1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về Bồi thường thiệt hại, tính mạng và sức khỏe trong quan hệ lao động Thực trạng tại tỉnh Cà Mau

51 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Pháp Luật Về Bồi Thường Thiệt Hại Tính Mạng, Sức Khỏe Trong Quan Hệ Lao Động Thực Trạng Trên Địa Bàn Tỉnh Cà Mau
Tác giả Đỗ Hữu Nghĩa
Người hướng dẫn ThS. Võ Thị Bảo Trâm
Trường học Trường Đại Học Cần Thơ
Chuyên ngành Luật Thương Mại
Thể loại luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2018
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sức lao động là khả năng lao động của con người, là tổng hợp thể lực và trí lực được con người vận dụng vào trong quá trình lao động. Theo C.Mác, “Sức lao động là toàn bộ thể lực và trí lực của con người có khả năng được vận dụng, sử dụng trong các quá trình sản xuất vật chất, trong một con người đang sống và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó, từ đó hình thành nên quan hệ lao động” . Một đất nước muốn phát triển cần dựa trên rất nhiều tiêu chí nhưng không thể thiếu đi mối quan hệ lao động, nơi con người dùng khả năng của mình để tạo ra của cải vật chất, tạo ra giá trị bền vững cho cuộc sống gia đình bản thân và toàn thể xã hội. Quan hệ pháp luật lao động là một mối quan hệ quan trọng trong đời sống hiện nay, ảnh hưởng trực tiếp đến những quyết sách cũng như định hướng của Đảng ta trong công cuộc hiện đại hóa đất nước. Khi tham gia vào quan hệ này người lao động phải thực hiện những công việc như thỏa thuận, chịu sự quản lý sắp xếp của người sử dụng lao động. Trong quá trình đó, những ảnh hưởng có hại của nghề nghiệp hoặc những rủi ro tai nạn có thể xảy ra đối với người lao động. Chính vậy, sức khỏe và tính mạng của người lao động cần phải được bảo vệ, đồng thời phải có chế độ bồi thường nếu như tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp xảy ra. Vì điều này không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân của những chủ thể bị thiệt hại, mà sâu xa hơn là thiệt hại một chuỗi về tinh thần, vật chất của gia đình nạn nhân, của toàn xã hội. Thêm vào đó, cùng với sự phát triển công nghiệp hóa hiện đại hóa thì xuất hiện thêm nhiều bệnh nghề nghiệp và số vụ tai nạn lao động ngày nghiêm trọng hơn. Tuy nhiên, pháp luật về bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe vẫn còn những vướng mắc nhất định về cả lý luận và thực tiễn. Chính vì lẽ đó, đòi hỏi pháp luật lao động cần có những điều chỉnh kịp thời đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống hiện nay, và đây cũng là lý do người viết chọn đề tài “Pháp luật bồi thường thiệt hại tính mạng, sức khỏe trong quan hệ lao động Thực trạng trên địa bàn tỉnh Cà Mau” làm luận văn tốt nghiệp.

Trang 1

PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TÍNH MẠNG,

SỨC KHỎE TRONG QUAN HỆ LAO ĐỘNG THỰC TRẠNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CÀ MAU

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA LUẬT

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

HỆ ĐÀO TẠO: CHÍNH QUY KHÓA: 41 (2018 - 2019)

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đại học Cần Thơ, người viết

đã trao dồi được nhiều kiến thức, kinh nghiệm và những bài học quý báu, đó chính là hành trang to lớn để người viết vững bước trên đường tương lai Đặc biệt, người viết cảm thấy biết ơn đối với quý thầy cô đang công tác tại Khoa Luật, quý thầy cô không những trang bị cho nhiều kiến thức của Luật học mà còn truyền dạy cho người viết những kiến thức của thực tiễn Người viết xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến quý thầy cô

Lời đầu tiên, người viết xin gửi lời tri ân và lời cảm ơn chân thành nhât đến

cô Võ Thị Bảo Trâm đã hết lòng giúp đỡ và chỉ dẫn tận tình cho người viết trong suốt

quá trình làm luận văn Tiếp theo, người viết xin gửi lời cảm ơn chân thành đối với tác giả của những bài viết mà người viết đã dùng để làm tài liệu tham khảo trong quá trình nghiên cứu luận văn

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng nhưng cũng không tránh khỏi những thiếu sót Vì lẽ đó, người viết mong nhận được sự quan tâm và những góp ý chân thành từ quý thầy cô để có thể hoàn thành tốt hơn luận văn của mình

Người viết chân thành cảm ơn!

Cần Thơ, ngày 05 tháng 12 năm 2018

Sinh viên thực hiện

Đỗ Hữu Nghĩa

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN



Cần Thơ, ngày 05 tháng 12 năm 2018

Trang 4

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN LUẬN VĂN



Cần Thơ, ngày 05 tháng 12 năm 2018

Trang 5

8 ATVSLĐ An toàn vệ sinh lao động

9 BTTH Bồi thường thiệt hại

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 1

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Kết cấu đề tài 2

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TÍNH MẠNG,

SỨC KHỎE TRONG QUAN HỆ LAO ĐỘNG 3

1.1 Khái niệm về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp 3

1.1.1 Khái niệm về tai nạn lao động 3

1.1.2 Khái niệm về bệnh nghề nghiệp 4

1.2 Khái niệm về bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe trong quan hệ lao động 5

1.3 Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe trong quan hệ lao động 7

1.4 Ý nghĩa của trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe trong quan hệ lao động 8

1.5 Sơ lược lịch sử hình phát triển của chế độ bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe trong pháp luật Việt Nam 9

1.5.1 Giai đoạn Trước khi có Bộ luật Lao động 1994 9

1.5.2 Giai đoạn Bộ luật Lao động 1994 10

1.5.3 Giai đoạn Bộ luật Lao động 2012 13

1.5.4 Giai đoạn Luật An toàn, vệ sinh lao động đến nay 14

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI

TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE TRONG QUAN HỆ LAO ĐỘNG 16

2.1 Quyền của người lao động - Nghĩa vụ của người sử dụng lao động đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp 16

2.2 Quy định về chế độ bồi thường – Trợ cấp của người sử dụng lao động đối với người lao động khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp 18

2.2.1 Đối tượng áp dụng chế độ bồi thường thiệt hại tính mạng, sức khỏe trong quan hệ lao động 18

2.2.2 Điều kiện bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe 20

2.2.3 Nguyên tắc bồi thường 22

Trang 7

2.2.4 Cách tính chế độ bồi thường thiệt hại – Trợ cấp cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp 23

2.2.4.1 Mức bồi thường – trợ cấp 23 2.2.4.2 Tiền lương làm căn cứ tính bồi thường 24

2.2.5 Hồ sơ và thời gian thực hiện bồi thường thiệt hại – trợ cấp về tính mạng, sức khỏe trong quan hệ lao động 25

2.2.5.1 Hồ sơ thực hiện bồi thường thiệt hại - Trợ cấp về tính mạng, sức khỏe trong quan hệ lao động 25 2.2.5.2 Thời gian thực hiện bồi thường thiệt hại - Trợ cấp về tính mạng, sức khỏe trong quan hệ lao động 27

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VỀ CHẾ ĐỘ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI

TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CÀ MAU VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 28 3.1 Thực trạng chế độ bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe trên địa bàn tỉnh Cà Mau 28

3.1.1 Thực trạng kinh tế - xã hội và lao động, việc làm trên địa bàn tỉnh Cà Mau 28 3.1.2 Thực trạng bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe trên địa bàn tỉnh Cà Mau 29

3.2 Một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật về chế độ bồi thường thiệt hại

về tính mạng, sức khỏe 36 KẾT LUẬN 40 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sức lao động là khả năng lao động của con người, là tổng hợp thể lực và trí lực

được con người vận dụng vào trong quá trình lao động Theo C.Mác, “Sức lao động là

toàn bộ thể lực và trí lực của con người có khả năng được vận dụng, sử dụng trong các quá trình sản xuất vật chất, trong một con người đang sống và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó, từ đó hình thành nên quan hệ lao động”1 Một đất nước muốn phát triển cần dựa trên rất nhiều tiêu chí nhưng không thể thiếu đi mối quan hệ lao động, nơi con người dùng khả năng của mình để tạo ra của cải vật chất, tạo ra giá trị bền vững cho cuộc sống gia đình bản thân và toàn thể xã hội Quan

hệ pháp luật lao động là một mối quan hệ quan trọng trong đời sống hiện nay, ảnh hưởng trực tiếp đến những quyết sách cũng như định hướng của Đảng ta trong công cuộc hiện đại hóa đất nước Khi tham gia vào quan hệ này người lao động phải thực hiện những công việc như thỏa thuận, chịu sự quản lý sắp xếp của người sử dụng lao động Trong quá trình đó, những ảnh hưởng có hại của nghề nghiệp hoặc những rủi ro tai nạn có thể xảy ra đối với người lao động Chính vậy, sức khỏe và tính mạng của người lao động cần phải được bảo vệ, đồng thời phải có chế độ bồi thường nếu như tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp xảy ra Vì điều này không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân của những chủ thể bị thiệt hại, mà sâu xa hơn là thiệt hại một chuỗi về tinh thần, vật chất của gia đình nạn nhân, của toàn xã hội Thêm vào đó, cùng với sự phát triển công nghiệp hóa hiện đại hóa thì xuất hiện thêm nhiều bệnh nghề nghiệp và số vụ tai nạn lao động ngày nghiêm trọng hơn Tuy nhiên, pháp luật về bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe vẫn còn những vướng mắc nhất định về cả lý luận và thực tiễn Chính vì lẽ đó, đòi hỏi pháp luật lao động cần có những điều chỉnh kịp thời đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống hiện

nay, và đây cũng là lý do người viết chọn đề tài “Pháp luật bồi thường thiệt hại tính

mạng, sức khỏe trong quan hệ lao động - Thực trạng trên địa bàn tỉnh Cà Mau” làm

luận văn tốt nghiệp

2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu một cách có hệ thống, chi tiết về chế

độ bồi thường tính mạng, sức khỏe trong quan hệ lao động quy định tại Bộ luật Lao động 2012; Luật An toàn, vệ sinh lao động và các văn bản hướng dẫn thi hành Từ đó, làm rõ những bất cập trong quy định của pháp luật về chế độ bồi thường tính mạng, sức khỏe trong lao động Ngoài ra, đề tài còn tìm hiểu về thực tiễn áp dụng quy định pháp luật

1 Bộ giáo dục và đào tạo: Giáo trình những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, Nhà xuất bản chính quốc

gia, Hà Nội, 2009, tr 42

Trang 9

Qua đó, đưa ra những giải pháp hoàn thiện về cơ sở pháp lý, cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu các quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại tính mạng, sức khỏe theo quy định của Bộ luật lao động 2012; Luật An toàn, vệ sinh lao động

và các văn bản hướng dẫn thi hành

Bên cạnh, người viết tập trung nghiên cứu quy định pháp luật trong và thực trạng

về bồi thường thiệt hại tính mạng, sức khỏe trên địa bàn tỉnh Cà Mau

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu để tài tài “Pháp luật về bồi thường thiệt hại tính mạng, sức khỏe trong quan hệ lao động - Thực trạng trên địa bàn tỉnh Cà Mau”,

người viết sử dụng các phương pháp cụ thể sau:

- Để làm sáng tỏ các quy định pháp luật người viết đã dùng phương pháp phân tích luật viết; phương pháp so sánh để đối chiếu các quy định của pháp luật về chế độ bồi thường thiệt hại tính mạng, sức khỏe trong quan hệ lao động

- Ngoài ra, phương pháp sưu tập số liệu, thống kê người viết đã dùng để tìm hiểu về thực trạng tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh Cà Mau

5 Kết cấu đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn: “Pháp luật

về bồi thường thiệt hại tính mạng, sức khỏe trong quan hệ lao động - Thực trạng trên địa bàn tỉnh Cà Mau”, kết cấu gồm ba chương như sau:

Chương 1: Khái quát về bồi thường thiệt hại tính mạng, sức khỏe trong quan

Trang 10

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE

TRONG QUAN HỆ LAO ĐỘNG 1.1 Khái niệm về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

1.1.1 Khái niệm về tai nạn lao động

Tai nạn lao động (TNLĐ) xuất hiện cùng với quá trình lao động sản xuất của con người có thể xảy ra ở mọi ngành nghề, mọi quốc gia TNLĐ không chỉ ảnh hưởng đến cuộc sống, sức khỏe, thu nhập của bản thân người lao động (NLĐ) mà còn ảnh hưởng đến thân nhân, đơn vị nơi NLĐ làm và xa hơn là xã hội Một quốc gia, một xã hội chỉ thực sự phát triển khi đảm bảo được an sinh xã hội mà trong đó vấn đề TNLĐ được quan tâm hàng đầu

Trong các văn bản luật Quốc tế không nêu ra một khái niệm cụ thể về TNLĐ, tuy nhiên theo Điều 7, Công ước 121 về trợ cấp TNLĐ 1964 của Tổ chức lao động quốc tế

(ILO) mà Việt Nam đã ký kết đã nêu rõ: “Mỗi nước thành viên phải đưa ra định nghĩa về

tai nạn lao động và chỉ rõ các điều khoản trong định nghĩa”

Theo Từ điển Tiếng Việt, “Tai nạn là việc rủi ro bất ngờ xảy ra, gây thiệt hại lớn

cho con người”2

Theo Bộ Luật lao động năm 2012 và Luật An toàn, vệ sinh lao động thì: “Tai nạn

lao động là tai nạn làm tổn thương đến các bộ phận chức năng trên cơ thể của người lao động hoặc dẫn đến hậu quả là gây tử vong cho người lao động, những tai nạn này xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động”3

Có thể nói, mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau về TNLĐ, nhưng khái niệm về TNLĐ đều có điểm chung, đó là những tai nạn xảy ra bất ngờ, con người không thể lường trước được không biết chính xác về thời gian và không gian; TNLĐ gắn liền với quá trình làm việc của NLĐ, gắn với quá trình thực hiện nhiệm vụ lao động và tai nạn lao động để lại hậu quả lớn gây tổn thương, hoặc hủy hoại chức năng hoạt động bình thường của một bộ phận nào đó của cơ thể, hoặc nguy hiểm hơn là làm chết người

Tóm lại, TNLĐ là những tai nạn xảy ra bất ngờ con người không lường trước được, gây tổn thương hoặc gây tử vong cho NLĐ, xảy ra trong quá trình lao động gắn liền với công việc, nhiệm vụ lao động

Ngoài ra, pháp luật còn quy định về phân loại TNLĐ, theo Điều 9 của Nghị định

số 39/2016/NĐ-CP, TNLĐ được phân loại như sau:

2 Hoàng Phê: Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng, 2003, tr 883

3 Khoản 1 Điều 142 Bộ luật Lao động năm 2012; Khoản 8 Điều 3 Luật An toàn, vệ sinh lao động

Trang 11

Thứ nhất, TNLĐ làm chết người lao động (sau đây gọi tắt là tai nạn lao động chết người) là TNLĐ mà người lao động bị chết thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Chết tại nơi xảy ra tai nạn;

- Chết trên đường đi cấp cứu hoặc trong thời gian cấp cứu;

- Chết trong thời gian điều trị hoặc chết do tái phát của vết thương do tai nạn lao động gây ra theo kết luận tại biên bản giám định pháp y;

- Người lao động được tuyên bố chết theo kết luận của Tòa án đối với trường hợp mất tích

Thứ hai, TNLĐ làm người lao động bị thương nặng (sau đây gọi tắt là tai nạn lao động nặng) là TNLĐ làm người lao động bị ít nhất một trong những chấn thương được quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định 39/2016/NĐ-CP

Thứ ba, TNLĐ làm người lao động bị thương nhẹ (sau đây gọi tắt là tai nạn lao động nhẹ) là tai nạn lao động không thuộc hai trường hợp trên

1.1.2 Khái niệm về bệnh nghề nghiệp

Theo Từ điển Tiếng Việt, “Bệnh nghề nghiệp (BNN) là bệnh phát sinh do tác

động của điều kiện lao động có hại đối với người lao động”4

Theo quy định của Bộ luật lao động 2012 và Luật An toàn, vệ sinh lao động thì:

“Bệnh nghề nghiệp là bệnh phát sinh do điều kiện lao động có hại của nghề nghiệp tác động với người lao động trong quá trình lao động” 5 Đây là hiện trạng bệnh lý mang tính chất đặc trưng nghề nghiệp hoặc liên quan đến nghề nghiệp

Việc xác định BNN phải dựa trên kết quả giám định và xác định các yếu tố độc hại

có trong môi trường làm việc của NLĐ Trong đó dấu hiệu “gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động” chính là dấu hiệu quan trọng phân biệt giữa BNN và các bệnh thông thường Điều kiện lao động có hại của nghề nghiệp có thể là hệ quả của các yếu tố vật lý như nhiệt độ, độ ẩm tiếng ồn, rung động, các bức xạ có hại… hoặc do các yếu tố hóa học như các chất độc, khí độc, chất phóng xạ… hoặc do các yếu tố sinh hóa như vi sinh vật, vi khuẩn, siêu vi khuẩn, con trùng… ngoài ra còn phải kể đến các yếu tố như tư thế làm việc, tiện nghi, điều kiện làm việc mất vệ sinh… tất cả các yếu tố đó sẽ tích lũy trong cơ thể NLĐ dần dần và phát sinh bệnh

Như vậy, BNN là bệnh mà NLĐ mắc phải do thường xuyên thực hiện nhiệm vụ lao động trong môi trường có hại gây ảnh hưởng đến sức khỏe NLĐ

4

Hoàng Phê: Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng, 2003, tr 58

5 Khoản 1 Điều 143 Bộ luật Lao động năm 2012; Khoản 9 Điều 3 Luật An toàn, vệ sinh lao động

Trang 12

Ngoài ra, pháp luật còn quy định về những ngành, nghề có nguy cơ cao về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp như: Khai khoáng, sản xuất than cốc, sản xuất sản phẩm dầu

mỏ tinh chế; Sản xuất hóa chất, sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic; Sản xuất kim loại

và các sản phẩm từ kim loại; Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim; Thi công công trình xây dựng; Đóng và sửa chữa tàu biển; Sản xuất, truyền tải và phân phối điện; Chế biến, bảo quản thủy sản và các sản phẩm từ thủy sản; Sản xuất sản phẩm dệt, may, da, giày; Tái chế phế liệu; Vệ sinh môi trường6

1.2 Khái niệm về bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe trong quan hệ lao động

Trong lịch sử hình thành và phát triển, mỗi người sống trong xã hội đều có các quyền về tài sản và nhân thân được tôn trọng, đồng thời phải tôn trọng quy tắc chung, không thể vì lợi ích của mình mà xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Khi có hành vi gây thiệt hại về các vấn đề như tài sản, tính mạng sức khỏe danh dự nhân phẩm thì người gây thiệt hại phải có trách nhiệm bù đắp những tổn thất về những hành vi mình gây ra Vì lẽ đó, bồi thường thiệt hại (BTTH) là yêu cầu tất yếu phải đặt ra trong khoa học pháp lý, là một nguyên tắc sống công bằng trong toàn xã hội, đồng thời cũng là một chế định xuất hiện rất sớm trong các quy định của các quốc gia trên thế giới với nguyên tắc chung: “Người gây ra thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại”

Xét về mặt ngôn ngữ, theo Từ điển Tiếng Việt, Thiệt hại là: “Mất mát, hư hỏng về

người và của”7

, Bồi thường là: “Đền bù bằng tiền những thiệt hại về vật chất và tinh

thần mà mình phải chịu trách nhiệm”8

6 Điều 8 Thông tư số 07/2016/TT-BLĐTBXH ngày 15 tháng 5 năm 2016 quy định một số nội dung tổ chức thực hiện công tác an toàn, vệ sinh lao động đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh

7

Nguyễn Như Ý: Đại từ điển Tiếng Việt, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội, 1999, tr 548

8 Hoàng Phê: Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng, 2003, tr 82

9 Khoản 1 Điều 302 Luật Thương Mại năm 2005

Trang 13

tính thành tiền do bên vi phạm nghĩa vụ gây ra, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút10

Như vậy, khi một người, một tổ chức có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho người khác thì người đó phải chịu trách nhiệm pháp lý bằng việc bù đắp tổn thất về vật chất và tinh thần, danh dự cho người bị thiệt hại, được hiểu là BTTH Từ đó ta có thể kết luận, BTTH về tính mạng, sức khỏe chính là sự bù đắp tổn thất về vật chất và tinh thần từ những hành vi trái pháp luật gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của một tổ chức hoặc cá nhân đối với người bị thiệt hại

Tuy nhiên, như thế nào là BTTH về tính mạng, sức khỏe trong quan hệ lao động,

ta cần phân tích rõ quan hệ lao động (QHLĐ)

Xét về mặt lý luận nhà nước và pháp luật, khi một mối quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh thì trở thành quan hệ pháp luật Tuy nhiên, không phải quan hệ xã hội nào cũng được các quy phạm của các ngành luật điều chỉnh mà mỗi ngành luật có đối tượng

riêng của nó, pháp luật về lao động cũng vậy Theo Khoản 6, Điều 3, BLLĐ 2012 “Quan

hệ lao động là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa người lao động và người sử dụng lao động” QHLĐ được xác lập trên cơ sở

thỏa thuận giữa NSDLĐ và NLĐ, sự thỏa thuận đó biểu hiện trên một hình thức pháp lý

là hợp đồng lao động Trong đó, NSDLĐ là cá nhân hoặc tổ chức có nhu cầu sử dụng lao động… NLĐ là cá nhân, dùng sức lao động của mình để nuôi sống bản thân và gia đình

Về tính chất của QHLĐ: là sự hợp tác, gắn bó, hai bên cùng có lợi và cùng có nghĩa vụ với nhau

Về đặc điểm của QHLĐ: QHLĐ được thiết lập trên cơ sở HĐLĐ giữa NSDLĐ với NLĐ Các chủ thể khi tham gia quan hệ này hoàn toàn tự do bình đẳng, tự nguyện, tự thỏa thuận các vấn đề liên quan đến quá trình lao động phù hợp với pháp luật và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Khi thiết lập HĐLĐ, các bên tham gia phải trực tiếp giao kết và thực hiện các quyền cũng như nghĩa vụ đã thỏa thuận Trong QHLĐ luôn

có sự kiểm soát quản lý của NSDLĐ đối với NLĐ trong quá trình thực hiện HĐLĐ

Qua từng thời kỳ phát triển của nhân loại đúc kết được rằng, con người là vốn quý giá, là lực lượng lao động chủ yếu của xã hội, chính vì vậy Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định rằng công dân có quyền được bảo vệ tính mạng, được hưởng chế độ bảo vệ sức khỏe tại Điều 19 và Điều 20 Do vậy, việc bảo vệ tính mạng, sức khỏe cho NLĐ là trách nhiệm không thể thiếu của Nhà nước và NSDLĐ Mà cụ thể đã quy định trực tiếp trong Bộ luật Lao động 2012 và Luật An toàn, vệ sinh lao động

10 Ths.LS Lê Văn Sua: “Bàn về nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo Bộ luật dân sự 2015”, Bộ Tư Pháp, http://www.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2205 [truy cập ngày 20-8-2018]

Trang 14

Ngoài ra, trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động NLĐ có nguy cơ đối mặt với các rủi ro tai nạn hoặc điều kiện lao động có hại gây ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe cụ thể như: bị chết, bị thương tích dẫn đến suy giảm khả năng lao động hoặc mất khả năng lao động thì buộc NSDLĐ phải có trách nhiệm BTTH Tuy nhiên, trong chế độ bồi thường thiệt hại về tính mạng sức khỏe trong quan hệ lao động việc xác định BTTH không chỉ từ hành vi vi phạm của NSDLĐ mà trong nhiều trường hợp khác NSDLĐ vẫn phải có trách nhiệm BTTH cho NLĐ (người viết xin phân tích rõ hơn ở phần đặc điểm của trách nhiệm BTTH về tính mạng, sức khỏe trong quan hệ lao động) Nói cách khác, việc BTTH tính mạng, sức khỏe trong quan hệ lao động không nhất thiết phải có hành vi vi phạm pháp luật hay kỷ luật lao động hoặc lỗi giữa hai bên chủ thể trong quan hệ này

Như vậy, BTTH về tính mạng, sức khỏe trong quan hệ lao động là một loại trách

nhiệm pháp lý theo đó NSDLĐ phải bồi thường thiệt hại cho NLĐ trong trường hợp NLĐ

bị TNLĐ, BNN nhằm bù đắp những thiệt hại về tính mạng, sức khỏe cho NLĐ

1.3 Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe trong quan hệ lao động

Qua phân tích, ta thấy TNLĐ là những tai nạn xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động mà NSDLĐ đã giao cho NLĐ; BNN phát sinh do điều kiện lao động có hại trong quá trình lao động Chính vì vậy, trong QHLĐ chủ thể thực hiện trách nhiệm BTTH về tính mạng, sức khỏe cho NLĐ là NSDLĐ, cụ thể là: các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân có sử dụng lao động

Pháp luật quy định chủ thể thực hiện trách nhiệm bồi thường trong trường hợp này

là NSDLĐ xuất phát từ nhiều nguyên nhân Đầu tiên, NSDLĐ là người có quyền quản lý, điều hành NLĐ Thứ hai, trong QHLĐ thì NLĐ thường ở vị trí thế yếu, bởi họ có thể chỉ

có sức lao động và sử dụng sức lao động đó để tạo ra của cải, vật chất để nuôi sống bản thân gia đình họ, khi họ bị thiệt hại về tính mạng, sức khỏe thì luôn rất cần sự giúp đỡ từ mọi người mà đặc biệt là NSDLĐ Cuối cùng, nguồn lợi mà NLĐ tạo ra cho NSDLĐ là rất lớn, chính vì thế việc hỗ trợ khi NLĐ gặp phải TNLĐ, BNN ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe từ NSDLĐ là rất cần thiết

Trách nhiệm BTTT về tính mạng, sức khỏe trong quan hệ lao động chỉ phát sinh khi NLĐ bị TNLĐ, BNN Có nghĩa là các trường hợp khác như bị thiệt hại không do TNLĐ, BNN thì không đặt ra trách nhiệm bồi thường này Mặc khác trách nhiệm này chỉ được hình thành khi NLĐ và NSDLĐ đã tồn tại QHLĐ Đặc điểm này khác với trách nhiệm BTTH của luật Dân sự mà điển hình là BTTH ngoài hợp đồng Bởi trách nhiệm BTTH không chỉ phát sinh trong quan hệ hợp đồng dân sự mà ngay cả trong trường hợp

Trang 15

hai bên không tồn tại hợp đồng nào cả, nếu như một bên có hành vi trái pháp luật và gây thiệt hại cho bên còn lại

Ngoài ra, NSDLĐ phải chịu trách nhiệm trợ cấp cho NLĐ ngay khi NSDLĐ không có lỗi trong trường hợp có TNLĐ, BNN

1.4 Ý nghĩa của trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe trong quan

hệ lao động

Thứ nhất, quy định về BTTH về tính mạng, sức khỏe cho NLĐ có ý nghĩa chính

trị, xã hội sâu sắc Mọi chính sách, pháp luật của Nhà nước ta đều xuất phát từ nhân dân,

do dân và vì dân, mà một trong những việc làm cần thiết nhất là vì NLĐ Bởi vì, NLĐ là nhân tố quan trọng tạo ra của cải vật chất cho xã hội, đồng thời cũng là một trong những lực lượng đông đảo nhất của Việt Nam hiện tại Và theo lẽ đó, để đất nước ta ngày một

ổn định và phát triển thì việc đảm bảo đầy đủ về quyền lợi cho NLĐ là điều không thể thiếu trong chính sách của Nhà nước ta Một trong những chính sách hàng đầu đảm bảo quyền lợi cho NLĐ chính là quy định về chế độ BTTH về tính mạng, sức khỏe cho NLĐ, điều mà Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm, tạo ra sự bình đẳng của NLĐ với NSDLĐ

Thứ hai, việc quy định trách nhiệm BTTH về tính mạng, sức khỏe trong QHLĐ sẽ

cho ta thấy rõ hơn về trách nhiệm của các bên khi tham gia vào mối quan hệ này, mà cụ thể là trong các quy định về An toàn vệ sinh lao động (ATVSLĐ) Đây được xem như một trách nhiệm pháp lý dùng để phòng ngừa, xử lý các trường hợp làm trái với quy định của pháp luật về ATVSLĐ Giúp việc áp dụng những quy định về ATVSLĐ thiết thực hơn trong thực tế, đồng thời các cá nhân tổ chức tham gia vào quan hệ này thực hiện một cách nghiêm túc hơn Từ đó, NSDLĐ và kể cả NLĐ sẽ có ý thức hơn trong việc tuân thủ quy định ATVSLĐ bởi những hậu quả về tính mạng, sức khỏe, vật chất sẽ rất nặng nề cho các bên

Thứ ba, quy định về trách nhiệm BTTH về tính mạng, sức khỏe sẽ tạo ra sự an

tâm, vững lòng cho NLĐ khi được pháp luật ưu tiên bảo hộ Từ đó, nâng cao năng suất

và nghĩa vụ của NLĐ, góp phần cho đất nước ngày một phát triển hơn

Thứ tư, chế độ BTTH về tính mạng, sức khỏe trong QHLĐ góp phần đảm bảo hài

hòa về mặt lợi ích của các bên chủ thể, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ và NSDLĐ khi tham gia QHLĐ Lợi ích kinh tế là mục tiêu mà NLĐ và NSDLĐ muốn đạt được khi tham gia vào QHLĐ Tuy nhiên, khi xảy ra TNLĐ, BNN điều mà các bên đều không mong muốn, thì phần thiệt hại từ phía NLĐ sẽ được NSDLĐ bù đắp một phần theo quy định của pháp luật Qua đó cho thấy chế độ BTTH đã làm tốt điều đó chính là đảm bảo sự công bằng, khách quan nhất

Trang 16

1.5 Sơ lược lịch sử hình phát triển của chế độ bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe trong pháp luật Việt Nam

Lịch sử phát triển chế độ BTTH về tính mạng, sức khỏe trong pháp luật Lao động Việt Nam gắn liền với lịch sử hình thành của Luật lao động Việt Nam và gần đây nhất là Luật An toàn, vệ sinh lao động Quá trình phát triển ấy trải qua nhiều thay đổi to lớn về mặt quy định để phù hợp với sự phát triển không ngừng nghỉ của xã hội Từ đó, có thể chia ra làm bốn giai đoạn chính để khái quát về chế độ BTTH về tính mạng, sức khỏe trong pháp luật Việt Nam:

1.5.1 Giai đoạn Trước khi có Bộ luật Lao động 1994

Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời ngày 02/9/1945 sau khi giành được thắng lợi trong cuộc Cách mạng tháng 8 năm 1945 Để đảm bảo an ninh trật tự và ổn định tình hình đất nước, trong khi chính quyền còn non trẻ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh giữ nguyên luật lệ cũ do thực dân Pháp quy định cho đến khi có văn bản pháp luật mới thay thế Tuy nhiên, do lĩnh vực lao động là một trong những lĩnh vực quan trọng, thể hiện bản chất của chế độ, do đó Chính phủ đã ban hành một số Sắc lệnh để điều chỉnh QHLĐ phù hợp với nền Dân chủ Cộng hòa của nước ta Và đầu tiên là Sắc lệnh số 29 do Chủ Tịch Hồ Chí Minh ký ngày 12/3/1947, đây được coi là văn bản pháp luật đầu tiên quy định về các cơ chế đảm bảo quyền lợi của các bên trong QHLĐ và trong Sắc lệnh này đã đề cập đến các chế đọ BTTH về tính mạng, sức khỏe trong QHLĐ, cụ thể là tại Điều 149 của Sắc lệnh số 29 đã quy định thế nào là TNLĐ, điều kiện bồi thường và thời

dù là lỗi do công nhân hay là do người chủ thì người chủ vẫn phải bồi thường cho công nhân Tuy nhiên, những quy định này mới chỉ trong phạm vi một Sắc lệnh nên chưa đề cập một cách đầy đủ, triệt để và cụ thể về trình tự, thủ tục và mức bồi thường, mặc khác khái niệm về TNLĐ còn mang tính khái quát chung, khó xác định Đồng thời, trong

Trang 17

khoảng thời gian này cuộc chiến chống thực dân Pháp kéo dài, nên Sắc lệnh này chỉ thực thi trên phạm vi hẹp và dần mất đi hiệu lực trên thực tế

Năm 1954, miền Bắc được giải phóng và đến năm 1975 cả nước được thống nhất, đất nước tiến lên xây dụng chủ nghĩa xã hội Do nhiều nguyên nhân khác nhau, nước ta bấy giờ duy trì chế độ tập trung bao cấp Trong thời kỳ này, nền kinh tế của đất nước chỉ tồn tại hai thành phần kinh tế: kinh tế quốc dân và kinh tế tập thể Do đó, pháp luật lao động trong thời kỳ này chủ yếu là điều chỉnh QHLĐ trong các xí nghiệp, cơ quan nhà nước Mặc dù, các văn bản lúc này chưa đề cập đến tầm quan trọng của BTTH, BTTH lúc này chỉ được xem như là những quy định chung, mang tính giáo dục cho công nhân

và cán bộ công chức tham gia vào QHLĐ hiện tại, chứ chưa được xem như là một biện pháp xử lý vi phạm

Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, việc xóa bỏ cơ chế quan liêu bao cấp, xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, đa hình thức sở hữu đã tạo động lực cho mọi thành phần kinh tế phát triển tự do, xây dựng lên một lực lượng lao động đông đảo,

do đó thực tiễn đòi hỏi phải có một cơ chế mới đầy đủ và đồng bộ để điều chỉnh QHLĐ Theo đó, lần lượt ra đời hàng loạt các văn bản điều chỉnh QHLĐ đề cập đến chế độ BTTH trong thường hợp NLĐ bị TNLĐ, BNN Cụ thể tại Điều 48 Nghị đinh số 233-

HĐBT ngày 22/6/1990 của Hội đồng Bộ trưởng quy định: “Nếu TNLĐ xảy ra do lỗi của

xí nghiệp, xí nghiệp có trách nhiệm bồi thường cho người bị TNLĐ hoặc cho thân nhân người chết vì TNLĐ đó theo chế độ của Nhà nước Việt Nam quy định”

Điều 22 Pháp lệnh Bảo hộ lao động năm 1991 quy định:

“Người bị TNLĐ hoặc BNN được hưởng nguyên tiền công, tiền lương, kể cả phụ cấp trong thời gian điều trị, điều dưỡng, được trợ cấp, bồi thường theo quy định cảu pháp luật”

Nhìn chung, các văn bản quy phạm pháp luật từ trước ngày Bộ luật Lao động 1994

ra đời đã quy định khá rõ về chế độ BTTH về tính mạng, sức khỏe trong quan hệ lao động, và có sự hoàn thiện rõ rệt qua các thời kỳ

1.5.2 Giai đoạn Bộ luật Lao động 1994

Kế thừa và phát huy thành quả của Pháp lệnh hợp đồng lao động và nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội mới phát sinh trong lĩnh vực lao động, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa IX đã thông qua Bộ luật lao động (BLLĐ) vào ngày 23/6/1994 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/1995 Theo đó, chế độ bồi thường tính mạng, sức khỏe trong QHLĐ tiếp tục được khẳng định và được quy định đầy đủ tại các Điều 105, Điều

106, Điều 107 của BLLĐ năm 1994 Cụ thể là Điều 105 và Điều 106 đưa ra khái niệm cụ thể về TNLĐ, BNN như sau:

Trang 18

“Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể người lao động hoặc gây tử vong, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động

Người bị tai nạn lao động phải được cấp cứu kịp thời và Điều trị chu đáo Người

sử dụng lao động phải chịu trách nhiệm về việc để xảy ra tai nạn lao động theo quy định của pháp luật”11

“Bệnh nghề nghiệp là bệnh phát sinh do Điều kiện lao động có hại của nghề nghiệp tác động đối với người lao động Danh Mục các loại bệnh nghề nghiệp do

Bộ Y tế và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành sau khi lấy ý kiến Tổng liên đoàn lao động Việt Nam và đại diện của người sử dụng lao động

Người bị bệnh nghề nghiệp phải được Điều trị chu đáo, khám sức khoẻ định kỳ, có

hồ sơ sức khoẻ riêng biệt”12

Trên cơ sở đưa ra các khái niệm về TNLĐ,BNN, Điều 107 BLLĐ năm 1994 đưa

ra quy định về bồi thường đó là:

“Người tàn tật do bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được giám định y khoa

để xếp hạng thương tật, xác định mức độ suy giảm khả năng lao động và được phục hồi chức năng lao động; nếu còn tiếp tục làm việc, thì được sắp xếp công việc phù hợp với sức khoẻ theo kết luận của Hội đồng giám định y khoa lao động Người sử dụng lao động phải chịu toàn bộ chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi Điều trị xong cho người bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp Người lao động được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Nếu doanh nghiệp chưa tham gia loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc, thì người sử dụng lao động phải trả cho người lao động một Khoản tiền ngang với mức quy định trong Điều lệ bảo hiểm xã hội

Người sử dụng lao động có trách nhiệm bồi thường ít nhất bằng 30 tháng lương cho người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc cho thân nhân người chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà không do lỗi của người lao động Trường hợp do lỗi của người lao động, thì cũng được trợ cấp một Khoản tiền ít nhất bằng 12 tháng lương”13

Với các quy định trên chúng ta nhận thấy rằng BLLĐ năm 1994 đã chỉ rõ phạm vi

và đối tượng áp dụng chế độ bồi thường, qua đó chế độ BTTH về tính mạng, sức khỏe được đề cập đầy đủ và cụ thể hơn, về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu giải quyết những

11

Điều 105 Bộ luật lao động năm 1994

12 Điều 106 Bộ luật lao động năm 1994

13 Điều 107 Bộ luật Lao động năm 1994

Trang 19

bất đồng mâu thuẩn và tranh chấp trong QHLĐ, bảo vệ được quyền là lợi ích hợp pháp của các bên Về sau các lần sửa đổi bổ sung BLLĐ năm 1994 vào các năm 2002, năm

2006, năm 2007 thì chế độ này vẫn được giữ vững, từng bước hoàn thiện hơn, góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng của NLĐ và NSDLĐ trong QHLĐ Cụ thể ngày 02 tháng 4 năm 2002 Quốc hội đã ban hành Luật số 35/2002/QH10 về sửa đổi, bổ sung một số điều của BLLĐ đã được Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 23 tháng 6 năm

1994 Trong đó Khoản 3, Điều 107 của BLLĐ năm 1994 (sửa đổi, bổ sung năm 2002) đã được sửa đổi, bổ sung như sau:

“Người sử dụng lao động có trách nhiệm bồi thường ít nhất bằng 30 tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) cho người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc cho thân nhân người chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà không do lỗi của người lao động Trong trường hợp do lỗi của người lao động thì cũng được trợ cấp một khoản tiền ít nhất cũng bằng 12 tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có)

Chính phủ quy định trách nhiệm của người sử dụng lao động và mức bồi thường tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 5% đến dưới 81%”

Căn cứ vào Điều 107 BLLĐ năm 1994 (sửa đổi, bổ sung năm 2002), chế độ bồi thường này được hướng dẫn cụ thể, chi tiết hơn tại các văn bản dưới luật như Nghị định

số 06/CP ngày 20/11/1995 của Chính phủ hướng dẫn BLLĐ về ATLĐ-VSLĐ; Nghị định

số 110/2002/NĐ-CP ngày 27/12/2002 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 06/CP ngày 20 tháng 01 năm 1995 quy định chi tiết một số điều của BLLĐ về ATVSLĐ và Thông tư số 10/2003/TT-BLĐTBXH ngày 8/4/2003 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội hướng dẫn việc thực hiện chế độ bồi thường và trợ cấp với NLĐ bị TNLĐ, BNN Theo đó, Thông tư số 10/2003/TT-BLĐTBXH đã quy định cụ thể đối tượng, phạm vi áp dụng chế độ BTTH khi NLĐ bị thiệt hại tính mạng, sức khỏe Trước đây chỉ BTTH cho NLĐ bị chết hoặc suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên, Thông tư số 10/2003/TT-BLĐTBXH còn mở rộng thêm mức bồi thường, trợ cấp TNLĐ,BNN khi suy giảm khả năng lao động từ 5% đến dưới 81% và phân chia rõ thành chế độ bồi thường trợ cấp TNLĐ, BNN từ Bảo hiểm xã hội theo quy định của Chính phủ tại Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995 như trợ cấp cho NLĐ bị suy giảm khả năng lao động từ 5% đến tử vong Chế độ bồi thường cũng đã được bổ sung việc bồi thường cho các trường hợp bị tai nạn khi nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ăn bồi dưỡng, vệ sinh kinh nguyệt, tắm rửa, cho con bú, đi vệ sinh, thời gian chuẩn bị và kết thúc công việc mà trước đây quy định tại Thông tư liên tịch số 03/1998/TTLT/BLĐTBXH-BYT-TLĐLĐVN ngày

Trang 20

26/3/1995 chỉ được xem như TNLĐ và hưởng chế độ trợ cấp14 Tuy nhiên, Thông tư số 10/2003/TT-BLLĐTBXH hướng dẫn không hợp lý về điều kiện TNLĐ được bồi thường15

1.5.3 Giai đoạn Bộ luật Lao động 2012

Đến ngày 18 tháng 6 năm 2012 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 đã thông qua BLLĐ năm 2012 BLLĐ năm 2012 có hiệu lực từ ngày 01/5/2013 thay thế cho BLLĐ năm 1994 BLLĐ năm 2012 có 242 Điều, trong đó chế độ BTTH về tính mạng, sức khỏe trong QHLĐ được quy định tại Mục 2 Chương IX từ Điều 139 đến Điều 146 Đây là những quy định có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tạo nên cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong QHLĐ khi xảy ra thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của NLĐ

So với BLLĐ năm 1994, thì chế độ BTTH trong BLLĐ năm 2012 được quy định

rõ ràng hơn, cụ thể:

Chế độ BTTH đã được tách thành mục riêng trong Chương “An toàn lao động, Vệ

sinh lao động” với số lượng Điều luật nhiều hơn (BLLĐ năm 2012 quy định 19 Điều,

BLLĐ năm 1994 quy định 13 Điều) Ngoài ra, quy định về trách nhiệm BTTH được thể hiện cụ thể, tập trung vào vấn đề hơn BLLĐ 1994 chỉ quy định chung, mang tính tản mạn Hơn nữa BLLĐ 2012 bổ sung thêm trách nhiệm của NSDLĐ là chi trả lương cho NLĐ trong thời gian điều trị khi bị TNLĐ, BNN Đồng thời, về mức bồi thường ghi nhận

cụ thể hơn là mức bồi thường trong trường hợp suy giảm khả năng lao động từ 5% đến trên 81% (BLLĐ năm 1994 chỉ quy định mức bồi thường TNLĐ, BNN cho NLĐ bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên đối với trường hợp chết người, đối với trường hợp NLĐ bị suy giảm khả năng lao động từ 5% đến dưới 81% được quy định tại một văn bản dưới luật)

Tiếp theo đó, để cụ thể hóa và hướng dẫn chi tiết chế độ bồi thường này trong BLLĐ năm 2012, Chính phủ đã ban hành một số Nghị định Cụ thể là Nghị định số 44/2013/NĐ-CP ngày 10/05/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của BLLĐ về hợp đồng lao động Nghị định này quy định một số trách nhiệm của NSDLĐ đối với NLĐ bị TNLĐ, BNN như trách nhiệm thanh toán chi phí từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định đối với người lao động theo quy định tại Khoản 1 Điều

144 BLLĐ năm 2012; trả đủ tiền lương theo HĐLĐ cho NLĐ bị TNLĐ hoặc BNN phải

Trang 21

nghỉ việc trong thời gian điều trị; bồi thường hoặc trợ cấp cho người lao động theo quy định tại Khoản 3, Khoản 4 Điều 145 BLLĐ năm 2012

Ngoài ra, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 45/2013/NĐ-CP ngày 10/5/2013 về quy định chi tiết một số điều của BLLĐ về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và ATVSLĐ Quy định rõ các trường hợp được xác định là TNLĐ và các trường hợp được coi là TNLĐ Đặc biệt, Thông tư số 04/2015/TT-BLĐTBXH ngày 02/02/2015 hướng dẫn thực hiện chế độ bồi thường, trợ cấp và chi phí y tế của người sử dụng lao động đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đã quy định rất cụ thể

về đối tượng, nguyên tắc, mức bồi thường cũng như các trường hợp bồi thường, trợ cấp đặc thù riêng biệt và được xem là một văn bản pháp luật mang tính hoàn thiện nhất quy định về vấn đề BTTH tính mạng, sức khỏe cho NLĐ Đây chính là những cơ sở pháp lý rất mới và cụ thể cho thấy được sự hoàn thiện gần như là thành công của BLLĐ năm

2012 và các văn bản liên quan về chế độ BTTH về tính mạng, sức khỏe

1.5.4 Giai đoạn Luật An toàn, vệ sinh lao động đến nay

Ngay từ khi BLLĐ 2012 có hiệu lực cùng với các văn bản liên quan đưa vào áp dụng, đã phần nào cụ thể hóa được những quy định của pháp luật Lao động vào đời sống

xã hội, mà đặc biệt chế độ BTTH về tính mạng, sức khỏe cũng đã góp phần trong thành công của BLLĐ năm 2012 Tuy nhiên, sự bao quát rộng lớn của BLLĐ năm 2012 bởi vì vấn đề Lao động là vấn đề lớn, gây khó khăn rất nhiều trong quá trình quản lý cũng như quá trình nắm bắt được những nhu cầu thay đổi từng ngày của xã hội, để tạo nên một hệ thống quy định hoàn chỉnh ổn định Ta dễ dàng thấy BLLĐ năm 2012 bao trùm quá nhiều quy định cụ thể, yêu cầu đặt ra phải có những Luật mới được hình thành, để giảm bớt sự bao quát quá nhiều của BLLĐ năm 2012 Vì lẽ đó Luật An toàn vệ sinh lao động được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 9 đã thông qua có hiệu lực thi hành vào ngày 01/7/2016 Luật An toàn vệ sinh lao động gồm 7 Chương, 94 Điều trong đó so với quy định về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của Bộ luật lao động năm 2012, Luật an toàn, vệ sinh lao động đã kế thừa những quy định thành công của BLLĐ 2012, ngoài ra Luật An toàn, vệ sinh lao động quy định bao quát hơn và cụ thể hơn các hoạt động về an toàn, vệ sinh lao động Ngoài các quy định trong việc bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động, phạm vi điều chỉnh của Luật còn bao gồm

cả các quy định về tổ chức quản lý công tác an toàn, vệ sinh lao động trong cơ sở sản xuất, kinh doanh, chính sách, chế độ đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

Mà cụ thể nhất là quy định rõ về những trách nhiệm của NSDLĐ đối với NLĐ bị TNLĐ, BNN tại Mục 2, Luật An toàn vệ sinh lao động Hơn nữa, chế độ BTTH còn được quy

Trang 22

định cụ thể tại Điều 38, một cách rõ ràng cụ thể hơn quy định tại Khoản 3, Khoản 4 Điều

145 của BLLĐ năm 2012

Kể từ ngày Luật An toàn vệ sinh lao động có hiệu lực thi hành đã giải quyết được nhiều vấn đề gặp phải còn tồn tại trong BLLĐ năm 2012 về chế độ BTTH tính mạng, sức khỏe cho NLĐ Để cụ thể những quy định đó Chính phủ đã ban hành Nghị định số 39/2016/NĐ-CP về quy định chi tiết một số điều của luật an toàn, vệ sinh lao động Nghị định này đã đưa ra những quy định rất chi tiết về trách nhiệm của NSDLĐ đối với cơ quan Điều tra tai nạn lao động, cũng như quy trình cụ thể về BTTH cho NLĐ bị TNLĐ, BNN Ngoài ra còn nhiều văn bản khác liên quan như: Nghị định số 37/2016/NĐ-CP quy định hướng dẫn Luật an toàn, vệ sinh lao động về Bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp bắt buộc; Nghị định 44/2017/NĐ-CP quy định mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Đây chính là những cơ sở pháp lý rất mới và cụ thể cho thấy được sự hoàn thiện gần như là thành công của Luật An toàn, vệ sinh lao động và các văn bản liên quan về chế độ BTTH về tính mạng, sức khỏe trong QHLĐ

Tóm lại, với những khái quát chung về bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe trong quan hệ lao động tại Chương I, đã thể hiện rõ về khái niệm về BTTH tính mạng, sức khỏe trong lao động Song song đó, khát quát rõ về những đặc điểm riêng biệt của chế độ BTTH về tính mạng, sức khỏe Đồng thời cũng đã trình bày rất đầy đủ về những nguyên tắc bồi thường cũng như đi sâu tìm hiểu lịch sử hình thành chế độ BTTH này để có cái nhìn khách quan và toàn diện hơn về tầm quan trọng của BTTH tính mạng, sức khỏe trong quan hệ lao động

Trang 23

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TÍNH MẠNG,

SỨC KHỎE TRONG QUAN HỆ LAO ĐỘNG 2.1 Quyền của người lao động - Nghĩa vụ của người sử dụng lao động đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

Quyền của NLĐ phản ánh nghĩa vụ của NSDLĐ, trong BLLĐ 2012 ghi nhận

quyền của NLĐ thông qua Điều 145 và Luật An toàn, vệ sinh lao động ghi nhận trách nhiệm của NSDLĐ tại Điều 38, cụ thể như sau:

Cụ thể tại Khoản 1, Điều 38 Luật An toàn, vệ sinh lao động cũng đã quy định rõ

về trách nhiệm ứng cứu, sơ cứu: NSDLĐ kịp thời sơ cứu, cấp cứu cho người lao động bị tai nạn lao động và phải tạm ứng chi phí sơ cứu, cấp cứu và điều trị cho người lao động

bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp

Trách nhiệm chi trả một phần hoặc toàn bộ chi phí y tế:

Khác với quy định tại Bộ luật Lao động 1994 trước đây là toàn bộ chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị xong cho người bị TNLĐ, BNN đều do NSDLĐ chi trả, pháp luật hiện hành quy định NSDLĐ chỉ phải thanh toán phần chi phí đồng chi trả

và những chi phí không nằm trong danh mục do bảo hiểm y tế chi trả đối với người tham gia bảo hiểm y tế và thanh toán toàn bộ chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị

ổn định đối với NLĐ không tham gia bảo hiểm y tế16 Quy định này một mặt tăng trách nhiệm của cơ quan bảo hiểm xã hội và mặt khác giảm bớt trách nhiệm tài chính của NSDLĐ Cụ thể, NSDLĐ có trách nhiệm:

- Thanh toán phần chi phí đồng chi trả và những chi phí không nằm trong danh mục do bảo hiểm y tế chi trả đối với người lao động tham gia bảo hiểm y tế;

16 Khoản 1 Điều 144 Bộ luật lao động năm 1994

Trang 24

- Trả phí khám giám định mức suy giảm khả năng lao động đối với những trường hợp kết luận suy giảm khả năng lao động dưới 5% do người sử dụng lao động giới thiệu người lao động đi khám giám định mức suy giảm khả năng lao động tại Hội đồng giám định y khoa;

- Thanh toán toàn bộ chi phí y tế đối với người lao động không tham gia bảo hiểm y tế.17

Trách nhiệm thanh toán tiền lương trong thời gian điều trị:

Mặc dù trong thời gian điều trị, NLĐ không thực hiện công việc theo hợp đồng nên về nguyên tắc NSDLĐ không trả lương cho NLĐ nhưng việc ngưng điều trị này có nguyên nhân trực tiếp từ TNLĐ, BNN, là hậu quả của việc thực hiện công việc theo yêu cầu của NSDLĐ nên pháp luật đã quy định NSDLĐ phải trả đủ tiền lương theo hợp đồng lao động cho NLĐ bị TNLĐ, BNN phải nghỉ việc trong thời gian điều trị Điều đó cũng

đã được khẳng định lại ngay ở Khoản 3, Điều 38 của Luật An toàn vệ sinh lao động:

“Trả đủ tiền lương cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp phải nghỉ việc trong thời gian điều trị, phục hồi chức năng lao động” Tiền lương ở đây là khoản

tiền theo HĐLĐ mà NLĐ và NSDLĐ đã ký kết, điều này đảm bảo quyền lợi cho NLĐ vẫn ổn định về thu nhập sau khi bị thiệt hại Tuy nhiên, “thời gian điều trị” theo quy định trên là bao lâu, bởi tùy vào trường hợp cụ thể, NLĐ có thể điều trị sớm hoặc có thể tính bằng năm Điều này đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi, gây thiệt thòi cho NSDLĐ, vậy pháp luật nên giới hạn thời gian trả lương khi điều trị dài hạn là điều cần thiết

Trách nhiệm bồi thường trợ cấp khi có tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp:

Đối với trách nhiệm này tương ứng với quyền của NLĐ khi bị TNLĐ, BNN được quy định tại Khoản 3 Điều 145 Bộ luật lao động 2012 và Khoản 4 Điều 38 Luật An toàn,

vệ sinh lao động ( Đây là phần trọng tâm của đề tài, chính vì vậy người viết xin dành riêng mục 2.2 để phân tích quy định)

Một số trách nhiệm liên quan:

- Giới thiệu để người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được giám định y khoa xác định mức độ suy giảm khả năng lao động, được điều trị, điều dưỡng, phục hồi chức năng lao động theo quy định pháp luật;

- Thực hiện bồi thường, trợ cấp đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày có kết luận của Hội đồng giám định

y khoa về mức suy giảm khả năng lao động hoặc kể từ ngày Đoàn điều tra tai nạn lao động công bố biên bản điều tra tai nạn lao động đối với các vụ tai nạn

17 Khoản 2 Điều 38 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015

Trang 25

lao động chết người; Quy định này được hướng dẫn chi tiết tại Chương III, Nghị định số 39/2016/NĐ-CP của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động

- Sắp xếp công việc phù hợp với sức khỏe theo kết luận của Hội đồng giám định

y khoa đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp sau khi điều trị, phục hồi chức năng nếu còn tiếp tục làm việc;

- Lập hồ sơ hưởng chế độ về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp từ Quỹ bảo

hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp “Như vậy, NLĐ tham gia bảo hiểm

xã hội bắt buộc được hưởng chế độ TNLĐ, BNN theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội Nếu NLĐ thuộc đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc mà NSDLĐ chưa đóng bảo hiểm xã hội cho cơ quan bảo hiểm xã hội, thì được NSDLĐ trả khoản tiền tương ứng với chế độ TNLĐ, BNN theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội Trong trường hợp này, việc chi trả có thể thực hiền một lần hoặc hằng tháng theo thỏa thuận của các bên”18

2.2 Quy định về chế độ bồi thường – Trợ cấp của người sử dụng lao động đối với người lao động khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

2.2.1 Đối tượng áp dụng chế độ bồi thường thiệt hại tính mạng, sức khỏe trong quan

hệ lao động

Hiện nay, theo quy định của Bộ luật Lao động 2012 thì NLĐ và NSDLĐ là hai đối tượng chính yếu khi thực hiện việc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, cụ thể tại điều 145, Bộ luật lao động 2012 Tuy nhiên, dựa vào Điều 145, Bộ luật lao động 2012 thì đối tượng áp dụng rất trừu tượng chưa mang tính cụ thể, điều đó khẳng định tại Khoản 1,

2 Điều 3, Bộ luật Lao động 2012 về định nghĩa của NLĐ và NSDLĐ Đến khi Nghị định

số 45/2013/NĐ-CP có hiệu lực thì ta có để nhận thấy rõ ràng hơn về đối tượng áp dụng

về chế độ bồi thường thiệt hại tính mạng, sức khỏe, cụ thể:

“Các quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động tại Nghị định này được áp dụng đối với các đối tượng sau:

a) Người lao động Việt Nam; người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam; người học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động;

b) Doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình; cá nhân có liên quan.”19

Ngày đăng: 30/06/2022, 14:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
28. Bản án số: 38/2017/LĐ-PT ngày 15/12/2017 về “Tranh chấp đòi tiền lương và bồi thường thiệt hại về tai nạn lao động” của Tòa án nhân dân Tỉnh Cà Mau. Danh mục sách, luận án, luận văn, bài viết Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tranh chấp đòi tiền lương và bồi thường thiệt hại về tai nạn lao động”
29. Đoàn Thị Phương Diệp: Giáo trình Luật Lao động, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Tp. Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh, 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Lao động
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học quốc gia Tp. Hồ Chí Minh
31. Bộ giáo dục và đào tạo: Giáo trình những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
32. Nguyễn Nhƣ Ý: Đại từ điển Tiếng Việt, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại từ điển Tiếng Việt
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
34. Đoàn Minh Hòa: “ Những quy định mới về chế độ bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp”, Tạp chí Lao động và Xã hội, số 220 (2003), 29-34. Danh mục bài viết đăng trên trang thông tin điện tử Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những quy định mới về chế độ bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp”, "Tạp chí Lao động và Xã hội
Tác giả: Đoàn Minh Hòa: “ Những quy định mới về chế độ bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp”, Tạp chí Lao động và Xã hội, số 220
Năm: 2003
35. Lê Văn Sua: “Bàn về nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo Bộ luật dân sự 2015”, Bộ Tƣ Pháp, http://www.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2205 [truy cập ngày 20-8-2018] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo Bộ luật dân sự 2015
37. Huy Tự, Cà Mau: “Tập trung nguồn lực cho các khu công nghiệp, khu kinh tế”, Đầu tƣ online, https://baodautu.vn/ca-mau-tap-trung-nguon-luc-cho-cac-khu-cong-nghiep-khu-kinh-te-d32361.html [truy cập ngày 20-10-2018] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập trung nguồn lực cho các khu công nghiệp, khu kinh tế
38. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, “Tình hình tai nạn lao động năm 2013”, Cục An toàn Lao động,http://antoanlaodong.gov.vn/catld/pages/chitiettin.aspx?IDNews=1389 [truy cập ngày 18-10-2018] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình tai nạn lao động năm 2013
39. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, “Thông báo tình hình tai nạn lao động 6 tháng đầu năm 2018”, Cục An toàn Lao động,http://antoanlaodong.gov.vn/catld/pages/chitiettin.aspx?IDNews=2216 [truy cập ngày 18-10-2018]. Danh mục các tài liệu khác Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo tình hình tai nạn lao động 6 tháng đầu năm 2018
19. Thông tƣ số 07/2016/TT-BLĐTBXH ngày 15/5/2016 quy định một số nội dung tổ chức thực hiện công tác an toàn, vệ sinh lao động đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh Khác
20. Thông tƣ liên tịch số 03/1998/TTLT/BLĐTBXH-BYT-TLĐLĐVN ngày 26/3/1995 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội – Bộ Y tế - Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam hướng dẫn về khai báo điều tra tai nạn lao động (hết hiệu lực). Văn bản hành chính Khác
21. Nghị quyết số 25/2017/NQ-HĐND ngày 08/12/2017 của Hội đông nhân dân tỉnh Cà Mau ban hành chương trình việc làm tỉnh Cà Mau năm 2018 Khác
22. Quyết định 896/QĐ-UBND ngày 30/6/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau về việc phê duyệt quy hoạch vùng tỉnh Cà Mau đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2050 Khác
23. Báo cáo số 29/BC–SLĐTBXH ngày 31/01/2018 của Sở Lao động Thương binh và Xã hội báo cáo về tình hình thực hiện năm 2017 và triển khai nhiệm vụ năm 2018 về lĩnh vực anh toàn, vệ sinh lao động trên địa bàn tỉnh Cà Mau Khác
24. Thông báo số 653/TB-LĐTBXH ngày 27/02/2015 của Bộ Lao động Thương Binh và Xã hội về Tình hình tai nạn lao động năm 2014 Khác
25. Thông báo số 537/TB-LĐTBXH ngày 26/02/2016 của Bộ Lao động Thương Binh và Xã hội về Tình hình tai nạn lao động năm 2015 Khác
26. Thông báo số 1152/TB-LĐTBXH ngày 28/3/2017 của Bộ Lao động Thương Binh và Xã hội về Tình hình tai nạn lao động năm 2016 Khác
27. Thông báo số 908/TB-LĐTBXH ngày 08/3/2018 của Bộ Lao động Thương Binh và Xã hội về Tình hình tai nạn lao động năm 2017. Danh mục án lệ, bản án Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Thông qua biểu đồ trên ta thấy tình hình TNLĐ trên địa bàn tỉnh Cà Mau từ năm 2013 đến tháng 6/2018 về số vụ tai nạn lao động giảm rõ rệt, cụ thể từ 14 vụ ở năm 2013  còn 2 vụ tính đến 6/2018, qua đó cho thấy công tác thực hiện lĩnh vực ATVSLĐ trên địa  b - Pháp luật về Bồi thường thiệt hại, tính mạng và sức khỏe trong quan hệ lao động  Thực trạng tại tỉnh Cà Mau
h ông qua biểu đồ trên ta thấy tình hình TNLĐ trên địa bàn tỉnh Cà Mau từ năm 2013 đến tháng 6/2018 về số vụ tai nạn lao động giảm rõ rệt, cụ thể từ 14 vụ ở năm 2013 còn 2 vụ tính đến 6/2018, qua đó cho thấy công tác thực hiện lĩnh vực ATVSLĐ trên địa b (Trang 37)
Qua bảng thống kê cho thấy, việc bồi thƣờng trợ cấp từ phía NSDLĐ (ở đây là doanh  nghiệp)  chủ  yếu  thực  hiện  thông  qua  bảo  hiểm  xã  hội,  nên  tình  hình  chi  trả  cho  NLĐ theo thống kê ở mức thấp, lý do nằm ở số vụ TNLĐ qua các năm không nhiều - Pháp luật về Bồi thường thiệt hại, tính mạng và sức khỏe trong quan hệ lao động  Thực trạng tại tỉnh Cà Mau
ua bảng thống kê cho thấy, việc bồi thƣờng trợ cấp từ phía NSDLĐ (ở đây là doanh nghiệp) chủ yếu thực hiện thông qua bảo hiểm xã hội, nên tình hình chi trả cho NLĐ theo thống kê ở mức thấp, lý do nằm ở số vụ TNLĐ qua các năm không nhiều (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w