TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ TIỂU LUẬN KINH TẾ ĐÔ THỊ THỰC TRẠNG DI DÂN ĐÔ THỊ VÀ SỨC ÉP VỀ NHÀ Ở, GIAO THÔNG ĐÔ THỊ, CƠ SỞ HẠ TẦNG ĐÔ THỊ Sinh viên thực hiện NGUYỄN NGỌC NGÂN HÀ Mã sinh viên 11205095 Lớp học KHOA HỌC QUẢN LÝ 62B Giảng viên giảng dạy Năm học 2021 2022 MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 3 II MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI 4 III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 4 PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DI DÂN ĐÔ THỊ VÀ SỨC ÉP ĐẾN NHÀ CỬA, GIAO THÔNG ĐÔ THỊ, CƠ SỞ H.
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI……… ……….3
II MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI……….……… 4
III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI……….………4
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DI DÂN ĐÔ THỊ VÀ SỨC ÉP ĐẾN NHÀ CỬA, GIAO THÔNG ĐÔ THỊ, CƠ SỞ HẠ TẦNG ĐÔ THỊ I TỔNG QUAN VỀ ĐÔ THỊ HÓA……….……… 5
1 KHÁI NIỆM ĐÔ THỊ HÓA……… 5
2 PHÂN LOẠI ĐÔ THỊ……….6
II TỔNG QUAN VỀ DI DÂN ĐÔ THỊ……….8
1 KHÁI NIỆM DI DÂN……….………8
2 PHÂN LOẠI DI DÂN……… ……… 9
3 CÁC MÔ HÌNH LÝ THUYẾT……… 9
III HỆ THỐNG KHÁI NIỆM KHÁC……… 11
1 NHÀ Ở ĐÔ THỊ………11
2 GIAO THÔNG ĐÔ THỊ ……… ………11
3 CƠ SỞ HẠ TẦNG ĐÔ THỊ……….………12
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG DI DÂN ĐÔ THỊ VÀ SỨC ÉP VỀ NHÀ Ở, GIAO THÔNG ĐÔ THỊ, CƠ SỞ HẠ TẦNG ĐÔ THỊ. I NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN VIỆC DI DÂN TỪ NÔNG THÔN RA THÀNH THỊ…….13
1 DO LỰC HÚT CỦA ĐẦU ĐẾN VÀ LỰC ĐẨY CỦA ĐẦU ĐI………13
2 ĐIỀU TIẾT CỦA THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG……….…… 14
3 ĐIỀU TIẾT CỦA NHÀ NƯỚC VÀO QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH LAO ĐỘNG…….15
4 NHU CẦU THAY ĐỔI CUỘC SỐNG……… ….15
II THỰC TRẠNG CỦA DI DÂN ĐÔ THỊ TRONG THỜI GIAN QUA……… ……16
III NHỮNG THÁCH THỨC ĐƯỢC ĐẶT RA: SỨC ÉP VỀ NHÀ Ở, GIAO THÔNG ĐÔ THỊ, CƠ SỞ HẠ TẦNG ĐÔ THỊ……….……19
1 THỰC TRẠNG DI DÂN TẠO RA SỨC ÉP VỀ NHÀ Ở………19
2 THỰC TRẠNG DI DÂN TẠO RA SỨC ÉP VỀ GIAO THÔNG ĐÔ THỊ……….………20
3 THỰC TRẠNG DI DÂN TẠO RA SỨC ÉP VỀ CƠ SỞ HẠ TẦNG ĐÔ THỊ……… …21
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CẦN THỰC HIỆN………… ………23
PHẦN KẾT LUẬN……… ……….……24
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… ………….……….…… 25
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Trong thời kì công nghiệp hóa, đô thị hóa đang phát triển vô cùng mạnh mẽ, hiệntượng di dân dần trở nên phổ biến và có ảnh hưởng tác động rất lớn đến sự phát triểnkinh tế- xã hội ở nơi xuất cư lẫn nơi nhập cư Lối sống đô thị ngày càng được địnhhình rõ nét Đặc điểm nhân khẩu học của dân cư thành thị khác biệt đáng kể so với dân
cư nông thôn, như: quy mô gia đình ở thành thị nhỏ hơn; người dân thành thị kết hônmuộn hơn và có ít con hơn Dân cư thành thị cũng có nhiều lợi thế so với dân cư nôngthôn trong quá trình phát triển: điều kiện nhà ở tốt hơn, có nhiều cơ hội tiếp cận vớitiện nghi cuộc sống như điện lưới, nước hợp vệ sinh và điều kiện học tập cũng nhưđược làm việc trong môi trường đòi hỏi được đào tạo chuyên môn Điều này càng làmtăng thêm sức hấp dẫn của các thành phố lớn và thúc đẩy sự tăng trưởng dân số mạnh
mẽ ở các khu vực này
Tuy nhiên, bên cạnh các mặt tích cực của hiện tượng (động lực thúc đẩy sự pháttriển đồng đều, góp phần tăng thu nhập cho khu vực nông thôn, giảm sự phân hóa giàunghèo giữa các vùng trong cả nước thông qua phân bố nhu cầu nhân lực lao động vàviệc làm), di dân đô thị cũng tiềm tàng những mặt tiêu cực như tạo ra những sức éplớn về nhà cửa, giao thông đô thị, cơ sở hạ tầng đô thị Khi có một số lượng lớn nhữngngười dân từ vùng khác đến, nhu cầu về nhà ở xã hội cũng ngày càng bức thiết vàngày càng gia tăng, đồng thời cũng xuất hiện các tuyến đường ngập úng, ùn tắc ảnhhưởng không nhỏ đến giao thông đô thị, cơ sở hạ tầng cùng cần phải cải thiện… Đây
là vấn đề xuyên suốt và nhức nhối cần được xem xét và giải quyết nhanh chóng để kịpthời đáp ứng ổn thỏa cuộc sống của nhân dân
Nhưng trước hết, để có thể hoàn thiện, chúng ta cần nhận biết rõ thực trạng để đưa
ra những giải pháp tốt nhất Từ đó ta quyết định tiến hành nghiên cứu tìm hiểu “thực trạng di dân đô thị và sức ép về nhà ở, giao thông đô thị, cơ sở hạ tầng đô thị” là đề tài
tiểu luận của mình
Trang 4II MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI:
- Tổng quan cơ sở lý luận về đô thi hóa, di dân đô thị và các sức ép nhà cửa, giaothông đô thị, cơ sở hạ tầng đô thị
- Phân tích thực trạng di dân đô thị và sức ép về nhà ở, giao thông đô thị, cơ sở hạtầng đô thị
- Trên cơ sở định hướng đưa ra các giải pháp góp phần hoàn thiện đời sống, giảiquuyết các vấn đề nhức nhối đã đặt ra
III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI:
- Phương pháp thu thập tài liệu, thông tin: các tài liệu thông tin sử dụng trong đề tàiđược thu thập từ Tổng cục Thống kê, Tổng điều tra, Viện Chính sách và Chiến lượcNN&PTNT, từ tư liệu trên cơ sở các sách, bài báo chuyên khảo đã được công bố, một
số các tài liệu từ bài viết trên tạp chí, và các nghiên cứu trước đây có liên quan đến cácvấn đề của đề tài…
- Phương pháp tổng hợp, xử lý thông tin: Phương pháp phân tích, tổng hợp từ cáctài liệu thu thập được lấy từ các nguồn số liệu thống kê của các cơ quan ban ngành liênquan, các tạp chí, sách, báo, trang web chuyên ngành…đề sắp xếp, phân loại và phântích các thông tin, so sánh, đối chiếu từ đó đưa ra các giải pháp hợp lý
- Phương pháp luận nghiên cứu: vận dụng một só lý thuyết xã hội học như các môhình lý thuyết của Arthur Lewis và mô hình của Harris – Todaro để lý giải cho nguồngốc sự di dân từ khu vực nông thôn vào thành thị diễn ra trong quá trình đô thị hóa
Trang 5PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DI DÂN ĐÔ THỊ VÀ SỨC ÉP ĐẾN NHÀ CỬA, GIAO THÔNG ĐÔ THỊ, CƠ
SỞ HẠ TẦNG ĐÔ THỊ
I TỔNG QUAN VỀ ĐÔ THỊ HÓA:
1 KHÁI NIỆM ĐÔ THỊ HÓA:
Đô thị hóa là hiện tượng kinh tế - xã hội liên quan đến các dịch chuyển về mặt kinh
tế - xã hội, văn hóa, không gian môi trường sâu sắc gắn liền với những tiến bộ về khoahọc kĩ thuật (KHKT), tạo đà thúc đẩy sự phân công lao động, chuyển đổi nghề nghiệp,hình thành các nghề nghiệp mới, thúc đẩy sự dịch cư vào trung tâm các đô thị và thúcđẩy phát triển kinh tế làm thay đổi đời sống xã hội và văn hóa, nâng cao mức sốngngười dân và làm thay đổi cả lối sống và hình thức giao tiếp xã hội
Bắt đầu từ thế kỷ 20, quá trình phát triển của nhân loại đã chuyển sang hướng mới,tạo cơ hội cho các quốc gia đang phát triển, nhất là các quốc gia châu Á có nhữngbước phát triển mang tính nhảy vọt Quá trình hiện đại hóa trên cơ sở công nghiệp hóa
đã làm cho quá trình ĐTH trở thành một xu hướng nổi bậc của các quốc gia đang pháttriển vào thập kỷ 50, 60 Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, cũng không nằmngoài xu thế đó
- Theo nghĩa rộng: ĐTH được hiểu như một quá trình phát triển toàn diện kinh tế và
xã hội, liên hệ mật thiết với sự phát triển của lực lượng sản xuất, các hệ thống xã hội
và tổ chức môi trường sống của cộng đồng
- Theo nghĩa hẹp: ĐTH là quá trình chuyển cư từ lĩnh vực sản xuất nông nghiệpsang lĩnh vực phi nông nghiệp với tất cả các hệ quả của nó như sự tăng trưởng dân số
đô thị, sự nâng cao mức độ trang bị kỹ thuật của thành phố, sự xuất hiện các thành phốmới…
- Quá trình ĐTH mang tính phức tạp, địa phương, địa điểm, bối cảnh… ĐTH vàphát triển có mối quan hệ biện chứng rõ rệt ĐTH mang tính quy luật tất yếu, là độnglực phát triển, tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu lao động, nâng cao chất lượng lao động vàphát triển kinh tế Ngược lại, ĐTH cũng chính là hệ quả của sự phát triển, bản thân nólại tạo ra sức ép cho phát triển trên mọi mặt kinh tế, xã hội và môi trường
- ĐTH làm thay đổi sự phân bố dân cư, từ dạng phân tán ở các vùng nông thôn sangdạng tập trung ở các đô thị, gắn với các hoạt động sản xuất phi nông nghiệp do đó tỉ lệlao động phi nông nghiệp và vai trò của các ngành dịch vụ tăng lên
Trang 6- Nhờ cuộc cách mạng công nghiệp và cách mạng KHKT, tỉ lệ dân cư sống trongcác đô thị ngày càng tăng lên Nhịp độ ĐTH cũng diễn ra nhanh chóng: dân nhập cưtăng nhanh, cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật phát triển và ảnh hưởng đến CDCCSDĐ.
- ĐTH không ngừng làm thay đổi cách ứng xử và thái độ của con người đối vớithiên nhiên, đồng thời làm thay đổi lối sống, cách thức sinh hoạt của con người trong
đô thị
2 PHÂN LOẠI ĐÔ THỊ:
Theo quyết định số 42/2009/ NĐ-CP ngày 07/5/2009 của Chính phủ nước ta vềviệc phân loại và phân cấp quản lý đô thị được chia thành đô thị loại 6 loại:
Đô thị loại đặc biệt, đô thị loại I, đô thị loại II, đô thị loại III, đô thị loại IV, đô thịloại V, được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định công nhận Các đô thị phânloại dựa trên sự khác biệt về chức năng kinh tế, qui mô dân số, mật độ dân số, tỉ lệ laođộng phi nông nghiệp, hệ thống công trình hạ tầng đô thị và kiến trúc cảnh quan đô thị.Trong đó, các chỉ tiêu về dân số là cơ sở chủ yếu để phân loại đô thị
Phân theo chức năng:
Đô thị loại đặc biệt
Là đô thị có các quận nội thành, huyện ngoại thành và các đô thị trực thuộc Chứcnăng đô thị là Thủ đô hoặc đô thị có chức năng là trung tâm kinh tế, tài chính, hànhchính, khoa học – kỹ thuật, giáo dục – đào tạo, du lịch, y tế, đầu mốigiao thông, giaolưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cảnước Quy mô dân số toàn đô thị từ 5 triệu người trở lên Mật độ dân số khu vực nộithành từ 15.000 người/km2 trở lên Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tối thiểu đạt 90%
so với tổng số lao động Hệ thống các công trình hạ tầng đô thị tương đối hoàn chỉnh,đồng bộ
Đô thị loại I
Là đô thị rất lớn, là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, khoa học kỹ thuật,
du lịch dịch vụ, trung tâm sản xuất công nghiệp, đầu mối giao thông vận tải, giao dịchquốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của cả nước Dân số đô thị có trên 1 triệungười, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trên 90% tổng số lao động của thành phố Mật
độ dân cư bình quân trên 15.000 người/km2 Loại đô thị này có tỷ suất hàng hóa cao,
cơ sở hạ tầng kỹ thuật và mạng lưới công trình công cộng xây dựng đồng bộ
Đô thị loại II
Là đô thị lớn, là trung tâm kinh tế, văn hóa xã hội, sản xuất công nghiệp, du lịch,dịch vụ, giao thông, giao dịch quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của một vùng
Trang 7lãnh thổ Dân số có từ 35 vạn đến dưới 1 triệu, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp lớn hơnhoặc bằng 90% trong tổng số lao động Mật độ dân cư bình quân trên 12.000người/km2, sản xuất hàng hóa phát triển, cơ sở hạ tầng kỹ thuật và mạng lưới côngtrình công cộng được xây dựng nhiều mặt tiến đến đồng bộ.
Đô thị loại III
Là đô thị trung bình lớn, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, là nơi sảnxuất công nghiệp, thủ công nghiệp tập trung, dịch vụ - du lịch, có vai trò thúc đẩy pháttriển của một tỉnh hoặc từng lĩnh vực đối với vùng lãnh thổ Dân số từ 10 vạn đến 35vạn Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trên 80% trong tổng lao động Mật độ dân cưtrung bình trên 10.000 người/km2 (vùng núi có thể thấp hơn) Cơ sở hạ tầng kỹ thuật
và mạng lưới công trình công cộng được xây dựng từng mặt
Đô thị loại IV
Là đô thị trung bình nhỏ, là trung tâm tổng hợp chính trị, kinh tế, văn hóa xã hộihoặc trung tâm chuyên ngành sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp,thươngnghiệp, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của một tỉnh hay một vùng trong tỉnh Dân cư
có từ 3 vạn đến 10 vạn (miền núi có thể thấp hơn) Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp lớnhơn hoặc bằng 70% trong tổng số lao động Mật độ dân cư trên 8.000 người/km2(vùng núi có thể thấp hơn) Các đô thị này đã và đang đầu tư xây dựng từng phần hạtầng kỹ thuật và các công trình công cộng
Đô thị loại V
Là đô thị loại nhỏ, là trung tâm tổng hợp kinh tế - xã hội hoặc trung tâm chuyênngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp… có vai trò thúc đẩy sự phát triểncủa huyện hay một vùng trong huyện Bước đầu xây dựng được một số công trìnhcông cộng và hạ tầng kỹ thuật Dân số từ 4.000 đến 30.000 người (miền núi có thểthấp hơn) Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp lớn hơn hoặc bằng 60% Mật độ dân cưbình quân 6.000 người/km2 (vùng núi có thể thấp hơn), đang bắt đầu xây dựng một sốcông trình công cộng và cơ sở hạ tầng kỹ thuật
Phân theo cấp quản lý
Phân cấp quản lý đô thị về mặt hành chính Nhà nước được cụ thể hoá như sau:
- Thành phố trực thuộc Trung ương tương đương cấp tỉnh phải là đô thị loại 1 hoặcloại 2 và chủ yếu do Trung ương quản lý
- Các thành phố thuộc tỉnh, các thị xã tương đương với cấp huyện đa số thuộc đô thịloại 3 và loại 4, một số ít có thể thuộc loại 5 và do tỉnh quản lý
Trang 8II TỔNG QUAN VỀ DI DÂN ĐÔ THỊ:
1 KHÁI NIỆM DI DÂN :
Hiện nay có rất nhiều quan điểm định nghĩa về di cư, tuy nhiên mỗi quan điểm lạidựa trên một cách nhìn khác nhau về di cư
Theo Luật Di cư quốc tế: di cư là sự di chuyển của một người hay một nhóm người,
kể cả qua một biên giới quốc tế hay trong một quốc gia Là một sự di chuyển dân số,bao gồm bất kể loại di chuyển nào của con người, bất kể độ dài, thành phần haynguyên nhân; nó bao gồm di cư của người tị nạn, người lánh nạn, người di cư kinh tế
và những người di chuyển vì những mục đích khác, trong đó có đoàn tụ gia đình
Năm 1958 Liên Hiệp Quốc đã đưa ra định nghĩa về di cư như sau: “Di cư là mộthình thức di chuyển trong không gian của con người từ một đơn vị lãnh thổ này tớimột đơn vị lãnh thổ khác, hoặc sự di chuyển với khoảng cách tối thiểu quy định Sự dichuyển này diễn ra trong khoảng thời gian di cư xác định và đặc trưng bởi sự thay đổinơi cư trú thường xuyên”
Sự thay đổi nơi cư trú được thể hiện ở hai đặc điểm sau:
+ Nơi xuất cư (hay nơi đi) là nơi người di cư chuyển đi
+ Nơi nhập cư (hay nơi đến) là nơi người di cư chuyển đến
Còn theo Harvey B King- nhà kinh tế học người Canada với cuốn sách nổi tiếngKinh tế học cho động thì cho rằng “Di cư thường được hiểu là chuyển đến một chỗ ởkhác cách chỗ ở cũ một khoảng cách đủ lớn buộc người di cư phải thay đổi hộ khẩuthường trú: chuyển đến một thành phố khác, một tỉnh khác hay một nước khác”
Theo Henry Shryock, di dân là một hình thức di chuyển về không gian địa lý kèmtheo sự thay đổi nơi cư trú giữa các đơn vị hành chính
Theo Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2014: Di cư và đô thị hóa ở Việt Namcủa Tổng cục thống kê thì định nghĩa Di cư là sự di chuyển của con người dân từ đơn
vị hành chính này đến một đơn vị hành chính khác, đó là sự chuyển đến một xã khác,huyện khác, thành phố hoặc tỉnh khác, trong một khoảng thời gian nhất định
Có nhiều quan điểm khác nhau về di dân hay di cư nhưng nhìn chung cả hai thuậtngữ đều phản ánh sự chuyển dịch dân cư trong khoảng thời gian và không gian nhấtđịnh Do đó, theo quan điểm của người viết sử dụng trong luận văn thì di dân và di cư
là hai thuật ngữ có thể được sử dụng song song
Trang 92 PHÂN LOẠI DI DÂN:
Phân theo mục đích và nhu cầu, hiện có 3 loại di dân từ nông thôn lên đô thị:
- Dịch cư: là dịch chuyển một bộ phận nhỏ dân cư có trình độ từ nông thôn lên đôthị, họ học tập, làm việc và định cư lâu dài tại đô thị Lực lượng này chủ yếu là sinhviên, giáo viên, cán bộ hay thợ thủ công có tay nghề cao hoặc người có thu nhập caomuốn tìm đến nơi định cư tốt hơn chỗ ở Hiện tại
- Di dân vãng lai: là di dân cư từ nông thôn lên thành thị sống và làm việc một thờigian nhất định (di dân theo chu kỳ thời gian) Lực lượng này gồm công nhân các khucông nghiệp, người giúp việc, người buôn bán hoặc kiếm việc làm theo thời vụ
- Di dân con lắc: là sự di dân di chuyển qua lại giữa nông thôn và thành thị theongày, tuần hay tháng Họ là những người buôn bán nhỏ, công nhân thời vụ, lao động tựdo
ưu tiên hơn tại các quốc gia đang phát triển Điều này dẫn đến xu hướng chuyển dịchcác khoản “lợi nhuận ròng” thu được từ khu vực sản xuất nông nghiệp sang các ngànhsản xuất công nghiệp
Do sản xuất nông nghiệp bị hạn chế về mặt diện tích đất sản xuất, do đó sản phẩmcận biên tăng thêm của một nông dân được giả định sẽ tiến đến zero theo quy luật “lợinhuận biên giảm dần” Kết quả là, trong ngành nông nghiệp tồn tại một số lượng laođộng không đóng góp làm tăng sản lượng nông nghiệp kể từ khi sản phẩm cận biêncủa họ bằng không Nhóm nông dân này chính là nguồn “lao động dư thừa” từ khu vực
Trang 10nông nghiệp Do có sự khác biệt về tiền lương giữa ngành sản xuất nông nghiệp và cácngành sản xuất chế biến hiện đại nên đội quân lao động dư thừa này sẽ được dịchchuyển tới các ngành sản xuất khác mà không làm ảnh hưởng đến sản lượng đầu racủa ngành nông nghiệp.
Nếu số lượng người lao động di chuyển từ nông nghiệp sang lĩnh vực sản xuất khácbằng với số lượng “lao động dư thừa” trong lĩnh vực nông nghiệp, phúc lợi và năngsuất chung sẽ được cải thiện Tổng số sản phẩm nông nghiệp sẽ vẫn không thay đổitrong khi tổng sản phẩm công nghiệp tăng lên do việc bổ sung thêm lao động
Theo thời gian, việc tăng thêm lao động sẽ làm cho năng suất lao động và mức tiềnlương cận biên trong lĩnh vực sản xuất chế biến dần dần giảm xuống trong khi đó năngsuất cận biên và tiền lương trong sản xuất nông nghiệp dần tăng lên do lao động kémhiệu quả bị rút bớt Kết quả là năng suất lao động cận biên trong nông nghiệp tiến tớicân bằng với năng suất lao động cận biên của các ngành sản xuất khác, mức lươngtrong ngành nông nghiệp cân bằng với mức lương trong các ngành sản xuất khác,người lao động nông nghiệp không còn động cơ tiền bạc để chuyển dịch, quá trình di
Mô hình này giả định rằng, tỷ lệ thất nghiệp là không tồn tại trong lĩnh vực nôngnghiệp nông thôn Ngoài ra, nó còn giả định rằng thị trường sản xuất và thị trường laođộng trong khu vực nông nghiệp, nông thôn cạnh tranh hoàn hảo Kết quả là, tiềnlương của các công nhân nông nghiệp ở nông thôn bằng với năng suất cận biên trongnông nghiệp Mô hình cũng cho rằng, trạng thái cân bằng sẽ được thiết lập khi mứclương kỳ vọng tại khu vực đô thị bằng với sản phẩm cận biên của một công nhân nôngnghiệp Tại trạng thái cân bằng, tỷ lệ lao động các vùng nông thôn di chuyển đến đôthị sẽ bằng không khi thu nhập kỳ vọng ở nông thôn bằng với thu nhập kỳ vọng ở đôthị Nói cách khác, mức lương kỳ vọng trong nông nghiệp bằng với mức lương kỳ
Trang 11vọng ở đô thị nhân với số lượng việc làm có sẵn trong đô thị chia cho tổng số ngườiđang có việc làm và cần tìm việc làm ở đô thị.
Mô hình Harris – Todaro cho phép giải thích được lý do tồn tại tình trạng thấtnghiệp ở các đô thị tại các nước đang phát triển, và tại sao người dân lại chuyển tới cácthành phố mặc dù đang tồn tại nan giải vấn đề thất nghiệp Để giải quyết vấn đề này,
mô hình Harris – Todaro thừa nhận sự tồn tại của khu vực kinh tế phi chính thức(Informal Sector) Đó là khu vực kinh tế bao gồm các hoạt động, không hoàn toàn làbất hợp pháp, nhưng thường cũng không được sự thừa nhận chính thức của xã hội vàhầu hết các hoạt động này đều không đăng ký với nhà nước Chẳng hạn như lao độngphục vụ gia đình, hành nghề tự do, xe ôm, bán hàng rong, mài dao kéo, dịch vụ ănuống vỉa hè, thu lượm ve chai đồng nát, đánh giày, sơn đông mãi võ, mại dâm v.v Việc di cư ồ ạt của lao động nông thôn vượt quá khả năng tạo việc làm ở khu vực
đô thị, kết quả là nhiều người lao động không tìm được việc làm trong khu vực kinh tếchính thức, phải chấp nhận bổ sung vào khu vực kinh tế phi chính thức
Sự hiện diện của khu vực kinh tế phi chính thức đã giúp giải thích cho việc tại sao
tỷ lệ thất nghiệp tại các đô thị cao nhưng vẫn có hàng dòng người từ nông thôn đổ vàothành thị tìm việc làm Bởi vì họ sẵn sàng bổ sung vào khu vực kinh tế phi chínhthức, nơi đồng tiền kiếm được vẫn cao hơn ở lại nông thôn Ngay cả khi sự di chuyểnnày tạo ra thất nghiệp tại các đô thị và dẫn đến sự phát triển không mong đợi ở khuvực kinh tế phi chính thức, thì hành vi này vẫn được xem là hợp lý xét về khía cạnhkinh tế vì nó tối đa hóa lợi ích trong các điều kiện mà mô hình Harris – Todaro giảđịnh
III HỆ THỐNG KHÁI NIỆM KHÁC:
1 NHÀ Ở ĐÔ THỊ :
Nhà ở đô thị là công trình xây dựng với mục đích để ở và phục vụ các nhu cầu sinhhoạt của hộ gia đình, cá nhân trên phạm vi đô thị
Phân loại nhà ở đô thị:
• Việc đánh giá phân loại nhà ở đô thị tại mỗi quốc gia phải dựa vào các tiêu chuẩncủa nước đó
• Theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nguyên tắc phân loại, phân cấp công trìnhdân dụng, công nghiệp và hạ tầng kỹ thuật đô thị (QCVN 03:2012/BXD) nhà ở đượcphân thành 2 loại như sau:
– Nhà chung cư: Nhà chung cư căn hộ độc lập, khép kín; Nhà tập thể (ký túc xá) – Nhà riêng lẻ: Biệt thự; Nhà liên kề
Trang 122 GIAO THÔNG ĐÔ THỊ:
Giao thông đô thị gồm một hệ thống các loại đường xá và các phương tiện vận tảihàng hoá và hành khách Nó có chức năng đảm bảo sự vận chuyển các đầu vào cũngnhư đầu ra của các công ty, doanh nghiệp từ nơi sản xuất tới nơi tiêu thụ sản phẩm.Đồng thời, vận chuyển hành khách đi lại hàng ngày nơi làm việc hoặc đến các điểmcần thiết trong đô thị hoặc ngược lại
Phân loại giao thông đô thị:
- Giao thông đối nội là sự liên hệ giữa các khu vực trong đô thị, hay giao thôngtrong nội bộ đô thị mà người ta còn gọi là giao thông đô thị Giao thông trong đô thịphụ thuộc vào mật độ dân cư và tốc độ tăng trưởng kinh tế, mặt khác còn phụ thuộcvào mật độ đường đô thị và chất lượng lòng đường vỉa hè, trình độ quản lý và ý thứccủa người dân
- Giao thông đối ngoại là sự liên hệ giữa các khu vực, các vùng trong cùng mộtquốc gia hay giữa các quốc gia với nhau Mạng lưới đường ngoại thành còn thiếu về sốlượng và rất kém về chất lượng Hệ thống trục đường hướng tâm càng mở rộng cànglàm tăng số lượng các phương tiện từ ngoại thành vào nội thành
3 CƠ SỞ HẠ TẦNG ĐÔ THỊ:
Cơ sở hạ tầng là những tài sản vật chất và các hoạt động hạ tầng có liên quan dùng
để phục vụ các nhu cầu kinh tế - xã hội của cộng đồng dân cư đô thị
Phân loại cơ sở hạ tầng:
- Hạ tầng kĩ thuật đô thị gồm:
+ Hệ thống giao thông
+ Hệ thống cung cấp năng lượng
+ Hệ thống chiếu sáng đô thị
+ Hệ thống cấp nước, hệ thống thoát nước
+ Hệ thống quản lý các chất thải, vệ sinh môi trường
+ Hệ thống nghĩa trang
+ Các công trình hạ tầng kĩ thuật khác
Trang 13- Hạ tầng xã hội đô thị gồm:
+ Các công trình nhà ở
+ Các công trình công cộng, dịch vụ, y tế, văn hóa, giáo dục, thể dục thể thao,thương mại và các công trình dịch vụ đô thị khác
+ Các công trình quảng trường, Công viên, cây xanh, mặt nước
+ Các công trình cơ quan hành chính đô thị
+ Các công trình hạ tầng xã hội khác
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG DI DÂN ĐÔ THỊ VÀ SỨC
ÉP VỀ NHÀ Ở, GIAO THÔNG ĐÔ THỊ, CƠ SỞ HẠ
TẦNG ĐÔ THỊ.
I NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN VIỆC DI DÂN TỪ NÔNG THÔN RA THÀNH THỊ:
1 DO LỰC HÚT CỦA ĐẦU ĐẾN VÀ LỰC ĐẨY CỦA ĐẦU ĐI:
Bản chất việc di dân đến thành phố là sự dịch chuyển từ vùng, ngành ít cơ hội pháttriển đến vùng hoặc ngành có cơ hội phát triển tốt hơn, nhất là cơ hội việc làm và thunhập Theo quy luật của di dân, nơi nào có nhiều cơ hội phát triển, lưc hút ở đó mạnh
sẽ tác động mạnh vào hành vi dịch chuyển của lao động Nơi nào có cơ hội phát triển
ít, phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, thì lực đẩy tạo ra sức ép dịch chuyểnlao động càng lớn Thực tế hiện nay lực hút ở khu vực thành thị và ngành nghề phinông nghiệp ngày càng mạnh do trình độ phát triển, cơ hội việc làm với thu nhập cao
và mức sống khu vực thành thị cao hơn nhiều so với khu vực nông thôn; còn lực đẩy
từ khu vực nông thôn và ngành nông nghiệp ngày càng gia tăng do trình độ phát triểnthấp, việc làm với năng suất và thu nhập thấp, tạo nên động cơ và sức ép chuyển dịchlao động nông thôn - thành thị Đặc biệt đối với Việt Nam, do đang trong giai đoạnđầu của công nghiệp hóa với xuất phát trình độ đô thị hoá thấp, quá trình đô thị hoá,công nghiệp hoá diễn ra với quy mô và tốc độ nhanh, nhất là phát triển các khu côngnghiệp, khu chế xuất, nhu cầu lao động công nghiệp và dịch vụ tăng nhanh, trong khilao động tại chỗ không đáp ứng kịp, nên các nhà sử dụng lao động có xu hướng tuyểndụng lao động chủ yếu là từ nông thôn (70-80%), làm tăng thêm sức hút lao động nôngthôn Hơn nữa, lao động thành thị có xu hướng nhằm vào những công việc đòi hỏi laođộng qua đào tạo ở trình độ cao, lao động trí tuệ với thu nhập cao, nên một số nghề,công việc đòi hỏi lao động ở trình độ thấp, nghề nặng nhọc, không hấp dẫn đượcchuyển giao cho lao động nông thôn (nhất là ở khu vực phi kết cấu ở thành thị) tạothêm lực hút lao động nông thôn di chuyển đến thành thị tìm việc làm Những năm gần