38 CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3 1 Kết quả điều tra, khảo sát về nguồn nước mặt và các thông tin liên quan tại địa bàn huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An Để có cái nhìn tổng thể về tình hình khai thác, sử dụng và chất lượng nước mặt tại địa bàn nghiên cứu, nhóm đã tiến hành điều tra phiếu tại 200 hộ dân trên 12 tuyến điều tra Một số kết quả khảo sát ban đầu được thể hiện như sau 3 1 1 Nguồn nước khai thác Hiện nay, riêng việc cấp nước cho sinh hoạt trên địa bàn huyện Mộc Hóa được đơn vị.
Trang 138
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Kết quả điều tra, khảo sát về nguồn nước mặt và các thông tin liên quan tại địa bàn huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An
Để có cái nhìn tổng thể về tình hình khai thác, sử dụng và chất lượng nước mặt tại địa bàn nghiên cứu, nhóm đã tiến hành điều tra phiếu tại 200 hộ dân trên 12 tuyến điều tra Một số kết quả khảo sát ban đầu được thể hiện như sau:
3.1.1 Nguồn nước khai thác
Hiện nay, riêng việc cấp nước cho sinh hoạt trên địa bàn huyện Mộc Hóa được đơn
vị trạm cấp nước TX Kiến Tường thực hiện, chủ yếu tập trung tại các khu vực đông dân cư Việc cấp nước cho các hoạt động sản xuất và sinh hoạt tại một số khu vực biên giới không đảm bảo về mặt lưu lượng và chất lượng
Trang 239
Hình 3.1 Sơ đồ tương quan vị trí khai thác và vị trí gần khu vực khai thác nước mặt Các điểm khai thác nguồn nước của người dân chủ yếu theo thứ tự ưu tiên từ các sông, Kênh, hầm đất, nước mặt đồng ruộng và gần các khu vực trồng trọt (canh tác lúa, cây ăn trái), chăn nuôi, cơ sở sản xuất
3.1.2 Mục đích khai thác
Kết quả điều tra về tình hình khai thác nguồn nước mặt theo 12 tuyến điều tra cho thấy, có 195 hộ đang khai thác (chiếm 97.5%), có 5 hộ dân ngừng khai thác nước mặt (chiếm 2.5%) tập trung ở Kênh 12, do hiện tại đã có nước sạch từ trạm cấp nước thị xã Kiến Tường chuyển về dùng cho sinh hoạt hằng ngày Mặc dù, được cấp nước sạch nhưng dọc tuyến Kênh 12 việc cấp nước sạch không đồng đều
Trang 340
Hình 3.2 Sơ đồ tương quan tình trạng khai thác và mục đích sử dụng nước mặt Mục đích khai thác nước mặt sử dụng chính của người dân là: Canh tác lúa, chăn nuôi, tưới cây và sinh hoạt, có nhiều hộ khai thác nước mặt phục vụ cho nhiều mục tiêu nhằm nâng cao sản xuất và nhu cầu cá nhân Trong đó, việc bơm để cung cấp nguồn nước cho việc sản xuất, canh tác lúa nước 2 vụ trên khu vực huyện tổng diện tích gieo trồng lúa trong vụ lúa Đông xuân 2018 - 2019 trên địa bàn huyện gieo sạ được 21.977 ha, đạt 99,6% so với kế hoạch của huyện đề ra (22.070 ha) nguyên nhân là do người dân chuyển đổi từ trồng lúa sang nuôi thủy sản hoặc trồng các loại cây khác như sen, dưa hấu, cây ăn quả,…; có 40 hộ (chiếm 20%) khai thác nước mặt phục vụ cho việc rửa chuồng trại; có 68 hộ (chiếm 34%) sử dụng cho mục đích sinh hoạt nằm ở các vị trí xã Tân Lập thuộc Kênh 12 và Kênh Cây Khô Lớn
Trang 4Hình 3.3 Sơ đồ tương quan khả năng ô nhiễm nguồn nước mặt ảnh hưởng đến sức
khỏe cộng đồng Dựa vào kết quả điều tra về mặt cảm quan của người dân về chất lượng nước mặt trên địa bàn huyện, có 159/200 (79.5%) hộ sử dụng nguồn nước mặt cho rằng nguồn nước mặt bị ô nhiễm ảnh hưởng đến sức khỏe, có 72 trường hợp về bệnh ngoài da (36%) khi sử dụng nước cho các mục đích sinh hoạt, ăn, uống
Nguồn gây ô nhiễm nước mặt trên địa bàn huyện Mộc Hóa chủ yếu là rác và nước thải sinh hoạt Trong đó, chất thải rắn nông nghiệp như bao bì, vỏ, chai thuốc bảo vệ
Trang 53.1.4 Đánh giá sơ bộ chất lượng nước và các nguồn thải
3.1.4.1 Kênh Cây Khô Lớn
Đánh giá về chất lượng nước: Nguồn nước bị ảnh hưởng do các chất bảo vệ thực vật
từ đồng ruộng và lục bình trên sông nên nước ở khu vực này bị mùi tanh và bùn, đặc biệt là sau khi phun diệt lục bình theo định kỳ, nước bị vàng và có vị chua thường xảy ra lớp váng trên mặt nước nên chất lượng nước khu vực này không sử dụng tốt cho mục đích sinh hoạt
Về nguồn thải: Do chưa có hệ thống thu gom nước thải nên toàn bộ lượng nước thải sau khi sử dụng đều được thải trực tiếp vào sông, kênh, nhưng chủ yếu ô nhiễm do nguồn thải từ các hoạt động chăn nuôi bò, heo Còn về rác thải thì có 17/21 hộ thu gom để đốt, riêng 4 hộ còn lại sử dụng dịch vụ thu gom rác thải
3.1.4.2 Gần khu xả thải Trung tâm Y tế huyện
Đánh giá về chất lượng nước: Sông Vàm Cỏ Tây là nơi tiếp nhận nguồn nước thải trực tiếp từ Trung tâm y tế (TTYT) Huyện Nhìn chung, đây là nơi giao thoa giữa sông Vàm Cỏ Tây và Kênh Ba Hồng Minh nên khả năng khuếch tán ô nhiễm ra môi trường nhanh chóng Khu vực này chất lượng nước bị vàng và có vị chua thường xảy ra lớp váng trên mặt nước, nên muốn sử dụng cho mục đích sinh hoạt nhưng cần phải qua xử lý
Về nguồn thải: Nguồn thải chủ yếu từ các chất bảo vệ thực vật từ đồng ruộng, cống thải gần chợ Bình Phong Thạnh nên bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố Do chưa có hệ thống thu gom nước thải nên toàn bộ lượng nước thải sau khi sử dụng đều được thải trực tiếp vào sông Vàm Cỏ Tây và Kênh Ba Hồng Minh Còn về rác thải thì có 5/7
hộ thu gom để đốt, riêng 2 hộ còn lại vứt rác thải trực tiếp ra Kênh
Trang 63.1.4.4 Khu nước mặt đồng ruộng
Đánh giá về chất lượng nước: Nước bị ảnh hưởng do các chất bảo vệ thực vật từ đồng ruộng, nước ở khu vực này bị mùi bùn, nước có màu trắng đục và có vị chua thường xảy ra lớp váng trên mặt nước nên chất lượng nước khu vực này không sử dụng tốt cho mục đích sinh hoạt
Về nguồn thải: Ô nhiễm chủ yếu do hóa chất từ hoạt động nông nghiệm, bên cạnh
đó nước mặt còn bị các hộ dân mặn hóa đề phục vụ cho hoạt động nuôi tôm Còn về rác thải thì có 7/10 hộ được điều tra tiến hành thu gom để đốt, riêng 3 hộ còn lại có đăng kí dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt tại nhà
Trang 7và có dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt Nguồn thải đáng quan tâm, đó là từ các hộ nuôi cá tra bột dọc theo hai bờ Kênh
3.1.4.7 Kênh Đường Bàng
Đánh giá về chất lượng nước: Tình trạng nước ở khu vực này bị mùi bùn và tanh, nước có màu trắng đục và có vị chua thường xảy ra lớp váng trên mặt nước nên chất lượng nước khu vực này không sử dụng tốt cho mục đích sinh hoạt
Về nguồn thải: Toàn bộ lượng nước thải sau khi sử dụng đều được thải trực tiếp vào sông hoặc Kênh, ô nhiễm chủ yếu do nước thải từ hoạt động chăn nuôi bò, heo; còn
về rác thải thì tất cả hộ đều thu gom để đốt
3.1.4.8 Kênh Ba Hồng Minh
Đánh giá về chất lượng nước: Khu vực Ba Hồng Minh nguồn nước mặt có dấu hiệu
bị nhễm phèn, lục bình dày đặc nên nước ở khu vực này bị mùi bùn và tanh, nước
có màu trắng đục và có vị chua thường xảy ra lớp váng trên mặt nước nên chất lượng nước khu vực này không sử dụng tốt cho mục đích sinh hoạt
Về nguồn thải: Toàn bộ lượng nước thải sau khi sử dụng đều được thải trực tiếp vào sông hoặc Kênh, ô nhiễm do nước thải từ hoạt động của chợ Ba Hồng Minh; còn về rác thải thì tất cả đều hộ thu gom để đốt
Trang 83.1.4.10 Kênh 12
Đánh giá về chất lượng nước: Nước bị ảnh hưởng do nước xả thải từ các hộ ao nuôi
cá ở khu vực, gần khu vực trồng trọt nên bị ảnh hưởng các chất bảo vệ thực vật từ đồng ruộng và lục bình trên Kênh nên nước ở khu vực này bị mùi tanh và bùn, nước
bị vàng và có vị chua thường xảy ra lớp váng trên mặt nước nên chất lượng nước khu vực này không sử dụng tốt cho mục đích sinh hoạt
Về nguồn thải: Do chưa có hệ thống thu gom nước thải nên toàn bộ lượng nước thải sau khi sử dụng đều được thải trực tiếp vào sông, Kênh, ô nhiễm do hóa chất của các hoạt động nông nghiệp; còn về rác thải thì hầu hết được thu gom để đốt
3.1.4.11 Kênh Cây Khô Nhỏ
Đánh giá về chất lượng nước: Tình trạng lục bình trên Kênh Cây Khô Nhỏ cũng như các kênh khác không có dấu hiệu khuyên giảm nên nước ở khu vực này bị mùi tanh và bùn, nước bị vàng và có vị chua thường xảy ra lớp váng trên mặt nước nên chất lượng nước khu vực này không sử dụng tốt cho mục đích sinh hoạt
Về nguồn thải: Do chưa có hệ thống thu gom nước thải nên toàn bộ lượng nước thải sau khi sử dụng đều được thải trực tiếp vào sông, Kênh, chủ yếu ô nhiễm do nước thải từ hoạt động chăn nuôi heo, bò; còn về rác thải thì hầu hết được thu gom để đốt
Trang 9Đánh giá chung về chất lượng nguồn nước:
Nhìn chung, qua kết quả khảo sát thực địa trên trên 12 khu vực xung quanh sông Vàm Cỏ Tây và các Kênh, rạch, hầm đất thuộc địa bàn huyện Mộc Hóa, tỉnh Long
An cho kết quả chưa tốt Nước ở hầu hết các khu vực đều bị vàng, đục, có mùi bùn
và tanh, ngoài ra nguồn nước mặt còn đang bị nhiễm phèn rất nặng và có lớp váng trên mặt nước Nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước là do:
Thứ nhất, chưa quản lý tốt và ý thức người dân chưa cao về hóa chất nông nghiệp
và bao bì sau sử dụng (vứt bỏ tràn lan trên các đồng ruộng, con sông và Kênh, rạch)
Thứ hai, tỷ lệ hộ dân được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh theo quy chuẩn quốc gia trên địa bàn huyện còn thấp và chưa đồng bộ
Thứ ba, chưa tiến hành thu gom nước thải sinh hoạt sau khi sử dụng, nước thải được thải trực tiếp vào các Kênh, rạch
Thứ tư, vấn đề chăn nuôi xả thải phân từ các chuồng trại, hầm cá… ra các Kênh và vứt xác động vật chết trực tiếp vào môi trường
Trang 1047
3.2 Kết quả điều tra về tình hình khai thác và sử dụng nước mặt tại địa bàn nghiên cứu
3.2.1 Về tình hình khai thác nước mặt
Theo kết quả điều tra, người dân cho biết nguồn nước mặt khai thác ở các hộ không
sử dụng tốt cho sinh hoạt, ăn uống Do thiếu nguồn nước sạch ở một số vùng sâu và
xa, một phần nào do huyện Mộc Hóa mới tách khu vực hành chính, nên việc chưa
bổ sung kịp các tuyến cấp nước cho các hộ dân là không tránh khỏi
Hình 3.4 Sơ đồ tương quan đánh giá chung nguồn nước và các nguồn gây ô nhiễm Trong 200 hộ dân thuộc tuyến điều tra thì có đến 31% hộ dân đang sử dụng nước bẩn, phải qua xử lý mới sử dụng và có đến 96.5% hộ dân cho rằng nguồn nước không sử dụng tốt cho sinh hoạt
Theo đánh giá cảm quan của người dân địa phương, nguồn nước bị ô nhiễm nhiều nhất do Kênh, rạch và đồng ruộng Ngoài ra, Kênh 12, Kênh 79 đang bị ô nhiễm nhiều do việc các nông hộ nuôi ao thủy sản số lượng lớn, thải nước thải chứa hàm lượng các chất hữu cơ cao từ các ao nuôi vào; còn lại các Kênh, sông khác bị ảnh
Trang 1148
hưởng nhiều do lục bình dày đặc, cản trở giao thông đường thủy, khi diệt lục bình bằng thuốc hóa học theo chu kỳ thì gây lượng lớn lục bình chết tạo mùi hôi, tanh khu vực sông Kênh trong đó phải kể đến là Kênh 61
3.2.2 Về phương pháp khai thác
Huyện Mộc Hóa có mạng lưới sông ngồi dày đặc cung cấp nguồn nước mặt dồi dào cho người dân trên địa bàn, nhưng tỷ lệ hộ dân được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh
và phương pháp khai thác lạc hậu làm thất thoát tài nguyên nước
Hình 3.5 Sơ đồ các phương pháp khai thác Phương pháp khai thác của người dân đa phần dùng máy bơm có 170 hộ (chiếm 85%): máy bơm sinh hoạt và máy dầu (Diesel) nhằm bơm nước vào đất ruộng để canh tác lúa nước, chăn nuôi và sinh hoạt Có 40 hộ/200 hộ kéo nước từ sông, Kênh (chiếm 15%) bằng các thùng đựng nước chủ yếu là tưới cây, nên lưu lượng khai thác ích trung bình khoảng 60 lít 1 ngày
3.2.3 Về xử lý nước mặt trước khi sử dụng
Do mục đích sử dụng nước của các hộ dân phục vụ chủ yếu là canh tác lúa, chăn nuôi và tưới cây Vì thế các hộ dân đa số không xử lý nước mặt trước khi sử dụng
Kéo nước từ sông, kênh, 85, 85%
Sử dụng máy bơm, 15, 15%
Sơ đồ phương pháp khai thác
Kéo nước từ sông, kênh Sử dụng máy bơm
Trang 123.3 Đánh giá hiện trạng chất lượng nước mặt tại huyện Mộc Hóa theo từng thông số
Chất lượng nước mặt trên địa bàn huyện được đánh giá qua một số chỉ tiêu cơ bản:
pH, DO, TSS, COD, BOD5, Amoni, Phosphat, Coliforms được tiến hành lấy theo
02 đợt mùa khô và mùa nước lũ Sau khi phân tích mẫu, được so sánh với quy chuẩn QCVN 08:2015/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt dùng cho mục đích cấp nước sinh hoạt; bảo tồn động thực vật thủy sinh, tưới tiêu thủy lợi, giao thông thủy và các mục đích khác với yêu cầu nước chất lượng thấp Hiện nay, tại tỉnh Long An nói riêng và ĐBSCL nói chung, phần lớn người
Trang 1350
dân nông thôn vẫn còn sử dụng nước mặt cho mục đích sinh hoạt, ăn uống Vì vậy, báo cáo này sử dụng quy chuẩn QCVN 08:2015/BTNMT để đánh giá chất lượng nước mặt tại huyện Mộc Hóa tỉnh Long An
3.3.1 Chỉ tiêu pH
pH là chỉ số đo độ hoạt động của các Ion hiđrô (H+) trong dung dịch Giá trị pH trong nước mặt sẽ ảnh hưởng tới điều kiện sống bình thường của các sinh vật nước,
sự thay đổi giá trị pH có thể dẫn tới sự thay đổi về thành phần các chất trong nước
do quá trình hòa tan hoặc kết tủa, thúc đẩy hay ngăn chặn phản ứng hóa học, sinh học xảy ra trong nước Giá trị pH của nước có thể được xác định bằng phương pháp điện hoá, chuẩn độ hoặc các loại thuốc thử khác nhau
Kết quả phân tích chỉ tiêu pH của 30 mẫu nước thu được tại các điểm đo được thể hiện trong hình 3.8, như sau:
pH cho phép cấp nước sinh hoạt
Trang 1451
Đợt 1, có 7/30 mẫu có giá trị pH khá thấp như: Hầm đất gần chợ Bình Phong Thạnh (vị trí 02 hầm đất, pH 4.4) và hầm đất xã Tân Thành (vị trí 04 hầm đất, pH 4.3) Đợt 2, có 10/30 mấu có giá trị pH khá thấp như: Kênh 61 (vị trí số 01, pH 5.5; vị trí
số 02, pH 5.5 và 03 - pH 5.4); Kênh 12 (vị trí 03, pH 5.9); Kênh Cả Dứa (vị trí 01
và 02, pH 5.8; Kênh Ba Hồng Minh (vị trí 01 và 02 có giá trị pH lần lượt là 5.9 và 5.8; Hầm đất (vị trí xã Tân Thành, pH 4.5); TTYT Huyện (vị trí sông Vàm Cỏ Tây
xã Tân Thành - pH 5.9 và nước mặt đồng ruộng (vị trí đồng ruộng xã Bình Phong Thạnh, pH 3.3)
Ngoài ra, các điểm còn lại điều nhiễm phèn nhẹ không đáng kể Giá trị pH thấp ở các khu vực nêu trên do địa chất khu vực, bờ đê kín không tháo nước ra vào tại các
vị trí hầm đất nên bị nhiễm phèn, các vị trí có giá trị pH sau hai đợt lấy mẫu không thay đổi nhiều, nhưng có diễn biến phèn hóa nhẹ Cụ thể như sau, tại ba điểm ở kênh Sáu Mốt có giá trị pH giảm lần lượt như sau: từ 6.2 - 5.5 mg/L và 6.1 - 5.4 mg/L
3.3.2 Chỉ tiêu BOD 5
Trong môi trường nước, khi quá trình oxy hoá xảy ra thì các vi sinh vật sử dụng oxy hoà tan, vì vậy xác định tổng lượng oxy hoà tan cần thiết cho quá trình phân huỷ sinh học BOD có ý nghĩa biểu thị lượng các chất thải hữu cơ trong nước có thể bị phân huỷ bằng các vi sinh vật, xác định xem các sinh vật sử dụng hết ôxy trong nước nhanh hay chậm như thế nào
Kết quả phân tích BOD5 trong nước mặt tại các điểm đo được trình bày trong hình sau:
Trang 15Hình 3.8 Giá trị BOD5 trong nước mặt tại các điểm đo Mức độ ô nhiễm do các chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học trong nước mặt ở các vị trí nước mặt, dao động từ 6mg/L đến 9 mg/L (đợt 01); dao động từ 9mg/L đến 15.25 mg/L (đợt 02); giá trị trung bình là 7 mg/L (đợt 01) - 12 mg/L (đợt 02) vượt qua giá trị giới hạn cột A
Đợt 01 giá trị BOD5 cao nhất được đo tại vị trí Kênh 79 (vị trí điểm cuối giáp xã Tân Hưng và Kênh 12 điểm đầu) đều có giá trị 12 mg/L - cột B1 và giá trị thấp nhất
đo được tại hầm đất (vị trí 04 hầm đất xã Tân Thành) với giá trị 4 mg/L - cột A1 Đợt 02, giá trị BOD5 cao nhất được đo tại vị trí Kênh 61 (vị trí điềm đầu và giữa) đều có giá trị 26 mg/L - Cột B2; giá trị thấp nhất đo được tại đồng ruồng (vị trí nước mặt đồng ruộng tại xã Bình Phong Thạnh 4 mg/L - cột A1)
Nhìn chung, các vị trí có diễn biến chất lượng nước mặt về chỉ tiêu BOD5 xấu đi, tại đợt 02 vào mùa nước nổi có các điểm BOD5 cao bất thường tại các điểm, như sau: kênh Sáu Mốt tại ba điểm lần lượt có giá trị: 26 mg/L; 26 mg/L; 22 mg/L, tại 02 điểm kênh Cây Khô Nhỏ có giá trị lần lượt: 26 mg/L; 25mg/L và tại 02 điểm kênh
Trang 163.3.3 Chỉ tiêu COD
Nhu cầu oxy hóa học, là lượng oxy cần thiết để oxy hoá các hợp chất hoá học trong nước bao gồm cả vô cơ và hữu cơ Như vậy, COD là lượng oxy cần để oxy hoá toàn
bộ các chất hoá học trong nước
Kết quả phân tích COD trong nước mặt tại các điểm đo được trình bày trong hình sau:
Trang 1754
Cột A Đợt 02 giá trị COD giao động từ 23 mg/L - 38.5 mg/L, giá trị trung bình 31.0 mg/L nằm trong giá trị giới hạn cột B - QCVN 08:2015/BTNMT
Đợt 01 giá trị cao nhất, được đo tại khu vực Kênh 79 vị trí 2, Kênh 79 vị trí 3, Kênh
79 vị trí 4 ( xã Tân Lập) lần lượt: 30mg/L, 29mg/L, 29mg/L nằm trong cột B1 và giá trị thấp nhất đo được tại hầm đất xã Bình Phong Thạnh (vị trí 02 hầm đất) với giá trị 12 mg/l nằm trong cột A2 Ngoài ra, có 04/30 mẫu nước mặt nằm trong giá trị giới hạn cột A, ở vị trí hầm đất số 02 xã BPT; vị trí hầm đất 04 xã Tân Thành; vị trí 02 kênh Cây Khô Lớn; vị trí điểm cuối kênh Ba Hồng Minh có giá trị lần lượt là:
12 mg/L; 13 mg/L; 14mg/L; 15mg/L, còn lại nằm trong giá trị cột B
Đợt 02, giá trị COD cao nhất được đo tại vị trí Kênh 61 (vị trí điềm đầu) có giá trị
80 mg/L - Cột B2; giá trị thấp nhất đo được tại đồng ruồng (vị trí nước mặt đồng ruộng tại xã Bình Phong Thạnh 8 mg/L - cột A1 Trong đợt 02 mùa nước nổi, có 02/30 mẫu nước mặt nằm trong giá trị giới hạn cột A1 (vị trí nước mặt đồng ruộng
xã Bình Phong Thạnh 8 mg/L và hầm đất xã Tân Thành 12mg/L, còn lại nằm trong cột B
Giá trị COD đa số mẫu đo được đều cao hơn so với quy chuẩn QCVN 08:2015/BTNMT- Cột B, đáng chú ý một số vị trí chất lượng nước rất thấp do chỉ
số COD quá cao chỉ dùng giao thông thuỷ và các mục đích khác với yêu cầu nước chất lượng thấp, ở các vị trí Kênh 61 (vị trí 03 điểm cuối); kênh Cây Khô Nhỏ (vị trí
01 điểm đầu, 02 điểm cuối); Kênh 61 điểm đầu và điểm giữa có giá trị lần lượt là:
64 mg/L; 66mg/L; 70 mg/L; 74 mg/L; 80 mg/L
Nhìn chung, các vị trí có diễn biến chất lượng nước mặt chỉ tiêu COD xấu đi và tăng bất thường ở đợt 02 rơi vào mùa nước nổi BOD5 tại các vị trí như sau: Kênh 61 tại ba điểm lần lượt có giá trị: 84 mg/L; 74 mg/L; 64 mg/L, tại 02 điểm kênh Cây Khô Nhỏ có giá trị lần lượt: 66 mg/L; 70 mg/L Nguyên nhân ô nhiễm là do nước thải từ các hóa chất nông nghiệp, các hoạt động chăn nuôi heo, bò…
Trang 1855
3.3.4 Chỉ tiêu DO
DO là lượng oxy hoà tan trong nước cần thiết cho sự hô hấp của các sinh vật nước (cá, lưỡng thê, thuỷ sinh, côn trùng v.v ) thường được tạo ra do sự hoà tan từ khí quyển hoặc do quang hợp của tảo Nồng độ oxy tự do trong nước nằm trong khoảng
8 - 10 ppm, và dao động mạnh phụ thuộc vào nhiệt độ, sự phân huỷ hoá chất, sự quang hợp của tảo và v.v Khi nồng độ DO thấp, các loài sinh vật nước giảm hoạt động hoặc bị chết Do vậy, DO là một chỉ số quan trọng để đánh giá sự ô nhiễm nước của các thuỷ vực
Kết quả phân tích nồng độ DO trong nước mặt tại các điểm đo được trình bày trong hình sau:
Hình 3.10 Giá trị DO trong nước mặt tại các điểm đo Giá trị DO đo tại các vị trí khảo sát dao động từ 3.85 - 4.45 mg/L (đợt 1); từ 3.6 đến 5.16 (đợt 02), giá trị trung bình hai đợt khoảng 4.105 mg/L ≥ 4 nằm trong cột B1 - dùng cho mục đích tưới tiêu, thủy lợi Hầu hết giá trị DO trong nước mặt tại các khu vực lấy mẫu đa số đều thấp hơn giới hạn cho phép so với quy chuẩn cột A1 là 6mg/L, chỉ đạt qua cột B1 của QCVN 08:2015/BTNMT, chỉ áp dụng cho mục đích giao thông thủy và các mục đích khác với yêu cầu nước chất lượng thấp
Trang 1956
Đợt 01, giá trị DO cao nhất tại vị trí Kênh Đường Bàng điểm đầu có giá trị 5.1 mg/L - cột A2, giá trị thấp nhất ở vị trí hầm đất 04 ở xã Tân Thành có giá trị 3.2 mg/L
Đợt 02, giá trị DO cao nhất tại vị trí Kênh 61 vị trí điểm giữa xã Bình Tân có giá trị 5.78 mg/L - cột A2, giá trị thấp nhất ở vị trí hầm đất 04 ở xã Tân Thành có giá trị không đổi so đợt 01
Nhìn chung, tình hình giá trị DO tại 02 đợt lấy mẫu có diễn biến tốt vào mùa nước nổi DO tại các điểm đa số nằm trong cột A chất lượng nước mặt QCVN 08:2015/BTNMT
Các điểm có diễn biến giá trị DO tốt ở các vị trí như sau: kênh Bảy Chín ở 02 điểm đầu và điểm cuối có giá trị thay đổi lần lượt: 3.9 - 4.2 mg/L; 3.8 - 4.1 mg/L; 3.6 - 4.5 mg/L, kênh Sáu Mốt: 3.9 - 4 mg/L, kênh Mười Hai điểm cuối: 3.8 - 4.1 mg/L, điểm đầu kênh Ba Hồng Minh: 2.5 - 5.14 mg/L và hầm đất xã Tân Lập: 3.8 - 4.3 mg/L
3.3.5 Chỉ tiêu Amoni
Amoni có công thức hóa học NH3, là chất khí không màu và có mùi khai Trong nước, Amoni tồn tại dưới 2 dạng là NH3 và NH4+ Tổng NH3 và NH4+được gọi là tổng Amoni tự do Đối với nước uống, tổng Amoni sẽ bao gồm amoni tự do, monochloramine (NH2Cl), dichloramine (NHCl2) và trichloramine
Kết quả phân tích chỉ tiêu Amoni của 30 mẫu nước mặt thu được tại các sông, Kênh, hầm đất như sau:
Trang 20B - QCVN:08/2015 - Chất lượng nước mặt
Đợt 01, trong 30 mẫu phân tích thông số Amoni thì có 04 mẫu cao bất thường tại Kênh 79 (vị trí 01, 02, 03, 04 Kênh 79 xã Tân Lập) có giá trị lần lượt là: 2.34 mg/L, 2.29 mg/L, 2.29 mg/L, 2.35 mg/L Các vị trí mẫu có hàm lượng Amoni thấp như sau: Kênh Cây Khô Lớn (vị trí Kênh Cây Khô Lớn 02 - xã Bình Phong Thạnh), 02 hầm đất xã Bình Phong Thạnh (vị trí 01 hầm đất, 0.024 mg/L, vị trí 02 hầm đất, 0.14 mg/L) và 01 hầm đất xã Tân Lập (vì trí 05 hầm đất, 0.037 mg/L)
Đợt 02, trong 30 mẫu phân tích thông số Amoni thì ở vị trí Kênh 79 xã Tân Lập vẫn cao bất thường như đợt 01, lần lượt các giá trị sau: Kênh 79 vị trí 1, 2.22 mg/L;
Trang 213.3.6 Chỉ tiêu Phosphat
Phosphat là một hợp chất vô cơ và là muối của axit phosphoric, trong thiên nhiên Phosphate được xem là sản phẩm của quá trình lân hóa Khi hàm lượng Phosphate cao sẽ là một yếu tố giúp rong rêu phát triển mạnh Đây có thể là nguồn gốc do ô nhiễm nước sinh hoạt, nông nghiệp hay phân bón Do đó chỉ tiêu phophate được ứng dụng trong việc kiểm soát mức độ ô nhiễm của dòng nước
Kết quả phân tích chỉ tiêu Phosphat của 30 mẫu nước mặt thu được tại các sông, Kênh, hầm đất như sau:
Trang 2259
Qua kết quả phân tích, hàm lượng Phosphat trong 30 mẫu nước mặt đợt 01 tại huyện Mộc Hóa, hàm lượng Phosphat dao động khoảng giá trị từ 0.003 mg/L đến 0.03 mg/L, giá trị trung bình khoảng 0.0125 mg/L Đợt 02 hàm lượng Phosphat dao động giá trị từ 0.09 mg/L đến 0.155 mg/L, giá trị trung bình khoảng 0.125 mg/L Đợt 01, hàm lượng Phosphat tại các vị trí lấy mẫu đều nằm trong ngưỡng cột A - QCVN:08/2015 giá trị cao nhất ở vị trí 03 Kênh 79 với giá trị 0.084 mg/L, có 03 vị trí không phát hiện hàm lượng Phosphat, đó là: Kênh 61 vị trí điểm giữa; Kênh Cả Dứa vị trí điểm đầu; hầm đất xã Bình Phong Thạnh
Đợt 02, hàm lượng Phosphat tại các vị trí lấy có giá trị chênh lệnh lớn giữa giá trị
Cụ thể, hàm lượng Phosphat có giá trị cao nhất ở vị trí Kênh Cây Khô Lớn điểm cuối có giá trị 0.14 mg/L, có 03 vị trí không phát hiện hàm lượng Phosphat là: hai hầm đất ở vị trí xã Tân Thành; nước mặt đồng ruộng ở xã Bình Phong Thạnh
3.3.7 Chỉ tiêu Coliform
Vi khuẩn Coliform (phổ biến là Escherichia Coli) thường có trong hệ tiêu hóa của người Nước nhiễm vi sinh (Coliforms) do nước thải thấm vào mạch nước ngầm, do nước từ trên mặt đất chảy tràn xuống giếng hoặc do quá trình lưu chứa nước chưa đảm bảo vệ sinh
Trang 2360
Hình 3 13 Giá trị Coliform trong nước mặt tại các điểm đo
Qua kết quả phân tích, hàm lượng Coliform trong 30 mẫu nước mặt ở đợt 01 tại huyện Mộc Hóa, hàm lượng Coliform dao động khoảng giá trị từ 195 MPN/100mL đến 1100 mg/L Đợt 02 hàm lượng Coliform dao động từ 240 đến 24000 MPN/100mL, giá trị trung bình khoảng 2400 MPN/100mL giá trị cột A - QCVN:08/2015 - Chất lượng nước mặt Cả hai đợt đều có giá trị trung bình nằm trong giá trị cột A - QCVN:08/2015 - Chất lượng nước mặt
Hàm lượng Coliform đợt một tại điểm Kênh 79 (vị trí 01 Kênh 79 - xã Tân Lập) cao bất thường so với các điểm còn lại (2400 MPN/100mL), nhìn chung tất cả mẫu đều trong ngưỡng giá trị cột A - QCVN:08/2015 - Chất lượng nước mặt
Đợt 02, có các điểm hàm lượng Coliform cao bất thường so với phần còn lại ở các
vị trí Kênh 61 điểm giữa và điểm cuối; sông Vàm Cỏ Tây điểm giữa; Kênh Ba Hồng Minh điểm cuối điểm đầu và giữa tất cả đều có giá trị: 46000 MPN/100mLvượt giá trị cột B - QCVN:08/2015 - Chất lượng nước mặt
Nhìn chung, tình hình diễn biến giá trị Coliform tại 02 đợt lấy mẫu có diễn biến xấu
đi, tình trạng ô nhiễm Coliform tại các sông, kênh đều tăng đáng kể ảnh hưởng đến chất lượng nước mặt liên vùng
Trang 2461
3.4 Kết quả tính toán WQI đối với nước mặt tại huyện Mộc Hóa
Chỉ số WQI được tính toán dựa trên phương pháp tính do Tổng Cục Môi Trường ban hành, qua các chỉ số: pH, DO, nhiệt độ, COD, BOD5, Coliform, Amoni, Phosphat và đánh giá theo 6 mức độ
Trang 25WQI (đợt 2)
01 Kênh 79 -1 68 59.9 16 Kênh Cây Khô Lớn - 1 90 15.9
02 Kênh 79 -2 83 74.5 17 Kênh Cây Khô Lớn - 2 95 16.7
03 Kênh 79 - 3 83 74.2 18 Kênh Đường Bàng - 1 88 17.0
04 Kênh 79 - 4 82 65.5 19 Kênh Đường Bàng - 2 87 16.2
05 Kênh 61 - 1 61 40.9 20 Kênh Cả Dứa - 1 91 73.4
06 Kênh 61 - 2 62 82 21 Kênh Cả Dứa - 2 91 18
07 Kênh 61 - 3 62 83 22 Kênh Ba Hồng Minh - 1 85 19
08 Kênh 12 - 1 85 83 23 Kênh Ba Hồng Minh - 2 1 19
09 Kênh 12 - 2 84 82 24 Hầm đất - 1 65 18
10 Kênh 12 - 3 77 51 25 Hầm đất - 2 1 67
11 Sông Vàm Cỏ Tây - 1 87 12 26 Hầm đất - 3 90 66
12 Sông Vàm Cỏ Tây - 2 87 12 27 Hầm đất - 4 71 16
13 Sông Vàm Cỏ Tây - 3 86 78 28 Hầm đất - 5 65 14
14 Kênh Cây Khô Nhỏ - 1 87 83 29 TTYT Huyện 87 89
15 Kênh Cây Khô Nhỏ - 2 87 71 30 Nước mặt đồng ruộng 59 92 Kết quả tính toán giá trị WQI được trình bày trong hình 3.14, như sau: