Kinh tế Nhà nước mà thành phần chủ yếu là các doanh nghiệp Nhà nước đang đóng một vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân hiện nay .Nhưng bên cạnh những thành tựu và đóng góp to lớn c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
TIỂU LUẬN
Họ và tên: Nguyễn Linh Chi
Mã sinh viên: 11200597
Lớp học phần: Kinh tế Chính trị Mác Lê-nin (121)_35
Giảng viên hướng dẫn: Ts.Mai Lan Hương
Hà Nội, tháng 11 năm
NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Trang 2MỤC LỤC
I MỞ ĐẦU 3
II NỘI DUNG 4
1 Những nội dung cơ bản về cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước 4
1.1 Khái niệm cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước 4
1.2 Đặc điểm của cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước 4
2 Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam 5
2.1 Các quan điểm về cổ phần hoá của Đảng Cộng sản Việt Nam 5
2.2 Thực trạng cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam hiện nay 6
2.2.1 Quá trình và một số kết quả đạt được của cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam 6
2.2.2 Hạn chế của cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước 8
2.2.4 Những giải pháp thúc đẩy phát triển quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam 11
III KẾT LUẬN 12
IV TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
Trang 3I MỞ ĐẦU
Việc chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo” Kinh tế Nhà nước mà thành phần chủ yếu là các doanh nghiệp Nhà nước đang đóng một vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân hiện nay Nhưng bên cạnh những thành tựu và đóng góp to lớn của các doanh nghiệp Nhà nước trong suốt quá trình phát triển của nền kinh tế nước ta thì hiện nay các doanh nghiệp Nhà nước đang phải đối đầu với nhiều khó khăn thử thách như: tình trạng làm ăn thua lỗ, công nghệ lạc hậu ,sức cạnh tranh trên thị trường kém ,yếu kém trong quản lý tài sản cũng như nhân lực Thì một yêu cầu cấp thiết đặt ra là làm sao phải năng cao hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp Nhà nước mà vẫn giữ vững vai trò chủ đạo của doanh nghiệp Nhà nước trong nền kinh tế quốc dân
Từ đầu những năm 90 của thế kỷ 20, dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mac-Lênin cũng như quan điểm của Đảng và Chính phủ ta chính, Nhà nước đã đưa ra một giải pháp đúng đắn nhằm khắc phục những điểm yếu của các doanh nghiệp Nhà nước là cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước Trong nghị quyết Hội nghị trung ương Đảng lần thứ 2 khoá VII(11-1991)nêu rõ: “Chuyển một số doanh nghiệp quốc doanh có điều kiện thành công ty cổ phần
và thành lập một số công ty quốc doanh cổ phần mới, phải làm thí điểm chỉ đạo chặt chẽ ,rút kinh nghiệm chu đáo trước khi mở rộng phạm vi thích hợp”.Bắt đầu thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước từ năm 1992 sau gần 30 năm thực hiện thì quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước đã thu được những thành tựu đáng kể nhưng cũng không ít vướng mắc cần những biện pháp khắc phục kịp thời để tiếp tục đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa ở nước
Hiểu được tính cấp thiết của vấn đề, qua đề tài này em xin phép được đưa ra những nội dung cơ bản về thực trạng cổ phần hóa Doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam Qua đó có thể
đề ra các giải pháp hữu hiệu thúc đẩy quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4II NỘI DUNG
1 Những nội dung cơ bản về cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước
1.1 Khái niệm cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước
- Doanh nghiệp Nhà nước được hình thành và phát triển trên cở sở nguồn vốn cấp phát của ngân sách Nhà nước và do đó tất cả các hoạt động đều chịu sự kiểm soát và chi phối trực tiếp của Nhà nước
- Cổ phần hóa là việc biến doanh nghiệp một chủ thành doanh nghiệp nhiều chủ tồn tại dưới hình thức công ty cổ phần, tức là chuyển từ hình thức sở hữu lớn nhất sang sở hữu chung của nhiều người thông qua việc chuyển một phần hoặc toàn bộ tài sản của doanh nghiệp cho nhiều người dưới hình thức bán cổ phần cho họ Bản chất của cổ phần hóa chính là phương thức thực hiện xã hội hóa sở hữu, chuyển doanh nghiệp một chủ thành doanh nghiệp nhiều chủ, tức là chuyển từ hình thức sở hữu đơn nhất sang sở hữu chung thông qua việc chuyển một phần hoặc toàn bộ tài sản của doanh nghiệp cho các thành phần kinh tế khác
- Như vậy: Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là hành vi mua và bán trong đó Nhà nước
sẽ thu tiền bán cổ phần của doanh nghiệp, các cổ đông sẽ được chuyển quyền sở hữu và định đoạt toàn bộ hoặc một phần hoạt động kinh doanh cũng như hưởng các lợi nhuận sau khi đã làm nghĩa vụ nộp thuế với nhà nước.
1.2 Đặc điểm của cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước
* Mục tiêu của cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước
Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước nhằm các mục tiêu sau:
- Góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của doanh nghiệp; tạo ra loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, trong độ có đông đảo người lao động; tạo động lực mạnh mẽ
và cơ chế quản lý năng động cho doanh nghiệp để sử dụng có hiệu quả vốn, tài sản của Nhà nước và của doanh nghiệp
- Huy động vốn của toàn xã hội, bao gồm: cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội trong nước và ngoài nước để đầu tư đôi mới công nghệ, phát triển doanh nghiệp
- Phát huy vai trò làm chủ thực sự của người lao động, của các cổ đông; tăng cường sự giám sát của nhà đầu tư đối với doanh nghiệp; bảo đảm hài hoà lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp, nhà đầu tư và người lao động
* Lợi ích của cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước
– Về lợi ích của Nhà nước:
Trang 5+ Hạn chế sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động của công ty, như vậy có thể làm giảm chi phí quản lý đồng thời tạo được khả năng quản lý tốt và có hiệu quả cao hơn cho nhà nước + Cổ phần hóa tạo ra được khu vực kinh tế tư nhân hoạt động hiệu quả, linh hoạt
+ Tăng hiệu quả của các doanh nghiệp ở cả hai khu vực Nhà nước và tư nhân do tính cạnh tranh cao, thúc đẩy cả hai bên đều phải cải tiến năng lực
+ Cổ phần hóa thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tạo dựng được nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước, thu hút vốn đầu tư của nhân dân, tạo công ăn việc làm cho người lao động + Thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoán vì khi doanh nghiệp Nhà nước chuyển thành công ty cổ phần, chúng sẽ phát hành các loại chứng khoán để huy động vốn
– Về lợi ích của doanh nghiệp:
+ Thu hút nhanh chóng nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội để đầu tư vào nền kinh tế bằng việc phát hành chứng khoán
+ Nhanh chóng cấu trúc lại các doanh nghiệp về sản xuất, tổ chức… Nâng cao năng suất, chất lượng và vị thế của doanh nghiệp ở thị trường trong nước và quốc tế
2 Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam
2.1 Các quan điểm về cổ phần hoá của Đảng Cộng sản Việt Nam
Cổ phần hoá là quá trình chuyển đổi doanh nghiệp từ chỗ có một chủ sở hữu thành công ty
cổ phần có nhiều chủ sở hữu Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước là quá trình chuyển đổi sở hữu Nhà nước thành công ty cổ phần trong đó Nhà nước vẫn giữ tư cách là một cổ đông -vẫn là chủ sở hữu một bộ phận tài sản của doanh nghiệp Cổ phần hoá một bộ phận doanh nghiệp nhà nước là một chủ trương lớn của Đảng và nhà nước Nghị quyết hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương khoá VII đã nêu rõ: Chuyển một số doanh nghiệp quốc doanh có điều kiện thành công ty cổ phấn và thành lập một số công ty quốc doanh cổ phần mới Phải thí điểm chỉ đạo chặt chẽ rút kinh nghiệm chu đáo trước khi mở rộng trong phạm vi thích hợp Nghị quyết 10-NQ/ TW ngày 17/3/1995 của bộ chính trị đã nêu: ‘’Thực hiện từng bước vững chắc về tổ chức về cổ phần hoá một bộ phận doanh nghiệp không cần nhà nước đầu tư 100% vốn Tuỳ tính chất loại hình doanh nghiệp mà tiến hành bán tỷ lệ cổ phiếu cho công nhân viên chức làm tại doanh nghiệp để tạo động lực bên trong trực tiếp thúc đẩy phát triển và bán cổ phần cho tổ chức hay cá nhân ngoài quốc doanh’’, Như vậy, nghị quyết của Đảng chỉ ra mục tiêu, đồng thời cũng nêu khái quát hình thức, mức độ và phạm vi thí điểm cổ phần doanh nghiệp nhà nước Nghị quyết kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá IX nhấn mạnh ‘’Đổi mới cơ bản tổ chức và cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước Thực hiện các hình thức cổ phần thích hợp với tổ chức và lĩnh vực sản
Trang 6xuất để thu hút thêm các nguồn vốn, taọ thêm động lực, ngăn chặn tiêu cực, thúc đẩy doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả’’ Thực hiện chủ trương của Đảng; Quốc hội, Chính phủ đã ban hành các văn bản để tổ chức thực hiện cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước Căn cứ các chủ trương nêu trên, cán bộ ngành đã thông báo đến từng doanh nghiệp để đăng ký thực hiện thí điểm chuyển sang công ty cổ phần Dựa vào số lượng doanh nghiệp nhà nước đã đăng ký, Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng (nay là Thủ Tướng Chính Phủ) đã có : Quyết định số 203/TC ngày 8/5/1992 chọn 7 doanh nghiệp nhà nước được cổ phần chỉ đạo thí điểm chuyển thành công ty cổ phần Bộ Tài chính quyết 10 định danh sách 19 doanh nghiệp được các Bộ chỉ đạo chuyển thành công tycổ phần Tuy có 19 doanh nghiệp nhà nước đăng ký làm thí điểm cổ phần hoá, nhưng trong quá trình xây dựng đề án nhiều giám đốc và tập thể lao động lại xin rút, hoặc
không đủ điều kiện để tiến hành cổ phần hoá (tính đến 1/9/1998)
2.2 Thực trạng cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam hiện nay
2.2.1 Quá trình và một số kết quả đạt được của cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam
Thời kỳ thứ nhất, từ năm 1992-2000, cổ phần hoá được 558 doanh nghiệp Trong thời kỳ
này, tiến độ còn chậm, do trước khi có Luật Doanh nghiệp, cổ phần hoá diễn ra còn dè dặt, lạ lẫm, trong khi dư luận xã hội đã rộ lên tình trạng “bán tống bán tháo” tài sản Nhà nước ở một số doanh nghiệp Nhà nước Giai đoạn thí điểm từ năm 1992 đến đầu năm 1996 Những doanh nghiệp được chọn để cổ phần hoá là những doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, kinh doanh có lãi, tự nguyện đăng ký chuyển sang công ty cổ phần, được xem xét cho thí điểm cổ phần hoá theo Quyết định 202/CT (8/6/1992) và Chỉ thị số 84 (4/8/1993), giai đoạn này kéo dài 04 năm, nhưng chỉ cổ phần hoá được 5 doanh nghiệp, gồm 3 doanh nghiệp Trung ương và 2 doanh nghiệp địa phương Giai đoạn mở rộng thí điểm từ năm 1996 đến đầu năm 1998 với việc Chính phủ ban hành Nghị định 28/CP (7/5/1996), lần đầu quy định một cách có hệ thống từ mục đích yêu cầu, đối tượng đến phương thức tiến hành, chế độ ưu đãi đối với doanh nghiệp và người lao động trong doanh nghiệp cổ phần hoá Vì vậy tốc độ cổ phần hoá đã tiến triển nhanh hơn, kết quả là đã chuyển được 25 doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần, gấp 5 lần so với giai đoạn thí điểm Diện doanh nghiệp cổ phần hoá đã mở rộng ra 3 bộ và 9 tỉnh, quy mô doanh nghiệp cổ phần hoá lớn hơn Giai đoạn 1998 đến 2000, đây là giai đoạn bắt đầu tăng tốc, giai đoạn này cổ phần hóa được 528 doanh nghiệp
Thời kỳ thứ hai, từ 2001-2007 (cổ phần hoá được 3.273 doanh nghiệp, chiếm 82% tổng số),
đặc biệt là thời kỳ 2003-2006 (cổ phần hóa 2.649 doanh nghiệp, chiếm 66,3% tổng số) được gọi
Trang 7là thời kỳ “bùng nổ” cổ phần hoá với mức bình quân 1 năm rất cao, phản ánh xu hướng kinh tế
thị trường tương đối rõ nét sau khi có Luật Doanh nghiệp và chuẩn bị cho việc mở cửa, hội nhập sâu, rộng hơn khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).Cùng với bùng nổ cổ phần hoá là sự lớn mạnh của khu vực ngoài Nhà nước cả về thị phần cả về số lượng doanh nghiệp, số lao động, lượng vốn, tiêu thụ; vừa khai thác được các nguồn lực của xã hội, vừa phù hợp với việc chuyển đổi cơ chế từ kế hoạch hoá tập trung, bao cấp sang cơ chế thị trường
Thời kỳ thứ ba, từ 2008 đến nay, tiến độ thực
hiện bị chậm lại Trong bốn năm, từ 2008 đến
2011, chỉ có 117 doanh nghiệp được cổ phần hóa,
tức là tương đương với số doanh nghiệp được cổ
phần hóa trong năm 2007 và thấp hơn nhiều lần so
với mấy năm trước đó Trong 3 năm 2011 đến hết
năm 2013 chỉ cổ phần hóa được 99 doanh nghiệp
(2011 được 12 doanh nghiệp, 2012 được 13 doanh
nghiệp, năm 2013 được 74 doanh nghiệp) Đây
hầu hết đều là các doanh nghiệp có quy mô lớn, phạm vi hoạt động rộng, kinh doanh đa ngành, tài chính phức tạp Đáng chú ý, theo báo cáo mới nhất của Ban chỉ đạo đổi mới & PTDN, 9 tháng đầu năm 2014, đã cổ phần hóa được 71 doanh nghiệp (gần bằng cả năm 2013 là 74 doanh nghiệp) và đã công bố giá trị 123 doanh nghiệp, dự kiến cả năm sẽ cổ phần hóa khoảng 200 doanh nghiệp
Thời kỳ thứ tư, tiến trình CPH giai đoạn 2016 - 2020 đã được đẩy mạnh hơn, tập trung
vào tăng giá trị CPH, thoái vốn nhà nước thay cho việc giảm mạnh về số lượng doanh nghiệp được CPH, do đó giá trị các khoản thu từ CPH và thoái vốn trong giai đoạn này cao hơn so với
giai đoạn trước đó Tính từ năm 2016 cho đến 6 tháng đầu năm 2019, cả nước đã CPH được 162
doanh nghiệp (DN), với tổng quy mô vốn được xác định lại đạt 205.433,2 tỷ đồng, bằng 108%
tổng giá trị vốn nhà nước tại các DN CPH giai đoạn 2011 - 2015 (189.509 tỷ đồng) Mặc dù chưa kết thúc giai đoạn nhưng giá trị thu được đều cao hơn so với giai đoạn trước Tổng số thu
từ CPH, thoái vốn lũy kế từ năm 2016 đến nay đạt hơn 218.255,691 tỷ đồng(1) (năm 2016 là 30.000 tỷ đồng; năm 2017: 140.000 tỷ đồng; năm 2018: 42.754.000 tỷ đồng; 6 tháng đầu năm 2019: 5.501,691 tỷ đồng), gấp 2,8 lần tổng thu từ CPH, thoái vốn của cả giai đoạn 2011 - 2015 (khoảng 78.000 tỷ đồng); có 35/127 DN CPH thuộc danh mục phải CPH theo Công văn số
991/TTg-ĐMDN, ngày 10-7-2017, của Thủ tướng Chính phủ, về “Phê duyệt danh mục doanh
nghiệp nhà nước hoàn thành cổ phần hóa theo từng năm giai đoạn 2017 - 2020” Thoái vốn
Trang 8nhà nước tại 88 đơn vị thuộc Quyết định số 1232/QĐ-TTg, ngày 17-8-2017, của Thủ tướng
Chính phủ, về “Phê duyệt danh mục doanh nghiệp nhà nước có vốn nhà nước thực hiện thoái
vốn giai đoạn 2017 - 2020” với giá trị sổ sách 4.801,432 tỷ đồng, thu về 9.115,042 tỷ đồng.
2.2.2 Hạn chế của cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước
Một là, so với kế hoạch đặt ra, cả CPH và thoái vốn tại các DN có vốn nhà nước đều chậm,
tỷ lệ đạt theo kế hoạch thấp Theo danh mục đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Công
văn số 991/TTg-ĐMDN, giai đoạn 2017 - 2020 phải hoàn thành CPH 127 DN, nhưng đến hết 6 tháng đầu năm 2019 mới CPH được 35 DN, đạt 27,5%
Tiến độ thoái vốn nhà nước tại DN chậm so với kế hoạch đề ra Theo Danh mục đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1232/QĐ-TTg, giai đoạn 2017 - 2020 phải hoàn thành thoái vốn 403 DN, trong khi đó số lượng DN đã thoái vốn thuộc Danh mục nêu trên tính đến nay mới chỉ đạt 21,8% kế hoạch đề ra Xét tổng thể thời gian qua, mặc dù đã có tới hơn 95% DNNN được CPH nhưng tổng số vốn nhà nước được bán ra mới khoảng 8%
Hai là, khung pháp lý cho các DN trong quá trình CPH và hậu CPH chưa được hoàn thiện.
Trong đó, chính sách thu hút cổ đông chiến lược còn nhiều ràng buộc về mặt chính sách đối với
việc tìm nhà đầu tư chiến lược (ngoài các ràng buộc về điều kiện tiêu chuẩn nhà đầu tư chiến lược đối với từng doanh nghiệp), như thời hạn quy định lựa chọn cổ đông chiến lược ngắn so với các trường hợp cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước lớn và có cơ cấu tài sản phức tạp Tỷ lệ chào bán ra công chúng thấp, Nhà nước vẫn giữ cổ phần chi phối làm các nhà đầu tư chiến lược
e ngại về khả năng khống chế doanh nghiệp sau đầu tư khiến các nhà đầu tư không mặn mà(2), thêm vào đó khoản đặt cọc, ký quỹ cũng tăng lên thành 20% giá trị cổ phần đăng ký mua theo giá khởi điểm (cao hơn so với 10% quy định trong Nghị định số 59/2011/NĐ-CP, ngày
18-7-2011, của Chính phủ, về “Chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần”).
Một số lĩnh vực đặc thù (ví dụ như Công ty cổ phần Cảng Hải Phòng, hay Công ty cổ phần Dược - Trang thiết bị y tế Bình Định) có quy định không bán vốn cho nhà đầu tư nước ngoài và sau đó cũng không được chuyển nhượng cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài, khiến cho khả năng tìm kiếm nhà đầu tư chiến lược bị thu hẹp
Các quy định liên quan(3) không có tiêu chí cụ thể, nhất quán ngay từ khi xác định giá trị doanh nghiệp; không quy định rõ bộ phận ban hành tiêu chí (công ty tư vấn, người đại diện lao động hay chủ sở hữu doanh nghiệp), cấp có thẩm quyền duyệt tiêu chí cổ đông chiến lược nên
có thể dẫn đến tình trạng “lách” quy định Nghị định số 126/2017/NĐ-CP và Thông tư số
40/2018/TT-BTC, ngày 4-5-2018, của Bộ Tài chính, về “Hướng dẫn bán cổ phần lần đầu và
quản lý, sử dụng tiền thu từ cổ phần hóa của doanh nghiệp nhà nước và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do doanh nghiệp nhà nước đầu tư 100% vốn điều lệ chuyển đổi thành
Trang 9công ty cổ phần”, bổ sung tiêu chí của nhà đầu tư chiến lược gắn với trách nhiệm và chế tài bảo
đảm thực hiện cam kết đối với cổ đông chiến lược(4) đã phần nào hạn chế tình trạng các nhà đầu
tư bỏ tiền ra mua cổ phần chỉ vì lợi thế về đất của DN Việc quy định thời hạn không được chuyển nhượng cổ phần 3 năm cũng gây khó khăn cho nhà đầu tư trong trường hợp bất khả kháng hoặc đứng trước nguy cơ phá sản, giải thể
Quy định về công khai, minh bạch thông tin: Chính sách hiện hành có quy định về việc trả
lương gắn với hiệu quả doanh nghiệp nhưng lại thiếu chế tài về trả lương đối với lãnh đạo, quản
lý trong các doanh nghiệp Nhà nước hoạt động thua lỗ Nhiều doanh nghiệp trước và trong quá trình cổ phần hóa thiếu công khai, minh bạch về thông tin, số liệu, đặc biệt là những doanh nghiệp có vấn đề về tài chính hoặc đang được hưởng các lợi thế đặc biệt trong kinh doanh Tình trạng chây ỳ niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán của một số doanh nghiệp Nhà nước sau cổ phần hóa là một trong những nguyên nhân dẫn đến thông tin không được công khai, minh bạch và chậm đổi mới quản trị doanh nghiệp trong các doanh nghiệp này Tính đến tháng 6-2019, còn 796 doanh nghiệp đã cổ phần hóa nhưng chưa niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán, mặc dù đã có chế tài xử lý Bên cạnh đó, quy định cứng áp dụng với các doanh nghiệp quy mô rất nhỏ sau cổ phần hóa phải tiến hành phát hành cổ phiếu ra công chúng lần đầu (IPO) gây ra những khó khăn, do đó cũng góp phần vào việc chậm tiến độ chung
Chính sách về thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp: Quyết định số 1232/QĐ-TTg cho
thấy, các công ty cung cấp dịch vụ thiết yếu cho người dân, như cấp, thoát nước trong danh sách phải thoái vốn của giai đoạn 2017 - 2020 khá lớn, có những DN chỉ còn giữ lại một tỷ lệ vốn nhà nước rất nhỏ Với một tỷ lệ vốn nhỏ, cổ đông đại diện phần vốn nhà nước trong các doanh nghiệp này không thể có tiếng nói trong các quyết định của đại hội đồng cổ đông, do đó dịch vụ thiết yếu bảo đảm đời sống cho người dân có thể sẽ bị ảnh hưởng trong tương lai khi thoái hết vốn nhà nước tại các doanh nghiệp này Việc phân loại các nhóm doanh nghiệp để thực hiện mục tiêu của Nhà nước chưa thật sự rõ ràng, dẫn đến khó khăn trong việc phân định các nhiệm
vụ công ích và hoạt động vì lợi nhuận của doanh nghiệp
Một số quy định trong Nghị định số 32/2018/NĐ-CP, ngày 8-3-2018, của Chính phủ, về
“Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 91/2015/NĐ-CP, ngày 13-10-2015, của Chính
phủ, về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại doanh nghiệp” và Thông tư số 59/2018/TT-BTC, ngày 16-7-2018, của Bộ Tài chính, về “Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 219/2015/TT-BTC, ngày 31-12-2015, của Bộ trưởng Bộ Tài chính, về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại doanh nghiệp”, có tác động làm chậm việc thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp sau cổ phần hóa,
cần tiếp tục thực hiện theo Quyết định số 1232/QĐ-TTg, trong đó tập trung vào xác định giá trị
Trang 10quyền sử dụng đất và giá trị văn hóa lịch sử của DN, xác định giá trị DN tại các doanh nghiệp
có tỷ lệ vốn nhà nước thấp,
Ba là, vai trò, nhận thức của bộ máy lãnh đạo, người đứng đầu đơn vị, doanh nghiệp sau cổ
phần hóa chưa cao, chưa quyết liệt trong việc đổi mới hoạt động của doanh nghiệp, chưa công
khai, minh bạch, đúng quy định pháp luật, bảo đảm nguyên tắc thị trường, chống “lợi ích nhóm” trong cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước Nhận thức tư duy và trình độ quản lý của người đứng đầu doanh nghiệp ít thay đổi khi chuyển sang hoạt động theo hình thức công ty cổ phần, dẫn đến vẫn có sự chây ỳ, thụ động gây ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sản xuất, kinh doanh Quyết định của bộ máy lãnh đạo công ty, người đại diện phần vốn nhà nước còn phụ thuộc vào
quyết định của Nhà nước, còn nặng nề cơ chế xin - cho, ảnh hưởng đến sự chủ động của doanh
nghiệp trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và không bắt kịp xu hướng công nghệ Theo khảo sát của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), hiện có 23,3% doanh nghiệp Nhà nước chưa áp dụng khoa học - công nghệ, trên 25% cho rằng không liên quan, 24,8% cho rằng
họ không thay đổi đáng kể khi cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra
Bốn là, quy mô doanh nghiệp và thực hiện cấu trúc lại của doanh nghiệp trước khi cổ phần
hóa: Nhiều doanh nghiệp Nhà nước hoạt động không hiệu quả từ trước khi cổ phần hóa dẫn đến
sau cổ phần hóa không có cải thiện về hiệu quả hoạt động Trong 12 doanh nghiệp Nhà nước thua lỗ thuộc ngành công thương quản lý, có 9 dự án chuyển về cho Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp xử lý và có 4/19 tập đoàn chuyển về Ủy ban này bị thua lỗ
Trong khi hiệu suất sinh lời trên vốn kinh doanh của các DNNN thấp hơn nhiều so với doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp ngoài nhà nước; hệ số hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (ICOR) của khối doanh nghiệp Nhà nước trong giai đoạn 2011 - 2017 cao hơn nhiều so với hai khu vực doanh nghiệp còn lại Không chỉ thâm dụng vốn, tăng trưởng doanh nghiệp Nhà nước còn có đặc điểm thâm dụng đất đai và tập trung vốn con người nhưng giá trị gia tăng không tương xứng với nguồn lực nắm giữ Nhiều doanh nghiệp Nhà nước có lãi không phải từ ngành, nghề kinh doanh chính mà nhờ cho thuê quyền sử dụng đất Doanh nghiệp nhà nước đang sử dụng một khối lượng lớn đất đai có giá trị cao, nhưng nguồn tài nguyên này lại chưa được hạch toán chi phí đầy đủ nên cũng làm giảm hiệu quả sử dụng
Những năm qua, bên cạnh những doanh nghiệp Nhà nước làm ăn có lãi đóng góp vào ngân sách nhà nước, tạo công ăn việc làm cho người lao động, trở thành lực lượng vật chất cho Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế, như: Tổng công ty Sữa Vinamik, Tập đoàn Viễn thông quân đội Viettel… thì vẫn còn không ít các doanh nghiệp Nhà nước làm ăn thua lỗ thất thoát vốn, tài sản của Nhà nước hàng nghìn tỷ đồng, trở thành gánh nặng cho ngân sách nhà nước Đơn cử như 12 dự án làm ăn thua lỗ: Dự án mở rộng khu gang thép Thái Nguyên; xơ sợi Đình Vũ; đạm