Trải qua từng giai đoạn của công trình nghiên cứu, được đồng hành, khám phá, nhận ra những trăn trở của các bạn học sinh và của bản thân về nhiều khía cạnh khác nhau về vấn đề QRTD bằng
Trang 1S GIÁO D C VÀ ĐÀO T O THÀNH PH ĐÀ N NG Ở Ụ Ạ Ố Ẵ
Mã d án: ự
Tên đ tài: ề
Phòng ng a qu y r i tình d c h c đ ừ ấ ố ụ ọ ườ ng b ng l i ằ ờ nói cho h c sinh trung h c ph thông trên đ a bàn ọ ọ ổ ị
Tên lĩnh v c: ự Khoa h c xã h i và hành vi ọ ộ
Đà n ng, tháng 11 năm 2020 ẵ
0
Trang 2MỤC LỤC
Trang
I GIỚI THIỆU VÀ TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 02
1.1 Giới thiệu 02
1.2 Tổng quan tài liệu 02
II GIẢ THUYẾT KHOA HỌC VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 04
2.1 Giả thuyết khoa học 04
2.2 Câu hỏi nghiên cứu 04
III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 04
3.1 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu 04
3.2 Phương pháp thu thập dữ liệu 05
3.3 Phương pháp xử lí dữ liệu 05
IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 05
4.1 Các dạng đối tượng (quấy rối và bị quấy rối) trong học đường 06
4.2 Các nhóm lời nói QRTD 08
4.3 Các điều kiện, bối cảnh xuất hiện lời nói quấy rối 09
4.4 Phản ứng, hành động của người bị quấy rối/chứng kiến người bị quấy rối 10
V THẢO LUẬN 10
5.1 Tóm tắt kết quả 12
5.2 Đề xuất giải pháp 12
5.3 Kết luận 13
TỔNG KẾT 14 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3I GIỚI THIỆU VÀ TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Giới thiệu
Bao vây đời sống tâm lí học đường của học sinh là rất nhiều vấn đề liên quan đến các lĩnh vực từ việc học tập, quan hệ với thầy cô, bạn bè đến các hoạt động ngoại khóa hay những buổi sinh hoạt dưới cờ Đặc biệt, ở bất kì hoạt động nào thì học sinh cũng trải qua những vấn đề về tâm lí do nhiều yếu tố khác nhau Trong quá trình tìm kiếm đề tài nghiên cứu khoa học xã hội và hành vi, chúng tôi đã phát hiện rất nhiều vấn đề liên quan đến giới tính, nhất là tình dục của tuổi học sinh THPT Trải qua từng giai đoạn của công trình nghiên cứu, được đồng hành, khám phá, nhận ra những trăn trở của các bạn học sinh
và của bản thân về nhiều khía cạnh khác nhau về vấn đề QRTD bằng lời nói, chúng tôi đã thu thập được những số liệu khách quan, đáng chú ý và tìm thấy điểm tương đồng giữa cả hai nhóm đối tượng Thực tế, QRTD học đường tồn tại ở nhiều hình thức: QRTD bằng lời nói (verbal sexual harassment), phi lời nói (non-verbal sexual harassment), và QRTD bằng hành động (physical sexual harassment) Đã có nhiều công trình nghiên cứu, các hoạt động được thông tin đại chúng đề cập đến hai hình thức sau cùng, thế nhưng việc sử dụng lời nói để QRTD - xuất hiện với tần suất đáng báo động, tuy không gây ra những hậu quả trực tiếp về mặt thể xác như hành động nhưng nó để lại vô số tác động nặng nề lên tâm lí lại chưa được giáo dục phổ biến trong học sinh Hơn thế, đôi khi những phát ngôn mà chính bản thân người nói câu ấy lại không nhận thức được đó là một dạng của quấy rối Do đó, ngày nay, tình trạng quấy rối thông qua lời nói lại vô thức trở nên phổ biến trong học đường Hiện tượng này không những ảnh hưởng xấu đến quá trình phát triển tâm sinh lí của học sinh mà còn gây tác động tiêu cực đến truyền thống giáo dục trong nhà trường Cùng với nhận trải nghiệm của bản thân và những yếu tố nêu trên đã trở thành động lực khiến chúng tôi quyết định nghiên cứu về đề tài “Phòng ngừa QRTD học đường bằng lời nói cho học sinh THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng”
1.2 Tổng quan tài liệu:
Khi thực hiện nghiên cứu dự án này, nhóm tác giả đã tìm kiếm “Researchment Verbal Sexual Harassment at School” trên Interernet và mất (0,31 giây) để đưa ra 17.100.000 kết quả Tuy nhiên trong thực tế, đa số phần lớn những công trình nghiên cứu 2
Trang 4được đề xuất đều có nội dung quấy rối tình dục bằng hành vi hoặc xâm hại tình dục ở công ti, gia đình, ngoài xã hội như công trình nghiên cứu của David Finkelhoi (2009), The Prevention of Childhood Sexual Abuse, The Future of Children 19: 169-194, khác với nội dung cần tìm kiếm Rõ ràng, những tư liệu, công trình nghiên cứu về quấy rối tình dục bằng lời nói trong học đường vẫn còn rất hạn chế, thiếu hụt và chưa nhận được sự quan tâm sâu sắc từ xã hội Trong khi đó hiện trạng quấy rối tình dục bằng lời nói đang dần phổ biến và trở nên nguy hiểm ở học đường, công trình nghiên cứu “Sexual harassment in schools Prevalence, structure and perceptions” - Eva Witkowska đã nhấn mạnh mức độ phổ biến của hiện trạng này “In terms of the actual potentially offensive behaviors, the most common belonged in the category verbal behaviors, which had been experienced by over half the boys during the last school year” Cả hai công trình nghiên cứu đều đã cung cấp đầy đủ những định nghĩa, tuy nhiên đều chưa đề cập đến giải pháp
cụ thể để hành động, biến đổi tích cực hiện trạng này Trong các công trình nghiên cứu về QRTD ở Việt Nam, chỉ hiện nay các công trình nghiên cứu về QRTD đa số tập trung vào tình hình quấy rối tại nơi làm việc, trong các trường đại học và đã đưa ra một số giải pháp căn bản và hữu ích như “Bộ quy tắc ứng xử về QRTD nơi làm việc’ (Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Bộ Lao động thương binh và xã hội và phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam phối hợp thực hiện) và một số luận văn thạc sĩ, khoá luận tốt nghiệp hoặc bài nghiên cứu còn nhỏ lẻ hoặc chỉ gắn với QRTD nói chung trong nhà trường Còn
sự chú ý cho vấn đề này ở nạn nhân là các trẻ em gái, bạn nữ vị thành niên chưa đúng mức hoặc thu hẹp trong một cơ sở, đơn vị trường học Đặc biệt là QRTD bằng lời nói chưa được chú ý Vì vậy, có thể xem dự án khoa học của chúng tôi là những bước đi thực
tế để tìm hiểu về tình trạng và đề xuất các giải pháp nhằm phòng ngừa nạn QRTD học đường bằng lời nói cho học sinh THPT
c Cơ sở lí luận: Dựa vào một số tài liệu tìm đọc, chúng tôi đưa ra một số cơ sở lí luận
như sau:
- Một số khái niệm: QRTD là một dạng hành vi có tính phân biệt ứng xử về giới, xảy ra ở nhiều môi trường, từ công cộng đến riêng tư QRTD được hiểu là là hành vi có tính chất tình dục gây ảnh hưởng tới nhân phẩm của nữ giới và nam giới, đây là hành vi không
Trang 5được chấp nhận, không mong muốn và không hợp lý làm xúc phạm đối với người nhận,
và tạo ra môi trường bất ổn, đáng sợ, thù địch và khó chịu Cả nạn nhân và kẻ quấy rối đều có thể là phụ nữ hoặc nam giới, nạn nhân và kẻ quấy rối có thể là đồng giới Mặc dù luật không cấm những hành động trêu chọc đơn giản, bình luận phiến diện hoặc những sự
cố riêng lẻ không quá nghiêm trọng, nhưng hành vi quấy rối là bất hợp pháp khi nó xảy
ra thường xuyên hoặc nghiêm trọng đến mức tạo ra một môi trường làm việc thù địch hoặc xúc phạm.“Hình thức tồi tệ nhất của hành vi quấy rối tình dục là những hành vi tấn công có tính chất tình dục hoặc hiếp dâm được quy định trong pháp luật xử lý vi phạm hành chính hoặc pháp luật hình sự” [4;07]
- Các hình thức QRTD:
QRTD nhiều hình thức, trong đó có thể quy vào ba hình thức sau:
+ QRTD bằng hành vi mang tính thể chất như đụng chạm một cách cố ý ở bất cứ đâu trên
cơ thể; cố tình sờ mó, vuốt ve, cấu véo, ôm hôn, và có thể dẫn đến tấn công tình dục + QRTD bằng lời nói là những hành vi nói trong nhiều ngữ cảnh cụ thể, gồm các lời nhận xét, bình luận thô lỗ về giới tính, hình thể hay cố tình kể những câu chuyện khiếm nhã, gợi tình; hình thức này còn có thể là những lời gạ gẫm, mời mọc gặp gỡ riêng tư hoặc quan hệ tình dục…
+ QRTD bằng hành vi phi lời nói là những cử chỉ bằng ngôn ngữ cơ thể nhằm khơi gợi khiêu khích suy nghĩ không đứng đắn
II GIẢ THUYẾT KHOA HỌC VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
2.1 Giả thuyết khoa học
- QRTD bằng lời nói trong môi trường học đường hiện đang tồn tại ở nhiều hình thức, nhiều dạng lời nói
- Nhận thức về hành vi QRTD học đường bằng lời nói chưa cao
- Có thể đưa ra những nhóm lời nói có tính chất QRTD trong học đường để từ đó đề xuất các giải pháp cụ thể, hiệu quả nhằm phòng ngừa, ngăn chặn các hành vi nói mang tính QRTD
4
Trang 62.2 Câu hỏi nghiên cứu
Thứ nhất, những đối tượng nào thường bị QRTD và thực hiện hành vi QRTD bằng lời nói
trong nhà trường?
Thứ hai, các dạng lời nói nào thuộc QRTD và tồn tại trong các bối cảnh nào?
Thứ ba, phản ứng và hậu quả khi bị QRTD bằng lời nói?
Thứ tư, làm thế nào để phòng ngừa QRTD bằng lời nói trong học đường cho học sinh
THPT?
III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu
- Nhóm đối tượng nghiên cứu chung: học sinh THPT ở các trường Phan Châu Trinh, Lê Quý Đôn, Trần Phú, Thái Phiên
- Nhóm đối tượng tiềm năng: giáo viên, cựu học sinh, học sinh THPT Phan Châu Trinh từng là nạn nhân của QRTD
3.2 Phương pháp thu thập dữ liệu
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: Nhóm tác giả thu thập lí thuyết thông qua các công
trình nghiên cứu đã được công bố về QRTD và phòng chống QRTD; các tài liệu giáo dục
kĩ năng cho học sinh
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp trưng cầu ý kiến (Anket); Phương
pháp phỏng vấn sâu; Phương pháp quan sát
5.2. Phương pháp xử lí dữ liệu: Với kết quả phỏng vấn và các dữ liệu lí thuyết thu
thập được, nhóm tác giả xem xét kĩ lưỡng và phân tích, tập hợp theo từng chủ đề căn cứ theo nội dung nghiên cứu; sau đó sử dụng các chức năng của phần mềm Word để thống
kê số liệu thu thập được Nhằm kết nối các dữ liệu thứ cấp và sơ cấp, đề tài sử dụng phương pháp phân tích và phép tư duy biện chứng để đưa ra những đánh giá, nhận định
có cơ sở
IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trang 7Dựa trên các câu hỏi, trên cơ sở khảo sát 121 học sinh đến từ các trường THPT chuyên Lê Quý Đôn, THPT Phan Châu Trinh, THPT Trần Phú và THPT Thái Phiên, nhóm nghiên cứu đưa ra một số nhận xét và xác định các số liệu như sau:
4.1 Các dạng đối tượng (quấy rối và bị quấy rối) trong học đường
đã từng;
99.00%
chưa từng;
1.00%
a Đối tượng bị quấy rối bằng lời nói
Bảng 1 Tỉ lệ học sinh từng nghe những lời nói có tính QRTD
Một số liệu đáng lo ngại là đến 99% học sinh đã từng nghe một số lời nói nằm trong 13 dạng lời nói đã đưa ra Điều này đồng nghĩa với việc tình trạng QRTD học đường bằng lời nói đã và đang là một vấn đề bức xúc trong học sinh
b Đối tượng thực hiện hành vi quấy rối bằng lời nói
Một số dạng lời nói các bạn học sinh đã từng nghe (được sắp xếp ngẫu nhiên để tránh trường hợp chọn không có chủ ý), đây là những câu nói nhóm khảo sát dựa vào một số công trình nghiên cứu và dựa vào thực tiễn khảo sát để đưa ra, từ đó tìm hiểu về đối tượng thực hiện hành vi QRTD bằng lời nói, và số liệu như sau:
sinh
Phụ huynh
Thầy giáo
Cô giáo
Đối tượng khác
Đưa ra nhận xét về giới tính 68 26 12 15 13
Lời bình phẩm về cơ thể theo chiều hướng
Nói một cách trực tiếp hoặc gián tiếp về
các bộ phận sinh dục của nam và nữ 68 7 6 7 14 Khơi gợi hoặc bắt buộc phải nghe những
câu chuyện thô lỗ, gợi ý về tình dục 70 5 4 2 25
6
Trang 8Tiếng huýt sáo khơi gợi tình dục hay tiếng
rên mang tính dâm dục từ người khác 50 13 1 3 36
Kể về những bộ phim đen hoặc các tình
Tung tin đồn về đời sống tình dục 63 1 3 2 12
Yêu cầu ủng hộ, chấp thuận cho việc
Mời gọi, rủ rê những hành vi tình dục 47 7 0 2 17
Gạ gẫm về việc đụng chạm, sờ soạng
Tổng cộng
64.6% 8.5% 3.05% 3.61 % 20.2%
Bảng 2 Số liệu về những lời nói quấy rối
Số liệu trên cho thấy học sinh là đối tượng chủ yếu gây ra QRTD bằng lời nói, tiếp đến là những người khác (20.2%) có thể là người lạ vào trường Thầy giáo, cô giáo hay phụ huynh của các bạn QRTD các bạn qua lời nói ít hơn nhưng đây là vấn đề rất đáng lưu tâm, khi mà chính người thầy, người cô vì chủ ý hay không có chủ ý đã có những phát ngôn sai lệch, không đảm bảo chuẩn mực về lời nói trong môi trường học đường
4.2 Các nhóm lời nói QRTD: Dựa trên những lời nói đã khảo sát, nhóm nghiên cứu đã
nhóm các dạng lời nói vào các nhóm như sau:
Nhóm 1: Lời nói nhận xét về các bộ phận trên cơ thể (giới tính, số đo 3 vòng, bộ phận sinh dục, bộ phận khác)
Nhóm 2: Lời nói khơi gợi về tình dục (câu chuyện thô lỗ, phim sex, tạo âm thanh, nội y) Nhóm 3: Lời nói tung tin (về khả năng quan hệ tình dục, về đời sống tình dục)
Nhóm 4: Lời nói rủ rê, gạ gẫm (về việc đụng chạm, quan hệ)
Tỉ lệ xuất hiện của các nhóm này t như sau:
Trang 911.29%
17.48%
24.98%
38.86%
Rất thườ ng xuyên Thườ ng xuyên Thỉnh thoảng Hiếm khi Chưa bao giờ
Bảng 3 Mức độ xuất hiện của những lời nói QRTD
Bảng 3 cho thấy có 61.13% lời nói QRTD đã từng thốt ra ở học đường Có 7.42% rất thường xuyên và 11.26% thường xuyên Trong bảng số liệu nhóm 1 được diễn ra nhiều nhất trong khi nhóm 4 ít phổ biến trong quấy rối Nhìn tổng quan thì câu nói nhận xét về giới tính hay lời bình phẩm về cơ thể theo chiều hướng QRTD xuất hiện nhiều nhất
Nhóm 1
Nhóm 2
Nhóm 3
Nhóm 4
Mức độ xuất hiện của các nhóm lời nói QRTD
Rất thường xuyên T hường xuyên T hỉnh thoảng
Bảng 4 Mức độ xuất hiện của các nhóm lời nói QRTD
Trong các nhóm lời nói QRTD, có thể thấy nhóm 1 có mức độ xuất hiện nhiều nhất trong môi trường học đường với tỉ lệ xuất hiện Rất thường xuyên lên đến 10.3%, thường xuyên là 20,5%, thỉnh thoảng là 23%
4.3 Các điều kiện, bối cảnh xuất hiện lời nói quấy rối
8
Trang 10Trên lớp Trong giờ học thể dục, quốc phòng
Trong các giờ ngoại khoá Khi đi giữa sân trường, hành lang…
Ở căn tin Nơi để xe Cổng ra vào Khuôn viên bên ngoài trường Khác (ghi rõ) Nhà vệ sinh Chưa từng nghe/chứng kiến người khác phải nghe
0 2 4 6 8 10 12 14 16 18 20
18.98 7.37
8.21
18.13 10.76
8.5 11.05
15.3 1.42
0.28
Các điều kiện, bối cảnh xuất hiện lời nói quấy rối
Bảng 5 Bối cảnh xuất hiện của lời nói QRTD
QRTD thường xảy ra trong lớp học (18.98%) và ở sân trường, hành lang (18.13%)-địa điểm tập trung chủ yếu là học sinh Một phần nhỏ các bạn bị QRTD ở nhà vệ sinh (1.42%), nơi ít ai nghĩ tới Và may mắn có 0.28% bạn chưa từng bị quấy rối
4.4 Phản ứng, hành động của người bị quấy rối/chứng kiến người bị quấy rối
Để có thể có căn cứ đưa ra một số giải pháp phòng ngừa QRTD học đường bằng lời nói, nhóm nghiên cứu đã khảo sát về thái độ, ứng xử của những học sinh đã từng bị hoặc từng chứng kiến người khác bị QRTD Phần này chia làm hai phản ứng:
- Phản ứng cảm xúc: Phần lớn cảm giác của các bạn sau khi bị QRTD là cảm thấy bị xúc phạm (22.27%) và buồn bực (15.55%), đây là phản ứng tự nhiên Tuy nhiên, có tới 15.12% các bạn cảm thấy bình thường và 16.39% nghĩ rằng đó là trò đùa Điều này cho thấy các bạn một phần không có sự nhận thức hay hiểu biết đầy đủ về QRTD bằng lời nói Có thể điều này đã trở thành xảy ra hằng ngày, trở thành thói quen của kẻ quấy rối khiến cho các bạn ngộ nhận đó chỉ là đùa giỡn Đặc biệt số liệu này lại cao hơn rất nhiều với đối tượng là các bạn nam sinh, có đến 56% các bạn cho rằng đó chỉ là lời nói đùa, trong khi con số này ở các bạn nữ là 8.2%
Trang 1115.60%
13.00%
12.60%
4.60%
15.12%
16.39% 0.40%
Cảm thấy bị xúc phạm Buồn bực
Ám ảnh
Lo sợ Thích thú Bình thường Nghĩ là trò đùa Chưa từng bị
Bảng 6 Phản ứng cảm xúc của những học sinh bị QRTD bằng lời nói và chứng kiến QRTD bằng lời nói
- Phản ứng hành động: Đa số phản ứng của các bạn khi nghe lời nói QRTD là nhắc nhở người thực hiện hành vi (31.29%), một phần các bạn đã có một chút kiến thức để phân biệt đâu là lời nói QRTD Tuy nhiên, ở đây lại có tới 15.64% học sinh chịu đựng và bỏ qua cho kẻ quấy rối Các bạn không biết mình nên làm gì trong trường hợp nay hay có thể các bạn sợ không dám phản kháng, chứng tỏ QRTD qua lời nói một phần nào đó rất đáng sợ Tiếp theo, 22.35% các bạn không làm gì- một số liệu đáng lưu ý Các bạn không biết phản ứng ra sao hay có thể không biết đâu là QRTD nên mặc kệ, không đáng để tâm, khiến cho những kẻ quấy rối ngày càng lấn tới khiến tần suất xảy ra ngày càng cao
4.50%
10.67%
7.86%
31.47%
15.73%
7.30%
22.48%
La ré, dùng bạo lực Nói lại tương tự Kêu cứu
Nhắc nhở Chịu đựng Khác Không làm gì
Bảng 7 Phản ứng hành động của những học sinh bị QRTD bằng lời nói và chứng kiến QRTD bằng lời nói
Suy nghĩ, cảm xúc và hành vi của nạn nhân sau khi bị QRTD bằng lời nói được khảo sát
đã cho số liệu như sau:
10