5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2 1 Cơ sở lý thuyết 2 1 1 Khái niệm về rủi ro tín dụng Theo Ủy ban Basel “Rủi ro tín dụng là khả năng mà khách hàng vay hoặc bên đối tác không thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã thỏa thuận” Theo Thomas P Fitch (1997) “Rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thoả thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ” Theo Hennie van Greuning – Sonja B rajovic Bratanovic (2009) “Rủi ro tín dụng được định.
Trang 1CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 Cơ sở lý thuyết
2.1.1 Khái niệm về rủi ro tín dụng
Theo Ủy ban Basel: “Rủi ro tín dụng là khả năng mà khách hàng vay hoặc bên đối tác không thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã thỏa thuận” Theo Thomas P.Fitch (1997): “Rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thoả thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ” Theo Hennie van Greuning – Sonja B rajovic Bratanovic (2009): “Rủi ro tín dụng được định nghĩa là nguy cơ mà người
đi vay không thể chi trả tiền lãi, hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng Đây là thuộc tính vốn có của hoạt động ngân hàng Rủi ro tín dụng tức là việc chi trả bị trì hoãn, hoặc tồi tệ hơn là không hoàn trả được toàn bộ Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và gây ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng” Bên cạnh đó Trần Huy Hoàng (2011) cho rằng rủi ro tín dụng là rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của Ngân hàng, biểu hiện trên thực tế thông qua khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho Ngân hàng Mặt khác, theo Thông tư số 41/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam rủi ro tín dụng là do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng hoặc thỏa thuận với Ngân hàng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài
Theo Timothy & MacDonald (1995) thì rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn Rủi ro tín dụng còn được gọi là rủi ro vỡ nợ, phát sinh từ việc không chắc chắn liên quan đến việc không hoàn trả các khoản nợ từ phía khách hàng cho ngân hàng Theo pháp luật Việt Nam hiện hành thì rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với
nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết (02/2013/TT-NHNN)
Tóm lại rủi ro tín dụng xảy ra khi khách hàng không thực hiện thanh toán khoản nợ gốc và lãi cho Ngân hàng đúng với thỏa thuận khi thực hiện vay vốn tín dụng
Trang 22.1.2 Khái niệm tín dụng khách hàng cá nhân
Theo Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 (Quy định về hoạt động cho vay của
tổ chức tín dụng chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng) của Ngân hàng Nhà nước, cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi Cho vay phục vụ nhu cầu đời sống là việc tổ chức tín dụng cho vay đối với khách hàng là cá nhân để thanh toán các chi phí cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân đó, gia đình của cá nhân đó
Theo Marjo Hörkkö (2010) tín dụng cá nhân là những khoản vốn được cấp để phục vụ mua bán hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng hoặc kinh doanh của các hộ đăng ký kinh doanh cá thể Tín dụng cá nhân được cấp bởi các ngân hàng, tổ chức tài chính, tín dụng, các công ty thẻ tín dụng
và cửa hàng thương mại
2.1.3 Đặc điểm tín dụng khách hàng cá nhân
Theo Đường Thị Thanh Hải (2014) tín dụng khách hàng cá nhân có các đặc điểm như sau:
Thứ nhất, quy mô khoản vay nhỏ nhưng số lượng vay lớn So với việc cho vay sản xuất kinh
doanh, giá trị các khoản cho vay cá nhân không lớn Điều này một phần do giá trị hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng ở mức vừa phải Mặt khác, đa số các khách hàng vay vốn đã có sự tích luỹ
từ trước đối với các tài sản có giá trị lớn, họ chỉ tìm đến ngân hàng với mục đích hỗ trợ cho hoạt động tiêu dùng cá nhân Tuy quy mô khoản vay này là nhỏ nhưng tổng quy mô cho vay của ngân hàng lại rất lớn, do số lượng khách hàng có nhu cầu vay vốn tín dụng cá nhân lớn
Thứ hai, các khoản tín dụng cá nhân có mức lãi suất cho vay chưa linh hoạt Khách hàng cá
nhân thường ít “nhạy cảm” với lãi suất, họ thường chỉ quan tâm đến khoản tiền phải trả hàng tháng hơn là mức lãi suất ghi trong hợp đồng Do đó, khác với hầu hết các khoản cho vay kinh doanh lãi suất được điều chỉnh theo thị trường, lãi suất tín dụng cá nhân thường được ấn định tại một mức nhất định Đối với các khoản cho vay ngắn hạn, lãi suất được ấn định ngay từ đầu
và không thay đổi cho đến hết thời hạn vay Đối với những khoản vay trung và dài hạn, lãi suất cho vay thường được điều chỉnh mỗi năm một lần dựa trên cơ sở lãi suất huy động, cộng với một biên độ nhất định tuỳ theo từng ngân hàng
Thứ ba, tín dụng cá nhân có chi phí lớn nhất trong danh mục tín dụng của ngân hàng Bởi quy
Trang 3rất lớn Hơn nữa, việc cập nhật các thông tin cá nhân khó có thể đầy đủ và chính xác Do vậy, ngân hàng phải thực hiện rất nhiều bước trong quá trình cho vay từ lúc tiếp nhận hồ sơ, thẩm định khách hàng, giải ngân cho đến lúc thu hồi nợ
Thứ tư, tín dụng cá nhân có mức độ rủi ro cao Rủi ro trong cho vay đối với khách hàng cá
nhân cao hơn cho vay doanh nghiệp
Thứ năm, lợi nhuận từ tín dụng cá nhân lớn Lãi suất của các khoản tín dụng cá nhân phần lớn
đều cao hơn các khoản tín dụng khác của ngân hàng thương mại (NHTM) Điều này xuất phát
từ các khoản tín dụng cá nhân có chi phí cao và rủi ro cao nhất trong các loại cho vay của NHTM Mức lợi nhuận từ trên mỗi khoản tín dụng cá nhân cao, số lượng lớn, vì vậy toàn bộ lợi nhuận thu về từ hoạt động này là đáng kể trong tổng thu nhập của NHTM
2.1.4 Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân
Nkusu (2011) nhận định rằng tăng trưởng kinh tế suy giảm, cùng với tỷ lệ thất nghiệp cao hơn
và giá tài sản giảm có liên quan đến rủi ro tín dụng và nợ xấu gia tăng Ngược lại, khi tăng trưởng kinh tế vĩ mô được cải thiện, điều này sẽ giúp giảm các khoản nợ xấu
Marjo Hörkkö (2010) cho thấy nhóm yếu tố về nhân khẩu của khách hàng vay như: độ tuổi, thu nhập, dư nợ của các khoản vay trước đó và số năm làm việc đều có tác động đến rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân
Đường Thị Thanh Hải (2014) cho rằng, rủi ro tín dụng cá nhân xuất phát từ các nguyên nhân sau:
- Yếu tố khách hàng: Do khách hàng sử dụng vốn vay không đúng mục đích, tiền vay không
có tác dụng thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh, dẫn đến khách hàng vay vốn làm ăn kém hiệu quả, nợ phải trả tăng trong đó có nợ vay ngân hàng, nguồn thu nhập bị giảm sút Ngoài
ra, phần lớn những nguyên nhân dẫn đến khoản cho vay kém và mất an toàn bắt nguồn từ tình trạng mất khả năng trả nợ của khách hàng, khả năng trả nợ bị suy yếu hoặc không còn khả năng, nguyên nhân có thể do: Thiếu vốn hoặc tỷ trọng vốn vay quá lớn trong tổng nguồn vốn hoạt động, khách hàng vay vốn ở nhiều tổ chức tín dụng nhưng nguồn thu nhập không cân đối với dư nợ vay hoặc do khách hàng chọn sai phương thức trả nợ làm tăng gánh nặng nợ vay gây
ra rủi ro tín dụng
Trang 4- Yếu tố thị trường: Việc biến động của thị trường, biến đổi khí hậu cũng tác động đến sự biến động giá cả hàng hóa, nguyên vật liệu cũng như sức mua của người tiêu dùng, điều này tác động không nhỏ đến hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng, ảnh hưởng đến nguồn thu nhập của khách hàng và gián tiếp ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng của ngân hàng, gây ra rủi
ro tín dụng
- Rủi ro về lãi suất: Đối với các khoản vay, ngân hàng và khách hàng thường có sự thỏa thuận
áp dụng mức lãi suất cố định trong một khoảng thời gian ngắn từ 6 tháng đến 3 năm, sau đó áp dụng mức lãi suất thả nổi, tức là lãi suất được điều chỉnh theo từng thời kỳ nhất định trong suốt thời hạn cho vay Vì vậy, khi lãi suất tăng sẽ làm tăng chi phí lãi vay, gây thêm gánh nặng tài chính lên người vay và tăng rủi ro tín dụng cho ngân hàng
- Kinh nghiệm và trình độ chuyên môn của cán bộ tín dụng: Do đặc điểm của tín dụng cá nhân
là quy mô mỗi khoản vay nhỏ nhưng số lượng khoản vay lớn, vì vậy để có thể đáp ứng tối đa nhu cầu khách hàng, đòi hỏi sự phục vụ nhanh chóng của CBTD Do đó, trong quá trình thẩm định hồ sơ tín dụng các cán bộ thường hay chủ quan, bỏ qua quy trình cho vay và nhanh chóng đáp ứng yêu cầu của khách hàng Ngoài ra, để kịp chạy chỉ tiêu tín dụng do ngân hàng giao, CBTD thường kiểm tra sơ sài để nhanh chóng lôi kéo, cấp tín dụng cho khách hàng Điều này cũng làm giảm chất lượng tín dụng, gây rủi ro tín dụng Thậm chí nhiều CBTD còn lợi dụng
sự lỏng lẻo của công tác quản lý và sơ hở của các quy định để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của khách hàng, hoặc thông đồng với khách hàng kê khống khoản vay gây ra những tổn thất cho ngân hàng (Lê Khương Ninh và Lâm Thị Ngọc Bích (2012))
Theo Nguyễn Thị Kim Nhung và cộng sự (2017) thì việc phân loại xếp hạng tín dụng khách hàng trước khi cho vay rất quan trọng Hệ thống xếp hạng tín dụng phải được xây dựng cho từng đối tượng khách hàng làm cơ sở cho việc xét duyệt cấp tín dụng, quản lý chất lượng tín dụng
2.2 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Rủi ro tín dụng là một vấn đề nhận được sự quan tâm rất lớn từ không chỉ những nhà quản lý
tổ chức tín dụng mà còn của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, các bài báo đăng trên tạp trí khoa học và các tài liệu tiếng việt Phần 2.2.1, 2.2.2, 2.2.3 sẽ khái quát một số nghiên cứu trong nước và nước ngoài về rủi ro tín dụng tại các tổ chức tín dụng
Trang 52.2.1 Các nghiên cứu trong nước
Bùi Hữu Phước và cộng sự (2018) Đã thu thập dữ liệu nghiên cứu từ 120 hồ sơ vay vốn tại
ngân hàng Ngoại Thương chi nhánh Kiên Giang Mô hình logit nhị phân và mô hình logit đa
thức được sử dụng để ước tính các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng, tác giả nhận định mô
hình logit đa thức thực hiện tốt hơn logit nhị phân Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 5 yếu tố
ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại ngân hàng Ngoại Thương chi nhánh Kiên Giang,bao gồm: năng lực tài chính khách hàng, tài sản bảo đảm, kinh nghiệm của cán bộ tín dụng, đa dạng hóa ngành nghề kinh doanh, kiểm tra và giám sát vốn vay
Đường Thị Thanh Hải (2014) cho rằng có 3 nhân tố chính tác động đến hiệu quả tín dụng cá nhân ở Việt Nam, đó chính là ngân hàng, khách hàng và ngoài ngân hàng Chi tiết các nhân tố được tác giả kết luận gồm: chiến lược kinh doanh, các chính sách quy định của ngân hàng, chất lượng cán bộ tín dụng, công tác thông tin, công nghệ của ngân hàng, năng lực tài chính của khách hàng, nhu cầu thói quen và đạo đức khách hàng, đặc điểm thị trường nơi ngân hàng hoạt động, môi trường kinh tế - chính trị
Lê Khương Ninh và Lâm Thị Bích Ngọc (2012) thì phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng với biến phụ thuộc rủi ro được xác định dựa theo đặc điểm hồ sơ khách hàng: có rủi
ro và không có rủi ro Các tác giả đã chỉ ra rằng các yếu tố vi mô giải thích cho rủi ro tín dụng bao gồm: Khả năng tài chính của người vay; Sử dụng vốn vay; Kinh nghiệm của cán bộ tín dụng; Đa dạng hóa hoạt động kinh doanh; Lĩnh vực ngành nghề chính tạo ra thu nhập để trả nợ; Kiểm tra và giám sát nợ vay; Lịch sử vay vốn và Tài sản đảm bảo Tác giả cho rằng mô hình logit đa thức cho phép giải thích tốt hơn mô hình logit nhị thức Tuy nhiên, nghiên cứu này chia rủi ro thành 2 mức từ nhóm nợ (5 nhóm nợ) Theo đó, mức không có rủi ro thuộc nợ nhóm 1 và 2, rủi ro mức 1 thuộc nhóm nợ 3 và 4, rủi ro mức 2 thuộc nợ nhóm 5 (rủi ro có thể mất vốn) Thông tư 02/2013, về việc trích lập dự phòng rủi ro như sau: Nhóm 1: 0%; Nhóm 2: 5%; Nhóm 3: 20%; Nhóm 4: 50%; Nhóm 5: 100% (Điều 12) Như vậy, nếu nhìn vào 5 nhóm
nợ, nợ nhóm 1 là nợ đủ tiêu chuẩn, nợ nhóm 5 là nợ có khả năng mất vốn và còn lại nhóm khác (nhóm 2, 3 và 4) thuộc nhóm có rủi ro.
Lê Thanh Tân (2019) đã thu thập 260 hồ sơ khách hàng cá nhân vay tín chấp và 300 hồ sơ khách hàng cá nhân vay thế chấp còn dư nợ tới thời điểm ngày 31/12/2018 tại Ngân hàng BIDV CN Trà Vinh để làm số liệu cho nghiên cứu của mình Mỗi mô hình có 10 biến quan
Trang 6sát, kết quả nghiên cứu cho thấy có 6/10 biến có ý nghĩa thống kê gồm: số tiền vay, giá trị tài sản trên số tiền vay, lãi suất vay, lịch sử trả nợ, tiền gửi thanh toán và vốn tự có tham gia Nguyễn Văn Huân và Đỗ Năng Thắng (2018) đã chỉ ra rằng, để giảm thiểu rủi ro tín dụng cho các NHTM cần xây dựng một mô hình cảnh báo rủi ro tín dụng nhằm ước tính xác suất vỡ nợ của các khách hàng cá nhân vay vốn Tác giả đã sử dụng bộ dữ liệu điều tra từ 240 mẫu quan sát được thu thập thông qua bảng câu hỏi và gửi tới các khách hàng cá nhân đang có hợp đồng vay vốn tại ngân hàng Nghiên cứu sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 18 để làm sạch dữ liệu
và sử dụng mô hình hồi quy Binary logistic để tìm ra tác động của từng yếu tố riêng biệt ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng cá nhân, kết quả cho thấy có 8 biến có ý nghĩa thống kê là: Thu nhập hàng tháng, Chức vụ công việc, Đặc điểm công việc, Giá trị tài sản đảm bảo trên tổng dư nợ, Thời gian vay, Mục đích sử dụng vốn, Trình độ học vấn và Số người phụ thuộc
Phan Đình Khôi và cộng sự (2020) phân tích rủi ro tín dụng cá nhân bằng mô hình hồi quy logit thứ bậc, dựa trên 232 quan sát được chọn ngẫu nhiên từ hồ sơ khách hàng tại NHTMCP Đông Nam Á ( Seabank) Chi nhánh Cần Thơ Kết quả chỉ ra rằng, có 8 yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng cá nhân gồm: Giới tính, trình độ học vấn, số người phụ thuộc, mục đích sử dụng vốn vay, lĩnh vực ngành nghề tạo ra thu nhập cho người đi vay, kiểm tra và giám sát khoản vay, lịch sử vay vốn của khách hàng, tài sản đảm bảo
Phan Đình Khôi và Nguyễn Việt Thành (2017) thu thập số liệu nghiên cứu từ 316 quan sát của
5 ngân hàng TMCP sở hữu nhà nước tại tỉnh Hậu Giang Tác giả đã sử dụng cả 2 mô hình logit nhị thức và logit đa thức để ước tính các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng Kết quả phân tích cho thấy mô hình logit đa thức cho phép giải thích tốt hơn mô hình logit nhị thức Ở mức độ rủi ro 1: các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của các NHTMCPNN bao gồm: tài sản đảm bảo, sử dụng vốn vay, lịch sử vay vốn của khách hàng, ngành nghề chính tạo ra thu nhập,
và kiểm tra giám sát vốn vay Ở mức độ rủi ro 2: các yếu tố có ý nghĩa bao gồm 5 yếu tố ở mức độ rủi ro 1 cộng với khả năng tài chính của khách hàng và kinh nghiệm cán bộ tín dụng Phan Thị Hằng Nga và Nguyễn Thị Ngọc Quỳnh (2020) đã thu thập dữ liệu từ 200 khách hàng
cá nhân có quan hệ tín dụng với Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – CN Tân Bình, liên tục từ 3 năm trở lên từ năm 2016 đến năm 2018 Kết quả phân tích hồi quy Logistic với sự hỗ trợ của phần mềm Stata 13.0 đã kết luận 5 nhân tố tác động đến khả năng trả nợ của khách
Trang 7hàng cá nhân là: Thu nhập, thời gian làm công việc hiện tại, lãi suất, quy mô khoản vay và lịch
sử tín dụng
Trần Huy Hoàng và Nguyễn Thế Hà (2020) thì cho rằng việc tìm ra giải pháp nhằm giảm thiểu
tỷ lệ nợ xấu là một phần không thể thiếu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng Tác giả sử dụng số liệu thứ cấp thu thập từ các hồ sơ đang còn dư nợ tại Ngân Hàng TMCP Công Thương VN-CN Trà Vinh giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2018 Kết quả cho thấy, các yếu tố về năng lực của cán bộ tín dụng, tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ, môi trường pháp lý - chính sách nhà nước, mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng là các biến có tác động lớn đến nợ xấu
Trương Đông Lộc (2014) khi nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại nhà nước ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long đã kết luận 6 nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng gồm: Kinh nghiệm cán bộ tín dụng, Kiểm soát khoản vay, Mục đích sử dụng vốn, Khả năng tài chính, Tỷ lệ số tiền vay/tài sản đảm bảo và mức độ ổn định của thị trường
Trương Đông Lộc và Nguyễn Thị Tuyết (2011) Sử dụng số liệu thu thập từ 438 hồ sơ vay vốn của khách hàng tại NHTMCP Ngoại Thương chi nhánh Thành Phố Cần Thơ Phương pháp phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của NHTMCP Ngoại Thương chi nhánh Thành Phố Cần Thơ là hồi quy Probit Kết quả nghiên cứu cho thấy có 5 nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của NHTMCP Ngoại Thương chi nhánh Thành Phố Cần Thơ bao gồm: khả năng tài chính của khách hàng vay, sử dụng vốn đúng mục đích, kinh nghiệm của cán bộ tín dụng, đa dạng hóa hoạt động kinh doanh, kiểm tra và giám sát khoản vay Tuy nhiên nhân tố kinh nghiệm của khách hàng vay vốn và nhân tố tài sản bảo đảm có đề cặp ở mô hình nghiên cứu nhưng không có ý nghĩa thống kê
Trương Văn Giang và Trần Hữu Dào (2019) đưa ra 4 nguyên nhân chính tác động đến chất lượng tín dụng tại Ngân hàng TMCP Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn – CN Cẩm Mỹ, Tỉnh Đồng Nai là: khả năng tài chính của khách hàng vay, sử dụng vốn đúng mục đích, kinh nghiệm của cán bộ tín dụng và kiểm tra và giám sát khoản vay
Võ Thị Quý và Bùi Ngọc Toản (2014) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng trên 26 NHTM giai đoạn 2009-2012 Dữ liệu bảng với phương pháp GMM được tác giả sử dụng để khắc phục hiện tượng tự tương quan bậc nhất giữa các sai số và hiện tượng biến nội sinh để đảm bảo các ước lượng thu được vững và hiệu quả Kết quả nghiên cứu cho thấy, rủi ro tín dụng ngân hàng trong
Trang 8quá khứ với độ trễ 1 năm, tỷ lệ tăng trưởng tín dụng trong quá khứ với độ trễ 1 năm và tỷ lệ tăng trưởng GDP trong quá khứ với độ trễ 1 năm, tác động có ý nghĩa đến rủi ro tín dụng NHTM Việt Nam Điều đó khẳng định rủi ro tín dụng tương quan nghịch với tăng trưởng GDP và tăng trưởng tín dụng, và tương quan thuận với rủi ro tín dụng của năm liền trước
2.2.2 Nghiên cứu nước ngoài
Bonfim, D (2009) đã nghiên cứu các yếu tố tác động đến rủi ro tín dụng ở cả hai khía cạnh: tổng hợp và ở mức độ doanh nghiệp cụ thể Tác giả sử dụng mô hình lý thuyết được thiết lập trên phân tích thực nghiệm (đã được nghiên cứu bởi Rosch (2003) và Hamerle (2004)) và chuỗi thời gian và sự kiện của nền kinh tế vĩ mô và tài chính Khởi đầu bằng việc khảo sát mối liên
hệ giữa rủi ro tín dụng và sự phát triển kinh tế vĩ mô ở mức độ tổng hợp Kết quả thu được cho thấy rằng có một số liên kết quan trọng giữa rủi ro tín dụng và sự phát triển kinh tế vĩ mô Sau khi khảo sát các yếu tố quyết định rủi ro tín dụng ở mức độ tổng thể, tác giả tập trung vào khảo sát một bộ dữ liệu mở các thông tin tài chính chi tiết của hơn 30.000 doanh nghiệp, kể cả các ghi nhận về thông số cho vay mặc định Kết quả thu được cho thấy rằng xác suất mặc định bị ảnh hưởng bởi một vài đặc điểm cụ thể của doanh nghiệp, chẳng hạn như cơ cấu tài chính, lợi nhuận và tính thanh khoản, cũng như hiệu quả kinh doanh gần đây hoặc chính sách đầu tư Sau khi xem xét hết tất cả các đặc điểm phù hợp của doanh nghiệp, quy mô của doanh nghiệp dường như không có tác động khác biệt vào tần số mặc định, dù có một số khác biệt quan trọng giữa các thành phần kinh tế Thông tin về tình hình tài chính của công ty trong một thời gian ngắn lại có thể giải thích tại sao một số doanh nghiệp lại không trả nợ đúng hạn trên cam kết cho vay của họ
Castro V., (2012) phân tích mối liên hệ giữa diễn biến kinh tế vi mô và rủi ro tín dụng ngân hàng ở một nhóm quốc gia cụ thể là: Hy lạp – Ireland – Bồ Đào Nha – Tây Ban Nha - Ý (GIPSI) Tác giả sử dụng các phương pháp tiếp cận dữ liệu bảng, dữ liệu được thu thập từ năm
1997 đến năm 2011 Kết quả nghiên cứu kết luận rằng rủi ro tín dụng ngân hàng bị ảnh hưởng đáng kể bởi môi trường kinh tế vĩ mô: rủi ro tín dụng tăng lên khi tăng trưởng GDP, chỉ số giá
cổ phiếu và nhà ở giảm, rủi ro tín dụng cũng tăng khi tỷ lệ thất nghiệp, lãi suất và tăng trưởng tín dụng tăng Nó cũng bị ảnh hưởng tích cực bởi sự tăng giá của tỷ giá hối đoái thực
Das, A., & Ghosh, S (2007) đã nghiên cứu xem các khoản nợ xấu có khác nhau giữa các khoản vay lớn và nhỏ hay không? Các khoản nợ xấu có đối xứng hay không, tức là nó có tăng giảm theo mức tăng trưởng kinh tế hay không? Cuối cùng, các khoản nợ xấu có bị ảnh hưởng bởi
Trang 9cơ cấu sở hữu của ngân hàng hay không? Kết quả nghiên cứu cho thấy, thứ nhất: các ngân hàng lớn hơn có xu hướng có các khoản nợ xấu thấp hơn, có lẽ do danh mục đầu tư của họ tốt hơn, đa dạng hóa hơn, hoặc thậm chí họ có các kỹ thuật quản lý rủi ro tín dụng ưu việt hơn Thứ 2: Biến tăng trưởng kinh tế là âm nhưng không có ý nghĩa thống kê Thứ 3: Biến cơ cấu ngân hàng cũng là âm và không có ý nghĩa thống kê
John M Chapman and associates (1940) trong cuốn sách “Ngân Hàng Thương Mại và Tín Dụng trả góp Tiêu Dùng”, chương: “Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng trong cho vay
cá nhân” trang 109 – 139, tác giả đã khẳng định yếu tố: độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp, lịch sử tín dụng, số tiền cho vay, mục đích vay, xếp hạng tín dụng, tiền gửi thanh toán, phương thức trả nợ, kinh nghiệm của nhân viên thẩm định và sự giám sát các khoản vay là các biến có ý nghĩa thống kê và có tác động tới rủi ro tín dụng cá nhân
Khemraj & Pasha (2009) nghiên cứu các yếu tố quyết định đến nợ xấu ở Guyana 1994-2004, kết quả cho thấy quy mô ngân hàng có ý nghĩa thống kê và tác động tích cực đến nợ xấu, tăng trưởng GDP tỷ lệ nghịch với các nợ xấu, sự ổn định trong nền kinh tế sẽ làm nợ xấu thấp hơn Các ngân hàng tính lãi suất tương đối cao hơn và cho vay quá mức có thể sẽ phải chịu nợ xấu cao hơn, một ngân hàng tăng lãi suất điều này có thể tăng nợ xấu
Marijana Curak, Sandra Pepur & Klime Poposki (2013) nghiên cứu các yếu tố quyết định nợ xấu trong hệ thống Ngân Hàng Đông Nam Châu Âu, với cỡ mẫu là 69 ngân hàng tại 10 quốc gia trong giai đoạn 2003-2010 Kết quả cho thấy tăng trưởng kinh tế thấp, lạm phát cao và lãi suất cao làm gia tăng nợ xấu tại các ngân hàng Ngoài ra, tác giả còn tìm thấy mối quan hệ nghịch chiều giữa nợ xấu với quy mô ngân hàng, kinh nghiệm nhân viên tín dụng và giám sát các khoản vay
Nkuzu, M (2011) nghiên cứu 26 quốc gia có nền kinh tế phát triển kéo dài khoảng thời gian
từ năm 1998-2009, sử dụng mô hình GMM, nghiên cứu cho thấy nền kinh tế tăng trưởng chậm,
tỷ lệ thất nghiệp cao hơn hoặc giảm giá tài sản gắn liền với vấn đề nợ làm tăng nợ xấu, rủi ro tín dụng cũng tăng lên Nghiên cứu cũng đưa ra lạm phát ảnh hưởng đến những người đi vay Một mặt, lạm phát cao có thể có lợi cho những người đi vay bằng cách giảm giá trị thực của các khoản vay nợ, nhưng cũng làm giảm khả năng trả nợ của khách hàng đi vay Bên cạnh đó, các mức lãi suất thay đổi, những người cho vay có thể điều chỉnh các mức phí tính để bù đắp cho sự gia tăng lạm phát Do đó, vấn đề được đặt ra liệu lạm phát tiêu cực hay tích cực ảnh
Trang 10hưởng đến nợ xấu và kết quả nghiên cứu cho thấy tác động tích cực với nợ xấu và rủi ro tín dụng
Pestova và Mamonov,M (2011) đã đưa ra kết luận 7 yếu tố có tác động đến rủi ro tín dụng gồm: Tăng trưởng GDP, Tăng trưởng giá bất động sản/tăng trưởng doanh số mua bán bất động sản, Tỷ giá hối đoái, Tăng trưởng cho vay, quy mô vốn (tỷ lệ VSH/TTS), Lãi suất cho vay, Tỷ
lệ LDR (tỷ lệ dư nợ tín dụng trên vốn huy động)
Roslan, A H., & Karim, M A (2009) nghiên cứu Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của các đối tượng tín dụng vi mô tại Agribank- Malaysia Tác giả đưa vào mô hình nghiên cứu của mình 10 biến gồm: Giới tính, độ tuổi, thời gian làm công việc hiện tại, thu nhập, Tỷ lệ nợ quá hạn, lĩnh vực sản xuất, quy mô khoản vay, thời hạn cho vay, người phụ thuộc, lãi suất Kết quả nghiên cứu cho thấy những người vay hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ ít rủi ro hơn đối với những người hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, quy mô khoản vay càng lớn thì tỷ lệ nợ quá hạn càng thấp, thời hạn cho vay tác động ngược chiều đến khả năng trả nợ và thời gian cho vay càng dài thì tỷ lệ nợ quá hạn càng cao
2.2.3 Đánh giá tổng quan tài liệu
Thông qua tham khảo những nghiên cứu trước đó về rủi ro tín dụng trong và ngoài nước, các tạp chí và tài liệu tiếng việt cho thấy, vấn đề rủi ro tín dụng là một vấn đề nghiên cứu khá quen thuộc, nhưng luôn là cần thiết để các tổ chức tín dụng phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng
Về phương pháp phân tích trong các nghiên cứu lược khảo các phương pháp phân tích được
sử dụng để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng như: hồi quy Logistic nhị thức, hồi quy Logit đa thức, hồi quy Probit, hồi quy tuyến tính Tuy nhiên tùy thuộc vào cách thức
đo lường biến phụ thuộc “Rủi ro tín dụng” mà phương pháp phân tích được sử dụng Trong các nghiên cứu lược khảo phương pháp hồi quy nhị phân là phương pháp phân tích được nhiều nhà nghiên cứu áp dụng nhất Do đó phương pháp phân tích tác giả sử dụng để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng đối với khách hàng cá nhân tại ngân hàng VCB-CN Tân Sơn Nhất cũng là hồi quy nhị phân
Cũng giống như các hình thức tín dụng khác, tín dụng cá nhân tồn tại nhiều rủi ro Những rủi
ro này xuất phát chủ yếu từ phía các ngân hàng, cá nhân – người đi vay và các yếu tố thuộc môi trường kinh tế vĩ mô Để minh chứng rõ cho lập luận trên, tác giả đã tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng cá nhân thông qua bảng sau: