2 Nhận xét về giá trị nhân đạo trong đoạn trích - Tác phẩm đã thể hiện sự trân trọng của tác giả trước vẻ đẹp của người lao động trong nạn đói: + Dù đói, khổ vẫn lạc quan hướng đến tương[r]
Trang 1TRƯỜNG THPT TRẦN QUÝ CÁP
ĐỀ THI THỬ THPT QUỐC GIA
MÔN NGỮ VĂN NĂM HỌC 2021-2022 Thời gian làm bài: 120 phút
ĐỀ THI SỐ 1
I ĐỌC – HIỂU (3,0 điểm)
HÃY LÀ NGƯỜI VÔ LÝ
Một trong những câu nói tôi thích nhất của George Bernard Shaw là: “Người có lý điều chỉnh bản thân
theo thế giới; người vô lý kiên định điều chỉnh thế giới theo bản thân Vì vậy, mọi tiến bộ đều tùy thuộc
vào người vô lý.” Hãy suy nghĩ về ý tưởng này trong chốc lát Đó là một ý tưởng lớn
Tất nhiên, bạn cần thực tế và ứng xử khôn khéo khi làm việc trong môi trường của mình Tôi đồng ý
rằng việc áp dụng các quan niệm phổ biến với người khác cũng quan trọng Những rủi ro ngu ngốc có
thể dẫn đến hậu quả khôn lường Nhưng như đã nói, đừng nên sợ hãi trước thất bại hay thất vọng để
rồi không dám ước mơ
Đừng lúc nào cũng tỏ ra có lý và thực dụng, quá nhạy cảm đến nỗi bạn từ chối không chộp lấy cơ hội
ngàn vàng khi nó đến Hãy đẩy xa giới hạn của những gì bạn nghĩ mình có thể thực hiện Đừng quên
rằng những kẻ chỉ trích luôn cười nhạo tầm nhìn của nhiều nhà tư tưởng can trường, nhiều nhà khai
phá nổi tiếng Đừng để ý đến những lời chỉ trích Luôn ghi nhớ rằng những tiến bộ vượt bậc mà con
người đạt tới đều nhờ nỗ lực can trường của một người nào đó từng bị chỉ trích rằng ý tưởng của họ là
viển vông, không thể trở thành hiện thực Thế giới cần nhiều người biết ước mơ Cần người vô lý biết
đấu tranh chống lại những gì thông thường Cần người chống lại sự cám dỗ của tính tự mãn và dám
hành động theo cách họ vẫn luôn thực hiện Bạn có thể là một trong những người ấy Từ ngày hôm nay
(Trích Đời ngắn đừng ngủ dài, Robin Sharma, NXB Trẻ, 2018, Tr 44 - 45)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1 (0,5 điểm) Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích
Câu 2 (0,5 điểm) Theo đoạn trích, George Bernard Shaw cho rằng “mọi tiến bộ” đều tùy thuộc vào ai?
Câu 3 (1,0 điểm) Dựa vào đoạn trích, anh/chị hiểu thế nào về quan niệm “Người có lý điều chỉnh bản
thân theo thế giới; người vô lý kiên định điều chỉnh thế giới theo bản thân” ?
Trang 2Câu 4 (1,0 điểm) Anh/Chị có đồng tình với ý kiến của tác giả “Thế giới cần nhiều người biết ước mơ
Cần người vô lý biết đấu tranh chống lại những gì thông thường” không? Vì sao?
II LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy
nghĩ về ý nghĩa của việc dám làm những điều lớn lao trong cuộc sống
Câu 2 (5,0 điểm)
Bà lão cúi đầu nín lặng Bà lão hiểu rồi Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự,
vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là
lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này Còn mình thì Trong kẽ
mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua
được cơn đói khát này không
Bà lão khẽ thở dài ngửng lên, đăm đăm nhìn người đàn bà Thị cúi mặt xuống, tay vân vê tà áo đã rách
bợt Bà lão nhìn thị và bà nghĩ: Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con
mình Mà con mình mới có vợ được Thôi thì bổn phận bà là mẹ, bà đã chẳng lo lắng được cho con
May ra mà qua khỏi được cái tao đoạn này thì thằng con bà cũng có vợ, nó yên bề nó, chẳng may ra
ông giời bắt chết cũng phải chịu chứ biết thế nào mà lo cho hết được?
Bà lão khẽ dặng hắng một tiếng, nhẹ nhàng nói với “nàng dâu mới”:
- Ừ, thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng
Tràng thở đánh phào một cái, ngực nhẹ hẳn đi Hắn ho khẽ một tiếng, bước từng bước dài ra sân Bà
cụ Tứ vẫn từ tốn tiếp lời:
- Nhà ta thì nghèo con ạ Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn Rồi ra may mà ông giời cho
khá Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời? Có ra thì rồi con cái chúng mày về sau
Bà lão đăm đăm nhìn ra ngoài Bóng tối trùm lấy hai con mắt Ngoài xa dòng sông sáng trắng uốn khúc
trong cánh đồng tối Mùi đốt đống rấm ở những nhà có người chết theo gió thoảng vào khét lẹt Bà lão
thở nhẹ ra một hơi dài Bà lão nghĩ đến ông lão, nghĩ đến đứa con gái út Bà lão nghĩ đến cuộc đời cực
khổ dài dằng dặc của mình Vợ chồng chúng nó lấy nhau, cuộc đời chúng nó liệu có hơn bố mẹ trước
kia không?
- Con ngồi xuống đây Ngồi xuống đây cho đỡ mỏi chân
Trang 3Bà lão nhìn người đàn bà, lòng đầy thương xót Nó bây giờ là dâu là con trong nhà rồi Người đàn bà
khẽ nhúc nhích, thị vẫn khép nép đứng nguyên chỗ cũ Bà lão hạ thấp giọng xuống thân mật:
- Kể có ra làm được dăm ba mâm thì phải đấy, nhưng nhà mình nghèo, cũng chả ai người ta chấp nhặt
chi cái lúc này Cốt làm sao chúng mày hòa thuận là u mừng rồi Năm nay thì đói to đấy Chúng mày
lấy nhau lúc này, u thương quá
(Trích Vợ nhặt, Kim Lân, Ngữ văn 12, tập II, NXB Giáo dục Việt Nam, 2021, Tr.28-29)
Cảm nhận của anh/chị về nhân vật bà cụ Tứ trong đoạn trích trên Từ đó, lí giải vì sao Kim Lân được
gọi là nhà văn một lòng đi về với “đất”, với “người”, với “thuần hậu nguyên thủy” của cuộc sống nông
thôn (Nguyên Hồng)
-HẾT - ĐÁP ÁN ĐỀ THI SỐ 1
Có thể hiểu nội dung ý kiến như sau:
- Người có lí thường tuân thủ theo những gì có sẵn, đi theo những con đường quen thuộc, an toàn đã
được vạch ra trước đó
- Người vô lí sẽ dám làm những điều mới mẻ, tạo lập, sáng tạo cái chưa từng có, đi trên những con
đường chưa ai đi để mở lối, dẫn đường cho mọi người đi theo
Câu 4 Học sinh bày tỏ quan điểm bản thân: có thể đồng tình, không đồng tình hoặc đồng tình một phần,
miễn là lí giải thuyết phục, hợp lí -Đồng tình vì:
+ Ước mơ đưa con người vượt lên thực tế, hướng tới những điều tốt đẹp trong tương lai
+ Muốn xã hội phát triển, muốn tạo ra những điều mới mẻ, đột phá có ý nghĩa tốt đẹp và lớn lao, rất cần
những người biết ước mơ, những “người vô lí” Đó là những con người có tài năng, có bản lĩnh, không
chấp nhận lối mòn, dám suy nghĩ khác biệt, dám ước mơ những điều lớn lao và hành động để biến ước
mơ đó thành hiện thực - Không đồng tình vì:
Trang 4+ Ước mơ rất cần nhưng trước hết con người cần sống với thực tế
+ Những cái mới chưa được thử nghiệm không phải lúc nào cũng đúng, không thể chắc chắn sẽ mang
lại những kết quả tốt đẹp như mong muốn Nhiều khi những người đi trên con đường khác biệt phải
chấp nhận thất bại, thậm chí phải trả giá đắt Bởi vậy, cần sự thận trọng, sáng suốt khi cổ vũ cho những
“người vô lí”
- Không hoàn toàn đồng tình: có thể kết hợp hai cách lí giải trên
II LÀM VĂN
Câu 1
a Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn
Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, móc xích hoặc song
hành
b Xác định đúng nội dung nghị luận: ý nghĩa của việc dám làm những điều lớn lao trong cuộc sống
c Triển khai nội dung nghị luận thành các ý cụ thể; vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ
giữa lí lẽ và dẫn chứng Có thể triển khai theo hướng:
- Những điều lớn lao: những điều có ý nghĩa quan trọng với đời sống cộng đồng, không dễ thực hiện
trong cuộc sống
- Ý nghĩa của việc dám làm những điều lớn lao trong cuộc sống:
+ Là tiền đề để con người có những phát minh, sáng tạo đột phá
+ Thể hiện bản lĩnh và khả năng không giới hạn của con người
+ Khẳng định giá trị của mỗi cá nhân trong cuộc đời rộng lớn
+ Cống hiến tích cực cho cộng đồng, tạo ra những bước ngoặt quan trọng trong đời sống, góp phần thúc
đẩy xã hội phát triển, văn minh, tiến bộ
(Nên có dẫn chứng minh họa)
d Sáng tạo: Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận
e Chính tả, dùng từ, đặt câu: đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu
Câu 2 Cảm nhận của anh/chị về bà cụ Tứ trong đoạn trích Từ đó, lí giải vì sao Kim Lân được gọi là
nhà văn một lòng đi về với “đất”, với “người”, với “thuần hậu nguyên thủy” của cuộc sống nông thôn
Trang 5a Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận:
Có đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết
bài khái quát được vấn đề
b Xác định đúng vấn đề cần nghị luận:
Cảm nhận về nhân vật bà cụ Tứ trong đoạn trích; lí giải vì sao Kim Lân được gọi là nhà văn một lòng
đi về với “đất”, với “người”, với “thuần hậu nguyên thủy” của cuộc sống nông thôn
c Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm
Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt
chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau về nội dung:
* Giới thiệu khái quát về tác giả Kim Lân, tác phẩm “Vợ nhặt” và vị trí của đoạn trích
- Kim Lân là nhà văn của người nông dân và nông thôn Việt Nam
- Tiền thân của truyện ngắn “Vợ nhặt” là tiểu thuyết “Xóm ngụ cư” được viết ngay sau Cách mạng
tháng Tám năm1945 nhưng sau đó dang dở và mất bản thảo Sau hòa bình lập lại, năm 1954, Kim Lân
dựa vào một phần cốt truyện cũ viết nên truyện ngắn “Vợ nhặt” Tác phẩm này được in trong tập “Con
chó xấu xí” (1962)
- Bà cụ Tứ là một người mẹ quê mùa nghèo khổ, cuộc đời nhiều cay đắng: chồng chết, người con trai
đã lớn tuổi nhưng không thể lấy được vợ vì gia cảnh quá túng bấn Vậy mà trong lúc đói khát quay quắt,
Tràng đã đưa một người đàn bà lạ mặt về nhà Đoạn trích miêu tả diễn biến tâm trạng bà cụ Tứ trong
cảnh gặp nàng dâu mới
* Cảm nhận về nhân vật bà cụ Tứ trong đoạn trích
- Người mẹ hết lòng thương con
+ Anh Tràng, con trai bà lấy vợ trong khung cảnh tang thương của xóm ngụ cư: Mùi đốt đống rấm ở
những nhà có người chết theo gió thoảng vào khét lẹt
+ Bà đón nhận tin con trai có vợ với nhiều cảm xúc bộn bề, trái ngược nhau, vừa thương xót, tủi hổ,
vừa mừng vui: Bà lão cúi đầu nín lặng, hiểu ra bao cơ sự, rỉ xuống hai dòng nước mắt, khẽ thở dài…
+ Gạt hết nỗi buồn lo, bà bày tỏ niềm vui mừng trước hạnh phúc của con trai: Ừ, thôi thì các con đã
phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng
- Người mẹ nhân hậu, bao dung
Trang 6+ Thấu hiểu hoàn cảnh cùng đường của người đàn bà kia: Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này,
người ta mới lấy đến con mình…
+ Không chỉ thương con trai mà còn thương luôn cả nàng dâu tội nghiệp: gọi thị là con, không hề căn
vặn về gia cảnh, không một chút rẻ rúng, coi thường mà chỉ thấy xót thương cho số phận khốn khổ của
thị; giang tay đón nhận thị lúc này là chấp nhận chia sẻ miếng ăn và cũng là chia sẻ cơ hội sống ít ỏi với
người đàn bà xa lạ mới nhập vào gia đình mình: Bà lão nhìn người đàn bà, lòng đầy thương xót Nó bây
giờ là dâu là con trong nhà rồi…
+ An ủi nàng dâu mới bằng những tình cảm chân thành: bà nhẹ nhàng, từ tốn, hạ giọng, thân mật; bà nói
về cái lẽ phải thông thường giúp người con dâu theo không kia vơi bớt nỗi tủi thân, mặc cảm: Kể có ra
làm được dăm ba mâm thì phải đấy, nhưng nhà mình nghèo, cũng chả ai người ta chấp nhặt chỉ cái lúc
này…
- Người mẹ từng trải, có bản lĩnh sống vững vàng, trở thành chỗ dựa cho đôi vợ chồng trẻ
+ Nghĩ đến nỗi bất hạnh đã trải qua mà không khỏi xót xa cho hai con: Bóng tối trùm lấy hai con mắt;
Mùi đốt đống rấm ở những nhà có người chết theo gió thoảng vào khét lẹt; Bà lão nghĩ đến ông lão, nghĩ
đến đứa con gái út Bà lão nghĩ đến cuộc đời cực khổ dài dằng dặc của mình; bà nhìn thấy tương lai còn
nhiều khó khăn phía trước: Vợ chồng chúng nó lấy nhau, cuộc đời chúng nó liệu có hơn bố mẹ trước
kia không?
+ Giấu đi những âu lo, bà lựa lời động viên các con, hướng chúng về một ngày mai tươi sáng hơn: Rồi
ra may mà ông giời cho khá Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời? Có ra thì rồi con cái
chúng mày về sau; chỉ cho các con cách biến tương lai thành hiện thực: Vợ chồng chúng mày liệu mà
bảo nhau làm ăn; Cốt làm sao chúng mày hòa thuận là u mừng rồi
* Đánh giá
- Nghệ thuật
+ Đặt nhân vật trong tình huống truyện độc đáo
+ Tổ chức điểm nhìn trần thuật: kết hợp điểm nhìn bên ngoài để quan sát nhân vật với điểm nhìn bên
trong, nhập giọng kể vào dòng độc thoại nội tâm nhân vật để miêu tả được chiều sâu tâm lí nhân vật
+ Ngôn ngữ kể chuyện tự nhiên, linh hoạt, ngôn ngữ đối thoại giản dị, mộc mạc, ngôn ngữ độc thoại
chân thật, truyền cảm
- Nội dung
+ Phản ánh số phận cùng khổ của nhân dân Việt Nam trong nạn đói năm 1945
Trang 7+ Tố cáo tội ác của thực dân Pháp và phát xít Nhật đã gây ra nạn đói khủng khiếp
+ Khẳng định trong bất kì hoàn cảnh khốn cùng nào, người lao động vẫn giữ được bản chất tốt đẹp: sống
có tình người, tin ở tương lai, hướng về sự sống
* Lí giải vì sao Kim Lân được gọi là một lòng đi về với “đất”, với “người”, với “thuần hậu nguyên thủy”
của cuộc sống nông thôn
- Ý kiến khẳng định sự am hiểu, gắn bó, thủy chung của Kim Lân với đồng đất quê hương, với người
nông dân và nông thôn Việt Nam
- Biểu hiện:
+ Thấu hiểu sâu sắc tâm lí người nông dân
+ Cảm thông với số phận bất hạnh của người nông dân Việt Nam trong nạn đói năm 1945
+ Phát hiện, ngợi ca phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ nông thôn: Bà cụ Tứ là người mẹ quê mùa,
chất phác, cuộc đời nhiều khổ đau, cơ cực nhưng có tấm lòng nhân hậu, bao dung
+ Sử dụng ngôn ngữ của nông thôn một cách điêu luyện, thuần thục: cách xưng hô (u, con…), cách dùng
thành ngữ, tục ngữ (dựng vợ gả chồng; ăn nên làm nổi; sinh con đẻ cái; ai giàu ba họ, ai khó ba đời…),
dùng từ địa phương (tao đoạn, ông giời …)
d Chính tả, dùng từ, đặt câu: đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt
ĐỀ THI SỐ 2
I ĐỌC – HIỂU (3,0 điểm)
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:
Giá trị là gì? Hai cây tre giống nhau, một cây dùng làm sáo, một cây dùng làm giá phơi đồ, Một hôm,
cây dùng làm giá phơi đồ mới hối cây dùng làm sáo: "Tại sao chúng ta sinh ra cùng một nơi, đều là tre
trên núi nhưng tôi mỗi ngày đều phải giãi nắng dầm mưa, còn bạn lại rất đáng tiền?" Sáo trả lời: “Bởi
vì bạn chỉ chịu một nhát dao khi bị chặt ra, còn tôi đã trải qua hàng ngàn nhát dao, được người ta chế
tạo cẩn thận" Giá phơi đồ im lặng
Đời người cũng như vậy, nếu có thể chịu đựng được cực khổ, cô đơn, cọ xát vào thực tế, dám đảm đương
và đứng lên chịu trách nhiệm cho cuộc đời mình, cuộc sống mới có giá trị
Khi nhìn thấy vinh quang của người khác, bạn không cần phải ghen tức, bởi vì người khác trả giá nhiều
hơn bạn Thật ra trên thế giới này có rất nhiều người thông minh nhưng lại có quá ít người có thể kiên
Trang 8trì đến cuối cùng, thế nên số người chiến thắng chỉ là số ít Người càng thông minh họ càng hiểu rõ
khuyết điểm của mình và luôn cố gắng đến cùng
Trưởng thành không phải là trải qua thất bại một lần mà phải tích lũy nhiều lần, cả về tri thức lẫn kinh
nghiệm sống
Đây chính là luật tre
(Hạt giống tâm hồn, Tập 3, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 2015, Tr.79)
Câu 1 (TH) Tác giả đã tìm thấy ở cây tre quy luật nào của cuộc sống?
Câu 2 (TH) Trước thắc mắc của cây tre làm giá phơi đồ về sự “đáng tiền” của mình, cây tre dùng làm
sáo trả lời như thế nào?
Câu 3 (TH) Theo anh (chị), giữa cây tre làm sáo và cây tre dùng làm giá phơi đồ, cây tre nào có giá trị
hơn? Vì sao?
Câu 4 (VD) Anh (chị) có đồng tình với quan điểm: “Trưởng thành không phải là trải qua thất bại một
lần mà phải tích lũy nhiều lần, cả về tri thức lẫn kinh nghiệm sống” không? Vì sao?
II LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1 (VDC) Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày
suy nghĩ của anh/chị về giá trị của mỗi người trong cuộc đời
Câu 2 (VDC) Cho đoạn trích sau:
… Bữa cơm ngày đói trông thật thảm hại Giữa cái mẹt rách có độc một lùm rau chuối thái rối, và một
đĩa muối ăn với cháo, nhưng cả nhà đều ăn rất ngon lành Bà cụ vừa ăn vừa kể chuyện làm ăn, gia
cảnh với con dâu Bà lão nói toàn chuyện vui, toàn chuyện sung sướng về sau này:
- Tràng ạ Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà Tao tính rằng cái chỗ đầu bếp kia làm cái chuồng gà thì
tiện quá Này ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy mà có ngay đàn gà cho mà xem
Tràng chỉ vâng Tràng vâng rất ngoan ngoãn Chưa bao giờ trong nhà này mẹ con lại đầm ấm, hòa hợp
như thế Câu chuyện trong bữa ăn đang đà vui bỗng ngừng lại Niêu cháo lõng bõng, mỗi người được
có lưng lưng hai bát đã hết nhẵn
Bà lão đặt đũa bát xuống, nhìn hai con vui vẻ:
- Chúng mày đợi u nhá Tao có cái này hay lắm cơ Bà lật đật chạy xuống bếp, lễ mễ bưng ra một cái
nồi khói bốc lên nghi ngút Bà lão đặt cái nồi xuống bên cạnh mẹt cơm, cầm cái môi vừa khuấy khuấy
vừa cười:
Trang 9- Chè đây - Bà lão múc ra một bát - Chè khoán đây, ngon đáo để cơ
Người con dâu đón lấy cái bát, đưa lên mắt nhìn, hai con mắt thị tối lại Thị điềm nhiên và vào miệng
Tràng cầm cái bát thứ hai mẹ đưa cho, người mẹ vẫn tươi cười, đon đả:
- Cám đấy mày ạ, hì Ngon đáo để, cứ thử ăn mà xem Xóm ta khối nhà còn chả có cám mà ăn đấy Tràng
cầm đôi đũa, gợt một miếng bỏ vội vào miệng Mặt hắn chun ngay lại, miếng cám đắng chát và nghẹn
bứ trong cổ Bữa cơm từ đấy không ai nói câu gì, họ cắm đầu ăn cho xong lần, họ tránh nhìn mặt nhau
Một nỗi tủi hờn len vào tâm trí mọi người
(Trích Vợ nhặt, Kim Lân, Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục, 2014, tr.31 )
Cảm nhận của anh/chị về cảnh tượng bữa cơm ngày đói trng đoạn trích trên Từ đó, nhận xét về tư tưởng
nhân đạo của nhà văn Kim Lân?
-HẾT - ĐÁP ÁN ĐỀ THI SỐ 2
I ĐỌC – HIỂU
Câu 1
Phương pháp: Đọc, tìm ý
Cách giải:
Theo đoạn trích, từ cây tre tác giả đã tìm ra quy luật về giá trị: “Trưởng thành không phải là trải qua
thất bại một lần mà phải tích lũy nhiều lần, cả về tri thức lẫn kinh nghiệm sống”
Câu 2
Phương pháp: Đọc kỹ tìm ý
Cách giải:
Cây tre dùng sáo trả lời như sau: “Bởi vì bạn chỉ chịu một nhát dao khi bị chặt ra, còn tôi đã trải qua
hàng ngàn nhát dao, được người ta chế tạo cẩn thận”
Trang 10Gợi ý:
Cây tre dùng làm sáo có giá trị hơn Bởi lẽ cây tre dùng để làm sáo đã phải chịu những nhát dao chế tạo
để tạo nên nhưng nốt âm thanh tô đẹp cho đời
- Trên con đường đi đến thành công, chúng ta phải trải qua rất nhiều gian nan, khó khăn, thất bại - Mỗi
một thất bại nếu nhìn theo hướng tích cực đó chính là một lần được học hỏi, một kinh nghiệm được
- Phân tích (Phân tích đề để xác định thể loại, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng)
- Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận,…) để tạo lập một văn bản nghị luận xã
hội
Cách giải:
Yêu cầu hình thức:3
- Viết đúng một đoạn văn nghị luận xã hội theo cấu trúc
- Bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết;
không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp
Yêu cầu nội dung:
- Nêu vấn đề: Giá trị của mỗi người trong cuộc đời
Trang 11- Bàn luận:
+ Mỗi người đều có giá trị của bản thân mình
+ Con người cần nhìn nhận bản thân mình để nhận ra được giá trị thực sự và trân trọng nó + Giá trị của
con người phụ thuộc vào quá trình tích lũy, mài dũa, cố gắng của mỗi người trong cuộc sống -> Con
người cần nhận ra giá trị của bản thân trân trọng và trau dồi nó
- Phản đề:
+ Phê phán những người chối bỏ bản thân mình
+ Thay vì cố gắng trau dồi bản thân lại đi so sánh, đó kị với những giá trị mà người khác có được
Câu 2
Phương pháp:
- Phân tích (Phân tích đề để xác định thể loại, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng)
- Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận,…) để tạo lập một văn bản nghị luận văn
học
Cách giải:
Yêu cầu hình thức:
- Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng làm nghị luận văn học để tạo lập văn bản - Bài viết phải có
bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết; không mắc lỗi
chính tả, từ ngữ, ngữ pháp
Yêu cầu nội dung:
I Mở bài:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm:
+ Kim Lân là một cây bút văn xuôi tiêu biểu Đề tài chủ yếu của ông là nông thôn và người nông dân
với khả năng phân tích tâm lý nhân vật xuất sắc
+ Vợ nhặt là một trong những tác phẩm tiêu biểu của Kim Lân viết về người nông dân nghèo Lấy bối
cảnh nạn đói năm 1945, Kim Lân đã tái hiện tình cảnh thê thảm của nạn đói đồng thời phát hiện, trân
trọng và ngợi ca tình người ngay trên bờ vực của cái chết
- Giới thiệu vấn đề nghị luận của bài viết: Cảm nhận về đẹp của người lao động nghèo trong đoạn trích
Từ đó, nhận xét về cách nhìn con người của nhà văn Kim Lân
Trang 12II Thân bài:
1) Cảm nhận về bữa cơm ngày đói
a) Vị trí đoạn trích: Đoạn trích nằm ở phần cuối của tác phẩm trong bữa cơm đầu đón nàng dâu mới
b) Cảm nhận về đoạn trích:
Đoạn trích diễn tả cảnh bữa cơm đón nàng dâu mới, trong bữa cơm đó mỗi thành viên lại mang trong
mình một cảm xúc riêng nhưng hơn hết trong họ là tình yêu thương dù hoàn cảnh nạn đói đang diễn ra
rất căng thẳng
* Tâm trạng của bà cụ Tứ:
- Trong bữa cơm ngày đói rất thảm hại, bà lão lại là người nói nhiều nhất, hồ hởi nhất, nhiệt tình nhất,
mà toàn là những chuyện vui, chuyện sung sướng sau này: nuôi gà, …
- Lễ mễ bê lên nồi cháo cám
-> Truyền niềm tin, niềm vui cho các con
- Tiếng trống thúc thuế vang lên dồn dập, kéo bà cụ Tứ trở về với hiện thực, niềm vui của bà không thể
cất cánh, niềm tin của bà không thể mở rộng; nỗi lo lắng phục sinh vẹn nguyên
- Nỗi niềm của bà vơi dần đi qua lời nói của người con dâu về những điều bà chưa từng được nghe, được
thấy bao giờ -> ánh sáng le lói cuối đường hầm nhìn thấy lối thoát cho mình, cho gia đình mình và tất
cả những người dân khốn cùng như bà
* Tâm trạng nhân vật người vợ nhặt
- Trong bữa cơm đầu, là nàng dâu mới thị không còn cái vẻ đanh đá, chỏng lỏn như lúc mới gặp Tràng
mà thể hiện đúng mực là một nàng dâu
- Khi ăn thị lặng lẽ ngồi nghe chồng và mẹ chồng nói chuyện
- Khi nhận bát cháo cám trên từ tay mẹ chồng, đôi mắt thị tối sầm lại nhưng vẫn điềm nhiên và vào
miệng -> Sự kín đáo ý nhị của người con dâu mới
* Tâm trạng của Tràng
- Tràng trong bữa cơm ngày đói, chưa bao giờ trong nhà mẹ con lại hòa hợp đến thế Khi nói chuyện
với mẹ Tràng dạ vâng thưa gửi rất lễ phép
-> Sự trưởng thành trong suy nghĩ, hành động Ý thức được trách nhiệm của người đàn ông trong gia
đình
Trang 13- Lúc ăn cơm trong suy nghĩ của Tràng là hình ảnh đám người đói và lá cờ bay phấp phới -> Đó là hình
ảnh báo hiệu sự đổi đời, con đường đi mới
2) Nhận xét về giá trị nhân đạo trong đoạn trích
- Tác phẩm đã thể hiện sự trân trọng của tác giả trước vẻ đẹp của người lao động trong nạn đói:
+ Dù đói, khổ vẫn lạc quan hướng đến tương lai: Trong bữa cơm, bà lão nói toàn chuyện vui, toàn
chuyện sung sướng về sau này; bà vẽ ra những viễn cảnh tươi đẹp (mua lấy một đôi gà, nghoảnh đi
nghoảnh lại chả mấy mà có đàn gà); bà gọi cháo cám là chè khoán; bà động viên các con bằng niềm lạc
quan (ngon đáo để, xóm ta khối nhà còn chả có cám mà ăn),…
+ Dù đói, khổ vẫn yêu thương, trân trọng nhau, vẫn muốn sống cho ra người: bữa cơm đầu tiên tuy sơ
sài, thiếu thốn nhưng vẫn đầy ắp tình yêu thương (bà cụ Tứ hồ hởi kể chuyện làm ăn gia cảnh, Tràng
vâng rất ngoan ngoãn, không khí gia đình đầm ấm, hòa hợp); người con dâu trân trọng tình cảm của
người mẹ nghèo (tuy hai con mắt tối sầm lại trước bát cháo cám nhưng thị vẫn điềm nhiên và vào
miệng),…
- Nghệ thuật: Cảnh ngộ và vẻ đẹp của người lao động trong nạn đói được thể hiện bằng tình huống
truyện độc đáo, éo le; khả năng miêu tả tâm trạng nhân vật tinh tế, khéo léo; cách kể truyện ở ngôi thứ
ba khách quan, tự nhiên gây hứng thú; ngôn ngữ giản dị, mộc mạc;…
III Kết bài
Khẳng định giá trị của tác phẩm và vị trí của tác giả
ĐỀ THI SỐ 3
I ĐỌC – HIỂU (3,0 điểm)
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
qua mỗi ngày Cha Mẹ nhọc nhằn là một ngày con được lớn khôn hơn qua mỗi đêm chong đèn học bài là một đêm con hiểu biết hơn
về Quê hương Đất nước
ôi Đất nước chưa bao giờ hết nếp nhăn
trên trán người lao khổ
Trang 14mấy nghìn năm đi qua thiên tai giặc giã
đi qua phận người khó khăn cơ nhỡ
lá lành đùm lá rách
đi qua ân tình, thảo thơm hướng về nguồn cội
đi qua lời ru, tiếng đàn bầu, mùi bùn và mưa nắng có rơm
đi qua nhân nghĩa để nhận biết dối gian qua lẽ sống để nhận về sự chết
ơi con đường Máu và Hoa con đường Vinh quang về Tổ quốc của tôi cho tôi được đồng hành và được hát với những đứa con trên đường về
Tổ quốc tôi!
(Trích Tổ quốc tôi, Hổ Triệu Sơn)
Câu 1 (NB) Anh/Chị hãy xác định thể thơ của đoạn trích trên
Câu 2 (TH) Trong đoạn trích, cuộc sống tình nghĩa của nhân dân được gợi lên qua những từ ngữ nào?
Câu 3 (TH) Anh/ chị hiểu như thế nào về những dòng thơ:
qua mỗi ngày Cha Mẹ nhọc nhằn là một ngày con được lớn khôn hơn qua mỗi đêm chong đèn học bài là một đêm con hiểu biết hơn
về Quê hương Đất nước
ôi Đất nước chưa bao giờ hết nếp nhăn
trên trán người lao khổ mấy nghìn năm đi qua thiên tai giặc giã
Trang 15Câu 4 (VD) Thông điệp có ý nghĩa sâu sắc nhất đối với anh/chị từ đoạn trích trên là gì?
II LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1 (VDC) Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình
bày suy nghĩ về sứ mệnh của tối trẻ trong việc thực hiện hóa khát vọng xây dựng đất nước
Câu 2 (VDC)
Lát lâu sau mụ lại mới nói tiếp:
- Mong các chú cách mạng thông cảm cho, đảm đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người
đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con nhà nào cũng trên
dưới chục đứa Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn cho nên
phải gánh lấy cái khổ Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như
ở trên đất được! Mong các chú lượng tình cho cái sự lạc hậu Các chủ đừng bắt tôi bỏ nó!
Lần đầu tiên trên khuôn mặt xấu xí của mẹ chợt ửng sáng lên như một nụ cười - vả lại, ở trên chiếc
thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hòa thuận, vui vẻ
- Cả đời chỉ có một lúc nào thật vui không? - Đột nhiên tôi hỏi
- Có chứ, chú! Vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no
Viên chánh án huyện rời chiếc bàn xếp đến phát ngốt lên những chồng hồ sơ, giấy má Đẩu đi đi lại lại
trong phòng, hai tay thọc sâu vào hai bên túi chiếc quần quân phục đã cũ Một cái gì mới vừa vỡ ra
trong đầu vị Bao Công của cái phố huyện vùng biển, lúc này trông Đẩu rất nghiêm nghị và đầy suy
nghĩ Người đàn bà đã khóc khi nghe tôi nhắc đến thằng Phác Nhưng tình thương con cũng như nỗi
đau, cũng như cái sự thâm trầm trong việc hiểu thấu cái lẽ đời hình như mụ chẳng bao giờ để lộ rõ rệt
ra bề ngoài
(Trích Chiếc thuyền ngoài ra, Nguyễn Minh Châu, Ngữ văn 12, Tập hai, Nxb Giáo dục 2019)
Anh/chị hãy trình bày cảm nhận về vẻ đẹp tâm hồn người đàn bà hàng chài trong đoạn trích trên; từ đó,
nhận xét nét mới trong cách nhìn con người của nhà văn Nguyễn Minh Châu
-HẾT - ĐÁP ÁN ĐỀ THI SỐ 3
I ĐỌC - HIỂU
Câu 1
Trang 16Phương pháp: Vận dụng kiến thức về thể thơ đã được học
Cuộc sống tình nghĩa của nhân dân được gợi lên qua những từ ngữ: ân tình, thảo thơm, hướng về nguồn
cội, lá lành đùm lá rách, lời ru, tiếng đàn bầu
Câu 3
Phương pháp: Phân tích, lý giải
Cách giải:
Học sinh trình bày theo cảm nhận của mình, có lý giải hợp lý
- Chúng ta lớn lên nhờ tình yêu thương, sự hi sinh vất vả của cha mẹ
- Mỗi ngày lớn lên chúng ta càng ham học hỏi và tìm hiểu từ đó thêm hiểu và yêu đất nước mình Đất
nước hiền hòa đã trải qua rất nhiều gian lao những vẫn đậm nghĩa tình
Câu 4
Phương pháp: Phân tích, lý giải, tổng hợp
Cách giải:
Học sinh tự đưa ra thông điệp ý nghĩa nhất với bản thân mình, có lý giải
Gợi ý: tình yêu quê hương đất nước,…
II LÀM VĂN
Câu 1
Phương pháp:
- Phân tích (Phân tích đề để xác định thể loại, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng)
- Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận,…) để tạo lập một văn bản nghị luận xã
hội Cách giải: