Các thuộc tính của hàng hóa - Trong mỗi hình thái kinh tế xã hội khác nhau thì sản xuất hàng hóa có bản chất khác nhau, nhưng một vật sản xuất ra khi đã mang hình thái là hàng hóa thì đ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
�㵞�㵞�㵞�㵞�㵞 Viện Thương mại và Kinh tế Quốc tế
BÀI TẬP LỚN
Học phần : Kinh tế Chính trị Mác - Lênin
Đề tài: “Lý luận về giá trị và vận dụng trong việc nâng cao
năng lực cạnh tranh của kinh tế Việt Nam.’’
Họ và tên: Nguyễn Thị Lan
Mã sinh viên: 11217544
Lớp học phần: Kinh tế Chính trị Mác – Lênin (221_10)
Giáo viên hướng dẫn: PGS TS Tô Đức Hạnh
HÀ NỘI - 4/2022
Trang 2I Lý luận về giá trị hàng hóa
1 Lý luận về giá trị hàng hóa và hai thuộc tính của hàng hóa
1.1 Khái niệm
- C Mác đã xác định: "Giá trị hàng hoá là lao động trừu tượng kết tinh trong hàng hoá" Hàng hóa là sản phẩm của lao động
mà có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán
- Hàng hóa được biểu hiện dưới hai dạng Đó có thể là vật hữu hình như kim loại, đồ ăn; hay những phi vật thể vô hình như dịch vụ thương mại, giải trí
1.2 Các thuộc tính của hàng hóa
- Trong mỗi hình thái kinh tế xã hội khác nhau thì sản xuất hàng hóa có bản chất khác nhau, nhưng một vật sản xuất ra khi đã mang hình thái là hàng hóa thì đều có hai thuộc tính cơ bản là giá trị và giá trị sử dụng
a Giá trị sử dụng
“Giá trị sử dụng là công dụng của vật phầm có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người" Bất cứ hàng hóa nào
cũng có một hay một số công dụng nhất định Chính công dụng đó làm cho hàng hóa có giá trị sử dụng Giá trị sử dụng đến tay người tiêu dùng thông qua trao đổi mua bán Điều đó đòi hỏi người sản xuất hàng hóa phải luôn luôn quan tâm đến nhu cầu của xã hội, làm cho sản phẩm của mình đáp ứng được nhu cầu của xã hội thì hàng hóa của họ mới bán được Trong nền sản xuất hàng hóa giá trị sử dụng là vật mang giá
Trang 3trị trao đổi, người ta không trao đổi những vật phẩm không có giá trị sử dụng
Giá trị sử dụng chỉ thể hiện ở việc sử dụng hay tiêu dùng Nó là nội dung vật chất của của cải Giá trị sử dụng là phạm trù vĩnh viễn Giá trị sử dụng nói ở đây với tư cách là thuộc tính của hàng hoá, nó không phải là giá trị sử dụng cho bản thân người sản xuất hàng hoá, mà là giá trị sử dụng cho người khác, cho xã hội thông qua trao đổi - mua bán
VD: Công dụng của quạt là mát, vậy giá trị sử dụng của quạt
là để mát
Giá trị sử dụng của hàng hóa là do những thuộc tính tự nhiên (lý, hóa) của vật thể hàng hóa quyết định, do đó, giá trị
sử dụng là một phạm trù vĩnh viễn
VD: Thuộc tính tự nhiên của nước là chất lỏng không màu không mùi, không vị, do vậy mà nó có thể dùng trong sinh hoạt, trong sản xuất công-nông nghiệp
Giá trị sử dụng của hàng hóa được phát hiện dần dần trong quá trình phát triền của khoa học - kỹ thuật và của lực lượng sản xuất Vì vậy, khi xã hội càng tiến bộ, lực lượng sản xuất càng phát triển thì số lượng giá trị sử dụng ngày càng nhiều, chủng loại giá trị sử dụng càng phong phú, chất lượng giá trị sửa dụng ngày càng cao
Giá trị sử dụng của hàng hóa là giá trị sử dụng cho xã hội, cho người khác chứ không phải cho người sản xuất trực tiếp ra nó
b Giá trị:
Trang 4Muốn hiểu được giá trị hàng hóa phải đi từ giá trị trao đổi Giá trị trao đổi là quan hệ tỷ lệ về lượng mà giá trị sử dụng này trao đổi với giá trị sử dụng khác
VD: 1 đèn dầu = 10 kg thóc
Đèn dầu và thóc là hai hàng hóa có giá trị sử dụng khác nhau về chất, tại sao chúng lại có thể trao đổi được với nhau
và theo một tỷ lệ nhất định nào đó?
Khi hai hàng hóa trao đổi được với nhau thì giữa chúng phải có một cơ sở chung Cái chung đó không phải là giá trị sử dụng, vì giá trị sử dụng của đèn dầu là để thắp sáng, giá trị sử dụng của thóc là để ăn Cái chung đó là: cả đèn dầu và thóc đều là sản phầm của lao động, đều có lao động kết tinh trong
đó Nhờ có cơ sở chung đó mà các hàng hóa có thể trao đổi được với nhau
Như vậy, hàng hóa là sự thống nhất của hai thuộc tính giá trị và giá trị sử dụng, nhưng đây là sự thống nhất của hai mặt đối lập Nếu gạt giá trị sử dụng của sản phẩm sang một bên, thì giữa chúng chỉ còn một cái chung làm cơ sở cho quan hệ trao đổi Đó là chúng đều là sản phẩm của lao động Để sản xuất ra đèn hoặc thóc, những người sản xuất đều phải hao phí lao động Chính hao phí lao động ẩn giấu trong hàng hoá làm cho chúng có thể so sánh được với nhau khi trao đổi Chúng được trao đổi theo một tỷ lệ nhất định, một số lượng đèn dầu
ít hơn đổi lấy một lượng thóc nhiều hơn (1 đèn dầu=10 kg thóc); nhưng lượng lao động hao phí để sản xuất ra chúng là ngang bằng nhau Lao động hao phí để sản xuất ra hàng hoá
ẩn giấu trong hàng hoá chính là cơ sở để trao đổi
=>Vậy giá trị là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá
Trang 5kết tinh trong hàng hoá Chất của giá trị là lao động, vì vậy sản phẩm nào không có lao động của người sản xuất chứa đự
ng trong đó, thì nó không có giá trị Sản phẩm nào lao động hao phí để sản xuất ra chúng càng nhiều thì giá trị càng cao
c Mối quan hệ giữa giá trị và giá cả
C Mác cho rằng sản phẩm lao động mang giá trị sử dụng
và giá trị tiểm năng - phần giá trị của sản phẩm dôi ra mà cá thể tạo ra chúng nhưng không tiêu thụ hết Khi tham gia vào quá trình trao đổi giá trị sử dụng giãn rộng ra phần giá trị tiềm năng và tạo thành giá trị trao đổi Có thể hiểu rằng, giá trị trao đổi vẫn chỉ là giá trị sử dụng trong quy mô xã hội, ở đó diễn ra sản xuất hàng hóa và trao đổi hàng hóa Giá trị sử dụng được biểu hiện bằng tiền nếu xã hội áp dụng định chế tiền tệ, đó là giá cả Xuất phát từ đây ý nghĩa về quy luật giá
trị, hay là "giá cả xoay quanh giá trị" Có thể suy ra rằng sự
chênh lệch giữa giá trị và giá cả chính là phần giá trị tiềm năng Như vậy phạm trù giá trị không chi thu hẹp trong phạm
vi trao đổi vì giá trị tiềm năng chưa thuộc quan hệ trao đổi
1.3 Lượng giá trị của hàng hóa
Chất giá trị hàng hóa là lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa Vậy lượng giá trị của hàng hóa là do lượng lao động hao phí để sản xuất ra hàng hóa đó quyết định
a Lượng giá trị hàng hóa
Giá trị hàng hóa được xét cả về mặt chất lẫn mặt lượng + Chất giá trị hàng hóa là lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa
Trang 6+ Lượng giá trị của hàng hóa là lượng lao động hao phí
để sản xuất hóa đó
Lượng lao động hao phí được đo bằng thời gian nên lượng giá trị hóa cũng do thời gian lao động quyết định
Mỗi chủ thể kinh tế có một lượng hao phí lao động thực
tế nhất định sản xuất hàng hóa, đó là thời gian lao động cá biệt Nhưng thời gian lao động cá biệt chỉ xác định giá trị cá biệt của hàng hóa Giá trị của hang hóa được tính bằng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất hàng hóa
=> Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian cần thiết
để sản xuất hóa trong điều kiện trung bình của xã hội, với trình độ kĩ thuật trung bình, tức là với một trình độ kỹ thuật trung bình, trình độ khéo léo trung bình và cường độ lao động trung bình so với hoàn cảnh xã hội nhất định Vậy thực chất, thời gian lao động xã hội cần thiết là mức hao phí lao động xã hội trung bình đề sản xuất ra hàng hóa Thời gian lao động xã hội cần thiết có thể thay đổi Do đó, lượng giá trị của hàng hóa cũng thay đổi
b Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa
Thời gian hao phí lao động xã hội cần thiết không phải là một đại lượng cố định mà luôn luôn thay đổi, do đó lượng giá trị hàng hóa cũng thay đổi theo, sự thay đổi này phụ thuộc vào các nhân tố:
- Thứ nhất, năng suất lao động
Năng suất lao động là năng lực sản xuất của lao động, được tính bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn
vị thời gian hoặc số lượng thời gian cần thiết đề sản xuất ra một đơn vị sản phẩm Năng suất lao động tăng lên có nghĩa là
Trang 7cũng trong một thời gian lao động, nhưng khối lượng hàng hóa sản xuất ra tăng lên làm cho thời gian lao động cần thiết
để sản xuất ra một đơn vị hàng hóa giảm xuống Do đó, khi năng suất lao động tăng lên thì giá trị của một đơn vị hàng hóa sẽ giảm xuống và ngược lại
Giá trị của hàng hóa tỷ lệ nghịch với năng suất lao động Năng suất lao động lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:
+ Trình độ khéo léo trung bình của người công nhân
+ Mức độ phát triển của khoa học, kỹ thuật, công nghệ
+ Mức độ ứng dụng những thành tựu khoa học, kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất
+ Trình độ tổ chức quản lý
+ Quy mô và hiệu xuất của tư liệu sản xuất
+ Các điều kiện tự nhiên
Muốn tăng năng suất lao động phải hoàn thiện các yếu tố trên
Trong kinh tế thị trường, cạnh tranh về giá cả là quan trọng nhất Để cạnh tranh về giá cả với nhà sản xuất khác thì phải tăng năng suất lao động cá biệt vì nó làm giảm lượng giá trị cá biệt của một đơn vị hàng hoá xuống thấp hơn lượng giá trị xã hội của nó lớn hơn giá cả bán hàng hóa có thể rẻ hơn của người khác mà vẫn thu lợi nhuận ngang, thậm chí cao hơn
- Thứ 2, mức độ phức tạp của lao động
Theo mức độ phức tạp của lao động, có thể chia lao động thành lao động giản đơn và lao động phức tạp
Trang 8Lao động giản đơn là lao động mà bất kì một người bình thường nào có khả năng lao động cũng có thể thực hiện được
Lao động phức tạp là lao động đòi hỏi phải được đào tạo, huấn luyện thành lao động chuyên môn lành nghề mới có thể tiến hành được Trong cùng một thời gian lao động thì lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn lao động giản đơn Trong quá trình trao đổi hàng hóa, mọi lao động phức tạp đều được quy thành lao động giản đơn trung bình Đây là một
cơ sở quan trọng để các nhà quản trị quyết định về mức thù lao của từng nhân công trong quá trình thực hiện các hoạt động kinh tế
Như vậy, lượng giá trị của hàng hoá được đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiết, giản đơn trung bình
II Thực trạng nền kinh tế nước ta hiện nay:
1 Khái quát nền kinh tế hiện nay
Hiện nay, việc phát triển kinh tế hàng hoá vẫn không ngừng được đẩy mạnh và đạt được những thành tựu rực rỡ theo định hướng chủ nghĩa xã hội Nền kinh tế thế giới đang ngày một phát triển với tốc độ thần kì, thị trường hàng hóa đang ngày càng rộng mở với số lượng khổng lồ và chủng loại
đa dạng, phong phú đến từ khắp mọi nơi trên thế giới Hòa mình vào không khí nhộn nhịp đó, Việt Nam chúng ta cũng đang trong tiến trình hội nhập và phát triển, xây dựng nền kinh tế thị trường có điều tiết, sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường ngày càng tăng cao, đặc biệt là cạnh tranh về giá cả của hàng hoá
Trang 9Nền kinh tế đã có những yếu tố của một nền kinh tế hàng hoá, hội nhập quốc tế nhưng vẫn đảm bảo tính định hướng đi lên Xã hội Chủ nghĩa Nền kinh tế phát triển một cách đồng bộ, toàn diện các loại thị trường, quy mô trao đổi ngày càng được mở rộng, nền kinh tế trong nước có sự giao lưu, gắn bó và tác động qua lại với nền kinh tế các nước trên thế giới thông qua việc hợp tác trong các tổ chức quốc tế như hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) là thành viên sáng lập của diễn đàn tinh tế Á-Â (ASEM), trở thành thành viên của diễn đàn hợp tác kinh tế chấu Á-THÁI BÌNH DƯƠNG (APEC) và đặc biệt là gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO), đánh dấu sự hội nhập sâu và toàn diện hơn vào nền kinh tế toàn cầu
Và cũng nhờ những quan điểm, lý luận mà C Mác đã đưa
ra về hàng hóa và giá trị hàng hóa, chúng ta biết rằng, để nâng cao năng lực cạnh tranh nhờ vào việc giảm giá trị cá biệt của hàng hóa bằng cách tăng năng suất lao động lên Năng suất lao động phụ thuộc vào các yếu tố: trình độ thành thạo của người lao động; mức độ phát triển của khoa học, kỹ thuật, công nghệ; mức độ ứng dụng những thành tựu khoa học, kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất; trình độ tổ chức quản lý; quy mô và hiệu suất của tư liệu sản xuất; các điều kiện tự nhiên khác…
Thứ nhất, về trình độ thành thạo của người lao động.
Ưu thế của nền sản xuất hàng hóa của nước ta đó là có nguồn lao động dồi dào, nhìn chung dân số trẻ Người lao động nước ta khá cần cù, sáng tạo, có kinh nghiệm sản xuất Đặc biệt là giá nhân công của nước ta lại rẻ, đây
Trang 10chính là điều kiện thuận lợi làm cho giá thành sản phẩm của doanh nghiệp Việt Nam rẻ hơn so với các nước khác
Theo số liệu do Tổng cục thống kê cung cấp, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ từ sơ cấp trở lên quý I năm 2021 là 26,0%, cao hơn 0,2 điểm phần trăm
so với quý trước và cao hơn 0,8 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước
Tỷ lệ qua đào tạo của lao động giữa khu vực thành thị và nông thôn vẫn có sự chênh lệch đáng kể Tỷ lệ này ở khu vực thành thị đạt 40,7% cao hơn gấp 2,3 lần khu vực nông thôn (17,8%)
Thứ hai, về mức độ phát triển của khoa học, kỹ thuật, công nghệ và mức độ ứng dụng những thành tựu khoa học, kỹ
thuật, công nghệ vào sản xuất
Thực tế chỉ ra rằng, ở Việt Nam sản xuất vẫn dựa vào lao động tay chân của công nhân là chủ yếu, đặc biệt là trong lĩnh vực nông- lâm- ngư nghiệp và ở các doanh nghiệp nhỏ, tư nhân, kinh doanh hộ gia đình Việt Nam đang rất tích cực đẩy mạnh việc đưa những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học 4.0 vào trong sản xuất để tạo ra năng suất lớn nhất
Chính phủ đưa ra những chính sách để ưu tiên, thúc đẩy việc nghiên cứu, phát triển, ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất Trong bối cảnh dịch bệnh covid-19 căng thẳng như những năm gần, công nghệ số lại khẳng định rõ ràng vị thế của mình hơn bao giờ hết,
nó được coi như “chiếc phao cứu sinh” để cho hoạt động
sản xuất không bị đứt gãy Khi mà hầu hết các doanh
Trang 11nghiệp phải đóng cửa, muốn duy trì hoạt động của mình bắt buộc phải thông qua hình thức trực tuyến, online và chuyển đổi số đang trở thành xu hướng
Các doanh nghiệp Việt Nam nói chung, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn chưa nhận thức đúng vai trò
chuyển đổi số Theo khảo sát Hiệp hội Phần mềm và Dịch vụ công nghệ thông tin Việt Nam, hiện cả nước chỉ
có khoảng 15% doanh nghiệp đang áp dụng chuyển đổi số
Thứ ba, về trình độ tổ chức quản lý và quy mô, hiệu suất của
tư liệu sản xuất.
Trình độ quản lý của các doanh nghiệp và tổ chức sản xuất ở nước ta càng được cải thiện Đi đôi với trình độ học vấn của các sinh siên ra trường, yêu cầu về trình độ ngoại ngữ, tin học hay kỹ năng mềm của các trường đã tạo ra cho nền kinh tế nhiều nhà quản trị giỏi hơn, biết cách tổ chức quản lý có hiệu quả hơn Các dây chuyền sản xuất trong nước đang ngày một đổi mới và được thay thế bằng nhiều máy móc, thiết bị hiện đại hơn Cơ sở vật chất kỹ thuật và cơ sở hạ tầng ngày càng được mở rộng
và cải thiện
Thứ tư, các điều kiện tự nhiên khác
Những năm gần đây, nền kinh tế thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng đều bị ảnh hưởng sâu sắc bởi đại dịch Covid-19 Dịch bệnh đã làm cho sự tăng trưởng kinh tế Việt Nam giảm sút nghiêm trọng, các ngành, nghề đều bị ảnh hưởng, đặc biệt là lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ