Mà trong đó kể đến hai phương pháp sản xuất chính là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và tương đối được áp dụng rộng rãi nhất , nhằm tạo ra tư bản để tích lũy và tái mở rộ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN Khoa Bất động sản và Kinh tế tài nguyên
*********
BÀI TẬP LỚN
Học phần: Kinh tế chính trị Mác – Lênin
ĐỀ TÀI: LÝ LUẬN VÈ GIÁ TRỊ THẶNG DƯ VÀ VẬN DỤNG ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN MAY SỒNG HỒNG
Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS Tô Đức Hạnh
Sinh viên : Đinh Thu Huyền
Mã sinh viên : 11217368
Lớp tín chỉ : LLNL1106(221)_18
Hà Nội, 2022
Trang 2
MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 3
PHẦN I: LÝ LUẬN VỀ GIÁ TRỊ THẶNG DƯ 3
1 Nguồn gốc, bản chất của giá trị thặng dư 3
2.Các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư 4
2.1 Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối 4
2.2 Sản xuất giá trị thặng dư tương đối 6
PHẦN II: THỰC TRẠNG VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN SÔNG HỒNG 8
1 Tổng quan về công ty cổ phần may Sông Hồng 8
2 Thực trạng hiệu quả kinh doanh 9
2.1 Doanh thu và lợi nhuận 9
2.2.Tình hình xuất –nhập khẩu 10
2.3.Hàng tồn kho 11
4.Hạn chế và nguyên nhân 11
PHẦN III: NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN SÔNG HỒNG 12
KẾT LUẬN 13
TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong đời sống xã hội từ trước đến nay , kinh tế chính trị Mác – Lenin vẫn luôn đóng một vai trò quan trọng Trong bối cảnh đổi mới như hiện nay , công nghiệp hóa hiện đại hóa , hội nhập quốc tế sâu rộng , nghiên cứu kinh tế chính trị Mác – Lenin càng là vấn đề được đặt ra bức thiết , nhằm khắc phục lạc hậu về lý luận , góp phần hình thành tư duy kinh tế mới Công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của Việt Nam đòi hỏi phải gắn liền với các phạm trù và các quy luật kinh tế của nó Vì vậy , nói rằng học thuyết giá trị thặng
dư là “ hòn đá tảng ” trong toàn bộ lí luận kinh tế của C.Mác quả thật rất đúng Nghiên cứu học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác , toàn bộ bí mật của nền kinh tế
tư bản chủ nghĩa được vạch trần , phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được nêu
ra một cách chính xác Mà trong đó kể đến hai phương pháp sản xuất chính là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và tương đối được áp dụng rộng rãi nhất , nhằm tạo ra tư bản để tích lũy và tái mở rộng sản xuất , đưa xã hội ngày càng phát triển Chúng được các doanh nghiệp vận dụng rất nhiều Vì vậy tôi chọn đề tài
“Lý luận về giá trị thặng dư và vận dụng nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công
ty Cổ phần may Sông Hồng ” 2.Mục đích nghiên cứu đề tài
Quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân của nước ta đang ngày càng phát triển
Vì vậy , việc nghiên cứu sản xuất giá trị thặng dư gợi ra cho nhà hoạch định chính sách phương thức làm tăng của cải , thúc đẩy phát triển kinh tế
Nghiên cứu hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư nhằm liên hệ với ngành kinh tế nước nhà , không ngừng phát triển nền kinh tế địa phương – đưa Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 43 Phương pháp nghiên cứu
Phân tích , nghiên cứu lý thuyết : thu thập , phân tích ,so sánh, xử lý và tổng hợp tài liệu; phân tích thực tiễn để nhìn rõ thực trạng và đề xuất giải pháp; dẫn chứng
cụ thể; cùng với việc tìm tòi và thu thập các tài liệu liên quan đến học phần Kinh tế chính trị từ Wikipedia , giáo trình bộ môn , những vấn đề liên quan đến đề tài được rõ ràng và hiệu quả nhất
4 Ý nghĩa của đề tài
Qua việc nghiên cứu đề tài này , cá nhân tôi muốn tìm hiểu sâu và làm rõ hơn hai phương pháp sản xuất của giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa Từ đó , vận dụng vào việc phát triển kinh doanh cho doanh nghiệp Sông Hồng nói riêng , Việt Nam nói chung Ngoài ra , qua tìm hiểu , hiểu biết của chính bản thân tôi cũng đang được nâng cao từng ngày , giúp cải thiện hơn trong quá trình học tập và tiến tới một kết quả đầy tốt đẹp
5 Cấu trúc bài tập lớn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận , nội dung bài tập lớn gồm 3 phần như sau : Phần 1 : Tổng quan về giá trị thặng dư , hai phương pháp sản xuất của giá trị thặng
dư trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa
Phần 2 : Thực trạng về hiệu quả kinh doanh của Công ty Cổ phần may Sông Hồng Phần 3: Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty
Cổ phần may Sông Hồng
Trang 5NỘI DUNG PHẦN I: LÝ LUẬN VỀ GIÁ TRỊ THẶNG DƯ
1 Nguồn gốc, bản chất của giá trị thặng dư
Để tiến hành sản xuất, nhà tư bản phải mua sức lao động và tư liệu sản xuất Vì tư liệu sản xuất và sức lao động do nhà tư bản mua, nên trong quá trình sản xuất, người công nhân làm việc dưới sự kiểm soát của nhà tư bản và sản phẩm làm ra thuộc sở hữu của nhà tư bản
Sản xuất tư bản chủ nghĩa là quá trình tạo ra giá trị tăng thêm cho nhà tư bản khi năng suất lao động đạt tới trình độ nhất định – chỉ cẩn một phần của ngày lao động người công nhân làm thuê đã tạo tra giá trị bằng giá trị sức lao động của chính mình
Bằng lao động cụ thể của mình, công nhân sử dụng các tư liệu sản xuất và chuyển giá trị của chúng vào sản phẩm; và bằng lao động trừu tượng, công nhân tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động, phần lớn hơn đó được gọi là giá trị thặng dư Giá trị hàng hóa (W) được sản xuất ra gồm hai phần: giá trị những tư liệu sản xuất
đã hao phí được lao động cụ thể bảo tồn và chuyển vào sản phẩm (giá trị cũ, ký hiệu c) và giá trị mới (v+m) do lao động trìu tượng của công nhân tạo ra (lớn hơn giá trị hàng hóa sức lao động) Phần giá trị mới do lao động sống tạo thêm ra ngoài giá trị hàng hóa sức lao động, được nhà tư bản thu lấy mà không trả cho người lao động, được gọi là giá trị thặng dư (m) Nói đơn giản hơn, giá trị thặng dư chính là phần giá trị dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công nhân làm thuê tạo ra và bị nhà
tư bản chiếm hết
Như vậy, lao động sống là nguồn gốc tạo ra giá trị thặng dư hay giá trị thặng dư có
được là do hao phí lao động tạo ra.
Trang 6Giá trị thặng dư được Mác nghiên cứu dưới góc độ hao phí lao động Trong đó công nhân làm thuê sản xuất nhiều giá trị hơn chi phí được trả cho họ Đây là yếu
tố được quy định bởi tiền lương tối thiểu chỉ đủ cho họ sinh sống với tư cách người lao động Đối với Mác sự bóc lột sức lao động chỉ có thể được loại bỏ khi nhà tư bản trả cho họ toàn bộ giá trị mới được tạo ra Ví dụ minh chứng rõ nét nhất cho giá trị thặng dư đó là: giả sử một người lao động có trong tay giá trị nguyên vật liệu là 1000 đồng Trên cơ sở sức lao động đã bỏ ra, người lao động đó sẽ làm ra được sản phẩm mới có giá trị 1100 đồng Số tiền 100 chênh lệch đó chính là giá trị thặng dư sức lao động Tuy nhiên nhà tư bản chỉ trả lương cho anh ta 50 đồng/1 sản phẩm, có nghĩa 50 đồng còn lại là phần nhà tư bản chiếm của người lao động
2.Các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư
Đã có nhiều phương pháp được dùng để tạo ra giá trị thặng dư, nhưng C.Mác đã chỉ ra nhà tư bản sử dụng hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư là sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và sản xuất giá trị thặng dư tương đối Mỗi một phương pháp mang một đặc điểm, tính chất riêng, đặc trưng đại diện cho một trình độ khác nhau của giai cấp tư sản, cũng như từng giai đoạn lịch sử khác nhau của xã hội
2.1 Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối
Ở giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản, khoa học kĩ thuật còn thấp, tiến bộ sáng tạo rất chậm nên phương pháp chủ yếu để tăng giá trị thặng dư là kéo dài thời gian lao động của công nhân Nền kinh tế sản xuất chủ yếu dùng là lao động thủ công hoặc lao động với những máy móc giản đơn ở công trường thủ công
Như vậy, có thể hiểu: giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được do kéo dài ngày lao động vượt quá thời gian lao động cần thiết, trong khi năng suất lao động, giá trị sức lao động và thời gian lao động cần thiết không thay đổi
Trang 7Chẳng hạn, nếu ngày lao động là 8 giờ , thời gian lao động tất yếu là 4 giờ, thời gian lao động thặng dư là 4 giờ, tỷ suất giá trị thặng dư là 100% Giả định nhà tư bản kéo dài ngày lao động thêm 2 giờ nữa với mọi điều kiện không đổi thì giá trị thặng dư tuyệt đối sẽ tăng từ 4 giờ lên 6 giờ và tỷ suất giá trị thặng dư sẽ là: m’= 6 giờ/ 4 giờ * 100%= 150% Như vậy, khi kéo dài tuyệt đối ngày lao động trong điều kiện thời gian lao động tất yếu không thay đổi, thì thời gian lao động thặng dư tăng lên, nên tỷ suất giá trị thặng dư cũng vì thế mà tăng lên Trước đây, khi tỷ suất giá trị thặng dư là 100%, thì tại lúc này đã là 150%
Hoặc: Khi bạn thuê nhân công để thu hoạch 100kg dâu tây, bạn trả cho họ 200.000VND/ngày Tuy nhiên, nhân công chỉ mất có 4h để thu hoạch xong 100kg dâu tây mà bạn thuê họ cả ngày (8h) Do vậy, bạn cho họ thu hoạch tiếp thêm 4h nữa, vậy là bạn đã chiếm dụng 4 giờ lao động của nhân công Giá trị thặng
dư lúc này được tạo ra
Như vậy, với việc không ngừng muốn gia tăng giá trị thặng dư, nhà tư bản tìm mọi cách kéo dài ngày lao động, sử dụng cả phương pháp “bóc lột” nhằm mục đích sản xuất ra ở mức tối đa nhất
Tuy nhiên, bóc lột giá trị thặng dư tuyệt đối gặp phải hạn chế là không thể kéo dài
ngày lao động quá 24 giờ Công nhân phải tái sản xuất sức lao động như có thời
gian ăn, ngủ, nghỉ ngơi và giải trí Đồng thời cũng vấp phải sự đấu tranh ngày càng mạnh mẽ của công nhân Công nhân kiên quyết đấu tranh đòi rút ngắn ngày lao động Quyền lợi hai bên có mâu thuẫn, thông qua đấu tranh, tùy tương quan lực lượng mà tại các dân tộc trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể có thể quy định độ dài nhất định của ngày lao động
Thực chất, phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối chính là tăng cường độ
lao động.
Trang 82.2 Sản xuất giá trị thặng dư tương đối
Việc kéo dài ngày lao động bị giới hạn về thể chất và tinh thần của người lao động
và vấp phải cuộc đấu tranh ngày càng gay gắt của giai cấp công nhân Vì vậy, để khắc phục những vấn đề này, nhà tư bản đã áp dụng phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối vào sản xuất
Giá trị thặng dư tương đối được hiểu là giá trị thặng dư thu được nhờ rút ngắn thời gian lao động cần thiết, do đó kéo dài thời gian lao động thặng dư trong khi độ dài ngày lao động không thay đổi hoặc thậm chí rút ngắn
Chẳng hạn như: Nếu ngày lao động là 8 giờ, trong đó 4 giờ lao động cần thiết, 4 giờ lao động thặng dư thì tỷ suất giá trị thặng dư là 100 % Nếu giá trị sức lao động giảm khiến thời gian lao động cần thiết rút xuống còn 2 giờ thì thời gian lao động thặng dư sẽ là 6 giờ; khi đó, tỷ suất giá trị thặng dư sẽ là 300% Còn, nếu ngày lao động giảm xuống còn 6 giờ nhưng giá trị sức lao động giảm khiến thời gian lao động cần thiết rút xuống còn 1 giờ thì thời gian lao động thặng dư sẽ là 5 giờ; như vậy, tỷ suất giá trị thặng dư là 500%
Muốn rút ngắn thời gian lao động cần thiết thì phải tăng năng suất lao động xã hội đặc biệt ở các ngành sản xuất những tư liệu sinh hoạt cần thiết.Bởi thời gian lao động cần thiết bằng giá trị sức lao động, giá trị sức lao động gián tiếp bằng giá trị những tư liệu sinh hoạt trong công nhân , khi năng suất lao động xã hội tăng lên thì giá trị những tư liệu sinh hoạt giảm đồng nghĩa thời gian lao động cần thiết giảm, thời gian lao động thặng dư tăng, giúp nhà tư bản thu được nhiều giá trị thặng dư hơn
Thực chất phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối là tăng năng suất lao
động.
Trang 9Vì mục đích của các nhà tư bản là giá trị thặng dư tối đa do đó từng nhà tư bản cải biến kĩ thuật, tăng năng suất lao động để giảm giá trị cá biệt Trong quá trình đó, nếu những nhà tư bản nào có giá trị cá biệt của hàng hóa thấp hơn giá trị xã hội của hàng hóa đó thì sẽ thu được giá trị thặng dư lớn hơn vượt trội các nhà tư bản khác,
lượng giá trị thặng dư ấy còn gọi là giá trị thặng dư siêu ngạch.
Ví dụ, giá trị xã hội của 1 chiếc áo thun là 10$, có 3 doanh nghiệp cùng sản xuất A,B,C Do A áp dụng kĩ thuật hiện đại, đào tạo tay nghề công nhân tốt nên hao phí lao động cá biệt hay giá trị cá biệt để sản xuất ra 1 chiếc áo chỉ là 9$.Khi bán ra thị trường bằng giá trị xã hội là 10$, thì doanh nghiệp A ngoài phần giá trị thặng dư thu được còn nhận được thêm 1 phần giá trị thặng dư 10$-9$=1$ ,phần 1$ này chính là giá trị thặng dư siêu ngạch
Giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư tương đối
vì đều làm giảm thời gian lao động cần thiết bằng cách tăng năng suất lao động Xét trong từng trường hợp, giá trị thặng dư siêu ngạch là một hiện tượng tạm thời, xuất hiện rồi mất đi, nhưng xét trong toàn bộ xã hội tư bản thì nó lại là hiện tượng tồn tại thường xuyên
Như ví dụ về chiếc áo thun , ngoài doanh nghiệp A thì doanh nghiệp B,C khi cạnh tranh, họ cũng tìm tòi áp dụng công nghệ mới để hạ thấp giá trị cá biệt Ví dụ doanh nghiệp B kĩ thuật hiện đại hơn nữa nên giá trị cá biệt là 8$ khi đó ,doanh nghiệp B mới là doanh nghiệp có giá trị thặng dư siêu ngạch là 2$/1 áo thun
Như vậy, giá trị thặng dư siêu ngạch chính là động lực mạnh nhất giúp các nhà tư bản ra sức cải tiến kĩ thuật, tăng năng suất lao động
Tóm lại, mục đích sau cùng của các nhà tư bản dù ở giai đoạn nào cũng đều là sản xuất ra giá trị thặng dư tối đa Vì vậy, thay vì chọn một trong hai phương pháp, nhà
tư bản lựa chọn kết hợp, sử dụng nhiều phương pháp để tăng tỷ suất và khối lượng
Trang 10giá trị thặng dư Bằng cách tăng cường các phương tiện kỹ thuật và quản lý để bóc lột ngày càng nhiều sức lao động làm thuê, nhà tư bản đặt mục tiêu tạo ra một giá trị thặng dư với con số vượt bậc Máy móc hiện đại được áp dụng, các lao động chân tay bị cắt giảm nhưng điều đó không đi đôi với giảm nhẹ cường độ lao động của người công nhân Mà trái lại, do việc áp dụng máy móc không đồng bộ nên khi máy móc chạy với tốc độ cao, có thể chạy với tốc độ liên tục buộc người công nhân phải chạy theo tốc độ vận hành máy Điều này làm cho cường độ lao động tăng lên, năng suất lao động cũng tăng Ngoài ra, nền sản xuất hiện đại áp dụng tự động hóa cao cường độ lao động người công nhân tăng lên với hình thức mới đó là cường độ lao động thần kinh thay thế cho cường độ lao động cơ bắp, tạo
ra sản phẩm chứa nhiều chất xám có giá trị lớn
PHẦN II: THỰC TRẠNG VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÔNG TY
CỔ PHẦN SÔNG HỒNG
1 Tổng quan về công ty cổ phần may Sông Hồng
Công ty CP May Sông Hồng là một trong những nhà máy sản xuất hàng may mặc
và chăn ga gối đệm lớn hàng đầu Việt Nam
Với hơn 20 xưởng sản xuất được xây dựng và quản lý tập trung trong phạm vi tỉnh Nam Định, có lợi thế về vị trí địa lý gần sân bay, cảng biển, nguồn nhân lực được đào tạo có chất lượng với chi phí cạnh tranh, bộ máy quản lý là người Việt Nam, kết hợp thêm việc tuyển dụng các chuyên viên quốc tế đầu ngành, công ty đã và đang trở thành đối tác tin cậy của rất nhiều thương hiệu thời trang nổi tiếng trên toàn thế giới
Hành trình phát triển:
1988: Được thành lập với tên Xí nghiệp May 1/7, trực thuộc Nhà nước với 100
Trang 111993: Đổi tên thành Công ty May Sông Hồng
2001: Chuyển trụ sở công ty về địa chỉ 105 Nguyễn Đức Thuận, Tp Nam Định, phát triển thành 3 xưởng may với 1500 công nhân
2004: Phát triển thành 6 xưởng may, đưa tổng số cán bộ công nhân viên lên 3600 người
2004: Cổ phần hóa, trở thành Công ty Cổ phần May Sông Hồng
2006: thành lập Chi nhánh công ty tại Hồng Kông
2006: mở thêm 4 xưởng may tại huyện Xuân Trường, đưa tổng số CBCNV lên
6000 người
2010: mở thêm 4 xưởng may tại huyện Hải Hậu, tổng số CBCNV lên 8000 người 2015: mở thêm 4 xưởng may tại huyện Nghĩa Hưng, tổng số CBCNV lên gần 11.000 người với 18 xưởng may