1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ác yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam P2

27 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 590,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ CÔNG THƯƠNG 11 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC PHÂN CẤP CHO CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 2 1 Tổng quan về nông thôn mới 2 1 1 Khái niệm nông thôn Đến nay, khái niệm nông thôn được thống nhất với quy định tại Theo Thông tư số 542009TT BNNPTNT ngày 21 8 2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cụ thể Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân.

Trang 1

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC PHÂN CẤP CHO CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

2.1 Tổng quan về nông thôn mới

2.1.1 Khái niệm nông thôn

Đến nay, khái niệm nông thôn được thống nhất với quy định tại Theo Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21-8-2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông

thôn, cụ thể: "Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã"

2.1.2 Khái niệm nông thôn mới

Là nông thôn mà trong đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị Nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới

Nông thôn mới có kinh tế phát triển toàn diện, bền vững, cơ sở hạ tầng được xây dựng đồng bộ, hiện đại, phát triển theo quy hoạch, gắn kết hợp lý giữa nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và đô thị Nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ Sức mạnh của hệ thống chính trị được nâng cao, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội

2.1.3 Xây dựng nông thôn mới

Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng đồng

dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hoá, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao

Trang 2

Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, của cả

hệ thống chính trị Nông thôn mới không chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội, mà là vấn đề kinh tế - chính trị tổng hợp

Xây dựng nông thôn mới giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh

2.1.4 Đặc trưng của nông thôn mới

Theo cuốn “Sổ tay hướng dẫn xây dựng nông thôn mới” (Nhà xuất bản Lao động

2010), đặc trưng của Nông thôn mới thời kỳ CNH –HĐH, giai đoạn 2010-2020, bao gồm:

- Kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn được nâng cao;

- Nông thôn phát triển theo quy hoạch, có kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội hiện đại, môi trường sinh thái được bảo vệ;

- Dân trí được nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát huy;

- An ninh tốt, quản lý dân chủ

- Chất lương hệ thống chính trị được nâng cao

2.2 Sự cần thiết về vốn ngân sách nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ bản

- Chi đầu tư phát triển: Chi đầu tư phát triển là những khoản chi mang tính chất

tích lũy phục vụ cho quá trình tái sản xuất mở rộng gắn với việc xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm tạo ra môi trường và điều kiện thuận lợi cho việc bỏ vốn đầu tư của các doanh nghiệp vào các lĩnh vực cần thiết, phù hợp với mục tiêu của nền kinh tế Nói khác đi, việc chi cho đầu tư phát triển của ngân sách nhà nước nhằm mục đích tạo ra một sự khởi động ban đầu, kích thích qúa trình vận đông các nguồn vốn trong xã hội để hướng tới sự tăng trưởng

Trang 3

Chi đầu tư phát triển được cấp phát chủ yếu từ ngân sách trung ương và một bộ phận đáng kể của ngân sách địa phương và bao gồm các khoản chi cơ bản sau đây: Chi đầu tư xây dựng cơ bản; Chi đầu tư và hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp nhà nước; Chi đầu tư và hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp nhà nước; Chi góp vốn cổ phần, vốn liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực cần thiết; Chi cho các quỹ hỗ trợ

đầu tư quốc gia và các quỹ hỗ trợ phát triển; Chi dự trữ nhà nước

+ Chi đầu tư xây dựng cơ bản: là khoản chi tài chính nhà nước được đầu tư cho

các công trình thuộc kết cấu hạ tầng (cầu cống, bến cảng, sân bay, hệ thống thuỷ lợi, năng lượng, viễn thông…) các công trình kinh tế có tính chất chiến lược, các công trình và dự án phát triển văn hóa xã hội trọng điểm, phúc lợi công cộng nhằm hình thành thế cân đối cho nền kinh tế, tạo ra tiền đề kích thích qúa trình vận động vốn của doanh nghiệp và tư nhân nhằm mục đích tăng trưởng kinh tế và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân

Chi đầu tư xây dựng cơ bản có tầm quan trọng trong việc tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế và xã hội, góp phần hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý theo định hướng của nhà nước, tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất phát triển và nâng cao năng suất lao động xã hội

Đối với nền kinh tế nói chung và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa xã hội như nước ta nói riêng thì đầu tư công từ nguồn vốn NSNN là một trong những công

cụ điều hành của Nhà nước, góp phần tạo nền tảng cơ bản cho sự phát triển của nền kinh tế và thúc đẩy dẫn dắt đầu tư của các thành phần kinh tế khác, kích thích các thành phần kinh tế phát triển có hiệu quả hơn và đồng đều hơn Bởi lẽ, như một tất yếu khách quan đầu tư của tư nhân và nước ngoài chỉ chủ yếu tập trung vào các ngành nghề, khu vực có khả năng sinh lời cao, mức độ an toàn lớn, dẫn đến mất cân đối trong các ngành cũng như các vùng kinh tế Do vậy, để nền kinh tế phát triển một cách đồng bộ, hài hòa

và hợp lý thì Chính phủ sẽ dùng vốn đầu tư công từ nguồn vốn NSNN để đầu tư vào môt số lĩnh vực mà các thành phần kinh tế khác không đủ khả năng hoặc không được phép đầu tư, chẳng hạn các dự án có vốn đầu tư lớn, khả năng thu hồi vốn chậm hoặc

Trang 4

không thể thu hồi vốn hay đối với những lĩnh vực mang tính chủ quyền quốc gia, tài nguyên quốc gia

Sự cần thiết về vốn ngân sách nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ bản được thể hiện trên

ba khía cạnh quan trọng sau:

Một là, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dựa trên việc đầu tư cho các công trình hạ tầng, cơ

sở vật chất - kỹ thuật tối thiểu chung cho xã hội Đây cũng đồng thời tạo những điều kiện thiết yếu cho các thành phần kinh tế ngoài nhà nước đầu tư và phát triển

Hai là, góp phần làm giảm khoảng cách giàu nghèo, giảm bất bình đằng, bất công trong

xã hội bằng các chương trình, dự án kinh tế hỗ trợ các vùng khó khăn, vùng sâu vùng

xa, các dân tộc thiểu số (chương trình 134, 135 của Chính phủ, Chương trình 30a, các chương trình xóa đói giảm nghèo hỗ trợ sản xuất ), nâng cao và ổn định đời sống người dân

Ba là, đảm bảo ổn định và không ngừng tăng cường quốc phòng, an ninh Các công trình, dự án về an ninh quốc phòng đều không mang lại hiệu quả kinh tế trước mắt nên khu vực tư nhân không thể và cũng không muốn đầu tư vào lĩnh vực này Nhưng đó lại

là cơ sở quan trọng của đất nước để bảo vệ Tổ quốc, giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia

Qua đó có thể thấy, đầu tư công từ nguồn vốn NSNN có tác động khá lớn tới tăng trưởng kinh tế, điều chỉnh và chuyển dịch cơ cấu vốn đầu tư theo định hướng đề ra Hoạt động đầu tư công từ nguồn vốn NSNN góp phần tái tạo và tăng cường năng lực sản xuất để tăng năng suất lao động, tăng thu nhập quốc dân và tăng thu nhập bình quân đầu người Mặc khác, đầu tư công từ nguồn vốn NSNN cũng một phần tăng tích lũy vốn, thu hút người lao động, giải quyết việc làm, sử dụng có hiệu quả tài nguyên của quốc gia Đồng thời, nó sẽ tạo ra cơ cấu kinh tế mới, hình thành những ngành mới, tăng cường chuyên môn hóa và phân công lao động xã hội

Nói tóm lại, hoạt động đầu tư công từ nguồn vốn NSNN có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển các mặt của nền kinh tế, đời sống xã hội, củng cố an ninh quốc phòng, là một

Trang 5

công cụ góp phần điều tiết kinh tế, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô Nó mang tính định hướng, dẫn dắt, hỗ trợ phát triển cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân

2.2.1 Cơ sở pháp lý đối với vốn đầu tư xây dựng cơ bản

- Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ngày 28 tháng 10 năm 2008 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW xác định nhiệm vụ xây dựng “Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới”

- Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010

- 2020;

- Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ

về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới;

- Quyết định số 10/2009/QĐ-UBND ngày 22 tháng 01 năm 2009 của Ủy ban nhân dân thành phố về ban hành Kế hoạch của Ủy ban nhân dân thành phố thực hiện Chương trình hành động của Thành ủy về nông nghiệp, nông dân, nông thôn theo Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05 tháng 8 năm 2008 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X

- Quyết định số 15/2011/QĐ-UBND ngày 18 tháng 03 năm 2011 của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về việc ban hành Chương trình mục tiêu về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2010 – 2020

- Luật Đầu tư công ngày 18 tháng 6 năm 2014;

- Luật Xây dựng ngày 18 tháng 6 năm 2014;

- Luật Ngân sách nhà nước ngày 25 tháng 6 năm 2015;

- Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai;

Trang 6

- Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 6 năm 2015 của Chính phủ về quản

lý dự án đầu tư xây dựng;

- Nghị định số 77/2015/NĐ-CP ngày 10 tháng 9 năm 2015 của Chính phủ về kế hoạch đầu tư trung hạn và hàng năm;

- Nghị định số 136/2015/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư công;

- Nghị định số 42/2017/NĐ-CP ngày 05 tháng 4 năm 2017 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 6 năm 2015 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng;

- Nghị định số 161/2016/NĐ-CP ngày 02 tháng 12 năm 2016 của Chính phủ về cơ chế đặc thù trong quản lý đầu tư xây dựng đối với một số dự án thuộc các Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020;

- Quyết định số 41/2016/QĐ-TTg ngày 10 tháng 10 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế quản lý điều hành thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia;

- Thông tư số 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC ngày 13 tháng 4 năm 2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn một số nội dung thực hiện Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020;

- Thông tư số 08/2016/TT-BTC ngày 18 tháng 01 năm 2016 của Bộ Tài chính Quy định về quản lý, thanh toán vốn đầu tư sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước; Thông tư số 108/2016/TT-BTC ngày 30 tháng 6 năm 2016 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2016/TT-BTC ngày 18 tháng 01 năm

2016 của Bộ Tài chính quy định về quản lý, thanh toán vốn đầu tư sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước;

Trang 7

- Thông tư số 09/2016/TT-BTC ngày 18 tháng 01 năm 2016 của Bộ Tài chính Quy định về quyết toán dự án hoàn thành thuộc nguồn vốn nhà nước;

Căn cứ Thông tư số 349/2016/TT-BTC ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Bộ Tài chính Quy định về thanh toán, quyết toán nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016 - 2020;

- Thông tư số 01/2017/TT-BKHĐT ngày 14 tháng 02 năm 2017 của Bộ Kế hoạch

và Đầu tư hướng dẫn quy trình lập kế hoạch đầu tư cấp xã thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia;

- Thông tư số 72/2017/TT-BTC ngày 17 tháng 7 năm 2017 của Bộ Tài chính quy định về quản lý, sử dụng các khoản thu từ hoạt động quản lý dự án của các chủ đầu

tư, ban quản lý dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước;

- Quyết định số 04/2018/QĐ-UBND ngày 12 tháng 02 năm 2018 về việc ban hành Quy định cơ chế quản lý đầu tư và xây dựng, quản lý nguồn vốn đầu tư tại các xã nông thôn mới trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2017-2020

- Quyết định số 4081/QĐ-UBND ngày 01 tháng 8 năm 2017 của Ủy ban nhân dân Thành phố về kiện toàn Hội đồng thẩm định chủ trương đầu tư các chương trình, dự án đầu tư công và giao cơ quan thẩm định báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư, nguồn vốn và khả năng cân đối vốn của các dự án đầu tư công

- Chỉ thị số 05/CT-UBND ngày 07 tháng 5 năm 2018 của Ủy ban nhân dân Thành phố về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công của Thành phố năm 2018

- Kế hoạch số 1985/KH-UBND ngày 09 tháng 5 năm 2018 của Ủy ban nhân dân Thành phố về triển khai thực hiện Quyết định số 63/QĐ-TTg ngày 12 tháng 11 năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án cơ cấu lại đầu tư công giai đoạn 2017-2020 và định hướng đến năm 2025

Trang 8

- Quyết định số 18/2018/QĐ-UBND ngày 25 tháng 5 năm 2018 của Ủy ban nhân dân Thành phố về ban hành Quy định về quản lý thực hiện chương trình, dự án sử dụng vốn đầu tư công của Thành phố Hồ Chí Minh

2.2.2 Phân cấp NSNN về chi đầu tư

Phân cấp quản lý đầu tư công gắn với phân cấp về nguồn tài chính Có hai nguồn, một là nguồn từ Trung ương, hai là nguồn khai thác tại chỗ ở địa phương Một cách tương đối nhất quán, chính quyền cấp tỉnh được quyền quyết gần như hoàn toàn đối với các dự án đầu tư từ ngân sách địa phương Vốn đầu tư công được phân bổ theo hai cấp ngân sách là ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương

Phần lớn nguồn lực đầu tư công đều được phân cấp cho ngành và địa phương quản

lý Và hệ quả tất yếu là việc quyết định đầu tư công đã tách rời việc bố trí vốn Các ngành và địa phương quyết định về dự án đầu tư, nhưng nguồn vốn đều được ghi là “xin vốn từ ngân sách trung ương”

Nguyên tắc phân cấp đầu tư từ Trung ương xuống địa phương vẫn được thực hiện theo quy mô và tầm quan trọng của dự án, được chia thành các dự án quan trọng của quốc gia là nhóm A, nhóm B, và nhóm C

Trong nguồn tài chính khai thác tại địa phương, ngoài hình thức huy động đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng từ người dân, một hình thức khá phổ biến là khai thác

từ tài nguyên mà chủ yếu là từ quỹ đất đai Vào thời kỳ thị trường bất động sản đang sôi động, nhiều địa phương đã thu những khoản tiền rất lớn từ nguồn này, đặc biệt là đất tại những khu vực đô thị Địa phương nào thu càng lớn thì đầu tư càng nhiều, từ đó nảy sinh vấn đề xây dựng tràn lan, không có kế hoạch và không có

sự liên kết đấu nối

Bên cạnh đó, mặc dù phân cấp quản lý đầu tư công từ NSNN mạnh nhưng vẫn còn thiếu sự kiểm tra, hướng dẫn từ cấp có thẩm quyền phân cấp dẫn tới việc cấp dưới được phân cấp có thể làm những việc vượt thẩm quyền, quyết định dự án đầu tư nhưng nguồn vốn lại đề nghị cấp trên cân đối; hoặc để tự cân đối ngân sách tại chỗ thì các cấp dưới được phân cấp phải chật vật tìm cách tăng thu, dẫn đến việc thu

Trang 9

hút đầu tư bằng mọi giá, làm trầm trọng thêm tình trạng phát triển tự phát, không theo quy hoạch

Có thể nói, chính những yếu kém, hạn chế trong công tác phân cấp quản lý đầu tư công từ NSNN là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng đầu tư dàn trải, chồng chéo, công trình thi công chậm, thiếu đồng bộ, sản phẩm dở dang nhiều dẫn đến hiệu quả đầu tư thấp Bản thân Chỉ thị số 1792/CT-TTg ngày 15/20/2011 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý đầu tư công từ vốn ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu chính phủ cũng đã thừa nhận “do phân cấp quá rộng lại thiếu các biện pháp quản lý đồng bộ dẫn tới tình trạng phê duyệt quá nhiều dự án vượt khả năng cân đối vốn ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu chính phủ, thời gian thi công kéo dài, kế hoạch đầu tư bị cắt khúc ra từng năm, hiệu quả đầu tư kém, gây phân tán và lãng phí nguồn lực của nhà nước”

Luật Đầu tư công năm 2014 đã có sự thay đổi trong phân cấp quyết định chủ trương đầu tư cũng như thẩm định nguồn vốn, khả năng cân đối vốn… đã cơ bản khắc phục được tình trạng yếu kém trước đây

2.2.3 Các tiêu chí đánh giá về việc sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước

- Quản lý quy hoạch và phân bổ vốn đầu tư;

- Quản lý công tác thẩm định dự án;

- Quản lý công tác lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng:

- Quản lý công tác đền bù giải phóng mặt bằng;

- Quản lý công tác giải ngân vốn;

- Quản lý công tác thi công xây dựng công trình;

- Thẩm tra quyết toán, thanh tra, kiểm toán dự án hoàn thành

+ Các chỉ tiêu phản ánh kết quả đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn: tài sản cố định huy động, năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm

Trang 10

+ Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước: chỉ tiêu giá trị gia tăng của dự án đầu tư, chỉ tiêu khả năng thu hút lao động của dự án đầu tư, khả năng tác động đến thu chi ngân sách nhà nước, chỉ tiêu tích lũy để đầu tư phát triển, khả năng sử dụng nguyên vật liệu trong nước, tác động dây chuyền để thúc đẩy sự phát triển của các ngành liên quan, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của địa phương, thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng và nâng cao mức sống Nhân dân

* Quy trình thực hiện quản lý đầu tư công

Quá trình quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước được tiến hành xuyên suốt từ khâu lập kế hoạch ban đầu, phê duyệt chủ trương đầu tư, quyết định phê duyệt dự án đầu tư cho đến giai đoạn thi công công trình, bàn giao công trình và thanh tra, quyết toán công trình

Quá trình quản lý đầu tư xây dựng cơ bản được phân thành 3 giai đoạn:

- Giai đoạn chuẩn bị dự án gồm các công việc: tổ chức lập kế hoạch, phê duyệt chủ trương đầu tư, tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt báo cáo nghiên cứu tiền khả thi (nếu có); lập, thẩm định, phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc báo cáo kinh tế

- kỹ thuật đầu tư xây dựng để xem xét, quyết định đầu tư xây dựng và thực hiện các công việc cần thiết khác liên quan đến chuẩn bị dự án

- Giai đoạn thực hiện dự án bao gồm các công việc: thực hiện việc giao đất hoặc thuê đất (nếu có), chuẩn bị mặt bằng xây dựng, rà phá bom mìn (nếu có); khảo sát xây dựng; lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán xây dựng; cấp giấy phép xây dựng (đối với công trình theo quy định phải có giấy phép xây dựng); tổ chức lựa chọn nhà thầu và ký kết hợp đồng xây dựng; thi công xây dựng công trình; giám sát thi công xây dựng; tạm ứng, thanh toán khối lượng hoàn thành; nghiệm thu công trình xây dựng hoàn thành; bàn giao công trình hoàn thành đưa vào sử dụng; vận hành, chạy thử và thực hiện các công việc cần thiết khác

Trang 11

- Giai đoạn kết thúc xây dựng đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng gồm các công việc: quyết toán hợp đồng xây dựng, bảo hành công trình xây dựng

Các lĩnh vực quản lý cụ thể của dự án bao gồm:

Hình 3.1 Sơ đồ Quy trình quản lý thực hiện đầu tư dự án xây dựng cơ bản

2.3 Kinh nghiệm của các địa phương về nguồn vốn phân cấp cho chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới

Triển khai thực hiện dự

án

Nghiệm thu bàn giao sử dụng

Đánh giá đầu

Trang 12

năm 2015, 20/20 xã và huyện được Ủy ban nhân dân thành phố và Trung ương công nhận là xã và huyện nông thôn mới

- Đến nay sau 10 năm xây dựng nông thôn mới, trên địa bàn huyện Củ Chi đã có nhiều thay đổi tích cực Có thể kể đến là chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, đường giao thông và vận động người dân sử dụng nước sạch

- Về chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp: Giá trị sản xuất nông nghiệp giai đoạn

2009 - 2019 tăng bình quân 8,24%/năm Nông sản trên địa bàn huyện có quy mô lớn về số lượng, tổng đàn heo trên 139.000 con, tổng đàn bò khoảng 100.000 con trong đó khoảng 60.000 con bò sữa, 598 ha hoa kiểng, trong đó 167 ha hoa lan; 1.642 ha canh tác rau các loại; 260 ha nuôi trồng thủy sản, trong đó có 18 ha nuôi cá cảnh và 20 ha sản xuất cá giống Sản lượng nông sản cung cấp hằng năm khoảng 208.000 tấn rau; 8.000 tấn thủy sản các loại, trong đó 1.000 tấn cá giống và 7 triệu con cá cảnh các loại; 110.000 tấn sữa bò tươi và 35.000 tấn thịt các loại 22,4 triệu cành lan mỗi năm Doanh thu bình quân trên 1 ha đất nông nghiệp năm 2018 đạt

500 triệu đồng/ha/năm, riêng mô hình trồng lan cho doanh thu bình quân 700 triệu đồng/ha/năm, rau an toàn cho doanh thu bình quân 400 triệu đồng/ha/năm, hoa kiểng 600 triệu đồng/ha/năm

- Sau 10 năm xây dựng nông thôn mới (2010-2020) huyện Củ Chi có mạng lưới giao thông tương đối hoàn chỉnh gồm 2.107 tuyến đường và 213 tuyến hẻm, có chiều dài 1.434 km (trong đó đường bê tông nhựa nóng 413 tuyến dài 431km; đường nhựa thường 89 tuyến dài 153km; bê tông xi măng, các tuyến đường giao thông còn lại 1.818 tuyến dài 850km)

- Hiện nay, hệ thống giao thông của huyện được phát triển đồng bộ đã kết nối liên thông các tuyến đường, kết nối liên thông từ huyện đến xã, phục vụ tốt cho việc đi lại của người dân, vận chuyển nông sản và vật tư phục vụ sản xuất

(Nguồn: Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới tại huyện Củ Chi)

Trang 13

* Kết quả huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện a) Kết quả huy động nguồn lực giai đoạn 2010-2015

Tổng kinh phí đã thực hiện: 17.445,391 tỷ đồng, trong đó:

- Ngân sách Trung ương: 10,23 tỷ đồng, chiếm 0,06%;

- Ngân sách thành phố: 1.289,773 tỷ đồng, chiếm 7,39%;

- Ngân sách huyện: 107,04 tỷ đồng, chiếm 0,61%;

- Vốn cộng đồng (dân và doanh nghiệp, tín dụng): 16.038,348 tỷ đồng, chiếm 91,93%

Trong đó:

- Vốn đầu tư phát triển sản xuất: 4.696,503 tỷ đồng

- Vốn nhân dân hiến đất, vật chất kiến trúc : 355,223 tỷ đồng

- Vốn hỗ trợ xây dựng nhà tình nghĩa, nhà tình thương: 58,428 tỷ đồng

Ngày đăng: 30/06/2022, 09:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1 Sơ đồ Quy trình quản lý thực hiện đầu tư dự án xây dựng cơ bản - ác yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam P2
Hình 3.1 Sơ đồ Quy trình quản lý thực hiện đầu tư dự án xây dựng cơ bản (Trang 11)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w