BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG – XÃ HỘI (CS2) VI HOÀNG THIỆN DỊCH VỤ XÃ HỘI HỖ TRỢ NGƯỜI CAO TUỔI TẠI TRUNG TÂM DƯỠNG LÃO THỊ NGHÈ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI HÀ NỘI 2022 HÀ NỘI 2022 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG – XÃ HỘI (CS2) VI HOÀNG THIỆN DỊCH VỤ XÃ HỘI HỖ TRỢ NGƯỜI CAO TUỔI TẠI TRUNG TÂM DƯỠNG LÃO THỊ NGHÈ THÀNHPHỐ HỒ CHÍ MINH Chuyên ngành Công tác xã hội Mã ngành.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG – XÃ HỘI (CS2)
Trang 2HÀ NỘI - 2022
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG – XÃ HỘI (CS2)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS HUỲNH CÔNG DU
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân tôi, chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào Các
số liệu, nội dung được trình bày trong luận văn này là hoàn toàn hợp lệ và đảm bảo tuân thủ các quy định về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
Tôi xin chịu trách nhiệm về đề tài nghiên cứu của mình
Tác giả
Vi Hoàng Thiện
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn thạc sĩ ngành Công tác xã hội với đề
tài “Dịch vụ xã hội hỗ trợ người cao tuổi tại trung tâm dưỡng lão Thị Nghè
Thành phố Hồ Chí Minh” tôi đã nhận được sự giúp đỡ, động viên nhiệt tình, tâm
huyết từ các thầy cô, gia đình và bạn bè
Để hoàn thành luận văn này, trước tiên tôi xin chân thành cảm ơn nhà
trường cùng các các thầy cô giáo trong khoa Công tác xã hội, trường Đại học
Lao động - xã hội (CS2) Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy
giáo TS Huỳnh Công Du đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ và chỉ bảo tôi trong
suốt quá trình thực hiện nghiên cứu Cám ơn anh Lê Thành Nghiệp là kiểm
huấn viên cơ sở người kiểm huấn viên có trách nhiệm và nhiệt huyết
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo trung tâm dưỡng lão Thị Nghè
Thành phố Hồ Chí Minh luôn tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong quá
trình điều tra, phỏng vấn để thu thập thông tin, số liệu liên quan để Tôi hoàn
thành bài luận văn của mình một cách tốt nhất Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các
ông, các bà, các anh chị cán bộ công nhân viên của Trung tâm Dưỡng lão Thị
nghè đã hợp tác, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã động viên,
hỗ trợ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu
Do trình độ của bản thân còn nhiều hạn chế nên luận văn khó tránh khỏi
những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô
giáo, các nhà khoa học để luận văn của tôi được hoàn chỉnh
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2021
Tác giả
Vi Hoàng Thiện
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan nghiên cứu 3
2.1 Những nghiên cứu trên thế giới 3
2.2 Những nghiên cứu tại Việt Nam 6
3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10
3.1.Mục đích nghiên cứu 10
3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu 10
4.Đối tượng và khách thể nghiên cứu 10
4.1.Đối tượng nghiên cứu 10
4.2 Khách thể nghiên cứu……… 10
5 Phạm vi nghiên cứu……… 11
6.Phương pháp nghiên cứu 11
6.1.Nghiên cứu định tính 11
6.2.Nghiên cứu định lượng 12
7.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 13
7.1.Ý nghĩa khoa học 13
7.2.Ý nghĩa thực tiễn 14
8.Kết cấu đề tài 14
PHẦN NỘI DUNG 15
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ XÃ HỘI HỖ TRỢ NGƯỜI CAO TUỔI 15
1.1 Một số khái niệm về người cao tuổi và dịch vụ xã hội hỗ trợ NCT 15
1.1.1 Khái niệm người cao tuổi 15
1.1.2.Một số khái niệm liên quan 15
1.2.Nhu cầu của người cao tuổi 19
Trang 61.3.Một số đặc điểm cơ bản của người cao tuổi 21
1.3.1 Đặc điểm sinh lý………21
1.3.2 Đặc điểm tâm lý……… 22
1.4 Cơ sở lý luận về dịch vụ xã hội hỗ trợ người cao tuổi ……….23
1.4.1 khái niệm dịch vụ hỗ trợ người cao tuổi………23
1.4.2 Các dịch vụ hỗ trợ người cao tuổi……… 23
1.4.2.1 Dịch vụ công tác xã hội……… 24
1.4.2.2.Dịch vụ tham vấn, trị liệu tâm lý 24
1.4.2.3.Dịch vụ hỗ trợ pháp lý ………25
1.4.2.4 Dịch vụ chăm sóc dài hạn theo cơ chế do nhà nước chi trả phí dịch vụ.26 1.4.2.5.Dịch vụ chăm sóc dài hạn theo cơ chế tự nguyện, có nộp phí 26
1.4.3.Vai trò của các dịch vụ xã hội đối với người cao tuổi 27
1.4.4 Các nguyên tắc cơ bản về dịch vụ hỗ trợ người cao tuổi……… 27
1.5.Các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ xã hội hỗ trợ NCT 28
1.5.1.Yếu tố chính sách, pháp luật 28
1.5.2 Yếu tố năng lực của cơ sở cung cấp dịch vụ xã hội và nhân viên xã hội 28
1.5.3.Yếu tố văn hóa 28
1.5.4.Yếu tố về đối tượng phục vụ 29
1.6.Cơ sở chính sách, pháp luật về dịch vụ xã hội hỗ trợ NCT 39
1.6.1.Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về chăm sóc phát huy NCT 30
1.6.2.Hệ thống chính sách, pháp luật về cung cấp dịch vụ xã hội với NCT 30
1.7.Các lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 32
1.7.1.Lý thuyết nhu cầu Maslow 33
1.7.2.Lý thuyết hệ thống 35
1.7.3.Lý thuyết vai trò 35
1.8.Khung lý thuyết của đề tài 36
Tiểu kết Chương 1 37
Trang 7CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG DỊCH VỤ XÃ HỘI HỖ TRỢ NGƯỜI CAO
TUỔI TẠI TRUNG TÂM DƯỠNG LÃO THỊ NGHÈ 38
2.1 Khái quát về trung tâm dưỡng lão Thị Nghè 38
2.1.1 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của trung tâm dưỡng lão Thị Nghè 39
2.1.2 Cơ cấu tổ chức, bộ máy của trung tâm dưỡng lão Thị Nghè 40
2.1.3 Quy mô Số lượng người cao tuổi tại trung tâm Thị Nghè 42
2.1.4 Đặc điểm của NCT tại Trung tâm 42
2.1.5 Thời gian sống tại trung tâm của NCT……… 45
2.2 Những khó khăn của NCT tại trung tâm dưỡng lão Thị Nghè 46
2.2.1 Một số vấn đề của người cao tuổi 46
2.2.2 Những khó khăn, hạn chế trong quản lý đối tượng NCT tại trung tâm dưỡng lão Thị Nghè 47
2.3 Nhu cầu của người cao tuổi tại trung tâm dưỡng lão Thị Nghè……… 49
2.4 Đánh giá chất lượng dịch vụ xã hội hỗ trợ NCT tại trung tâm dưỡng lão Thị Nghè Thành phố Hồ Chí Minh 51
2.4.1 Các dịch vụ xã hội với NCT tại trung tâm dưỡng lão Thị Nghè 51
2.4.2 Dịch vụ tham vấn, trị liệu tâm lý 54
2.4.3 Dịch vụ hỗ trợ pháp lý 56
2.4.4 Dịch vụ quản lý trường hợp……… 58
2.5 Đánh giá mức độ hài lòng về Dịch vụ xã hội hỗ trợ NCT tại Trung tâm dưỡng lão Thị Nghè 59
2.5.1 Mức độ hài lòng về tính chuyên nghiệp và khả năng đáp ứng dịch vụ 62
2.5.2 Mức độ hài lòng về đội ngũ nhân viên, cán bộ, chuyên viên CTXH 63
2.5.3 Mức độ hài lòng về cơ sở vật chất 64
2.6 Việc triển khai thực hiện chính sách và nguồn lực hỗ trợ cho NCT tại trung tâm dưỡng lão Thị Nghè 65
2.7 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ xã hội hỗ trợ NCT tại trung tâm dưỡng lão Thị Nghè……… 72
2.7.1 Các yếu tố về đặc điểm của NCT……… 72
2.7.2 Các yếu tố về trình độ chuyên môn của nhân viên xã hội……….73
Trang 82.7.3 Các yếu tố nguồn lực kinh tế của trung tâm……… 76
Tiểu kết chương 2 78
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả dịch vụ xã hội hỗ trợ người cao tuổi tại trung tâm dưỡng lão Thị Nghè Thành phố Hồ Chí Minh 80
3.1 Căn cứ đề xuất giải pháp 80
3.2 Các giải pháp……… 81
3.2.1 Giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ xã hội ở trung tâm………… 81
3.2.2 Nâng cao năng lực chuyên môn cho nhân viên công tác xã hội ở trung tâm dưỡng lão Thị Nghè 82
3.2.3 Nâng cao chất lượng về mặt chính sách 85
3.2.4 Đổi mới hoạt động cung cấp các dịch vụ xã hội với NCT của trung tâm theo hướng thích ứng với dịch vụ xã hội 86
Tiểu kết chương 3 87
Kết luận 88
Tài liệu tham khảo……… 90
Trang 9DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
NVCTXH Nhân viên công tác xã hội
CBVC-NLĐ Cán bộ viên chức - người lao động
Trang 10DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
Hình 1.1 số lượng người cao tuổi trên thế giới (1950 – 2050) 5
Biểu đồ 2.1 Sơ đồ bộ máy quản lý của trung tâm dưỡng lão Thị Nghè 40
Bảng 2.6 Nhu cầu của NCT theo nhóm tuổi tại TT dưỡng lão Thị Nghè 50
Biểu đồ 2.3 Hỗ trợ tâm lý của nhân viên khi NCT đến trung tâm 55
Biểu đồ 2.4 NCT được trò chuyện, chia sẻ tâm sự, nguyện vọng, các vấn
Biểu đồ 2.5 Đánh giá NCT tham gia vào hoạt động quản lý trường hợp 58
Trang 11Biểu đồ 2.6 Đánh giá mức độ hài lòng về các dịch vụ ở TT 60
Bảng 3.3 Bảng đánh giá chất lượng dịch vụ quản lý trường hợp 60
Bảng 3.4 Bảng đánh giá chất lượng dịch vụ tham vấn, trị liệu của TT 62
Biểu đồ 2.8 Nguồn lực chăm sóc NCT tại TT dưỡng lão Thị Nghè 66
Biểu đồ 2.9 Đánh giá của NCT về các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ xã hội 72
Bảng 3.7 Những yếu tố của NVXH ảnh hưởng như thế nào để dịch vụ xã hội
Bảng 3.8 Mức độ tác động của yếu tố nguồn lực kinh tế của TT đến DVXH 76
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Như chúng ta đã biết, già hóa dân số đang là một trong những quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam Già hóa dân số là thành quả của khoa học, y tế, chính sách an sinh, của sự phát triển kinh tế, phúc lợi
xã hội nhưng già hóa cũng sẽ tác động đến phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội
và hệ thống phúc lợi xã hội đối với người cao tuổi Người cao tuổi, họ là lớp người có quá trình cống hiến lâu dài cho gia đình, xã hội và đất nước và được coi là thế hệ duy trì tính liên tục phát triển của nhân loại, là thế hệ đi trước nên mỗi quốc gia có những chính sách an sinh cho NCT khác nhau tùy thuộc vào kinh tế, văn hóa, xã hội, chính sách an sinh của mỗi quốc gia đó
Già hóa dân số được coi là một quá trình tất yếu và có ảnh hưởng lớn đến mỗi quốc gia vì tỷ lệ người cao tuổi tăng đồng nghĩa với việc tỷ lệ người phụ thuộc trên tổng dân số tăng và ảnh hưởng lớn đến mỗi chính sách, kinh tế, văn hóa, xã hội…của mỗi quốc gia khác nhau Đây là một hiện tượng phổ biến
ở các nước trên thế giới, đặc biệt ở những nước phát triển và các nước đang phát triển
Theo Quỹ dân số Liên Hiệp Quốc tổng số người già từ 60 tuổi trở lên sẽ tăng nhanh từ 214 triệu người vào năm 1950 lên 400 triệu người vào năm 1982, khoảng 600 triệu người vào năm 2001 và khoảng 1.2 tỷ người vào năm 2025
Số người 80 tuổi trở lên sẽ tăng từ 13 triệu người năm 1950 lên 50 triệu người vào năm 1995 và sẽ tăng lên 137 triệu người vào năm 2050 Tỉ lệ người cao tuổi trên thế giới sẽ tăng liên tục từ 8% dân số năm 1950 lên 10% vào năm 2000
và gồm 20% vào năm 2050 Ở Việt Nam dự báo đến năm 2025 sẽ có trên 10 triệu người cao tuổi chiếm tỉ lệ 15% dân số trên cả nước [26]
Hiện nay ở Việt Nam, công tác tổ chức các hoạt động chăm sóc sức khỏe
Trang 13mang tính đơn lẻ, tự phát Việc tổ chức các câu lạc bộ NCT, câu lạc bộ dưỡng sinh sẽ rất có ích cho sức khỏe của họ, song hình thức này còn nhiều hạn chế
và bị chi phối bởi kinh phí hoạt động hạn hẹp và đối tượng tổ chức Hơn nữa, công tác khám, chữa bệnh cho NCT vẫn chưa được quan tâm đúng mức Tình trạng các cụ phải tự bỏ tiền để khám chữa bệnh vẫn còn phổ biến, do vậy chi phí khám chữa bệnh đã, đang là một gánh nặng cho NCT và gia đình, nhất là NCT nói chung và NCT có công nói riêng
Vì vậy, việc cung cấp các dịch vụ với người cao tuổi theo nhu cầu nguyện vọng của người cao tuổi trong Trung tâm Bảo trợ xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống và tinh thần cho người cao tuổi, đồng thời là phương pháp hoạt động phù hợp góp phần tạo nên hiệu quả của CTXH, nâng cao chất lượng dịch vụ xã hội đối với NCT nói chung và dịch vụ CTXH nói riêng, góp phần đổi mới tổ chức hoạt động CTXH, hướng tới phát triển dịch
vụ CTXH đối với người cao tuổi được tốt hơn Đối với NCT mang tính chuyên nghiệp hơn, nhất là trong bối cảnh hiện nay khi Nhà nước đang có chính sách đẩy mạnh hoạt động xã hội hóa công tác trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội;
mở rộng các loại hình dịch vụ trợ giúp xã hội, nhất là loại hình dịch vụ chăm sóc tự nguyện, có đóng góp kinh phí
Để hiểu rõ hơn dịch vụ xã hội với NCT tác giả đã khảo sát nghiên cứu
và viết luận tại trung tâm Dưỡng lão Thị Nghè thành phố Hồ Chí Minh Trung tâm Dưỡng lão Thị Nghè Được thành lập từ năm 1996, có chức năng chủ yếu chăm sóc, phụng dưỡng, các đối tượng (ĐT) người già thuộc diện chính sách neo đơn, không nơi nương tựa, không người nuôi dưỡng Tuy nhiên, cho đến nay có rất ít tài liệu cũng như công trình nghiên cứu đánh giá chất lượng về dịch vụ xã hội cho NCT ở trung tâm Vì những lý do trên tôi quyết định lựa
chọn đề tài: “Dịch vụ xã hội hỗ trợ người cao tuổi tại Trung tâm Dưỡng lão thị
nghè Thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình
Trang 142 Tổng quan nghiên cứu
2.1 Những nghiên cứu trên thế giới
Trong phiên họp ngày 18/12/2014, Liên Hợp Quốc đã thông qua Nghị
quyết GA/RES/69/146 về công tác người cao tuổi, trong đó Nghị quyết đã đưa
ra 52 điều cần thực hiện Nghị quyết đã đánh giá cao hiệu quả của nhóm công tác mở của Liên Hợp Quốc về NCT (OEWG) được thành lập từ 2010, trong đó
có dự thảo Công ước về Quyền của NCT để đệ trình tại phiên họp lần thứ 70 của Đại hội đồng Liên hợp quốc; nội dung Nghị quyết cũng kêu gọi các quốc gia thành viên đóng góp ý kiến, đề xuất biện pháp cụ thể trong việc đề xuất chiến lược chăm sóc, trợ giúp NCT; vấn đề đáng chú ý là Nghị quyết đã đồng
ý tổ chức các phiên họp định kỳ để lấy ý kiến của các quốc gia thành viên và của các tổ chức phi chính phủ vào ngày 14 đến 16/07/2015 tại trụ sở của Liên hợp quốc tại New York, Hoa Kỳ về hoạt động chăm sóc, trợ giúp NCT [26]
Quỹ dân số Liên hợp quốc (UNFPA) và tổ chức hỗ trợ người cao tuổi
quốc tế (HelpAge International) đã thực hiện đề tài “Già hóa trong thế kỷ 21:
Thành tựu và thách thức” (2012) Theo báo cáo, năm 1950, toàn thế giới có
205 triệu người từ 60 tuổi trở lên Đến năm 2012, số người cao tuổi tăng gần
810 triệu người Dự tính con số này là 1 tỷ người trong vòng 10 năm nữa và đến 2050 sẽ tăng gấp đôi là 2 tỷ người Trong khi đó, có sự khác nhau giữa các vùng, các dân tộc, các giới tính … Chính vì thế, phải có một chiến lược nhằm
hỗ trợ riêng cho từng đối tượng đạt hiệu quả cao nhất [41]
Dean Blevins, Bridget Morton và Ren MCGovern cũng có nghiên cứu
“Đánh giá một dự án nghiên cứu có sự tham gia của cộng đồng về chăm sóc sức khỏe tâm thần cho NCT thôn Mỹ” (2008) Nghiên cứu này nhằm khám phá bản chất giữa các đối tác trong chương trình chăm sóc sức khỏe tâm thần cho NCT ở nông thôn Kết quả nghiên cứu này cho thấy hầu hết mọi người đều hài lòng với vai trò của họ và mức độ thành công của chương trình Từ đó tác giả
Trang 15cũng đề xuất phương pháp để cải thiện hơn nữa các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần tại cộng đồng của Hoa Kỳ là điều chúng ta cần quan tâm nghiên cứu
để góp phần xây dựng các mô hình cho NCT phù hợp với nước ta
Trong Nghiên cứu “Barriers to Health Care Access Among the Elderly
and Who Perceives Them” (Những rào cản trong chăm sóc sức khỏe NCT và
nhận thức về chúng” của Annette L.Fitzpatrick, Neil R Powe, Lawton S Cooper, Diane G Ives và John A Robbins (Đại học Washington, Đại học John Hopkins, Đại học Pittsburgh, Đại học California – Davis và Đại học Wake Forest) Nghiên cứu này được tiến hành từ năm 1993 - 1994 tại Viện Nghiên cứu sức khỏe tim mạch bằng phương pháp nghiên cứu định lượng bao gồm 5.888 người đàn ông và phụ nữ từ 65 tuổi trở lên được chọn ngẫu nhiên từ danh sách đủ điều kiện chăm sóc y tế ở 4 cộng đồng: quận Forsyth, quận Sacramento, quận Washington và quận Allegheny Kết quả nghiên cứu trong hai năm cho thấy, các rào cản chủ yếu trong chăm sóc sức khỏe như nhu cầu chăm sóc của các bệnh nhân lớn hơn những đáp ứng của các bác sĩ; tình trạng bệnh nhân không có bảo hiểm y tế; rào cản ở bản thân bệnh nhân như tâm lý, thể chất, sức khỏe, tài chính chính những rào cản đó đã ảnh hưởng đến công tác chăm sóc sức khỏe cho người đàn ông và phụ nữ từ 65 tuổi ở đây Nghiên cứu này không chỉ là rào cản riêng ở nước Mỹ mà là thực trạng chung, phổ biến ở mọi nơi ngay
cả ở đất nước nhỏ bé phía Đông Nam Á của chúng ta [44]
Một công trình trong khu vực Đông Nam Á, nghiên cứu về mô hình chăm sóc sức khỏe người cao tuổi cũng cần được nhắc đến, do Chanitta Soommaht, Songkoon Ratchasima, Buriram, Surin và KhonKaen thực hiện là: “Developing Model of Health Care Management for the Elderly by Community Participation
in Isan” (Xây dựng mô hình quản lý chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi có
sự tham gia của cộng đồng tại Isan) Nghiên cứu được tiến hành từ 2/8/2008 tại
7 tỉnh Đông Bắc Thái Lan là Mahasarakham, Roi – et, Sakon Nakhon, Nakhon
Trang 16Ratchasima, Buriram, Surin và Khon Kaen Nghiên cứu này được tiến hành
bằng phương pháp nghiên cứu định tính Các tác giả đã tiến hành phân tích các
vấn đề liên quan đến việc quản lý chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi về thể
chất lẫn tinh thần Đồng thời, nghiên cứu đã tiến hành phân tích sự phát triển
của việc chăm sóc sức khỏe người cao tuổi có sự tham gia của cộng đồng ở
Isan Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng việc quản lý của các tổ chức cộng đồng
trong chăm sóc sức khỏe người cao tuổi là phương pháp hiệu quả Tất cả công
dân cao tuổi đều đồng ý rằng việc chăm sóc y tế được cung cấp bởi các tổ chức
cộng đồng giúp họ thoải mái và ấm áp hơn Mô hình này gợi cho chúng ta
những bài học kinh nghiệm khi áp dụng vào Việt Nam trong công tác chăm sóc
sức khỏe người cao tuổi tại cộng đồng [38]
Hình 1.1: số lượng người cao tuổi trên thế giới (1950 – 2050)
UNDESA, báo cáo thế giới về già hóa dân số năm 2011
Hiện nay, đại dịch COVID-19 đang có tác động rất lớn đến dân số thế
giới Mặc dù tất cả các nhóm tuổi đều có nguy cơ nhiễm virus, nhưng người
cao tuổi có nguy cơ cao nhất và đối mặt với khó khăn lớn nhất, do những thay
đổi sinh lý liên quan đến lão hóa và các bệnh có thể có từ trước Chúng ta thấy
Trang 17rằng tỷ lệ tử vong ở người cao tuổi nhìn chung cao hơn, nhưng đối với những người trên 80 tuổi, nó thậm chí còn cao gấp 5 lần mức trung bình của thế giới Theo nhà lãnh đạo cấp cao của Liên hợp quốc, người cao tuổi phải là đối tượng
ưu tiên trong hành động của chúng ta để chống lại COVID-19 Chúng ta cũng cần xem xét cách mà đại dịch có thể thay đổi cách thức chúng ta tiếp cận với quá trình già hóa và người cao tuổi Điều cần thiết là phải mở rộng các khả năng được cung cấp cho họ và cải thiện khả năng tiếp cận với y tế, lương hưu và bảo trợ xã hội
Như vậy, có thể thấy chủ đề NCT và mô hình chăm sóc, trợ giúp NCT nhận được rất nhiều sự quan tâm của các cơ quan, tổ chức, các nhà nghiên cứu trên thế giới Quan điểm và cách tiếp cận trong nghiên cứu các vấn đề về NCT
và mô hình chăm sóc, trợ giúp NCT cũng rất phong phú: từ góc độ gia đình, xã hội; từ góc độ văn hóa, y tế cho đến góc độ dân số, kinh tế, quản lý… Điều này cho thấy vai trò, vị thế của NCT tại các nước trên thế giới rất được quan tâm,
đề cao Tuy nhiên các nghiên cứu về dịch vụ công tác xã hội trong hỗ trợ NCT
cô đơn vẫn còn chưa được nhiều và chưa được quan tâm cao
2.2 Những nghiên cứu về tại Việt Nam
Theo báo cáo của Bộ LĐTBXH, đến năm 2020, cả nước có gần 13 triệu người cao tuổi (NCT), chiếm 12% dân số, trong đó khoảng 1,98 triệu người trên 80 tuổi, gần 7,7 triệu người sống ở vùng nông thôn Đa số NCT Việt Nam sống cùng con cháu NCT đối diện với gánh nặng "bệnh tật kép" và thường mắc các bệnh mạn tính, bình quân mỗi người cao tuổi có 3 bệnh, đối diện với nguy
cơ tàn phế do quá trình lão hóa, chi phí điều trị lớn Số NCT tăng nhanh sẽ cần một nhóm người đáng kể hỗ trợ để đảm bảo sinh hoạt bình thường cũng như chăm sóc sức khỏe Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có tốc độ già hóa nhanh nhất thế giới khi dự báo đến năm 2038, nhóm dân số trên
60 tuổi là khoảng 21 triệu người, chiếm 20% tổng dân số cả nước Đến năm
Trang 182050, khi thế giới cứ 5 người thì có 1 người từ 60 tuổi trở lên thì ở Việt Nam
cứ 4 người thì có 1 người 60 tuổi trở lên (khoảng 27 triệu người) Tuổi thọ trung bình của Việt Nam cũng sẽ được dự báo sẽ tiếp tục tăng, lên tới 78 tuổi vào năm 2030 và 80,4 tuổi vào năm 2050 [35]
Đề tài “Một số giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc người cao tuổi
Việt Nam” của tác giả Phạm Vũ Hoàng (2013), nghiên cứu chung ở tầm vĩ mô
trên phạm vi cả nước về chăm sóc người cao tuổi, tác giả lựa chọn Trung tâm chăm sóc sức khỏe người cao tuổi Thiên Đức tại huyện Từ Liêm, Hà Nội để đánh giá chất lượng chăm sóc người cao tuổi Đề tài nghiên cứu đánh giá về thực trạng chăm sóc, chất lượng chăm sóc người cao tuổi và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc người cao tuổi, nghiên cứu phát hiện các nguyên nhân dẫn tới các hạn chế trong chất lượng chăm sóc người cao tuổi Trên cơ sở đó đề tài đưa ra một số định hướng, giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc người cao tuổi Việt Nam [4]
Đề tài “Công tác xã hội với người cao tuổi bị bạo lực gia đình” của tác giả
Phùng Thanh Quang (2014) Kết quả nghiên cứu cho thấy bạo lực gia đình với NCT xảy ra ở khắp mọi nơi, không kể địa vị gia đình, trình độ dân trí Đó là thực trạng về bạo lực thể chất, bạo lực tinh thần và bạo lực kinh tế Nghiên cứu cũng chỉ ra một số biện pháp đã áp dụng tại địa phương nhằm giảm thiểu tình trạng bạo lực NCT trong gia đình và xây dựng mô hình CTXH nhằm hỗ trợ cũng như nâng cao công tác phòng chống bạo lực gia đình nói chung và bạo lực gia đình với NCT nói riêng
Đề tài “Dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn tỉnh
Hà Tĩnh” của tác giả Ngô Thị Tâm Tình (2016) Đề tài cho thấy cần thực hiện
những dịch vụ công tác xã hội với những phương pháp đặc thù riêng để có thể giúp đỡ NCT luôn khỏe mạnh, đảm bảo cuộc sống vui tươi, hạnh phúc mà không ảnh hưởng nhiều tới công việc và cuộc sống của con cháu
Trang 19Đề tài “Công tác xã hội trong hoạt động hỗ trợ chăm sóc sức khỏe người
cao tuổi” (nghiên cứu tại trung tâm chăm sóc người cao tuổi Thiên Đức, Thành
phố Hà Nội) lại tập trung nghiên cứu, đánh giá về hoạt động chăm sóc sức khỏe NCT và đề xuất các giải pháp để nâng cao chất lượng hoạt động chăm sóc sức khỏe cho NCT tại đây
Trong bài viết của tác giả Như Ngọc (2013) “Trung tâm cung cấp dịch
vụ công tác xã hội Thừa Thiên Huế: từng bước ổn định và phát triển” tác giả
đã đưa ra thực trạng cung cấp dịch vụ CTXH, quy trình làm việc của Trung tâm trong việc tiếp nhận đối tượng Từ đó đưa ra các giải pháp của Giám đốc trung tâm Bài viết có điểm mới là đã đưa ra quy trình trong tiếp nhận đối tượng xã hội, tuy nhiên phạm vi nghiên cứu tại trung tâm cung cấp dịch vụ cấp tỉnh [13]
Công trình nghiên cứu “Một số vấn đề cơ bản về người cao tuổi ở Việt
Nam giai đoạn 2011 - 2020” của tác giả Lê Ngọc Lân - Viện nghiên cứu Gia
đình và giới Đề tài đã đề cập tới một số nội dung như: Khái niệm, các tiếp cận nghiên cứu về NCT, kinh nghiệm nghiên cứu NCT ở các nước và quan điểm của Đảng về NCT, một số vấn đề cơ bản về đời sống của NCT hiện nay Đề tài cũng là cơ sở để điều chỉnh chính sách nhằm phát huy hơn nữa vai trò của NCT
và chăm sóc NCT tốt hơn trong giai đoạn 2011 – 2020 [10]
Năm 2011, Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phối hợp cùng Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam, Viện nghiên cứu Y - Xã hội học và
Công ty Nghiên cứu và Tư vấn Đông Dương tổ chức “Điều tra quốc gia về
người cao tuổi Việt Nam” (VNAS) [14], đây là một phần của dự án “Tăng cường các quyền của người cao tuổi thiệt thòi tại Việt Nam” được triển khai
bởi Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam Kết quả Điều tra quốc gia về NCT Việt Nam lần đầu tiên được công bố là một cơ sở quan trọng cho các hoạt động nghiên cứu và vận động chính sách đối với NCT Việt Nam VNAS thu thập số liệu từ tháng 10 - 12/2011 tại 12 tỉnh, thành phố đại điện cho 6 vùng sinh thái
Trang 20của Việt Nam (bao gồm Thái Nguyên, Hưng Yên, Thanh Hóa, Hà Nội, Nam Định, Huế, Đắk Lắk, Đồng Nai, Sóc Trăng, Tiền Giang và TP Hồ Chí Minh) Hơn 4.000 người đại diện cho nhóm dân số cận cao tuổi và cao tuổi (từ 50 tuổi trở lên) đã được phỏng vấn trong cuộc điều tra này Số liệu điều tra mô tả các đặc điểm kinh tế, xã hội, tình hình sức khỏe, xu hướng bệnh tật, đời sống vật chất, tinh thần, nhu cầu chăm sóc và được chăm sóc cũng như việc tiếp cận các
mô hình trợ giúp, đến việc tiếp cận các chế độ an sinh xã hội và dịch vụ y tế của NCT Việt Nam
Qua các nghiên cứu cho thấy vấn đề chăm sóc, trợ giúp người cao tuổi hiện nay đang là vấn đề mang tính cấp thiết và lâu dài mà nhà nước ta phải đối mặt cùng với tình trạng già hóa dân số đang diễn ra một cách nhanh chóng Với một ngành Công tác xã hội còn thiếu và yếu về nhân lực cũng như các công cụ, dịch vụ hỗ trợ còn manh mún thiếu đồng bộ thì cần phải phát triển nguồn nhân lực công tác xã hội viên cũng như phát triển hệ thống cung cấp các dịch vụ xã hội để đáp ứng những nhu cầu của các đối tượng xã hội, và đặc biệt rất cần có
sự xã hội hóa của các cơ quan tổ chức tư nhân, cộng đồng xã hội
Như vậy, có rất nhiều các nghiên cứu về người cao tuổi tập trung vào một
số địa bàn đặc thù nhằm đưa ra thực trạng về chất lượng chăm sóc người cao tuổi
và khuyến nghị về chăm sóc người cao tuổi, nâng cao chất lượng chăm sóc người cao tuổi nói chung chứ chưa hoặc rất ít đề cập đến từng dịch vụ cụ thể hiện đang cung cấp cho NCT, chất lượng dịch vụ đó như thế nào, nhu cầu của NCT và khả năng tiếp cận của NCT đối với từng dịch vụ này ra sao Vì vậy, việc nghiên cứu các dịch vụ xã hội đối với người cao tuổi tại Trung tâm dưỡng lão Thị Nghè thành phố Hồ Chí Minh sẽ cung cấp các thông tin có giá trị tham khảo đối với trung tâm trong quá trình xây dựng, hoàn thiện và phát triển các dịch vụ ở trung tâm nói riêng và phát triển lĩnh vực công tác xã hội đối với người cao tuổi cả nước nói chung
Trang 213 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài này là tìm hiểu thực trạng đời sống của NCT tại TT dưỡng Lão Thị Nghè Từ đó phân tích các dịch vụ xã hội đối với NCT tại TT hiện nay Để đánh giá nhận diện những vấn đề, nhu cầu của NCT cần trợ giúp Từ đó đưa ra các dịch vụ xã hội hỗ trợ phù hợp và những nhu cầu cho NCT được tốt hơn
Đánh giá mức độ hài lòng về các dịch vụ xã hội tại trung tâm dưỡng lão Thị Nghè Thành phố Hồ Chí Minh hiện đang có
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng dịch vụ xã hội hỗ trợ người cao tuổi, luận văn đề xuất một số giải pháp khuyến nghị nhằm cải thiện nâng cao các dịch vụ xã hội hỗ trợ người cao tuổi tại Trung tâm dưỡng lão Thị Nghè Thành phố Hồ Chí Minh
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan đến đề tài vấn đề
Khảo sát thực trạng dịch vụ xã hội hỗ trợ người cao tuổi tại Trung tâm dưỡng lão Thị Nghè Thành phố Hồ Chí Minh
Đề xuất một số giải pháp khuyến nghị nhằm nâng cao cải thiện dịch vụ
xã hội hỗ trợ NCT tại Trung tâm dưỡng lão Thị Nghè Thành phố Hồ Chí Minh
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Dịch vụ xã hội hỗ trợ người cao tuổi tại trung tâm dưỡng lão Thị Nghè
thành phố Hồ Chí Minh
4.2 Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu của đề tài được xác định bao gồm các thành phần sau: NCT tại trung tâm dưỡng lão Thị Nghè (100 đối tượng) Cán bộ, nhân viên cơ sở dưỡng lão Thị Nghè (10 nhân viên)
Trang 225 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: Các dịch vụ xã hội với NCT tại trung tâm dưỡng lão
Thị Nghè
Phạm vi về thời gian: nghiên cứu thực trạng NCT trong các số liệu thu
thập chủ yếu trong giai đoạn 2015 - 2020 và 6 tháng đầu năm 2021 tại TT dưỡng lão Thị Nghè thành phố Hồ Chí Minh
Thời gian thực hiện từ tháng 12/2020 đến 07/2021
Phạm vi không gian: khảo sát tại trung tâm dưỡng lão Thị Nghè thành
phố Hồ Chí Minh
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nghiên cứu định tính
Phương pháp phân tích tài liệu: Đề tài sử dụng các nguồn tài liệu liên
quan đến: các công trình nghiên cứu khoa học trước, sách, báo, tạp chí có liên quan đến đề tài, các số liệu thống kê; số liệu từ trung tâm; Số liệu trong các báo cáo của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh, sách, báo, tạp chí trong nước; thông tin từ mạng Internet; các văn bản và định hướng
của Nhà nước trong lĩnh vực liên quan đến người cao tuổi
Nghiên cứu được tiến hành bước đầu bằng việc thu thập và phân tích các tài liệu quốc tế, tài liệu trong nước liên quan đến NCT, NCT tại trung tâm dưỡng lão Thị Nghè và các dịch vụ xã hội trong việc hỗ trợ NCT tại trung tâm Các thông tin được thu thập từ các nghiên cứu trong và ngoài nước; hệ thống sách
- giáo trình, báo cáo khoa học, các bài viết trên tạp chí khoa học xã hội, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ; tài liệu hội thảo; các công trình, dự án nghiên cứu
có liên quan đến đề tài nghiên cứu; Phân tích báo cáo đặc trưng về nhân khẩu học ở nhóm dân số cao tuổi, các tài liệu thống kê, các viện nghiên cứu, các tổ chức xã hội dân sự, các nhà nghiên cứu… đã được công bố; nguồn tư liệu phục
vụ đề tài còn bao gồm các tư liệu, tài liệu của Trung tâm dưỡng lão thị nghè,
Trang 23sở LĐTB&XH thành phố Hồ Chí Minh
Phương pháp pháp quan sát: Quan sát thực tế tại Trung tâm Trung tâm
dưỡng lão Thị Nghè, tiếp xúc trực tiếp với Ban lãnh đạo, đội ngũ nhân viên và người cao tuổi đang được nuôi dưỡng tại trung tâm Giai đoạn quan sát thực tế được tiến hành trong quá trình nghiên cứu, xác định thực trạng các dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi tại trung tâm
Quan sát về cách thức tiến hành, triển khai các dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi nhằm tìm hiểu về những khó khăn, nhu cầu, khả năng tiếp cận cũng như những yếu tố ảnh hưởng đến số lượng cũng như chất lượng các dịch vụ này
Phương pháp phỏng vấn sâu: Trong nghiên cứu này sử dụng phương
pháp phỏng vấn sâu để bổ sung cho phương pháp điều tra bằng bảng hỏi Mục tiêu là khai thác tối đa có chiều sâu những thông tin cần thiết từ người được phỏng vấn Cụ thể, tác giả tiến hành cuộc phỏng vấn sâu với 2 nhân viên và 4 người cao tuổi có khả năng giao tiếp được đang sống tại Trung tâm
Phương pháp phỏng vấn sâu với mục đích tập trung thu thập những thông tin đa chiều theo hướng mở và theo chiều sâu của vấn đề nghiên cứu ở nhóm khách thể nghiên cứu, những đặc điểm riêng của đối tượng được nghiên cứu nhằm phục vụ cho đề tài nghiên cứu, bổ sung cùng với những thông tin thu thập được bằng phương pháp định lượng, nhằm lý giải vấn đề và thực trạng vấn đề
ở nhóm khách thể nghiên cứu
6.2 Nghiên cứu định lượng
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Bảng hỏi là một công cụ quan
trọng trong nghiên cứu định lượng, nó là công cụ giúp thu thập thông tin, đo lường, đánh giá về mức độ và thực trạng vấn đề trong chương trình nghiên cứu Bảng hỏi với hệ thống các câu hỏi đa dạng kết hợp giữa câu hỏi đóng, câu hỏi
mở, câu hỏi chức năng được sắp xếp theo một hệ thống và trình tự logic của
Trang 24thông tin thu thập, theo nội dung của vấn đề nghiên cứu, nhằm tạo điều kiện cho người được hỏi thể hiện quan điểm của mình với những vấn đề thuộc về
đối tượng nghiên cứu
Nội dung bảng hỏi gồm phần thông tin cá nhân, phần thu thập thông tin chung về thực trạng đời sống của người cao tuổi, các yếu tố ảnh hưởng đến các dịch vụ này, đồng thời đưa ra một số nội dung câu hỏi liên quan đến giải pháp phát triển các dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi tại Trung tâm
Do người cao tuổi tại trung tâm có khả năng giao tiếp được không nhiều,
vì vậy việc chọn mẫu được tiến hành theo phương pháp lập danh sách toàn bộ người cao tuổi có khả năng giao tiếp được để thực hiện khảo sát
Để thu thập thông tin định tính, trong nghiên cứu này tác giả tiến hành
100 phiếu khảo sát cho NCT, đối tượng là: NCT tại TT dưỡng lão Thị Nghè,
10 Viên chức TT, Cơ cấu đối tượng điều tra bằng bảng hỏi như sau:
Người cao tuổi tại TT dưỡng lão Thị Nghè 100 người Cán bộ công nhân viên chức tại trung tâm 10 người
Phương pháp thống kê toán học: Để xử lý và phân tích dữ kiện điều tra
bằng bảng câu hỏi, tác giả sử dụng công cụ phần mềm SPSS 20 để xử lý, thông qua phương pháp phân tích thống kê là chủ yếu, … Với phương pháp này các chỉ tiêu nêu ra trong bảng câu hỏi được xử lý Nhằm đánh giá được thực trạng các dịch vụ xã hội đối với người cao tuổi tại trung tâm dưỡng lão Thị Nghè
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
7.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài này thuộc nhóm đề tài nghiên cứu ứng dụng lý thuyết, các phương pháp, nhằm giải quyết một số vấn đề xã hội cụ thể Cụ thể là việc sử dụng hệ thống các khái niệm liên quan, các lý thuyết, phương pháp CTXH vào việc
Trang 25phân tích, đánh giá và đưa ra các phương pháp hỗ trợ thích hợp
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu cũng góp một phần giúp các cấp quản lý có thêm cái nhìn sâu sắc, toàn diện tích cực trong công tác tuyên truyền, phổ biến các chính sách mới, hiến pháp, Pháp luật của Nhà nước đến với NCT, gia đình NCT cũng như cả cộng đồng NCT đang sinh sống Giúp cho người cao tuổi nhận ra vấn
đề và tiềm năng giải quyết vấn đề của mình Bên cạnh đó, hiểu rõ các chế độ trợ cấp đối với họ và các dịch vụ trợ giúp của công tác xã hội trong lĩnh vực này
Giúp cho nhân viên công tác xã hội nói riêng và các ngành có liên quan hiểu biết thêm về các chế độ trợ cấp, các dịch vụ hỗ trợ của công tác xã hội đối với NCT và những yêu cầu cần thiết để trở thành nhân viên xã hội chuyên nghiệp trong lĩnh vực chăm sóc, trợ giúp NCT Bản thân sau khi nghiên cứu đề tài sẽ củng cố, mở rộng kiến thức về công tác xã hội nói chung và các dịch vụ công tác xã hội đối với NCT nói riêng, từ đó rút ngắn khoảng cách giữa lý luận
và thực tiễn trong lĩnh vực này
8 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo,
đề tài được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về dịch vụ xã hội hỗ trợ người cao tuổi
Chương 2: Thực trạng dịch vụ xã hội với người cao tuổi tại trung tâm dưỡng lão Thị Nghè
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả dịch vụ xã hội hỗ trợ người cao tuổi tại trung tâm dưỡng lão Thị Nghè Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 26PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ XÃ HỘI HỖ
TRỢ NGƯỜI CAO TUỔI 1.1 Một số khái niệm về người cao tuổi và dịch vụ xã hội hỗ trợ người cao tuổi
1.1.1 Khái niệm người cao tuổi
Có nhiều khái niệm khác nhau về người cao tuổi Nhiều công trình nghiên cứu cũng như đánh giá của các chuyên gia thì người ta thường dùng thuật ngữ người già để chỉ những người có tuổi, hiện nay “người cao tuổi” ngày càng được sử dụng nhiều hơn
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) xác định người cao tuổi là những người từ 65 tuổi trở lên [26]
Theo quy định Việt Nam tại Điều 2 Luật số 39/2009/QH12 ngày 23 tháng
11 năm 2009 thì người cao tuổi là “Công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên” [23,tr.3]
Dưới góc nhìn của công tác xã hội, người cao tuổi là người bước vào thời
kỳ có "Những thay đổi về tâm, sinh lý, lao động-thu nhập, quan hệ xã hội và sẽ
gặp phải nhiều vấn đề trong cuộc sống" [3, tr.8] Do đó, NCT là một đối tượng
yếu thế, đối tượng cần sự trợ giúp của Công tác xã hội
1.1.2 Một số khái niệm liên quan
Khái niệm dịch vụ: Dịch vụ là hoạt động có mục đích nhằm đáp ứng nhu
cầu nào đó của con người Đặc điểm của dịch vụ là không tồn tại ở dạng sản phẩm cụ thể (hữu hình) như hàng hóa nhưng nó phục vụ trực tiếp nhu cầu nhất
định của xã hội [33]
Khái niệm dịch vụ xã hội: Dịch vụ xã hội là một loạt các dịch vụ công
nhằm cung cấp hỗ trợ và trợ giúp cho các nhóm cụ thể, thường bao gồm những người yếu thế Chúng có thể được cung cấp bởi các tổ chức cá nhân, các tổ
Trang 27chức tư nhân và độc lập hoặc do một cơ quan chính phủ quản lý Các dịch vụ
xã hội được kết nối với khái niệm phúc lợi và trạng thái phúc lợi, vì các quốc gia có các chương trình phúc lợi lớn thường cung cấp nhiều loại dịch vụ xã hội [35]
Các dịch vụ xã hội được sử dụng để giải quyết các nhu cầu đa dạng của
xã hội Trước khi công nghiệp hóa, việc cung cấp các dịch vụ xã hội phần lớn chỉ giới hạn trong các tổ chức tư nhân và tổ chức từ thiện, với mức độ bao phủ của nó cũng hạn chế Dịch vụ xã hội ngày nay thường được toàn cầu coi là chức năng cần thiết của xã hội và là cơ chế mà qua đó các chính phủ có thể giải quyết các vấn đề xã hội
Việc cung cấp các dịch vụ xã hội của các chính phủ gắn liền với niềm tin
về nhân quyền phổ quát, các nguyên tắc dân chủ, cũng như các giá trị tôn giáo
và văn hóa Mức độ sẵn có và mức độ bao phủ của các dịch vụ xã hội khác nhau đáng kể trong các xã hội Các nhóm chính mà các dịch vụ xã hội hướng tới là gia đình, trẻ em, thanh niên, người lớn tuổi, phụ nữ, người bệnh và người tàn tật Dịch vụ xã hội bao gồm các Cơ Sở và dịch vụ như: giáo dục Công cộng, ngân hàng lương thực, chăm sóc sức khỏe toàn dân, cảnh sát, dịch vụ cứu hỏa, giao thông công cộng và nhà ở công cộng [35]
Dịch vụ công tác xã hội: Dịch vụ công tác xã hội được hiểu là các dịch
vụ cụ thể hóa luật pháp, chính sách của Nhà nước về các lĩnh vực phúc lợi xã hội, y tế, giáo dục, pháp lý nhằm trợ giúp các cá nhân, nhóm, cộng đồng có nhu cầu giải quyết các vấn đề khó khăn và mang tính chuyên nghiệp của công tác
xã hội
“Dịch vụ công tác xã hội là hoạt động chuyên nghiệp công tác xã hội cung cấp các hoạt động hỗ trợ về tinh thần hay vật chất cho những người có hoàn cảnh khó khăn như người nghèo, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người già…; hoặc những người có nhu cầu hỗ trợ về mặt tâm lý xã
Trang 28hội, trợ giúp pháp lý nhằm giảm thiểu những rào cản, những bất công và đảm
bảo bình đẳng trong xã hội”[34]
Dịch vụ CTXH với NCT: có thể được hiểu là một dạng của dịch vụ xã
hội, hoạt động chuyên nghiệp trong lĩnh vực CTXH mà ở đó NVCTXH sử dụng những kiến thức, kỹ năng, phương pháp chuyên môn nhằm trợ giúp NCT, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực thực hiện chức năng xã hội; đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ trợ giúp NCT, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội cho NCT [15]
Dịch vụ công tác xã hội thể hiện việc tác động, can thiệp tới một hoặc một số đối tượng một cách khoa học, mang tính chuyên nghiệp Nhiệm vụ quan trọng của nhân viên công tác xã hội là triển khai những chương trình và cung cấp các dịch vụ tới các nhóm đối tượng của công tác xã hội
Nếu như “dịch vụ” là một khái niệm đơn lẻ thì “dịch vụ xã hội” lại là một khái niệm kép Thuật ngữ “xã hội” trong khái niệm này có thể được hiểu theo hai nghĩa như sau:
Thứ nhất là tính mục tiêu, nghĩa là dịch vụ hướng tới phát triển xã hội
Theo nghĩa này thì bất kỳ dịch vụ nào đóng góp vào mục tiêu phát triển xã hội đều được coi là dịch vụ xã hội
Thứ hai là về chuẩn mực hay tính xã hội, nghĩa là dịch vụ để bảo đảm
các giá trị, chuẩn mực xã hội Dịch vụ xã hội là một lĩnh vực rộng lớn, nhiều khía cạnh, điều này làm nên sự phong phú về nội hàm của nó
Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): Dịch vụ xã hội là các hoạt động cung cấp dịch vụ, đáp ứng nhu cầu cho các cá nhân, nhóm người nhất định nhằm đảm bảo các giá trị và chuẩn mực[39] Theo Alfred Kahn (1973): “Dịch
vụ xã hội là phương thức cung ứng nhằm thúc đẩy hay phục hồi chức năng của
cá nhân, gia đình từ đó giúp họ tiếp cận những điều kiện cần thiết cho sự phát
Trang 29triển, là những hình thức cụ thể hóa các chính sách xã hội” Đây là khái niệm được sử dụng trong luận văn
Với người cao tuổi dù ở cộng đồng hay ở các cơ sở xã hội đều có những khó khăn khác nhau trong cuộc sống, ngay cả khi họ được nhà nước tạo cơ hội
để có những dịch vụ trợ giúp Khó khăn ở mỗi NCT có thể khác nhau ở mức
độ và một số khía cạnh cụ thể, song khó khăn nổi trội nhất vẫn là khía cạnh sức khỏe, tài chính, những bất ổn tâm lý và sự hòa nhập xã hội Điều này cho thấy cần có các dịch vụ khác nhau để cung cấp nhu cầu đa dạng cho nhóm đối tượng người cao tuổi trong xã hội
Như vậy dịch vụ công tác xã hội với NCT được hiểu là các dịch vụ cụ thể hóa luật pháp, chính sách của Nhà nước về các lĩnh vực phúc lợi xã hội, y
tế, giáo dục, pháp lý nhằm trợ giúp các cá nhân, nhóm, cộng đồng có nhu cầu giải quyết các vấn đề khó khăn và mang tính chuyên nghiệp của công tác xã hội
Khái niệm công tác xã hội: Công tác xã hội là ngành học thuật và hoạt
động chuyên môn nhằm trợ giúp các cá nhân, nhóm, cộng đồng phục hồi hay
tăng cường chức năng xã hội góp phần đảm bảo nền an sinh xã hội
Hiệp hội CTXH quốc tế và các trường đào tạo CTXH quốc tế (2011)
thống nhất một định nghĩa về CTXH như sau: Công tác xã hội là nghề nghiệp
tham gia vào giải quyết vấn đề liên quan tới mối quan hệ của con người và thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tăng cường sự trao quyền và giải phóng quyền lực nhằm nâng cao chất lượng sống của con người CTXH sử dụng các học thuyết về hành
vi con người và lý luận về hệ thống xã hội vào can thiệp sự tương tác của con người với môi trường sống [7]
Theo tác giả Bùi Thị Xuân Mai (2012) CTXH là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc
Trang 30đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội [7, tr.19]
Từ những khái niệm trên, chúng ta cũng dễ dàng nhận thấy rằng đối tượng của công tác xã hội không chỉ là những đối tượng yếu thế trong xã hội, mà tất
cả những người có nhu cầu cần hỗ trợ về mặt tâm lý xã hội và những dịch vụ công tác xã hội khác liên quan đến chính sách an sinh xã hội Công tác xã hội
là 1 ngành nghề với sứ mạng giúp đỡ, hỗ trợ, chăm sóc những người không may mắn, có hoàn cảnh đặc biệt, khó khăn trong cộng đồng, nhằm giúp họ hòa nhập và có cuộc sống tốt hơn Những người này có thể là người khuyết tật, người nghèo, những người không có khả năng tự chăm sóc, tự vệ, những người mắc bệnh nan y, hoặc những nạn nhân của các biến cố chính trị, xã hội hoặc thiên tai
1.2 Nhu cầu của người cao tuổi
Người cao tuổi cũng có những nhu cầu cơ bản như những lứa tuổi khác
loại nhu cầu cơ bản được sắp xếp theo bậc thang từ thấp tới cao
Nhu cầu được chăm sóc đầy đủ về sức khỏe: Phần lớn người cao tuổi
đều sẽ có những vấn đề về sức khoẻ không ít thì nhiều Và đại đa số đều có mong muốn được chăm sóc đầy đủ về sức khỏe để có thể đảm bảo cho cuộc sống Tuy nhiên, theo thống kê ở nước ta số lượng người cao tuổi không được chăm sóc đầy đủ về sức khỏe khá cao Phần lớn những người này thuộc tầng lớp thấp, không có tiền chữa bệnh hoặc trang trải cuộc sống Bên cạnh đó, cũng
có một số người cao tuổi tuy có khả năng nhưng lại chủ quan không chịu chăm
lo cho sức khỏe Để người cao tuổi vừa sống vui vừa sống khỏe thì cần phải được quan tâm, chú trọng nâng cao sức khỏe
Nhu cầu hoạt động, lao động: Nhu cầu được làm việc, tiếp tục cống
Trang 31hiến cho gia đình và xã hội cũng là một trong những mong muốn của người cao tuổi Hiện nay, ở nước ta đến hết độ tuổi lao động mọi người sẽ được nghỉ hưu Tuy nhiên, với những người có sức khoẻ tốt, có khả năng làm việc thì họ lại muốn có công việc để có thêm thu nhập và sống có ích hơn cho xã hội Được cống hiến được làm việc vừa giúp người cao tuổi có thêm niềm vui trong cuộc sống còn giúp họ có thêm sức khoẻ và sự minh mẫn Chính vì thế, ở nhiều nước người ta đang nghiên cứu và thử nghiệm để người cao tuổi vẫn có thể vừa làm việc vừa hưởng thụ cuộc sống Nên để cho người cao tuổi được lựa chọn họ có tiếp tục làm việc tiếp hay nghỉ ngơi
Nhu cầu tham gia các hoạt động xã hội: Người cao tuổi sau khi về hưu
thường sẽ không giao tiếp với nhiều người Chính vì thế, nhiều người trong số
họ cảm thấy hut hẫng, buồn chán không biết phải làm gì Và hậu quả của việc này chính là mắc một số bệnh như suy giảm trí nhớ, gặp các vấn đề về tâm thần Người cao tuổi có nhu cầu được tham gia các hoạt động xã hội khá cao Trong cuộc sống hiện đại, ở các khu dân cư, những người cao tuổi tự thành lập một
số câu lạc bộ để có thể tham gia và vui chơi với nhau Những câu lạc bộ này không chỉ giúp người cao tuổi thoải mái về tinh thần mà còn giúp họ tạo dựng được nhiều mối quan hệ hơn
Nhu cầu về thể chất và sinh lý: Đây là các nhu cầu cần thiết để con người
sống và tồn tại như ăn, uống, tình dục, không khí sạch…khi các nhu cầu này được thoả mãn, thì con người có xu hướng tìm kiếm các đáp ứng nhu cầu cao
hơn
Nhu cầu về an toàn: Đây là những nhu cầu giúp con người có cuộc sống
an toàn, bình yên, ổn định, được sống trong sự bình ổn về kinh tế, về pháp luật,
về trật tự xã hội, không bị đe dọa…, khi nhu cầu sinh lý được thỏa mãn mà nhu cầu an toàn chưa được đáp ứng, thì các nhu cầu an toàn sẽ là động lực điều khiển hành động của con người Con người mong muốn một thế giới bình yên,
Trang 32mọi sự mất ổn định đều làm cho người ta lo lắng sợ hãi
Nhu cầu về xã hội: Đây là nhu cầu được yêu thương, được kết bạn, được
giao tiếp, được tham gia vào các nhóm gắn bó về tình cảm Những nhu cầu này giúp con người có cuộc sống vui vẻ, hạnh phúc, con người thấy được giá trị của mình qua tương tác với những người khác, và họ cũng học được qua người khác, hiểu và biết cách sống chung cùng người khác, biết hoà nhập với mọi người, với cộng đồng, xã hội
Nhu cầu được tôn trọng: Đây là nhu cầu giúp con người sống bình đẳng,
tự tin vào khả năng, nhu cầu về vị thế, uy tín, tôn trọng phẩm giá, không bị coi thường, định kiến hoặc chối bỏ
Nhu cầu được thể hiện mình: Đây là nhu cầu về thăng tiến, phát triển
Những nhu cầu này giúp con người phấn đấu, vươn lên, hoàn thiện bản thân, tìm kiếm sự hoàn hảo
Các nhu cầu không tồn tại độc lập mà có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, gắn kết, phụ thuộc và ảnh hưởng lẫn nhau Trong cuộc sống, trước mắt con người mong muốn thỏa mãn những nhu cầu bậc thấp, sau đó mới vươn tới những nhu cầu bậc cao hơn Người cao tuổi cũng có tất cả các nhu cầu như người bình thường, nhưng việc đáp ứng các nhu cầu đó thường gặp nhiều khó khăn vì tuổi tác của họ về mặt sức khỏe
1.3 Một số đặc điểm cơ bản của người cao tuổi
1.3.1 Đặc điểm sinh lý
Quá trình lão hóa: Lão hóa là quá trình tất yếu của cơ thể sống Lão hóa
có thể đến sớm hay muộn tùy thuộc vào cơ thể từng người Khi tuổi già các đáp ứng kém nhanh nhạy, khả năng tự điều chỉnh và thích nghi cũng giảm dần, tất nhiên sức khỏe về thể chất và tinh thần giảm sút Về thể xác trong giai đoạn này cơ thể bắt đầu có những thay đổi theo chiều hướng đi xuống
Diện mạo thay đổi: Tóc bạc, da mồi, có thêm nhiều nếp nhăn Da trở nên
Trang 33khô và thô hơn Trên cơ thể, đầu và mặt xuất hiện mụn cơm nhiều hơn Ở tuổi già có những nếp nhăn là do lớp mỡ ở dưới lớp da mất đi cũng như do da không còn tính chất đàn hồi Các mạch máu mỏng vỡ ra, tạo thành các chấm xanh đen nhỏ dưới da
Bộ răng yếu làm cho người cao tuổi ngại dùng các thức ăn cứng, khô, dai
dù thức ăn này giàu vitamin, đạm và chất khoáng NCT thường chọn các thức
ăn mềm
Các cơ quan cảm giác: Cảm giác - nghe nhìn, nếm và khứu giác cùng
với tuổi tác ngày càng cao thường bắt đầu hoạt động kém hiệu quả
Các cơ quan nội tạng: Tim là một cơ bắp có trình độ chuyên môn hoá cao
cùng với tuổi tác cũng phải chịu những vấn đề tương tự như các cơ bắp khác của cơ thể Tim phụ thuộc vào hiệu quả hoạt động của hệ tuần hoàn, mà có thể
là nguyên nhân phát sinh nhiều vấn đề liên quan đến lão hoá
Phổi của NCT thường làm việc ít hiệu quả khi hít vào và lượng oxy giảm Khả năng dự phòng của tim, phổi và các cơ quan khác cùng với cũng giảm sút NCT thích nghi với các điều kiện rét chậm hơn, dễ bị cảm lạnh, nhiệt độ có thể
hạ thấp sẻ rủi ro nghiêm trọng cho sức khỏe của họ Họ cũng phải chịu đựng những khó khăn tương tự khi trong trường hợp cần thiết phải tiếp cận với nhiệt
độ cao
1.3.2 Đặc điểm tâm lý
Trạng thái tâm lý và sức khỏe của NCT không chỉ phụ thuộc vào nội lực của bản thân mà còn phụ thuộc vào môi trường xã hội, đặc biệt là môi trường văn hóa - tình cảm và quan trọng nhất là môi trường gia đình Khi bước sang giai đoạn tuổi già, những thay đổi tâm lý của mỗi người mỗi khác, nhưng tựu trung những thay đổi thường gặp là:
Hướng về quá khứ: Để giải tỏa những ưu phiền thường nhật trong cuộc
sống hiện tại, NCT thường thích hội họp, tìm lại bạn cũ, cảnh xưa, tham gia hội
Trang 34ái hữu, hội cựu chiến binh Họ thích ôn lại chuyện cũ, viết hồi ký, tái hiện kinh nghiệm sống cũng như hướng về cội nguồn: Viếng mộ tổ tiên, sưu tầm cổ vật…
Chuyển từ trạng thái “tích cực” sang trạng thái “tiêu cực”: Khi về già
NCT phải đối mặt với bước ngoặt lớn lao về lao động và nghề nghiệp Đó là chuyển từ trạng thái lao động (bận rộn với công việc, bạn bè) sang trạng thái nghỉ ngơi, chuyển từ trạng thái tích cực khẩn trương sang trạng thái tiêu cực xả hơi Do vậy NCT sẽ phải tìm cách thích nghi với cuộc sống mới Người ta dễ gặp phải “hội chứng về hưu”
1.4 Cơ sở lý luận về dịch vụ xã hội hỗ trợ người cao tuổi
1.4.1 Khái niệm dịch vụ xã hội hỗ trợ người cao tuổi
Dịch vụ xã hội hỗ trợ NCT là các hoạt động do các cơ quan tổ chức, các
cơ sở có chức năng cung cấp các dịch vụ hỗ trợ NCT Nhằm hỗ trợ NCT nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường các chức năng xã hội, thúc đẩy môi trường xã hội, nguồn lực và dịch vụ nhằm khắc phục những khó khăn do thay đổi về sinh học, tâm sinh lý, lao động, kinh tế và quan hệ xã hội, hướng tới cái lớn lao là nâng cao chất lượng sống cho NCT trong thời kỳ đổi mới và phát triển của đất nước [15]
1.4.2 Các dịch vụ hỗ trợ người cao tuổi
Dịch vụ xã hội với NCT là hoạt động do các cơ quan, các cơ có chức năng nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ xã hội, dịch vụ CTXH, các nhân viên xã hội thực hiện các nhiệm vụ nhằm hỗ trợ NCT nâng cao năng lực đáp ứng các nhu cầu cần thiết cho NCT và tăng cường các chức năng xã hội cho NCT hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống kể cả vật chất và tinh thần cho NCT
Việc cung cấp dịch vụ xã hội cần xác định được nhu cầu cụ thể của NCT
và các khả năng trợ giúp để đưa ra những quyết định đúng đắn, phù hợp và hiệu quả nhất Cho nên, việc cung cấp dịch vụ xã hội cần tính đến các kế hoạch trợ
Trang 35giúp tổng thể và có sự liên kết từ các dịch vụ khác nhau để đảm bảo các vấn đề của NCT được giải quyết về nhiều mặt càng tốt, như thế sự trợ giúp mới mang tính bền vững
Cung cấp các dịch vụ kịp thời cho NCT trong xã hội, thúc đẩy các chức năng xã hội của họ trước khi các vấn đề phát sinh (gồm các hoạt động và chương trình như kế hoạch chăm sóc sức khỏe, tham vấn trị liệu, các chương trình gắn kết tình cảm gia đình)
Cung cấp các dịch vụ hỗ trợ trực tiếp cho NCT để họ giảm bớt những khó khăn đang gặp phải (tiếp cận và sàng lọc, giới thiệu chuyển tuyến, cung cấp dịch vụ bảo vệ khẩn cấp, tư vấn, hỗ trợ khám, chăm sóc y tế, giới thiệu thông tin đến các dịch vụ công tác xã hội, pháp lý Sau giai đoạn này, các hoạt động hỗ trợ dài hạn hơn được tiếp tục nhằm góp phần phục hồi chức năng xã hội cho NCT)
Cung cấp các dịch vụ trực tiếp cho NCT nhằm mục đích phục hồi chức năng xã hội cho NCT mà trước đây đã bị tổn thương, bị tác động vì những khó khăn về mặt thể chất, tinh thần gây nên (ví dụ như trị liệu tâm lý, phục hồi chức năng cho NCT )
1.4.2.2 Dịch vụ tham vấn, trị liệu tâm lý
Tham vấn hay thường được quen gọi là tư vấn tâm lý là quá trình nói
Trang 36chuyện để giải quyết một vấn đề gì đó Trong quá trình tham vấn, nhà tham vấn
sẽ thấu cảm với vấn đề mà NCT gặp phải, giúp NCT nhận ra và tự giải quyết vấn đề của mình
Những khó khăn tâm lý là những cảm giác căng thẳng, mệt mỏi, stress
vì công việc, mất động lực, khó khăn trong giao tiếp, mâu thuẫn trong các mối quan hệ…hay là những rối nhiễu tâm thần đã được gọi tên như: lo âu, trầm cảm, rối loạn cảm xúc lưỡng cực… Giống như người ốm cần gặp bác sĩ để được
kê thuốc, thì những người có khó khăn tâm lý cũng cần được hỗ trợ bởi các nhà tâm lý chuyên môn để giúp cải thiện trạng thái sức khỏe tinh thần của họ
Trị liệu tâm lý là một phương pháp điều trị dài hạn tập trung vào nhận thức, cảm xúc và hành vi lâu dài được điều trị bởi các chuyên gia đã được đào tạo chuyên ngành Tâm lý học lâm sàng Trọng tâm của trị liệu là tác động vào các quá trình suy nghĩ của một người, và những quá trình này có thể bị ảnh hưởng như thế nào bởi các sự kiện trong quá khứ để chúng gây ra các vấn đề trong hiện tại Có thể hiểu đơn giản trị liệu tâm lý là điều trị bệnh bằng các liệu pháp tâm lý Một số liệu pháp như: Liệu pháp hành vi, liệu pháp phân tâm, liệu pháp nhận thức Tùy vào tình trạng bệnh của NCT, mà nhà chuyên gia sẽ đưa
ra liệu pháp phù hợp với từng NCT khác nhau
Tham vấn hay trị liệu tâm lý đều giúp NCT được giải tỏa, giải quyết những vấn đề gặp phải và có một sức khỏe tinh thần khỏe mạnh
1.4.2.3 Dịch vụ hỗ trợ pháp lý
Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người cao tuổi trong các vấn đề Pháp lý chẳng hạn như quyền nhận trợ cấp công, nhà ở, chăm sóc sức khỏe, quyền giám hộ, gian lận khách hàng, việc làm, luật gia đình, và tài sản Chương trình này bảo vệ người cao tuổi tránh bị phân biệt đối xử dựa trên tuổi tác và các hình thức phân biệt đối xử khác, cũng như bảo vệ tránh bị ngược đãi, bóc lột và cưỡng ép Chương trình sẽ không giải quyết các trường hợp phát sinh lệ
Trang 37phí chẳng hạn như thương tích cho người hoặc bồi thường tai nạn lao động
1.4.2.4 Dịch vụ chăm sóc dài hạn theo cơ chế do nhà nước chi trả phí dịch
vụ
Đây là dịch vụ mà trong đó, người cao tuổi nếu rơi vào một số hoàn cảnh nhất định do nhà nước quy định (về người cao tuổi có công với cách mạng, người cao tuổi thuộc diện chính sách, tuổi tác, hoàn cảnh kinh tế…) thì sẽ được đưa vào chăm sóc tập trung, dài hạn và với đa số các trường hợp là chăm sóc đến cuối đời tại các cơ sở bảo trợ xã hội Dịch vụ chăm sóc dài hạn do nhà nước chi trả phí dịch vụ là mô hình thường được cung cấp cho các đối tượng là người cao tuổi có hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn, không có người có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng và không thể tự đảm bảo cuộc sống tại cộng đồng Người cao tuổi khi được cung cấp dịch vụ theo cơ chế này sẽ không phải chi trả phí dịch vụ Nhà nước sẽ dùng ngân sách để chi trả cho các dịch vụ này Tuy nhiên chất lượng dịch vụ chăm sóc mà họ nhận được cũng thường thấp hơn so với mô hình dịch vụ chăm sóc theo cơ chế tự nguyện
1.4.2.5 Dịch vụ chăm sóc dài hạn theo cơ chế tự nguyện, có nộp phí
Dịch vụ chăm sóc dài hạn theo cơ chế tự nguyện là một mô hình rất phổ biến trong hoạt động chăm sóc NCT ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước phát triển Khách hàng mà mô hình dịch vụ này nhắm đến là những người cao tuổi có thu nhập ổn định hoặc có tích lũy tài chính lớn Trong mô hình dịch
vụ này, NCT phải tự chi trả các loại phí cho trung tâm chăm sóc, nhưng mặt khác người cao tuổi thường có cơ hội được lựa chọn nhiều gói dịch vụ với các chế độ chăm sóc và mức phí khác nhau Bên cạnh mô hình chăm sóc dài hạn tại các cơ sở bảo trợ xã hội do người cao tuổi hoặc gia đình NCT trực tiếp chi trả phí dịch vụ, còn có mô hình chăm sóc dài hạn tại các cơ sở bảo trợ xã hội do bên thứ 3 chi trả phí dịch vụ Bên thứ 3 ở đây thường là các tổ chức, các quỹ từ thiện hoặc các cơ sở bảo trợ xã hội phi lợi nhuận
Trang 381.4.3 Vai trò của dịch vụ xã hội hỗ trợ người cao tuổi
Một là, giúp cho NCT có cơ hội vượt qua các nguy cơ ảnh hưởng đến sự
an toàn đồng thời góp phần cải thiện đời sống và tình trạng sức khỏe của NCT
có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
Hai là, giúp cho xã hội, cộng đồng, gia đình và chính bản thân NCT nhận
thức rõ hơn về tiềm năng của NCT, từ đó có các giải pháp nhằm tăng cường phát huy NCT để tận dụng các tiềm năng của NCT, đồng thời nâng cao vai trò, vị thế của NCT trong gia đình, cộng đồng và xã hội
Ba là, huy động thêm các nguồn lực để phục vụ cho công tác chăm sóc
NCT thông quan việc kết nối vận động nguồn lực và tư vấn, hướng dẫn chính sách
Bốn là, giảm sự phụ thuộc và nâng cao tính độc lập của NCT khi họ được
tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc của các cơ sở cung cấp dịch vụ, từ đó làm giảm sự phụ thuộc của NCT vào gia đình và người thân và cộng đồng
Năm là, góp phần cải thiện các mối quan hệ của NCT với người thân và
các mối quan hệ xã hội khác của NCT, giúp cho NCT tránh được cảm giác cô đơn, lạc lõng và tạo ra mối liên hệ bền chặt hơn giữa NCT với gia đình, cộng đồng và xã hội
1.4.4 Các nguyên tắc cơ bản về dịch vụ hỗ trợ người cao tuổi
Công tác xã hội nói chung và CTXH với người cao tuổi nói riêng là một lĩnh vực hoạt động chuyên nghiệp, có mối liên hệ sâu rộng trong xã hội Trong hoạt động cung cấp dịch vụ xã hội nói chung và dịch vụ công tác xã hội với người cao tuổi nói riêng cần phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
Chấp nhận thân chủ
Tạo điều kiện để thân chủ tham gia giải quyết vấn đề
Tôn trọng quyền tự quyết của thân chủ
Đảm bảo tính cá nhân hóa
Trang 39Đảm bảo tính riêng tư, bí mật thông tin về trường hợp của thân chủ
Tự ý thức được bản thân
Đảm bảo mối quan hệ nghề nghiệp
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ xã hội hỗ trợ NCT
1.5.1 Yếu tố chính sách, pháp luật
Chính sách là tổng thể các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, các giải pháp và công cụ mà nhà nước sử dụng để tác động lên các chủ thể kinh tế xã hội nhằm giải quyết các vấn đề nào đó đảm bảo sự phát triển của xã hội theo mục tiêu đã
đề ra
Đối với hoạt động cung cấp dịch vụ xã hội với NCT, để cho hoạt động này có thể phát triển đạt tới mức độ chuyên nghiệp trước hết đòi hỏi nhà nước phải ban hành được một hệ thống các quy định liên quan đến nghề CTXH nói chung và dịch vụ xã hội nói riêng: về nguyên tắc trong hoạt động CTXH, nội dung các dịch vụ xã hội, các điều kiện để hoạt động cung cấp dịch vụ CTXH với tổ chức, cá nhân;… Cũng như các quy định về vị trí vai trò của NCT, quyền của NCT, chế độ trợ giúp, trách nhiệm trợ giúp của nhà nước, gia đình, cộng đồng với NCT
1.5.2 Yếu tố năng lực của cơ sở cung cấp dịch vụ xã hội và nhân viên xã hội
Cơ sở cung cấp dịch vụ xã hội và nhân viên xã hội, cộng tác viên CTXH
là những yếu tố tạo thành mạng lưới cung cấp dịch vụ xã hội với NCT, vì vậy năng lực hoạt động của các cơ sở cung cấp dịch vụ xã hội là nhân viên, cộng tác viên xã hội và nhân viên CTXH chính là yếu tố quyết định đến quy mô và chất lượng cung cấp dịch vụ xã hội cho NCT
1.5.3 Yếu tố văn hóa
Các yếu tố thuộc về phạm trù văn hóa như: tâm lý, phong tực, tập quán, lối sống, các giá trị đạo đức, mô hình tổ chức gia đình…, có ảnh hưởng quan trọng tới nhu cầu cũng như việc hình thành các dịch vụ CTXH với NCT
Trang 40Tại các khu vực thành thị, NCT ít có các mối quan hệ bền chặt với hàng xón, họ hàng và có tâm lý ngại làm phiền, ảnh hưởng đến người khác nhất là anh
em, hàng xóm, cộng đồng nên họ có xu hướng quan tâm và sẵn sàng bỏ kinh phí để chi trả cho các dịch vụ chăm sóc Trong khi đó tại các khu vực nông thôn, miền núi NCT thường có mối quan hệ gắn kết chặt chẽ với họ hàng, làng xóm
và người thân trong gia đình nên họ ít quan tâm đến các dịch vụ công tác xã hội
1.5.4 Yếu tố về đối tượng phục vụ
Dịch vụ CTXH với NCT chịu ảnh hưởng lớn từ đối tượng mà nó hướng đến: Đó là cộng đồng NCT tại mỗi địa phương Tất cả các yếu tố như số lượng,
cơ cấu, đặc điểm kinh tế,… của cộng đồng NCT tại địa phương đều tác động đến hoạt động cung cấp dịch vụ CTXH với NCT tại địa bàn đó Mỗi trung tâm
có một chức năng và nhiệm vụ riêng và đối tượng cũng có sự khác biệt
1.6 Cơ sở chính sách, pháp luật về dịch vụ xã hội hỗ trợ NCT
1.6.1 Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về chăm sóc phát huy NCT
Sau khi Hội Người cao tuổi Việt Nam được thành lập (10/5/1995), Ban
Bí thư TW đã ban hành Chỉ thị 59/CT-TW “Về chăm sóc người cao tuổi”, quy định: “Việc chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của người cao tuổi là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội Hội Người cao tuổi Việt Nam mới được thành lập, cần được nhanh chóng ổn định về tổ chức và mở rộng hoạt động
ở cơ sở Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc, các ban đảng, các đoàn thể nhân dân cần giúp đỡ Hội hoạt động có hiệu quả thiết thực, phối hợp với Hội trong việc vận động gia đình và xã hội chăm sóc, bồi dưỡng, phát huy NCT phục vụ công cuộc đổi mới Đảng đoàn Quốc hội, Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các ban của Đảng, các ban cán sự đảng Chính phủ, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế, Bộ Tư pháp phối hợp với Hội nghiên cứu, soát xét các chính sách