, tác giả đã quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứu
“Thống nhất hóa biểu mẫu kế hoạch nghiên cứu khoa học của Tổng cục Dân số
- Kế hoạch hóa gia đình” làm luận văn thạc sỹ
2 Lịch sử nghiên cứu
Phương pháp luận nghiên cứu khoa học là một môn học có lịch sử còn non
trẻ Tuy vậy, đã có không ít các nhà nghiên cứu đi sâu tìm hiểu, làm rõ các nội dung
của môn học này Bởi lẽ, nghiên cứu khoa học kể cả là khoa học cơ bản hay khoa
học ứng dụng đều vô cùng cần thiết nhằm tạo ra các tri thức mới hoặc tìm ra những
giải pháp mới nhằm đáp ứng một nhu cầu của thực tiễn cuộc sống Do vậy, nắm
được phương pháp luận nghiên cứu khoa học trở lên hết sức cần thiết Nhất là phải
nắm được những nội dung cốt lõi của phần mở đầu của một báo cáo nghiên cứu bao
gồm những mục nào, tính logic của chúng ra sao Những tác giả đầu ngành về vấn
đề này có thể kể đến là:
- G.S Vũ Cao Đàm với tác phẩm Phương pháp luận nghiên cứu khoa học đã
được tái bản chín lần vào cuối năm 2003 kể từ khi nó được xuất bản lần đầu vào
năm 1996
- Tác giả Nguyễn Như Thịnh với bản dịch tác phẩm Phương pháp nghiên cứu
khoa học của Ruzavin(Liên Xô cũ)
- Tác giả Nguyễn Xuân Nghĩa, Phương pháp và Kỹ thuật trong nghiên cứu
xã hội TP.HCM: NXB Trẻ, 2004
Tuy nhiên, khi nghiên cứu kỹ các công trình này, tác giả nhận thấy những đề
tài, luận văn, bài báo nghiên cứu trên đây mới chỉ tập trung vào phân tích tầm quan
trọng, cách thiết kế, xây dựng một kế hoạch nghiên cứu khoa học nói chung hoặc
với từng lĩnh vực Và trong các lĩnh vực đó chưa có lĩnh vực DS-KHHGĐ Trong
khi đó, công tác DS - KHHGĐ đã và đang đối mặt với rất nhiều vấn đề cả về quy mô,
Trang 11cơ cấu, chất lượng và phân bố dân số Đó là, duy trì mức sinh thấp hợp lý, điều chính
mức sinh giữa các vùng miền; là tìm các giải pháp can thiệp nhằm giảm đối phó với
mất cân bằng giới tính khi sinh; là tận dụng cơ hội dân số vàng; là nâng cao chất
lượng dân số, sàng lọc, chẩn đoán trước sinh và sơ sinh; là thực hiện phân bố dân cư
hợp lý
Tất cả các vấn đề nóng bóng và cấp thiết trên đều rất cần những nghiên cứu
khoa học để cung cấp bằng chứng, cung cấp những căn cứ khoa học giúp các nhà
quản lý làm công tác hoạch định chính sách
Tuy nhiên, qua thực tế tìm hiểu cho thấy, từ giai đoạn trước và trong những
năm trở lại đây tại Tổng cục DS-KHHGD vẫn chưa có một công trình nghiên cứu
nào nhằm thống nhất được Biểu mẫu kế hoạch nghiên cứu khoa học, chưa đưa ra
được mẫu đề cương nghiên cứu và cũng chưa có các tiêu chí để đánh giá đề cương
nghiên cứu đã đạt hay chưa
Vì vậy, việc lựa chọn nghiên cứu đề tài này là hoàn toàn phù hợp và có tính
cấp bách với tình hình thực tiễn hiện nay, đồng thời phù hợp với ngành học và yêu
cầu thực tiễn ở cơ quan Tổng cục Công trình nghiên cứu này của tác giả trên cơ sở
tham khảo và kế thừa các nội dung trong cuốn ‘‘Phương pháp luận nghiên cứu khoa
học’’ nói trên của G.S Vũ Cao Đàm và thông qua trường hợp cụ thể là Tổng cục DS
- KHHGĐ và một nội dung chủ yếu là mẫu đề cương nghiên cứu Tác giả luận văn
hy vọng rằng, các kết quả đạt được trong nghiên cứu này sẽ là những đóng góp thiết
thực về mặt lý luận cũng như thực tiễn về phương pháp nghiên cứu khoa học nói
chung và công tác nghiên cứu khoa học tại Tổng cục DS-KHHGĐ nói riêng
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu:
Thống nhất hóa Mẫu đề cương nghiên cứu khoa học của Tổng cục
DS-KHHGĐ
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Luận văn sẽ tìm hiểu và hệ thống hóa cơ sở lý luận về kế hoạch nghiên cứu
khoa học;
- Trên cơ sở tìm hiểu, phân tích thực tế, luận văn có nhiệm vụ khái quát về
thực trạng việc xây dựng đề cương nghiên cứu hiện đang được áp dụng tại Tổng cục;
Trang 12- Xây dựng các tiêu chí để đánh giá chất lượng đề cương nghiên cứu;
- Từ việc nghiên cứu lý luận và thực trạng việc xây dựng đề cương nghiên
cứu hiện đang được áp dụng tại Tổng cục, tác giả bước đầu mạnh dạn đề xuất mẫu
đề cương nghiên cứu để áp dụng vào công tác nghiên cứu khoa học tại Tổng cục
hiện nay
4 Phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn về nội dung: Kế hoạch nghiên cứu khoa học bao gồm nhiều nội
dung, đề tài này chỉ nghiên cứu một nội dung hiện đang có nhiều bất cập, song lại
có khả năng áp dụng trong thực tiễn công tác đó là: Thống nhất hóa Mẫu đề cương
nghiên cứu và các tiêu chí đánh giá chất lượng đề cương nghiên cứu
- Thời gian, không gian: Khảo sát các đề cương nghiên cứu của Tổng cục đã
đăng ký thực hiện trong 2 năm trở lại đây, đó là năm 2013, 2014
5 Mẫu khảo sát
Luận văn đã tiến hành điều tra, khảo sát toàn bộ các đề cương đăng ký tham
gia đề tài nghiên cứu khoa học của Tổng cục DS-KHHGĐ Tiến hành phỏng vấn
sâu các chuyên gia tham gia quá trình đánh giá đề cương nghiên cứu đăng ký Gửi
phiếu điều tra đến những cán bộ tại các Vụ, đơn vị có liên quan đến công tác nghiên cứu
6 Câu hỏi nghiên cứu
6.1 Câu hỏi chủ đạo: Mẫu đề cương đề tài nghiên cứu khoa học của Tổng
cục DS-KHHGĐ cần có những nội dung gì và tiêu chí đánh giá chất lượng của các
nội dung đó là gì?
6.2 Các câu hỏi cụ thể:
- Hiện nay các tác giả tham gia gia nghiên cứu khoa học của ổng cục đang
gặp phải những khó khăn gì trong việc xây dựng đề cương nghiên cứu khoa học;
- Hiện nay Hội đồng khoa học của ổng cục đang gặp phải những khó khăn gì
trong việc đánh giá, xét duyệt các đề xuất cương nghiên cứu khoa học;
- Mẫu đề cương nghiên cứu được đề xuất tới đây sẽ bao gồm những nội dung
nào để đảm phù hợp và giúp được các tác giả tham gia đề xuất đề tài nghiên cứu
khoa học?
Trang 13- Tiêu chí đánh giá chất lượng các nội dung của đề cương nghiên cứu được
đề xuất tới đây là gì?
7 Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết chủ đạo: Mẫu đề cương phải bao hàm những nội dung để các tác
giả xác định được các nhiệm vụ cần phải thực hiện, đồng thời phải có các tiêu chí rõ
ràng làm cơ sở giúp Hội đồng khoa học thẩm định, đánh giá và tuyển chọn đề tài
nghiên cứu
Các luận điểm cụ thể:
- Việc đánh giá, tuyển chọn các đề xuất nghiên cứu khoa học tại Tổng cục
đang gặp phải khó khăn trong việc thống nhất áp dụng một mẫu đề cương chung,
đồng thời Hội đồng khoa học không có căn cứ khoa học để đánh giá chất lượng đề
xuất nghiên cứu;
- Mẫu đề cương sẽ được đề xuất tới đây bao gồm đầy đủ những nội dung cần
có của một đề cương như: tên đề tài, lý do nghiên cứu, lịch sử nghiên cứu, mục tiêu
nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, mẫu khảo sát, câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết
nghiên cứu, phương pháp chứng minh giả thuyết, nội dung nghiên cứu, kết cấu đề
tài, kế hoạch thực hiện… đồng thời được giải thích, hướng dẫn rõ để phù hợp với
đặc thù của các đề tài/dự án nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực DS-KHGĐ
- Các nội dung của đề cương nghiên cứu phải có các tiêu chí phản ánh được
tính mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn cũng như tính khả thi của đề tài/dự án
nghiên cứu
8 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành công trình này, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên
cứu sau:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phân tích và tổng hợp các tài liệu liên quan
đến các đề cương của đề tài nghiên cứu
Các phương pháp phi thực nghiệm: Điều tra bằng bảng hỏi, phiếu trắc
nghiệm; phương pháp phỏng vấn các nhà nghiên cứu, cán bộ của Tổng cục
Trang 149 Kết cấu luận văn
Mở đầu
Chương 1 Cơ sở lý luận về đề cương nghiên cứu khoa học
Chương 2 Thực trạng việc sử dụng các mẫu đề cương nghiên cứu khoa
học và việc đánh giá chất lượng đề cương nghiên cứu khoa học tại Tổng cục
Chương 3 Xây dựng mẫu đề cương và các tiêu chí đánh giá chất lượng đề
cương nghiên cứu khoa học tại Tổng cục
Kết luận
Khuyến nghị
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
1.1 Nghiên cứu khoa học
1.1.1 Một số khái niệm về nghiên cứu khoa học
- Nghiên cứu khoa học: là một hoạt động tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặc
thử nghiệm Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức,… đạt được từ các thí
nghiệm nghiên cứu khoa học (NCKH) để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự
vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, và để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ
thuật mới cao hơn, giá trị hơn Con người muốn làm NCKH phải có kiến thức nhất
định về lĩnh vực nghiên cứu và cái chính là phải rèn luyện cách làm việc tự lực, có
phương pháp
Về mặt thao tác, có thể định nghĩa, nghiên cứu khoa học là quá trình hình
thành và chứng minh luận điểm khoa học về một sự vật hoạc hiện tượng cần khám phá
- Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu:
+ Đối tượng nghiên cứu: là bản chất của sự vật hay hiện tượng cần xem xét
và làm rõ trong nhiệm vụ nghiên cứu
+ Phạm vi nghiên cứu: đối tượng nghiên cứu được khảo sát trong trong phạm
vi nhất định về mặt thời gian, không gian và lãnh vực nghiên cứu
+ Mục đích và mục tiêu nghiên cứu: Khi viết kế hoạch nghiên cứu, một điều
rất quan trọng là làm sao thể hiện được mục tiêu và mục đích nghiên cứu mà không
có sự trùng lấp lẫn nhau Vì vậy, cần thiết để phân biệt sự khác nhau giữa mục đích
và mục tiêu
+ Mục đích: là hướng đến một điều gì hay một công việc nào đó trong
nghiên cứu mà người nghiên cứu mong muốn để hoàn thành, nhưng thường thì mục
đích khó có thể đo lường hay định lượng Nói cách khác, mục đích là sự sắp đặt
công việc hay điều gì đó được đưa ra trong nghiên cứu Mục đích trả lời câu hỏi
"nhằm vào việc gì?", hoặc "để phục vụ cho điều gì?" và mang ý nghĩa thực tiển của
nghiên cứu, nhắm đến đối tượng phục vụ sản xuất, nghiên cứu
Trang 16+ Mục tiêu: là thực hiện điều gì hoặc hoạt động nào đó cụ thể, rõ ràng mà
người nghiên cứu sẽ hoàn thành theo kế hoạch đã đặt ra trong nghiên cứu Mục tiêu
có thể đo lường hay định lượng được Nói cách khác, mục tiêu là nền tảng hoạt
động của đề tài và làm cơ sở cho việc đánh giá kế hoạch nghiên cứu đã đưa ra, và là
điều mà kết quả phải đạt được Mục tiêu trả lời câu hỏi “làm cái gì?”
- Đề tài nghiên cứu khoa học: Đề tài là một hình thức tổ chức NCKH do một
người hoặc một nhóm người thực hiện Đề tài: được thực hiện để trả lời những câu
hỏi mang tính học thuật (có thể chưa đặt yêu cầu cụ thể đến việc ứng dụng trong
hoạt động thực tế)
- Dự án: được thực hiện nhằm vào mục đích ứng dụng, có xác định cụ thể
hiệu quả về kinh tế và xã hội Dự án có tính ứng dụng cao, có ràng buộc thời gian
và nguồn lực
- Đề án: là loại văn kiện, được xây dựng để trình cấp quản lý cao hơn, hoặc
gửi cho một cơ quan tài trợ để xin thực hiện một công việc nào đó như: thành lập
một tổ chức; tài trợ cho một hoạt động xã hội, Sau khi đề án được phê chuẩn, sẽ
hình thành những dự án, chương trình, đề tài theo yêu cầu của đề án
- Chương trình: là một nhóm đề tài hoặc dự án được tập hợp theo một mục
đích xác định Giữa chúng có tính độc lập tương đối cao Tiến độ thực hiện đề tài,
dự án trong chương trình không nhất thiết phải giống nhau, nhưng nội dung của
chương trình thì phải đồng bộ
1.1.2 Đặc điểm của nghiên cứu khoa học
Đặc điểm chung nhất của nghiên cứu khoa học là sụ tìm tòi những sự vật,
hiện tượng mà khoa học chưa hề biết đến Đặc điểm dẫn đến hang loạt đặc điểm
khác nhau của nghiên cứu khoa học, mà người nghiên cứu cần quan tâm khi xử lý
những vấn đề cụ thể về mặt phương pháp luận nghiên cứu và tổ chức nghiên cứu
- Tính mới
Vì nghiên cứu khoa học là quá trình khám phá thế giới của những sự vật,
hiện tượng mà khoa học chưa biết, cho nên quá trình nghiên cứu khoa học luôn là
quá trình hướng tới những phát hiện mới sáng tạo mới Trong nghiên cứu khoa học
Trang 17không có sự lặp lại như cũ những phát hiện hoặc sáng tạo mà các đồng nghiệp đi
trước đã thực hiện
Tính mới là thuộc tính quan trọng số một của nghiên cứu khoa học Nó luôn
có khả năng dẫn tới những xung đột xã hội với các kết luận cũ, bất kể khoa học tự
nhiên hay khoa học xã hội Chẳng hạn, thuyết Nhật tâm (Mặt Trời là trung tâm) đã
gặp sức chống đói mạnh mẽ của thuyết Địa tâm (Trái Đất là trung tâm) Trong xã
hội và nhân văn, sự xung đột giữa cái mới và cái cũ còn mạnh mẽ hơn rất nhiều
- Tính tin cậy
Một kết quả nghiên cứu đạt được nhờ một phương pháp nào đó phải có khả
năng kiểm chứng lại nhiều lần trong những điều kiện quan sát hoàn toàn giống nhau
và với những kết quả thu được hoàn toàn giống nhau Một kết quả thu được ngẫu
nhiên dù phù hợp với giả thuyết đã đặt ra trước đó cũng chưa thể xem là đủ tin cậy
để kết luận về bản chất của sự vật hoặc hiện tượng
Điều này dẫn đến một nguyên tắc mang tính phương pháp luận của nghiên
cứu khoa học, là khi trình bày một kết quả nghiên cứu, người nghiên cứu cần chỉ rõ
những điều kiện, các nhân tố và phương tiện thực hiện (nếu có)
- Tính thông tin
Sản phẩm của nghiên cứu khoa học được thể hiện dưới nhiều dạng, có thể đó
là một báo cáo khoa học, một tác phẩm khoa học, song cũng có thể là một mẫu vật
liệu mới, mẫu sản phẩm mới, mô hình thí điểm về một phương thức tổ chức sản
xuất mới, v.v…
Tuy nhiên, trong tất cả các trường hợp này, sản phẩm khoa học luôn mang
đặc trưng thông tin Đó là những thông tin về quy luật vận động của sự vật, thông
tin về một quá trình xã hội hoặc quy trình công nghệ và các tham số đặc trưng cho
quy trình đó
- Tính khách quan
Tính khách quan vừa là một đặc điểm của nghiên cứu khoa học, vừa là một
tiêu chuẩn về phẩm chất của người nghiên cứu khoa học Trong xã hội học khoa học
(sociology of science), người ta xem đó là một chuẩn mực giá trị Một nhận định
Trang 18vội vã theo tình cảm, một kết luận thiếu các xác nhận bằng chứng chưa thể xem là
một phản ánh khách quan về bản chất sự vật, hiện tượng
Để đẩm bảo tính khách quan, người nghiên cứu cần phải luôn đặt các loại
câu hỏi ngược lại những kết luận đã được xác nhận Ví du: Kết quả có thể khác
không? Nếu kết quả là đúng, thì đúng trong điều kiện nào? Còn phương pháp nào
cho kết quả tốt hơn?
- Tính rủi ro
Quá trình khám phá bản chất sự vật và sáng tạo sự vật mới hoàn toàn có thể
gặp phải thất bại Đó là tính rủi ro (risque) của nghiên cứu Sự thất bại trong nghiên
cứu khoa học có thể do nhiều nguyên nhân, chẳng hạn, thiếu những thông tin cần
thiết và đầy đủ tin cậy; trình độ kỹ thuật của thiết bị quan sát hoặc thí nghiệm thấp;
năng lực xử lý thông tin của người nghiên cứu còn hạn chế; giả thiết khoa học đặt ra
là sai do những tác nhân bất khả kháng, v.v Ngay khi kết quả nghiên cứu đã được
thử nghiệm thành công cũng vẫn gặp những rủi ro trong áp dụng
Tuy nhiên, trong khoa học, thất bại cũng được xem là một kết quả Kết quả
ấy cũng mang ý nghĩa là một kết luận nghiên cứu khoa học, mà nội dung là các giả
thiết đã đặt ra không được xác nhận về mặt khoa học, nghĩa là trong sự vật không
tồn tại quy luật hoặc giải pháp như dã dự kiến xét về ý nghĩa khoa học, đây là kết
quả quan trọng Nó giúp các đồng nghiệp đi sau khỏi dẫm chân lên lối mòn, lãng phí
các nguồn lực nghiên cứu
- Tính kế thừa
Ngày nay hầu như không còn một công trình nghiên cứu khoa học nào bắt
đầu từ chỗ hoàn toàn trống không về kiến thức Mỗi nghiên cứu phải kế thừa các kết
quả nghiên cứu trong các lĩnh vực khoa học khác nhau rất xa
Tính kế thừa có một ý nghĩa quan trọng về mặt phương pháp luận nghiên
cứu: một người nghiên cứu chân chính không bao giờ đóng cửa cố thủ trong những
lý luận và phương pháp luận “riêng có”, “của mình” mà bài xích sự thâm nhập về lý
luận và phương pháp luận từ các lĩnh vực khoa học dù rất khác nhau Hàng loạt
phương hướng nghiên cứu mới và bộ môn khoa học mới xuất hiện chính là kết quả
kế thừa lẫn nhau giữa các bộ môn khoa học
Trang 19- Tính cá nhân
Dù là một chương trình nghiên cứu khoa học do một tập thể thực hiện thì vai
trò cá nhân trong sáng tạo cũng mang tính quyết định Tính cá nhân được thể hiện
trong tư duy cá nhân, nỗ lực cá nhân và chủ kiến của cá nhân
1.1.3 Phân loại nghiên cứu khoa học
Có nhiều cách phân loại nghiên cứu khoa học Thong thường có 3 cách sau:
- Phân loại theo chức năng nghiên cứu
Theo chức năng nghiên cứu, người ta phân chia nghiên cứu khoa học thành 4 loại:
+ Nghiên cứu mô tả
Là những nghiên cứu nhằm đưa ra một hệ thống tri thức về nhận dạng một
sự vật, đánh giá một sự vật ví du: Mô tả một triều đại trong lịch sử; mô tả một hoạt
động xã hội;mô tả một tệ nạn xã hội
+ Nghiên cứu giải thích
Là những nghiên cứu nhằm giải thích nguồn gốc; động thái; cấu trúc; tương
tác; hậu quả; quy luật chung chi phối quá trình vận động của sự vật Ví dụ: giải
thích nguyên nhân dẫn đến một phong trào xã hội, giải thích bản chất kinh tế của
hiện tượng di dân, lý do dẫn đến sự ra đời một lý thuyết khoa học
+ Nghiên cứu giải pháp
Là những nghiên cứu nhằm sang tạo các giải pháp, có thể là giải pháp công
nghệ, giải pháp tổ chức và quản lý Ví dụ: tìm kiếm giải pháp nâng cao năng lực
cạnh tranh của một sản phẩm, biện pháp tháo gỡ những khung hoảng trong kinh tế
và xã hội, giải pháp khắc phục các hiện tượng suy thoái trong chất lượng giáo dục
+ Nghiên cứu dự báo
Là những nghiên cứu nhằm nhận dạng trạng thái của sự vật trong tương lai
Ví dụ, dự báo sự phát triển kinh tế và xã hội của nước ta 10 năm sau khi gia nhập
WTO, dự báo các thành tựu khoa học và công nghệ của thế giới vào cuối thế kỷ XXI
- Phân loại theo các giai đoạn của nghiên cứu
Theo các giai đoạn của nghiên cứu, người ta phân chia nghiên cứu khoa học
thành 3 loại: nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai, gọi chung là
nghiên cứu và triển khai, viết tắt tiếng Anh là R&D
Trang 20+ Nghiên cứu cơ bản
Là những nghiên cứu nhằm phát hiện thuộc tính, cấu trúc, động thái sự vật
Kết quả nghiên cứu cơ bản có thể là các khám phá, phát hiện, phát minh, dẫn tới
hình thành hệ thống lý thuyết mới
Ví dụ: Darwin với thuyết tiến hóa; Einstein với lý thuyết tương đối; các nhà
sử học đưa ra một tổng kết lịch sử, đánh giá một triều đại; các nhà xã hội học phát
hiện các quy luật về xung đột xã hội
+ Nghiên cứu ứng dụng
Là sự vận dụng quy luật được phát hiện từ nghiên cứu cơ bản để giải thích
một sự vật hoặc tạo ra những nguyên lý mới về các giải pháp
Ví dụ: nghiên cứu sử dụng các biện pháp kinh tế để giảm thiểu dòng di dân
từ nông thôn ra thành phố
+ Triển khai
Triển khai thực nghiệm (gọi tắt là triển khai) là sự vân dụng các lý thuyết để
đưa các vật mẫu (prototypr) và công nghệ sản xuất vật mẫu với những tham số khả
thi về kỹ thuật,
Trên thực tế, trong một đề tài có thể chỉ tồn tại một loại nghiên cứu, chẳng
hạn, nghiên cứu về một hiện trạng công nghệ, kinh tế hoặc xã hội nào đó; nghiên
cứu về một giải pháp kỹ thuật hoặc xã hội nào đó, song cũng có thể tồn tại cả ba
loại nghiên cứu
Khái niệm triển khai được áp dụng trong nghiên cứu khoa học kỹ thuật và xã
hội: trong các nghiên cứu về khoa học kỹ thuật, hoạt động triển khai được áp dụng
khi chế tạo một mẫu công nghệ mới hoặc sản phẩm mới; trong nghiên cứu xã hội
như: thử nghiệm một phương pháp giảng dạy ở các lớp thí điểm; chỉ đạo thí điểm
một mô hình quản lý mới tại một cơ sở được chọn
Sự phân chia loại hình nghiên cứu trên đây được áp dụng phổ biến trên thế
giới Phân chia để nhận thức rõ bản chất của nghiên cứu khoa học, để có cơ sở lập
kế hoạch nghiên cứu, cụ thể hóa các cam kết trong hợp đồng nghiên cứu giữa các
đối tác Tuy nhiên, trên thực tế, trong một đề tài có thể tồn tại cả ba loại hình nghiên
cứu, hoặc tồn tại một, hoặc hai trong ba loại trên
Trang 21- Phân loại theo phương thức thu thập thông tin
Theo tiêu thức này, nghiên cứu khoa học được phân chia thành: nghiên cứu
thư viện, nghiên cứu điền dã và nghiên cứu labô
+ Nghiên cứu thư viện
Nghiên cứu thư viện còn được gọi là phương pháp nghiên cứu tài liệu đây là
những nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở thu thập thông tin từ thư viện hoặc từ
các nguồn tài liệu khác nhau có thể thu thập được Hầu như không có công trình
khoa học nào lại không phải thực hiện những nghiên cứu thuộc loại này, nhất là
nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn Công việc nghiên cứu thư
viện cũng cần thiết trong trường hợp người nghiên cứu cần thu thập thông tin về
lịch sử nghiên cứu, thực hiện những công việc về tổng thuật tài liệu
Vấn đề mà người nghiên cứu cần chú ý trong loại hình nghiên cứu này là
phải nắm vững các phương pháp phân loại các nguồn tài liệu, các phương pháp
phân tích và tổng hợp tài liệu
+ Nghiên cứu điền dã
Nghiên cứu điền dã (field research) là một phương thức nghiên cứu dựa trên
sự quan sát trực tiếp ngoài hiện trường, hoặc quan sát gián tiếp nhờ các phương tiện
đo đạc, ghi âm, ghi hình, hoặc thực hiện các hình thức giao tiếp, trrof chuyện,
phỏng vấn, điều tra v.v…Trong nghiên cứu điền dã có một đặc điểm rất quan trọng,
là người nghiên cứu không gây bất cứ biến đổi nào trên đối tượng khảo sát
+ Nghiên cứu labo
Nghiên cứu labo còn được gọi là nghiên cứu thực nghiệm, là phương pháp
nghiên cứu trong đó người nghiên cứu cố ý gây ra các tác động làm biến đổi một số
yếu tố, trạng thái của đối tượng nghiên cứu Tuy nhiên gọi là nghiên cứu labô,
nhưng trong nhiều trường hợp, người nghiên cứu tiến hành cả những thực nghiệm
ngoài hiện trường
Nghiên cứu labo được sử dụng để gọi tên các loại nghiên cứu cả trong tự
nhiên, khoa học kỹ thuật và khoa học xã hội Trong khoa học xã hội, nghiên cứu la
bô là những nghiên cứu thực nghiệm xã hội trong phòng Ví dụ, nghiên cứu đổi mới
Trang 22phương pháp giảng dạy trong giáo dục học, nghiên cứu đổi mới quản lý trong quản
lý doanh nghiệp
Mục đích của nghiên cứu thực nghiệm là: Kiểm chứng giả thuyết bị sai lệch
do lý thuyết; Khống chế các biến trong các điều kiện khác nhau của nghiên cứu;
Phát hiện những mối liên hệ giữa các biến độc lập với các biến phụ thuộc
1.2 Kế hoạch và đề cương nghiên cứu khoa học
1.2.1 Khái niệm kế hoạch nghiên cứu khoa học
Kế hoạch nghiên cứu khoa học là việc đề ra các nhiệm vụ rất cụ thể, đảm bảo
mục tiêu nghiên cứu khoa học được hoàn thành Nó chỉ rõ muốn hoàn thành muốn
nghiên cứu khoa học thì phải làm gì? ai làm, khi nào làm? và với chi phí nào? Ví
dụ: Hoàn tất việc viết đề cương chi tiết, gửi hội đồng đánh giá, tiến hành thực
hiện…,viếc báo cáo v v Những nhiệm vụ này tạo nên kế hoạch công việc, hoạt
động của chủ nhiệm đề tài, của các thành viên, của từng bộ phận chức năng về nhân
lực, tài chính, tiến độ, thời gian, phương pháp thực hiện Trên cơ sở hiểu rõ, cam
kết thực hiện mục tiêu và kế hoạch trên đây, cả chủ nhiệm đề tài, các thành viên và
cơ quan chủ quản sẽ cùng theo dõi và tổ chức thực hiện, đánh giá kết quả hoàn
thành, tìm ra nguyên nhân và khắc phục, cải tiến cũng như đãi ngộ, khuyến khích
kịp thời
Kế hoạch nghiên cứu khoa học yêu cầu nhiều mẫu biểu kế hoạch như: mẫu
đề xuất ý tưởng, mẫu đề xuất đề tài nghiên cứu khoa học, mẫu đề cương nghiên cứu
khoa học, mẫu dự toán kinh phí thực hiện, mẫu báo cáo kết quả đề tài nghiên cứu
khoa học…
1.2.2 Khái niệm đề cương nghiên cứu khoa học
Đề cương nghiên cứu khoa học là một phần không thể thiếu của Kế hoạch
nghiên cứu khoa học
Đề cương nghiên cứu khoa học được coi là dàn ý, là cơ sở đề các tác giả, chủ
nhiệm đề tài căn cứ vào đó thực hiện hiện đề tài
Đề cương nghiên cứu khoa học của mỗi chuyên ngành khác nhau ngoài
những nội dung cơ bản giống nhau sẽ có những nội dung khác nhau
Mỗi cơ quan, đơn vị, viện, trường đại học… đều tự thiết kế và quy định mẫu
đề cương nghiên cứu khoa học cho riêng mình
Trang 231.2.3 Vai trò của đề cương nghiên cứu khoa học
Đề cương nghiên cứu khoa học có vai trò rất quan trọng với cả với tác giả và
nhà quản lý:
- Giúp ích cho tác giả đề tài:
+ Đề cương giúp tác giả trình bày về đề tài nghiên cứu khoa học một cách
khoa học và thuyết phục;
+ Đề cương có tác dụng giúp hoạch định kế hoạch thực hiện đề tài sao cho
đảm bảo về nhân lực, vật lực, dự kiến được tiến độ thời gian…
+ Đề cương có tác dụng như là một dàn ý của một bài văn, giúp tác giả
mường tượng và hoàn thiện dần báo cáo kết quả đề tài
+ Đề cương giúp tác giả đề tài luôn bám sát mục tiêu đề tài trong quá trình
thực hiện đề tài
- Giúp cho các nhà quản lý, xét duyệt đề tài:
+ Hiểu rõ về đề tài nghiên cứu khoa học một cách toàn diện và nhanh nhất;
+ Giúp hiểu rõ về lịch sử của vấn đề nghiên cứu, thấy được vai trò, tầm quan
trọng của vấn đề nghiên cứu;
+ Thấy được tính mới, tính sáng tạo của vấn đề nghiên cứu;
+ Thấy được rõ ràng mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài nghiên cứu khoa học;
+ Thấy được để hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ thì tác giả đề tài sẽ phải giải
quyết các vấn đề gì, cần thiến hành các công việc gì, tiến độ về thời gian, yêu cầu về
nguồn lực…
+ Giúp người xét duyệt đề tài có thể đánh giá, so sánh ý tưởng khoa học, sự
cần thiết, tính cấp thiết của các đề tài nghiên cứu khoa học khác nhau Từ đó có thể
lựa chọn, cho điểm một cách chính xác, khách quan, khoa học với nhưng đề xuất đề
tài nghiên cứu khoa học khác nhau
1.2.4 Nội dung cần có của một đề cương nghiên cứu khoa học
Cũng như việc lập kế hoạch nghiên cứu khoa học, việc lập đề cương nghiên
cứu khoa học cũng được mỗi cơ quan, đơn vị, ngành, nghề, các đơn vị đào tạo xây
dựng khác nhau
Có thể thấy rõ điều này qua một số mẫu đề cương nghiên cứu của một số tác giả:
Trang 24* TS Trần Kim Dung đã đưa ra một mẫu đề cương nghiên cứu gồm: tên đề
tài, phần mở đầu, cơ sở lý thuyết, tiến độ thực hiện, sơ đồ quy trình nghiên cứu dự
kiến, mục lục, tài liệu tham khảo
Trong đó, TS Trần Kim Dung đặc biệt coi trọng phần mở đầu, và yêu cầu
phần mở đầu phải có các nội dung sau:
- Giới thiệu lý do chọn đề tài: Tính chất hợp lý của nghiên cứu, nêu rõ ý
nghĩa của việc giải quyết vấn đề nói chung, đối với tổ chức/doanh nghiệp và đối với
cá nhân học viên nói riêng
- Giới thiệu vấn đề sẽ được nghiên cứu Cần xác định rõ vấn đề phải giải
quyết được trong nghiên cứu Vấn đề nghiên cứu cần có cái nhìn rộng rãi nhưng
phải ứng dụng trong 1 lĩnh vực rất cụ thể Vấn đề nghiên cứu không được giới hạn
trong việc mô tả hay báo cáo tình huống mà bắt buộc phải được nghiên cứu trên cơ
sở các thông tin mà học viên có được với sự phê phán, đánh giá nghiêm khắc rõ
ràng Trong nghiên cứu, học viên cần chỉ rõ vấn đề nghiên cứu ngay từ đầu và phải
lý giải được chúng Việc xác định vấn đề nghiên cưú có thể bắt nguồn từ những
điểm chưa hoàn chỉnh, chưa giải quyết được trong lý thuyết và/hoặc những điểm
nhức nhối trong thực tiễn áp dụng hiện nay nói chung, tại công ty/đơn vị học viên
đang làm việc nói riêng… Phần này cần lý giải rõ ràng cho câu hỏi: vì sao Qúy vị
chọn đề tài này, Qúy vị đã nhận thấy những gì bất ổn, Qúy vị có những trăn trở, bức
xúc gì và thực sự muốn quan tâm đến việc cần giải quyết được cái gì nhất? Tại sao
những bất ổn đó còn tồn tại? Nguyên nhân? Nếu giải quyết được các vấn đề đó thì
sẽ có ích lợi gì cho công ty và có thể đóng góp gì thêm cho lý luận?
- Đối tượng nghiên cứu: Những nội dung cần được xem xét và làm rõ trong
nhiệm vụ nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu: chỉ rõ các phương pháp nghiên cứu được sử dụng
để giải quyết vấn đề đã được đề cập trong phần “vấn đề nghiên cứu” Điều này tuyệt
đối cần thiết cho nghiên cứu vì nó cho phép xác định là phương pháp nghiên cứu
nào sẽ được sử dụng để đạt được mục tiêu nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu cần
được xác định ngay trong giai đoạn bắt đầu nghiên cứu của nghiên cứu, cùng với sự
lưạ chọn các câu hỏi chính cần được trả lời trong nghiên cứu thể hiện bằng các
Trang 25nhiệm vụ cụ thể (ví dụ: xem xét sự phát triển lý thuyết cơ sở; thu thập thông tin; tổ
chức và xử lý số liệu,v.v )
- Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu: Đóng góp về lý thuyết, đóng góp về mặt
thực tiễn (phần này đòi hỏi tác giả phải hình dung rõ ràng những kết quả cụ thể mà
nghiên cứu sẽ mang lại)
- Cấu trúc nghiên cứu: (chỉ ghi tên chương)
* G.S Vũ Cao Đàm trong tác phẩm “Phương pháp luận nghiên cứu khoa học” tái
bản lần 13 vào năm 2006, tại phần phụ lục về Biểu mẫu lập kế hoạch nghiên cứu
khoa học” cũng đã chỉ rõ, đề cương đề tài nghiên cứu cần phải tập trung làm rõ:
- Tên đề tài nghiên cứu
- Lịch sử của đề tài nghiên cứu
- Mục tiêu của đề tài
- Nhiệm vụ của đề tài
- Phạm vi nghiên cứu;
- Mẫu khảo sát,
- Câu hỏi nghiên cứu,
- Giả thuyết nghiên cứu,
- Phương pháp chứng minh giả thuyết,
- Nội dung nghiên cứu,
- Kết cấu đề tài
Qua các mẫu đề cương của tác giả Trần Kim Dung, tác giả Vũ Cao Đàm
cũng như một số tác giả, mẫu đề cương của một số đơn vị, chúng ta có thể thấy
rằng, tuy cách thức đề cập có khác nhau, kết cấu có khác nhau nhưng tự chung lại,
có 2 vấn đề nổi lên:
Thứ nhất, các mẫu đề cương đều yêu cầu phải có các nội dung:
- Tên tác giả
- Tên cơ quan chủ quản
- Tên đề tài nghiên cứu
- Lịch sử của đề tài nghiên cứu
- Mục tiêu của đề tài
- Nhiệm vụ của đề tài
Trang 26- Phạm vi nghiên cứu;
- Mẫu khảo sát,
- Câu hỏi nghiên cứu,
- Giả thuyết nghiên cứu,
- Phương pháp chứng minh giả thuyết,
- Nội dung nghiên cứu,
- Kết cấu đề tài
- Thời gian thực hiện
- Dự kiến kinh phí
Thứ hai, tùy vào đặc điểm riêng của mỗi chuyên ngành, mỗi cơ quan, đơn vị,
các nội dung trên sẽ được sắp sếp lại hoặc bỏ bớt để đảm bảo sự phù hợp
1.2.5 Đánh giá chất lượng đề cương nghiên cứu khoa học
Việc đánh giá đề cương nghiên cứu khoa học được đặt ra nhằm giải quyết
vấn đề lựa chọn, xếp loại những đề cương đề xuất tốt, hoặc loại bỏ, yêu cầu đề xuất
lại với các đề cương nghiên cứu chưa đạt yêu cầu
Đây là công việc phải tiến hành ở hầu hết các cơ quan, đơn vị, nhà trường có
chức năng nghiên cứu khoa học
Qua nghiên cứu tài liệu của các cơ quan, đơn vị, nhà trường… có chức năng
nghiên cứ khoa học, có thể thấy rõ:
- Thông thường, tại các trường học, việc đánh giá đề cương nghiên cứu khoa
học của các tác giả (là luận văn của sinh viên, nghiên cứu sinh) được giao cho một
hội đồng Hội đồng sẽ đánh giá đề cương bằng cách nghe các tác giả trình bày đề
cương, nếu đề cương đạt yêu cầu, hội đồng thống nhất thông qua bằng biên bản
đồng ý Nếu đề cương chưa đạt yêu cầu, hoặc cần bổ sung, sửa chữa, hội đồng sẽ có
ý kiến trực tiếp với tác giả
- Tại các cơ quan, đơn vị còn lại (mà hầu hết là các cơ quan, tổ chức của Nhà
nước) có chức năng nghiên cứu khoa học, việc đánh giá đề cương nghiên cứu khoa
học thực chất là việc xét duyệt các đăng ký đề tài nghiên cứu khoa học Việc đánh
giá này cũng thường được giao cho một Hội đồng khoa học của đơn vị Thông
thường từ đầu năm, Hội đồng khoa học của đơn vị sẽ có thông báo gửi tới toàn nhân
Trang 27viên của đơn vị hướng dẫn về việc đăng ký đề tài nghiên cứu khoa học trong năm
của đơn vị Hướng dẫn nêu rõ các công việc cần thực hiện, thời gian gửi đề xuất và
đặc biệt luôn kèm theo một mẫu đề xuất (mà thực chất đó chính là đề cương nghiên
cứu khoa học của đơn vị - đã nêu ở phần trên) Căn cứ vào đề cương nghiên cứu
khoa học của các tác giả, Thư ký Hội đồng khoa học tổng hợp các đề cương, thiết
kế thành phiếu đánh giá đề cương Hội đồng khoa học sẽ họp và từng thành viên hội
đồng có ý kiến vào phiếu đánh giá của mình Căn cứ vào các ý kiến của từng thành
viên, Hội đồng sẽ quyết định những đề cương nào đạt yêu cầu, đồng ý cho tiến hành
thực hiện, trình thủ trưởng cơ quan quyết định Như vậy, tựu chung lại, việc đánh
giá đề cương thực chất là việc từng thành viên tham gia đánh giá đề cương đồng ý
hay không đồng ý cho thực hiện với đề cương đó Nếu đồng ý có nghĩa là, đề xuất
nghiên cứu khoa học của tác giả đó sẽ được tiến hành Nếu không đồng ý, đề xuất
đó sẽ phải dừng lại hoặc hoàn thiện và đề xuất lại
- Như vậy, khâu mấu chốt của việc đánh giá đề cương được thiết kế thành
Phiếu đánh giá đề cương (hoặc phiếu nhận xét, phiếu đồng ý…) Phiếu đánh giá đề
cương được gửi cho từng thành viên, những người tham gia đánh giá đề cương, xét
duyệt đề tài đăng ký Phiếu đánh giá đề cương thường có 3 phần: Các thông tin
chung thành viên (người đánh giá), thông tin về tác giả, thông tin về đề tài, phần
đánh giá
+ Với phần thông tin về đề tài: Phiếu đánh giá đề cương chỉ ghi tên đề tài,
kết quả dự kiến Còn bản đề cương nghiên cứu được đính kèm theo để người đánh
giá xem xét
+ Phần đánh giá: hướng dẫn ghi rõ là đồng ý hay không đồng ý
Tóm lại: Đánh giá đề cương nghiên cứu khoa học là một vấn đề khó Nhưng
cái khó chính không phải là người đánh giá không nhận biết được đề cương có đạt
hay không đạt mà chính là quy trình, cách thức đánh giá có đảm bảo khoa học, minh
bạch hay không? Có đảm bảo sếp loại, cho điểm về tính cấp thiết của các đề tài hay không?
Trang 28KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
1 Nghiên cứu khoa học là quá trình hình thành và chứng minh luận điểm
khoa học về một sự vật hoặc hiện tượng cần khám phá
2 Đặc điểm quan trọng nhất của nghiên cứu khoa học sự tìm tòi những sự
vật, hiện tượng mà khoa học chưa hề biết đến, chính vị vậy quá trình nghiên cứu
khoa học luôn là quá trình hướng tới những phát hiện mới, sáng tạo mới và trong
nghiên cứu khoa học không có sự lặp lại như cũ những phát hiện hoặc sáng tạo mà
các đồng nghiệp đi trước đã thực hiện
3 Kế hoạch nghiên cứu khoa học là việc đề ra các nhiệm vụ rất cụ thể, đảm
bảo mục tiêu nghiên cứu khoa học được hoàn thành một cách tốt nhất, hiệu quả nhất
4 Đề cương nghiên cứu khoa học được coi là dàn ý, là cơ sở đề các tác giả,
chủ nhiệm đề tài căn cứ vào đó thực hiện hiện đề tài Đề cương nghiên cứu khoa
học là một phần không thể thiếu của kế hoạch nghiên cứu khoa học Đầu tư cho đề
cương nghiên cứu khoa học là đầu tư hiệu quả nhất
5 Đánh giá đề cương nghiên cứu khoa học là việc xem xét đánh giá về tý
tưởng khoa học, tính mới, tính cấp thiết và tính khả thi của đề tài nghiên cứu khoa
học Việc đánh giá đề cương nghiên cứu khoa học có vai trò quan trọng trong công
tác nghiên cứu khoa học ở bất kỳ cơ quan, đơn vị nào
Trang 29CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VIỆC SỬ DỤNG CÁC MẪU ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU
KHOA HỌC VÀ VIỆC ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG ĐỀ CƯƠNG
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TẠI TỔNG CỤC DS-KHHGĐ
2.1 Công tác xây dựng đề cương nghiên cứu khoa học
2.1.1 Quy định về việc xây dựng đề cương nghiên cứu khoa học của Tổng cục
Theo Thông tư số 37/2010 – BYT ngày 16 tháng 8 năm 2010 của Bộ y tế
quy định về quản lý đề tài nghiên cứu khoa học và dự án sản xuất thử nghiệm có
nêu rõ:
“ - Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ Y tế là vấn đề khoa học, công nghệ
cần được nghiên cứu để nắm được bản chất, nguyên lý, tìm ra giải pháp, tạo ra kỹ
thuật, công nghệ nhằm phục vụ cho mục tiêu bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân,
được Hội đồng khoa học công nghệ cấp Bộ tư vấn xác định, tuyển chọn và lãnh đạo
Bộ Y tế phê duyệt theo quy định tại Thông tư này
- Tư vấn xác định đề tài nghiên cứu là việc xác định tên, mục tiêu chính và
kết quả dự kiến đạt được của đề tài.”
Như vậy, Thông tư này chính là điều kiện pháp lý và là cơ sở khoa học dẫn
dắt cho công tác xây dựng đề cương nghiên cứu khoa học Thông tư cũng xác định
rõ các nguyên tắc xác định đề tài nghiên cứu như Điều 3 và những yêu cầu cần phải
đạt được của một đề tài như Điều 5 đã viết:
“Điều 3: Nguyên tắc xác định đề tài nghiên cứu
1 Các đề tài, dự án sản xuất thử nghiệm được xác định dựa trên:
a) Chiến lược, Chương trình mục tiêu quốc gia, Chương trình hành động và
kế hoạch phát triển ngành y tế;
b) Được đề xuất từ hoạt động nghiên cứu khoa học, sản xuất, dịch vụ, quản
lý của các tổ chức và cá nhân; từ chương trình phối hợp giữa Bộ Y tế và Bộ, ngành
khác hoặc từ các hoạt động hợp tác quốc tế về khoa học công nghệ trong lĩnh vực
sức khỏe
Trang 30c) Ưu tiên thực hiện các đề tài, một nhóm đề tài giải quyết được một vấn đề
có giá trị kinh tế xã hội hoặc nâng cao trình độ khoa học công nghệ của ngành y tế
2 Bộ trưởng Bộ Y tế xác định các đề tài của ngành y tế trên cơ sở Hội đồng
khoa học công nghệ tư vấn cho Bộ trưởng Bộ Y tế bằng Biên bản họp hội đồng
được quy định tại Điều 9 của Thông tư này Trong trường hợp cần thiết, Bộ trưởng
Bộ Y tế trực tiếp xác định đề tài.”
“Điều 5 Yêu cầu đối với đề tài
1 Giá trị thực tiễn: đáp ứng được yêu cầu thực tiễn phát triển của ngành y tế
hoặc các lĩnh vực văn hóa, xã hội có liên quan đến sức khỏe
2 Giá trị khoa học:
a) Giải quyết được những vấn đề khoa học, công nghệ mới ở mức tiếp cận
trình độ tiên tiến của khu vực hoặc thế giới
b) Tổng kết những quy luật tự nhiên, văn hóa xã hội có liên quan đến sức khỏe
c) Góp phần nâng cao năng lực khoa học và công nghệ của ngành y tế
3 Tính khả thi: bảo đảm đủ nguồn lực để giải quyết được vấn đề nghiên cứu.”
Theo đó, khi Tổng cục DS – KHHGĐ vận dụng Thông tư này trong việc
triển khai nghiên cứu thì trước khi xác định nghiên cứu các nhà nghiên cứu đã có cơ
sở rõ được quy định về các nguyên tắc và yêu cầu Song, trên thực tế cùng có chung
định hướng nhưng các nhà nghiên cứu lại có những cách lập luận khác nhau và
khung đề cương nghiên cứu cũng khác nhau, thậm chí không đi theo định hướng
Điều đó chứng tỏ sự lúng túng trong việc đi theo một khuôn mẫu hay cũng do đặc
thù của tên đề tài triển khai mà không đi theo đúng hướng được Chính vì vậy, việc
chuẩn hoá các đề cương nghiên cứu là hết sức cần thiết trong tất cả các lĩnh vực
nghiên cứu
- Hàng năm Tổng cục đều yêu cầu các cá nhân, tập thể đăng ký đề tài nghiên
cứu khoa học phải gửi đề cương nghiên cứu
Nói chung, không có những quy tắc tuyệt đối trong phương pháp nghiên cứu
và trình bày kết quả nghiên cứu khoa học Các quy tắc này có thể thay đổi tuỳ
chuyên ngành, tuỳ cấp độ nghiên cứu cũng như tuỳ người hướng dẫn hoặc chịu
trách nhiệm khoa học của đề tài Mỗi nhà khoa học lại chịu những áp lực hành
Trang 31chính, quy định chuyên môn và thói quen nghiên cứu trong đơn vị và chuyên ngành
của mình.Vì vậy, mặc dù đã có quy định gửi đề cương nghiên cứu nhưng các mẫu
nghiên cứu lại có đặc thù khác nhau
- Trong các văn bản hướng dẫn Tổng cục chỉ yêu cầu phải làm rõ 8 mục chính:
+ Tên tác giả
+ Tên cơ quan chủ quản
+ Tên đề tài nghiên cứu
+ Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
+ Đối tượng tác động
+ Sản phẩm đầu ra
+ Thời gian thực hiện
+ Dự kiến kinh phí
- Các tác giả, đơn vị, tùy lĩnh vực nghiên cứu khoa học, tùy vào thói quen và
chuyên ngành được đào tạo, sẽ sử dụng mẫu đề cương nghiên cứu khoa học khác
nhau để xây dựng đề cương và chi tiết hóa 8 nội dung mà Tổng cục yêu cầu
- Có thể thấy rõ điều này qua các mẫu đề cương của một số đơn vị qua các ví
dụ sau:
+ Ngày 18/3/2013, Vụ truyền thông giáo dục đã có công văn số 66/TTGD về
việc đăng ký đề tài khoa học cấp Bộ năm 2013 Công văn này phúc đáp công văn số
41/TCCB ngày 04/3/2013 về việc đăng ký đề tài cấp Bộ năm 2013 Vụ truyền thông
– Giáo dục đăng ký những đề tài sau:
Đề tài 1: Thực trạng người cao tuổi và một số giải pháp chăm sóc người cao
tuổi ở Việt Nam
Đề tài 2: Kiến thức, thái độ và hành vi về sức khoẻ sinh sản vị thành niên và
một số yếu tố liên quan của học sinh phổ thông cơ sở (từ 11 đến 15 tuổi)
Đề tài 3: Thực trạng, nhu cầu cung cấp thông tin và đáp ứng về dịch vụ Dân
số/SKSS/KHHGĐ của nhóm dân di cư tại các khu công nghiệp, khu chế xuất
+ Ngày 19/3/2013, Vụ Cơ cấu và Chất lượng dân số có công văn 98/CCDS
về việc đăng ký đề tài khoa học cấp Bộ năm 2013 Theo đó, Vụ đã đăng ký 3 đề tài
nghiên cứu khoa học sau:
Trang 32Đề tài 1: Mối quan hệ giữa người cao tuổi và con cháu trong việc lựa chọn
giới tính thai nhi
Đề tài 2 Thực trạng tảo hôn ở một số dân tộc thiểu số
Đè tài 3 Đánh giá lợi ích của chương trình kế hoạch hóa gia đình tới sức
khỏe phụ nữ và trẻ em tại Việt Nam
Qua nghiên cứu 6 đề tài của 2 đơn vị (đã trích dẫn trên đây) và 7 đề tài của
các đơn vị khác thuộc Tổng cục DS-KHHGĐ (xin phép không trích dẫn và giới
thiệu ở đây), các đề xuất, thực chất là đề cương sơ lược của đề tài, đã được các đơn
vị thiết kế không theo một khuôn mẫu thống nhất, có rất nhiều thông tin được đưa
vào đề cương Tuy nhiên, căn cứ vào hướng dẫn của Tổng cục DS-KHHĐ, các đề
xuất đều có những phần sau:
+ Tính cấp thiết của đề tài
+ Mục tiêu nghiên cứu
+ Nội dung nghiên cứu
+ Dự kiến sản phẩm
+ Nhu cầu kinh phí để thực hiện
+ Nhân lực thực hiện
2.1.2 Những hạn chế của việc xây dựng đề cương nghiên cứu khoa học
Với việc hướng dẫn đăng ký đề tài nghiên cứu khoa học của Tổng cục, với
việc thiết kế đề cương nghiên cứu như trên, theo đó, khi hội đồng đánh giá, xét
duyệt đề tài đã gặp phải không ít khó khăn Thêm vào đó, nếu đề tài được xét duyệt,
đồng ý triển khai thực hiện, thì các tác giả khi bắt tay vào nghiên cứu sẽ đi theo
logic của đề cương nghiên cứu trên Nhưng trên thực tế có rất nhiều vấn đề cần
được nêu ra phân tích, bàn luận, kiến nghị như lịch sử nghiên cứu của nó như thế
nào, có cần đặt ra các giả thuyết nghiên cứu hay không, tác giả triển khai nó theo
phương pháp nào, kết cấu của nó ra sao?…thì khó có thể biết sắp xếp vào yếu tố
nào, hoặc nếu có sắp xếp được thì cũng do quan điểm của từng tác giả thấy phù hợp
ở mục nào thì đưa vào mục đó Cho nên khi Hội đồng thẩm định đề cương chấm
điểm cho các tiêu chí rất khó tìm kiếm xem nó nằm ở đâu trong các yếu tố trên
Cũng có nhiều đề tài trả lời hết câu hỏi đó bằng cách đưa vào phần nội dung nghiên
Trang 33cứu dẫn tới phần nội dung quá dài, ôm đồm nhiều kiến thức bị trùng lặp, cứ như vậy
trong cái vòng luẩn quẩn của vấn đề mà khó trình bày một cách tường minh được
Hơn bao giờ hết, khoa học phải được chứng minh một cách rõ ràng, có chứng cứ cụ
thể, được chứng minh qua các luận cứ, giả thiết …thuyết phục thì mới có thể tạo
thành quy luật và đem áp dụng thực tế được Đồng thời cũng tạo ra một môi trường
làm việc có sự phối hợp hợp tác thuận lợi giữa tác giả nghiên cứu và Hội đồng thẩm
định để giảm bớt thời gian, sức lực và chi phí cho một đề tài
Có thể tóm tắt các hạn chế của việc xây dựng đề cương nghiên cứu như sau:
- Nhiều mẫu đề cương được các tác giả sử dụng: Có thể thấy rõ điều này, khi
chỉ với 13 đề cương mang ra bàn luận đã có tới 3 mẫu đề cương
- Mỗi mẫu đề cương được viết và khai thác theo các cách khác nhau
- Cùng một đề tài nghiên cứu khoa học nhưng do 2 tác giả khác nhau viết với
2 mẫu đề cương khác nhau;
- Nhiều nội dung quan trọng rất cần được đặt ra trong đề cương nhưng không
được yêu cầu:
+ Lịch sử của đề tài nghiên cứu chưa được quan tâm đúng mức
+ Hầu hết các đề cương đều không nêu Mục tiêu của đề tài Nhiều đề cương
nêu mục tiêu nhưng thực chất là mục đích
+ Các giới hạn về nội dung, phạm vi, các luận cứ, luận điểm của đề tài
nghiên cứu chưa được yêu cầu xác định rõ…
2.2 Công tác đánh giá đề cương nghiên cứu khoa học
2.2.1 Hội đồng khoa học và các quy định về việc đánh giá, xét duyệt đề tài
nghiên cứu khoa học
- Hội đồng khoa học được thành lập, trong Quyết định thành lập Hội đồng đã
nêu rõ nhiệm vụ của Hội đồng cũng như cách thức làm việc của Hội đồng:
“Điều 7 Hội đồng khoa học công nghệ tư vấn xác định đề tài, dự án SXTN
1 Hội đồng khoa học công nghệ tư vấn xác định đề tài, dự án SXTN (sau
đây gọi là Hội đồng xác định) là tổ chức được thành lập để tư vấn cho Bộ trưởng Bộ
Y tế trong việc xác định đề tài, dự án SXTN đưa ra tuyển chọn, xét chọn
Trang 342 Bộ trưởng Bộ Y tế quyết định thành lập, quy định chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn và hoạt động của Hội đồng xác định
3 Hội đồng có 7-11 thành viên, thành phần của Hội đồng gồm Chủ tịch, Phó
chủ tịch, hai ủy viên phản biện và các ủy viên Cơ cấu của Hội đồng gồm:
a) 1/2 là các chuyên gia có trình độ, chuyên môn phù hợp và có ít nhất 3 năm
kinh nghiệm hoạt động trong chuyên ngành khoa học được giao tư vấn;
b) 1/2 là đại diện các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức sản xuất kinh doanh
và các tổ chức khác có liên quan
Điều 8 Phương thức làm việc của Hội đồng xác định
1 Phiên họp của Hội đồng phải có mặt ít nhất 2/3 số thành viên của Hội
đồng, trong đó phải có Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch, ý kiến bằng văn bản của thành
viên vắng mặt chỉ có giá trị tham khảo
2 Chủ tịch Hội đồng (phó Chủ tịch Hội đồng thay thế trong trường hợp Chủ
tịch Hội đồng vắng mặt) chủ trì các phiên họp của Hội đồng, Hội đồng làm việc
theo nguyên tắc dân chủ, khách quan; chịu trách nhiệm cá nhân về tính khách quan,
tính chính xác đối với những ý kiến tư vấn độc lập và trách nhiệm tập thể về kết
luận chung của Hội đồng
Điều 9 Trình tự, nội dung và kết quả làm việc của Hội đồng xác định
Hội đồng xác định thực hiện nhiệm vụ tư vấn xác định đề tài, dự án SXTN cấp Bộ
Y tế thông qua hai phiên họp:
1 Phiên họp xác định danh mục đề tài, dự án SXTN
a) Hội đồng thảo luận, phân tích từng đề tài, dự án SXTN trong Danh mục sơ
bộ (Phụ lục 1 biểu A4 DMSB ban hành kèm theo Thông tư này) theo các nguyên
tắc và tiêu chí nêu tại Điều 3, Điều 5 và Điều 6 của Thông tư này
b) Thành viên Hội đồng đánh giá từng đề tài, dự án SXTN theo quy định tại
Phụ lục 1 Biểu A5 PĐG ban hành kèm theo Thông tư này
c) Hội đồng bầu Ban kiểm phiếu gồm 03 thành viên, trong đó có 1 Trưởng
ban Kết quả kiểm phiếu tổng hợp theo quy định tại Phụ lục 1 biểu A6 BBKPĐT
đối với đề tài và Phụ lục 1 Biểu A7 BBKPDASXTN đối với dự án SXTN ban hành
kèm theo Thông tư này
Trang 35d) Trên cơ sở kết quả làm việc của Ban kiểm phiếu, Hội đồng xác định danh
mục các đề tài, dự án SXTN theo thứ tự ưu tiên Đề tài, dự án SXTN được Hội đồng
đề nghị đưa vào Danh mục phải được ít nhất 2/3 số thành viên Hội đồng tại phiên
họp bỏ phiếu "đề nghị thực hiện" và số thành viên này bảo đảm không ít hơn 1/2
tổng số thành viên Hội đồng Thứ tự ưu tiên đối với các đề tài, dự án SXTN được
sắp xếp dựa trên số lượng phiếu "đề nghị thực hiện" Trường hợp các đề tài, dự án
SXTN có số phiếu đề nghị bằng nhau, Hội đồng thống nhất theo nguyên tắc biểu
quyết trực tiếp để xếp thứ tự ưu tiên
đ) Hội đồng phân công 02 thành viên am hiểu sâu chuyên môn làm phản biện
cho từng đề tài, dự án SXTN trong Danh mục Trong trường hợp cần thiết, hội đồng
kiến nghị Bộ Y tế mời các phản biện không phải là thành viên Hội đồng Phản biện
có trách nhiệm hoàn thiện từng đề tài, dự án SXTN theo mẫu được quy định tại Phụ
lục 1 Biểu A8 PPBĐT đối với đề tài và Phụ lục 1 Biểu A9 PPBDASXTN đối với dự
án SXTN ban hành kèm theo Thông tư này để đưa ra thảo luận trong phiên họp thứ 2
2 Phiên họp hoàn thiện danh mục đề tài, dự án SXTN
a) Các thành viên phản biện trình bày ý kiến về các đề tài, dự án SXTN được
phân công theo quy định tại điểm đ, khoản 1 Điều này
b) Hội đồng thảo luận, góp ý và biểu quyết thông qua kết luận của Hội đồng
cho từng đề tài, dự án SXTN theo nguyên tắc quá bán
c) Thư ký khoa học lập Biên bản làm việc của Hội đồng và danh mục đề tài,
dự án SXTN đã được Hội đồng thông qua theo Phụ lục 1 Biểu A11 DM
ĐT,DASXTN ban hành kèm theo Thông tư này
d) Hội đồng kiến nghị về phương thức thực hiện (tuyển chọn hoặc xét chọn)
3 Danh mục đề tài, dự án SXTN được hoàn thành trước ngày 30/7 của năm
trước năm kế hoạch
4 Căn cứ kết quả làm việc của Hội đồng xác định, Vụ Khoa học và Đào tạo
tổng hợp và hoàn thiện danh mục đề tài, dự án SXTN cấp Bộ, trình lãnh đạo Bộ
xem xét phê duyệt.”
Như vậy có thể thấy, việc công tác đề xuất, xét duyệt các đề tài nghiên cứu
khoa học ở Tổng cục DS-KHHGĐ sẽ được hướng dẫn, tổ chức thực hiện bởi Hội
Trang 36đồng khoa học công nghệ của Tổng cục Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn và phương thức làm việc… của Hội đồng cũng đã được xác định rất rõ
2.2.2 Công tác đánh giá, xét duyệt đề tài nghiên cứu khoa học
Thực tế việc quy định, triển khai đăng ký, xét duyệt đề tài nghiên cứu khoa
học của Tổng cục DS-KHHGĐ được thực hiện như sau:
- Một trong các nhiệm vụ của Hội đồng khoa học là đánh giá đề cương để
tuyển chọn các đề tài đạt yêu cầu
- Mỗi năm, tổ chức đánh giá đề cương nghiên cứu khoa học một lần vào dịp
cuối năm
- Đề cương của các tác giả được gửi tới cho toàn bộ Hội đồng khoa học trước
1 tuần;
- Hội đồng khoa học họp và thống nhất lựa chọn các đề tài đạt yêu cầu theo
hình thức các thành viên có ý kiến và Chủ tịch hội đồng quyết định
- Với các đề tài do hơn 2 cá nhân đề xuất, Hội đồng sẽ gặp khó khăn hơn
trong việc quyết định
- Với các đề tài chưa rõ, Hội đồng sẽ yêu cầu tác giả trực tiếp trình bày
Dưới đây là mẫu phiếu đánh giá đề tài:
Trang 37Biểu 2.1
PHIẾU ĐÁNH GIÁ
ĐỀ TÀI ĐỀ XUẤT THỰC HIỆN NĂM
Thực hiện Kế hoạch Khoa học và Công nghệ của Bộ Y tế năm về việc
xây dựng kế hoạch và dự toán ngân sách KH&CN năm , Hội đồng Khoa học và
Công nghệ Tổng cục Dân số-KHHGĐ thực hiện quy trình tổng hợp các đề xuất
nghiên cứu cấp Bộ và cấp Quốc gia trong lĩnh vực Dân số-KHHGĐ do các đơn vị,
cá nhân thuộc Tổng cục đề xuất
1 Họ tên thành viên Hội đồng: ………
2 Đánh giá của thành viên Hội đồng (*):
Khi thành viên Hội đồng nhận được phiếu đánh giá trên cùng với bản đề xuất
của tác giả, đơn vị, thành viên Hội đồng sẽ ghi ý kiến đánh giá của mình vào ô
tương ứng bằng cách tích dấu (x) vào cột cương ứng Như vậy, việc đánh giá đề
cương hoặc là “đồng ý thực hiện”, hoặc là “không đồng ý thực hiện”
Sau khi phiếu đánh giá đề tài được từng thành viên hội đồng cho ý kiến, thư
ký hội đồng sẽ tổng hợp kết quả vào Biên bản kiểm phiếu đánh giá đề tài đề xuất
thực hiện của năm
Mẫu Biên bản kèm phiếu đánh giá đề tài đề xuất :
Trang 38Biểu 2.2
BIÊN BẢN KIỂM PHIẾU ĐÁNH GIÁ ĐỀ TÀI ĐỀ XUẤT THỰC HIỆN NĂM
Hội đồng chuyên ngành: Hội đồng Khoa học và Công nghệ Tổng cục Dân
số-KHHGĐ
1 Số phiếu phát ra: 2 Số phiếu thu về:
3 Số phiếu hợp lệ: 4 Số phiếu không hợp lệ:
“đề nghị thực hiện”
Được đưa vào danh sách
đề tài (*)
Gh chú
(*) Ghi “Đạt” vào ô tương ứng của cột này cho những nhiệm vụ được ít nhất 2/3 số
thành viên Hội đồng có mặt đánh giá “đề nghị thực hiện” và số thành viên này
không ít hơn 1/2 tổng số thành viên Hội đồng
BAN KIỂM PHIẾU
Trang 39Theo mẫu tổng hợp trên, thư ký hội đồng sẽ là người tổng hợp kết quả đánh
giá của từng hội đồng vào một biên bản chung Và nghi “Đạt” vào ô tương ứng của
cột này cho những nhiệm vụ được ít nhất 2/3 số thành viên Hội đồng có mặt đánh
giá “đề nghị thực hiện” và số thành viên này không ít hơn 1/2 tổng số thành viên
Hội đồng
2.2.3 Các hạn chế trong việc đánh giá đề cương:
Để các đề cương được thông qua và triển khai có hiệu quả phải thông qua
đánh giá đề cương Việc đánh giá này của Hội đồng khoa học hay Hội đồng thẩm
định nhằm khẳng định chất lượng đề cương có đạt hay không, có được thực thi hay
không, có đạt hiệu quả ứng dụng vào thực tế hay không…Chính vì vậy, cần có các
tiêu chí rõ ràng để đánh giá các đề cương chứ không chỉ dựa vào đánh giá cảm tính
của người phản biện, người nhận xét Song, trên thực tế, nhiều đề tài nghiên cứu có
phạm vi rộng, các vấn đề đặt ra ở mỗi lĩnh vực lại có đặc trưng khác nhau, do đó
vẫn còn tồn tại nhiều trong việc đánh giá đề cương Nhưng hạn chế ấy thể hiện ở
những điểm sau:
- Không thể cho điểm đề cương
+ Nhiều nội dung quan trọng vì không yêu cầu đưa vào đề cương nên không
được xem xét đánh giá
+ Lịch sử của đề tài nghiên cứu
+ Mục tiêu của đề tài
+ Phạm vi nghiên cứu;
+ Mẫu khảo sát,
+ Câu hỏi nghiên cứu,
+ Giả thuyết nghiên cứu,
+ Phương pháp chứng minh giả thuyết,
+ Nội dung nghiên cứu,
+ Kết cấu đề tài
- Có sự khác nhau rất nhiều cách viết đề cương của các tác giả
+ Có đề cương viết viết dài dưới dạng đề cương chi tiết