1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Nghiên cứu thị trường xuất khẩu lao động Việt Nam và chọn thị trường, khách hàng để xuất khẩu lao động trong thời gian tới

24 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 347,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU Trong những năm qua, thế giới đã chứng kiến sự phục hồi của các nước bị khủng hoảng tài chính giai đoạn 1997 – 1998 Nền kinh tế thế giới đang trên đà phát triển mạnh mẽ Tuy nhiên, tình trạng thất nghiệp trên toàn cầu vẫn còn tràn lan tạo ra sức ép mạnh mẽ về lao động và việc làm, do đó di cư lao động quốc tế tiếp tục trở thành thành tố quan trọng Nắm bắt được đặc điểm vận động của thị trường lao động quốc tế, trong thời gian qua Việt Nam đã đưa ra những chính sách, giải pháp cụ thể để.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong những năm qua, thế giới đã chứng kiến sự phục hồi của các nước bị khủng hoảng tài chính giai đoạn 1997 – 1998 Nền kinh tế thế giới đang trên đà phát triển mạnh mẽ Tuy nhiên, tình trạng thất nghiệp trên toàn cầu vẫn còn tràn lan tạo ra sức ép mạnh mẽ về lao động và việc làm, do đó di cư lao động quốc tế tiếp tục trở thành thành tố quan trọng Nắm bắt được đặc điểm vận động của thị trường lao động quốc tế, trong thời gian qua Việt Nam

đã đưa ra những chính sách, giải pháp cụ thể để mở rộng thêm một số thị trường lao động mới Đặc biệt xuất khẩu lao động và chuyên gia được Đảng và nhà nước ta xác định là một lĩnh vực kinh tế đối ngoại quan trọng, một bộ phận của chính sách giải quyết việc làm được Quốc Hội đưa vào chỉ tiêu kế hoạch hàng năm Việc mở rộng thị trường xuất khẩu lao động

là hướng phát triển kinh tế phù hợp với lộ trình hội nhập mở cửa, góp phần giải quyết việc làm cho người lao động trong nước Xuất khẩu lao động đã góp phần xóa đói giảm nghèo và thu thêm ngoại tệ ( xấp xỉ 1.6 tỷ USD/năm ) cho hơn nửa triệu lao động, bao gồm cả lao động kỹ thuật và lao động giản đơn hiện đang ở 40 quốc gia và vùng lãnh thổ Trong những năm qua xuất khẩu lao động đã gia tăng mạnh và đã góp phần tích cực vào chiến lược giải quyết việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đáng kể tình trạng đói nghèo, thúc đẩy đầu tư, tạo sự

ổn định và phát triển đất nước Tuy nhiên, yêu cầu về xuất khẩu lao động về trình độ lao động, kỹ năng tay nghề, về kỹ luật lao động và ngoại ngữ, nhất là đối với công việc trong các công xưởng, nhà máy ngày càng khắt khe Hiện lao động của nước ta ra nước ngoài cơ bản đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp nước sở tại tuy nhiên tay nghề, trình độ còn hạn chế, gặp nhiều khó khăn khi thâm nhập vào thị trường lao động của các nước có nền kinh tế phát triển Thực tế, trước khi đi đến kí kết các hợp đồng xuất khẩu lao động, các doanh nghiệp phải nghiên cứu thật kĩ thị trường, phân tích thuận lợi, khó khăn, hành lang chính sách, khung pháp lí cũng như định hướng phát triển của các thị trường trong thời gian tới Nhằm tạo tiền đề cho việc kí kết cũng như việc đưa xuất khẩu lao động , chúng em đi tới nghiên cứu :

“Nghiên cứu thị trường xuất khẩu lao động Việt Nam và chọn thị trường, khách

hàng để xuất khẩu lao động trong thời gian tới”.

Với mục tiêu trên đề tài được xây dựng với các nội dung chính như sau:

A Nghiên cứu thị trường xuất khẩu lao động của Việt Nam

I Thị trường truyền thống

II Thị trường mới

B Định hướng và đề xuất thị trường xuất khẩu lao động

Do phạm vi bài viết rộng và sự hiểu biết của chúng em còn hạn chế, bài viết của chúng em chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót, mong thầy thông cảm Chúng em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của thầy PGS.TS Phạm Văn Hồng đã gợi ý và sữa chữa cho chúng em làm bài tiểu luận này trong suốt thời gian qua.

Trang 2

1.1 Thực trạng xuất khẩu lao động Việt Nam sang Hàn Quốc

- Hợp tác cung ứng và sử dụng lao động giữa Việt Nam và Hàn Quốc được bắtđầu từ năm 1993 và được thực hiện theo 5 hình thức:

a Cung ứng tu nghiệp sinh (TNS): công nghiệp , xây dựng , nông nghiệp và thuỷsản;

b Cung ứng thuyền viên đánh cá cho các tàu cá Hàn Quốc;

c Cung cấp lao động cho tập đoàn Hàn Quốc trúng thầu ở Li-Bi;

d Cung cấp lao động theo Luật tiếp nhận lao động nước ngoài (EPS);

e Cung cấp lao động kỹ thuật cao

- Nhìn chung, tình hình lao động ta làm việc tại Hàn Quốc không có biến độngnhiều, phần lớn đều có việc làm và thu nhập ổn định Từ 1/1/2008, mức lương cơ bảntối thiểu là 787930W/tháng (40h/tuần) và 852020 Won/tháng (44h/tuần)

- Do + Việt Nam thuộc vào nhóm các nước dẫn đầu có lao động yêu cầu đòi hỏichuyển chỗ làm với những lý do không chính đáng tại Hàn Quốc (với tỷ lệ lên đến32%, tương đương 22.455 người trong một năm)

+ Trong tổng số khoảng 62.971 lao động đã nhập cảnh vào Hàn Quốc từ năm

2004, khoảng 9.000 lao động bất hợp pháp tìm cách ở lại quá hạn hoặc đổi việc màkhông xin phép (số lao động này phải xuất cảnh từ tháng 1-8/2011)

(thống kê từ Trung tâm Lao động Ngoài nước - Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội))

 - Từ tháng 8-2011, theo 1 viên chức Bộ Lao động HànQuốc, Seoul đã quyết định: + Ngừng mở các cuộc thi tiếng Hàn cho người lao độngViệt Nam ( kì thi bắt buộc mà người lao động xuất khẩu vào Hàn Quốc phải vượtqua)

+ Cắt giảm chỉ tiêu nhận lao động Việt Nam

+Kêu gọi Việt Nam làm nhiều hơn để đưa người lao động quá hạn visa trở vềnước

Trang 3

1.2 Một số thuận lợi và khó khăn của lao động Việt tại Hàn Quốc

- Hàn Quốc là thị trường lớn, đem về mỗi năm khoảng 600-700 triệu đô la

Mỹ, bằng gần 1/3 số tiền mà ngành xuất khẩu lao động có được Đây là thị trườngtuyển lao động có thu nhập cao so với các thị trường nhập khẩu lao động khác củaViệt Nam nên Hàn Quốc là một trong những nước mà người lao động Việt Nam lựachọn khi muốn đi xuất khẩu lao động

- Cũng có một số khó khăn là việc tuyển chọn lao động của Hàn Quốc khákhắt khe , khó học tiếng Mặt khác lao động Việt Nam thường xuất khẩu làm việctrong các ngành nông lâm nghiệp, đặc biệt là làm việc trên các thuyền cá môi trườnglàm việc vất vả, chủ yếu là sử dụng lao động chân tay Chính điều này cũng đã làmcho rất nhiều lao động Việt Nam bỏ trốn khỏi doanh nghiệp ra bên ngoài làm cũngnhư hết thời hạn làm việc mà không chịu về nước đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng tớihình ảnh về lao động Việt Nam cũng như hình ảnh đất nước Việt Nam trong mắt cácdoanh nghiệp Hàn Quốc

1.3 Các nguyên nhân dẫn đến việc lao động Việt Nam bỏ trốn và cư trú bất hợp

1.4 Chính sách của nhà nước Việt Nam nhằm giải quyết tình trạng này

- Việt Nam đang cố gắng nỗ lực để không phải mất đi thị trường Hàn Quốc :+ Nhà nước ta đã ban hành một số thủ tục XKLD, chính sách khuyến khíchngười lao động cư trú bất hợp pháp ở Hàn Quốc trở về nước

+ Nhiều giải pháp đáng chú ý được phía người lao động và lãnh đạo các cơ quanchức năng đưa ra, như yêu cầu người lao động đặt cọc tiền thế chấp, phạt hành chínhlao động và người liên quan, xử phạt chủ sử dụng lao động bất hợp pháp của HànQuốc…Cũng như có nhiều chính sách khuyến khích lao động thực hiện đúng hợpđồng như : chính sách ưu tiên tái xuất cảnh đối với các lao động về nước đúng hợpđồng

- Hàn Quốc là một thị trường lớn và có nhiều tiềm năng cho xuất khẩu lao độngViệt Nam nên việc để mất thị trường này là rất đáng tiếc và sẽ gây ra rất nhiều khókhăn cho kinh tế Việt Nam Nên việc có các biện pháp để giải quyết vấn đề về lao

Trang 4

động bỏ trốn và cư trú bất hợp pháp ở Hàn Quốc là rất cần thiết và quan trọng hơn nữa

là việc nâng cao ý thức của người lao động

2 Thị trường Nhật Bản

2.1 Tình hình thị trường Nhật Bản hiện nay

Thông tin từ Ban Quản lý Lao động Việt Nam tại Nhật Bản (Ban QLLĐ):

- Hiện có khoảng 35.000 tu nghiệp sinh Việt Nam đang học tập và làm việc tạiNhật, riêng 6 tháng đầu năm 2011 con số đó có khoảng 3000, chủ yếu tập trung tạimiền Trung và miền Nam

-Trong tổng số 14 nước có tu nghiệp sinh làm việc tại Nhật Bản, Việt Nam lànước có số lượng đông thứ hai (sau Trung Quốc) Trước đó, không ít người lo lắng sự

cố động đất, sóng thần tại Nhật Bản sẽ ảnh hưởng lớn đến tình hình xuất khẩu laođộng, vì đây là thị trường vốn được xem là hấp dẫn, có thu nhập cao Trong đó, nhiềudoanh nghiệp (DN) có nhu cầu tuyển số lượng lớn như: Airseco, LOD, TMS HR,Letco1, Sovilaco

2.2.Thuận lợi, khó khăn của lao động Việt Nam khi làm việc tại Nhật Bản.

a Thuận lợi:

- Lao động Việt Nam được đánh giá cao

+ Thị trường lao động Nhật Bản rất hấp dẫn bởi chương trình tu nghiệp sinh

(TNS) của họ Đây là chương trình vừa mang tính đào tạo nhân lực cho các nước thamgia lại vừa giải quyết tình trạng thiếu nhân công của Nhật Qua thực tế tìm hiểu, các tổchức tiếp nhận Nhật Bản đánh giá cao một số đặc tính của người lao động Việt Nam như tiếp thu các kỹ năng làm việc nhanh, khéo léo, cần cù và chịu khó học hỏi Đây làmột lợi thế mà 51 tổ chức tiếp nhận Nhật Bản tham gia Hội thảo “Xúc tiến việc đưa thực tập sinh kỹ thuật Việt Nam sang Nhật Bản” tại Hà Nội do Cục Quản lý lao động ngoài nước và Tổ chức hợp tác đào tạo quốc tế Nhật Bản (JITCO) vừa tổ chức vào cuối tháng 1/2011 khẳng định

+ Sau thảm họa động đất, sóng thần và sự cố rò rỉ hạt nhân, trong khi tu nghiệpsinh một số nước cũng về nhiều, tu nghiệp sinh Việt Nam vẫn ở lại làm việc bìnhthường Phía chủ sử dụng lao động đánh giá rất cao lao động Việt Nam, họ rất cảmkích trước tình cảm của lao động Việt Nam sẵn sàng ở lại chung tay tái thiết nướcNhật sau thảm họa

- Làm việc ở Nhật được nâng cao tay nghề

+ Riêng Nhật Bản, người lao động ngoài thu nhập hằng tháng, người lao độngđược nâng cao tay nghề qua làm việc Ngoài ra, được làm việc trên các thiết bị sảnxuất hiện đại, được rèn luyện về tác phong làm việc, ý thức kỷ luật, đồng thời đượcđào tạo về kỹ năng quản lý và biết thêm tiếng Nhật Vì vậy, sau khi trở về nước, cơhội việc làm của những tu nghiệp sinh rất rộng Đây là nguồn nhân lực chất lượng cao

Trang 5

cung cấp cho các DN trong nước và các DN có vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các

DN của Nhật Bản

- Môi trường làm việc cực tốt, những đồng nghiệp người Nhật rất thân thiện, hếtsức tạo điều kiện cho LD VN làm việc, không bao giờ quát mắng, phân biệt đối xửgiữa chủ và thợ Họ dạy cho lao động Việt Nam từ tính kỷ luật, tự lập, chủ động trongcông việc đến những điều tưởng như hết sức nhỏ nhặt trong quan hệ xã giao (như cáchchào hỏi, giao tiếp )

b Hạn chế:

- Trong những tồn tại lớn nhất và bức xúc nhất hiện nay ở Nhật Bản là số tunghiệp sinh (TNS) tự ý bỏ ra ngoài làm việc bất hợp pháp tăng nhanh, làm ảnh hưởngrất lớn đến kế hoạch tuyển dụng của các nghiệp đoàn Theo số liệu thống kê từ năm

1999 đến năm 2003 số lượng TNS Việt Nam tại Nhật Bản bỏ trốn chiếm tỷ lệ khá cao

so với một số nước khác: Số TNS Việt Nam bỏ trốn là 2.228 trên tổng số 8.805 TNS

tu nghiệp tại Nhật (chiếm tỉ lệ 25,3%)

- Như vậy, muốn đi Nhật, ứng viên vừa phải có tay nghề, học vấn, có tính kỷ luật

và tác phong công nghiệp cao, đồng thời phải đáp ứng được các quy định về việc bảolãnh bằng thế chấp tài sản hoặc ký quỹ để hạn chế việc vi phạm bỏ hợp đồng Chínhđiều này đã hạn chế số người lao động đi tu nghiệp ở Nhật Bản Do vậy, hàng nămViệt Nam mới đưa sang Nhật Bản chưa được 2.000 người - một con số rất khiêm tốn

so với nhu cầu thật sự của thị trường này

2.3 Chính sách Nhà nước Nhật Bản đối với lao động Việt Nam

- Theo luật xuất nhập cảnh mới của Nhật Bản có hiệu lực từ ngày 1/7/2010, laođộng Việt Nam sang Nhật Bản không phải đóng tiền bảo lãnh hợp đồng, mà chỉ mấtchi phí làm hộ chiếu, lệ phí visa, khám sức khỏe Cũng theo quy định mới tại luật xuấtnhập cảnh của Nhật Bản, khoản tiền đặt cọc này sẽ bị nghiêm cấm thu

- Một số chế độ mới mà Chính phủ Nhật Bản dành cho người lao động như: Sau1-2 tháng nhập cảnh, tham gia khóa học bổ trợ tiếng Nhật, kiến thức về văn hóa,phong tục tập quán, pháp luật nước sở tại, người lao động sẽ được chuyển sang chế độlưu trú thực tập kỹ năng Điều này đồng nghĩa với việc họ được xác lập tư cách laođộng, có tư cách quan hệ lao động, được đối xử như lao động bản địa

- Trong thời gian 3 năm tu nghiệp tại Nhật Bản, người lao động được hưởng trợcấp tu nghiệp trong năm đầu khoảng 800-1.000 USD/tháng; từ năm thứ hai, được trảlương theo hợp đồng ký với công ty tiếp nhận, với mức lương khoảng 1.000-1.500USD/tháng (chưa kể tiền làm thêm ngoài giờ)

- Theo quy định, TNS Việt Nam chỉ được làm việc tại Nhật Bản 3 năm, nếumuốn quay lại, họ phải đi theo chương trình đào tạo nghề cao hơn, thậm chí trên đạihọc Hàng năm số tu nghiệp sinh của ta ở Nhật gửi về nước khoảng hơn 300 triệuUSD Mỹ

Trang 6

- Sau khi hoàn thành 3 năm tu nghiệp về nước, Hiệp hội Phát triển nhân lực quốc

tế của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Nhật Bản hỗ trợ mỗi tu nghiệp sinh 600.000 yênlàm vốn.”

2.4 Ngành nghề triển vọng của lao động Việt Nam tại thị trường Nhật Bản

Hiện nay, Nhật Bản đang trong giai đoạn khôi phục và tái thiết lại đất nước vì vậycần nhiều lao động trong các lĩnh vực: dệt may, xây dựng, sửa chữa đóng tàu, chế biếnnông sản, cơ khí: sản xuất phụ tùng ô tô (bọc da, dán giả da ghế ô tô), tiện kim loại,đúc - tiện, mạ - đúc Đây là thị trường tiềm năng cho lao động Việt Nam

3.Thị trường Malaysia

3.1 Thực trạng thị trường Malaysia

- Malaysia có nhu cầu tiếp nhận lao động nước ngoài lớn, trong đó không đòi hỏinhiều về trình độ tay nghề Phần đông các nhà máy lớn đang gấp rút tuyển dụng trở lạilao động nước ngoài

- Báo cáo của Cục Quản lý lao động ngoài nước cũng cho biết:

+ Việt Nam bắt đầu đưa lao động sang làm việc tại Malaysia từ năm 2002 Hiện

cả nước có 138 doanh nghiệp được phép đưa lao động sang làm việc

+ Từ 2002 đến nay, đã có trên 190.000 lượt lao động sang làm việc tại 12 trongtổng số 13 bang của Malaysia, tập trung vào các lĩnh vực sản xuất chế tạo, xây dựng,nông nghiệp, dịch vụ và giúp việc gia đình

- Lao động Việt Nam phải cạnh tranh khá gay gắt với lao động Trung Quốc,Bangladesh, Myanmar, nhưng phía Malaysia cam kết sẽ dành chỉ tiêu đáng kể cho laođộng Việt Nam

-Trên thực tế Malaysia đang thiếu tới 90.000 lao động trong năm 2011 nên laođộng Việt Nam có rất nhiều cơ hội Những ngành nghề Malaysia đang có nhu cầutuyển là dệt may, sản xuất - chế tạo, nhà hàng - khách sạn, xây dựng Đây là thịtrường có mức thu nhập trung bình, không đòi hỏi trình độ lao động cao và nhu cầu ổnđịnh

-Hiện nay, tại Malaysia gần đây xuất hiện thông tin lao động Việt Nam có việclàm không ổn định, muốn về nước nhưng không có tiền hoặc giấy tờ Do vậy, Cụcquản lý lao động ngoài nước yêu cầu các đơn vị liên quan kiểm tra tình hình việc làm

và người lao động để phối hợp với Đại sứ quán Việt Nam tại Malaysia tạo điều kiệncho họ nếu có nhu cầu có thể về nước trong thời gian sớm nhất

3.2 Thuận lợi:

- Với chương trình tạo nguồn lao động xuất khẩu, người lao động được cho mượn

100% chi phí sang Malaysia

- Từ trước đến nay, phần lớn lao động đi XKLĐ chủ yếu nắm bắt thông tin nướcđến làm việc, công ăn việc làm, thu nhập thông qua sự tuyên truyền, vận động củadoanh nghiệp XKLĐ Bây giờ với các hoạt động phong phú như gặp gỡ giữa NLĐ và

Trang 7

chủ sử dụng lao động nước ngoài; cung cấp thông tin tuyển dụng; hoạt động tưvấn, tiếp nhận đăng ký lao động sang Malaysia làm việc

- Nhằm chia sẻ khó khăn với NLĐ nghèo có nguyện vọng sang Malaysia làmviệc, tiếp tục đưa ra các chính sách ưu đãi như cho mượn 100% chi phí đối với laođộng nữ (riêng đối với lao động nam chỉ áp dụng cho mượn chi phí ở lĩnh vực may);

hỗ trợ chi phí khám sức khỏe theo quy định NLĐ đăng ký sang Malaysia Bên cạnh

đó, sẽ làm hộ chiếu thay cho những lao động ở các địa phương ngoài TPHCM đểgiúp họ không bị xáo trộn công việc, mất công sức, chi phí đi lại làm thủ tục

- Hầu hết đơn hàng được Cục Quản lý Lao động ngoài nước thẩm định và đánhgiá rất tốt, bảo đảm các tiêu chí về hợp đồng, việc làm, thu nhập bình quân 4,5 triệuđồng đến 5 triệu đồng/tháng trở lên; cá biệt một số trường hợp đạt từ 7 triệu đồng đến

8 triệu đồng/tháng

3.3 Khó khăn:

a Về phía các tổ chức, doanh nghiệp

- Khó khăn được nhắc đến nhiều nhất là thủ tục calling visa Thủ tục này thôngthường chỉ mất khoảng 3 ngày nhưng bây giờ người lao động phải mất 1 tháng

- Lao động gặp nhiều khó khăn khi làm thủ tục vay vốn tại các ngân hàng, mặc dùchi phí đi Malaysia làm việc không nhiều (chỉ hơn 20 triệu đồng), buộc nhiều doanh nghiệp áp dụng chính sách cho lao động đi làm việc trước, khấu trừ sau Tuy nhiên, khi áp dụng chính sách này, doanh nghiệp gặp nhiều rủi ro bởi có những lao động đã trốn ra ngoài làm việc sau khi sang Malaysia

- Thu nhập của lao động nhập cư tại Malaysia hiện thấp hơn so với nhiều thị trường

Do Malaysia không quy định mức lương tối thiểu nên không thể đề xuất tăng lương cho lao động nhập cư mà chỉ có thể cố gắng làm sao quyền lợi của lao động nhập cư cũng như lao động bản địa

b.Về phía Malaysia

- Nhiều DN và NLĐ bị “sốc” khi nghe tin Malaysia sẽ ngừng tiếp nhận LĐ nướcngoài Theo quy định mới lao động bất hợp pháp nước ngoài sẽ được đưa về nước màkhông qua xét xử giống trước đây

- Malaysia cũng quy định lại thời hạn làm việc đối với NLĐ nước ngoài Đối với

LĐ đang làm việc trong lĩnh vực dịch vụ, thời hạn làm việc tối đa là 5 năm (trước đây

là 10 năm trở lên) Riêng với LĐ làm việc trong nhà máy và các lĩnh vực khác chỉđược phép làm việc trong thời gian 10 năm Tức là, sau khi hết thời hạn 5 năm, nếu

LĐ nào được Malaysia cấp chứng chỉ nghề, thì LĐ đó có thể ở lại làm việc thêm 5năm nữa và không được gia hạn thêm thời gian

- Nhiều lao động được doanh nghiệp cho nợ các khoản phí làm thủ tục rồi trừdần vào lương, nhưng mỗi công ty lại trừ một kiểu Trong khi đó, một số chủ sử dụnglao động Malaysia tuyển dụng lao động Việt Nam từ nhiều nguồn, qua nhiều công ty

Trang 8

môi giới Vì vậy, việc trừ lương cũng theo nhiều mức khác nhau khiến người lao độnghiểu lầm, bức xúc

- Một số ít công ty môi giới Malaysia thiếu trách nhiệm trong việc bảo vệ quyềnlợi người lao động khi xảy ra tranh chấp, tai nạn Vì vậy, các doanh nghiệp xuất khẩulao động cần thẩm định rõ đơn hàng và cả năng lực, sự tín nhiệm của đối tác môi giới,tránh những thiệt hại cho người lao động

4.Thị trường Đài Loan

4.1 Thực trạng xuất khẩu lao động

- Theo báo cáo từ Cục quản lý lao động Ngoài nước về tình hình lao động Việt Nam tại Đài Loan: +tổng số lao động Việt Nam làm việc trong khu vực sản xuất tại Đài Loan vẫn gia tăng mạnh

+ Cụ thể, tổng số lao động ta tại Đài Loan là 85.650 người, tăng 6.269 lượt người

kể từ đầu năm, tiếp tục giữ vị trí thứ 2 về tổng số lao động nước ngoài tại Đài Loan vàchiếm 21,43% tổng số lao động nước ngoài làm việc tại thị trường này

Trong đó: lao động làm việc trong lĩnh vực sản xuất chế tạo và xây dựng chiếm 56,44% (lao động ngành sản xuất và xây dựng chiếm 29,63% thị phần ngành nghề);lao động chăm sóc người bệnh tại bệnh viện và các cơ sở dưỡng lão chiếm tới 74,79%

+Nếu cả năm 2010, chúng ta đưa được 28,449 người lao động sang thị trườngĐài Loan thì tính đến hết tháng 9 năm này, tổng số lao động Việt Nam đưa sang làmviệc tại Đài Loan là 27,232 lao động Chỉ riêng trong tháng 9, chúng ta đã đưa đi thịtrường này 3,559 lao động

4.2 Thuận lợi

- Kinh tế: Đài Loan đang phát triển khá mạnh mẽ (tốc độ tăng trưởng kinh tế năm

2010 là 9,98%) với nền công nghiệp phát triển hiện đại Trong hàng chục năm qua,Đài Loan đã thành công trong việc xây dựng một nền kinh tế năng động, dễ thích ứngvới điều kiện bên ngoài, phát triển khá đồng đều đối với tất cả các thị trường Quỹ tiền

tệ quốc tế IMF cho rằng, từ năm 2012, tăng trưởng kinh tế của Đài Loan sẽ quay trởlại dẫn đầu 4 con rồng nhỏ châu Á Đài Loan hiện có trên 1 triệu doanh nghiệp ở tất cảcác lĩnh vực.Trong đó Công nghiệp điện tử và cơ khí khá phát triển Doanh nghiệpvừa và nhỏ chiếm hơn 95% Doanh nghiệp sản xuất có hơn 100000 Khoảng 20-25%người dân có một doanh nghiệp

- Nhân khẩu học: Với một tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định trong khi cơcấu dân số đang có xu thế già hóa với tỷ lệ sinh của phụ nữ bình quân (2011) chỉ có1,15 con và tỷ lệ dân số trên 65 tuổi chiếm đến 10.9% dân số (2011) thì nhu cầu về laođộng nhập cư của thị trường này cũng gia tăng khá mạnh mẽ đặc biệt là các ngành sảnxuất, xây dựng và chăm sóc sức khỏe người cao tuổi

Trang 9

- Cơ chế, chính sách: Trước thực trạng trên, Ủy ban Lao động Đài Loan đã nớilỏng biên độ “tổng lượng lao động nước ngoài”, đồng thời cũng triển khai sửa đổi luật,theo hướng mở rộng phạm vi quyền được chuyển chủ sử dụng cho người lao độngtrong trường hợp hai bên không thể tiếp tục duy trì hài hòa mối quan hệ chủ- thợ.Ngoài ra, Ủy ban Lao động Đài Loan vừa thành lập “trung tâm tuyển dụng trực tiếp”.Theo đó, lao động nước ngoài về nước 1 ngày là có thể trở lại Đài Loan làm việc(không cần qua công ty môi giới) Trước mắt, đối tượng được áp dụng là lao độnggiúp việc gia đình và chăm sóc người bệnh được chủ cũ tái tuyển dụng và cũng đangthảo luận về đề án tăng lương cơ bản, dự kiến áp dụng từ ngày 1/1/2012 cho mọingành nghề, không phân biệt lao động bản xứ hay lao động nước ngoài

- Quan hệ giữa người lao động và chủ sử dụng lao động: Lao động nước ngoài

được phép tham gia công đoàn, nhưng không được bầu là cán bộ công đoàn Ngườilao động nước ngoài làm việc ở các doanh nghiệp có thể bị huỷ bỏ hợp đồng lao độngtrong những trường hợp sau: + Khi hoạt động sản xuất của doanh nghiệp bị thua lỗ,chủ sử dụng có thể cho lao động thôi việc, hoặc (nếu có thể) chuyển tới chủ khác.Nhưng chủ lao động phải thông báo trước cho lao động nước ngoài về ý định đó vàphải cấp tiền bôì thường cho họ

+ Nếu lao động nước ngoài phạm lỗi hoặc phạm luật dẫn tới việc ngừnghợp đồng lao động, người chủ có thể cho thôi việc mà không phải báo trước và cóquyền từ chối không thanh toán tiền bồi thường

động ở Trung Đông không đủ năng lực cung cấp lao động phổ thông và lao động có

kỹ năng để phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế Do vậy, Trung Đông là khu vựcnhận nhiều lao động nước ngoài nhất thế giới từ trước đến nay Đây là thị trường tiềmnăng lớn cho việc đưa lao động sang làm việc tại vùng dầu mỏ này Lao động ở khu

Trang 10

vực này chủ yếu là xây dựng với mức lương cho lao động không có nghề khoảng từ

190 USD trở lên, có nghề là 250 USD và tay nghề cao thì mức lương sẽ cao hơn nữa.Ngoài ra, người lao động có thể làm thêm giờ để hưởng mức lương cao hơn Thịtrường xuất khẩu lao động sang Trung Đông được tiến hành từ nhiều năm nay

1.2.Tình hình xuất khẩu lao động Việt Nam sang Trung Đông những năm gần đây:

- Giai đoạn 2006-2010, có khoảng hơn 30.000 lao động Việt Nam đang làmviệc tại khu vực này, điều kiện làm việc và thu nhập tương đối bảo đảm và ổn định(lao động phổ thông thu nhập khoảng 300USD/tháng, lao động có nghề khoảng 500-800USD/tháng) Đây được coi là thị trường đầy tiềm năng cho lao động Việt Nam.Mặc dù thị trường xuất khẩu lao động Trung Đông được tiến hành từ nhiều năm naynhưng theo đánh giá chung thì đây vẫn là một thị trường có nhu cầu rất lớn về nguồnnhân lực từ nước ngoài

a Thuận lợi: Trung Đông gồm những nước có sẵn việc làm với ngành nghề rất

phong phú, có khả năng tiếp nhận lao động với số lượng lớn Công việc khá ổn định,người lao động không phải nộp thuế lương, ngoài ra được chủ thuê hỗ trợ thêm tiềnăn,ở và giúp tối thiểu một lần vé máy bay,vì vậy thu nhập cầm tay (kể cả tiền làmthêm giờ) dễ được lao động các nước chấp nhận Mức lương cơ bản khoảng200USD/tháng (đối với lao động không nghề) và trên 250USD/tháng (đối với laođộng có nghề).Ngoài thu nhập chính, người lao động có giờ làm thêm nên tổng mứcthu nhập đối với lao động phổ thông khoảng 400USD/tháng

b Khó khăn: Hiện nay, Việt Nam vẫn thiếu thông tin về việc làm tại thị trường

này và cũng chưa có đại sứ quán hoặc cơ quan đại diện lao động ở một số nước tiếpnhận lao động tại Trung Đông nên không thể trực tiếp giúp doanh nghiệp tìm đối tác

và công việc thích hợp với lao động Việt Nam.Ngoài ra, yêu cầu của thị trường TrungĐông về chất lượng lao động (sức khỏe, tay nghề, kỷ luật làm việc, về cách ứng xửtrong quan hệ chủ - thợ ,) cao Hơn nữa, khí hậu khu vực này lại rất nóng, kỷ luật đặcbiệt hà khắc Đó là những thách thức đòi hỏi người lao động phải nhanh chóng thíchnghi, mới tránh được rủi ro cho bản thân người lao động và quốc gia tiếp nhận laođộng

1.3 Tình hình tại một số nước cụ thể

- Tạm dừng đưa lao động sang Trung Đông: Trước tình hình chính trị ngày càng

căng thẳng tại các nước Trung Đông, Quản lý lao động ngoài nước đã họp khẩn vớicác doanh nghiệp (DN) xuất khẩu lao động (XKLĐ), bàn biện pháp bảo vệ tính mạng

và quyền lợi cho người lao động (NLĐ) đang làm việc tại khu vực này

Lao động Việt Nam sang làm việc tại các nước Trung Đông giảm mạnh trong 5tháng đầu năm 2011 Điển hình như thị trường Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thốngnhất (UAE) chỉ có 612 lao động sang làm việc, thấp hơn gần 7 lần so với cùng kỳ năm

Trang 11

2010 (4.082 lao động) Do tình hình chính trị biến động phức tạp và kéo dài ở TrungĐông, Bộ LĐ-TB-XH chủ trương hạn chế XKLĐ sang khu vực này, nhất là các nướcBahrain, Oman, Yemen…

2 Thị trường Nga và các nước SNG

2.1 Tình hình hiện tại.

- Năm 2008- 24/6/2011, theo Cục quản lí lao động ngoài nước (Bộ LĐ-TB-XH),nước ta đã đưa 2.667 lao động sang làm việc tại Nga, lĩnh vực dệt may chiếm 51%,xây dựng chiếm 39%, còn lại làm việc trong các công xưởng, nhà máy cơ khí, mộc

Có 36 doanh nghiệp đưa lao động đi làm việc tại Nga, ngoài ra thì còn 1 số lượngtương đối lớn thông qua các hình thức đi tự do khác

- Mức lương cơ bản của lao động theo các hợp đồng đã đăng ký thẩm định vàđược Cục Quản lý lao động ngoài nước cho phép thực hiện: 300-400 USD/tháng Hiệnnay, mức lương thực tế cũng đang dần được tăng lên

- Lao động qua Nga bằng visa du lịch Theo đó, lao động phổ thông đã được chủtuyển chọn sẽ được chủ làm thủ tục xin cấp thẻ xanh để có thể làm việc hợp pháp Laođộng giúp việc gia đình phải tập trung tại các công ty môi giới lao động của Macao đểđợi chủ đến tuyển chọn Khi được chọn, chủ sử dụng lao động sẽ ký hợp đồng và làmthủ tục đổi visa cho người lao động có thể làm việc hợp pháp

- Lao động qua Nga bằng visa lao động: khi người lao động sang đến nơi làm việcgiấy phép của cơ sở sản xuất tại Nga lại đến lúc hết hạn, người lao động trở thành laođộng bất hợp pháp

- Việc bắt giữ lao động Việt Nam đã liên tục xảy ra trong vài năm gần đây

+ 10/2009: 60 lao động Việt Nam trái phép bị bắt trong 1 công ty của Nga chuyên

sx dụng cụ học sinh

+ 3/2010: 60 lao động khác bị bắt khi đang sản xuất hàng may mặc

- Cho đến thời điểm ngày 27/8/2011, có 200 lao động bất hợp pháp tại Nga đã tựnguyện trình báo tại cục quản lí di trú Moscow xin hồi hương với lí do cuộc sống gặpnhiều khó khăn, các chủ doanh nghiệp của họ đã bỏ trốn Sau khi nhận được quyếtđịnh của tòa án, khi mua được vé máy bay, những người hồi hương tự nguyện sẽ tự vềnước mà không phải bị tạm giữ trong các khu trại tạm giam Chủ thể sử dụng lao độngbất hợp pháp sẽ bị phạt tiền rất nặng, từ 250000 đến 80 000 rúp đối với mỗi trườnghợp vi phạm

2.2 Thuận lợi

+ So với nhiều thị trường khác, thị trường Nga có nhu cầu cao và ổn định, hànhlang pháp lí về sd LĐ nước ngoài tại Nga vài năm trở lại đâu trở nên chặt chẽ hơn + Thực chất Nga không phải là thị trường “đen tối” trong lĩnh vực xuất khẩu laođộng Đặc biệt là giữa 2 nước đã kí hợp tác lao động thì quyền lợi và lợi ích của laođộng cũng được chính phủ 2 bên bảo vệ hợp pháp

Trang 12

+ Các xí nghiệp may ở Nga chia thành 2 loại “Đen” và”trắng” Trắng là xí nghiệpcủa chính phủ, tuy nhiên xí nghiệp này được cấp hạn ngạch tiếp nhận lao động khôngnhiều, họ rất ít tuyển dụng qua trung gian -> Nga vẫn là 1 thị trường triển vọng nếuđược khai thác bài bản

+ Đầu năm 2010, quy định mới về các quỹ bảo hiểm của LB Nga quy định rõngười nước ngoài không phải nộp các quỹ bảo hiểm y tế, xã hội v.v…, các khoản nàytrước đây lên tới 28% quỹ lương và do cơ quan phải trả ngoài lương -> tăng cao khảnăng cạnh tranh của lao động nước ngoài so với LĐ bản xứ

+ 1 khó khăn khác là Lao động Việt Nam ở Nga thường bị tống tiền Nghiên cứucủa một học giả Nga: Có hiện tượng giới cảnh sát, nhân viên chính quyền sở tại coicộng đồng người Việt tại Nga như một nguồn để ăn hối lộ Một cuộc khảo sát trên cácđối tượng người Việt từng ở Nga cho thấy 65,3% số người được hỏi cho biết họ từng

bị cảnh sát xâm phạm quyền công dân, 12,9% bị nhân viên sở nhập cư vòi vĩnh, 6,5%

bị nhân viên hải quan và biên phòng đòi hối lộ

+ Lí do: Từ người lao động: Phần lớn trong số họ không hiểu rõ về luật phápnước Nga , họ bị phụ thuộc vào các công ty, các xưởng, Phần lớn họ không biết tiếngNga; có ý thức kém

Từ các xí nghiệp tại Nga: thất thoát tư bản, phá giá trên thị trường laođộng, trong thương mại, dịch vụ, ngáng trở qui trình tăng năng suất lao động, vô số viphạm về kinh tế như trốn thuế, buôn lậu, các hoạt động tái chính bất hợp pháp -> đảmbảo an ninh cho người nước ngoài ngày càng xấu

Từ các doanh nghiệp nhận môi giới Việt Nam: Chỉ thích mở rộng thịphần, không chú ý đến thương hiệu, làm dịch vụ 1 chiều, “đem con bỏ chợ” Không

có kế hoạch đào tạo, định hướng cho người lao động, lách luật…

2.4 Nhận xét, đánh giá và một số giải pháp đề xuất cho thị trường Nga

-Với mục tiêu hiện tại của Việt Nam khi xuất khẩu lao động ra nước ngoài: giảiquyết công ăn việc làm cho tầng lớp công nhân trẻ; giảm các tệ nạn xã hội; thu về chongân sách nước nhà một số ngoại tệ to lớn, tiếp cận và học hỏi được các kỹ thuậtchuyên môn , với tình hình lao động Việt Nam ở Nga như đã phân tích, có thể thấyrằng Nga không phải là thị trường xuất khẩu lao động tiềm năng cho xuất khẩu laođộng Việt Nam

Ngày đăng: 30/06/2022, 09:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w