1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

THỰC TRẠNG FDI Ở VIỆT NAM TỪ 1987 ĐẾN NAY

55 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng FDI Ở Việt Nam Từ 1987 Đến Nay
Tác giả Trần Lâm Hồng Phước, Nguyễn Thị Mai Phương, Lê Thị Thơm, Hoàng Thị Thúy, Hoàng Minh Thủy, Dương Thị Minh Phượng, Nguyễn Hoài Thu
Người hướng dẫn Phạm Thành Hiền Thục
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương Cơ Sở II
Thể loại đề tài
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG CƠ SỞ II ĐỀ TÀI THỰC TRẠNG FDI Ở VIỆT NAM TỪ 1987 ĐẾN NAY Nhóm thực hiện Trần Lâm Hồng Phước 1001017227 Nguyễn Thị Mai Phương 1001017230 Lê Thị Thơm 1001017285 Hoàng Thị Thúy 1001017299 Hoàng Minh Thủy 1001017303 Dương Thị Minh Phượng 1001017525 Nguyễn Hoài Thu 1001017557 Giáo viên Phạm Thành Hiền Thục Hồ Chí Minh Ngày 27, tháng 04, năm 2012 LỜI MỞ ĐẦU Trong giai đoạn hiện nay với xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá, đầu tư nước ngoài đóng vai trò.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG CƠ SỞ II

Hoàng Minh Thủy 1001017303

Giáo viên: Phạm Thành Hiền Thục

- Hồ Chí Ngày 27, tháng 04, năm 2012

Trang 2

Minh -LỜI MỞ ĐẦU

Trong giai đoạn hiện nay với xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá, đầu tư nước ngoàiđóng vai trò rất quan trọng trong việc đẩy nhanh quá trình hội nhập của các nước vào nềnkinh tế thế giới Đầu tư quốc tế diễn ra với quy mô ngày càng lớn, đa dạng và trong nhiềulĩnh vực vì nó mang lại nguồn lợi rất lớn cho cả nước đầu tư và nước nhận đầu tư Và vốnnước ngoài là một nhân tố cực kỳ quan trọng và cần thiết cho quá trình công nghiệp hoá -hiện đại hoá ở bất kỳ một nước hay một nền kinh tế đang phát triển nào

Trong bối cảnh đó Việt Nam cũng đang tích cực tham gia vào nền kinh tế thế giớivới những nỗ lực trong tất cả các mặt Bởi nước ta là một nước nông nghiệp lạc hậu, trình

độ kỹ thuật thấp kém, năng suất lao động thấp, tích luỹ nội bộ thấp, lại chịu hậu quả nặng

nề của chiến tranh Do dó vấn đề về vốn hiện nay đang là vấn đề nan giải và khó giảiquyết nhất Để hội nhập với nền kinh tế thế giới, chúng ta cũng phải có những sự chuyểnmình để không bị gạt ra khỏi vòng quay của sự phát triển Thể hiện điều này, ngày19/12/1987 Quốc Hội ta đã thông qua luật đầu tư trực tiếp nước ngoài, cho phép các tổchức, cá nhân là người nước ngoài đầu tư vào Việt Nam Qua đó, đã thu hút được mộtlượng vốn lớn thúc đẩy nền kinh tế phát triển Và đề tài “Thực trạng FDI ở Việt Nam từ

1987 đến nay” của nhóm chúng tôi, sẽ đưa ra cái nhìn tổng thế cho việc thu hút FDI trongthời gian qua Đồng thời, chúng tôi cũng đưa ra những tác động của FDI đối với nền kinh

tế Việt Nam Thông qua đó, đề xuất một số giải pháp, để thu hút FDI một cách hiệu quảtrong thời gian tới

Trong quá trình làm bài, với trình độ kiến thức còn hạn chế nên không thể tránhkhỏi sai sót, mong cô và các bạn bỏ qua và góp ý

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

I THỰC TRẠNG FDI Ở VIỆT NAM TỪ 1987 ĐẾN NAY

1 Giai đoạn 1987 – 2005

I.1 Bối cảnh nền kinh tế Việt Nam

Nhìn lại khoảng thời gian 25 năm trước, tức năm 1987, nền kinh tế Việt Nam đãgặp phải không ít khó khăn Trước những tác động không mấy khả quan của tình hình thếgiới lúc bấy giờ (giá cả thể giới biến động, nền kinh tế thế giới phục hồi chậm ), tìnhhình kinh tế Việt Nam cũng gặp những trở ngại nhất định: Việt Nam chỉ là một nướcnông nghiệp lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, kinh tế kém phát triển, lạm phát phi

mã xảy ra (năm 1986, mức lạm phát lên tới 700%), bị các nước phương Tây cấm vận, sảnxuất bị bó hẹp, mang nặng tính chất tự cung tự cấp cộng với cơ chế quản lí tập trungquan liêu bao cấp khiến cho sản xuất càng đình trệ, nền kinh tế trong nước thiếu vốn trầmtrọng

Thế nhưng, kể từ bắt đầu cuộc đổi mới đến nay, nền kinh tế nước ta đã đạt đượcnhiều thành tựu to lớn: tốc độ tăng trưởng kinh tế liên tục cao và ổn định trong nhiều năm(bình quân thời kì 1991-1995 là 8,1%/năm, năm 1996 là 9,3%/năm, năm 1997 là8,15%/năm), cơ cấu kinh tế đang từng bước chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá-hiện đại hoá, đời sống cùa người dân ngày càng được nâng cao cả về vật chất và tinhthần, xã hội đang từng ngày thay đổi Tất cả những thành tựu trên cho thấy nền kinh tếnước ta đã thoát khỏi tình trạng khủng hoảng và đang từng bước tiến vào thời kỳ mới,thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước

Một trong những nguyên nhân của thành tựu đó là chủ trương mới của Đảng vềhoạt động kinh tế đối ngoại, trong đó có hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp nướcngoài vào Việt Nam Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành tháng 12/1987

đã tạo khuôn khổ pháp lý cơ bản cho các hoạt động đầu tư nước ngoài trực tiếp tại ViệtNam Luật đã có một số lần được sửa đổi, bổ sung, nổi bật là các lần sửa đổi vào nhữngnăm 1996 và năm 2002 nhằm tạo môi trường đầu tư thông thoáng, hấp dẫn hơn đểkhuyến khích các nhà đầu tư nuớc ngoài đầu tư vào những mục tiêu trọng điểm và nhữnglĩnh vực ưu tiên, nhất là trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo hướng vào xuất khẩu

và các vùng kinh tế trọng điểm của đất nước

Trang 4

Đối với Việt Nam, việc thu hút được các nguồn vốn FDI trong những năm qua có

ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước,nhất là trong hai thập niên đầu của thế kỷ XXI nhằm bổ sung một nguồn vốn quan trọngcho đầu tư phát triển, tạo ra thế và lực phát triển mới cho nền kinh tế Việt Nam

I.2 Khả năng thu hút vốn FDI của Việt Nam

Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam ngày càng mở cửa, hội nhập, các nhà đầu tưngày càng chú ý đến Việt Nam và khả năng thu hút FDI ngày một gia tăng về số dự ánđăng ký cấp phép, quy mô dự án cũng như lượng vốn đầu tư

a) Giai đoạn 1987-1990:

Những năm đầu của thời kỳ đổi mới, nước ta được đánh giá có lợi thế về lao độngdồi dào, chi phí thấp Tuy nhiên, trong 3 năm đầu khi thực hiện Luật đầu tư nước ngoài,kết quả thu hút vốn FDI còn ít (chúng ta đã cấp giấy phép cho 218 dự án với tổng vốnđăng ký 1417 tr USD Tốc độ tăng trưởng hàng năm đạt 255/năm Quy mô mỗi dự án đạtkhoảng 7tr.USD/dự án Lĩnh vực đầu tư chủ yếu trong thời kì này là thăm dò dầu khí32,2%, khách sạn 20,6% và bưu chính viễn thông, còn các lĩnh vực khác thì rất ít, hầunhư chưa được triển khai Tổng số vốn thực hiện của cả thời kì đạt 40tr.USD bằng 27%tổng vốn đăng kí)

FDI chưa thực sự tác động đến tình hình kinh tế - xã hội đất nước Do đây là mộtlĩnh vực còn rất mới đối với nước ta, chúng ta "vừa học, vừa làm", kinh nghiệm chưa cónhiều Mặt khác, đối với các nhà đầu tư nước ngoài, Việt Nam như “một vùng đất mới”vừa xa lạ, vừa hấp dẫn do đó họ thận trọng không dám mạo hiểm, vừa làm vừa thăm dò

Và vào lúc này, ngoài việc có được Luật đầu tư nước ngoài khá hấp dẫn và môi trườngkhá tự do trong đầu tư và kinh doanh, thì các cơ quan Nhà nước từ Trung ương đến địaphương chưa có được kinh nghiệm cần thiết đối với hoạt động FDI

Tuy thế những kết quả đạt được trên đây đã chứng minh triển vọng lạc quan củahoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại việt nam trong thời gian tới

b) Giai đoạn 1991-1996:

Giai đoạn này được xem là thời kỳ “bùng nổ” FDI tại Việt Nam, như “làn sóngFDI” đầu tiên vào Việt Nam Đây là giai đoạn mà môi trường đầu tư-kinh doanh tại Việt

Trang 5

Nam đã bắt đầu hấp dẫn nhà đầu tư do chi phí đầu tư-kinh doanh thấp hơn so với một sốnước trong khu vực; sẵn lực lượng lao động với giá nhân công rẻ, thị trường mới, vì vậy,FDI tăng trưởng nhanh chóng, có tác động lan tỏa tới các thành phần kinh tế khác vàđóng góp tích cực vào thực hiện các mục tiêu kinh tế-xã hội của đất nước

Tính từ năm 1991 đến năm 1996, chúng ta đã cấp giấy phép đầu tư cho 1765 dự ánvới tổng vốn đăng kí là 24927 tr.USD, trong đó chỉ riêng năm 1991, năm thấp nhất củathời kì, cũng đạt 1294 tr.USD, gần bằng cả ba năm của thời kì trước cộng lại Năm 1995Việt Nam thu hút được 6,6 tỷ USD vốn đăng ký, tăng gấp 5,5 lần so với năm 1991 (1,2 tỷUSD).Số vốn đầu tư tăng thêm đạt 2,13 tỷ USD Lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoàithu hút vào Việt Nam đạt mức cao nhất vào năm 1996 là 8258tr.USD gấp 5,6 lần thời kì1988-1990, gấp 24,5 lần 1988 và 6,3 lần năm 1991 Tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư bìnhquân hàng năm đạt 45%/năm Quy mô mổi dự án không ngừng tăng lên qua các năm

c) Giai đoạn 1997-2000:

Trong giai đoạn này xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực Đông Á,Đông Nam Á nên FDI vào Việt Nam có xu hướng chững lại, phần lớn là dự án nhỏ Cácnước đầu tư lớn nhất vào Việt Nam đều từ khu vực châu Á và phải đối mặt với những khókhăn thực sự tại quốc gia của mình Để bảo đảm cho hoạt động kinh doanh tại nướcmình, các nhà đầu tư này đã buộc phải huỷ hoặc hoãn các kế hoạch mở rộng ra nướcngoài Cuộc khủng hoảng buộc các nhà đầu tư phải sửa đổi thấp đi chỉ tiêu mở rộng sangcác nước khu vực châu Á Khủng hoảng tài chính dẫn đến việc đồng tiền của các nướcĐông Nam Á bị mất giá Việt Nam, do vậy, cũng trở nên kém hấp dẫn đối với những dự

án tập trung vào xuất khẩu

Trong 3 năm 1997-1999 có 961 dự án được cấp phép với tổng vốn đăng ký hơn 13

tỷ USD; nhưng vốn đăng ký của năm sau ít hơn năm trước (năm 1998 chỉ bằng 81,8%năm 1997, năm 1999 chỉ bằng 46,8% năm 1998), chủ yếu là các dự án có quy mô vốnvừa và nhỏ Cũng trong thời gian này nhiều dự án FDI được cấp phép trong những nămtrước đã phải tạm dừng triển khai hoạt động do nhà đầu tư gặp khó khăn về tài chính (đa

số từ Hàn Quốc, Hồng Kông)

Lượng vốn đầu tư tăng thêm trong giai đoạn này tăng gần gấp đôi so với thời kìtrước (4,17 tỷ USD)

Trang 6

Quy mô vốn đăng ký đạt 12,3 triệu USD/dự án, chứng tỏ số lượng các dự án quy

mô lớn được cấp phép trong giai đoạn này nhiều hơn trong 5 năm trước

d) Giai đoạn 2000-2005:

Từ năm 2000 đến 2003, dòng vốn FDI vào Việt Nam bắt đầu có dấu hiệu phục hồichậm Vốn đăng ký cấp mới năm 2000 đạt 2,7 triệu USD, tăng 21% so với năm 1999;năm 2001 tăng 18,2% so với năm 2000

Vụ nước Mỹ bị tấn công ngày 11 tháng 9 năm 2001 và cuộc chiến chống khủng bố

do Mỹ phát động làm cho tình hình kinh tế thế giới bất ổn, toàn cảnh đầu tư nước ngoàikhông mấy sáng sủa, Việt Nam được đánh giá là môi trường chính trị – xã hội ổn định, anninh, trật tự tốt nhất châu Á, là nơi đầu tư an toàn nhất châu Á – Thái Bình Dương, vớinhịp độ tăng trưởng đứng hàng thứ 2 sau Trung Quốc ở khu vực Đông Á Đây là một lợithế to lớn để Việt Nam trở thành điểm đến của FDI quốc tế và điểm sáng của du lịch, dịch

vụ, tài chính, tiền tệ quốc tế

Thế nhưng, năm 2002 vốn đăng ký giảm, chỉ bằng 91,6% so với năm 2001, năm

2003 (đạt 3,1 tỷ USD), tăng 6% so với năm 2002 Nguyên nhân FDI năm 2002 giảm là

do sự xuống dốc của nền kinh tế toàn cầu theo sau sự tan vỡ của bong bóng công nghệcao tại Mỹ năm 2000 cùng với khủng hoảng kéo dài tại Nhật bản đã ảnh hưởng nghiêmtrọng đến các nước châu Á

Từ năm 2004, dòng vốn FDI vào Việt Nam có xu hướng tăng nhanh (đạt 4,5 tỷUSD) tăng 45,1% so với năm trước; năm 2005 tăng 50,8% Theo kết quả điều tra củaNgân hàng Hợp tác Nhật Bản (JBIC), năm 2005 Việt Nam đứng thứ 4 trong số 10 quốcgia có triển vọng đầu tư nhất nhờ những lý do liên quan đến sản xuất như chi phí laođộng thấp, nguồn nhân lực chất lượng cao

I.3 Hình thức đầu tư

Trong giai đoạn đầu thu hút FDI vào Việt Nam (1988 – 1990), hình thức đầu tưnước ngoài chủ yếu vào Việt Nam là liên doanh, kế đến phải kể là hình thức hợp tác kinhdoanh Một trong những nguyên nhân lí giải cho sự lựa chọn đầu tư dưới 2 hình thức trên

là do trong thời kỳ đầu thu hút FDI, các nhà đầu tư nước ngoài còn chưa am hiểu về môitrường đầu tư, về khả năng thu lợi của Việt Nam, về những thủ tục pháp lý cần thiết, …

Trang 7

vì thế họ lựa chọn hình thức liên doanh và/hoặc hình thức hợp tác kinh doanh để tìm hiểuthêm về môi trường đầu tư của Việt Nam thông qua các đối tác liên doanh của mình.

Tính tới tháng 12 năm 2006, hình thức 100% vốn nước ngoài chiếm đến 76,18%

số dự án; 40,13% tổng vốn đầu tư thực hiện Tiếp theo là hình thức liên doanh với tỷtrọng chiếm đến 20,67% số dự án và 38,08% số vốn đầu tư thực hiện Các hình thức đầu

tư khác đã xuất hiện như hình thức liên doanh kiểu công ty mẹ – con, công ty cổ phần,hợp đồng BOT-BT-BTO hay hợp đồng hợp tác kinh doanh nhưng chiếm tỷ trọng rất nhỏ

BẢNG 1.Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo Hình thức ĐT 1988 – 2006

(tính tới ngày 18/12/2006 – chỉ tính các dự án còn hiệu lực)

Số vốn(TỷUSD)

Tỷtrọng(%)

Số vốn(tỷUSD)

Tỷtrọng(%)

Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và đầu tư

Sở dĩ hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài chiếm tỷ trọng cao là do saunhững năm đầu dè chừng khi quyết định đầu tư vào Việt Nam, nhà đầu tư đã hiểu thêm

về chính sách, luật pháp và phong tục tập quán, cách thức hoạt động kinh doanh ở ViệtNam Hơn nữa, thực tế khả năng của các bên đối tác Việt Nam trong liên doanh thườngyếu cả về vốn lẫn trình độ quản lý, dẫn đến hoạt động kinh doanh kém hiệu quả, hiệu quả

sử dụng vốn thấp Từ đó các đối tác nước ngoài có xu hướng rút dần ra khỏi liên doanh,mạnh dạn thành lập các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, đứng lên tự làm chủ toàn bộdoanh nghiệp mình bỏ vốn đầu tư

Trang 8

I.4 Cơ cấu vốn đầu tư:

Các dự án FDI đã góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế Việt Namtheo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

I.4.1 Theo ngành

- Công nghiệp - xây dựng:

Vốn đầu tư FDI chủ yếu tập trung vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng Qua mỗigiai đoạn, các lĩnh vực ưu tiên thu hút đầu tư, các sản phẩm cụ thể được xác định tạiDanh mục các lĩnh vực khuyến khích và đặc biệt khuyến khích đầu tư Trong những năm

90 thực hiện chủ trương thu hút FDI, Chính phủ ban hành chính sách ưu đãi, khuyếnkhích các dự án : (i) sản xuất sản phẩm thay thế hàng nhập khẩu, (ii) sản xuất hàng xuấtkhẩu (có tỷ lệ xuất khẩu 50% hoặc 80% trở lên), (iii) sử dụng nguồn nguyên liệu trongnước và có tỷ lệ nội địa hoá cao

- Dịch vụ:

Nước ta đã có nhiều chủ trương chính sách, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt độngkinh doanh dịch vụ phát triển từ khi thi hành Luật Đầu tư nước ngoài (1987) Nhờ vậy,khu vực dịch vụ đã có sự chuyển biến tích cực đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu sảnxuất, tiêu dùng và đời sống nhân dân, góp phần đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế Một sốngành dịch vụ (bưu chính viễn thông, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, vận tải hàng không,vận tải biển, du lịch, kinh doanh bất động sản) tăng trưởng nhanh, thu hút nhiều lao động

và thúc đẩy xuất khẩu

Sau gần 20 năm thu hút, FDI đã trải rộng khắp cả nước, không còn địa phương

“trắng” FDI Tuy nhiên, qua nghiên cứu tình hình đầu tư FDI vào các địa phương cho

Trang 9

thấy FDI tập trung chủ yếu tại các địa bàn trọng điểm, có lợi thế, về cơ sở hạ tầng, thủ tụchành chính tốt…góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương, làm cho các vùngnày thực sự là vùng kinh tế động lực, lôi kéo phát triển kinh tế-xã hội chung và các vùngphụ cận.

Ngoài một số địa phương vốn có ưu thế trong thu hút vốn FDI (Hà Nội, tp Hồ ChíMinh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa-Vũng Tàu, Hải Phòng, Quảng Ninh) một số địaphương khác (Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Phú Yên, Hà Tây ) do yếu tố tích cực của chínhquyền địa phương nên việc thu hút vốn FDI đã chuyển biến mạnh, tác động tới cơ cấukinh tế trên địa bàn Năm 2004 công nghiệp có vốn FDI chiếm 86% giá trị sản xuất côngnghiệp của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, 81% của tỉnh Vĩnh Phúc, 70% của tỉnh Đồng Nai,65% của tỉnh Bình Dương, 46% của Thành phố Hải Phòng, 35% của Thành phố Hà Nội

và 27% của thành phố Hồ Chí Minh Đối với Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đangchuyển dần sang trở thành trung tâm dịch vụ cao cấp của cả vùng (bưu chính, viễn thông,tài chính, ngân hàng ) cũng như hướng thu hút vốn FDI vào các ngành công nghệ caothông qua một số khu công nghệ cao (Quang Trung, Hòa Lạc)

Vùng trọng điểm miền Trung thu hút ngày càng nhiều vốn FDI, đứng đầu là PhúYên, Đà Nẵng;Quảng Nam cũng đã có nhiều tiến bộ trong thu hút vốn FDI, nhất là đầu tưvào xây dựng các khu du lịch, trung tâm nghỉ dưỡng, vui chơi đạt tiêu chuẩn quốctếnhưng nhìn chung vẫn còn dưới mức nhu cầu và tiềm năng của vùng

Tây Nguyên cũng ở trạng thái thu hút vốn FDI còn khiêm tốn như vùng Đông Bắc

và Tây Bắc Đồng bằng sông Cửu Long thu hút vốn FDI còn thấp so với các vùng khác

Tuy Nhà nước đã có chính sách ưu đãi đặc biệt cho những vùng có điều kiệnđịalý-kinh tế khó khăn nhưng việc thu hút FDI phục vụ phát triển kinh tế tại các địa bànnày còn rất thấp

Provincial distribution of FDI projects, 1988–2006

(Number of projects, percentage of total and dollars)

1.5 Đối tác đầu tư (chủ đầu tư)

Nhìn chung, ngày càng có nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia đầu tư tạiViệt Nam Tính đến hết năm 2005, có 74 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư vào

Trang 10

Việt Nam Nhìn chung, trong cả giai đoạn từ 1988 – 2005, các nước châu Á vẫn là nhữngđối tác đầu tư chủ yếu của Việt Nam, tỷ lệ dòng vốn từ châu Âu vẫn thấp và tăng chậm.Điều này đồng nghĩa với việc lượng vốn thu hút từ các nước sở hữu công nghệ nguồn cònrất thấp.

BẢNG 2 : 10 nhà đầu tư hàng đầu ở Việt Nam 1985-2005

Tỷ trọng(%)

Số vốn(tỷUSD)

Tỷ trọng(%)

Trang 11

Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Trong giai đoạn 1988 – 1996, FDI vào Việt Nam chủ yếu là từ các nước châu Á.Các nước châu Á chiếm tới 71,7% tổng vốn FDI đầu tư vào Việt Nam, trong đó các nướcASEAN chiếm 24,8% tổng vốn FDI đăng ký Năm nước châu Á là Đài Loan, Singapore,Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông chiếm hơn 65% tổng số vốn đăng ký vào Việt Nam.Châu Âu chiếm 20,5% và châu Mỹ chiếm 7,8% vốn FDI đăng ký ở Việt Nam giai đoạnnày (trong đó Mỹ chiếm tới 3,5% vốn FDI vào Việt Nam)

Đến giai đoạn 1997 – 1999, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính – tiền

tệ trong khu vực nên cơ cấu vốn FDI theo chủ đầu tư của Việt Nam cũng có sự thay đổi.Vốn FDI đăng ký của các nước ASEAN vào Việt Nam giảm rõ rệt, năm 1997 giảm47,9% so với năm 1996, năm 1998 giảm 8,9%, năm 1999 giảm 63% so với năm trước.Trong khi đó vốn FDI từ các nước châu Âu lại tăng lên

Giai đoạn 2000 – 2006 là giai đoạn phục hồi của nguồn vốn FDI vào Việt Nam.Trong giai đoạn này, cơ cấu vốn FDI đăng ký theo đối tác cũng có nhiều thay đổi Năm

2000, vốn FDI vào Việt Nam chủ yếu là từ châu Âu, chiếm 36,6% tổng vốn FDI vàoViệt Nam Vốn FDI từ các nước ASEAN vẫn tiếp tục giảm sút, chiếm 2,4% tổng vốnđăng ký Tuy nhiên vốn từ các nước Đông Á vào Việt Nam lại tăng lên rõ rệt, chiếm tới22,4% tổng vốn đăng ký Năm 2001, vốn FDI từ các nước châu Âu, châu Mỹ và Đông átiếp tục tăng mạnh, chiếm 44,5%; 4,6% và 28,7% tổng vốn đăng ký mới Vốn FDI từ cácnước ASEAN dần hồi phục, chiếm tới 13,7% tổng vốn đầu tư vào Việt nam Trong 2 năm

2002 – 2003, vốn FDI từ châu Âu tiếp tục giảm xuống, còn 80 triệu USD năm 2002 và 73triệu USD năm 2003 (so với mức gần 1.082 triệu năm 2001) Vốn FDI từ các nướcASEAN cũng giảm sút, nhưng khu vực Đông Á lại tích cực đầu tư vào Việt Nam, trởthành các chủ đầu tư lớn nhất ở Việt Nam, đặc biệt là 4 nước Đài Loan, Hồng Kông, NhậtBản, Hàn Quốc Đến hết năm 2004, châu Á vẫn là các chủ đầu tư lớn nhất tại Việt Nam,chiếm 67,8% tổng vốn đăng ký, châu Âu chiếm 11,2% tổng vốn đăng ký và châu Mỹchiếm 8% tổng vốn đăng ký vào Việt Nam

Tính đến năm 2006, Đài Loan, Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản, Hồng Kông vẫn

là 5 nước đứng đầu danh sách về đầu tư FDI vào Việt Nam, chiếm hơn 60% tổng vốn đầu

Trang 12

tư vào Việt Nam, sau đó mới đến các nước châu Âu, châu Mỹ Như vậy, tỷ lệ các dự ánđầu tư nước ngoài có sử dụng công nghệ cao, công nghệ nguồn còn thấp Trong số cácđối tác nước ngoài thì châu Âu và Hoa Kỳ đầu tư chưa lớn và chưa tương xứng với tiềmnăng của họ.

Bảng 3:Source countries of FDI, 1988–2006

(Number of projects, percentage of total and million dollars)

Trang 13

2 Giai đoạn 2005 đến nay

2.1 BôiBối cảnh kinh tế Việt Nam

2.1.1 Những đặc điểm chung của kinh tế thế giới giai đoạn 2005-2012

Điểm chính của nền kinh tế thế giới giai đoạn 2005-2012 là sự tăng trưởng nóngcủa nền kinh tế thế giới lên tới đỉnh cao vào năm 2007 và sau đó rơi vào cuộc Đại suygiảm tồi tệ nhất kể từ sau cuộc Đại suy thoái (1929-1933) Việc kinh tế thế giới phát triểnmạnh và không vững chắc cho tới trước năm 2007 chủ yếu bắt nguồn từ chính sách vĩ mônới lỏng thái quá của chính phủ Mỹ từ sau cuộc khủng hoảng dot.com vào năm 2000, sựtrỗi dậy nhanh chóng của các nược mới nổi: Brazil, Nga, Ấn Độ, Nam Phi, và đặc biệt làTrung Quốc (nhóm BRICS), đã tích tụ sự mất cần đối vĩ mô toàn cầu Những mất cân đốinày là điều kiện cơ bản để các dòng tài chính dịch chuyển với những khối lượng lớn chưatừng có trong lịch sử, vượt quá tầm hiểu biết và hiểu biết của giới chính sách, châm ngòicho cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ và sau đó lan ra các nước phát triển và đến lượt nókéo theo sự suy giảm về kinh tế trên toàn thế giới Từ những biến động này đã dẫn tới sựthay đổi to lớn trong tăng trưởng kinh tế, phát triểm công nghiệp, thương mại, giá cả, đầu

tư trực tiếp, và vai trò ngày càng tăng của các công ty xuyên quốc gia

Bước qua giai đoạn từ 2010 đến nay, nền kinh tế thế giới chứng kiến sự phục hồicủa những “ông lớn” nhưng vẫn còn chứa nhiều nguy cơ về việc làm, vốn, nợ công;những thay đổi đáng kể của nhóm BRICS cũng như những cuộc khủng hoảng nghiêmtrọng ở khối EU Nhưng nhìn chung thì nền kinh tế thế giới đang có những cái nhìn khálạc quan Ta có thể xem xét các bảng thống kê về dòng vào FDI (inflows) trên toàn thếgiới và theo khu vực và Cơ cấu FDI theo khu vực trên thế giới

2.1.2 Bối cảnh nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2005 đến nay

Trong giai đoạn 2005-2010, đà tăng trưởng của Việt Nam có dấu hiệu chậm lạitrong nửa đầu của giai đoạn (2005-2007) với những bất ổn vĩ mô bắt đầu tích tụ và bộc

lộ Điển hình là chính sách kích thích kinh tế thông qua nới lỏng tín dụng bắt nguồn từnhững năm đầu thấp niên 2000 để chống lại suy giảm tăng trưởng vào khoảng năm 1999-

2000 đã tích tụ nguyên nhân gây ra lạm phát cao giữa năm 2007 và sắp tới là nguy cơkhủng hoảng bất động sản Thêm vào đó việc gia nhập Tổ chức thương mại thế giớiWTO vào cuối năm 2006 mở ra một thời kì hội nhập sâu rộng chưa từng có, khiến mức

Trang 14

giao lưu thương mại và đầu tư quốc tế tăng vọt, dẫn đến những bất ổn do dòng vốn vào(cả đầu tư trực tiếp và gián tiếp) tăng mạnh, khiến việc kiểm soát vĩ mô trở nên lung túng.Cộng với cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới trong hai năm 2008 và 2009, tăng trưởngkinh tế ở mức thấp đi liền với lạm phát cao (đặc biệt trong 2008), thâm hụt thương mại vàthâm hụt ngân sách đều cao Năm 2010 được xem là năm bản lề để ổ định kinh tế vĩ mô,khắc phục các khó khăn sau khủng hoảng và lấy lại đà tăng trưởng cho giai đoạn tiếptheo Nền kinh tế sau đó đã đạt được mực tăng trưởng khá ổn định và ấn tượng, nhưngđằng sau những con số này còn quá nhiều bất cập như chính sách vĩ mô chưa hợp lí, chưagiải quyết triệt để được các vấn nạn như đầu cơ, lãi suất…Bên cạnh đó trong khoảng từ

2011 tới đầu 2012, lại tiếp tục chứng kiến bức tranh ảm đạm của nền kinh tế: sự biếnđộng không ngừng của CPI, lạm phát, thâm hụt ngân sách, những kẻ hở trong tín dụng,các doanh nghiệp lại gặp khó khăn trong việc tiếp cận vốn Dẫn tới nhiều doanh nghiệpViệt phá sản, thị trưởng chứng khoán và bất động sản không mấy khả quan và có nguy cơsụp đổ

2.2 Khả năng thu hút FDI của Việt Nam

*Về phía chính sách, chủ trương của Nhà nước

Quan điểm của chính phủ về FDI đã có sự thay đổi rõ rệt Vai trò của FDI đối vớinền kinh tế đã được đánh giá đúng và rõ rang hơn rằng khu vực có vốn đầu tư nướcngoài đã đóng góp quan trọng vào GDP với tỷ trọng ngày càng tăng Khu vực này gópphần tăng cường năng lực sản xuất và đổi mới công nghệ của nhiều ngành kinh tế, khaithông thị trường sản phẩm (đặc biệt là trong gia tăng kim ngạch xuất khẩu hànghoá), đóng góp cho ngân sách nhà nước và tạo việc làm cho một bộ phận lao động Bêncạnh đó, FDI có vai trò trong chuyển giao công nghệ và các doanh nghiệp có vốn đầutưnước ngoài tạo sức ép buộc các doanh nghiệp trong nước phải tự đổi mới công nghệ,nâng cao hiệu quả sản xuất Các dự án FDI cũng có tác động tích cực tới việc nâng caonăng lực quản lý và trình độ của người lao động làm việc trong các dự án FDI, tạo rakênh truyền tác động tràn tích cực hữu hiệu Khác với ODA là FDI không gây tình trạng

nợ nần cho các thế hệ mai sau Khi bỏ vốn đầu tư vào Việt Nam chủ đầu tư buộc phảiquan tâm làm sao cho tiền đẻ ra tiền

Trang 15

Với việc ban hành Luật Doanh nghiệp năm 2005, pháp luật Việt Nam đã mở rộngquyền góp vốn, thành lập công ty và doanh nghiệp tư nhân tại Việt Nam cho các tổ chức,

cá nhân nước ngoài Đây là lần đầu tiên, một đạo luật do Quốc hội ban hành đã khẳngđịnh "tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài có quyền thành lập vàquản lý doanh nghiệp tại Việt Nam" trừ trường hợp bị cấm với những qui định giốngnhau mà không quan tâm đến vấn đề quốc tịch” Như vậy, Luật Doanh nghiệp 2005 đãkhẳng định quyền bình đẳng giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài trongviệc thành lập, quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo những qui định chung thốngnhất Không những vậy những đạo luật này còn cam kết thực hiện theo các nguyên tắcchung của nền kinh tế thế giới Cùng với Luật doanh nghiệp, việc ban hành Luật đầu tư

2005 đã tạo buốc tiến dài trong việc điều chỉnh, cải tiến môi trường đầu tư của Việt Nam

để tạo thêm hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài Ngoài ra việc đẩy mạnh tháo gỡnhững khó khăn vướng mắc cho các nhà đầu tư nước ngoài, chỉnh sửa thuế thu nhập cánhân theo hướng hạ thấp mức thuế, đẩy mạnh việc thực hiện cơ chế mở cửa giảm giá dịch

vụ viễn thông xuống ngang bằng mức giá tại các nước trong khu vực, nâng cấp cơ sở hạtầng mở rộng lĩnh vực đầu tư cho phép các doanh nghiệp nước ngoài được đầu tư vàomột số lĩnh vực trước đây chưa cho phép như viễn thông, bảo hiểm kinh doanh siêu thịngân hàng…cũng góp phần tạo nên một môi trường đầu tư hấp dẫn ở Việt Nam Đặc biệthơn cả đó là hình thức mua lại và sáp nhập được Nhà nước chấp nhận là một hình thứccủa FDI

Tuy nhiên, về mặt chính sách vẫn còn một số vấn đề: tư tưởng bảo hộ các doanhnghiệp Việt Nam trong hoạt động xuất nhập khẩu (XNK) và bảo vệ nền sản xuất trongnước thể hiện khá rõ trong các qui định về quyền kinh doanh XNK hiện nay Theo Nghịđịnh 12/2006/NĐ-CP, những doanh nghiệp không có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cóquyền kinh doanh XNK khá rộng rãi mà không phụ thuộc vào ngành nghề, mặt hàng ghitrong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.Song, việc XNK của những doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài đang bị hạn chế khá nhiều bằng các biện pháp pháp lý khácnhau và thực tiễn thi hành Khái niệm về "quyền xuất khẩu", "quyền nhập khẩu" của cácdoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bị thu hẹp rất nhiều so với các doanh nghiệp ViệtNam khác Bên cạnh đó, một số cam kết quốc tế gặp khó khăn trong thực tiễn thi hành và

Trang 16

tạo nên sự bất bình đẳng nhất định giữa các công ty có vốn đầu tư nước ngoài và công tykhông có vốn đầu tư nước ngoài chẳng hạn như cam kết về tỷ lệ biểu quyết trong cáccông ty ở dự án 502.

Về mặt thủ tục hành chính, luật Doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn như Nghịđịnh 43/2010/NĐ-CP, Thông tư 14/2010/TT-BKH của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đều quiđịnh thủ tục rất đơn giản, dễ dàng để thành lập doanh nghiệp và thay đổi nội dung đăng

ký kinh doanh; tuy nhiên, thiết chế hạ tầng của chúng ta chưa thích hợp cho những quiđịnh thông thoáng, đơn giản đó phát huy hiệu quả trong thưc tiễn Chẳng hạn, những giandối về thông tin đăng ký doanh nghiệp vẫn dễ dàng được thực hiện mà Nhà nước và xãhội thiếu cơ chế giám sát, kiểm tra; nhiều cán bộ công chức có thẩm quyền vẫn gây khó

dễ cho doanh nghiệp để đòi hối lộ, nhiều qui định của pháp luật chưa thống nhất cònnhiều bất cập, hạn chế

Nhìn chung, hệ thống luật định về đầu tư đã có những bước tiến dài đáng kể dùvẫn còn một vài thiếu sót nhưng đã giúp Việt Nam trở thành một trong những điểm đầu

tư hấp dẫn Nhưng vấn đề quản lý vẫn còn nhiều bất cập, sự giám sát các daonh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài còn long lẽo dễ dẫn tới hiện tượng chuyển giá không đem lạiđược nguồn lợi cho quốc gia từ FDI, vấn đề thầu khoáng còn chưa được minh bạch ÔngJonathan Pincus, hiệu trưởng Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright tại TP HCM đãnhận xét về cách quản lý của Nhà nước ta “Họ đổ lỗi cho khủng hoảng tài chính toàn cầunăm 2008 hơn là thực trạng tham nhũng, nổ bong bóng tài chính và bất động sản, quyếtđịnh đầu tư kém cỏi của các doanh nghiệp nhà nước và quản lý vĩ mô yếu kém của chínhphủ” Đây có thể là dấu hiệu mà chính phủ cần phải quan tâm trong việc thu hút FDI và

sử dụng nguồn lực này một cách có hiệu quả

*Về môi trường kinh tế xã hội

FDI vào Việt Nam tăng nhanh còn do các nguyên nhân quan trọng khác như: sự ổnđịnh về chính trị, kinh tế, an ninh và quốc phòng; nền kinh tế Việt Nam liên tục đạt mứctăng trưởng cao; công cuộc đổi mới kinh tế theo cơ chế thị trường tiếp tục được duy trì vàđẩy mạnh; mức sống của người dân được nâng cao góp phần làm tăng mức cầu nội địa;

Trang 17

tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế được đẩy mạnh, uy tín và thương hiệu của các loạihàng hóa sản xuất tại Việt Nam trên các thị trường thế giới ngày càng được nângcao Trong những năm gần đây, Việt Nam đã thu hút được một lượng đầu tư trực tiếpnước ngoài (FDI) ngày càng lớn Từ ở mức gần như con số không vào năm 1986, vốnđăng ký FDI đã tăng lên 64 tỷ USD năm 2008, hiện nay Việt Nam hiện có 10.700 dự ánđầu tư trực tiếp của 90 quốc gia và vùng lãnh thổ đang hoạt động với tổng số vốn đầu tưgần 170 tỉ USD

Tuy nhiên bước sang giai đoạn 2009 tới nay khi giá cả leo thang, lạm phát ở mứchai con số, thì các vẫn đề bắt đầu xuất hiện làm suy giảm khả năng thu hút đâu tư từ nướcngoài Môi trường kinh doanh tại Việt Nam trong mấy năm gầy đây đã trở nên khó khănhơn nhiều và không còn hấp dẫn như trước Từ năm 2008 tới nay, chỉ số giá tiêu dùng(CPI) của Việt Nam đã vượt mức 20% trong nhiều tháng do nhập khẩu vượt xuất khẩu và

sự mất giá liên tục của VND

Ngoài ra, chi phí lao động tăng cao cũng dẫn tới tình trạng ngày càng có nhiềucuộc đình công của người lao động đòi tăng lương Báo chí trong nước cho biết, năm

2011 đã có 978 cuộc đình công, so với mức 541 cuộc vào năm 2007, cho dù Chính phủViệt Nam đã tăng lương cơ bản vào tháng 10 năm ngoái Người lao động Việt Nam đangtrở nên đòi hỏi hơn vì tình trạng thiếu lao động có kỹ năng vẫn còn tồn tại Ở thời điểmcuối năm 2010, hãng điện tử Foxconn của Đài Loan tại Việt Nam chỉ tìm được 3.000 laođộng cho dây chuyền lắp ráp cần 5.000 nhân công Bên cạnh đó, các doanh nghiệp nướcngoài ở Việt Nam còn gặp những khó khăn khác: đường xá còn chưa hoàn thiện, tìnhtrạng mất điện bất ngờ… là một vài trong số đó “Những khó khăn khi đầu tư vào ViệtNam cũng không khác so với ở các thị trường mới nổi khác: luật pháp chưa hoàn thiện,

cơ sở hạ tầng yếu kém, hệ thống tài chính kém phát triển… Nhưng từ năm 2007, ViệtNam còn chịu tốc độ lạm phát cao, đồng tiền mất giá và tình trạng thiếu USD”, ông TaiHui, Giám đốc nghiên cứu khu vực Đông Nam Á của ngân hàng Standard CharteredBank, nhận xét Trên thực tế, báo cáo Doing Business của Ngân hàng Thế giới (WB) nămnay tiếp tục đánh tụt điểm môi trường kinh doanh của Việt Nam xuống vị trí 98/183 quốcgia, giảm 11 bậc so với năm 200

Trang 18

Dù xuất hiện với những con số không ấn tượng trên nhưng nhờ cả những nguyênnhân chủ quan và khách quan (các nhà sản xuất không muốn đặt trụ sở quá nhiều ở TrungQuốc, lũ lụt và tình hình bất ổn 2010 ở Thái Lan, một số cải cách kinh tế của Nhà nước)Việt Nam vẫn còn là điểm đến hấp dẫn Những công ty sản xuất hàng giá rẻ, chẳng hạn

đồ dệt may, để tiêu thụ ngay ở Việt Nam vẫn có thể làm ăn có lãi Ngoài ra, các nhà máyđặt ở các khu vực xa thành phố cũng có lực lượng công nhân đông đảo - những người laođộng địa phương có thể tiết kiệm chi phí khi sống tại nhà và đến nhà máy làm việc mỗingày Theo ông Thomas Thang, một lãnh đạo của Hiệp hội Doanh nghiệp Hồng Kông tạiViệt Nam, nhiều doanh nghiệp khác cũng tính sẽ ở lại Việt Nam vì tin rằng, Chính phủ sẽgiải quyết được các khó khăn kinh tế hiện nay Ông Tomoyuki Kimura, Giám đốc Ngânhàng Phát triển Châu Á (ADB) tại Việt Nam nhận định, việc Chính phủ cắt giảm thuế vàphát triển hệ thống ngân hàng là hai hoạt động hỗ trợ cho các doanh nghiệp nước ngoài.Chưa kể, gần đây, Ngân hàng Nhà nước đã hạ lãi suất cơ bản từ 14% về 13%, giúp cácdoanh nghiệp tiếp cận vốn dễ hơn Mặc dù một số quốc gia và vùng lãnh thổ đã cắt giảmđầu tư vào Việt Nam trong năm ngoái, vốn đầu tư từ Hồng Kông vào Việt Nam lại tăngkhá mạnh do các nhà sản xuất của vùng lãnh thổ này chuyển sản xuất khỏi Trung Quốc.Nhật Bản cũng duy trì ổn định lượng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam Các nhà sảnxuất của Nhật muốn tìm kiếm một địa chỉ sản xuất ổn định sau thảm họa động đất vàsóng thần cũng như trận lụt lịch sử ở Thái Lan Năm ngoái, vốn FDI của Nhật cam kếtvào Việt Nam là 2,44 tỷ USD, tăng so với 2,4 tỷ USD trong năm 2010, và chỉ đứng sauHồng Kông

Từ việc phân tích cả hai khía cạnh chính thu hút đầu tư có thể đi đến những tổngkết sau:

Trong bối cảnh hiện nay, khi FDI đã bắt đầu bộc lộ những mảng tối, chúng cần

có sự thay đổi toàn diện về chiến lược thu hút và phát triển doanh nghiệp FDI Khi tiệmcận dần tới ngưỡng là nước có thu nhập trung bình, Việt Nam có lẽ cần có sự chủ độngcao hơn trong việc thu hút và lựa chọn đầu tư Chiến lược xúc tiến đầu tư (promotion)cần được thay bằng chiến lược hấp dẫn đầu tư (attraction): tức là, Việt Nam cần chủ động

và có tiêu chí lựa chọn kỹ càng hơn các đối tác chiến lược và các nhà đầu tư chiến lược

Trang 19

Ưu tiên cao nhất là khả năng tạo lợi nhuận và sự lan truyền về công nghệ và quản lý củacác nhà đầu tư nước ngoài tiềm năng Ưu tiên cao nhất là khả năng tạo lợi nhuận và sựlan truyền về công nghệ và quản lý của các nhà đầu tư nước ngoài tiềm năng Tránh việcthu hút FDI tập trung vào số lượng, nhấn mạnh vào đóng góp về lượng của FDI, với cáigiá phải trả khá lớn về môi trường, tài nguyên và xã hội Không phải cứ doanh nghiệpnước ngoài là tốt hơn, là hiệu quả cao hơn và tuân thủ tốt hơn luật pháp Việt Nam.Việclựa chọn đối tác chiến lược có lẽ cần căn cứ vào thực tiễn đầu tư của các doanh nghiệpFDI ở Việt Nam Những nền kinh tế có các nhà đầu tư FDI kinh doanh hiệu quả tại ViệtNam, đóng góp nhiều thuế thu nhập tại Việt Nam cần được coi là các đối tác chiến lượctrong công tác hút đầu tư của Việt Nam.

Xét cho cùng, sự mệnh quan trọng nhất của doanh nghiệp chính là tạo lợi nhuận

và qua đó đóng góp cho xã hội.Chính vì vậy, bên cạnh việc có các chính sách kiểm soáthoạt động chuyển giá, Nhà nước và xã hội cần đánh giá cao và có biện pháp tôn vinhđúng mức các doanh nghiệp FDI làm ăn nghiêm túc, đạt lợi nhuận cao và đóng góp lớncho ngân sách nhà nước của Việt Nam

2.3 Cơ cấu vốn đầu tư

2.3.1 Theo lĩnh vực đầu tư

Trang 20

a Chi tiết

 Giai đoạn 1998 - 2005:

Ở giai đoạn này nước ta tập trung vào Công nghiệp khi các dự án thuộc lĩnh vựcnày chiếm trên 67% tổng dự án, tiếp đến là dịch vụ và cuối cùng là Nông Lâm Ngưnghiệp Nhìn trên biểu đồ ta thấy đến khi thực hiện thì lượng đầu tư thực tế vào khu vực 3

có xu hướng giảm dần, còn 2 khu vực còn lại thì nhích nhẹ Trong giai đoạn này nhànước ta đang thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa, tập trung vào công nghiệp và dịchvụ

 Giai đoạn 2006-2007

Trang 21

FDI theo nhóm ngành năm 2007

Năm 2006 đã đánh dấu một bước chuyển mới về chất mà cụ thể chúng ta đã thuhút được nhiều dự án lớn của các tập đoàn xuyên quốc gia có công nghệ cao Lần đầutiên Việt Nam có những dự án công nghiệp lớn trên một tỷ USD và lần đầu tiên chúng tathu hút được những dự án công nghệ cao như dự án đầu tư sản xuất chíp điện tử của Intelvới số vốn ần 1 tỷ USD Nhiều tập đoàn công nghiệp lớn trên thế giới đã chọn Việt Nam

là điểm đầu tư sản xuất cho cả khu vực, đưa Việt Nam tham gia vào chu trình sản xuấtmang tính toàn cầu của các tập đoàn lớn Bên cạnh ngành công nghiệp (chiếm tỷ trọng59%), bất động sản là điểm sáng trong năm khi thu hút lượng vốn lớn vào các khu du lịch

và đô thị mới (chiếm 28%)

Tính đến hết năm 2007 lĩnh vực công nghiệp và xây dựng có tỷ trọng lớn nhất với5.745 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký hơn 50 tỷ USD, chiếm 66,8% về số dự án,61% tổng số vốn đăng ký và 68,5% vốn thực hiện

Trang 22

Trong năm 2007 tuy FDI tiếp tục tập trung vào lĩnh vực công nghiệp (chiếm50,6%) nhưng đã có sự chuyển dịch cơ cấu đầu tư mạnh sang lĩnh vực dịch vụ chiếm47,7% tổng số vốn đăng ký của cả nước, tăng 16,5% so với 2006 (31,19%) với nhiều dự

án xây dựng cảng biển, kinh doanh bất động sản, xây dựng khu vui chơi giải trí

Lĩnh vực nông-lâm-ngư nghiệp có 933 dự án còn hiệu lực với tổng số vốn đăng kýhơn 4,4 tỷ USD, đã thực hiện khoảng 2,02 tỷ USD; chiếm 10,8% về số dự án; 5,37% tổng

số vốn đăng ký và 6,9% vốn thực hiện (giảm từ 7,4% so với 2006) Trong đó các dự án

về chế biến nông sản, thực phẩm chiếm tỉ trọng lớn nhất 53,71% tổng vốn đăng ký củangành Các dự án hoạt động có hiệu quả bao gồm chế biến mía, đường, gạo, xay xát bột

mì, sắn, rau Tiếp theo là các dự án trồng rừng và chế biến lâm sản, chiếm 24,67% Cuốicùng là lĩnh vực trồng trọt, chỉ chiếm gần 9% tổng số dự án Có 130 dự án thủy sản với

số vốn dăng ký là 450 triệu đồng

Một số ngành dịch vụ (bưu chính viễn thông, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, vậntải hàng không, vận tải biển, du lịch, kinh doanh bất động sản) tăng trưởng nhanh, thu hútnhiều lao động và thúc đẩy xuất khẩu Cùng với việc thực hiện lộ trình cam kết thương

Trang 23

mại dịch vụ trong WTO, Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh thu hút FDI, phát triển các ngànhdịch vụ trực tiếp phục vụ sản xuất xuất khẩu.

 Năm 2008: năm 2008 chứng kiến sự lên ngôi của công nghiệp và xây dựng với

572 dự án với tổng vốn đăng ký 32,62 tỷ USD chiếm 54,12% và chiếm 48,85 về

số dự án Lĩnh vực dịch vụ có 554 dự án với tổng số vốn đăn ký 27,4 tỷ USDchiếm 45,4% và chiếm 47,3% về số dự án Số còn lại thuộc lĩnh vực nông-lâm-ngư nghiệp

Bất chấp sự sụt giảm của thị trường nhà đất và sự rút lui thông qua con đường sangnhượng dự án của các doanh nghiệp trong nước, dòng vốn FDI trong năm 2008 đổ vàolĩnh vực này vẫn tăng vọt Dưới đây là những dự án tiêu biểu của năm:

+ Dự án Công ty TNHH Thép Vinashin – Lion (Malaysia) có vốn đăng ký 9,8 tỷ USD+ Dự án Công ty Gang thép Hưng Nghiệp Formosa của Đài Loan 7,9 tỷ USD

+ Dự án Nhà máy lọc dầu Nghi Sơn (Thanh Hóa) của Nhật Bản và Kuwait liên doanh 6,2

tỷ USD

Trang 24

+ Dự án Công ty TNHH New City Việt Nam 4,3 tỷ USD.

+ Dự án Hồ Tràm của Canada trên $,2 tỷ USD

Dịch vụ-Thương mại

Biểu đồ: FDI ở Việt Nam năm 2009 theo lĩnh vực

Trang 25

So với năm 2008, cơ cấu vốn theo ngành có thay đổi lớn Dịch vụ tăng mạnh(31,54%), trong khi đó Công nghiệp giảm 31,72% còn 22,4%, Nông lâm nghiệp thủy sảnthì không có thay đổi nhiều, vẫn ở mức thấp nhất trong 3 khu vực

Cũng trong năm 2009, dịch vụ lưu trú và ăn uống vẫn là lĩnh vực thu hút sự quantâm lớn nhất của các nhà đầu tư nước ngoài với 8,8 tỷ USD vốn cấp mới và tăng thêm.Trong đó, có 32 dự án cấp mới với tổng vốn đầu tư là 4,9 tỷ USD và 8 dự án tăng vốn với

số vốn tăng thêm là 3,8 tỷ USD Kinh doanh bất động sản đứng thứ 2 với 7,6 tỷ USD vốnđăng ký mới và tăng thêm Trong đó có một số dự án có quy mô lớn được cấp phép trongnăm như Khu du lịch sinh thái bãi biển rồng tại Quảng Nam, dự án Công ty TNHH thànhphố mới Nhơn Trạch Berjaya tại Đồng Nai và dự án Công ty TNHH một thành viênGalileo Investment Group Việt Nam có tổng vốn đầu tư lần lượt là 4,15 tỷ USD, 2 tỷUSD và 1,68 tỷ USD Lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo có quy mô vốn đăng ký lớnthứ ba trong năm 2009 với 2,97 tỷ USD vốn đăng ký, trong đó có 2,22 tỷ USD đăng kýmới và 749 triệu USD vốn tăng thêm

Tài chính,n.hàng,bảo hiểm

Nông,lâm

nghiệp;thủ

y sảnDịch v

ụ khác

Cấp n

ước;x

ử lý c

hất thải

Hành

chính

và dv

ụ hỗ trợ

Y tế v

à trợ

giúp XH

Khai

khoá

ng -200.0

Trang 26

Với 1 dự án kinh doanh bất động sản có quy mô vốn 4 tỷ USD được cấp vào tháng

12, lĩnh vực kinh doanh bất động sản vươn lên đứng thứ nhất Trong đó có 27 lượt dự áncấp mới và 6 dự án tăng vốn, tổng vốn đầu tư đăng ký mới và tăng thêm là 6,84 tỷ USD,chiếm 36,8% tổng vốn đầu tư đăng ký vào Việt Nam Dự án có quy mô lớn được cấpphép trong tháng 12 là Công ty TNHH phát triển Nam Hội An (Khu nghỉ dưỡng Nam HộiAn) vốn đầu tư 4 tỷ USD do nhà đầu tư Singapore đầu tư tại Quảng Nam

Trong năm 2010, lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, lĩnh vực thế mạnh và làlĩnh vực thu hút được sự quan tâm lớn nhất của nhà đầu tư nước ngoài luôn duy trì ở vị trícao Lĩnh vực này dẫn đầu về số lượt dự án đăng ký cấp mới và dự án tăng vốn đầu tưtrong năm 2010 Có 385 dự án cấp mới với tổng vốn đầu tư trên 4 tỷ USD và 199 dự ántăng vốn với số vốn tăng thêm là 1 tỷ USD, tổng vốn đầu tư đăng ký mới và tăng thêm là5,1 tỷ, chiếm 27,3% tổng vốn đầu tư đăng ký Đứng thứ 3 là lĩnh vực sản xuất phân phốiđiện, khí nước, điều hòa với 6 dự án đầu tư có tổng vốn đầu tư đăng ký mới và tăng thêm

là 2,95 tỷ USD, chiếm 15,9% tổng vốn đầu tư đăng ký trong năm 2010

tư (tỷUSD)

Tỷ trọng vốnđầu tư (%)

CN chế biến, chế tạo 435 7.123 48.5

Sản xuất phân phối điện - 2.53 17.2

Kinh doanh bất động sản - 845.6 5.8

Trang 27

Kinh doanh bất động sản Khác

Lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo là lĩnh vực thu hút được nhiều sự quan tâmcủa nhà đầu tư nước ngoài với 435 dự án đầu tư đăng ký mới, tổng số vốn cấp mới vàtăng thêm là 7,123 tỷ USD, chiếm 48,5% tổng vốn đầu tư đăng ký trong 12 tháng Lĩnh vựcsản xuất phân phối điện đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm

là 2,53 tỷ USD, chiếm gần 17,2% tổng vốn đầu tư Đứng thứ 3 là lĩnh vực xây dựng với

140 dự án đầu tư mới, tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 1,25 tỷ USD,chiếm 8,5% Tiếp theo là lĩnh vực kinh doanh bất động sản với tổng số vốn đăng ký cấpmới và tăng thêm là 845,6 triệu USD, chiếm 5,8%

 3 tháng đầu năm 2012:

Chuyên ngành Số dự

án

Tổng vốnđầu tư (tỷUSD)

Tỷ trọngvốn đầu

tư (%)Kinh doanh bất động sản 2 1.2 45.5

Công nghiệp chế biến chế tạo 51 1.17 44.6

Trong 3 tháng đầu năm 2012, lĩnh vực kinh doanh bất động sản có tổng vốn đầu tưđăng ký lớn nhất với 2 dự án, tổng vốn đăng ký hơn 1,2 tỷ USD (chiếm 45,5% tổng vốnđăng ký), do có 1 dự án lớn mới được cấp phép vào đầu tháng 3 tại Bình Dương với vốnđầu tư 1,2 tỷ USD Lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo có 51 dự án đầu tư đăng ký

Ngày đăng: 30/06/2022, 09:02

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng giá trị Δ và loại HCHC tương ứng( có thể có) - THỰC TRẠNG FDI Ở VIỆT NAM TỪ 1987 ĐẾN NAY
Bảng gi á trị Δ và loại HCHC tương ứng( có thể có) (Trang 6)
vì thế họ lựa chọn hình thức liên doanh và/hoặc hình thức hợp tác kinh doanh để tìm hiểu thêm về môi trường đầu tư của Việt Nam thông qua các đối tác liên doanh của mình. - THỰC TRẠNG FDI Ở VIỆT NAM TỪ 1987 ĐẾN NAY
v ì thế họ lựa chọn hình thức liên doanh và/hoặc hình thức hợp tác kinh doanh để tìm hiểu thêm về môi trường đầu tư của Việt Nam thông qua các đối tác liên doanh của mình (Trang 7)
BẢNG 2: 10 nhà đầu tư hàng đầu ở Việt Nam 1985-2005 - THỰC TRẠNG FDI Ở VIỆT NAM TỪ 1987 ĐẾN NAY
BẢNG 2 10 nhà đầu tư hàng đầu ở Việt Nam 1985-2005 (Trang 10)
Bảng 3:Source countries of FDI, 1988–2006 - THỰC TRẠNG FDI Ở VIỆT NAM TỪ 1987 ĐẾN NAY
Bảng 3 Source countries of FDI, 1988–2006 (Trang 12)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w